LỜI CẢM ƠNTrong suốt quá trình thực hiện bài khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Công tác xã hội với đề tài: “Công tác xã hội cá nhân với phụ nữ nghèo đơn thân tại xã Nghĩa Thái - huyện Tâ
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện bài khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành
Công tác xã hội với đề tài: “Công tác xã hội cá nhân với phụ nữ nghèo đơn thân tại xã Nghĩa Thái - huyện Tân Kỳ - tỉnh Nghệ An” ngoài sự nỗ lực, cố
gắng của bản thân, sinh viên đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình, những lời động viên sâu sắc từ phía thầy cô, gia đình và bạn bè.
Lời đầu tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ths.Võ Thị Cẩm
Ly, người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo và giúp đỡ em trong suốt
quá trình thực hiện khóa luận này.
Sinh viên xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới trường Đại học Vinh, khoa Lịch Sử đặc biệt là các thầy giáo, cô giáo trong tổ Công tác xã hội đã giảng dạy và trang bị cho em những kiến thức cũng như những kỹ năng sống trong suốt những năm học vừa qua, cung cấp cho em những kiến thức bổ ích
để hoàn thành bài luận văn này.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến UBND xã Nghĩa Thái, Ban XĐGN xã Nghĩa Thái, Hội LHPN xã Nghĩa Thái, các cán bộ hội phụ nữ xóm Viên Thái, CLB phụ nữ xóm Viên Thái đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp em hoàn thành bài khóa luận này.
Khóa luận này cũng là món quà tinh thần em muốn gửi đến gia đình và bạn bè thân yêu của mình để tỏ lòng biết ơn sâu sắc những người đã luôn ở bên động viên, khuyến khích em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!
Vinh, ngày 4 tháng 5 năm 2011
Sinh viên
Vũ Thị Phương Hảo
Trang 3MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN……… ………0
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT……… ………0
PHẦN MỞ ĐẦU
1
1 Lý do chọn đề tài
1
2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
2
3 Mục đích nghiên cứu
3
4 Đối tượng, khách thể nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3
5 Phương pháp nghiên cứu
4
PHẦN NỘI DUNG
8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
8
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài
8
1.1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về XĐGN
8
1.1.2 Các lý thuyết vận dụng trong đề tài
10
Trang 41.1.2.1 Lý thuyết phân tầng của Karl Marx và Max Weber
10
1.1.2.2 Lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow
15
1.1.3 Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu
17
1.1.3.1 Nghèo đói và một số khái niệm liên quan
17
1.1.3.2 Phụ nữ nghèo đơn thân
17
1.1.3.3 Công tác xã hội cá nhân
18
1.2 Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
19
1.2.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
19
1.2.2 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
22
1.2.2.1 Vài nét về huyện Tân Kỳ
22
1.2.2.2 Vài nét về xã Nghĩa Thái
23
Trang 5CHƯƠNG 2: TIẾN TRÌNH CTXHCN VỚI PHỤ NỮ NGHÈO ĐƠN THÂN TẠI XÃ NGHĨA THÁI – HUYỆN TÂN KỲ - TỈNH NGHỆ AN VÀ NHỮNG
BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA TỪ QUÁ TRÌNH CAN THIỆP
25
2.1 Tiến trình CTXHCN với phụ nữ nghèo tại xã Nghĩa Thái - huyện Tân Kỳ - tỉnh Nghệ An 25
2.1.1 Tiếp cận đối tượng và xác định vấn đề ban đầu
25
2.1.2 Thu thập thông tin
27
2.1.3 Chẩn đoán
32
2.1.4 Lập kế hoạch trị liệu
39
2.1.5 Triển khai kế hoạch
42
2.1.6 Lượng giá
52
2.1.7 Kết thúc vấn đề
52
2.2 Những bài học kinh nghiệm từ việc thực hiện tiến trình CTXHCN với phụ nữ nghèo tại xã Nghĩa Thái - huyện Tân Kỳ - Nghệ An
53
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
56
1 Kết luận
56
Trang 62 Khuyến nghị
57
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
60
PHỤ LỤC
62
A QUAN SÁT
62
B MỘT SỐ BẢN PHỎNG VẤN SÂU
64
C MỘT SỐ HÌNH ẢNH TƯ LIỆU TRONG QUÁ TRÌNH CAN THIỆP VỚI THÂN CHỦ
74
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đói nghèo là một trong những vấn đề xã hội bức xúc mang tính toàncầu, nó tồn tại ở mọi quốc gia, mọi châu lục và không trừ một ngoại lệ nào.Bước sang thế kỷ XXI nhưng một phần tư thế giới vẫn đang sống trong sựcùng cực của nghèo khổ không đủ khả năng đáp ứng những nhu cầu cơ bảncủa con người Hàng triệu người khác có nguy cơ tái nghèo cao
Ở Việt Nam, công cuộc đổi mới được khởi xướng vào năm 1986 đãmang lại những thay đổi sâu sắc về nhiều mặt trong đời sống kinh tế, chínhtrị, văn hóa, xã hội của đất nước Từ một nước nông nghiệp lạc hậu thiếulương thực thường xuyên Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong nhữngnước xuất khẩu lúa gạo hàng đầu thế giới Chính sách mở cửa hội nhập đã tạo
ra cơ hội chưa từng có cho người dân trong sản xuất, kinh doanh Trong nhiềunăm (1991 – 2000) với mức tăng trưởng khá cao khoảng 7,5- 8,4% (Chiếnlược toàn diện về tăng trưởng và XĐGN) cùng với một loạt các chính sáchcởi mở của Đảng và nhà nước đã tạo nên một nền tảng vững chắc cho sự pháttriển mạnh mẽ trong nhiều năm tới Việt Nam đang được các tổ chức quốc tếđánh giá là một trong những nước đạt thành quả cao trong chương trình xóađói giảm nghèo, một nhiệm vụ cơ bản của mục tiêu thiên niên kỷ. Trong Báo
cáo "Việt Nam thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ" tỷ lệ nghèo của cả nước từ 30%
năm 1992 xuống còn 8,3% năm 2004, dưới 7% năm 2005 Bộ mặt các xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn có sự thay đổi to lớn, đáng kể nhất là về kết cấu hạ tầng Chất lượng cuộc sống của người dân ở các xã nghèo được cải thiện, nhất là nhóm hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số ở miền núi, vùng sâu, vùng xa và phụ nữ
Bên cạnh những thành tựu đáng khích lệ như trên, cho đến nay ViệtNam vẫn là một nước nghèo, đã có nhiều chỉ báo cho rằng tốc độ giảm nghèo
Trang 8ở Việt Nam hiện nay đang bị chững lại Chất lượng giảm nghèo, tính chất bềnvững và tỷ lệ tái nghèo hiện nay cũng là một vấn đề đáng lo ngại Điều nàygây ra những hậu quả xã hội tiêu cực khiến cho cuộc chiến chống đói nghèo ởnước ta vẫn còn đầy cam go và thách thức.
Đặc biệt, càng khó khăn hơn khi họ là những người phụ nữ nghèo đơnthân làm chủ gia đình họ không chỉ là nạn nhân của đói nghèo mà họ còngánh vác trọng trách nuôi sống cả gia đình, thiếu thốn tình cảm, mặc cảm, tự
ti, ít giao tiếp xã hội và chịu sự kỳ thị của cộng đồng… Bởi vậy, hạn chế tìnhtrạng nghèo đói là nhiệm vụ của các cấp các ngành nói riêng và toàn thể cộngđồng nói chung Trong đó, NVCTXH được coi là những người có trọng tráchnặng trong giúp đỡ họ tự vượt qua những khó khăn trong cuộc sống bằngnhững kiến thức và kỹ năng chuyên môn đặc thù
Vì những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Công tác
xã hội cá nhân với phụ nữ nghèo đơn thân tại xã Nghĩa Thái - huyện Tân
2.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu này được tiến hành với mục đích ứng dụng tiến trìnhCTXHCN với phụ nữ nghèo dựa trên khảo sát chính nhu cầu của họ Việcứng dụng tốt tiến trình này sẽ mang lại những lợi ích thiết thực cho thân chủbởi thông qua đó họ có cơ hội bày tỏ, chia sẻ những khó khăn trong cuộc
Trang 9sống, những tâm tư nguyện vọng cũng như những đường hướng để vươn lênXĐGN, ổn định cuộc sống.
Nghiên cứu sẽ làm cơ sở cho địa phương vận dụng, chỉ đạo, tổ chứcthực hiện công tác giảm nghèo cho phụ nữ Đồng thời kết quả nghiên cứu cũnggiúp ích cho các tổ chức hoạt động vì cộng đồng trong việc định hướng can thiệpgiảm nghèo cho các nhóm yếu thế trong xã hội đặc biệt là nhóm phụ nữ
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu này nhằm vận dụng những kiến thức đã học đặc biệt lànhững kỹ năng và phương pháp CTXHCN vào đối tượng phụ nữ nghèo nhằmtìm hiểu những vấn đề cũng như nhu cầu của họ để từ đó cùng thân chủ xâydựng kế hoạch cụ thể nhằm giải quyết vấn đề, hỗ trợ, định hướng và kết nối
họ với các nguồn lực để giúp thân chủ vươn lên trong cuộc sống
Nghiên cứu hướng tới 3 mục đích cơ bản sau đây:
- Phân tích nhu cầu nguyện vọng của thân chủ trên cơ sở đó vận dụng tiếntrình CTXHCN để hỗ trợ thân chủ vượt qua khó khăn và vươn lên thoát nghèo
- Hỗ trợ, tham vấn tâm lý và kết nối với nguồn lực cộng đồng để thânchủ lấy lại sự tự tin, có nghị lực sống và hòa nhập cộng đồng
- Rút ra những bài học kinh nghiệm từ tiến trình can thiệp
4 Đối tượng, khách thể nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu
Tiến trình CTXHCN hỗ trợ một phụ nữ nghèo đơn thân ở xã Nghĩa
Thái – huyện Tân Kỳ - tỉnh Nghệ An
4.2 Khách thể nghiên cứu
Chị: Đặng Thị L – một phụ nữ nghèo đơn thân ở xóm Viên Thái
-xã Nghĩa Thái – huyện Tân Kỳ - tỉnh Nghệ An
- Cán bộ chính sách, Hội phụ nữ xã Nghĩa Thái
Trang 104.3 Phạm vi nghiên cứu
Không gian: nghiên cứu được tiến hành tại địa bàn xóm Viên Thái
-xã Nghĩa Thái- huyện Tân Kỳ- tỉnh Nghệ An
Thời gian: nghiên cứu được thực hiện từ tháng 1/2011 - tháng 5/2011
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Nghiên cứu đã vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin làm cơ sở lý luận chonghiên cứu đặc biệt nhìn nhận sự nghèo khổ của thân chủ như một sự tácđộng nhiều chiều mang tính chủ quan và khách quan Từ đó, giúp thân chủnhận thức được vấn đề của mình gắn với hoàn cảnh cụ thể và cách thức đểgiải quyết vấn đề trên cơ sở huy động một cách có kế hoạch và các nguồn lựccủa cá nhân và cộng đồng Đặc biệt, trong bối cảnh thực tế hoạt động giảmnghèo cho phụ nữ tại xã Nghĩa Thái cần phải được xem xét nghiên cứu vàthực hiện trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay đang có nhiều biếnchuyển hết sức phức tạp và những sự biến động đó đã tác động ở những mức
độ khác nhau đến hoạt động này
5.2 Các phương pháp nghiên cứu và phương pháp thực hành 5.2.1 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1.1 Phương pháp phân tích tài liệu có sẵn
Nghiên cứu có sử dụng những thông tin từ những nguồn tài liệu cósẵn dựa trên nguồn số liệu của cuộc khảo sát xác định hộ nghèo theo chuẩnmới (Danh sách hộ nghèo năm 2011, danh sách các khẩu được hưởng chínhsách hỗ trợ trực tiếp… lập ngày 3/12/2010 của UBND xã Nghĩa Thái), cácbáo cáo kinh tế chính trị của xã năm 2010 (Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm
vụ kinh tế - xã hội năm 2010 và mục tiêu nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hộinăm 2011), báo cáo của LHPN xã Nghĩa Thái, huyện Tân Kỳ…để làm tư liệutrong quá trình hoàn thành đề tài
Trang 115.2.1.2 Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát được sử dụng nhằm mục đích thu thập nhữngthông tin thực nghiệm cho nghiên cứu Thông qua quan sát, NVCTXH có thểthấy được những khó khăn trong cuộc sống của phụ nữ nghèo để có nhữngđịnh hướng chính xác hơn trong việc hỗ trợ họ Cụ thể, tác giả đã tiến hànhquan sát một số khía cạnh sau:
- Quan sát hoàn cảnh gia đình: cơ sở vật chất như nhà ở, các vật dụngtrong nhà, ruộng vườn…
- Quan sát thái độ của thân chủ thông qua giao tiếp với thân chủ
- Quan sát hành vi của thân chủ thông qua chăm sóc con cái và quanhững công việc mà thân chủ thực hiện
5.2.1.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu nhằm mục đíchtìm hiểu sâu hơn về vấn đề, nhu cầu của thân chủ, thăm dò, phát hiện tìm hiểunhững chính sách và biện pháp mà chính quyền đã triển khai trong hỗ trợ phụ
nữ nghèo tại địa phương
Trong nghiên cứu này tác giả đã tiến hành phỏng vấn sâu 4 trườnghợp bao gồm: 1 thân chủ, 1 phó chủ tịch xã Nghĩa Thái - trưởng ban XĐGN,
1 chủ tịch hội LHPN xã, 1 chi hội trưởng câu lạc bộ phụ nữ xóm
Mục đích của phỏng vấn sâu nhằm thu thập những thông tin về nhữngthực trạng, nguyên nhân nghèo hiện tại, nhận thức của họ về cách thức vươnlên thoát nghèo, những khó khăn của họ trong quá trình giảm nghèo, nhữngnguyện vọng và mong muốn của họ… những thông tin này sẽ là căn cứ đểđánh giá phân tích và bổ sung cho những kết quả từ nghiên cứu định lượng
Trang 125.2.2 Phương pháp thực hành: phương pháp CTXH cá nhân Tiến trình công tác xã hội cá nhân.
Tiến trình CTXH Cá nhân là một chuỗi hoạt động tương tác giữaNVXH với thân chủ để giải quyết vấn đề Trong quá trình này, thông qua mốiquan hệ tương giao giữa NVCTXH với thân chủ, NVXH dùng chính các quanđiểm, giá trị, kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm và kĩ năng của mình để giúpthân chủ hiểu rõ vấn đề của mình đồng thời khích lệ họ biểu đạt tâm tư, nhucầu, phát huy tiềm năng, tham gia tích cực vào quá trình giải quyết vấn đề, cảithiện điều kiện sống của mình
Tiến trình CTXHCN là quá trình bao gồm các bước của các hoạt động
do NVXH và đối tượng thực hiện để giải quyết vấn đề Đây là những bướcchuyển tiếp theo thứ tự logic, nhưng trong quá trình giúp đỡ có những bướckéo dài suốt quá trình như thu thập dữ liệu, thẩm định và lượng giá Có thể
mô hình hóa tiến trình như sau:
Tiếp cận đối tượng
và xác định vấn đề
Trị liệu Lên kế hoạch trị liệu
Nhìn vào mô hình trên ta thấy, tiến trình CTXHCN bao gồm 7 bước đó là:Bước 1: Tiếp cận đối tượng và xác định vấn đề ban đầu
Bước 2: Thu thập thông tin
Bước 3: Chẩn đoán
Trang 13Bước 4: Lên kế hoạch trị liệu
Bước 5: Trị liệu
Bước 6: Lượng giá
Bước 7: Kết thúc
Phụ nữ nghèo đơn thân là những người có chức năng xã hội suy giảm
do nhiều nguyên nhân như: sức khỏe suy yếu, kinh tế khó khăn, quan hệ xãhội mâu thuẫn… Do đó việc vận dụng phương pháp CTXHCN vào đối tượngnày sẽ thiết lập được mối quan hệ tốt với đối tượng, giúp họ hiểu rõ đượcchính họ hoặc hoàn cảnh sống của họ, xác định lại mối tương quan với nhữngngười xung quanh… Từ đó, NVCTXH sẽ đóng vai trò là người định hướng,
hỗ trợ giúp thân chủ tăng cường khả năng huy động và vận dụng các nguồnlực của bản thân và xã hội nhằm tạo sự thay đổi cho chính mình
Hơn nữa, phụ nữ nghèo đơn thân là những người luôn có những mặccảm, tự ti trong cuộc sống Họ chỉ nhìn thấy sự yếu kém và luôn có những cáinhìn tiêu cực về bản thân cũng như bối cảnh xung quanh mình Do vậy,NVCTXH cần phân tích để họ nhìn thấy những điểm mạnh, những mặt tíchcực của bản thân và những nguồn lực mà họ có thể huy động để họ có thêmđộng lực vươn lên thay đổi cuộc sống
Như vậy, trong suốt tiến trình CTXHCN, NVCTXH luôn đóng vai trò
hỗ trợ, “không làm thay, làm hộ, làm cho” mà cần khơi gợi những tiềm năng
để thân chủ tự giải quyết vấn đề của chính mình
Trang 14PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về XĐGN.
Ngay từ khi nước ta mới dành được độc lập (1945), Chủ tịch Hồ ChíMinh đã dành sự quan tâm sâu sắc đến việc chăm lo đời sống cho những
người lao động nghèo khổ Người coi đói nghèo là một thứ “giặc” và đặt nó
lên hàng đầu Người kêu gọi Chính phủ và toàn dân chống lại giặc đói với lý
do: “Chúng ta dành được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì
độc lập cũng không làm gì Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi
mà dân được ăn no, mặc đủ…” Tư tưởng của Hồ Chí Minh là sợi chỉ đỏ
xuyên suốt trong các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ta vềXĐGN nhất là trong thời kỳ mới
Trong nghị quyết Đại hội lần thứ VI của Đảng: “Vấn đề lương thực
phải được giải quyết một cách căn bản” Đây là chủ trương quan trọng liên
quan đến an ninh lương thực và tấn công vào đói nghèo “Về lương thực thực
phẩm” khá nổi tiếng ở nước ta trong những năm đầu đổi mới.
Nghị quyết Đại hội lần thứ VII của Đảng chỉ rõ: “Đảm bảo vững chắc
nhu cầu lương thực, khắc phục tình trạng thiếu đói thường xuyên và nạn đói giáp hạt ở một số vùng” Tức là tập trung vào giải quyết cơ bản đói nghèo
tuyệt đối và đói nghèo “Về lương thực thực phẩm”.
Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng đã xác định rõ đói nghèo là một trongnhững chương trình phát triển kinh tế xã hội vừa cấp bách trước mắt vừa cơ bản
lâu dài và nhấn mạnh “Phải thực hiện tốt chương trình XĐGN nhất là đối với
vùng căn cứ cách mạng, vùng đồng bào dân tộc Xây dựng và phát triển quỹ XĐGN bằng nhiều nguồn vốn trong nước và nước ngoài…” đồng thời lần đầu
Trang 15tiên đưa ra chỉ tiêu XĐGN đến năm 2000 và các năm tới: “Giảm tỷ lệ nghèo đói
xuống còn khoảng 10% đến năm 2000, bình quân giảm 300.000 hộ/năm Trong 2– 3 năm đầu của kế hoạch 5 năm, tập trung xóa cơ bản hộ đói kinh niên”.
Đại hội IX của Đảng đã nhận thức sâu sắc về XĐGN, Đặt XĐGNtrong chiến lược phát triển kinh tế xã hội thời kỳ 2001 – 2010 nhấn mạnh làmtốt công tác XĐGN sẽ góp phần tăng trưởng kinh tế, thực hiện công bằng xãhội, góp phần ổn định từng bước phát triển đất nước và hội nhập quốc tế trong
xu thế toàn cầu hóa Như vậy, đến Đại hội này, Đảng và Nhà nước đã chủtrương XĐGN một cách bền vững và gắn liền với phát triển Mục tiêu chiến
lược XĐGN thời kỳ 2001 – 2010 mà Đại hội IX đề ra là: “Cơ bản xóa đói,
giảm mạnh số hộ nghèo, cơ bản phấn đấu đến năm 2010 về cơ bản không còn
hộ nghèo Thường xuyên củng cố thành quả XĐGN”.
Đại hội lần thứ X của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Tập trung đầu tư xây
dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội và trợ cấp về điều kiện sản xuất, nâng cao kiến thức để người nghèo, hộ nghèo, vùng nghèo tự vươn lên thoát nghèo
và cải thiện mức sống một cách bền vững; kết hợp chính sách nhà nước với
sự giúp đỡ trực tiếp và có hiệu quả của toàn xã hội, của những người khá giả cho người nghèo, hộ nghèo nhất là đối với vùng đặc biệt khó khăn Ngăn chặn tình trạng tái nghèo”.
Như vậy, có thể nói rằng, chủ trương quan điểm của nhà nước ta vềXĐGN thể hiện rất rõ quan điểm có ý nghĩa chiến lược, xuyên suốt và nhấtquán của Đảng ta là tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và côngbằng xã hội ngay trong từng bước phát triển nhằm hướng tới phát triển bền
vững, góp phần thực hiện mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ và văn minh”.
Trang 161.1.2 Các lý thuyết vận dụng trong đề tài
1.1.2.1 Lý thuyết phân tầng của Karl Marx và Max Weber
Xã hội học hiện đại, kể cả xã hội học hiện đại phương Tây nói chungđều thừa nhận có hai ông tổ của lý thuyết phân tầng xã hội - đó là Karl Marx
và Max Weber Bởi lý thuyết của ông tổng hợp lại đã cung cấp cho người tanhững nhận thức rất cơ bản về tiền đề và điều kiện (hay những nhân tố vềkinh tế, chính trị, văn hóa) dẫn đến sự phân chia xã hội thành các giai cấp vàtầng lớp khác nhau
a Lý thuyết phân tầng xã hội của Karl Marx (1818- 1883)
Karl Marx là nhà triết học và kinh tế học Đức, nhà lý luận của phong
trào công nhân thế giới, nhà sáng lập ra chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủnghĩa cộng sản khoa học
Theo tập thể các tác giả cuốn Nhập môn xã hội học (Tony Bilton vàcộng sự) - một cuốn sách giáo khoa tốt nhất, tổng hợp nhất và có giá trị nổi
bật, thì “Marx đã cung cấp cho xã hội học và chính trị học hiện đại một trong
những tiếp cận lý thuyết phân tầng bao quát mạnh mẽ nhất Cũng lúc đó, cách giải thích về xã hội của ông là một cách giải thích bị tranh luận gay gắt nhất trong mọi học thuyết xã hội, bởi vì nó không chỉ là lý thuyết xã hội học,
mà cũng là một triết lý về con người và mộ cương lĩnh cho sự thay đổi cách mạng trong xã hội…Các nhà xã hội học khác nhau đã chấp nhận những quan điểm khác nhau đó, những người khác thì ở lưng chừng, nhưng điều chắc chắn là bất cứ lý thuyết phân tầng nào đều vay mượn của Marx cách lý giải
về giai cấp… Với Marx mối quan hệ giai cấp là chìa khóa mọi mặt của xã hội”[43,56].
Marx cho rằng, sản xuất của cải vật chất là hoạt động trước tiên củacon người và nó phải đến trước mọi hoạt động khác Chừng nào mà xã hội cóthể sản xuất nhiều hơn nhu cầu tối thiểu để sinh sống thì giai cấp mới có thể
Trang 17xuất hiện Bất cứ xã hội có giai cấp nào đều xây dựng trên mối quan hệ giữanhững người bóc lột - kẻ bị bóc lột.
Lịch sử xã hội “văn minh” theo Marx là lịch sử của những hình thức khác nhau về sự bóc lột và thống trị giai cấp Theo ông: “Mọi xã hội đều bao
hàm sự bóc lột giai cấp trên cơ sở những quan hệ sản xuất, chính cái này mà Marx gọi là phương thức sản xuất Chìa khóa để tìm hiểu một xã hội nhất định là khám phá ra trong đó phương thức sản xuất nào chiếm ưu thế Tiếp
đó chúng ta biết được mô hình cơ bản của những mối quan hệ xã hội và chính trị và có thể đánh ra xung đột và những tiềm năng thay đổi nào đã được gắn bó với xã hội” [43,57].
Thật ra, Marx không đưa ra một chỉ dẫn riêng về các nhân tố dẫn đếnphân tầng xã hội, nhưng qua tác phẩm tiêu biểu của ông - từ Bản thảo kinh tế-triết học 1844 đến Tuyên ngôn Cộng sản, từ Phê phán khoa học chính trị kinh
tế đến bộ Tư bản đồ sộ, ta có thể thấy trong quan niệm của Marx, sự phânchia cốt yếu giữa các giai cấp trong một xã hội nhất định đều bắt nguồn từ
quyền sở hữu tài sản đối với các phương tiện sản xuất
Trong xã hội phong kiến, lãnh chúa có quyền thu lấy toàn bộ tài sảnthặng dư do nông dân sản xuất ra trên mảnh đất thuộc quyền sở hữu của lãnhchúa Trong xã hội tư bản, nhà tư bản có quyền chỉ huy lao động và chiếmhữu phần thặng dư do công nhân tạo ra Theo Marx, nhà tư sản có quyền đó
“Không phải nhờ những phẩm chất cá nhân hay những phẩm chất con người
của hắn, mà chỉ có được với tư cách là người sở hữu tư bản [14, 89]
Như vậy, nêu bật nhân tố hàng đầu của phân tầng xã hội là quyền sởhữu tài sản Marx (và cả F Engel) còn lưu ý đến yếu tố phân công lao động xãhội mà bản thân nhân tố này lại có mối quan hệ tác động qua lại với lực lượngsản xuất xã hội và do đó với quyền sở hữu tài sản
Trang 18Điều đó giải thích tại sao trong khi phân tích hai giai cấp chủ yếutrong xã hội là tư sản vô sản vào thời đại của mình, ông không hề bỏ qua cácgiai tầng xã hội khác như: giai cấp nông dân, giai cấp địa chủ, những ngườisản xuất nhỏ, tầng lớp tăng lữ, tầng lớp tri thức xuất thân từ các giai cấp khácnhau; tầng lớp công nhân “quý tộc”, tầng lớp vô sản “lưu manh” trong bảnthân giai cấp công nhân…[43, 108].
b Lý thuyết phân tầng xã hội của Marx Weber (1864- 1992)
Marx Weber là kinh tế học, nhà sử học đặc biệt ông còn được tôn
vinh là một nhà xã hội học bách khoa toàn thư
Marx Weber cũng là một người Đức nhưng thuộc thế hệ hậu sinh của
Marx, ông đã đưa ra lý thuyết phân tầng của mình, trong đó vừa có điểm “vay
mượn” của Marx vừa có những điểm phát triển thêm.
Ý kiến của Weber khác với Marx theo nhiều cách Ông bác bỏ mụcđích và chính sách của các nhà xã hội chủ nghĩa Đức vì coi chủ nghĩa cộngsản là một Utopia không thể đạt tới Bao quát hơn, ông bác bỏ ý kiến cho rằngcác nhà xã hội học có thể khái quát hóa các cấu trúc xã hội bằng cách sử dụng
sự phân tích các phương thức sản xuất Với Weber, mỗi xã hội về mặt lịch sử,đều độc nhất và phức tạp
Mặc dù không tán thành mục tiêu chính trị của Marx, hơn nữa ôngcòn phê phán, bác bỏ quan niệm của Marx cho rằng những quan hệ kinh tếluôn luôn là yếu tố giải thích cấu trúc xã hội và động lực đầu tiên của sự thayđổi xã hội Ông tin rằng những tư tưởng tôn giáo có một ảnh hưởng độc vềmặt lịch sử và rằng lĩnh vực chính trị thường là lực lượng kiểm soát cốt yếutrong những thay đổi xã hộisong khi bàn đến cơ cấu xã hội dưới chủ nghĩa tưbản, Weber cũng phải thừa nhận rằng chính những quan hệ kinh tế đã tạo nên
cơ sở của sự bất bình đẳng, tức là tạo tiền đề và điều kiện cho sự phân chia xã
hội thành các giai cấp khác nhau Chỉ có điều “Weber nhấn mạnh tầm quan
Trang 19trọng của thị trường như là cơ sở kinh tế cho giai cấp hơn là tài sản Với ông nguyên nhân đầu tiên của bất bình đẳng trong chủ nghĩa tư bản là khả năng thị trường - đấy là những kỹ năng mà người làm thuê mang ra thị trường lao động Những khác biệt trong phần thưởng giữa các nghề nghiệp kết quả từ kỹ năng hiếm hoi mà nhóm nghề nghiệp cần giữ Nếu kỹ năng được quá cầu thì tiền thưởng sẽ cao” [43, 65] Và người có điều kiện để thuê những kỹ năng ấy
không ai khác ngoài những người nắm giữ, sở hữu tài sản trong tay
Weber còn đưa ra khái niệm “cơ may đời sống”, thuật ngữ này dùng
để chỉ tất cả các phần thưởng và lợi thế nào do khả năng thị trường đem đến.Những cơ may đời sống bao gồm thu nhập, bảo hiểm, phụ cấp,… Bởi vậy,chúng ta có thể phân biệt những nhóm có khả năng thị trường tương tự vànhững nhóm này có thể gọi là giai cấp
Như vậy, chúng ta có thể thấy chúng ta có thể thấy rằng Weber đồng
ý với Marx là những nét kinh tế cốt yếu của chủ nghĩa tư bản là quyền sở hữucác phương tiện sản xuất và những thị trường cho hàng hóa và lao động Sựkhác biệt cốt yếu là Marx nhấn mạnh yếu tố kinh tế còn Weber nhấn mạnhyếu tố phi kinh tế
Nếu có những điểm mới trong lý thuyết phân tầng của Weber thìnhững điểm đó được thể hiện chủ yếu trong tiểu luận “Giai cấp, địa vị vàđảng” Ở tác phẩm này, Weber cho rằng sự bất bình đẳng trong xã hội có thểkhông dựa trên cơ sở những mối quan hệ kinh tế, nhưng lại dựa trên uy tín hayquyền lực chính trực được huy động thông qua một đảng Ngoài ra, theoWeber, trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, giai cấp lao động có thểphân chia thành từng tầng lớp: có kỹ năng, bán kỹ năng và không có kỹ năng,
mà các kỹ năng này thực chất là trình độ học vấn và tay nghề - lại đưa đến sựkhác biệt về cơ may đời sống thể hiện ở mức thu nhập, phụ cấp, tiền thưởng…
Trang 20Tuy nhiên, khi đánh giá học thuyết của Weber thì có một số vấn đềtrong sự giải thích của ông: không thể có tiêu chuẩn để phân chia lực lượng –lao động thành giai cấp và phân tầng Nói một cách khác, sự phân tích củaWeber về khả năng thị trường sẽ đặt mỗi cá nhân vào một giai cấp riêng rẽ.Một cách quan trọng hơn, những tiếp cận của Weber có xu hướng tập trungvào công việc, coi nhẹ của cải như một yếu tố cốt yếu trong cấu trúc giai cấp.
Từ các lý thuyết phân tầng của Marx và Weber, xã hội học hiện đại đãrút ra ba nhân tố cơ bản dẫn đến sự phân chia xã hội thành các giai cấp vàtầng lớp là: Sở hữu tài sản; trí tuệ; quyền lực
Như vậy, cả Marx và Weber đều coi xã hội phương Tây là xã hội tưbản và cả hai đều thống nhất là những nét phân biệt cốt yếu của điều đó là sự
sở hữu tư nhân về các tài sản sản xuất và một thị trường lao động Chính vì lẽ
đó mà tập thể tác giả cuốn nhập môn xã hội học đã đưa ra kết luận rằng những
tư tưởng của Marx và Weber có thể phối hợp một phần để tạo nên mô hình bagiai cấp chính trong xã hội tư bản hiện đại Tầng lớp trên ít ỏi gồm những ainắm được tư liệu sản xuất Giai cấp này trùng với giai cấp tư sản của Marx.Tuy nhiên, những người không sở hữu các tài sản sản xuất không thể được mô
tả tất thảy như là vô sản Người nghèo theo lý thuyết phân tầng không chỉ bị rơixuống tầng đáy của thang bậc phân tầng xã hội mà gần như ở ngoài lề của hệthống thứ bậc đó Lớp nghèo bị coi là giai cấp dưới trong hệ thống phân tầng,
có địa vị xã hội thấp kém, không có quyền lực, uy tín, không sở hữu của cải và
ở bên lề thị trường lao động
Trong phạm vi nghiên cứu này sẽ vận dụng lý thuyết phân tầng của
K Marx và M.Weber về quyền sở hữu tài sản, phân công lao động, khả năngthị trường lao động, cơ may đời sống, uy tín xã hội… để phân tích và thấy rõnhững đặc trưng của người nghèo từ đó đưa ra các giải pháp tích cực để xâydụng mô hình giảm nghèo hiệu quả, nhanh chóng rút ngắn ranh giới của sự
Trang 21giàu - nghèo trong xã hội, hạn chế sự bất bình đẳng trong xã hội bởi mỗingười trong xã hội đều có những vai trò, những vị thế nhất định.
1.1.2.2 Lý thuyết nhu cầu của Abraham Maslow
Abraham Maslow (1908 - 1970) là nhà tâm lý học người Mỹ Ôngđược thế giới biết đến như là người tiên phong cho trường phái tâm lý họcnhân văn (Humanistic psychology) - một trường phái nhấn mạnh những giátrị, sự tự do, sáng tạo, khuynh hướng tự chủ, những kinh nghiệm của conngười - bởi hệ thống lý thuyết về “thang bậc nhu cầu” (Hierarchy of Needs)của con người
Ông cho rằng, con người cần được đáp ứng những nhu cầu cơ bản đểtồn tại và phát triển đó là nhu cầu thể chất, nhu cầu an toàn, nhu cầu tình cảm
xã hội, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu được hoàn thiện Các nhu cầu nàyđược sắp xếp theo thứ tự thang bậc từ nhu cầu cơ bản nhất, có vị trí nền tảngnhất đến nhu cầu cao hơn Vì vậy, lý thuyết nhu cầu còn được gọi là bậcthang nhu cầu Trong cách tiếp cận của ông con người thường có xu hướngthỏa mãn trước tiên những nhu cầu quan trọng nhất ở vị trí bậc thang đầu tiênrồi sau đó mới hướng tới thỏa mãn những nhu cầu cao hơn
Có thể mô hình hóa bậc thang nhu cầu của A Maslow như sau:
Nhu cầu thể chất sinh lý:
n
n
Nhu cầu được tôn trọng
Nhu cầu được tôn trọng
Nhu cầu xã hội
Nhu cầu xã hội
Nhu cầu an toàn Nhu cầu an toàn
Nhu cầu vật chất Nhu cầu vật chất Nhu cầu hoàn thiện
Trang 22Đó là nhu cầu về thức ăn, nước uống, không khí, tình dục… Ông chorằng đây là những nhu cầu cơ bản nhất để con người có thể tồn tại và duy trì
sự sống của bản thân vì vậy nó là một nhu cầu cần được đáp ứng trước tiên
Nhu cầu về an toàn:
Con người cần có một môi trường sống an toàn, đảm bảo về an ninh
để tính mạng của họ được đảm bảo Họ có nhu cầu tránh sự nguy hiểm, đedọa từ môi trường không ổn định và đầy nỗi sợ hãi
Nhu cầu tình cảm xã hội:
Đây là nhu cầu thuộc về nhóm xã hội của con người, là sự mong muốnnhận được sự quan tâm của các thành viên trong nhóm xã hội Con người cần
có gia đình, cần tới trường để học tập và vui chơi trong nhóm bạn bè cùnglớp, cần được tham gia vào nhiều nhóm trong xã hội Trong các nhóm xã hộithì gia đình là nhóm xã hội đặc thù, cơ bản nhất của con người
Nhu cầu được tôn trọng
Khi con người bắt đầu thỏa mãn nhu cầu được chấp nhận là thànhviên trong xã hội thì họ có xu thế tự trọng và muốn được người khác tôntrọng, họ cần được bình đẳng, được lắng nghe và không bị coi thường, dù họ
là ai, trẻ em hay người tàn tật, người giàu hay người nghèo
Nhu cầu hoàn thiện
Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong cách phân cấp của ông
Đó là nhu cầu được đến trường, được nghiên cứu, lao động sáng tạo…để pháttriển một cách toàn diện
Dựa trên thang nhu cầu của Maslow, NVCTXH áp dụng vào đề tàinhằm xác định, đánh giá những nhu cầu thực tế của thân chủ, để xem họ đang
ở bậc thang nhu cầu nào từ đó có biện pháp can thiệp phù hợp, kịp thời, manglại hiệu quả cao
Trang 231.1.3 Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu
1.1.3.1 Nghèo đói và một số khái niệm liên quan
Xung quanh khái niệm nghèo đói vẫn còn nhiều quan điểm và nhậnđịnh khác nhau song chúng đều thống nhất ở một số điểm nhất định tuy nhiên
sẽ không thể có một chuẩn mực chung về nghèo khổ cho tất cả các quốc gia.Ngay trong cùng một quốc gia cũng có thể khác nhau giữa các vùng, thậm chí
là tiểu vùng
Để giúp các nước chống lại sự đói nghèo, từ ngày 15 đến ngày17/9/1993 tại Băng Cốc (Thái Lan) đã diễn ra hội nghị giảm nghèo đói ở khuvực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức, các nhà nghiên cứu vàchuyên gia hoạch định chính sách đã đưa ra khái niệm, định nghĩa đói nghèo
như sau: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và
thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà nhưng nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương”.
Có thể xem đây là định nghĩa chung nhất về nghèo đói, một địnhnghĩa có tính chất hướng dẫn về phương pháp đánh giá nhận diện nét chínhyếu phổ biến về đói nghèo
Xóa đói giảm nghèo
Theo Tiến sỹ Nguyễn Thị Thuận: “XĐGN là tổng thể các hoạt động
trực tiếp hoặc gián tiếp nhằm thực hiện mục đích hỗ trợ những điều kiện cơ bản như ăn, mặc, ở, đi lại,… để người nghèo có thể tồn tại và phát triển đạt tới mức trung bình như các thành viên khác trong cộng đồng”.
1.1.3.2 Phụ nữ nghèo đơn thân
Trong quá trình tìm hiểu nghiên cứu thực tiễn về đề tài sinh viên đưa
ra khái niệm về phụ nữ nghèo đơn thân như sau:
Trang 24Phụ nữ nghèo đơn thân là những người thường có học vấn thấp, nuôicon một mình, nhận thức hạn chế và gặp nhiều khó khăn trong đời sống, sinh
hoạt Họ chủ yếu là những người lao động thuần nông hoặc “buôn thúng bán
bưng”, lao động chân tay và có chuyên môn thấp Họ là những người ít có cơ
hội tiếp cận với khoa học, công nghệ, tín dụng và đào tạo…không những thếphụ nữ nghèo đơn thân còn là những người thường gặp nhiều khó khăn trongcuộc sống gia đình nhất là trong việc tự quyết định các công việc trong gia đìnhmột cách đơn độc Ngoài xã hội thì họ thường là những người dễ bị tổn thương,chịu nhiều thiệt thòi, họ rất ít có cơ hội thăng tiến bản thân đặc biệt họ thườngđược trả công lao động (lương, thưởng) thấp hơn so với nam giới kể cả cùngloại công việc với mức độ và cường độ làm việc bằng với nam giới
Chính vì lẽ đó, phụ nữ nghèo đơn thân có đời sống khó khăn chật vật
và họ thường khó tiếp cận với các dịch vụ kinh tế - xã hội và văn hóa, ít có cơhội thăng tiến cho bản thân và gia đình
1.1.3.3 Công tác xã hội cá nhân
CTXHCN là phương pháp can thiệp đầu tiên của CTXH, bắt đầu hìnhthành vào cuối những năm 1800 Nó là một cách thức, quá trình nghiệp vụ màNVXH sử dụng các kỹ năng, kiến thức chuyên môn để giúp đối tượng pháthuy tiềm năng, tham gia tích cực vào quá trình giải quyết vấn đề, cải thiệnđiều kiện sống của mình
CTXHCN là phương pháp giúp đỡ từng cá nhân con người thông quamối quan hệ với NVXH CTXHCN được các NVXH chuyên nghiệp sử dụngtrong các cơ sở xã hội hoặc trong các tổ chức CTXH để giúp những người cóvấn đề về thực hiện các chức năng xã hội Công cụ chủ yếu trong CTXHCN
là mối tương giao giữa NVXH và cá nhân để giúp họ hiểu rõ vấn đề của chínhmình Đồng thời khích lệ họ biểu đạt tâm tư, nhu cầu để qua đó NVXH hiểuđược vấn đề của đối tượng và tiến hành các hoạt động giúp đỡ
Trang 25Nói cách khác, CTXHCN nhằm phục hồi, củng cố và phát triển sựthực thi bình thường của các chức năng xã hội của cá nhân và gia đình trongbối cảnh xã hội mà vấn đề của họ đang diễn ra và bị tác động Trong phươngpháp này đối tượng tác động là bản thân người được giúp đỡ còn công cụ tácđộng là mối quan hệ giữa NVXH và đối tượng.
1.2 Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
1.2.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
XĐGN và phát triển bền vững là một trong những vấn đề đang được toàn thế giới quan tâm, từ Liên hợp quốc, các tổ chức quốc tế đa phương, song phương, các tổ chức phi chính phủ đến các vùng lãnh thổ, các quốc gia, chính quyền địa phương các cấp Trên bình diện toàn cầu, Liên hợp quốc xác định XĐGN là một trong những nhiệm vụ trọng yếu trong các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ Ở phạm vi quốc gia, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam cũng đã xác định XĐGN
là một trong những hành động được ưu tiên nhất đồng thời, nghèo đói cũng trở thành một chủ đề nghiên cứu được tranh luận nhiều
Xung quanh vấn đề nghèo đói đã có không ít các công trình nghiên cứucác cơ quan nghiên cứu thuộc Trung Tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia,
Bộ Lao động và Thương binh & Xã hội và đặc biệt là các tổ chức quốc tế tại Việt Nam (Ngân hàng thế giới, Liên Hợp Quốc, tổ chức ActionAid - Việt Nam, Oxfam tại Việt Nam) như: “Đói nghèo ở Việt Nam” tác giả Nguyễn Thị Hằng, “Giảm
nghèo trong nông thôn hiện nay” tác giả Nguyễn Văn Tiêm 1993, “Giảm nghèo Việt Nam” của UNICF năm 1995; “Vấn đề nghèo đói ở Việt Nam” của
ADUKI năm 1995; “vấn đề xóa đói giảm nghèo ở nông thôn nước ta hiện nay”
của tác giả Nguyễn Thị Hằng 1997… Các nghiên cứu vĩ mô cũng đề cập khá
chi tiết đến yếu tố phân tầng xã hội ở Việt Nam như “Báo cáo về tình trạng
nghèo đói và công bằng ở Việt Nam” của tổ chức Oxfam năm 1999 hay công
trình “Kinh tế thị trường và sự phân hóa giàu nghèo ở vùng dân tộc và miền
núi phía Bắc nước ta hiện nay” do Lê Du Phong và Hoàng Văn Hoa chủ biên.
Trang 26Những nghiên cứu này đề cập đến vấn đề nghèo đói từ nhiều cấp độ khác nhaunhư vùng miền, đô thị, nông thôn, miền núi xã nghèo, hộ nghèo…
Đề cập đến các vấn đề nghèo đói của phụ nữ có thể kể đến đề tài
“Phát triển bền vững nông thôn vùng Bắc Trung Bộ: xóa đói giảm nghèo và
giải quyết việc làm”, Viện nghiên cứu Môi trường và Phát triển Mục đích
chính của đề tài là xem xét đánh giá thực trạng tình hình nông thôn vùng BắcTrung Bộ Việt Nam dưới góc độ thực hiện các mục tiêu phát triển bền vữngcủa Việt Nam và thực hiện các mục tiêu Thiên niên kỷ mà Việt Nam đã camkết trên các lĩnh vực chủ yếu: xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm
Một đề tài khác thuộc nhóm này là “Vai trò của phụ nữ nông thôn
trong phát triển kinh tế ở đồng bằng sông Hồng”do trung tâm nghiên cứu
khoa học về Phụ nữ và Gia đình cũng đã tiến hành năm 2006 Bên cạnh vaitrò của phụ nữ nông thôn trong phát triển kinh tế XĐGN nghiên cứu cũng đã
đề cập đến vai trò của các đoàn thể chính trị - xã hội như Hội LHPN, Hộinông dân,… trong phát triển kinh tế - xã hội, nói chung và phong trào giảmnghèo nói riêng
Luận văn thạc sỹ chuyên ngành xã hội học của tác giả Đặng Đỗ Quyên
về đề tài: “Đặc trưng kinh tế và xã hội của hộ nghèo tại tỉnh Bắc Cạn” năm
2006 với những nội dung chủ yếu là: phân tích các đặc trưng kinh tế và xã hội cả
hộ nghèo nhằm nhận diện hộ nghèo theo chuẩn mới; chỉ ra mối liên hệ của cácđặc trưng kinh tế xã hội với tình trạng và mức độ nghèo đói của họ đồng thời tìmhiểu những khó khăn và nhu cầu cần được trợ giúp của hộ nghèo Từ đó, đưa ranhững dự báo về xu hướng biến đổi đặc trưng kinh tế - xã hội của hộ nghèo vàbước đầu đề xuất một số kiến nghị và giải pháp
Luận văn thạc sỹ xã hội học của tác giả Hà Thị Thu Hòa về: “Hoạt
động giảm nghèo đối với phụ nữ nghèo tại ngoại thành Hà Nội” (Nghiên cứu
trường hợp hai xã Cổ Nhuế và Xuân Phương, huyện Từ Liêm, Hà Nội) năm
Trang 272008 đã đi sâu tìm hiểu về thực trạng nghèo đói của các hộ gia đình ở hai xã
Cổ Nhuế và Xuân Phương; làm rõ hoạt động của các đoàn thể với công tácXĐGN đặc biệt là vai trò của Hội liên hiệp phụ nữ huyện trong việc triểnkhai các hoạt động giảm nghèo của người phụ nữ ở ngoại thành Hà Nội Từ
đó, đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường hoạt động của các tổ chức chính
trị-xã hội trong hoạt động XĐGN trên địa bàn hai trị-xã này
Luận văn thạc sĩ xã hội học của tác giả Võ Thị Cẩm ly với đề tài: “Phụ
nữ nghèo ở thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An: thực trạng, nguyên nhân và chiến lược thoát nghèo” (năm 2010) đã làm rõ bức tranh về thực trạng sự nghèo
khổ của phụ nữ ở đô thị Làm rõ những nguyên nhân dẫn đến hiện tượngnghèo khổ của nhóm phụ nữ nghèo và các chiến lược mà họ đang sử dụng với
tư cách là tác nhân chủ động tích cực để thoát nghèo, làm rõ xu hướng hành vitìm cơ hội thoát nghèo của họ Từ đó đưa ra những kiến nghị điều chỉnh haythay đổi các chính sách giảm nghèo, nâng cao mức sống và cải thiện chấtlượng cuộc sống Đồng thời, bước đầu đề xuất một vài khuyến nghị và giảipháp cho công cuộc xoá đói giảm nghèo của địa phương trong thời gian tới
Tất cả những công trình nghiên cứu đó đã đưa ra những phân tích cụthể về thực trạng kinh tế - văn hoá - xã hội của Việt Nam và xem xét vấn đềnghèo đói như là một trong những thách thức đối với phát triển kinh tế - xãhội, phát triển bền vững Trong đề tài này, chúng tôi không đi sâu vào cáckhía cạnh đã được làm rõ trong các công trình nghiên cứu trước đó mà tậptrung vào mô hình can thiệp, áp dụng tiến trình CTXHCN hỗ trợ phụ nữnghèo đơn thân trên địa bàn xã Nghĩa Thái – huyện Tân Kỳ - tỉnh Nghệ An vàrút ra những bài học kinh nghiệm khi thực hiện tiến trình này
Trang 281.2.2 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
1.2.2.1 Vài nét về huyện Tân Kỳ
Tân Kỳ được nhiều người biết đến vì đây là nơi khởi nguồn của conđường huyền thoại: đường Trường Sơn- đường HCM Tân kỳ là một trong 5huyện miền núi Tây Bắc của tỉnh Nghệ An có toạ độ địa lý như sau: Từ 18058' 30'' đến 190 32' 30'' Vĩ độ Bắc;Từ 1050 02' 00'' đến 1050 14' 30'' Kinh độĐông Ranh giới của huyện được xác định: Phía Bắc giáp huyện Nghĩa Đàn
và huyện Quỳ Hợp; Phía Đông, Đông Nam giáp huyện Yên Thành và huyện
Đô Lương; Phía Tây, Tây Nam giáp huyện Anh Sơn
Tháng 4 - 1963 huyện Tân Kỳ chính thức có tên trên bản đồ hànhchính nước ta Đây là đầu mối giao lưu, phát triển kinh tế thông qua hệ thốnggiao thông: Đường Hồ Chí Minh, đường quốc lộ 15B, đường tỉnh lộ 545,đường Trại Lạt - Cây Chanh và tuyến đường thuỷ sông Con
* Về địa hình:
Địa hình tương đối phức tạp, Tân Kỳ như một lòng chảo thấp dần vềphía sông con Vùng núi cao nhất nằm ở các xã Tân Hợp, Giai Xuân, TânXuân và hệ thống đồi núi thấp nằm dọc phía sông con
* Về đất đai
Tân Kỳ có diện tích tự nhiên toàn huyện là 725,57 km2, có vùng đấtđồi núi ba gian, phong phú về chủng loại đất, chủ yếu là nhóm đất Feralit đỏvàng, đất Feralit đỏ vàng, đất phù sa và một số loại đất khác
* Tài nguyên rừng:
Theo số liệu thống kê đất đai năm 2010, diện tích đất lâm nghiệp củahuyện có 37.067,68 ha, chiếm 50,09% diện tích tự nhiên của huyện và 3,51%diện tích đất lâm nghiệp trong toàn tỉnh Độ che phủ của rừng đạt 31,7% vớitổng trữ lượng gỗ năm 2008 là 1.264.600 m3 (2010)
Trang 29* Tài nguyên khí hậu:
Khí hậu diễn biến thất thường, phức tạp, không theo một quy luậtnhất định Tân Kỳ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa: Mùa Hè nóng
ẩm, mưa nhiều, mùa Đông lạnh
* Nguồn nước:
Trữ lượng nguồn nước mặt tương đối dồi dào, lượng mưa bình quânhàng năm khoảng 2.000 mm, sông Con chảy qua địa bàn huyện với chiều dàikhoảng 65 km Ngoài ra, tổng chiều dài các khe suối đổ khoảng gần 400 km.Ngoài ra huyện còn có nguồn nước ngầm tương đối dồi dào
* Tài nguyên khoáng sản:
Nguồn khoáng sản của Huyện khá phong phú trong đó quan trongnhất là Đá vôi, đất sét ngoài ra còn có đá Granite, đá trắng, đá marble
*Dân cư
Năm 2010 dân số trung bình của huyện là 137.730 người, bao gồm 3dân tộc là: Kinh, Thái và Thổ, trong đó dân tộc Kinh chiếm phần lớn với82,0% dân số của huyện
*Tài nguyên nhân văn khác
Huyện Tân Kỳ đã từng là khu căn cứ của Lê Lợi ở thế kỷ XV, củavua Lê Duy Mật ở thế kỷ XVIII Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, lànơi tập trung đóng quân của Sư đoàn 316, trường Sư phạm miền núi, Địabàn huyện hiện có 17 di tích lịch sử văn hoá và là nơi hội tụ của các làn điệudân ca hát Khắp, hát Lăm, hát Nhuôm, hát Nhà tơ
1.2.2.2 Vài nét về xã Nghĩa Thái
Nghĩa Thái là một xã nghèo thuộc phía Bắc huyện Tân Kỳ với ranhgiới được xác định như sau: Phía Bắc giáp xã Tân Phú, xã Nghĩa Hoàn; PhíaNam giáp xã Tân Phú; Phía Đông giáp giáp xã Nghĩa Đồng; Phía Tây giáp xãTân Xuân, Giai xuân
Trang 30Địa hình của xã khá phong phú bao gồm vùng bằng phẳng xen lẫnvới sông, hồ Đây là nơi có điều kiện giao thông thuận lợi, cả đường bộ lẫnđường sông Đời sống kinh tế nơi đây cũng phát triển tương đối đa dạng,nhiều loại hình kinh doanh dịch vụ cả trên bộ lẫn dưới sông Đất đai tươngđối màu mỡ do được bồi đắp bởi phù sa của sông Con.
Xã Nghĩa Thái có tổng diện tích tự nhiên là 1.091,7 ha, chủ yếu là đấtphù sa và đất Feralit trong đó đất nông nghiệp 8264 ha, đất lâm nghiệp 64,1
ha, đất trồng lúa là 298,0 ha
Xã có tổng số hộ là 1336 hộ, dân số là 6.272 người, lao động trong độtuổi 3.050 lao động Mật độ dân số trung bình là 576 người/km2 bao gồm 3dân tộc là: Kinh, Thái và Thổ, trong đó dân tộc Kinh chiếm phần lớn với 80%dân số của xã
Về cơ sở hạ tầng:
Xã được cơ cấu thành 8 xóm, bản; trong đó có 2 bản dân tộc Thái, Thổ.Trụ sở UBND xã được đóng tại trung tâm xã nằm trên trục đường tỉnh lộ 545cách trung tâm huyện Tân Kỳ 16km
Xã có 03 trường học, 01 trạm xá Có 02 trường đạt đơn vị văn hóa vàtrạm xá đạt chuẩn quốc gia , 6/8 xóm đạt đơn vị văn hóa
Xã nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Hàng năm, chịu ảnhhưởng của 2 loại gió chủ yếu đó là gió mùa Đông Bắc và gió phơn Tây Nam
Trong nhưng năm gần đây, xã đã có nhiều những chính sách quan tâmđến hộ nghèo không chỉ hỗ trợ cho người nghèo về mặt vật chất mà còn cả vềtinh thần Nhưng bên cạnh những kết quả đạt được thì công tác giảm nghèocủa xã vẫn còn một số mặt chưa làm được như tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèocòn khá cao, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn bất cập Xã cần phải cốgắng nhiều hơn nữa trong công tác XĐGN và nâng cao chất lượng cuộc sốngcủa người dân
Trang 31CHƯƠNG 2: TIẾN TRÌNH CTXHCN VỚI PHỤ NỮ NGHÈO ĐƠN THÂN TẠI XÃ NGHĨA THÁI – HUYỆN TÂN KỲ - TỈNH NGHỆ AN
VÀ NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA TỪ QUÁ TRÌNH
CAN THIỆP
2.1 Tiến trình CTXHCN với phụ nữ nghèo đơn thân tại xã Nghĩa Thái
- huyện Tân Kỳ - tỉnh Nghệ An
2.1.1 Tiếp cận đối tượng và xác định vấn đề ban đầu
Tiếp xúc với phụ nữ nghèo lại có hoàn cảnh éo le là một vấn đề không dễbởi họ luôn có những mặc cảm, tự ti, sống khép mình…do vậy, ngay từ đầuNVCTXH cần phải thật khéo léo, chân thành để tạo sự tin tưởng với thân chủ
Được sự giới thiệu Ban XĐGN xã Nghĩa Thái, Hội LHPN xã NghĩaThái, NVCTXH đã chủ động tìm đến gặp gỡ trao đổi với BCH Và cán bộ hộiphụ nữ xóm Viên Thái, trực tiếp là bác: Võ Văn Tráng - xóm trưởng và ChịTống Thị Hiếu - Chi hội trưởng hội phụ nữ
Mục tiêu của buổi làm việc này nhằm thiết lập mối quan hệ với với cán
bộ cơ sở qua đó tìm hiểu một số thông tin về tình hình phụ nữ nghèo đói trênđịa bàn xóm qua trao đổi với cán bộ xóm và thông qua hồ sơ hộ nghèo đượclưu trữ tại xóm
Sau khi có được danh sách và một số thông tin về những hộ nghèo dophụ nữ làm chủ, NVCTXH đặc biệt quan tâm đến hoàn cảnh của chị ĐặngThị L bởi chị không chỉ thiếu thốn về vật chất mà còn thiếu hụt về tình cảm,hơn nữa chị lại là một người luôn mang trong mình sự mặc cảm, tự ti, và mối
lo khôn nguôi khi đứa con gái duy nhất là một người tật nguyền bẩm sinh
Từ hồ sơ hộ nghèo sinh viên thu thập được một số thông tin về thân chủnhư tên tuổi, địa chỉ, hoàn cảnh, mức thu nhập như sau:
Họ và tên thân chủ: Đặng Thị L Sinh ngày:18/8/1960
Trang 32Nghề nghiệp: Nông nghiệp
Con gái: Nguyễn Thị Phương Sinh ngày: 20/6/1986
Thu nhập: 280.000/tháng
Theo đúng kế hoạch ngày 10/1/2011 NVCTXH đã chủ động tìm đến nhàđối tượng Dưới đây là mô phỏng buổi gặp gỡ đầu tiên giữa NVCTXH và thânchủ nhằm tạo lập mối quan hệ thân thiện và cởi mở, lắng nghe và chia sẻ
“Hoàn cảnh tôi thế này biết làm sao được, cái số tôi nó thế có làm gì thì cũng vô ích thôi Với lại tôi không muốn người ta lại xì xào, bàn tán”.
“Chị đừng ngại Em thực sự đánh giá rất cao nghị lực của chị, có gì chị
cứ chia sẻ cùng em, việc giữ bí mật mọi thông tin của thân chủ là một trong những nguyên tắc quan trọng của người NVCTXH, những gì chị nói với em, em
sẽ không nói lại với ai đâu hoặc nếu cần nói em sẽ xin ý kiến của chị.”
Như vậy, trong buổi gặp gỡ và làm việc đầu, NVCTXH đã trực tiếpgiới thiệu bản thân, trình xuất giấy giới thiệu, trình bày với thân chủ về mụcđích, nguyên tắc của NVCTXH nhằm xây dựng niềm tin với thân chủ đồngthời giúp thân chủ cởi mở hơn trong tiếp xúc và làm việc với NVCTXH quanguyên tắc giữ bí mật Đồng thời, qua buổi tiếp xúc đầu tiên này, NVCTXH
cũng nhận thấy, thân chủ có phần bi quan nên sử dụng kỹ năng khích lệ “em
thực sự đánh giá rất cao nghị lực của chị” nhằm giúp cho thân chủ bớt bi
quan và tự ti trong giao tiếp
Trong buổi tiếp xúc này, NVCTXH cũng tranh thủ thu thập một sốthông tin để xác định vấn đề ban đầu thông qua thân chủ
“Chị sinh ra trong gia đình nghèo, bố mất sớm khi chị còn chưa biết mặt ông Rồi chị có mang Phương, người đàn ông đó đã bỏ chị mà đi không thèm nhận con Một mình chị ở lại chịu cảnh: “chửa hoang” Ngày sinh phương chỉ mình mẹ chị ở bên nhìn đứa con tật nguyền chị tủi thân lắm Nhiều lúc chị muốn ôm con để hai mẹ con cùng chết cho bớt nhục, bớt khổ”.
Trang 33Như vậy, bằng kỹ năng thấu cảm, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng giúp thânchủ trực diện với vấn đề, kỹ năng cung cấp thông tin đồng thời qua quan sát
và trò chuyện ban đầu NVCTXH nhận thấy đối tượng đang gặp phải phải một
số vấn đề như sau:
- Vấn đề 1: Thân chủ là người gặp rất nhiều khó khăn về kinh tế
- Vấn đề 2: Thân chủ luôn mặc cảm, tự ti về bản thân
- Vấn đề 3: Thân chủ gặp nhiều khó khăn trong chăm sóc con gái bị tàntật bẩm sinh
2.1.2 Thu thập thông tin
Sau những buổi vãng gia, thăm, gặp và trò chuyện với đối tượngNVCTXH nhận thấy thân chủ và gia đình đã dành cho mình những sự tin cậynhất định, NVCTXH tiến hành bước tiếp theo đó là: “Thu thập thông tin”
Để thu thập được những thông tin cần thiết NVCTXH đã sử dụng rấtnhiều kỹ năng như: kỹ năng lắng nghe, quan sát, khuyến khích làm rõ ý,phỏng vấn sâu để khai thác được từng vấn đề cụ thể của đối tượng
Công việc thu thập thông tin hầu như được tiến hành trong suốt tiếntrình can thiệp NVCTXH thông qua một số nguồn có thể tiếp cận được như:thân chủ, hàng xóm, những người thân, BCH xóm và câu lạc bộ phụ nữ để thuthập thông tin Các thông tin thu thập được bao gồm:
- Vấn đề của thân chủ
Đầu tiên, NVCTXH lắng nghe thân chủ tự bộc lộ về gia đình, bản thân,những khó khăn, bức xúc mà họ đang gặp phải Qua đó, NVCTXH xác nhậnmột số vấn đề mà thân chủ hiện đang gặp phải:
Thứ nhất: Thân chủ là người gặp rất nhiều khó khăn về kinh tế.
Hiện tại thân chủ đang rất khó khăn và chật vật về kinh tế Thân chủ chỉ
có 1,2 sào ruộng (550 m2) là nguồn thu nhập chính Thỉnh thoảng chị mới cóthời gian đi quốc cỏ thuê hoặc phun thuốc sâu thuê cho người ta để kiếm tiền
Trang 34thuốc thang, rau cháo còn phần lớn thời gian chị phải ở nhà chăm sóc đứa contật nguyền bẩm sinh.
“Chị chỉ có 1,2 sào ruộng thôi, mùa xong, giờ hầu hết thời gian của
chị là quanh quẩn ở mảnh vườn nhỏ với 7 khẩu đất (350m 2 ) Nên đã túng càng túng thêm hầu như cả tháng chị chẳng có thu nhập gì ngoài tiền trợ cấp theo chế độ 202 của con bé (180.000/tháng) Trước đây, thì chị con có con lợn để nuôi nhưng từ sau khi nó bị DEPTO chị không còn tiền để mua lợn thả nữa,vay thì sợ lỡ nó dịch tiếp lấy mô ra tiền mà trả giá cả thì ngày càng tăng, chị không biết xoay xở sao nữa”
(PVS, thân chủ) Thứ hai: thân chủ luôn có tâm lý mặc cảm, tự ti.
Qua thực tế quan sát tiếp xúc, trò chuyện NVCTXH nhận thấy thân chủluôn mặc cảm với quá khứ và cả hiện tại Chính sự nghèo đói, sự định kiếncủa xã hội, sự mặc mặc cảm, tự ti đã khiến thân chủ thành người ít nói, ít cócác mối quan hệ và giao tiếp xã hội
“Dạo này thỉnh thoảng nó đòi chị đẩy ra đường chơi nhưng hàng xóm
họ không thích lại gần hoặc con chị chơi chung với con họ Nhà thì lại không
có đàn ông, mẹ con đàn bà đã nghèo con lại còn dị tật, nhiều lúc chị muốn buông xuôi tất cả cho xong ”
(PVS,, thân chủ) Thứ ba: Thân chủ gặp nhiều khó khăn trong chăm sóc cô con gái tàn tật bẩm sinh.
Theo như lời kể của chị L và qua quan sát NVCTXH nhận thấy, thânchủ là người chăm lo cuộc sống cho con gái trong tất cả mọi việc từ ăn uống,tắm rửa, vệ sinh bởi Phương không chỉ bị tật co quắp chân tay, mà chân tayPhương còn rất yếu không thể cử động được Chính vì thế, phần lớn thờigian chị phải ở bên Phương để chăm sóc nhất là khi trái gió trở trời
Trang 35“Con gái chị bị dị tật bẩm sinh, hai chân và hai tay không thể tự làm bất
cứ việc gì từ ăn uống, đi lại, vệ sinh cá nhân đều một tay chị làm hết Răng nó yếu lắm chỉ ăn được cơm nhão với cháo thôi Nó ở nhà cả ngày, nhiều lúc cũng buồn bực khổ lắm ”
(Phúc trình lần 2)
Ngoài thu thập thông tin qua thân chủ, NVCTXH cũng chủ động thuthập thông tin từ các nguồn khác như: hàng xóm, BCH xóm, hội phụ nữ để
bổ sung cho các thông tin được hoàn chỉnh hơn
Thông qua, hàng xóm NVCTXH biết được hoàn cảnh của chị đặc biệtkhó khăn bắt đầu từ khi đứa con ra đời
“Cuộc đời chị ấy khổ lắm, nhất là từ khi cái Phương nó ra đời Một
mình con gái tàn tật nhiều bữa tôi sang thấy 2 mẹ con chỉ có một nồi cháo với nắm rau lang luộc ”.
(Chị Nguyễn Thị H, hàng xóm của thân chủ).
Ngoài ra, thông qua hội phụ nữ xóm, NVCTXH cũng tìm hiểu đượcmột số các thông tin không chỉ về hoàn cảnh của thân chủ mà còn có nhữnghoạt động của Hội phụ nữ đối với thân chủ như hoạt động thăm hỏi tặng quàngày lễ tết, ngày kỷ niệm của Hội (8/3, 20/10 ) hay các ngày vì người nghèo,ngày người tàn tật
“Chị L là một trong những trường hợp phụ nữ nghèo làm chủ gia đình
có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.Chị một thân một mình nuôi con tàn tật, ruộng ít, vốn liếng lại không có Chi hội cũng đã có những biện pháp giúp
đỡ như tặng xe lăn nhân ngày 20/10, tặng quà ngày tết và động viên tinh thần
để chị tham gia vào CLB phụ nữ nhưng hình như chị vẫn còn nhiều mặc cảm nên vẫn chưa tham gia sinh hoạt”.
(Pvs số 3, chi hội trưởng hội phụ nữ xóm Viên Thái)
Trang 36Như vậy, thông qua các hoạt động của Hội phụ nữ dành cho thân chủ,NVCTXH có thể có thêm những định hướng cụ thể hơn trong việc lập ra kếhoạch can thiệp cụ thể cho thân chủ: ví dụ như NVCTXH có thể là cầu nối đểthân chủ vượt qua mặc cảm tự ti trong việc tham gia sinh họa CLB phụ nữxóm Viên Thái.
Thông qua các buổi làm việc thu thập thông tin cùng với thân chủ, vớicác đoàn thể, NVCTXH đã trao đổi và bàn bạc với thân chủ để nguyên nhâncủa các vấn đề mà thân chủ đang mắc phải Qua đây, thân chủ xác định mìnhvốn sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo, tuy nhiên càng trở nên trầmtrọng từ khi con gái chị ra đời năm 1986
Những vấn đề này xuất phát từ một số nguyên nhân sau đây:
- Thiếu thốn điều kiện sản xuất cơ bản: đất đai, nguồn vốn
- Trình độ học vấn thấp: khó khăn trong vận dụng KHKT vào sản xuất
để nâng cao năng suất
- Chịu nhiều định kiến xã hội: có con ngoài giã thú, con bị tàn tật
- Chi phí trong chăm sóc con bị tàn tật bẩm sinh: chi phí vật chất: (tiền
ăn uống, thuốc thang ), chi phí phi vật chất (thời gian chăm sóc)
- Những khía cạnh môi trường xung quanh tác động tới thân chủ
Môi trường xung quanh tác động đến thân chủ và vấn đề của thân chủtheo hai hướng:
Thứ nhất: Sự động viên, hỗ trợ của các tổ chức đoàn thể: BCH xóm, Hội phụ
nữ, CLB phụ nữ là động lực giúp thân chủ có ý chí vươn lên trong cuộc sống
Thứ hai: Sự xa lánh, kỳ thị và ánh mắt thiếu cảm thông, chia sẻ củacộng đồng sẽ khiến cho thân chủ bị cô lập, mặc cảm tự ti mà chính điều này
sẽ làm trầm trọng hơn vấn đề của thân chủ
Trong thu thập thông tin, NVCTXH cần chú trọng tìm hiểu kỹ nhữngkhía cạnh này để từ đó có kế hoạch trị liệu cụ thể làm sao vừa có thể làm cho
Trang 37thân chủ sử dụng hiệu quả nguồn lực từ sự hỗ trợ của cộng đồng lại vừa cóthể làm cho làm cho một bộ phận người dân hiểu và cảm thông cho hoàn cảnhcủa thân chủ nhằm tạo cơ hội cho thân chủ giao tiếp và có nhiều hơn các mốiquan hệ xã hội.
- Tìm hiểu về các nguồn lực:
NVCTXH cùng với thân chủ bàn bạc, thảo luận về các nguồn lực có thểhuy động để giải quyết vấn đề: bao gồm: nội lực (nguồn lực bên trong từ chínhbản thân thân chủ và gia đình), ngoại lực (nguồn lực bên ngoài từ sự hỗ trợ củaanh em, bạn bè, các tổ chức đoàn thể và cộng đồng xã hội) Cụ thể như sau:
Về nội lực:
Nguồn lực để giải quyết vấn đề của thân chủ hầu như là không có nhất
là về vật chất, về tinh thần thân chủ hầu như cam chịu và chấp nhận hoàncảnh, không có ý chí phấn đấu vươn lên trong cuộc sống
“Chị chỉ biết sống qua ngày chứ giờ biết làm răng được Thân đàn bà một mình con lại tàn tật chắc khổ đến chết chứ làm răng mà thoát nghèo được”.
Các tổ chức đoàn thể: đã có những chính sách hỗ trợ cả về vật chất vàtinh thần cho thân chủ Tuy nhiên, sự trợ giúp đỡ đó chỉ mang tính tức thời
Trang 38bởi nó gần như là một hoạt động từ thiện do vậy nó chưa khơi dậy tiềm năng
và khả năng vươn lên giải quyết vấn đề của thân chủ
Như vậy, qua một số thông tin trên đây có thể thấy thân chủ không chỉgặp khó khăn về kinh tế mà còn tự ti về bản thân, mặc cảm về gia đình và hầunhư bị cô lập, lạc lõng trong xã hội Chính vì thế, thân chủ cần sự cảm thông,chia sẻ và giúp đỡ của cộng đồng Đây là vấn đề khó đặt ra cho NVCTXH,NVCTXH cần phải đề ra một kế hoạch cụ thể trong tiến trình can thiệp vớiđối tượng
2.1.3 Chẩn đoán
Dựa trên cơ sở các thông tin có được NVXH nhận thấy vấn đề thân chủgặp phải có tính chất khá nghiêm trọng:
Vấn đề 1: Khó khăn về kinh tế
Vấn đề 2: Tâm lý mặc cảm, tự ti về bản thân cũng như gia đình
Vấn đề 3: Khó khăn trong chăm sóc con gái tàn tật
Trong tất cả các vấn đề đó thì NVCTXH cùng với đối tượng đã xácđịnh vấn đề ưu tiên đó là khó khăn về kinh tế và tâm lý mặc cảm, tự ti về bảnthân cũng như gia đình Đây không phải là vấn đề khó khăn nhất nhưng đây làvấn đề mà trong một thời gian nhất định cùng với những kỹ năng của mìnhNVCTXH có thể can thiệp được phần nào Hơn nữa, đây cũng là vấn đề mànếu khắc phục được nó sẽ tạo thuận lợi hơn, tạo đà để giải quyết cho vấn đềthứ ba là chăm sóc con cái bởi khi có điều kiện về kinh tế tâm lý thoải máihơn thân chủ sẽ có điều kiện chăm cho con hơn về ăn uống, thuốc thang
Sau khi xác định vấn đề ưu tiên, NVCTXH cùng với thân chủ xácđịnh lại nguyên nhân của vấn đề từ đó giúp thân chủ một lần nữa nhìn rõ lạivấn đề và những nguyên nhân thực sự để có những cơ sở xác thực nhằmchẩn đoán bản chất vấn đề để lên kế hoạch trị liệu một cách hiệu quả nhất
Trang 39P
Từ cách đánh giá và nhìn nhận lại vấn đề các nguyên nhân gây nên vấn đềđược xác định cụ thể như sau:
- Thân chủ không có nghề nghiệp ổn định
- Thu nhập không cao, thiếu điều kiện để sản xuất cơ bản: đất đai,nguồn vốn
- Trình độ học vấn thấp: khó khăn trong vận dụng KHKT vào sản xuất
để nâng cao năng suất
- Chịu nhiều định kiến xã hội: có con ngoài giã thú, con bị tàn tật nênthân chủ luôn trong tâm lý mặc cảm, tự ti
- Chi phí trong chăm sóc con bị tàn tật bẩm sinh: chi phí vật chất: (tiền
ăn uống, thuốc thang ), chi phí phi vật chất (thời gian chăm sóc)
Sau khi chẩn đoán xác định được vấn đề ưu tiên, tính chất và nhữngnguyên nhân dẫn đến vấn đề, NVCTXH đã hướng dẫn và cùng thân chủ vẽ
sơ đồ phả hệ (biểu đồ thế hệ) Cụ thể như sau:
Sơ đồ phả hệ gia đình chị L
Trang 40hệ xa cách
Đã chết
Quan hệ hôn nhân
Ghi chú:
Nhận xét về sơ đồ phả hệ gia đình thân chủ:
Sau khi hoàn thành sơ đồ phả hệ của gia đình chị L, NVCTXH cùng vớithân chủ nhìn lại nhìn vào sơ đồ phả hệ gia đình chị L có thể dễ dàng nhận thấy:Đây là một gia đình hạt nhân khiếm khuyết người chồng, người cha trong giađình Do vậy, mọi công việc trong gia đình đều do một mình chị L đảm nhận.Hơn nữa, thân chủ lại không có anh em họ hàng ruột thịt, bố mẹ đều đã mất nênkhông nhận được sự hỗ trợ nào cả về vật chất lẫn tinh thần Mối quan hệ giađình duy nhất mà thân chủ có đó là cô con gái bị tật nguyền bẩm sinh
Như vậy, vấn đề của thân chủ lại càng trầm trọng và khó khăn hơnkhi thiếu đi chỗ dựa tinh thần và sự hỗ trợ được coi là rất hiệu quả từ phíanhững người thân trong gia đình Sau khi xác định chính xác các mối quan
hệ trong gia đình, NVCTXH cùng với thân chủ vẽ biểu đồ sinh thái của đốitượng để hiểu rõ hơn về những yếu tố kinh tế và những yếu tố môi trường ảnhhưởng đến hoàn cảnh sống của thân chủ