Với hi vọng ứng dụng phương pháp CTXH nhóm, vận dụng các kỹnăng thực hành công tác xã hội chuyên nghiệp cùng với các kỹ năng chuyên môn sẽ giúp nhóm trẻ mồ côi giải quyết vấn đề của
Trang 1Trờng đại học vinh Trờng đại học vinh
Khoa lịch sử
- -Nguyễn thị lan anh Khóa luận tốt nghiệp đại học ứng dụng công tác xã hội nhóm nhằm nâng cao năng lực cho nhóm trẻ mồ côi từ 6 đến 15 tuổi (nghiên cứu trờng hợp tại làng trẻ sos vinh) ‘ Vinh – 2011 2011 MỤC LỤC Trang Lời cảm ơn 0
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài nghiờn cứu 1
2 í nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3
2.1 í nghĩa khoa học 3
2.2 í nghĩa thực tiễn 3
3 Đối tượng, khỏch thể, mục đớch và phạm vi nghiờn cứu 4
Trang 23.1 Đối tượng nghiên cứu 4
3.2 Khách thể nghiên cứu 4
3.3 Mục đích nghiên cứu 4
3.4 Phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 5
4.1 Phương pháp luận 5
4.2 Phương pháp nghiên cứu 5
4.2.1 Phương pháp nghiên cứu chuyên ngành 5
4.2.2 Phương pháp liên ngành 6
5 Giả thuyết nghiên cứu 7
6 Cấu trúc của đề tài 7
PHẦN NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 8
1.1 Cơ sở lý luận 8
1.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về trẻ em 8
1.1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về nâng cao năng lực cho trẻ mồ côi 8
1.1.3 Các lý thuyết vận dụng trong đề tài 9
1.1.3.1 Lý thuyết nhu cầu của Maslow 9
1.1.3.2 Lý thuyết nhận thức hành vi 10
1.1.3.3 Lý thuyết học tập xã hội 11
1.1.4 Các khái niệm công cụ 13
1.1.4.1 Khái niệm trẻ em 13
1.1.4.2 Khái niệm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn 13
1.1.4.3 Khái niệm trẻ mồ côi 14
Trang 31.1.4.4 Khái niệm nhóm, nhóm xã hội, nhóm trẻ mồ côi 14
1.1.4.5 Khái niệm nâng cao năng lực nhóm 14
1.1.5 Phương pháp thực hành công tác xã hội nhóm 15
1.1.5.1 Khái niệm phương pháp công tác xã hội nhóm 15
1.1.5.2 Mô hình tiếp cận trong nhóm 15
1.1.5.3 Phân loại nhóm 16
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 17
1.2.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 17
1.2.2 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 19
1.2.2.1 Một vài nét về tổ chức làng trẻ SOS Quốc tế 19
1.2.2.2 Tổng quan về cơ sở nghiên cứu: Làng trẻ SOS Vinh 20
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NHÓM TRẺ MỒ CÔI VÀ ỨNG DỤNG TIẾN TRÌNH CTXH NHÓM VỚI NHÓM TRẺ MỒ CÔI TẠI LÀNG TRẺ SOS VINH 27
2.1 Đánh giá thực trạng của nhóm trẻ em mồ côi tại làng trẻ SOS Vinh 27
2.1.1 Mô tả đặc điểm của nhóm thân chủ 27
2.1.2 Đánh giá nhu cầu của nhóm thân chủ 28
2.1.2.1 Dựa lý thuyết nhu cầu các A Maslow, để đánh giá bậc thang nhu cầu mà nhóm thân chủ đã có và chưa có 28
2.1.2.2 Đánh giá nhu cầu tham gia hoạt động của nhóm thân chủ 34
2.2 Ứng dụng tiến trình CTXH nhóm nhằm nâng cao năng lực cho nhóm trẻ mồ côi từ 6 – 15 tuổi tại làng trẻ em SOS Vinh 35
2.2.1 Giai đoạn chuẩn bị và thành lập nhóm thân chủ 35
2.2.1.1 Xác định mục đích hỗ trợ nhóm 35
2.2.1.2 Đánh giá khả năng tham gia của các thành viên 36
2.2.1.3 Thành lập nhóm 37
Trang 42.2.1.4 Định hướng cho các thành viên trong nhóm 39
2.2.1.5 Thỏa thuận nhóm 39
2.2.2 Giai đoạn nhóm hoạt động 41
2.2.2.1 Giới thiệu các thành viên trong nhóm 41
2.2.2.2 Thảo luận các nguyên tắc bảo mật thông tin của nhóm 42
2.2.2.3 Cân bằng giữa nhiệm vụ, yếu tố tình cảm xã hội của tiến trình nhóm 43
2.2.2.4 Dự đoán về những khó khăn và cản trở 43
2.2.3 Giai đoạn can thiệp 45
2.2.3.1 Bảng kế hoạch các hoạt động sử dụng trong quá trình can thiệp 45
2.2.3.2 Một số hoạt động và trò chơi sử dụng trong quá trình can thiệp 49
2.2.4 Giai đoạn kết thúc (Lượng giá quá trình can thiệp) 59
2.2.4.1 Lượng giá về phía nhóm thân chủ 59
2.2.4.2 Lượng giá về phía NVCTXH 61
2.2.4.3 Kinh nghiệm của NVCTXH trong quá trình can thiệp nhóm 62
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 65
1 Kết luận 65
2 Khuyến nghị 66
2.1 Đối với các nhà chức trách liên quan 66
2.2 Đối với cộng đồng 66
2.3 Đối với tổ chức làng trẻ SOS Vinh 67
2.4 Đối với trẻ mồ côi ở làng trẻ SOS Vinh 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
PHỤ LỤC 70
I Phụ lục 1: Phúc trình vấn đàm 70
II Phụ lục 2: Một số hình ảnh về làng trẻ SOS Vinh và các hoạt động của nhóm thân chủ 78
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Trang Bảng số 1: Bảng số liệu tổng số trẻ đã và đang được nuôi dưỡng tại làng
trẻ em SOS Vinh ( Báo cáo hoạt động năm 2007 – SOS Vinh) 24
Bảng số 2: Bảng chi tiêu theo quy định của tổ chức SOS quốc tế 25 Bảng số 3: Danh sách, hoàn cảnh và đặc điểm của nhóm thân chủ 27 Bảng 4: Bảng kế hoạch các hoạt động sử dụng trong quá trình can thiệp 45
DANH MỤC HÌNH
Hình số 1: Sơ đồ bộ máy tổ chức làng trẻ SOS Vinh 23 Hình số 2: Mô hình bậc thang nhu cầu của Maslow 29 Hình số 3: Bàn tay cam kết nội quy hoạt động nhóm 40 Hình số 4: Kết quả việc thảo luận những khó khăn trong quá trình
Trang 6Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các cô chú, anh chị, các gì, đặc biệt là các mẹ, các em trong làng trẻ SOS Vinh đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình tìm hiểu thông tin,
đóng góp ý kiến giúp tôi thực hiện thành công bài khóa luận này.
Mặc dù tôi đã cố gắng hết sức nhng do năng lực và thời gian có hạn nên chắc chắn khóa luận này không thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Vì vậy, tôi rất mong nhận đợc những ý kiến nhận xét,
đánh giá của các thầy, cô giáo, các bạn và những ngời quan tâm tới đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên Nguyễn Thị Lan Anh
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài nghiờn cứu
Trẻ em (TE) luụn là niềm hy vọng, tự hào của mụ̃i gia đình, là chủnhõn tương lai của đất nước và là mụ̃i quan tõm hàng đầu của xó hội Để TE
cú thể phỏt triển được một cỏch đầy đủ cả về mặt vật chất lõ̃n tinh thần thì trẻcần nhận được sự quan tõm, chăm súc, yờu thương và sự giỳp đỡ thườngxuyờn của toàn xó hội Điều đú càng quan trọng hơn với nhúm trẻ cú hoàncảnh đặc biệt khú khăn (TEHCĐBKK) như: TE mồ cụi, TE lang thang, TE bịlạm dụng sức lao động, TE bị xõm hại tình dục và TE khuyết tật… Giải quyếtnhững vấn đề liờn quan đến TEHCĐBKK sẽ gúp phần tạo nờn sự phỏt triểnbền vững của quốc gia Đú cũng chớnh là trỏch nhiệm và nghĩa vụ của toàn xóhội
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, trong những năm quaViệt Nam đó cú rất nhiều mụ hình, đề ỏn và chương trình hành động nhằmgiỳp đỡ nhúm TEHCĐBKK với nhiều hình thức khỏc nhau Cỏc trung tõmbảo trợ xó hội, cỏc làng trẻ SOS trong cả nước là một trong những hình thức
đó mang lại nhiều khả quan, cú ý nghĩa xó hội và nhõn văn sõu sắc như: xõy
Trang 7dựng những ngôi nhà ấm áp có một bà mẹ cùng các anh chị em Giúp trẻ mồcôi cha và mẹ tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản về y tế, giáo dục… xoadịu sự mất mát gia đình cũng như giảm bớt sự mặc cảm tự ti về số phận củacác em Mô hình làng trẻ SOS được xây dựng ở 13 tỉnh thành trong cả nước làmột trong những hình mẫu lý tưởng.
Chương trình chăm sóc, hỗ trợ trẻ mồ côi của làng trẻ SOS Vinh đã đápứng được phần nào một số nhu cầu của trẻ như: nhu cầu vật chất, nhu cầu antoàn, nhu cầu phát triển… song vẫn còn gặp nhiều khó khăn Đặc biệt là côngtác hỗ trợ, tham vấn tâm lý cho trẻ còn thiếu tính chuyên nghiệp, việc tổ chứccác hoạt động nhóm giúp trẻ bớt mặc cảm, tự ti, hòa nhập và gắn kết với nhaucòn nhiều hạn chế do sự thiếu vắng đội ngũ công tác xã hội chuyên nghiệp.Bởi vậy có nhiều trẻ trong trung tâm còn rụt rè, thiếu tự tin vào bản thân đểkết bạn và hòa nhập cộng đồng, hơn nữa các em còn chưa được trang bị cáckỹ năng sống để đối phó với mọi khó khăn trong cuộc sống Những thực tếnày tại làng trẻ là rào cản để các em mồ côi tự phát triển những năng lực củabản thân và hòa nhập với cộng động tốt hơn
Công tác xã hội (CTXH) là một nghành khoa học, một nghề chuyênmôn mang tính ứng dụng cao, nó đã và đang bước đầu tạo dựng những nềntảng và khẳng định vị thế trong giải quyết các vấn đề xã hội ở Việt Nam hiệnnay CTXH nhóm là một trong những phương pháp can thiệp chính của ngànhCTXH, tuy nhiên hiện nay vẫn chưa có thật nhiều nghiên cứu vận dụngphương pháp này để can thiệp cho thân chủ một cách hiệu quả và hiện tạiCTXH vẫn đang là một khoa học còn khá non trẻ đối với nước ta, vẫn chưatạo được một bề dày về những kinh nghiệm thực tiễn
Trước đây cũng đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về trẻ tự kỷ, trẻkhuyết tật… nhưng phần lớn là những đề tài mang tính vĩ mô tìm hiểu về thựctrạng, nguyên nhân hay chính sách mà ít ai đề cập tới vấn đề ứng dụng CTXH
Trang 8theo hướng theo hướng chuyên nghiệp để giúp trẻ mồ côi thực sự có năng lựcnhư sự tự tin, có kỹ năng sống và hòa nhập cộng đồng tốt hơn Việc ứng dụngnhững tri thức CTXH và các khoa học liên ngành tiến hành nghiên cứu hướngcan thiệp nhằm giúp nhóm trẻ mồ côi nâng cao năng lực là vô cùng cần thiết ởViệt Nam hiện nay
Từ những lý do trên, đã giúp chúng tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài nghiêncứu:
“Ứng dụng công tác xã hội nhóm nhằm nâng cao năng lực cho nhóm trẻ mồ côi từ 6 đến 15 tuổi” (Nghiên cứu trường hợp tại làng trẻ SOS
Vinh).
Với hi vọng ứng dụng phương pháp CTXH nhóm, vận dụng các kỹnăng thực hành công tác xã hội chuyên nghiệp cùng với các kỹ năng chuyên
môn sẽ giúp nhóm trẻ mồ côi giải quyết vấn đề của nhóm (nâng cao tính cố
kết nhóm) và nâng cao năng lực của mỗi thành viên trong nhóm (sự tự tin và kỹ năng sống), hướng đến giải quyết vấn đề của nhóm thân chủ.
2 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
2.1 Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu vận dụng các lý thuyết (lý thuyết nhu cầu của Maslow, lý
thuyết nhận thức hành vi và lý thuyết học tập xã hội…) và một số kỹ năng
chuyên nghiệp trong công tác xã hội kết hợp nhằm phân tích và giải thích vấn
đề của các thành viên trong nhóm và vấn đề chung của cả nhóm trẻ mồ côi ởlàng trẻ SOS Vinh Trên cơ sở đó tiến hành thực hiện các biện pháp can thiệp
cụ thể để giải quyết một số vấn đề của nhóm và vấn đề của các thành viêntrong nhóm
Nghiên cứu ứng dụng phương pháp CTXH nhóm nhằm nâng cao nănglực cho nhóm trẻ mồ côi, bổ sung về mặt lý luận cho việc ứng dụng phươngpháp nghiên cứu và thực hành với TE nói chung và TE mồ côi nói riêng
Trang 92.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu và thực hành CTXH nhóm nhằm nâng cao năng lực chonhóm trẻ mồ côi ở làng trẻ SOS Vinh, về các mặt cụ thể như sau:
(i) Nâng cao sự cố kết trong nhóm
(ii) Nâng cao sự tự tin của mỗi thành viên trong nhóm
(iii) Nâng cao một số kỹ năng sống cho các thành viên trong nhóm, baogồm các kỹ năng: Kỹ năng chia sẻ, kỹ năng làm việc theo nhóm, kỹ năngthuyết trình, thuyết phục và kỹ năng vượt qua khủng hoảng…
3 Đối tượng, khách thể, mục đích và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Ứng dụng CTXH nhóm nhằm nâng cao năng lực cho nhóm trẻ mồ côi
3.2 Khách thể nghiên cứu
Nhóm đối tượng là trẻ mồ côi đang được chăm sóc và nuôi dưỡng tạilàng trẻ SOS Vinh - Nghệ An Gồm 10 thành viên trong độ tuổi 6 – 15 tuổi
3.3 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu đặc điểm tâm lý và vấn đề mà nhóm thân chủ đang gặp phải,đánh giá nhu cầu, nguyện vọng của nhóm thân chủ Từ đó ứng dụng tiến trìnhCTXH nhóm nhằm nâng cao năng lực cho nhóm trẻ mồ côi tại làng trẻ SOSVinh, giúp các em phát triển hoàn thiện và hòa nhập cộng đồng
3.4 Phạm vi nghiên cứu
(i) Phạm vi không gian: Nghiên cứu được tiến hành trên cơ sở khảo sát
nghiên cứu tại làng trẻ SOS Vinh – thành phố Vinh, Nghệ An
(ii) Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 01/2011
đến tháng 05/2011
(ii) Phạm vi nội dung:
Trang 10Vận dụng mô hình phát triển nhằm nâng cao năng lực cho nhóm trẻ mồcôi tại làng TE SOS Vinh nhằm giúp cho các em phát triển một số kỹ năngsống và hòa nhập cộng đồng tốt hơn.
Nâng cao năng lực cho nhóm thân chủ nhằm giải quyết vấn đề chonhóm và từng thành viên trong nhóm, bao gồm nhiều khía cạnh như nâng caonăng lực học tập, năng lực hòa nhập cộng đồng, năng lực làm việc theonhóm… Nhưng bởi thời gian và kiến thức nghiên cứu có hạn của mình nêntrong nghiên cứu này tôi chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề giúp các thành viêntrong nhóm trẻ mồ côi ở làng trẻ SOS Vinh nâng cao năng lực về sự tự tin, sự
đoàn kết và nâng cao một số kỹ năng sống (Kỹ năng chia sẻ, kỹ năng trình
bày và kỹ năng làm việc theo nhóm) Đây cũng là những yếu tố rất quan trọng
và cần thiết để giúp nhóm TE mồ côi có thể phát triển và hòa nhập xã hội tốthơn
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận
Nghiên cứu dựa trên các nguyên lý chung của chủ nghĩa Mác Lê Nin làchủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử với tư cách là thếgiới khách quan và phương pháp luận trong quá trình tìm hiểu và can thiệptrực tiếp với nhóm trẻ nhằm nâng cao năng lực hòa nhập cộng đồng cho các
em Ngoài ra nghiên cứu còn vận dụng cách tiếp cận nhiều lý thuyết củaCTXH cũng như các nghành khoa học xã hội khác như xã hội học, tâm lý học
để nhìn nhận và giải quyết những vấn đề mà nhà nghiên cứu đặt ra
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp nghiên cứu chuyên ngành
(i) Công tác xã hội nhóm
Nghiên cứu được triển khai dựa trên việc vận dụng các kỹ năng như kỹnăng tổ chức, điều phối buổi sinh hoạt nhóm, kỹ năng lãnh đạo, giao nhiệm
Trang 11vụ, tổ chức các trò chơi làm phương pháp nghiên cứu áp dụng và việc giảiquyết vấn đề trực tiếp cho nhóm đối tượng trẻ SOS Vinh.
(ii) Công tác xã hội cá nhân
Ngoài ra để tiếp cận và thu thập thông tin nghiên cứu đã vận dụng một
số kỹ năng, phương pháp của CTXH cá nhân như các kỹ năng: Quan sát,phỏng vấn, lắng nghe tích cực và phản hồi để khai thác những hành vi, cảmxúc, thu thập các thông tin cũng như tạo lập mối quan hệ với các cá nhântrong nhóm thân chủ Tiến tới giúp các cá nhân trong nhóm thân chủ bộc lộbản thân, từ đó NVCTXH có được cơ sở để sử dụng các biện pháp can thiệphiệu quả nhằm nâng cao năng lực phát triển hoàn thiện và hòa nhập cộngđồng cho nhóm thân chủ
4.2.2 Phương pháp liên ngành
(i) Phương pháp phân tích tài liệu
Phương pháp này nhằm thu thập các tài liệu văn bản, giúp chúng taxem xét các thông tin có sẵn trong các tài liệu là các bài viết, cuộc nghiên cứuliên quan đến hoạt động hỗ trợ nâng cao năng lực cho nhóm đối tượng hoặctài liệu mà cơ quan cung cấp về nhóm đối tượng để đáp ứng cho mục tiêunghiên cứu của đề tài một cách tốt nhất
(ii) Phương pháp phỏng vấn sâu
Đối tượng phỏng vấn sâu: Phỏng vấn cán bộ quản lý trung tâm (baogồm giám đốc, trưởng các phòng ban); phỏng vấn các bà mẹ trực tiếp nuôidạy trẻ; và chọn phỏng vấn sâu khoảng 5 – 6 trẻ Nhằm thu thập những thôngtin cần thiết về hoàn cảnh, đặc điểm tâm sinh lý, tiềm năng sẵn có cũng nhưnhu cầu của nhóm thân chủ để có những phương pháp can thiệp hiệu quả giúpnâng cao năng lực cho nhóm thân chủ
(iii) Phương pháp quan sát
Trang 12Trong nghiên cứu này, phương pháp quan sát là phương pháp thu thậpthông tin quan trọng được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu NVCTXHquan sát những hành động, hành vi ứng xử và thái độ hàng ngày cũng nhưhành vi, thái độ khi tham gia sinh hoạt nhóm của nhóm trẻ, đồng thời cònquan sát thái độ, phương pháp quản lý, giáo dục trẻ của cán bộ trung tâm,
nhằm mô tả chi tiết về nhóm thân chủ (hành vi, thái độ, đặc điểm của từng cá
nhân và đặc điểm nhóm) từ đó làm cơ sở dữ liệu để NVCTXH lập kế hoạch
hoạt động cụ thể và phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của nhóm
Bên cạnh đó, NVCTXH còn sử dụng phương pháp quan sát để đánh giámức độ tiến bộ của nhóm trẻ sau mỗi buổi sinh hoạt nhóm Từ đó giúpNVCTXH điều chỉnh, bổ sung kế hoạch sau từng buổi can thiệp nhằm đạtđược từng mục tiêu cụ thể của tiến trình hoạt động
5 Giả thuyết nghiên cứu
(i) Trẻ mồ côi ở làng trẻ SOS Vinh thường gặp rất nhiều khó khăn nhưthiếu sự tự tin và thiếu những kỹ năng trong cuộc sống
(ii) Việc ứng dụng phương pháp CTXH nhóm sẽ giúp các em nâng caonăng lực, trang bị những kiến thức về kỹ năng sống, sự tự tin để phát triển vàhoàn thiện bản thân hướng tới hòa nhập cộng đồng
6 Cấu trúc của đề tài
Đề tài bao gồm 3 phần: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận
Đề tài được chia thành 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Thực trạng nhóm trẻ mồ côi và ứng dụng tiến trình CTXHnhóm với nhóm trẻ mồ côi tại làng trẻ SOS Vinh
Trang 13PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về trẻ em
Bác Hồ đã khẳng định vai trò quan trọng của TE đối với tương lai maisau của đất nước và xác định trách nhiệm chăm sóc giáo dục TE không phảicủa riêng ngành nào, tổ chức nào mà là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân
Bác đã viết: “Thiếu niên nhi đồng là người chủ tương lai của nước nhà Vì
vậy, chăm sóc và giáo dục tốt các cháu là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân Công tác đó phải làm kiên trì, bền bỉ Vì tương lai của con em ta, dân tộc ta, mọi người, mọi ngành phải có quyết tâm chăm sóc và giáo dục các cháu bé cho tốt”[21] Tất cả các quốc gia dân tộc trên thế giới muốn tồn tại và pháttriển bền vững, đều phải quan tâm bảo vệ chăm sóc và giáo dục thiếu niên nhiđồng Xác định được vai trò quan trọng của lực lượng nòng cốt mai sau củađất nước, Bác Hồ thường nhắc nhở các cấp, các ngành, đoàn thể phải làm tốt
Trang 14công tác chăm sóc và giáo dục thiếu nhi Chính bản thân Bác cũng luôn giànhcho các cháu thiếu niên nhi đồng tình yêu thương vô hạn Điều đó thể hiệntrong nhiều bức thư Bác gửi cho các cháu nhân ngày tết thiếu nhi, ngày khaigiảng… Tại nơi ở của Bác, dù rất bận rộn nhưng những lúc rảnh rỗi Bác lạisắp xếp công việc để đón tiếp các cháu thiếu niên và nhi đồng – những vịkhách đặc biệt của Bác.
1.1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về nâng cao năng lực cho trẻ mồ côi
Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục TEHCĐBKK nói chung và TE mồ côinói riêng là một trong những chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta, là đạo
lý của dân tộc ta Đảng ta đã khẳng định: đi đôi với phát triển tăng trưởngkinh tế phải quan tâm giải quyết tốt các vấn đề xã hội Xuất phát từ quan điểm
đó, Nhà nước luôn đặc biệt quan tâm đến đối tượng TEHCĐBKK, nhiều chỉthị, quyết định BVCS&GD TEHCĐBKK được Chính phủ ban hành như:Quyết định số 65/2005/QĐ-TTg ngày 25/3/2005 phê duyệt đề án chăm sóc
TE mồ côi không nơi nương tựa, TE tàn tật nặng, TE là nạn nhân của chất độchoá học và TE nhiễm HIV/AIDS dựa vào cộng đồng giai đoạn 2005-2010;đặc biệt là Chương trình hành động quốc gia vì TE giai đoạn 1990 – 2000 và
giai đoạn 2001 – 2010 với mục tiêu tổng quát là: “Tạo mọi điều kiện tốt nhất
nhằm đáp ứng đầy đủ các nhu cầu và quyền cơ bản của TE, ngăn chặn và đẩy lùi các nguy cơ xâm hại TE, xây dựng môi trường an toàn và lành mạnh
để TE Việt Nam có cơ hội được bảo vệ, chăm sóc, giáo dục và phát triển toàn diện về mọi mặt, có cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn”[19]
Công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục TEHCĐBKK đòi hỏi sự nỗlực đồng bộ, có hiệu quả của cộng đồng, sự phối hợp của các ngành, các cấp,
sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế và vươn lên của chính bản thân các em Tuy
Trang 15nhiên, giải quyết vấn đề TEHCĐBKK là vấn đề lâu dài, vì nó cũng chịunhững tác động vấn đề kinh tế xã hội cụ thể
1.1.3 Các lý thuyết vận dụng trong đề tài
1.1.3.1 Lý thuyết nhu cầu của Maslow
Abraham Maslow (1908 – 1970) Nhà tâm lí học người Mỹ, ông đượcthế giới biết đến như là nhà tiên phong trong trường phái tâm lý học nhân văn(Humanistic psychology) bởi hệ thống lý thuyết về bậc thang nhu cầu của conngười Ngay từ khi ra đời lý thuyết này có tầm ảnh hưởng rộng rãi và đã đượcứng dụng ở rất nhiều lĩnh vực khoa học
Vào thời điểm đầu tiên của lý thuyết, Maslow đã sắp xếp các nhu cầucủa con người theo 5 cấp bậc:
(i) Nhu cầu thể chất (Basic needs): Ăn, uống, hít thở không khí…
(ii) Nhu cầu an toàn (Safety needs): Tình yêu thương, nhà ở….
(iii) Nhu cầu tình cảm – xã hội (Social neesds): Nhu cầu được hòa
nhập
(iv) Nhu cầu được tôn trọng (esteem needs): Được chấp nhận có một vị
trí trong một nhóm người, cộng đồng và xã hội…
(v) Nhu cầu được thể hiện mình (Self-actualizing needs): Nhu cầu được
hoàn thiện, phát triển trí tuệ, được thể hiện kỹ năng và tiềm lực của mình…
Đối với trẻ mồ côi ở làng trẻ SOS Vinh, các em đã được đáp ứng một
số nhu cầu cơ bản như: nhu cầu thể chất, nhu cầu an toàn Tuy nhiên vẫn còn
có một số nhu cầu như: nhu cầu tình cảm xã hội, nhu cầu được tôn trọng vànhu cầu được thể hiện mình thì dường như các em chưa được tạo điều kiện,
có cơ hội để tự tin dám thể hiện mình Bởi vì vậy những khả năng và tiềmnăng của mỗi em vẫn chưa được khơi dậy một cách tối ưu
Bởi vì vậy lý thuyết nhu cầu của maslow sẽ giúp chúng ta đối chiếu vớinhững gì mà nhóm thân chủ đã được đáp ứng và những gì mà các em còn
Trang 16thiếu hụt Từ đó đưa ra những kế hoạch và giải pháp can thiệp phù hợp nhằmđạt được mục đích nghiên cứu.
1.1.3.2 Lý thuyết nhận thức hành vi
Là sự kết hợp giữa lý thuyết nhận thức và lý thuyết hành vi để có thểkiểm định được những mô hình nhận thức với kết quả thực hành kỹ thuậthành vi
Trong đó lý thuyết nhận thức (lognituve theory) được phát triển dựatrên cơ sở của lý thuyết học tập (Learrning theory) và lý thuyết học tập xã hội(Social learning theory)
Còn sự ra đời của lý thuyết hành vi là để phản đối lại lý thuyết tâmđộng học Chủ yếu dựa trên quan sát những hình tượng có thể mô tả được Cóthể nói rằng quá trình trị liệu nhận thức hành vi bao gồm việc thiết lập, củng
cố và đánh giá hành vi mới
Đối với nhóm trẻ mồ côi, vận dụng lý thuyết nhận thức hành vi vừa cótính hỗ trợ, vừa có tính củng cố cho các thành viên thay đổi hành vi cũ vàthiết lập hành vi mới Cụ thể, những hành vi cũ của trẻ là sự tự ti, mặc cảm vềbản thân, rụt rè, thiếu đoàn kết và sự tương tác lẫn nhau… Và khi được họctập, rèn luyện qua các hoạt động nhóm sẽ giúp nhóm trẻ học hỏi, nâng caonăng lực từ đó giúp trẻ dần thay đổi hành vi cũ và thiết lập hành vi mới như
sự thân thiện, tự tin, đoàn kết nhóm và nâng cao kỹ năng sống cho mỗi thànhviên
1.1.3.3 Lý thuyết học tập xã hội
Thuyết học tập xã hội được bắt đầu từ nguồn gốc của quan điểm họctập của Gabriel Tarde (1843 - 1904) Trong quan điểm của mình, Gabrielnhấn mạnh ý tưởng về học tập xã hội thông qua ba qui luật bắt chước: đó là
sự tiếp xúc gần gũi, bắt chước người khác và sự kết hợp cả hai Cá nhân họccách hành động và ứng xử của người khác qua quan sát hoặc bắt chước Theo
Trang 17cách tiếp cận cổ điển của thuyết học tập, hành vi của thành viên nhóm có thểxuất hiện khi nó được kích thích
Bên cạnh đó thuyết học tập xã hội có thể giúp giải thích các hiện tượnglây chuyền hành vi từ thành viên này sang thành viên khác, nếu như hành vicủa thành viên đó được các thành viên hưởng ứng
Vận dụng thuyết học tập xã hội trong CTXH nhóm, nhân viên công tác
xã hội (NVCTXH) cần phải lưu ý tới việc sử dụng các kỹ thuật khuyến khíchnhững hành vi được coi là chuẩn mực, chẳng hạn như việc khen thưởng,khích lệ mỗi nhóm viên đúng lúc; hoặc các hình phạt để nhắc nhở nhóm viêntránh lặp lại những hành vi không phù hợp với chuẩn mực nhóm Ngoài ra,NVCTXH cũng cần phải biết vận dụng kỹ năng tạo cơ hội để các khuôn mẫuhành vi tích cực của các thành viên nhóm xuất hiện lặp đi lặp lại, giúp cácthành viên nhóm nhận thức được khuân mẫu và có thời gian để thực hành
Trong quá trình vận dụng thuyết học tập xã hội vào thực tế, cần chú ýmột số nguyên tắc:
+ Một là, hiệu quả sẽ đạt được ở mức cao nhất của học tập quan sát làthông qua việc tái tổ chức và tập diễn lại hành vi được làm mẫu một cáchtượng trưng, sau đó thực hiện lại nó một cách cụ thể
+ Hai là, mã hóa hành vi được làm mẫu đó bằng lời nói, đặt tên hoặchình tượng hoá kết quả, cách này còn tốt hơn là việc chỉ quan sát Các cá nhân
có thể bắt chước hành vi được làm mẫu đó nếu như mô hình đó thích hợp với
họ, làm họ thấy ngưỡng mộ và nếu như nó mang lại kết quả mà họ coi là giátrị
Thuyết học tập xã hội được vận dụng để phân tích, đưa ra những giải
thích hành vi của các thành viên trong nhóm và tác động để thay đổi (hành vi
không tương hợp trong nhóm) hoặc củng cố (hành vi tương hợp trong nhóm).
Đối với các em trong nhóm TE mồ côi, khi tham gia hoạt động nhóm, tất yếu
Trang 18sẽ có những em rụt rè, thiếu tự tin và một số em sẽ bạo dạn và tự tin hơn, khicác em thiếu tự tin quan sát thấy các bạn khác tham gia hoạt động nhóm một
cách tích cực và vui vẻ (các trò chơi và hoạt động do NVCTXH tổ chức và
điều phối) thì dần dần các em sẽ học tập hành vi tham gia đó.
Bên cạnh đó, NVCTXH cũng cần phải biết đưa ra những hình phạt,nhắc nhở nhóm viên lệch chuẩn để tránh lặp lại những hành vi không phù hợpvới chuẩn mực nhóm NVCTXH cũng biết vận dụng các kỹ năng và tạo cơhội để các khuân khổ mẫu hành vi tích cực của các thành viên nhóm xất hiệnlặp đi lặp lại, giúp các thành viên nhóm nhận thức được khuân mẫu và có thờigian để thực hành
1.1.4 Các khái niệm công cụ
1.1.4.1 Khái niệm trẻ em
(i) Theo Công ước quốc tế về quyền trẻ em: “TE là những người dưới
16 tuổi”.
(ii) Theo bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam: “TE là những người chưa
thành niên dưới 16 tuổi”.
(iii) Theo định nghĩa sinh học: “TE là con người ở giai đoạn phát triển,
từ khi còn trong trứng nước tới tuổi trưởng thành”.
(iv) Nhìn dưới góc độ xã hội học: “TE là giai đoạn con người đang học
cách tiếp nhận những chuẩn mực của xã hội và đóng vai trò vai trò xã hội của mình, đây là giai đoạn xã hội hoá mạnh nhất và là giai đoạn đóng vai trò quyết định của việc hình thành nhân cách của mỗi con người”.
Như vậy TE là người chưa thành niên dưới 16 tuổi, chưa phát triển đầyđủ về thể chất và tinh thần, chưa thực hiện một số quyền và nghĩa vụ nhấtđịnh theo pháp luật
1.1.4.2 Khái niệm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Trang 19TEHCĐBKK là những TE 16 tuổi trở xuống có những hoàn cảnh éo le,bất hạnh, chịu thiệt thòi về tinh thần và thể chất.
TEHCĐBKK là TE có hoàn cảnh không bình thường về thể chất hoặctinh thần, không đủ điều kiện để thực hiện quyền cơ bản và hòa nhập với gia
đình, cộng đồng (Điều 3, Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em 2004)
TEHCĐBKK bao gồm TE mồ côi không nơi nương tựa, TE bị bỏ rơi;
TE khuyết tật, tàn tật; TE là nạn nhân của chất độc hóa học; TE nhiễmHIV/AIDS; TE phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độchại; TE phải làm việc xa gia đình; TE lang thang; TE bị xâm hại tình dục; TE
nghiện ma túy; TE vi phạm pháp luật (Ðiều 40, Trẻ em có hoàn cảnh đặc
biệt Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em 2004).
1.1.4.3 Khái niệm trẻ mồ côi
Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em năm 2004: “Trẻ em mồ côi là trẻ em dưới 16 tuổi mồ côi cả cha lẫn mẹ
hoặc bị bỏ rơi, bị mất nguồn nuôi dưỡng và không còn người thân thích ruột thịt (Ông, bà nội ngoại; bố mẹ nuôi hợp pháp, anh chị) để nương tựa” [17].
1.1.4.4 Khái niệm nhóm, nhóm xã hội, nhóm trẻ mồ côi
(i) Nhóm: Định nghĩa về nhóm có rất nhiều quan điểm dựa trên các
cách tiếp cận và lĩnh vực nghiên cứu khác nhau Nghiên cứu lựa chọn khái
niệm Nhóm theo quan điểm của Xã hội học: “Nhóm là một thành tố của hệ
thống xã hội mà mối quan hệ ý nghĩa của nó được xác định qua những quan
hệ thành viên trực tiếp và phân tán cũng như qua tính bền lâu tương đối” [13]
(ii) Nhóm xã hội: “Nhóm xã hội là một tập hợp những cá nhân được gắn kết với nhau bởi những mục đích nhất định Những cá nhân có những hoạt động chung với nhau trên cơ sở cùng chia sẻ và giúp đỡ lẫn nhau nhằm đạt được những mục đích cho mọi thành viên” [13]
Trang 20(iii) Nhóm TE mồ côi: Nhóm TE được thành lập trong làng trẻ SOS
Vinh là một nhóm xã hội Mục đích của nhóm là tạo ra môi trường hòa thuậngiữa các thành viên, các em có thể chia sẻ với nhau những tâm tư, nguyệnvọng, tình cảm, ước mơ và tham gia các hoạt động chung của nhóm, qua đónâng cao năng lực cho nhóm và từng thành viên trong nhóm
1.1.4.5 Khái niệm nâng cao năng lực nhóm
Theo Peter Okley và Andrew Clayton: “Nâng cao năng lực là một
thuật ngữ để chỉ sự tăng lên của cá nhân, nhóm hay cộng đồng về mặt năng lực trước đây chưa được phát huy Trong phát triển, nâng cao năng lực như là một tiến trình tác động giúp các cá nhân, nhóm, cộng đồng đối mặt với những vấn đề của chính họ và giúp họ tự vượt qua những vấn đề đó”[2]
Năng lực nhóm còn được hiểu là: “Khả năng của một người hoặc một
nhóm người để thực hiện các chọn lựa có chủ đích – nghĩa là, người có khả năng dự tính và chọn lựa các lựa chọn một cách có chủ đích”[14]
Xét một cách tổng thể: “Nâng cao năng lực được định nghĩa là quá
trình tăng cường năng lực của một cá nhân hoặc một nhóm người để thực hiện những lựa chọn có chủ đích, để chuyển đối những lựa chọn đó thành những hành động mong muốn”[8]
1.1.5 Phương pháp thực hành công tác xã hội nhóm
1.1.5.1 Khái niệm phương pháp công tác xã hội nhóm
Theo Toseland và Rivas (1998) đã đưa ra một định nghĩa bao quát đượcbản chất CTXH nhóm và tổng hợp được những điểm riêng biệt của các cách
tiếp cận với CTXH nhóm như sau: “CTXH nhóm là hoạt động có mục đích
với các nhóm nhiệm vụ và trị liệu nhỏ nhằm đáp ứng nhu cầu tình cảm xã hội và hoàn thành nhiệm vụ Hoạt động này hướng trực tiếp tới cá nhân các thành viên trong nhóm và toàn thể nhóm trong một hệ thống cung cấp dịch vụ”.
Trang 21CTXH nhóm trước hết phải được coi là một phương pháp can thiệp củaCTXH Đây là một tiến trình trợ giúp mà trong đó các thành viên trong nhómđược tạo cơ hội và môi trường có các hoạt động tương tác lẫn nhau, chia sẻnhững mối quan tâm hay những vấn đề chung, tham gia vào các hoạt động
nhóm và hướng đến giải tỏa những vấn đề khó khăn Tr34 [9]
1.1.5.2 Mô hình tiếp cận trong nhóm
Gồm có 3 mô hình: Mô hình phòng ngừa (preventive model), mô hìnhchữa trị (treatment model) và mô hình phát triển (development model)
Mỗi mô hình CTXH nhóm có những mục tiêu hoạt động khác nhau,việc lựa chọn mô hình nào phụ thuộc vào đặc điểm hoàn cảnh, nhu cầu vànguyện vọng của nhóm thân chủ Trong tiến trình CTXH với nhóm TE mồ
côi, chúng tôi vận dụng mô hình phát triển (Development Model) để hướng tới
mục tiêu nâng cao năng lực cho từng thành viên trong nhóm và đạt đượcnhững mục tiêu nhóm cụ thể Có thể thấy rằng TE ở SOS Vinh, đã nhận được
sự quan tâm giúp đỡ của nhiều ban ngành, tổ chức cũng như sự chăm sóc vàgiáo dục của làng trẻ do đó các em có thể có khả năng để tránh những vấn đềxảy ra trong xã hội như tệ nạn xã hội hay ít có khả năng đang gặp phải nhữngvấn đề ảnh hưởng đến tâm lý như bị lạm dụng lao động, tình dục Do đó,chúng tôi cho rằng đối với trẻ SOS thì vận dụng mô hình phát triển là phù hợpnhất Dựa trên cơ sở là những nền tảng giáo dục, phát triển đã có, NVCTXH
tổ chức các hoạt động, buổi sinh hoạt nhóm nhằm cung cấp thêm cho trẻnhững kỹ năng, phương pháp thông qua việc tư vấn về các kỹ năng, tổ chứccác trò chơi trị liệu nâng cao sự tự tin, cố kết nhóm… giúp trẻ mồ côi ở SOSnâng cao năng lực hòa nhập cộng đồng tốt hơn
1.1.5.3 Phân loại nhóm
Nhóm được phân loại dựa theo một số cách như: Nhóm tự nhiên, nhómđược thành lập, nhóm trong CTXH nhóm
Trang 22Theo Corey và Corey (1992) phân loại thành 6 loại hình nhóm: nhómtrị liệu, nhóm tham vấn, nhóm phát triển nhân cách, nhóm tập huấn thửnghiệm, nhóm cấu trúc và nhóm tự giúp[8].
Theo Jacobs và Masson Taecobsen (1996) nhóm được phân chia thành
7 loại: nhóm chia sẻ, nhóm giáo dục, nhóm thảo luận, nhóm nhiệm vụ, nhómphát triển, nhóm trị liệu và nhóm gia đình[8]
Trong nghiên cứu này, sau khi tìm hiểu nhu cầu, nguyện vọng củanhóm thân chủ trong việc thành lập nhóm, chúng tôi quyết định vận dụngcách phân chia thành nhóm phát triển với các hoạt động hỗ trợ, trị liệu trựctiếp đối với nhóm thân chủ nhằm hướng đến sự phát triển cho mỗi cá nhânthành viên trong nhóm trẻ mồ côi về các mặt như phát triển khả năng giaotiếp, khả năng trình bày, khả năng làm việc theo nhóm… cũng như giúp cácthành viên có những nhận thức nhất định để thay đổi hành vi của mình như có
sự quan tâm yêu thương, tôn trọng và tin tưởng đến mọi người nhiều hơn
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Ở Việt Nam hiện nay chưa có nhiều những nghiên cứu và thực hànhCTXH nói chung, CTXH với nhóm nói riêng chưa được thực hiện một cáchquy mô, bài bản và tính hiệu quả thực tiễn chưa cao Tuy đã có các hoạt độngnghiên cứu và thực hành CTXH dưới nhiều hình thức khác nhau, song Việt
Nam còn thiếu những nghiên cứu can thiệp vừa mang ý nghĩa thực tiễn (trợ
giúp nhóm thân chủ), vừa mang ý nghĩa lý luận (bổ sung, làm rõ lý thuyết, phương pháp và kỹ năng can thiệp trong thực tiễn) Đặc biệt là các nghiên
cứu can thiệp CTXH nhóm được thực hiện chuyên nghiệp càng vắng bóng
Nâng cao năng lực ở nước ta là một khái niệm khá mới mẻ, thậm chíchúng ta chưa có một định nghĩa chính thức về nâng cao năng lực Các hoạtđộng và nghiên cứu can thiệp về nâng cao năng lực trong vài năm trở lại đây
Trang 23mới được thực hiện ở Việt Nam, tiên phong trong lĩnh vực này là Ngân hàngthế giới và một số tổ chức Phi Chính phủ khác Các nghiên cứu này thườngxuất phát điểm từ những ý tưởng phát triển hướng tới một số hoạt động cụ
thể: xây dựng sinh kế bền vững, cung cấp nguồn lực cho các cộng đồng
nghèo với việc lồng ghép các khía cạnh xã hội như bình đẳng giới, môi trường, giáo dục, y tế… Đối tượng mà các hoạt động và các nghiên cứu này
hướng tới chủ yếu là người khuyết tật, các nhóm phụ nữ yếu thế, nhóm người
nghèo, nhóm di dân, nhóm người có HIV và cấp độ tiếp cận chủ yếu mang
tính vĩ mô Những nghiên cứu này đã bước đầu góp phần xây dựng cơ sở
phương pháp luận về khuôn khổ, nguyên tắc, hình thức, mục tiêu của nângcao năng lực trong thực tiễn Song những nghiên cứu này chưa có sự thể hiện
rõ rệt của các triết lý hành động, các nguyên tắc làm việc của CTXH cũngnhư vai trò cụ thể của NVCTXH Có thể kể đến một số mô hình như sau:
Nghiên cứu nâng cao năng lực cho thanh thiếu niên khuyết tật của Ủy ban ty tế Hà Lan Việt Nam Nghiên cứu được thực hiện trong 2 năm 2008,
2009, tạo ra một môi trường thuận lợi, tích cực để các TE khuyết tật có thểhọc hỏi những kỹ năng sống cơ bản, phát triển sự tự tin và hòa nhập tốt hơnvới cộng đồng Tuy nhiên, nghiên cứu lại chưa có sự áp dụng bài bản phươngpháp CTXH nhóm và chưa đề cao vai trò của một NVCTXH chuyên nghiệp
Dự án: "Chăm sóc trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em tàn tật nặng, trẻ em là nạn nhân của chất độc hoá học và trẻ em nhiễm HIV/AISD dựa vào cộng đồng giai đoạn 2005-2010" (gọi tắt là đề án “Chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng giai đoạn
2005 - 2010”) của Bộ lao động - Thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH) Với
mục tiêu tiến tới trợ giúp tất cả TEHCĐBKK hòa nhập cộng đồng, ổn địnhcuộc sống và có cơ hội thực hiện các quyền của TE theo quy định của phápluật; từng bước thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa
Trang 24TEHCĐBKK với TE bình thường tại nơi cư trú trên cơ sở huy động cácnguồn lực xã hội, phát triển các hình thức chăm sóc TEHCĐBKK dựa vàocộng đồng.
Quy định giáo dục cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (ban hành kèm theo Thông tư 39/2009/TT-BGDĐT ban hành Quy định giáo dục hòa nhập cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành) Quy định này gồm có 6 chương với 26 điều Là những quy
định về giáo dục hoà nhập cho TEHCĐBKK (gọi tắt là giáo dục hoà nhập)bao gồm: Tổ chức hoạt động giáo dục hoà nhập, nhiệm vụ và quyền của giáoviên, cán bộ quản lí và nhân viên hỗ trợ ở cơ sở giáo dục hoà nhập; nhiệm vụ
và quyền của TEHCĐBKK ở cơ sở giáo dục hoà nhập, cơ sở vật chất, thiết bị
và đồ dùng dạy học Được áp dụng đối với các cơ sở giáo dục mầm non, cơ sởgiáo dục phổ thông; các tổ chức, cá nhân có liên quan đến lĩnh vực giáo dụchoà nhập
Năm 2009, được sự hỗ trợ Tổ Chức Save the Children - SC, Trung Tâm nghiên cứu hỗ trợ trẻ em - Cenforchil, Mạng lưới Thiên đường trẻ thơ Pcnet thực hiện dự án nhỏ trong khuôn khổ năm 2009 nhằm nâng cao năng lực cho các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực chăm sóc trẻ em Dự án gồm 2 khoá tập
huấn cho 60 thành viên các tổ chức trong và ngoài mạng lưới PCNet Dự ánnày mới chỉ dừng lại ở việc tập huấn kỹ năng làm việc với TE, chưa đi cụ thểvào phương pháp làm việc CTXH chuyên nghiệp và chuyên biệt với TE mồcôi
Như vậy, mặc dù đã có nhiều hoạt động nghiên cứu và thực hành nhằmnâng cao năng lực cho một số nhóm xã hội có hoàn cảnh khó khăn, song chưa
có nghiên cứu can thiệp nào đi sâu nghiên cứu ứng dụng phương pháp CTXHnhóm nhằm nâng cao năng lực cho TE mồ côi tại làng TE SOS Vinh Vì vậy,
Trang 25nghiên cứu ứng dụng phương pháp CTXH nhằm nâng cao năng lực cho TE
mồ côi là rất cần thiết
1.2.2 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
1.2.2.1 Một vài nét về tổ chức làng trẻ SOS Quốc tế
Làng TE SOS Quốc tế là một cơ quan đầu não của tất cả các hiệp hộilàng trẻ SOS ở các quốc gia khác nhau đảm nhận những nhiệm vụ Quốc tếkhác như:
Đảm bảo việc tuân thủ các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của cáclàng TE SOS và các hướng dẫn chỉ đạo về giáo dục và quản lý
Hỗ trợ hoạt động cho các hiệp hội quốc gia dựa trên nền tảng triết lýcủa mô hình làng TE SOS
Tổ chức làng TE SOS quốc tế gồm: Đại hội đồng, Uỷ ban Quốc tế, Bangiám sát, Ban chỉ đạo, Chủ tịch SOS Quốc tế ngài Hermann Gmerimer (sinhnăm 1941), Văn phòng chủ tịch, Tổng thư ký, Viện Hermann Gmerimer vàcác phòng khác thuộc tổ chức
1.2.2.2 Tổng quan về cơ sở nghiên cứu: Làng trẻ SOS Vinh
(i) Lịch sử hình thành làng trẻ SOS Vinh
Ngày 22/12/1987, tổ chức SOS Quốc tế và Chính phủ Việt Nam đã kýhiệp định về việc thành lập các làng TE SOS tại Việt Nam Hiện nay số lượnglàng trẻ SOS Việt Nam đã lên tới 13 làng Làng trẻ SOS Vinh là làng trẻ thứ 4được thành lập vào ngày 01/03/1989, do Hội đồng Bộ trưởng quyết định kýkết hiệp định thư của Bộ LĐ-TB&XH với chủ tịch làng TE SOS quốc tế
Làng TE SOS Vinh được khởi công xây dựng ngày 19/05/1990, bắt đầuđón trẻ vào làng ngày 21/11/1991 và chính thức khai trương hoạt động ngày09/01/1992
Làng TE SOS Vinh ra đời và đi vào hoạt động đã mang đến cho các TEthiệt thòi niềm hạnh phúc vô bờ và cuộc sống tương lai tốt đẹp Từ những đứa
Trang 26trẻ bơ vơ côi cút, các em vào làng đã nhận được tình yêu thương, sự chăm sócchu đáo của các bà mẹ và anh chị em trong gia đình SOS Các em được họchành, rèn luyện và hòa nhập với các bạn bè cùng trang lứa ngoài xã hội.
(ii) Vị trí địa lý
Làng TE SOS Vinh - Nghệ An đóng tại phường Hưng Phúc, thành phốVinh, tỉnh Nghệ An, cấu trúc xây dựng tương đối giống các làng SOS kháctrên thế giới
Về vị trí địa lý: SOS Vinh có 26.052m2 Nằm cách đường cao tốc XôViết khoảng 150m, phía Bắc giáp với trường mẫu giáo Hermann Gmerimer,phía Đông và phía Nam giáp khu dân cư phường Hưng Phúc, phía Tây chạydọc theo đường Hermann Gmerimer
Nhìn chung trụ sở làng có vị trí rất thuận lợi cho việc chăm sóc đốitượng (đặc biệt lại là trẻ nhỏ) như: được bao quanh bởi khu dân cư văn hóa,
an ninh trật tự tương đối tốt, lành mạnh, không có nhà máy hay xí nghiệp sảnxuất nào đóng gần địa bàn Do đó đảm bảo cho mọi hoạt động của làng rấtyên tĩnh và trong lành
(iii) Cơ sở vật chất
Toàn làng có 20 ngôi nhà được thiết kế và xây dựng giống nhau Baogồm một nhà ăn cộng đồng, một hội trường, một khu lưu xá thanh niên.Trong đó gồm: 15 ngôi nhà là 15 gia đình SOS với các tên gọi khác nhautương ứng với các loại cây quen thuộc ở miền trung như xoài, na…; còn 5ngôi nhà còn lại được bố trí cho các cán bộ công nhân viên trong làng
Ngay chính giữa trung tâm là hội trường lớn rộng khoảng 70m2, với
một dòng chữ đầy ý nghĩa “All children are our children” (tất cả trẻ em là trẻ
em của chúng ta) Đây là nơi lưu giữ những hình ảnh và tổ chức các hoạtđộng chung của làng
Trang 27Dọc theo phía Đông đường đi vào làng là nơi làm việc chính của cáccán bộ nhân viên trong làng, được bố trí khoa học, thoáng mát thuận tiện chocông việc.
Phía sau là một sân bóng mini, nơi giành cho các trẻ tập trung vui chơigiải trí như bóng đá, chơi cầu, thể dục thể thao…
Bên cạnh đó trong khuôn viên làng còn có một nhà cộng đồng (gồmmột nhà bếp, một phòng ăn và năm phòng ở cho các bà gì); một phòng y tếrộng khoảng 30m2; một gara để xe và một phòng bảo vệ thúc trực 24/24 bảo
vệ an ninh trật tự cho làng
Nhìn chung các cơ sở vật chất của làng trẻ SOS Vinh khá tiện nghi,khang trang đảm bảo việc phục vụ các nhu cầu cần thiết cho các các sinhhoạt, học tập và rèn luyện của trẻ trong làng
Bởi vậy, dù đã trải qua hơn 15 năm hoạt động nhưng cơ sở vật chấtcũng như trang thiết bị của làng vẫn còn khang trang và thường xuyên đượcquan tâm tu sửa, bảo trì rất sạch đẹp và phù hợp đảm bảo cho một cuộc sốngngày càng tốt hơn nữa
(iv) Chức năng nhiệm vụ
Vai trò của các bà mẹ, bà gì
Các bà mẹ đóng vai trò quan tâm chăm sóc những đưa trẻ là con tronggia đình của mình, từ 9 – 10 người con Họ đóng vai trò là một người mẹ sửdụng khoản kinh phí của tổ chức SOS giao để lo cho các con trong gia đình từ
ăn uống, sức khoẻ, học hành, nghỉ ngơi, chi tiêu và sinh hoạt hằng ngày củacác trẻ
Các bà gì hằng ngày nấu ăn, quản lý trên nhà cộng đồng, bên cạnh đókhi các gia đình có bà mẹ đi vắng thì các bà gì sẽ thay các mẹ đó chăm sócgia đình và các con
Vai trò của nhân viên giáo dục
Trang 28Nhân viên giáo dục phải là người có trình độ, tâm huyết, đạo đức vàlương tâm Trong làng trẻ họ đóng vai trò là người tham mưu, biết lắng nghe
ý kiến và có mối quan hệ tốt với mọi người Với các mẹ, các gì phải luôn chia
sẻ, phối hợp chặt chẽ; với trẻ phải luôn cố gắng tiếp xúc làm việc thườngxuyên cả ngày lẫn đêm, không kể trong giờ hay ngoài giờ
Nhân viên giáo dục không những phải trau dồi chuyên môn nghiệp vụ
mà còn phải luôn thay đổi vai trò của mình để hoàn thành nhiệm vụ một cáchxuất sắc
(v) Cơ cấu tổ chức
Hệ thống tổ chức bộ máy
Ban cán sự của làng gồm: Một giám đốc dự án và hai phó giám đốc.Các nhân viên gồm: Ba nhân viên giáo dục, một nhân viên thư ký, mộtnhân viên kỹ thuật, một nhân viên hành chính, một nhân viên y tế và mộtnhân viên lái xe
Hình số 1: Sơ đồ bộ máy tổ chức làng trẻ SOS Vinh
Cán bộ nhân viên hoạt động tại làng
Phó giám đốc: Là người giám sát các hoạt động tại làng trẻ
PGĐ quản lý khu lưu xã
Cán
bộ giáo dục
Nhân viên khác
Nhân viên hợp đồng
Các
bà mẹ,
bà gì
GIÁM ĐỐC DỰ ÁN
Trang 29Nhân viên giáo dục: Phân công cho ba nhân viên quản lý ba cấp học.Nhân viên kế toán: Chịu trách nhiệm các vấn đề liên quan đến tài chínhcủa làng.
Thư ký: Phải là người có trình độ ngoại ngữ, chuyên môn cao
Nhân viên kỹ thuật: Phụ trách việc xây dựng, bảo quản, duy trì và sửachữa các trang thiết bị, vật chất của làng
Nhân viên y tế: Chăm sóc sức khỏe cho tất cả các cán bộ, nhân viên, bàmẹ và TE trong làng
Ngoài ra nhân viên hoạt động trong làng còn có 15 bà mẹ quản lý 15gia đình và 5 bà gì giúp các bà mẹ cùng quản lý trẻ
Cán bộ, nhân viên hoạt động tại khu lưu xá thanh niên
Đứng đầu là phó giám đốc, quản lý khu lưu xá, chịu trách nhiệm trựctiếp quản lý các hoạt động chung của khu lưu xá thanh niên
(vi) Mô hình quản lý, chăm sóc và giáo dục trẻ mồ côi
Tiêu chuẩn tiếp nhận
Trẻ được nhận vào làng phải là trẻ mồ côi, bị bỏ rơi không nơi nươngtựa, các em trong hoàn cảnh khó khăn mà người thân không đủ khả năng nuôidưỡng
Trẻ nhận vào làng từ sơ sinh đến dưới 6 tuổi (nữ) và dưới 8 tuổi (nam).Ngoại trừ chị em ruột sau khi khảo sát thực tế thì có thể nhận luôn vào làng
mà không cần quy định tuổi
Nếu có đơn, thư từ hay tổ chức, cá nhân nào giới thiệu thì ban giám đốcsẽ lập hồ sơ chi tiết về trẻ đề gửi xuống huyện, xã, từ đó khảo sát thực tế Nếuđúng theo tiêu chuẩn 1 hoặc 2, làng sẽ đón trẻ vào theo quyết định của hộiđồng làng
Trang 30Bảng số 1: Bảng số liệu tổng số trẻ đã và đang được nuôi dưỡng tại làng trẻ
em SOS Vinh ( Báo cáo hoạt động năm 2010 – SOS Vinh)
1 Tổng số trẻ được nuôi dưỡng từ năm 1992 đến nay 349
2 Tổng số trẻ được nuôi dưỡng ở Nghệ An 306
4 Tổng số trẻ là người dân tộc thiểu số 26
6 Tổng số trẻ đã hòa nhập cộng đồng (trường thành
Quản lý đối tượng
Làng vừa giao cho các gia đình quản lý dưới sự dạy bảo và uốn nắn củacác bà mẹ; vừa chia nhỏ để giao cho mỗi cán bộ công nhân viên trong làngquản lý về các tình hình chung như: lao động, học tập và rèn luyện đạo đứccũng như nếp sống của trẻ ở trong làng
Ở nhà thì có các bà mẹ quản lý đến trường thì trẻ sẽ được tiếp nhận sựquản lý chặt chẽ của các giáo viên ở trường học
Ngoài ra các anh chị em trong gia đình phải nhắc nhở, bảo ban nhau tựgiác học hành và hoàn thành các công việc được phân chia hàng ngày
Sự quản lý của làng rất nghiêm khắc khi trẻ tham gia các hoạt động nhưhọc tập, vui chơi và lao động đều có các kế hoạch cụ thể gửi đến các gia đình.Tùy thuộc theo từng mùa và từng giai đoạn trong năm mà lập kế hoạch chophù hợp như lúc nào thì hoạt động học tập hay hoạt động vui chơi là chủ đạo
Công tác nuôi dưỡng và chăm sóc đối tượng
Về công tác nuôi dưỡng:
Hàng tháng trẻ đều được nhận một khoản tiền theo quy định của tổ
chức SOS quốc tế chia theo từng lứa tuổi và bậc học
Trang 31Tiền ăn Tiền học
Tiền quần áo
Dưới 12
tuổi
Trên 12tuổi Cấp I Cấp II Cấp III Đại học275.000đ
/ Tháng
350.000đ
/ Tháng
250.000đ/ Tháng
300.000đ/ Tháng
350.000đ/ Tháng
350.000đ/ Tháng
90.000đ/ Tháng
Số tiền này do các bà mẹ quản lý chi tiêu hợp lý cho từng trẻ có ghi cụthể trong sổ chi tiêu của từng trẻ và sổ chi tiêu chung của cả gia đình Đếncuối tháng thì nộp lại cho kế toán để hoạch toán và gửi lên cấp trên
Về công tác chăm sóc:
Công tác chăm sóc sức khỏe các em đều được chú trọng Các em đượccấp thẻ y tế và khám chữa bệnh theo định kỳ Ngoài ra các em còn được cấpcác dụng cụ để đảm bảo cho sức khỏe theo mùa, như mùa đông thì có chănbông, áo ấm, bình tắm nóng lạnh…; còn mùa hè thì quạt điện, sân chơi thoángmát… Như vậy về công tác chăm sóc sức khỏe làng đã đảm bảo tương đối tốt
Công tác chăm sóc đời sống tinh thần: Tổ chức các buổi văn nghệ, giaolưu giữa các cháu trong làng, vào những ngày lễ thì tổ chức đi du lịch, tặngquà các dịp tết trung thu… hay hoạt động sinh viên tình nguyện từ các trườngđại học, cao đẳng trong địa bàn đã tạo ra một không khí sôi nổi, thoải máităng thêm sự tự tin và hòa nhập tốt hơn cho các em
Giáo dục và tái hòa nhập
Nhiệm vụ giáo dục vừa là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu và cũng vừa lànhiệm vụ then chốt để giúp trẻ tiến tới tự lập cuộc sống và hoà nhập cộngđồng Với mục tiêu đó, 15 năm qua làng trẻ SOS Vinh đã và đang nuôi dưỡng
349 trẻ có hoàn cảnh khó khăn Trong đó có 29 cháu đã tốt nghiệp trung họcphổ thông, 24 đại học, 3 cao đẳng và 36 trung cấp chuyên nghiệp, 15 cháuhọc nghề dài hạn và 29 cháu vừa học vừa làm [6]
Trang 32Tái hoà nhập cộng đồng là mục tiêu cuối cùng của quá trình nuôidưỡng, chăm sóc, quản lý và giáo dục đối tượng Mỗi em sẽ được trang bịnhững kiến thức, kỹ năng và điều kiện cần thiết để các em bước vào cuộcsống tự lập.
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NHÓM TRẺ MỒ CÔI VÀ ỨNG DỤNG TIẾN TRÌNH CTXH NHÓM VỚI NHÓM TRẺ MỒ CÔI TẠI LÀNG TRẺ SOS VINH 2.1 Đánh giá thực trạng của nhóm trẻ em mồ côi tại làng trẻ SOS Vinh
2.1.1 Mô tả đặc điểm của nhóm thân chủ
Gồm 10 thân chủ (5 nam và 5 nữ), trong độ tuổi từ 6 đến 15 tuổi, trẻđến từ những nơi khác nhau cùng với những hoàn cảnh khác nhau nhưng tất
cả đều có chung một đặc điểm là TE mồ côi, có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.Chính những đặc điểm chung đó sẽ tạo nên những tương đồng giữa các cá
Hoàn cảnh gia đình trước
Trang 333 Nguyễn Cẩm N 7 T.Dương
Nghệ An Nữ Mồ côi mẹ, bố bỏ đi.
Mồ côi bố, mẹ bỏ đi Giađình khó khăn
Nữ Bố mẹ bỏ đi, ở với bà hoàn
cảnh khó khăn
2.1.2 Đánh giá nhu cầu của nhóm thân chủ
2.1.2.1 Dựa lý thuyết nhu cầu các A Maslow, để đánh giá bậc thang nhu cầu mà nhóm thân chủ đã có và chưa có
Để có thể biết được nhóm thân chủ của mình đã được đáp ứng nhữngnhu cầu cơ bản nào và những nhu cầu cơ bản nào chưa được đáp ứng, từ đóNVCTXH quyết định ứng dụng phương pháp CTXH nhóm nhằm nâng caonăng lực cho nhóm thân chủ hay không Thì một việc làm quan trọng khôngthể thiếu là việc đánh giá nhu cầu của nhóm thân chủ Ở đây để đánh giá nhucầu cho nhóm trẻ mồ côi ở làng trẻ SOS Vinh, NVCTXH đã ứng dụng lýthuyết nhu cầu của Maslow, nhằm đưa ra những phân tích đánh giá mức độđược áp dụng các nhu cầu cơ bản của nhóm thân chủ
Trang 34Hình số 2: Mô hình bậc thang nhu cầu của Maslow (i) Nhu cầu về vật chất (sinh lý)
Ở đây trẻ được chăm sóc và các chế độ về thể chất tương đối đảm bảonhư: về ăn uống theo 3 bữa (bữa sáng, bữa trưa và bữa tối) tương đối đảm bảovới 8000đ/ bữa ăn/ em; về sức khoẻ, trẻ được thăm khám bệnh theo định kỳ;các nhu cầu khác như đi lại đều được đảm bảo Tuy vậy vẫn có thể nói rằngtrẻ ở SOS thì không thể được tuyệt đối đầy đủ như trẻ ở tại các gia đình cócha mẹ chăm sóc Nhưng theo đánh giá của NVCTXH, các em đã được đảmbảo các điều kiện vật chất để phát triển tương đối bình thường
Nhu cầu được tôn trọng
Nhu cầu tình cảm:
Tình yêu thương, hòa nhập
Nhu cầu an toàn:
Được gắn bó, được bảo vệ, thoải mái trấn tĩnh
Nhu cầu vật chất:
Nhu cầu được sống, được ăn, được uống, được gải tỏa căng thẳng
Nhu cầu hoàn thiện
Trang 35Do đó nhu cầu này đã được đảm bảo.
(ii) Nhu cầu an toàn:
Nhóm trẻ mồ côi ở SOS được sống trong một môi trường với một điều
kiện sống tương đối an toàn, như có nhà để ở, an ninh tốt, được thăm khámchữa bệnh để đảm bảo sức khoẻ, tham gia các hoạt động để phát triển tâm lý
và hoà đồng với xã hội
Do đó nhu cầu này, nhóm trẻ ở làng trẻ SOS Vinh đã được phát triểntương đối đảm bảo
(iii) Nhu cầu tình cảm xã hội (nhu cầu gắn bó, yêu thương):
Trẻ em ở SOS hiện nay đã giành được rất nhiều sự quan tâm của các tổchức, hiệp hội tình nguyện trong và ngoài nước Họ đã tổ chức nhiều hoạtđộng văn nghệ, thể thao, du lịch bổ ích Tuy nhiên các hoạt động đó vẫn chưathật sự đáp ứng được nhu cầu phát triển của trẻ mồ côi ở SOS Vinh Vì phầnlớn các nhu cầu chỉ mang tính phổ quát, ít chú trọng tới các nhóm đối tượng
Tại làng trẻ SOS Vinh, bên cạnh một số trẻ rất dễ hoà đồng thì phần lớntrẻ ở đây đều có tâm lý tự ti, mặc cảm với sô phận Đó là một rào cản lớntrong việc hoà nhập với xã hội và tham gia các hoạt động mà trong hay ngoàitrung tâm tổ chức
NVCTXH: “Em nghĩ như thế nào nếu như bây giờ em không sống
trong làng TE SOS Vinh nữa?”
Thân chủ: “Em cũng chưa bao giờ tự tưởng tượng ra điều đó Chúng
em sống ở làng quen rồi, ở đây có rất nhiều bạn có hoàn cảnh giống với em, đều là những đứa trẻ không có cha mẹ hoặc bị bỏ rơi, bởi vậy chúng em dễ nói chuyện, dễ chơi và dễ thông cảm cho nhau Nếu bây giờ bảo em phải ra ngoài sống thì em cũng không biết phải sống như thế nào nữa Em rất sợ bị các bạn và mọi người cười chê, khinh rẻ cho hoàn cảnh của chúng em” (Phỏng vấn sâu em Trần Trọng K, nam, 15 tuổi).
Trang 36Bên cạnh đó, không phải tất cả các hoạt động đều phù hợp với tất cảcác trẻ và không phải tất cả các trẻ đều sẵn sàng đủ tự tin để tham gia tất cả
các hoạt động “Trung tâm vẫn thường xuyên tổ chức các hoạt động tập thể
cho chúng em, nhưng cũng có nhiều hoạt động chúng em đã không tham gia được Ví dụ: hoạt động đá bóng chỉ dành cho những bạn có sức khỏe, hoạt động văn nghệ chỉ giành cho những bạn hát hay, múa đẹp… những bạn không có năng khiếu thì ít được tham gia chị ạ” (Phỏng vấn sâu em Trần Thúy Q (lớn), nữ 14 tuổi) Do đó NVCTXH cần có những tìm hiểu và nghiên
cứu để đáp ứng phù hợp với những mong muốn và nhu cầu mà nhóm thân chủcủa mình chờ đợi để có sự can thiệp hiệu quả nhất
Không những vậy trẻ mồ côi sống tại làng trẻ SOS luôn thiếu hụt hẳn
sự quan tâm, yêu thương và chăm sóc của những người thân như cha mẹ, anhchị em ruột nên sức mạnh của nhóm trẻ không được nhân lên và sự tự tincũng không được tăng cường
NVCTXH: “Em có muốn người thân vào đón mình về sống chung để
nuôi nấng, động viên và chia sẻ những lúc em thấy khó khăn trong cuộc sống không?”
Thân chủ: “Bọn em ở đây có những đứa chưa từng biết mặt bố mẹ,
người thân mình là ai thì làm sao nghĩ được đến việc họ sẽ vào đây thăm hay đón mình về hả chị? Nhiều khi có những chuyện buồn muốn tâm sự, chia sẻ nhưng cũng không biết phải chia sẻ với ai Bởi dù sao mẹ và các anh chị hay các bạn trong làng cũng không phải là anh chị em ruột của mình, làm sao em có thể tin tưởng để chia sẻ được Nhiều khi kể với họ rồi, họ lại đi kể cho cả làng nghe thôi Bởi vậy những lúc có chuyện buồn, chuyện khó xử mà em cũng chẳng biết nói cho ai để nhờ họ giúp đỡ mình cả chị ạ” (Phỏng vấn sâu
em Phan Thị N, nữ 15 tuổi).
Trang 37Qua việc nghiên cứu nhu cầu tình cảm xã hội của các em trong nhómthân chủ tại làng trẻ SOS Vinh, có thể thấy được các em khao khát, mongmuốn có được sự quan tâm yêu thương chăm sóc của những người thân làanh chị em ruột đến mức nào Và cũng bởi vì không có những người để các
em thật sự tin tưởng như anh chị em ruột đã khiến các em không dám chia sẻ
để có thể được giúp đỡ khiến cho sức mạnh tinh thần của các em đã không thểchia sẻ những niềm vui và đặc biệt là những lúc buồn, thất vọng Trong cuộcsống ai cũng cần có nhu cầu được sẻ chia, được nhận sự giúp đỡ từ nhữngngười thân bên cạnh để giúp họ vượt qua những khó khăn trong cuộc sốnghiện tại Như vậy có thể thấy TE ở làng trẻ SOS Vinh nói riêng và các làng trẻnói chung đang rất mong muốn được đảm bảo nhu cầu tình cảm, xã hội vàthực tế nhu cầu này chưa được đảm bảo
(iv) Nhu cầu được tôn trọng:
Bởi vì ở đây các em đều có chung hoàn cảnh mồ côi, lại sống trongtrung tâm nên đa số các em còn mặc cảm tự ti với hoàn cảnh của mình và bênngoài còn có nhiều người còn nhìn các em với thái độ thiếu tôn trọng
NVCTXH: “Em có hay chơi với các bạn ngoài trung tâm mình
không?”
Thân chủ: “Em cũng thỉnh thoảng mới chơi với các bạn thôi, nhưng
cũng chỉ chơi ở mức bình thường thôi chứ em không có bạn chơi thân đâu Thật ra cũng có một số bạn tốt nhưng em cũng không dám chơi thân, bởi dù sao hoàn cảnh của các bạn ấy quá khác với em Hơn thế nữa, nhiều khi đi học các bạn cũng chơi với nhau rất phân biệt với bọn em Những bạn không sống trong làng thì chơi thân với nhau trong một nhóm, thỉnh thoảng lại đi nói xấu bọn em là trẻ mồ côi sống ở SOS Em rất xấu hổ, buồn và cũng rất ghét các bạn ấy” (Phỏng vấn sâu em Phan Thị N, nữ, 11 tuổi).
Trang 38Là những bạn cùng lớp còn nhỏ tuổi mà các em đã có sự phân biệt, đối
xử thiếu tôn trọng với các em như vậy thì thử hỏi làm sao các em dám tiếp xúcvới những người khác ngoài xã hội mà các em chưa hề quen biết Bởi vậy, đểđảm bảo nhu cầu này cho các em, cộng đồng cần tuyên truyền nâng cao nhậnthức để mọi người không có sự phân biệt, kỳ thị với trẻ SOS, bên cạnh đó cầngiúp các em nâng cao sự tự tin, khơi dậy những điểm mạnh, yếu tố tích cựctrong con người các em để các em tự tin hơn trong các mối quan hệ
Do đó đây là nhu cầu mà các em cần được đảm bảo
(vi) Nhu cầu hoàn thiện
Mặc dù làng trẻ SOS đã rất tạo điều kiện cho các em học hành nhưngqua tìm hiểu NVCTXH đã được nghe những tâm sự rất chân thành của các
em và thấy được làng trẻ SOS vẫn có những áp đặt trong nghề nghiệp của các
em để giảm chi phí nuôi dạy
NVCTXH “Em có muốn nói điều gì với các bạn ngoài làng trẻ SOS và
với làng trẻ SOS Vinh không?”
Thân chủ: “Em muốn các bạn sống ngoài làng trẻ, muốn xã hội hay
tôn trọng và nhìn nhận bọn em như những đứa trẻ bình thường Em cũng rất muốn làng trẻ SOS Vinh tạo điều kiện cho chúng em học tập một cách tốt nhất Ngoài những giờ học trên lớp thì bọn em còn muốn được đăng ký học thêm ở ngoài để nâng cao kiến thức và nếu khi bọn em thi trượt đại học thì mong làng tạo điều kiện cho bọn em được ôn tập để thi lại một năm nữa, đừng bắt bọn em phải đi học những nghề như nấu ăn, làm bánh như truyền thống làng vẫn thực hiện Bọn em không muốn như vậy mà rất mong làng tạo điều kiện để bọn em được lựa chọn nghề theo mong muốn của mình” (Phỏng vấn sâu em Nguyễn Văn C, nam, 9 tuổi).
Như vậy, đây là một nhu cầu cơ bản mà trẻ ở SOS đang thiếu hụt vàmong muốn đạt được nhất Thông qua các kỹ năng, hoạt động và sự chia sẻ
Trang 39thì NVCTXH kỳ vọng sẽ giúp trẻ SOS Vinh nâng cao được sự tự tin để bảnthân mỗi em có thể được phát triển và hoàn thiện bản thân.
Như vậy đánh giá theo bậc thang nhu cầu của Maslow, ta thấy trẻ mồcôi ở làng trẻ em SOS Vinh đang cần được đảm bảo ba nhu cầu sau: Nhu cầutình cảm xã hội, nhu cầu tôn trọng và nhu cầu được hoàn thiện
2.1.2.2 Đánh giá nhu cầu tham gia hoạt động của nhóm thân chủ
Thông qua việc đánh giá nhu cầu của nhóm thân chủ bằng các bảnghỏi, phỏng vấn sâu, quan sát và thảo luận nhóm NVCTXH quyết định thành
lập “nhóm phát triển” với các hoạt động như trò chơi, chia sẻ các kỹ năng,
bài học trong cuộc sống để giúp các em có thể tăng cường sự tự tin, sức mạnh
để đáp ứng các nhu cầu mà các em còn thiếu hụt
Từ đó rút ra được những nhu cầu cụ thể mà trẻ cần đáp ứng lúc này là:(i) Được yêu thương, chăm sóc, chia sẻ và thật sự thấu cảm của cácthành viên cũng như cán bộ trong trung tâm và ngoài xã hội
(ii) Được tạo điều kiện để tham gia ngày càng nhiều các hoạt động giaolưu, học tập, văn hóa – xã hội… do trung tâm và ngoài trung tâm tổ chức
(iii) Được tôn trọng, đón nhận và hòa nhập với cộng đồng xã hội
NVCTXH thực hiện trao đổi với một số bà mẹ trực tiếp chăm sóc trẻtrong làng để tìm hiểu nhu cầu tham gia hoạt động nhóm của nhóm thân chủnhư sau:
NVCTXH: “Nếu con muốn tổ chức các hoạt động nhóm như tổ chức
các trò chơi tô tranh, dựng kịch… và tư vấn các kỹ năng sống cho các em thì
mẹ nghĩ như thế nào?”
Mẹ Trần B: “Mẹ nghĩ việc đó rất tốt đó Ở đây, làng và các mẹ cũng
thường xuyên tổ chức các hoạt động cho các em, các em rất hào hứng tham gia Mẹ cho rằng các em sẽ rất thích các hoạt động mới do con tổ chức đó, vì
ở làng có thường tổ chức hoạt động cũng chỉ là những hoạt động truyền
Trang 40thống, đã khá quen thuộc Chắc chắn làng và các mẹ sẽ rất ủng hộ con thôi, nếu có khó khăn gì thì con cứ trao đổi với anh Lương (Chuyên viên phụ trách giáo dục làng) và các mẹ để các mẹ chuẩn bị tâm lý cho các em nhé” (Phỏng vấn sâu mẹ Nguyễn Thị M, nữ, 48 tuổi).
Qua trao đổi với mẹ Trần B, đại diện cho 15 bà mẹ trực tiếp chăm sóc,nuôi dạy trẻ trong làng NVCTXH biết được trẻ mồ côi ở SOS rất mong muốn
và có nhu cầu tham gia sinh hoạt nhóm và đặc biệt là các hoạt động màNVCTXH dự định tổ chức Bên cạnh đó NVCTXH nhận được sự ủng hộnhiệt tình của các bà mẹ nuôi trẻ trong các gia đình tại làng Đó là những yếu
tố thuận lợi để NVCTXH thành lập nhóm và tiến hành can thiệp
Bên cạnh việc trao đổi với những người chăm sóc nuôi dạy trẻ,NVCTXH đã tiến hành phỏng vấn sâu trực tiếp đối với trẻ (nhóm thân chủ) đểtìm hiểu chính xác hơn về nhu cầu được tham gia các hoạt động do NVCTXH
tổ chức, đồng thời bên cạnh đó qua trao đổi NVCTXH sẽ biết được nhữnghoạt động nào là phù hợp, trẻ hào hứng tham gia và hoạt động nào trẻ khótham gia để điều chỉnh kế hoạch tổ chức các hoạt động phù hợp hơn
Như vậy thông qua việc thảo luận, phỏng vấn sâu các đối tượng tronglàng trẻ SOS Vinh, ta thấy được nhóm thân chủ có nhu cầu tham gia các hoạtđộng do NVCTXH tổ chức
2.2 Ứng dụng tiến trình CTXH nhóm nhằm nâng cao năng lực cho nhóm trẻ mồ côi từ 6 – 15 tuổi tại làng trẻ em SOS Vinh
2.2.1 Giai đoạn chuẩn bị và thành lập nhóm thân chủ
2.2.1.1 Xác định mục đích hỗ trợ nhóm
Cơ sở của việc xác định mục đích hỗ trợ nhóm trong nghiên cứu nàychính là việc đánh giá nhu cầu nhóm thân chủ thông qua việc tìm hiểu nhữngthông tin ban đầu do nhóm đối tượng cung cấp, sự phân tích kỹ càng về lý