Nhiều nhà lý luận, phê bình văn học đã khẳng địnhgiá trị to lớn về mặt lịch sử, tư tưởng và nghệ thuật của "Ngục trung nhật ký".Tập thơ giúp ta hiểu thêm con người Chủ tịch Hồ Chí Minh "
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh
Trang 2Qua đây, chúng tôi xin bày tỏ biết ơn sâu sắc tới quý thầy cô giảng dạy ở Khoa Ngữ văn, ở khoa Sau đại học trường Đại Học Vinh, đã gợi ý, động viên chúng tôi hoàn thành luận văn
Với khuôn khổ một Luận văn Thạc sĩ, những vấn đề nêu ra mới chỉ được giải quyết ở chừng mực nhất định, tất yếu sẽ không tránh khỏi thiếu sót Tác giả mong được sự góp ý, chỉ bảo chân tình của quý thầy,
cô giáo và quý vị
Xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 12 năm 2009
Tác giả
Phạm Thị Phương Thảo
Trang 3Môc lôc
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu 16
4 Phương pháp nghiên cứu 16
5 Đóng góp của luận văn 16
6 Cấu trúc của luận văn 17
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ VÀ KHÁI LƯỢC VỀ THƠ CHỮ HÁN CỦA HỒ CHÍ MINH 18
1.1 Khái niệm hình tượng tác giả 18
1.1.1 Những quan niệm phổ biến 18
1.1.2 Các yếu tố của hình tượng tác giả 20
1.1.3 Cái nhìn nghệ thuật 20
1.1.4 Sự tự biểu hiện 21
1.1.5 Giọng điệu 22
1.2 Vấn đề nghiên cứu hình tượng tác giả trong thơ trữ tình 23
1.2.1 Phân biệt tác giả và nhân vật trữ tình 23
1.2.2 Sự thống nhất giữa hình tượng tác giả và hình tượng nhân vật trữ tình 24
1.2.3 Nhìn chung về nét riêng của hình tượng tác giả trong thơ trữ tình 24
1.3 Khái lược thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh 25
1.3.1 Vị trí thơ chữ Hán trong sự nghiệp văn học Hồ Chí Minh 25
1.3.2 Tâm thế sáng tạo của Hồ Chí Minh trong thơ chữ Hán 26
1.3.3 Thơ chữ Hán một lựa chọn tự nhiên tất yếu 34
Trang 4Chương 2 CÁI NHÌN NGHỆ THUẬT VÀ SỰ TỰ BIỂU HIỆN CỦA HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ TRONG THƠ CHỮ HÁN CỦA HỒ CHÍ
MINH 37
2.1 Cái nhìn nghệ thuật về con người của hình tượng tác giả 37
2.1.1 Con người - một bộ phận gắn bó hữu cơ với thiên nhiên 37
2.1.2 Con người với những nhọc nhằn của kiếp nhân sinh 42
2.1.3 Con người - đối tượng của niềm thương cảm và niềm tin 52
Mười phân thu hoạch chỉ vài phân” 53
2.2 Quan niệm mới về chất thơ của hình tượng tác giả 56
2.2.1 Thơ là tiếng nói của những tình cảm bình dị, chân thật 56
2.2.2 Thơ toát lên từ cuộc sống của người lao khổ 58
2.2.3 Thơ như là công cụ để tranh đấu 58
2.3 Sự tự biểu hiện của hình tượng tác giả 62
2.3.1 Một con người yêu tự do 62
2.3.2 Một con người giàu lòng nhân đạo 65
2.3.2.1 Yêu con người 65
2.3.2.2 Yêu trăng, yêu hoa hồng, yêu thiên nhiên 68
2.3.3 Một con người giàu nghị lực ý chí 69
Chương 3 GIỌNG ĐIỆU NGHỆ THUẬT NHƯ MỘT BIỂU TƯỢNG CỦA MỘT HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ TRONG THƠ CHỮ HÁN CỦA HỒ CHÍ MINH 73
3.1 Khái niệm 73
3.2 Nghệ thuật là gì? 74
3.3 Giọng điệu trữ tình ấm áp 75
3.3 Giọng điệu trào lộng châm biếm 78
3.3 Giọng điệu lạc quan, tin tưởng 84
3.4 Sự thay đổi giọng điệu thơ Hồ Chí Minh trước và sau 1945 90
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
MỞ ĐẦU
Trang 51 Lý do chọn đề tài
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh không hề có ý định xây dựng cho mìnhmột sự nghiệp văn chương, nhưng thực tế Người đã trở thành một nhà văn,nhà thơ lớn Những sáng tác của Người để lại, dù bất cứ ở thể loại nào, cũngđều toát lên vẻ đẹp tâm hồn của một người cộng sản vĩ đại suốt đời khôngngừng phấn đấu vì độc lập dân tộc, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhândân
Sự nghiệp văn thơ của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh được khởi nguồn
từ đầu những năm 20 của thế kỷ XX, song hành với quá trình Người bôn bakhắp năm châu bốn biển, vượt muôn trùng sóng gió quyết tìm được conđường cứu nước cho dân tộc Dù ở bất cứ tư cách nào, ở lĩnh vực hoạt độngnào, Người vẫn có được sự thống nhất giữa tư tưởng và hành động, đặc biệt làcon người Hồ Chí Minh trong "Nhật ký trong tù" - một tấm gương sáng chói
về chủ nghĩa yêu nước, về phẩm chất người cộng sản Chính vì thế Nguyễn
Ái Quốc - Hồ Chí Minh và thơ văn của Người là cả một đề tài nghiên cứuphong phú cho rất nhiều nhà khoa học
Nhiều nhà viết kịch, soạn nhạc, điện ảnh, nhiều nhà điêu khắc, hoạ sĩ, thi
sĩ trong và ngoài nước đã lấy cảm hứng từ "Nhật ký trong tù" sáng tạo nênnhững tác phẩm nổi tiếng Nhiều nhà lý luận, phê bình văn học đã khẳng địnhgiá trị to lớn về mặt lịch sử, tư tưởng và nghệ thuật của "Ngục trung nhật ký".Tập thơ giúp ta hiểu thêm con người Chủ tịch Hồ Chí Minh "một hình mẫu caođẹp của con người mới trong thời đại mới, một biểu tượng của chủ nghĩa nhânvăn với đầy đủ ý nghĩa của nó, một tấm gương tuyệt vời về người cộng sản HồChí Minh là một con người đẹp của thế kỷ, kết hợp hài hoà trong bản thân mìnhnhững phẩm chất khác nhau: dân tộc và quốc tế, phương Đông và phương Tây,anh hùng và nghệ sĩ, chất trữ tình và chất thép, vừa rất mực nhân hậu lại vừa triệt
để cách mạng, vừa vô cùng bình dị mà lại vừa kiệt xuất, vĩ đại…”[28]
Trang 6Từ trước tới nay, khi tiếp cận thơ chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã có
nhiều người hoặc tập trung tìm hiểu tập “Nhật ký trong tù”, hoặc chỉ phân tích
bình giảng một số bài thơ chữ Hán được Người sáng tác từ năm 1943- 1969
Để có một cái nhìn hệ thống, dưới góc độ thi pháp học hiện đại về hìnhtượng tác giả trong toàn bộ thơ chữ Hán của chủ tịch Hồ Chí Minh thì vẫnđang là một vấn đề mới mẻ đặt ra cho người nghiên cứu Và đó chính là lý do
thúc đẩy chúng tôi thực hiện luận văn cao học thạc sỹ với đầu đề “Hình tượng
tác giả trong thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh”.
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Nghiên cứu thơ văn nói chung và thơ chữ Hán nói riêng của Hồ Chí Minh
đã có rất nhiều công trình khoa học dưới dạng là sách giáo trình, sách chuyênluận, sách chuyên khảo và những bài báo đăng trên các tạp chí chuyên ngành.Tuy vậy, tìm hiểu tập trung vấn đề hình tượng tác giả trong thơ chữ Háncủa Hồ Chí Minh đã xuất hiện một số tài liệu, công trình cụ thể sau đây:
2.1 Hoàng Xuân Nhị - “Tìm hiểu thơ Hồ Chủ tịch” - Nhà xuất bản
Đại học và Trung học chuyên nghiệp – Hà Nội - 1976
Trong chương “Những bài đặc biệt hay trong thơ Hồ Chủ tịch”, Hoàng Xuân Nhhị đã tập trung phân tích các bài thơ chữ Hán: Bài mở đầu tập “Nhật
ký trong tù”; “Tự khuyên mình”; “Nghe tiếng giã gạo”; “Bốn tháng rồi”;
“Vào nhà lao huyện Tĩnh Tây”; “Không ngủ được”; “Ốm nặng”; “Ở Việt
Nam có biến động”; “Đoán chữ”; “Nói cho vui”; “Ở Lai Tân”; “Người vợ bạn tù đến thăm chồng”; “Chăn bằng giấy của người bạn tù”; “Gia quyến người bị bắt lính”; “Một người tù cờ bạc vừa chết”; “Người bạn tù thổi sáo”;
“Cháu bé trong nhà lao Tân Dương”; “Nghe gà gáy”; “Rụng mất một cái
răng”; “Lính ngục đánh cắp mất chiếc gậy”; “Cột cây số”; “Cảm tưởng đọc Thiên Gia Thi”; “Ngắm trăng”; “Giải đi sớm”; “Nắng sớm”; “Tiết thanh minh”; “Đêm lạnh”; “Đến Quế Lâm”; “Mưa lâu”; “Hoàng hôn”; “Buổi sớm”; “Tự khuyên mình”; “Trời hửng”, “Từ Long An đến Đồng Chính”;
Trang 7“Cảnh ngoài đồng”; “Phu làm đường”; “Đi đường”; “Trên đường đi”; “Mới
ra tù tập leo núi” Qua việc phân tích một số bài thơ của Hồ Chủ tịch trong “Nhật
ký trong tù”, Hoàng Xuân Nhị đã khái quát: “Trong bản thân cái nhìn cách mạng, vừa hiện thực vừa lãng mạn đứng trước cuộc sống, phải yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống tha thiết lắm, và nhất là phải tin rất vững vào chính nghĩa, vào sức mạnh, sự bất khuất của ý chí, của tinh thần mình, mặc dù mình đang bị tù, bị đói, mới sáng tác được bài thơ kỳ diệu như vậy! Bài này cùng một mạch tư tưởng với một bài nêu trên, tuy trong cảnh tù mà vẫn tự khẳng định mình là tự do” [ 40,69 ].
Những bài thơ chữ Hán được Chủ tịch Hồ Chí Minh viết từ 1943 trở về
sau cũng được Hoàng Xuân Nhị chú ý phân tích: “Nguyên tiêu” (Rằm tháng giêng), “Đối trăng”, “Lên núi”, “Sáu mươi ba tuổi”, “Không đề”, “Đêm thu”,
“Lên núi” Điều Giáo sư Hoàng Xuân Nhị rút ra từ những bài thơ chữ Hán
của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Trong thơ Bác, chúng ta tìm thấy chủ nghĩa
hiện thực xã hội chủ nghĩa với nhận thức luận , phương pháp tư tưởng cơ bản của nó là phản ánh luận Mác - Lê Nin, và nguyên tắc tối cao của nó là tính Đảng Cộng sản” [ 40, 120 ]
Có thể nói Hoàng Xuân Nhị là người tìm hiểu khá toàn diện về thơ HồChủ Tịch, trong đó có thơ chữ Hán của Người Tuy nhiên, tác giả công trìnhvẫn chủ yếu dựa vào nguyên lý Mác - Lê Nin hơn là việc vận dụng thi pháphọc hiện đại để phân tích thơ Hồ Chí Minh Vì thế công trình của Giáo sưHoàng Xuân Nhị chỉ mới đạt được kết quả bước đầu, mà chưa thực sự đi sâuvào những giá trị chân, thiện, mỹ trong thơ chữ Hán của Hồ Chủ tịch
2.2 Nhiều tác giả - “Hồ Chí Minh tác giả, tác phẩm, nghệ thuật ngôn
từ” - NXB giáo dục – Hà Nội – 2005.
Trong phần hai - Chủ tịch Hồ Chí Minh, tác giả, tác phẩm và nghệ thuật
ngôn từ, ở chương 3 thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh có nhiều bài viết tìm hiểu
thơ chữ Hán của Người
Trang 8Tập trung phân tích tìm hiểu “Nhật ký trong tù” có bài “Các thước đo
thời gian của Nhật ký trong tù” của Phùng Văn Tửu Theo Phùng Văn Tửu,
nhờ tìm hiểu “Những thước đo thời gian khác nhau, tách bạch mà chi phối
lẫn nhau, tạo thành một thể thống nhất, giúp ta hiểu thêm tâm hồn của nhà thơ cũng như vẻ đẹp của tập thơ” [ 52,382 ] Từ đó Giáo sư Phùng Văn Tửu
chỉ rõ “Nhật ký trong tù là thơ tâm trạng, nó vượt ra ngoài không gian và thời
gian cụ thể” [ 52,383 ] Và cuối cùng, Phùng Văn Tửu đi đến kết luận: “Bác
Hồ coi thường những thiếu thốn, đau khổ ghê gớm về thể chất trong cảnh tù đày, nhiều khi còn cười cợt với chúng nhưng ngược lại Người bị dày vò dữ dội về nỗi niềm cháy bỏng sốt ruột chờ đợi ngày này qua ngày khác tháng khác, giờ phút được băng mình vào khoảng không gian bát ngát biểu tượng của tự do để tiếp tục sự nghiệp cách mạng” [ 52, 386 ].
Cùng tìm hiểu về “Nhật ký trong tù” - Tập thơ chữ Hán nổi tiếng của Hồ
Chí Minh, Lê Đình Kỵ trong bài “Thơ Bác” lại nhấn mạnh sự quan tâm của HồChủ tịch đối với những số phận, những con người và từ đó Giáo sư kết luận:
“Thơ Bác là một sự kết tinh, là một sự hài hoà giữa lãnh tụ và nhân dân, giữa
thời đại và dân tộc, giữa chính trị và tình đời, tình người, giữa cao siêu và bình
dị, giữa đa dạng và thống nhất Đó là thơ ca của một nhà chiến lược cách mạng kiêm một nhà thơ lớn, của một người cộng sản chân chính toàn diện”
[52, 375 ]
Tương tự, Xuân Diệu trong bài “Yêu thơ Bác” đã bày tỏ nỗi niềm của mình, của một thi sỹ đối với nhà thơ Hồ Chí Minh như sau: “Bác Hồ cha của
chúng con, hồn của muôn hồn”.
“Câu thơ Tố Hữu hôm nay nói hộ tôi lòng yêu thương Hồ Chủ tịch Tôi nói yêu thương vì dĩ nhiên là chúng ta kính yêu Bác, kính yêu lên đến cao tột
là yêu thương Yêu Bác, yêu thơ, yêu tâm hồn và trí tuệ của Bác Bác là niềm giác ngộ cao nhất của tâm hồn, Bác là sở hữu sâu sắc nhất của mỗi tâm hồn
“[ 52, 48 ]
Trang 9Hoàng Trung Thông trong bài”Bác Hồ làm thơ và thơ của Bác” đã dựa
trên sự khảo sát nội dung và nghệ thuật đi sâu phân tích quan điểm nghệ thuật
của Bác và nhấn mạnh: “Đọc lại thơ Bác, hiểu sâu một tâm hồn thơ phong
phú mà nhất quán, rất nghệ thuật mà không chịu dừng lại ở một lối diễn tả nghệ thuật nào Nhà thơ Cộng sản ấy thật là vĩ đại” [ 52, 430 ]
Ngoài ra các bài viết “Tư duy nghệ thuật trong thơ Hồ Chí Minh” của Trần Đình Sử, “Vài suy nghĩ nhỏ về tư tưởng mỹ học của Hồ Chí Minh qua
sáng tác thơ” của Nguyễn Đăng Mạnh, “Đọc lại tập thơ Ngục Trung nhật ký”
của Đặng Thai Mai, “Một tiếng nói hướng nội, thế giới nhà thơ và con
người kiên nghị, trữ tình của tác giả” của Trần Thị Băng Thanh và Nguyễn
Huệ Chi đều có những khám phá khoa học, chính xác, sinh động về thơ chữHán của Hồ Chí Minh
Bên cạnh đó với bài viết “Góp phần lý giải ý nghĩa và vẻ đẹp của bài thơ
Vãn cảnh” của Nguyễn Khắc Phi góp một phần tìm hiểu về “Tầm vóc vĩ đại của Hồ Chí Minh” [ 52, 406 ].
2.3 Viện Văn học - “Suy nghĩ mới về Nhật Ký Trong Tù” - NXB giáo dục Hà Nội
Ở chương 2 của công trình (“Những vấn đề thi pháp và một số phương
hướng tiếp cận tập thơ “) nổi lên những vấn đề sau:
Tiếng cười trong tập thơ do Nguyễn Huệ Chi, Đặng Thị Hảo, NguyễnPhạm Hùng viết; Cái mới trong tư duy nghệ thuật do Trần Đình Sử viếtNhững vấn đề khoa học đó ít nhiều đã đề cập đến vấn đề hình tượng tác giả
trong thơ chữ Hán của Hồ Chủ tịch, mà cụ thể là tập thơ “Nhật ký trong tù” Theo Trần Đình Sử thì “Nhật ký trong tù” chẳng những hay vì thể hiện
sinh động một nhân cách lớn, một tinh thần cứng cỏi, tha thiết tinh đời, vì có những tác phẩm sánh ngang với thi ca cổ điển quá khứ, mà còn hay vì bên cạnh đó còn có hàng loạt bài thơ thể hiện lối tư duy mới, xuất hiện như là những mẫu mực mới) [ 52, 163 ].
Trang 10Theo Nguyễn Huệ Chi, Đặng Thị Hảo, Nguyễn Phạm Hùng thì “Nếu ta
tìm thấy trong con người Hồ Chí Minh “Tinh hoa của dân tộc”, trong văn chương của Hồ Chí Minh phong cách, sắc thái của văn hoá dân tộc thì ta cũng dễ dàng nhận thấy trong nghệ thuật trào lộng của ông những nét đặc sắc gây cười truyền thống, cái hồn nhiên, trẻ trung, phóng khoáng của người dân lao động, cái hóm hỉnh, sâu sắc, tao nhã của nhà nho, cái tự nhiên, đời thường của Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương”[ 54,179 ].
Lương Duy Thứ trong bài “Âm vang Thơ Đường” lại nhấn mạnh “sự gặp
gỡ, tiếp nối, giữa cách cảm hứng, cách cấu tứ , cách thể hiện của thơ ca cổ điển phương Đông, từ Đường, Tống qua hàng loạt nhà thơ cổ điển Việt Nam
và Trung Quốc, trong đó yếu tố nổi bật là sự thống nhất giữa con người và thiên nhiên, giữa chủ thể và khách thể….” [ 54,189 ].
2.4 Tập thể tác giả - “Nhật Ký Trong Tù và những lời bình” - NXB
Văn hóa - thông tin - Hà Nội - 1997
Những bài viết có tính chất nghiên cứu về hình tượng tác giả trong
“Ngục trung nhật ký” của Hồ Chủ tịch được in trong cuốn sách này là:
“Tiếng hát tự do” của Hoài Thanh, “Mong manh áo vải hồn muôn tượng” của Nguyễn Đăng Mạnh; “Bài thơ đề từ” của Lê Xuân Đức, “Một khát vọng tự
do” của Vũ Quần Phương, “Ngắm trăng” của Lê Trí Viễn, “Mộ - Chiều tối”
của Nguyễn Hoành Khung; “Tảo giải - giải đi sớm” của Hoàng Dung; “Thuỵ
bất trước” của Nguyễn Công Khai, “Tứ cá nguyệt liễu” của Đỗ Kim Hồi Có
thể nói ở những bài viết đó đã có những phát hiện tinh tế về hình tượng tácgiả trong những bài thơ chữ Hán của Hồ Chủ tịch
2.5 Nhiều tác giả- “Nửa thế kỷ nghiên cứu học tập thơ, văn Hồ Chí
Minh” - NXB Nghệ An - 2000
Cái mới ở công trình này là việc giới thiệu bài nghiên cứu về thơ chữ
Hán của Hồ Chí Minh ( chủ yếu là tập “Nhật ký trong tù” của một số học
Trang 11giả nước ngoài): Viên Ưng với bài “Bác Hồ, một nhà thơ lớn” [ 15,1065 ], Quách Mạt Nhược với bài “Nay ở trong thơ nên có thép” Cảm tưởng sau khi đọc tập thơ “Nhật ký trong tù” [15,1069], Axtơroginđopery với bài “Những
bài thơ đẹp nhất”[15,1081], Rôgerdenux ( Pháp ) với bài “Hồ Chí Minh, nhà thơ” [15,1084], Goxtamon mơcơvip với bài “Những bài thơ tù”
[15,1088], Pherren xơxdigagi với bài “Nhật ký trong tù, một bức tranh tự
họa của Hồ Chí Minh” [15, 1090], Phelicpitarođri với “Nhật ký trong tù”
[15,1093], Pavenautôpnxky với bài “Gặp tác giả Nhật ký trong tù” [15,1097], Rơnedopestre với “Một anh hùng của thời đại chúng ta” [15, 1104 ], G.L Buđaren với bài “Một cốt cách cổ điển và những sáng tạo hiện đại” [15,1110], Lelio Basso với bài “Viết lúc chờ tự do” [15,1116], E Chac Sach No với bài
“Nhật ký trong tù” là sự bộc lộ bằng văn học của một nhân vật cách mạng đầy
sức sống, cực kỳ uyên thâm” [15,1121].
Có thể nói hơn chục bài viết của các tác giả ngoài nước đã khám phá
sâu sắc tinh tế vẻ đẹp Hồ Chí Minh trong tập thơ chữ Hán “ Nhật ký trong
tù”.Đó là vẻ đẹp của một anh hùng, một nhà thơ Những bài thơ chữ Hán
được Hồ Chí Minh viết sau “Nhật ký trong tù” không được các học giảnước ngoài tìm hiểu, do đó nhân cách bình dị mà vĩ đại của tác giả Hồ ChíMinh vẫn chưa được họ khám phá toàn diện
2.6 Lê Xuân Đức “Đến với những bài thơ của Chủ tịch Hồ Chí
Minh” - NXB GD- HN – 2002
Trong phần II - Đến với những bài thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tác giả
Lê Xuân Đức tập trung phân tích những bài thơ chữ Hán sau đây: Bài thơ
“Đề từ”, “Vào nhà lao huyện Tĩnh Tây”, “Buổi trưa”, “Lời hỏi”, “Người bạn
tù thổi sáo”, “Học đánh cờ”, “Ngắm trăng”, “Đi đường”, “Chiều tối”, “Vợ người bạn tù đến nhà lao thăm chồng”, “Giải đi sớm”, “Đêm lạnh”, “Rụng mất một chiếc răng”, “Giữa đường đáp thuyền đi Ung Ninh”, “Hoàng hôn”,
“Nhớ bạn”, “Nghe tiếng giã gạo”, “Phu làm đường”, “Lính ngục đánh cắp
Trang 12mất chiếc gậy”, “Nửa đêm”, “Bốn tháng rồi”, “Ốm nặng”, “Cảnh chiều hôm”,
“Trời hửng”, “Mới ra tù tập leo núi”, “Lên núi”, “Rằm tháng riêng”, “Tin thắng
trận”, “Tặng cụ Bùi”, “Tặng cụ Võ”, “Đêm thu”, “Không đề”, “Nhớ chiến sỹ”,
“Đối trăng”, “Lên núi”, “Thăm Khúc phụ”, “Hai chớ” Như vậy, so với những
công trình khoa học trước đây thường tập trung nghiên cứu Hồ Chí Minh qua tập
thơ chữ Hán “Ngục trung nhật ký”, thì ở công trình khoa học này, Lê Xuân Đức
đã chú ý phân tích những bài thơ chữ Hán được Hồ Chí Minh sáng tác sau “Ngục
trung nhật ký”( từ 1944 - 1969 ) Tuy vậy, Lê Xuân Đức cũng chỉ phân tích một
số bài điểm xuyết, chứ chưa phân tích đầy đủ toàn bộ thơ chữ Hán của Hồ ChíMinh, do đó vẫn chưa có những cái nhìn biện chứng trong thơ chữ Hán của HồChủ Tịch
2.7 Hà Minh Đức ”Sự nghiệp báo chí và văn học Hồ Chí Minh”
-NXB Giáo dục – Hà Nội- 2003
Phần “Hồ Chí Minh - Nhà thơ lớn của dân tộc” được tác giả trình bày
qua bảy chương, trong đó các chương 1, 2, 3, 4, 5 tập trung thể hiện nhữngnội dung trong thơ của Hồ Chí Minh
Ngoài tập thơ “Ngục trung nhật ký” rất được tác giả công trình chú ý tìm
hiểu, thì một số bài thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh sáng tác thời kháng chiến
chống Pháp như: “Báo tiệp” - 1948; “Đăng Sơn” – 1950, cũng được phân tích
để thấy được tầm tư tưởng của nhà thơ
Đi vào cụ thể ở chương 3 “Nay ở trong thơ nên có thép”, Hà Minh Đức nhấn
mạnh quan điểm cách mạng của Hồ Chí Minh trong sáng tác thơ chữ Hán không chỉ
thể hiện ở rất nhiều bài thơ trong Nhật ký trong tù mà còn thể hiện ở nhiều bài thơ chữ Hán được Người sáng tác từ 1944 đến 1969 (“Không đề”, “Sáu mươi ba tuổi”)
Ở chương 4 “Vẻ đẹp trí tuệ và chiều sâu cảm xúc trong thơ Hồ Chí
Minh”, Hà Minh Đức đặc biệt nhấn mạnh “Chủ nghĩa nhân đạo cách mạng trong thơ Hồ Chí Minh mang sâu sắc tinh thần vị tha nhân dân, vì quần chúng lao khổ… đặc điểm quan trọng của chủ nghĩa nhân đạo cách mạng
Trang 13của Hồ Chí Minh là ở khả năng cảm hoá thức tỉnh quần chúng lao khổ” [7,
289]
Ở chương 5 “Tình cảm thiên nhiên trong thơ Hồ Chí Minh”, Hà Minh
Đức tập trung phân tích những bài thơ chữ Hán viết về thiên nhiên của HồChí Minh từ thời Người là tù nhân trong nhà giam của Tưởng Giới Thạchcho đến khi được tự do và trở thành vị lãnh tụ của nhân dân Việt Nam Ngườivẫn thường hay qua lại tham quan cảnh đẹp thiên nhiên Trung Quốc và có
chung một cảm xúc “Tìm thấy ở thiên nhiên vẻ đẹp thưởng ngoạn và những
điều kiện để nương tựa cho con người Chính Người cũng đến với thiên nhiên với tấm lòng chở che xây dựng….với thiên nhiên, Hồ Chí Minh là bạn… Cuộc sống của Người hoà trong trời đất bao la Người hiểu rõ lẽ sống của tạo vật và luôn xem cỏ cây hoa lá như một sinh mệnh cần chở che, chăm sóc”
[7,314 ]
Như vậy với cách phân tích theo lối chia những chương mục khi nghiêncứu về thơ chữ Hán Hồ Chí Minh, Hà Minh Đức đã có những phát hiện vềnhững giá trị thẩm mỹ trong thơ chữ Hán của Người và bước đầu đã có nhữngnhận xét tinh tế về tác giả Hồ Chí Minh trong thơ chữ Hán
2.8 Nguyễn Đăng Mạnh -”Mấy vấn đề về phương pháp tìm hiểu,
phân tích thơ Hồ Chí Minh”- NXB Giáo dục- Hà Nội – 2003
Đây là một chuyên luận có tính chất phương pháp luận để tìm hiểu thơ Hồ
Chí Minh Trừ hai bài thơ viết bằng Tiếng Việt “Cảnh khuya”- 1947, “Cảnh
rừng Việt Bắc”- 1947, thì toàn bộ những bài thơ của Hồ Chí Minh được Nguyễn
Đăng Mạnh trích tuyển để bình giảng trong phần phụ lục của chuyên luận đều làthơ chữ Hán Theo Nguyễn Đăng Mạnh thì thơ nói chung và thơ chữ Hán nói
riêng của Hồ Chí Minh là “Một di sản văn hoá quý báu của dân tộc” [32,7] Từ
quan niệm đó Nguyễn Đăng Mạnh đã khảo sát thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh trên
ba phương diện:
Trang 14- Quan điểm sáng tác văn học của Hồ Chí Minh.
- Đặc điểm về mặt thể loại của thơ Hồ Chí Minh
- Phong cách thơ Hồ Chí Minh
Chuyên luận của Nguyễn Đăng Mạnh đã quán xuyến toàn bộ nội dung vànghệ thuật của thơ, nhất là thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh Tuy nhiên, do mụcđích của công trình, Nguyễn Đăng Mạnh nghiêng về phân tích thơ, hơn làviệc tìm hiểu hình tượng tác giả thơ Hồ Chí Minh
2.9 Nguyễn Xuân Lạn - “Thơ văn Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh
trong nghiên cứu phê bình” – NXB Đại học quốc gia - Hà Nội - 2001
Ở công trình này, Nguyễn Xuân Lạn tập trung tìm hiểu tình hình tư liệu,hướng tiếp cận và những vấn đề đặt ra đối với thơ văn Hồ Chí Minh Trong số
4 chương của công trình, Nguyễn Xuân Lạn đã dành trọn chương 4 để nghiêncứu Các công trình nghiên cứu, phê bình về thơ Hồ Chí Minh trong mục thứnhất tình hình tư liệu, Nguyễn Xuân Lạn đã phân loại và thống kê:
- Những bài viết chung về thơ Hồ Chí Minh
- Những công trình viết riêng về từng tập thơ của Hồ Chí Minh
+ Những bài viết về thơ “Nhật ký trong tù”
+ Những bài viết về thơ ngoài “Nhật ký trong tù”.
Ở mục 2 “Giới thiệu một số công trình cụ thể” Nguyễn Xuân Lạn nêu
những bài viết chung về thơ gồm có:
- “Yêu thơ Bác” của Xuân Diệu.
- “Đọc thơ Bác” của Lưu Trọng Lư.
- “Vẻ đẹp trí tuệ trong thơ Bác” của Hà Minh Đức.
- “Thơ tứ tuyệt của Hồ Chí Minh” của Hà Minh Đức.
- “Tìm hiểu thơ Hồ Chủ tịch” của Hoàng Xuân Nhị.
- “Thơ người toả sáng” của Vũ Minh Tâm - Lương Duy Thứ.
- “Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà thơ lớn của dân tộc” của Hà Minh Đức.
Trang 15- “Mấy vấn đề về phương pháp tìm hiểu, phân tích thơ Hồ chủ tịch” của
Nguyễn Đăng Mạnh
- “Chủ tịch Hồ Chí Minh và văn học Việt Nam hiện đại” của Phong Lê
Nguyễn Xuân Lạn đã mạnh dạn nêu ra những ưu, nhược điểm của nhữngcông trình nói trên và cho biết vấn đề hình ttượng tác giả trong thơ Hồ ChíMinh chưa được đề cập một cách sâu sắc [31,436 - 444 ]
Ở mục hai, bài viết về thơ ngoài Nhật ký trong tù, Nguyễn Xuân Lạn đã
nhận xét những công trình sau đây:
- “Học tập một số thơ văn của Hồ Chủ tịch” của Trần Thanh Mại.
- “Đọc một số thơ ca Hồ Chủ Tịch từ sau Cách mạng tháng 8” của
Hồ Tuấn Niêm
- “Bỗng nghe vầng thắng vút lên cao” của Chế Lan Viên.
- “Tìm hiểu thơ ca chiến khu của Chủ tịch Hồ Chí Minh” của Vũ Châu
Quán và Nguyễn Huy Quát
Về những công trình nói trên, Nguyễn Xuân Lạn cũng có nhiều ý kiếnnhận xét rất mạnh dạn và rất xác đáng
Ở mục ba, những bài viết về “Nhật ký trong tù”, Nguyễn Xuân Lạn giới
thiệu những công trình sau:
- “Quyển nhật ký trong tù của Bác” của Nguyễn Tâm.
- “Học tập thơ Hồ Chủ Tịch qua tập Nhật ký trong tù” của Nguyễn
Viết Lãm
- “Đọc tập thơ Nhật ký trong tù của Hồ Chủ tịch” của Trần Huy Liệu.
- “Đọc Nhật ký trong tù” của Hoài Thanh.
- “Thơ Bác” của Lê Đình Kỵ.
- “Đọc lại tập thơ Nhật ký trong tù” của Đặng Thai Mai.
- “Tình cảm thiên nhiên trong Nhật ký trong tù” của Nguyễn Đăng Mạnh.
- “Bác Hồ làm thơ và thơ của Bác” của Hoàng Trung Thông.
- “Suy nghĩ mới về Nhật ký trong tù” của nhiều tác giả.
Trang 16Ở những bài viết này, Nguyễn Xuân Lạn đã nêu lên được đóng góp khoahọc rất có giá trị của các nhà khoa học khi nghiên cứu về tập thơ chữ Hán nổi
tiếng “Nhật ký trong tù” Đặc biệt khi nhận xét về công trình “Suy nghĩ mới
về Nhật ký trong tù” của nhiều tác giả ( do Nguyễn Huệ Chi chủ biên ),
Nguyễn Xuân Lạn nêu rõ công trình đã “Mở ra một hướng tiếp cận mới,
hướng tiếp cận thi pháp với thơ Hồ Chí Minh[31,157 ).
Ngoài ra, Nguyễn Xuân Lạn giới thiệu cách hiểu của các nhà khoa học
về một số bài thơ chữ Hán tiêu biểu: bài “Thướng Sơn” (Lên núi); bài “Thu
dạ” (Đêm thu); bài “Nhập Tĩnh Tây huyện ngục” (Vào nhà lao huyện Tĩnh
Tây), bài “Tảo giải” ( Giải đi sớm ), bài “Mộ” (Chiều tối), bài “Nạn hữu xuy
địch” (Người bạn tù thổi sáo ), bài “Vọng nguyệt” ( Ngắm trăng) Từ đó, ở
mục ba, Nguyễn Xuân Lạn đã nêu lên “Những vấn đề đặt ra qua các côngtrình nghiên cứu phê bình về thơ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh” Trước
hết, Nguyễn Xuân Lạn khẳng định “Mặc dầu Hồ Chủ tịch chưa bao giờ tự
nhận mình là nhà văn, nhà thơ , nhưng tất cả các công trình nghiên cứu đều đánh giá cao giá trị nội dung và nghệ thuật thơ Người, đều công nhận Hồ Chí Minh là nhà thơ lớn” [31,177].
Nguyễn Xuân Lạn nêu lên được những quan điểm tiếp cận thơ HồChí Minh như sau:
- Khuynh hướng “Thần thánh hoá con người và thơ Hồ Chí Minh”
- Về tập thơ Nhật ký trong tù, Nguyễn Xuân Lạn qua khảo sát các công
trình, đã nêu lên bốn vấn đề khoa học có tính thời sự:
- Vấn đề tác giả, tác phẩm
- Vấn đề giá trị hiện thực của tập thơ Nhật ký trong tù.
- Vị trí của Nhật ký trong tù trong lịch sử dòng thơ chữ Hán của dân tộc.
- Vấn đề đặt ra từ cuốn sách “Hồ Chí Minh không phải là tác giả Ngục
trung nhật ký” của Lê Hữu Mục.
Trang 17Về những vấn đề nghiên cứu thơ Hồ Chí Minh ngoài Nhật ký trong tù, Nguyễn Xuân Lạn khẳng định: “Nhìn chung, thơ Hồ Chí Minh là đối tượng
thu hút tập trung nhất các cây bút nghiên cứu, phê bình cả trong nước và ngoài nước, đặc biệt là tập thơ Nhật ký trong tù" Nguyễn Xuân Lạn nêu rõ
những tồn tại trong nghiên cứu phê bình về thơ Hồ Chí Minh là “Khuynh
hướng chính trị hoá một cách hẹp hòi thô thiển về nội dung thơ Hồ Chí Minh… đã chi phối quan điểm và tiếp cận tác giả và tác phẩm thơ Hồ Chí Minh…” [31,192].
Công trình của Nguyyễn Xuân Lạn có tính chất nghiên cứu về thành tựunghiên cứu phê bình thơ văn Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh Qua công trìnhnày, Nguyễn Xuân Lạn báo hiệu một hướng nghiên cứu mới ưu thế hơn so vớihướng nghiên cứu phê bình truyền thống chính là hướng nghiên cứu thi pháp học.Với hướng nghiên cứu thi pháp học thì vấn đề hình tượng tác giảtrong thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh sẽ được đặt ra toàn diện và khoa học
2.10 Nguyễn Xuân Lạc - “Toả sáng những vần thơ” - NXB Giáo
dục- Hà Nội – 2005
Đây là công trình tuyển chọn và thể hiện lời bình về 30 bài thơ hay
của Chủ tịch Hồ Chí Minh Những bài thơ ngoài tập Nhật ký trong tù là:
“Thướng Sơn”; “Nguyên Tiêu”, “Báo tiệp” , “Thu dạ”, “Vô đề - 1948” ,
“Đăng Sơn”, “Tầm hữu vị ngộ”, “Phỏng Khúc phụ”, “Vô đề - 1968” Những bài thơ trong Nhật ký trong tù: “Ngục Trung Nhật ký” , “Nhập
Tĩnh Tây huyện Ngục”, “Nạn hữu xuy địch”, “Học dịch kỳ”, “Vọng nguyệt” “Tẩu lộ”, “Mộ”, “Tảo giải”, “Bán lộ tháp thuyền phó Ung”, “Thuỵ bất trước”, “Ức hữu”, “Ngục đinh thiết ngã chi sỹ đích”, “Lai tân”, “Thanh minh”, “Vãn cảnh”, “Khán thiên gia thi Hữu cảm”, “Tân xuất ngục học đăng Sơn” Ngoài ra, ở phần phụ lục, Nguyễn Xuân Lạc tập trung bình giảng:
Chùm thơ “Đăng Sơn” của Hồ Chủ tịch và “Thơ trăng Bác Hồ”.
Trang 18Từ những bài viết đó, Nguyễn Xuân Lạc đã nêu bật cái hay cái đẹp trongnhững bài thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh và phần nào nêu lên được nhữngđặc điểm cao đẹp của chủ thể trữ tình trong những bài thơ của Hồ Chí Minh.Tuy nhiên, những bài viết được tuyển chọn trong công trình của NguyễnXuân Lạc vẫn nặng về phân tích bình giảng theo kiểu thi pháp học truyềnthống, mà chưa đạt đến cách phân tích hình tượng tác giả theo thi pháp hiệnđại.
2.11 Nhiều tác giả - “Thơ Hồ Chí Minh và lời bình” - NXB văn
hóa thông tin- Hà Nội- 2006
Đây là cuốn sách nằm trong “Tủ sách văn học trong nhà trường” Ngoài
những tác giả nghiên cứu quen thuộc như Xuân Diệu, Hoàng Trung Thông,Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư, Hà Minh Đức, Nguyễn Đăng Mạnh, Hoàng XuânNhị, Trần Huy Liệu, Lê Đình Kỵ, Hồ Tuấn Niêm, thì ở công trình này xuấthiện thêm một số tác giả mới, với những bài viết thiên về tìm hiểu thơ chữ Hán
của Hồ Chí Minh Đinh Xuân Dũng với bài “Tìm thêm một vẻ đẹp trong thơ
của Bác Hồ” [14, 229], Mã Giang Lân với các bài phân tích về: “Giải đi sớm”
[14,323 ], “Chiều tối” [14,329 ], “Cảnh chiều hôm”[334 ], “Mới ra tù tập leo
núi” [14,339 ], “Rằm tháng giêng” [14,388] Đỗ Kim Hồi với bài “Tứ cá Nguyệt Liễu - bài thơ chứa đựng chân lý sâu xa về giá trị con người” [14,353]
Nguyễn Công Khai với “Thuỵ bất trước” (Không ngủ được) [14,368] Nguyễn
Sỹ Đại với “Bài thơ Báo Tiệp” [14, 401].
Những bài viết của những tác giả đó vừa dựa trên hướng bình giảng vàphân tích truyền thống, vừa vận dụng ít nhiều thi pháp học hiện đại nên đã cónhững khám phá mới và sâu sắc về thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh
Tuy nhiên, cũng chỉ dừng lại ở một bài thơ, chứ chưa vươn lên tớitầm khái quát toàn bộ thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh
2.12 Phong Lê - “Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, hành trình thơ
văn, hành trình dân tộc”- NXB Đại học quốc gia Hà Nội- 2003
Trang 19Công trình của Phong Lê có 7 chương, trong đó Chương 3, Chương 4,
Chương 5 tập trung nghiên cứu về thơ văn Hồ Chí Minh, thơ chữ Hán của Hồ
Chí Minh Tác giả công trình đã rút ra được những khái niệm ít nhiều đề cập đếnhình tượng tác giả trong thơ, nhất là thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh qua cáctiêu đề:
- Thơ trong tù - Người tự do
- Lời non nước
- Người là Cha, là Bác, là Anh
- Nhà văn hoá Việt Nam
- Nhà thơ không chủ định
- Con người đẹp nhất
Với một phương pháp tư duy sắc bén và khả năng khái quát vấn đề
toàn diện, Phong Lê ở công trình này đã khẳng định: “Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã để lại một sự nghiệp văn thơ in đậm tinh thần thời đại, chứa đựng bao bài học sống và tu dưỡng cho mọi tầng lớp, mọi thế hệ …” [26,223].
Phong Lê đặc biệt nhấn mạnh: “Không chỉ là nhà thơ lớn của dân tộc, Hồ Chí
Minh còn là danh nhân văn hoá thế giới, do tầm bao quát và tác động sâu rộng của một cuộc đời hoạt động trên rất nhiều lĩnh vực của đời sống văn hoá - tinh thần dân tộc Việt Nam và nhân loại tiến bộ thế kỷ XX “[26, 224].
Có thể nói những ý kiến của Phong Lê có tính chất gợi mở rất lớn chochúng tôi khi đi vào tìm hiểu vấn đề hình tượng tác giả trong thơ chữ Háncủa Hồ Chí Minh
Trên đây là những công trình cơ bản ít nhiều gián tiếp và trực tiếp tìm hiểu
về thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh Đó là một quá trình nghiên cứu toàn diện từthi pháp học truyền thống đến thi pháp học hiện đại, từ việc bình giảng phân tíchtừng bài thơ lẻ đến việc tìm hiểu tư duy nghệ thuật, tìm hiểu không gian thờigian trong thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh và đã có rất nhiều thành tựu Tuynhiên, vấn đề hình tượng tác giả trong thơ chữ Hán Hồ Chí Minh dưới góc nhìn
Trang 20thi pháp học hiện đại (cái nhìn nghệ thuật, giọng điệu, sự tự biểu hiện) vẫn chưađược nhiều người nghiên cứu, chưa có một công trình nào nghiên cứu tập trung
và hệ thống về vấn đề này Đó chính là vấn đề mà chúng tôi tiếp tục tìm hiểutrong phần nội dung của luận văn
3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn nhằm chỉ ra thơ chữ Hán của Hồ ChíMinh, cái nhìn nghệ thuật của nhà thơ (quan niệm về con người, về thế giới).Nhằm miêu tả toàn diện đặc điểm giọng điệu trong thơ chữ Hán của Hồ ChíMinh, chứng minh sự tự biểu hiện của tác giả trong toàn bộ thơ chữ Hán Đồngthời đi sâu khảo sát, phân tích, xác định những cái đẹp trong hình tượng tác giả
Hồ Chí Minh
Thơ văn Hồ Chí Minh rất phong phú bao gồm: văn chính luận, văn báo chí,văn nghệ thuật, thơ chữ Hán, tiểu phẩm nghệ thuật…và tập thơ “Nhật ký trongtù” Chúng tôi chỉ giới hạn đề tài nghiên cứu thơ chữ Hán của Hồ chí Minh gồm
Thơ chữ Hán trong “Nhật ký trong tù” và thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh viết từ
1943 đến 1968
Đối tượng nghiên cứu ở luận văn này chủ yếu là cuốn sách “Thơ chữ Hán
của Hồ Chủ Tịch” ( Trần Đắc Thọ dịch nghĩa, chú giải, tuyển các bản dịch thơ)
– NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội - 2003
4 Phương pháp nghiên cứu
Tìm hiểu “Hình tượng tác giả trong thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh” là
một vấn đề lý luận về thi pháp học hiện đại.Trên cơ sở đó dưới góc độ nghiêncứu bằng thi pháp học chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây: Phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu
Phương pháp hệ thống
Phương pháp phân tích tổng hợp
5 Đóng góp của luận văn
Trang 21Qua việc tìm hiểu về hình tượng tác giả trong thơ chữ Hán của Hồ ChíMinh, luận văn sẽ cho thấy quan niệm nghệ thuật của tác giả về hiện thực vềcon người và xã hội Trên cơ sở đó góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý thuyết
về hình tượng tác giả và việc nghiên cứu hình tượng tác giả trong thơ trữ tình,đồng thời thấy được cái nhìn nghệ thuật và giọng điệu nghệ thuật như một biểuhiện của hình tượng tác giả trong thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm
Trang 22Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ VÀ KHÁI LƯỢC VỀ THƠ CHỮ HÁN CỦA HỒ CHÍ MINH
1.1 Khái niệm hình tượng tác giả
1.1.1 Những quan niệm phổ biến
Theo “Từ điển thuật ngữ văn học” - Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn
Khắc Phi (chủ biên) - NXB Đại học quốc gia– Hà Nội – 1999 (tái bản) thì
hình tượng tác giả là “Phạm trù thể hiện cách tự ý thức của tác giả về vai trò
xã hội và vai trò văn học của mình trong tác phẩm, một vai trò được người đọc chờ đợi"[24, 124].
“Cơ sở tâm lý của hình tượng tác giả là hình tượng cái “Tôi” trong nhân
cách mỗi người thể hiện trong giao tiếp Cơ sở nghệ thuật của hình tượng tác giả trong văn học chính là chất giao tiếp của văn bản nghệ thuật: Văn bản của tác phẩm bao giờ cũng là lời của người trần thuật, người kể chuyện hoặc nhân vật trữ tình Nhà văn xây dựng một văn bản đồng thời với việc xây dựng ra hình tượng người phát ngôn văn bản ấy với một giọng điệu nhất định” “Hình tượng tác giả có tính chất loại hình sâu sắc, nhưng cũng mang đậm cá tính tác giả, khi vai trò của cá tính sáng tạo của cái “Tôi” cá nhân được ý thức đầy đủ” [24,
125]
“Phạm trù hình tượng tác giả chẳng những cho phép nhận ra phong cách
cá nhân, mà còn giúp tìm hiểu tính hệ thống của văn bản tác phẩm, mối quan
hệ của nó với ý thức về vai trò xã hội và văn học của bản thân văn học”
Trang 23sáng tạo của một thời Nó tồn tại và phát triển trên cơ sở tác giả cụ thể”.
“Chức năng của nghệ sỹ như một tác giả là tạo ra cái nhìn nghệ thuật và tạo
ra hình thức nghệ thuật” “Với tư cách là tác giả, nghệ sỹ có một quan hệ nhất định với thế giới vật liệu đời sống sẽ tạo thành thế giới nghệ thuật của anh ta, có thái độ nhất định đối với ngôn ngữ mà anh ta sử dụng, đối với truyền thống nghệ thuật quá khứ, đối với các sáng tác, tác giả khác, đối với bạn đọc và phê bình Nghệ sỹ cũng có thái độ nhất định đối với nhân vật của mình và các đặc điểm tài năng của chính mình Tổng hoà tất cả những đặc điểm loại hình trong các quan hệ và thái độ đó sẽ tạo thành một kiểu tác giả nhất định trong lịch sử văn học thuộc một loại hình nhất định” “Lịch sử văn học đã biết đến những kiểu tác giả khác nhau… Nhà văn kiểu hiện thực lúc nào cũng có sổ tay và ngòi bút để ghi các tư liệu đời sống Nhà văn cách mạng là người dùng nghệ thuật như vũ khí để đổi thay chế độ xã hội” [42,97 -
99 ]
Theo Hà Minh Đức (chủ biên) - Lý luận văn học - NXB Giáo dục - Hà
Nội – 2008: “Vì đối tượng của văn học là con người và thế giới trong quan hệ của nó đối với con người cho nên quan niệm nghệ thuật về con người là một phạm trù nền tảng của mọi đường hướng sáng tạo”
“Xét về phương diện thi pháp, chính quan niệm về con người góp phần
quy định một mặt quan hệ của nghệ thuật đối với đời sống như một trong nhiều hình thái cơ bản của con người cảm thụ và chiếm lĩnh thực tại, phương thức khám phá và tái hiện nghệ thuật về thế giới, mặt khác quan điểm giao tiếp nghệ thuật, cách thức của nghệ thuật tổ chức và truyền đạt thông điệp của nó cho con người với tư cách là người tiếp cận” [6, 406].
Trên đây là những quan niệm phổ biến có tính chất lý thuyết về hìnhtượng tác giả nói chung Cụ thể hơn về vấn đề này chính là quan điểm Trần
Đình Sử trong “Giáo trình dẫn luận thi pháp học” - NXB Giáo dục – Hà Nội
– 1998 Xuất phát từ những nhận định có tính nguyên tắc như: “Văn như kỳ
Trang 24nhân” (văn như con người) của người Trung Quốc thời Đường, Tống và
“phong cách ấy là con người” ở Phương Tây thế kỷ XVIII (18), người ta đi đến khẳng định tác giả như là một “Phạm trù thi pháp” Vì vậy “cần phân
biệt tác giả tiểu sử như một khái niệm ngoài thi pháp” cho nên “Hình tượng tác giả hiện hình trong tác phẩm mới là phạm trù của thi pháp học” [42,107 ].
“Hình tượng tác giả là cái được biểu hiện ra trong tác phẩm một cách
đặc biệt” “Có nghĩa là nhà văn biểu hiện cảm nhận của mình về thế giới, cách suy nghĩ của mình về ngôn ngữ, cách diến đạt của mình và cảm nhận đó trở thành trung tâm tổ chức tác phẩm, tạo thành sự thống nhất của nội tại của tác phẩm, sự thống nhất của tác phẩm về mặt phong cách học” [42, 107].
“Vấn đề hình tượng tác giả không chỉ là sự phản ảnh tác giả và tác
phẩm, thể hiện tương quan giữa con người sáng tạo ra văn học và văn học,
mà còn là vấn đề của cấu trúc nghệ thuật, sự thể hiện của chủ thể” [42,108].
Tóm lại “Hình tượng tác giả biểu hiện chủ yếu ở: Cái nhìn riêng, độc
đáo, nhất quán có ý nghĩa tư tưởng, đạo đức, thị hiếu, giọng điệu trần thuật, gồm cả một phần giọng điệu nhân vật và ở sự miêu tả, hình dung của tác giả đối với chính mình” [42,109].
1.1.2 Các yếu tố của hình tượng tác giả
B.USpenxky viết: Đặc điểm của người trần thuật ngôi thứ ba trong “Chiến
tranh và hoà bình” là một người thông minh, nhạy cảm, có tình cảm yêu ghét
Trang 25riêng, có kinh lịch riêng, đồng thời như mọi người, nó cũng bị hạn chế của nănglực nhận thức nội tại (theo Trần Đình Sử – sách đã dẫn, trang 110)
M Khrapchencô viết: “Chân lý cuộc sống trong sáng tác nghệ thuật
không tồn tại bên ngoài cái nhìn nghệ thuật có tính cá nhân đối với thế giới, vốn có ở từng nghệ sỹ thực thụ” (dẫn theo Trần Đình Sử - sách đã dẫn trang
109)
Như vậy cái nhìn nghệ thuật là một biểu hiện của tác giả Nó có 6 đặcđiểm sau đây:
Thứ nhất, cái nhìn thể hiện trong tri giác, cảm giác, quan sát, cho nên nó
nhằm mục đích phát hiện cái đẹp, cái xấu, cái bi, cái hài, cái hùng
Thứ hai, cái nhìn bao quát không gian, bắt đầu từ điểm nhìn trong không
gian và thời gian, bị không gian và thời gian chi phối
Thứ ba, cái nhìn xuất phát từ một cá thể, mang thị hiếu và tình cảm yêu
ghét rõ ràng
Thứ tư, cái nhìn gắn với liên tưởng, tư tưởng, cảm giác nội tâm, thể hiện
ví von, ẩn dụ, đối sánh
Thứ năm, cái nhìn là sự kết hợp các thuộc tính xa nhau hoặc là sự tách
rời thuộc tính khỏi sự vật một cách trừu tượng
Thứ sáu, cái nhìn thể hiện trong chi tiết nghệ thuật, vì chi tiết nghệ thuật
là điểm rơi của cái nhìn
Tóm lại, Tìm hiểu hình tượng tác giả trong tác phẩm văn học trước hết
là phải tìm hiểu cái nhìn của tác giả đó, có thể là cái nhìn đồng tình, hoặccũng có thể là cái nhìn phản đối, cái nhìn đồng cảm hay phản cảm, cái nhìnthể hiện thái độ của tác giả
1.1.2.2 Sự tự biểu hiện
Sự tự biểu hiện của tác giả thành hình tượng cũng là một yếu tố quantrọng thuộc phạm trù hình tượng tác giả Nó có 3 đặc điểm chính sau:
Trang 26Thứ nhất, sự tự thể hiện của tác giả thể hiện ở chỗ tác giả tự hình
dung về hình tượng của mình trong tác phẩm như thế nào ( thường bộc lộqua đại từ nhân xưng)
Thứ hai, không thể đồng nhất hình tượng tác giả với bản thân tác giả
Thứ nhất, giọng điệu trước hết là một yếu tố hình thức giúp nhận ra tác
giả Nếu trong cuộc sống nghe giọng nói người ta có thể nhận ra con người,thì trong văn học biết được giọng điệu là biết được cá tính nhà văn
Thứ hai, giọng điệu mang nội dung tình cảm, thái độ ứng xử của nhà văn
trước các hiện tượng đời sống được phản ánh trong tác phẩm
Thứ ba, nền tảng của giọng điệu là cảm hứng của tác giả Bởi vì nói như
V Belinxky: “Trong cảm hứng nhà thơ là người yêu say tư tưởng, yêu vẻ
đẹp, yêu một sinh thể, đắm đuối vào trong đó và anh ta ngắm nó không phải bằng lý trí, không phải bằng tình cảm hay bằng một năng lực của tâm hồn,
mà là bằng tất cả sự tràn đầy và toàn vẹn của tồn tại tinh thần của mình”…
Vì thế cảm hứng xuất hiện khi tác giả nói đến mội cái gì cao cả, có ýnghĩa đối với tồn tại con người, nói đến niềm vui, nỗi đau lòng cảm giác và đểthể hiện cảm hứng thì nhà văn sử dụng từ ngữ rất linh hoạt tạo nên nhữnggiọng điệu riêng cho tác phẩm
Thứ tư, là thái độ của nghệ sỹ đối với đối tượng tác giả miêu tả và đối
với người đối thoại ở trong hay ở ngoài tác phẩm, là chất giọng bắt nguồn từbản chất đạo đức của tác giả
Trang 27Thứ năm, giọng điệu có sự xen pha, hoà trộn giữa chủ thể với nhân vật,
giữa người trần thuật với người trong truyện và do đó tạo nên chân dung nghệthuật về nhà văn trong tác phẩm
Tóm lại, khi tiếp nhận thưởng thức tác phẩm nghệ thuật, những tác phẩmvăn học, chúng ta (người đọc) sẽ luôn luôn bắt gặp hình tượng tác giả trongthế giới nghệ thuật của họ và nhận thấy hình tượng tác giả được tạo thành bởi
ba yếu tố cơ bản là: Cái nhìn, giọng điệu và sự tự thể hiện
1.2 Vấn đề nghiên cứu hình tượng tác giả trong thơ trữ tình
1.2.1 Phân biệt tác giả và nhân vật trữ tình
Theo “Từ Điển thuật ngữ văn học” - Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn
Khắc Phi (chủ biên) - sách đã dẫn thì thơ trữ tình là thể thơ thể hiện nhữngcảm xúc và suy tư của nhà thơ hoặc của nhân vật trữ tình, trước các hìnhtượng đời sống, được thể hiện một cách trực tiếp Cảm nghĩ, cảm xúc trongthơ trữ tình có tính chất cá thể hoá và sự thể hiện có tính chất chủ quanhoá.Thơ trữ tình là tiếng hát của tâm hồn biểu hiện thế giới nội tâm với nhữngcung bậc tình cảm với những tư tưởng triết học
Hình tượng tác giả trong thơ trữ tình hoặc là chính bản thân tác giả (chủthể trữ tình) hoặc là nhân vật trữ tình Do đó, trên cơ sở căn cứ vào đối tượngtrữ tình mà người ta chia ra thơ trữ tình tâm tình, thơ trữ tình phong cảnh, thơtrữ tình thế sự, thơ trữ tình công dân [24, 270]
Để nghiên cứu hình tượng tác giả trong thơ trữ tình, trước hết chúng tacần phân biệt giữa tác giả và nhân vật trữ tình Tác giả của thơ trữ tình là
“Tác giả tiểu sử” tức là tác giả có tên họ, quê quán, thời gian sống, hành trạng
lai lịch, là người nắm bản quyền của tác phẩm thơ Có trường hợp tác phẩmthơ khuyết danh (nghĩa là mất đi tính cụ thể của tác phẩm, nhưng tác phẩm ấyvẫn không bị xoá bỏ dấu ấn tác giả)
Tác giả của tác phẩm thơ trữ tình có thể là nhà tư tưởng xã hội và thẩm
mĩ Theo “Từ Điển thuật ngữ văn học” (sách đã dẫn) chính là người làm ra
văn bản văn học, đó là ngươì sáng tạo ra các giá trị văn học…Xét về đặc
Trang 28trưng, tác giả văn học là người xây dựng thành công các hình tượng nghệthuật, độc đáo, sống động, có khả năng tồn tại được trong sự cảm thụ củangười đọc…Xét về mặt nghề nghiệp, tác giả văn học là người xây dựng đượcmột ngôn ngữ nghệ thuật mới, có phong cách, giọng điệu riêng, có bộ mặtriêng trong thể loại, có hệ thống hoàn cảnh đặc trưng riêng…[24,242 ].
Cũng theo sách “Từ Điển thuật ngữ văn học” (sách đã dẫn ) thì “Nhân
vật trữ tình” chính là “Hình tượng nhà thơ trong thơ trữ tình nhằm bộc lộ ý thức tác giả” (trang 201) Nói cách khác, hình tượng tác giả cũng là một hình tượng sáng tạo trong tác phẩm, như hình tượng nhân vật… Nếu hình tượng nhân vật xây dựng theo nguyên tắc hư cấu… thì hình tượng tác giả được thể hiện theo nguyên tắc tự biểu hiện” [24, 107].
Qua đó chúng ta thấy có sự phân biệt giữa tác giả và nhân vật trữ tình Sựphân biệt giữa tác giả và nhân vật trữ tình là ở chỗ nhân vật trữ tình là hìnhtượng khái quát như một tính cách văn học, còn tác giả là nguyên mẫu vớinhiều chi tiết sự thật thuộc về tiểu sử Nói cách khác tác giả của thơ trữ tình
có cái Tôi cụ thể, còn nhân vật trữ tình là cái “Tôi” đã được sáng tạo.
Nét phân biệt thứ hai chính là cái Tôi trong đời thường cá biệt của tác giảvới cái Tôi trong nhân vật trữ tình là cả một sự khái quát tự nâng tầm mình
lên của nhà thơ như là “Người đại diện cho xã hội, thời đại và nhân loại” ( Từ
điển thuật ngữ văn học - sách đã dẫn, trang 202 )
1.2.2 Sự thống nhất giữa hình tượng tác giả và hình tượng nhân vật trữ tình
Tuy nhiên, giữa hình tượng tác giả và hình tượng nhân vật trữ tình vẫn có
những nét thống nhất Nhân vật trữ tình là con người “đồng dạng” của tác giả
- Nhà thơ (một con người có đường nét sống động, có số phận cá nhân xácđịnh, có thế giới nội tâm cụ thể, có một số đặc điểm về chân dung)
1.2.3 Những nét riêng của hình tượng tác giả trong thơ trữ tình
Trang 29Từ sự tìm hiểu những nét phân biệt và sự thống nhất giữa hình tượng tácgiả và nhân vật trữ tình, chúng ta thấy hình tượng tác giả trong thơ trữ tình cónhững nét riêng như sau:
Hình tượng tác giả trong thơ trữ tình có ý thức về cá nhân của mình và cónhu cầu sáng tạo cái riêng của mình trong văn học Bởi vậy cá tính làm đổithay khoảng cách giữa chủ thể và khách thể, làm đổi thay cấu trúc thể loại
hoặc sáng tác theo hình thức “bình cũ rượu mới”.
Nét riêng thứ hai của hình tượng tác giả trong thơ trữ tình là hướng tớihiện thực cuộc sống và vận dụng ngôn ngữ đời thường trong sáng tạo thơ ca.Tiếp theo hình tượng tác giả trong thơ trữ tình thể hiện tính năng độngsáng tạo nhiều hướng của nghệ thuật, tập trung rõ nhất là ở cái nhìn, giọngđiệu và sự tự ý thức về thực tại và chính bản thân con người (dẫn theo Trần
Đình Sử – Giáo trình dẫn luận thi pháp học trang 117 - 118).
1.3 Khái lược thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh
1.3.1 Vị trí thơ chữ Hán trong sự nghiệp văn học Hồ Chí Minh
Về nghệ thuật thì Hồ Chí Minh đã lấy chữ Hán làm phương tiện ngôn từ
để diễn đạt những bài thơ của mình Điều đó thể hiện thơ chữ Hán của Hồ ChíMinh không chỉ phản ánh tâm hồn người nghệ sỹ - chiến sỹ của Người màcòn chứng minh truyền thống thi ca của dân tộc Việt Nam từ thế kỷ X chođến thế kỷ XX ở bộ phận thơ chữ Hán rất đặc biệt Nói cách khác chính thơchữ Hán mới là bộ phận quan trọng khẳng định Hồ Chí Minh là một tác giảthơ, là một nhà thơ của dân tộc ở thế kỷ XX Khả năng khẳng định vị trí nhàthơ ở Hồ Chí Minh chính là thơ chữ Hán Tiếng Việt không có khả năng thểhiện thành tựu đó và Tiếng Pháp trong văn phẩm của Người lại càng không
có tư cách Nói một cái chính xác sự nghiệp thi ca của Hồ Chí Minh thànhcông nhất là ở bộ phân thơ chữ Hán Bởi trên con đường hoạt động cáchmạng, Người đã làm rất nhiều bài thơ và qua thơ ta như thấy rõ con người, tưtưởng và tâm hồn Người được bộc lộ Đằng sau những câu thơ ấy là những
Trang 30chủ trương, chớnh sỏch của Đảng, là những lời kờu gọi, tuyờn truyền động
viờn, giỏo dục tinh thần yờu nước Từ những bài thơ trong tập Nhật ký trong
tự cho đến những bài thơ chữ Hỏn sau khi ra tự về nước hoạt động cứu nước
cho đến khi vĩnh biệt thế giới này thỡ thơ của Người vừa cú tư tưởng lớn, vừa
cú giỏ trị nghệ thuật đặc sắc
1.3.2 Tõm thế sỏng tạo của Hồ Chớ Minh trong thơ chữ Hỏn
Như đó trỡnh bày ở phần trước, “Ngục trung nhật ký” là tập thơ gồm 133
bài được Hồ Chớ Minh sỏng tỏc khi Người sang Trung Quốc và bị chớnhquyền Tưởng Giới Thạch bắt giam từ ngày 29 thỏng 8 năm 1842 đến ngày 10
thỏng 9 năm 1947 Đọc những bài thơ trong “Ngục trung nhật ký” ta thấy nổi
rừ lờn hỡnh tượng tỏc giả là một người tự bị giam cầm, đoạ đày hơn một năm
trời trờn đất Quảng Tõy Trung Quốc Núi như vậy những bài thơ trong "Nhật
ký trong tự" là do Hồ Chớ Minh - một tự nhõn đặc biệt - viết ra trong hoàn
cảnh tự đày khắc nghiệt
Tuy nhiờn, đọc những bài thơ trong “Ngục Trung Nhật Ký” “Thỡ ta thấy
rừ tõm thế sỏng tạo của Hồ Chớ Minh ở đõy là của một nhà thơ khụng cú ý định làm thơ".
Khi nghiên cứu "Nhật ký trong tù" ngời ta thờng chú ý đặc trng thể loại
của tác phẩm này ở đây có sự kết hợp giữa tập nhật ký với tính chất của nó làtả thực, ghi chép một cách trung thực quãng đời tù đày của Hồ Chí Minh Vìthế, chính đặc điểm về nhật ký đã tạo ra giá trị lịch sử cho tác phẩm Mặt khác
"Nhật ký trong tù" còn là một tập thơ nên nó mang đặc điểm của một tập thơ
trữ tình Vì vừa là một tập nhật ký vừa là một tập thơ nên " Nhật ký trong tù"
đã kết hợp đợc những đặc điểm của một tiếng thơ mang phong vị cổ điển á
đông với đặc điểm hiện đại: vừa hớng nội, vừa hớng ngoại, vừa hiện thực vừatrữ tình, vừa châm biếm, tự trào, triết lý
"Nhật ký trong tù" có nhiều đặc điểm nghệ thuật độc đáo về cái tôi trữ
tình, về không gian, về thời gian nghệ thuật, về quan niệm con ngời, về sự kếthợp phong vị cổ điển và tinh thần hiện đại Trong đó ngời ta chú ý đến đặc
điểm nổi trội nhất là về ngôn ngữ Ngôn ngữ giản dị mà hàm xúc, nhiều ẩn dụ,nhiều tợng trng, cấu tạo theo nhiều tầng ý nghĩa, mở ra nhiều liên tởng trong
Trang 31tâm t ngời đọc theo kiểu " thi tại ngôn ngoại" ( "Cảnh chiều tối", " Giải đi
sớm", " Học đánh cờ", " Cột cây số", " Nghe tiếng giã gạo" …) Roger Denux - )
nhà văn Pháp đã nhận xét rất tinh tế rằng: " Thơ Ngời nói ít mà gợi nhiều, là
loại thơ có màu sắc thanh đạm, có âm thanh trầm lắng, không phô diễn mà
nh cố khép lại trong đờng nét để cho ngời đọc tự thởng thức lấy cái phần ý ở ngoài lời Phải yên lặng một mình đọc thơ Ngời, phải thỉnh thoảng ngừng lại
để suy nghĩ mới cảm thấy hết cái âm vang của nó và nghe những âm vang ấy
điển tích, điển cố hay những câu chữ đẽo gọt, mài giũa cầu kỳ, chúng ta thấy
Người "đọc" ra thơ hơn là "nghĩ" ra thơ Nếu câu nói "thơ là ngời" là đúng,
thì thơ của Người cũng phản ánh tính chất giản dị của Người, nếu chỉ cónhững lời lẽ giản dị thì cha phải là thơ vì thơ khác với lời nói thờng ở những
chỗ nó có "vị", nó làm cho ngời ta cảm Thơ của Người nh trên đã nói rất giản
dị và cũng rất đậm đà, dễ đi vào tâm hồn ngời đọc Có chăng cảm nhận đợc
điều này mà nhà thơ Cuba Phelich Pita Rodrighet đã dành cho "Nhật ký trong
tù" những lời trang trọng: " Nhật ký trong tù là toà nhà bằng ngôn ngữ vững chắc và đẹp, ngời ta có cảm giác nh mỗi bớc đi đều chạm vào gốc rễ sâu xa của một trong những con ngời kỳ diệu ít có, những con ngời nh những tảng đá lớn làm nền cho nhân loại"[10,414].
Ai đã đọc "Ngục trung nhật ký" hẳn khó có thể quên đợc những vần thơ
mở đầu tập thơ của tác giả:
" Ngâm thơ ta vốn không ham Nhng mà trong ngục biết làm chi đây Ngày dài ngâm ngợi cho khuây
Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do"
Bài thơ là quan niệm của Hồ Chí Minh, về văn chơng nghệ thuật Viếtvăn làm thơ không phải là mục đích cuối cùng của Ngời Đặc biệt Ngời không
bao giờ có ý định viết " Nhật ký trong tù" để đợc xuất bản, để đợc nổi tiếng
mà đơn giản đó chỉ là một trong những cách để giải trí, để bày tỏ tâm t tìnhcảm của mình Đồng thời có lẽ còn là nhu cầu của một con ngời hết sức năng
Trang 32động không chịu để cho tâm trí mình đợc nghỉ ngơi chăng? Nói nh vậy khôngphải Người khinh nghề văn Nếu nh Người đã từng có lúc tán thởng câu thơ
của Viên Tử Tài " lập thân tối hạ thị văn chơng " thì điều đó chỉ có nghĩa là Bác coi thờng những kẻ coi văn chơng cao hơn cuộc sống, vì "sự nghiệp văn
chơng" mà quay lng lại những thúc bách của nhiệm vụ xã hội nhất là trong
hoàn cảnh nớc mất nhà tan Bác tuyệt đối không khinh thờng một nghề gì, mộtviệc gì " mỗi một ngời bất cứ là công tác gì, ở đơn vị nào đều là quan trọng.Công việc gì có ích cho Đảng, cho cách mạng cũng vẻ vang Huống chi " vănhoá nghệ thuật cũng là một mặt trận và văn nghệ sỹ là những chiến sỹ trênmặt trận ấy " Người không coi mình là nghệ sỹ, không nghĩ mình thật sự làm
thơ Vì thế khi có ngời hỏi về " Nhật ký trong tù", Người nói: "Các chú không
nhắc thì Bác cũng không nhớ đến nữa Bác không phải là ngời hay thơ, mà thơ của Bác cũng không hay Mời mấy tháng bị nhốt trong cái phòng u ám và quạnh hiu, một mình một bóng, không đợc nói chuyện với ai, không có việc gì làm Muốn " du lịch " thì đi dọc chỉ năm bớc, đi ngang chỉ bốn bớc Để "tiêu khiển " ngày giờ chỉ có cách nghêu ngao vắn tắt ghi lại sinh hoạt của ngời tù cho khuây khoả thế thôi chứ thơ thú gì đâu …) [455.10 ] Nên " Nhật ký trong "
tù" trớc hết là tập thơ tự viết cho chính mình, ghi lại vắn tắt những điều tainghe, mắt thấy làm mình trăn trở, suy nghĩ và xúc cảm
Hồ Chớ Minh vượt lờn trờn hoàn cảnh lao tự để viết nờn những bài thơmang phong vị thơ Đường, thơ Tống Cú khỏ nhiều bài núi về cảnh ngộ này,
tõm thế này ở Hồ Chớ Minh, song cú lẽ bài thơ tiờu biểu nhất là bài “Vọng
nguyệt” (Ngắm trăng ).
“Ngục trung vụ tửu diệc vụ hoa Đối thử lương tiờu nại nhược hà Nhõn hướng song tiền khỏn minh nguyệt Nguyệt tũng song khớch khỏn thi gia”.
Dịch:
“Trong tự khụng rượu cũng khụng hoa
Cảnh đẹp đờm nay khú hững hờ Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ
Trang 33Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”
Ngắm trăng là một tác phẩm tiêu biểu trong tập thơ “Nhật ký trong tù”.
Có thể nói, bài thơ là sự hài hoà mối quan hệ giữa tù nhân và thi nhân, vàhình ảnh vầng trăng gắn liền với sự lãng mạn thân thiết giữa tạo hoá với conngười Trong tù, giữa một không gian bó buộc về thể xác lẫn tâm hồn, giữacái tù túng của cuộc sống, thì còn cảm xúc đâu mà làm nổi thơ Nhưng trong
tù mà vẫn ngắm được trăng, làm được thơ, thì có lẽ chỉ có Người mới làmđược điều này Bởi lẽ Người có tâm thế của một thi nhân
“Trong tù không rượu cũng không hoa”
Ý thơ như lột tả được cuộc sống chân thực của nhà tù thiếu thốn đủđường, đến cơm ăn nước uống còn thiếu chứ nói gì đến rượu và hoa Nó nhưmột thứ gì đó rất xa xỉ khi ở trong tù mà vẫn nói lên được hiện trạng chânthực ấy Vậy mà Người vẫn không hề thờ ơ với thiên nhiên, không thể hững
hờ trước vẻ đẹp ấy, một vẻ đẹp rất khó hững hờ:
“Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ.
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ”
Nhà thơ đã nhân hoá hình ảnh vầng trăng để nhìn sự vật và sự việc kháchquan, nhằm miêu tả hai nhân vật: Thi sỹ và vầng trăng trong mối quan hệ gắn
bó mật thiết và gần gũi
Một bên là thi nhân ngắm trăng ngoài cửa sổ còn đối với vầng trăng lạitheo khe cửa để ngắm nhà thơ được biểu hiện qua thị giác của hai đối tượngchủ thể và khách thể Mặc dù khi Người bị trói và giam cầm trong nhà tù,nhưng người thi nhân ấy vẫn mang phong thái ung dung, tự chủ, yêu đời vàyêu thiên nhiên trong mọi hoàn cảnh
Cảnh ngắm trăng trong “Nhật ký trong tù” diễn ra thật thi vị Người
chiến sỹ cách mạng được chiêm ngưỡng vầng trăng trong khung cảnh đốinguyệt Qua khe cửa nhỏ, vầng trăng hiện ra như đối diện trực tiếp với người
tù Cảnh ngắm trăng tuy có thể chỉ diễn ra trong giây phút, nhưng tràn đầy
Trang 34cảm hứng người ngắm trăng, trăng ngắm người Vầng trăng tuy là vầng trăngcủa mọi nhà, nhưng người tù lại cảm thấy như là vàng trăng của chính mình.Người chiến sỹ cách mạng trong bài thơ bộc lộ tư thế rất ung dung, chủ động,thanh thản để ngắm trăng Cảnh ngắm trăng diễn ra rất đặc biệt, khiến nhiềungười nghĩ rằng đây không phải là ngắm trăng trong tù, mà như ở một lầu caovọng nguyệt Thái độ ung dung chủ động của người chiến sỹ cách mạng bộc
lộ rõ một phương diện chất thép của tâm hồn…
“Ngắm trăng” là bài thơ được ghi số 20, được viết ra trong thời kỳ đầu
nhập lao Sau này khi trở về tổ quốc và đặc biệt là trong thời kỳ kháng chiếnchống Pháp, nhiều lần Người lại miêu tả vẻ đẹp của vầng trăng Lúc này vầngtrăng trên đất nước soi sáng cảnh vật và con người đang trong những nămkháng chiến Khung cảnh một đêm trăng rừng khuya “Trăng lồng cổ thụ bónglồng hoa”, cũng là ánh trăng ngời sáng trong đêm thật thi vị lạ lùng:
“Rằm xuân lồng lộng trăng soi Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân”
Trăng toả sáng trên đất nước Trăng là biểu tượng của cái đẹp, của tự do,của đời sống thanh bình và trăng cũng dự báo cho niềm vui và điều tốt lành:
“Giữa dòng bàn bạc việc quân Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền”
Phần thơ chữ Hán sau “Nhật Ký trong tù” từ năm 1942 - đến năm 1953
bao gồm các bài : “Thướng sơn” ( 1942), “Ức cố nhân”, “Điếu Huỳnh bộ”,
“Trưởng thi”( 1947), “Nguyên Tiêu” (1948 ), “Báo tiệp”, “Tặng Bùi Công” (1948), “Thu dạ” (1948), “Tặng Võ Công” ( 1948) , “Vô đề”, “Tư chiến sỹ”,
“Đối nguyệt”, “Đăng sơn”, “Tặng Trần Canh đồng chí”, “Cận Long Châu”,
“Thất cửu”, “Tầm hữu vị ngộ” Đây là những bài thơ được Hồ Chí Minh sáng
tác trong thời kỳ vận động cách mạng tiến tới tổng khởi nghĩa tháng Támthành công (1945) thành lập Nước Việt Nam Dân chủ cộng hoa và tiếp theo làcuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (từ 1942 đến 1954 )
Trang 35Tâm thế sáng tạo của Hồ Chí Minh trong những bài thơ chữ Hán ở thời kỳnày (1942 -1954 ) là tâm thế của một con người tự do, và cao hơn là tâm thế củamột vị lãnh tụ của dân tộc, là Chủ tịch của một Nhà nước dân chủ Cộng hoà nontrẻ, là tâm thế của Người lãnh đạo cao nhất của dân tộc Việt Nam tiến hành cuộckháng chiến gian khổ và vinh quang chống lại thực dân Pháp
Đọc những bài thơ đó, ta thấy tâm thế sáng tạo của Hồ Chí Minh là tâm thếcủa nhà thơ - chiến sỹ, đồng thời là tâm thế của dân tộc Việt Nam đã giành đượcđộc lập và đang chiến đấu để bảo vệ nền độc lập ấy ở giai đoạn thập kỷ 50 của thế
kỷ XX
Tiêu biểu cho 16 bài thơ chữ Hán được Hồ Chí Minh viết trong thời kỳ này
là bài thơ “Đăng sơn”:
“Huề trượng đăng sơn quan trận địa Vạn trùng sơn ủng vạn trùng vân Nghĩa binh tráng khí thôn Ngưu đẩu Thệ diệt sài lang xâm lược quân”
Dịch nghĩa:
“Chống gậy lên non xem trận địa Vạn trùng núi đỡ vạn trùng mây Quân ta khí mạnh nuốt Ngưu đẩu Thề diệt xâm lăng lũ sói cầy”.
Bài thơ được viết vào năm 1950, lúc bấy giờ Người đã bước vào tuổi 60, cáituổi mà sức khoẻ không còn như thời trai trẻ, nhưng là cái tuổi đầy ý chí, hàohùng , yêu tổ quốc, sống hy sinh, chiến đấu cho dân tộc
Là một vị lãnh tụ Người vẫn muốn tự mình trực tiếp tham gia chiến trường
để kiểm tra tình hình, mặc dù Người lúc này đã phải chống gậy
Chống gậy lên non xem trận địa
Câu thơ mở đầu bài thơ gợi lên hình ảnh thật cảm động, thân thương về mộtcon người luôn lo lắng cho đất nước Giữa bốn bề là cảnh bao la bát ngát của thiên
Trang 36nhiêm hùng vỹ, trùng trùng điệp điệp của núi rừng nâng đỡ vạn trùng mây Ngườiđứng đó dõi theo với ánh mắt xa xa, với tâm thế của một con người đang tậnhưởng không khí của bầu trời tự do, của một đất nước đang đấu tranh để bảo vệđộc lập.
Người là vị cha già của dân tộc, là người chỉ huy cao nhất của quân đội nhândân Nhờ đi theo con đường Chủ nghĩa Mác Lê nin và nhờ có Đảng lãnh đạo, màQuân đội ta chiến đấu với niềm tin tất thắng, với tinh thần vì chính nghĩa, chiếnđấu tình nguyện, quyết tâm chống xâm lăng, chống kẻ thù xâm lược:
“Thề diệt xâm lăng lũ sói cầy”
Người ngắm và bao quát các đơn vị của quân ta, tin tưởng biết mấy, tự hàobiết mấy và tràn ngập tình yêu thương Bài thơ của Hồ Chí Minh ghi lại và xácnhận sự trưởng thành đầy khí thế của quân đội ta
Hình tượng tác giả trong bài thơ nằm ở câu thứ nhất “Chống gậy lên non
xem trận địa” và ở cái nhìn đầy khí thế chiến thắng của tác giả, đầy niềm tin
tất thắng của tác giả Tư thế của tác giả trong bài thơ này là tư thế của ngườichiến thắng, tư thế của người tự chủ và đó là tư thế của dân tộc Việt Nam ởthế kỷ XX
Như chúng ta biết, sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 và Hiệpđịnh Giơ - Ne - Vơ được ký kết cuối năm 1954 đầu năm 1955 thì Miền BắcViệt Nam chúng ta hoàn toàn giải phóng và được Nước Cộng Hòa nhân dânTrung Hoa là nước láng giềng đầu tiên thiết lập quan hệ hữu nghị Hồ ChíMinh với tư cách là Chủ tịch của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, là vị lãnh
tụ của dân tộc Việt Nam đồng thời là người bạn thân thiết của Đảng, Chínhphủ nhân dân Trung Quốc vĩ đại Từ năm 1964 đến năm 1969, bọn đế quốc
Mỹ đã tiến hành chiến tranh ra toàn cõi Việt Nam, Hồ Chí Minh lại một lầnnữa lãnh đạo toàn dân tộc tiến hành cuộc trường chinh chống bọn xâm lược
Do đó, phần còn lại thơ chữ Hán của Người được viết từ năm 1955 đến năm
1968 là những bài thơ viết trong hoàn cảnh mới có nhiều điều kiện thuận lợi
Trang 37và cũng có nhiều thách thức, bao gồm các bài thơ: “Vịnh Vạn lý trường
thành”, “Vọng Thiên San”, “Quế Lâm phong cảnh”, “Vịnh Thái Hồ”, Phỏng Khúc Phụ”, “Hoàng Sơn nhật ký” (Lục Thủ), “Ly Bắc Kinh”, “Quá Hồ Bắc”, “Quá Trường Sa”, “Ngọ quá Thiên Giang”, “Ký Mao Chủ tịch”, “Vô đề”, “Nhị vật”, “Mậu Thân xuân tiết” Tâm thế sáng tạo của Hồ Chí Minh
trong nhiều bài thơ chữ Hán thời kỳ này là tâm thế của một nhà thơ - lãnh tụcách mạng, kiêm sứ giả hoà bình hữu nghị giữa hai dân tộc Việt- Trung, mộtnhà thơ - con người bình dị và là con người vĩ nhân Bài thơ tiêu biểu nhấttrong những bài thơ chữ Hán được Hồ Chí Minh viết trong thời kỳ này theo
chúng tôi là bài “Ký Mao Chủ tịch”:
“Vùng vẫy Trường Giang thỏa thích bơi Hoan hô khang kiện thảy mừng vui;
Việt Nam chống Mỹ, tôi lo lắng,
“Vạn thọ vô cương”, chúc vọng Người”.
( Bản dịch thơ của Trần Đắc Thọ)
Ở bài thơ này, từ đầu đề cho đến các câu thơ xuất hiện nhiều danh từriêng (Nhân danh và địa danh) và đại tư xưng hô Chính những yếu tố nghệthuật đó đã nói lên cái cảm hứng thân thiện hữu hảo giữa tác giả với Mao Chủtịch – lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Trung Quốc, của nước Cộng hòa nhân dânTrung Hoa Không chỉ vậy, bài thơ còn thể hiện quyết tâm đánh thắng giặc
Mỹ xâm lược của dân tộc Việt nam Có thể nói bài thơ như một thông điệphữu nghị giữa hai dân tộc Việt – Trung, như một quyết tâm thư bằng thơtrong sự nghiệp đánh thắng gịăc Mỹ xâm lược Tâm thế sáng tạo của Hồ ChíMinh trong bài thơ này là tâm thế của một nhà thơ - lãnh tụ vĩ đại của dân tộcViệt Nam ở thế kỷ XX tràn đầy tình cảm nhân đạo và khí phách anh hùngcách mạng
Trang 38Tóm lại đọc toàn bộ thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh ta thấy tâm thế sáng
tạo của tác giả là tâm thế của một con người mang “tinh hoa và khí phách của
dân tộc, lương tâm của thời đại”.
1.3.3 Thơ chữ Hán; một lựa chọn tự nhiên tất yếu
Thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh được sáng tác trong 2 giai đoạn:
Giai đoạn thứ nhất:
Khi Người sang Trung Quốc đã bị bọn Tưởng Giới Thạch bắt giam ở đấtQuảng Tây hơn 1 năm trời ( từ 29/8/1942 đến 10/9/1943) Trong thân phận một tù
nhân trên đất Trung Quốc, cho nên cả 133 bài thơ trong "Nhật ký trong tù" đều được
viết bằng chữ Hán là tất yếu và viết theo thể thơ Đường luật (Thất ngôn bát cú,thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn bát cú…) cũng là một tất yếu Vốn bị tình nghi là
“Hán gian” và bị trói buộc giam cầm giải tới giải lui trên đất Trung Quốc cả nămtrời, phải tiếp xúc thường xuyên với bọn cai ngục, bọn lính áp giải và cả nhữngngười tốt bụng của Chính quyền Tưởng Giới Thạch, hay với những tù nhân đều làngười Trung Quốc, do đó Hồ Chí Minh sáng tác thơ chữ Hán trong hoàn cảnh ấy
là tất nhiên Việc sáng tác thơ chữ Hán, xét về mặt hình thức là nhằm tạo nên sựbình thường, sự hòa nhập trong mối quan hệ đầy nguy hiểm đối với người TrungQuốc lúc bấy giờ, âu đó cũng là một phương pháp để bảo toàn tính mệnh trongchốn lao tù
Mặt khác, với ý thức là thơ nhật ký nhằm ghi lại những cảm xúc vớinhững điều tai nghe mắt thấy, về những người thật, việc thật liên quan đếnbản thân mình trên đất Trung Quốc trong cảnh lao tù, nên việc Hồ Chí Minhsáng tác thơ chữ Hán là một lẽ đương nhiên, chứ không thể sáng tác bằng chữPháp, hay bằng chữ Việt như trước đó hay sau này, Người đã sáng tác thơvăn
Hơn nữa, Hồ Chí Minh có một vốn học vấn uyên thâm, được tiếp nhận từnhững người thầy dạy chữ Hán tại quê hương mình (cha là cụ Phó bảngNguyễn Sinh Sắc - cũng là người thầy dạy chữ Hán cho Hồ Chí Minh; Cụ
Trang 39Vương Thúc Quý cũng là một người thầy dạy chữ Hán cho Hồ Chí Minh khi
là một cậu bé mang tên Nguyễn Sinh Cung) Đồng thời truyền thống văn thơchữ Hán Việt Nam thời trung đại cũng đã góp phần tiếp sức cho Hồ Chí Minh
để sáng tác nên nhiều bài thơ chữ Hán như chúng ta đã biết
Giai đoạn thứ hai:
Sau năm 1943, Người được ra tù, trở về nước tham gia hoạt động cách mạng
và giành nhiều thắng lợi cho dân tộc Việt nam: Cách mạng tháng Tám thành công(1945), kháng chiến thực dân Pháp giành thắng lợi (1954), công cuộc chống Mỹđang trên đà thắng lợi (1968), Hồ Chí Minh vẫn sáng tác thơ chữ Hán theo hìnhthức thơ thất ngôn và thơ ngũ ngôn Bên cạnh việc sáng tác rất nhiều bài thơ tiếngViệt để tuyên truyền giáo dục đấu tranh cách mạng cho dân dân, Hồ Chí Minh coiviệc sáng tác thơ chữ Hán là một thú vui nghệ thuật và nhận thấy chỉ có thơ chữHán mới nói lên được một cách trang trọng, thiêng liêng những tình cảm sâu sắc,xúc động của mình với những mối quan hệ ấm áp tình hữu nghị Việt - Trung, vềđất nước và con người Trung Quốc sinh động hữu tình, về cuộc kháng chiếnchống đế quốc Mỹ đầy gian khổ quyết liệt và nhất định thắng lợi Số lượng thơ
chữ Hán sáng tác ngoài “Ngục trung nhật ký” tuy không nhiều, nhưng những bài
thơ ấy đã góp phần khẳng định một tư duy nghệ thuật thi ca hết sức uyên bác, tinh
tế, mang vẻ đẹp hàm súc cổ kính của văn học Phương Đông
Có thể nói thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh như tấm gương sáng biểu hiệnmột nhân cách lớn, một tâm hồn lớn, một trí tuệ lớn Nhiều nhà văn, nhà thơtrong và ngoài nước đã tìm thấy ở hình tượng tác giả Hồ Chí Minh là " mộttâm hồn vĩ đại của bậc đại trí, đại nhân, đại dũng" (Viên Ưng - Trung Quốc),
"một con người qua cuộc đời mình đã dạy cho mọi người hiểu rằng: đối vớicon người không có đỉnh cao nào là không thể đạt được" ( Phê lich pitaRôđrighêt - Cu Ba) Đặng Thai Mai cho rằng đọc tập thơ " thực sự cảm thấyđứng trước một thi sĩ và một con người cao cả vĩ đại"
Trang 40Chương 2 CÁI NHÌN NGHỆ THUẬT VÀ SỰ TỰ BIỂU HIỆN CỦA HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ TRONG THƠ CHỮ HÁN CỦA HỒ CHÍ MINH
2.1 Cái nhìn nghệ thuật về con người của hình tượng tác giả
Theo Trần Đình Sử thì “Cái nhìn là một năng lực tinh thần đặc biệt của
con người, nó có thể thâm nhập vào sự vật, phát hiện đặc điểm của nó mà vẫn ở ngoàI sự vật, bảo lưu sự toàn vẹn thẩm mỹ của sự vật” [42,109] Nổi
bật nhất trong cái nhìn nghệ thuật về con người của hình tượng tác giả trongthơ chữ Hán của Hồ Chí Minh có 3 khía cạnh:
- Con người - một bộ phận gắn bó hữu cơ với thiên nhiên
- Con người với những kiếp nhọc nhằn của kiếp nhân sinh
- Con người - đối tượng của niềm thương cảm và niềm tin
2.1.1 Con người - một bộ phận gắn bó hữu cơ với thiên nhiên
Tình cảm thiên nhiên đối với nhà thơ luôn luôn là một nguồn cảm hứngdồi dào, vô tận Trong văn học Trung Quốc, thơ thiên nhiên đã có cả mộttruyền thống lâu dài và phong phú Thơ ca Trung Quốc có một tập lý lịch khádài, trong ngoài ba nghìn năm.Trên quá trình phát triển ấy, nhiều quan điểmkhác nhau đã tiếp tục phát triển trên văn đàn.Thơ Đường chỉ là một trongnhững trường phái đã có một vận mệnh đặc biệt vẻ vang từ ngày thành lậptrước đây khoảng ba mươi thế kỷ.Trong thời gian ấy, số lượng người làm thơtheo quy cách này có thể lên tới hàng vạn Một điểm nổi bật đối với ngườiđọc thơ cổ điển Trung Quốc là không một nhà thơ nào là không viết về cảnhvật thiên nhiên.Tất nhiên, không phải nhà thơ nào cũng thành công trong lĩnhvực này bởi với con mắt của người độc độc giả lúc bấy giờ họ chưa thoát khỏi
ý thức hệ phong kiến và lập trường chính trị.Thơ tả cảnh của họ thường biểuhiện tình cảm cô quạnh, đau thương hoặc tư tưởng viển vông, siêu thoát