Đây là một thiếu sót tạo nên lỗ hổnglớn trong quá trình nhận thức, tiếp thu kiến thức Địa lý ở trường phổ thôngcủa học sinh.Chính vì vậy, để nâng cao hiệu quả khai thác kênh hình trong s
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-Nguyễn thị mai
ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao hiệu quả
khai thác kênh hình trong sách giáo khoa
khoá luận tốt nghiệp Chuyên Ngành : phơng pháp
Vinh, 2011
Trang 2Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh
Khoa luật -
khoá luận tốt nghiệp
ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao hiệu quả
khai thác kênh hình trong sách giáo khoa
Chuyên ngành : phơng pháp
Giảng viên hớng dẫn : Th.S Võ Thị Vinh Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Mai Lớp : 48A - Địa Lý
Mã số sinh viên : 0756031693
Vinh, 2011
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành đề tài: “Ứng dụng công nghệ thông tin để
nâng cao hiệu quả khai thác kênh hình trong sách giáo khoa Địa lý lớp 11 – BCB” tôi đã nhận được sự giúp đỡ rất tận tình của các thày cô giáo, sự động
viên của bạn bè
Tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới cô giáo Võ Thị Vinh,
người đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành khoá luận này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong khoa Địa lý, trường Đại học Vinh, các bạn sinh viên lớp 48 A - Địa lý đã giúp đỡ động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy giáo, cô giáo và các em học sinh trường THPT Trần Phú, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành
việc thực nghiệm sư phạm
Mặc dù đã cố gắng song không thể tránh khỏi những sai sót, hạn chế, tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô và bạn đọc
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Vinh, tháng 5 năm 2011
Sinh viên
Nguyễn Thị Mai
Trang 4CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
-o0o -LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là : Nguyễn Thị Mai
Sinh viên lớp: 48 A - Địa lý
Lý do viết giấy cam đoan: Do yêu cầu về tính khách quan trong quá trình thực hiện đề tài khoá lận tốt nghiệp
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Kết quả nghiên cứu trong đề tài chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Vinh, tháng 5 năm 2011
Sinh viên
Nguyễn Thị Mai
Trang 5CÁC CHỮ VIẾT TẮT
SGK Sách giáo khoaNXB Nhà xuất bảnTHPT Trung học phổ thôngCNTT Công nghệ thông tinBCB Ban cơ bản
Trang 6A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong các trường đại học, việc tiếp thu tinh thần đổi mới giáo dục rấtđược sự quan tâm của hầu hết các chuyên ngành đào tạo, trong đó có chuyênngành địa lý Trong khi đó, tình hình dạy học bộ môn này tại các trườngTHPT đang tồn tại những vấn đề đáng bàn về chất lượng dạy học cũng nhưcác phương pháp dạy học đang được áp dụng
Trên cơ sở đó, tác giả đã mạnh dạn lựa chọn đề tài thuộc chuyên ngànhphương pháp với mong muốn đóng góp một phần nào đó vào việc đẩy mạnhphong trào đổi mới phương pháp dạy học bộ môn Địa lý trong trường phổ thông
Đề tài do tác giả xuất có tên đầy đủ là: “Ứng dụng công nghệ thông
tin để nâng cao hiệu quả khai thác kênh hình trong sách giáo khoa Địa lý lớp 11 – BCB.”
Trước hết đây là một vấn đề mang tính khoa học xuất phát từ thực tiễncủa việc học tập, nghiên cứu và giảng dạy môn Địa lý trong nhà trường Vềmặt lý luận, nội dung đề tài liên quan đến lý thuyết về đổi mới phương phápdạy học bộ môn Địa lý trong trường phổ thông Về thực tiễn, đó là việc pháthiện và nghiên cứu về một hiện tượng đang tồn tại trong thực tế dạy học bộmôn Địa lý ở các trường phổ thông hiện nay, đó là vấn đề khai thác một bộphận kênh thông tin quan trọng trong sách giáo khoa Địa lý mà đáng lẽ raphải được chú trọng đúng mức: kênh hình
Thứ hai, đây cũng là một vấn đề đặt ra rất cấp thiết đối với việc dạy học
bộ môn Địa lý ở trường phổ thông Rõ ràng, có một thực tế mà chúng ta vẫnthường thấy, nội dung sách giáo khoa Địa lý ở trường phổ thông đã đổi mới,nhất là lượng thông tin đã được trực quan hoá trên kênh hình Tuy vậy, việcphân tích chúng do nhiều nguyên nhân vẫn còn gặp không ít khó khăn vàchưa thực sự được chú trọng
Trang 7Trong thực tế, có một bộ phận không nhỏ học sinh khi học tập bộ môn,không nắm được hoặc thậm chí không có kĩ năng khai thác kiến thức từ hệthống kênh hình trong sách giáo khoa Đây là một thiếu sót tạo nên lỗ hổnglớn trong quá trình nhận thức, tiếp thu kiến thức Địa lý ở trường phổ thôngcủa học sinh.
Chính vì vậy, để nâng cao hiệu quả khai thác kênh hình trong sách giáokhoa Địa lý THPT là một vấn đề cấp thiết hiện nay đối với quá trình học tập,nghiên cứu và giảng dạy bộ môn Địa lý
Thứ ba, vấn đề mà đề tài đề cập đến rõ ràng là một vấn đề rất có tínhthực tiễn Việc giải quyết được vấn đề là cả một quá trình áp dụng cách thức,phương pháp nhằm giúp giáo viên và học sinh có kiến thức và kĩ năng để họctập bộ môn Đia lý có hiệu quả hơn Đồng thời đề tài cũng sẽ giải quyết đượcmột trong những yếu tố bất cập của quá trình đổi mới phương pháp dạy học
bộ môn Đia lý trong trường phổ thông, đó là góp phần nâng cao vai trò, vị trí,chất lượng, hiệu quả tự học của người học, đưa người học vào vị trí trung tâmcủa quá trình dạy học
Nhận thức được những vần đề đó, tác giả đã lựa chọn đề tài này đểnghiên cứu và áp dụng đề tài vào thực tiễn dạy học bộ môn Địa lý ở trườngphổ thông sẽ tạo ra được những thay đổi có ý nghĩa quan trọng đối với việcnâng cao hiệu quả học tập, nghiên cứu và đổi mới phương pháp dạy học bộmôn Địa lý trong trường phổ thông
2 Mục đích nghiên cứu
Hơn bất kì một hoạt động nào khác, nghiên cứu khoa học là góp phầntạo ra những thay đổi có giá trị đối với thực tiễn công việc cũng như cuộcsống Hoạt động nghiên cứu của tác giả trong một giới hạn hẹp là giảng dạy
bộ môn địa lý ở trường phổ thông, cũng không ngoài mục đích góp phần nângcao chất lượng học tập nghiên cứu, giảng dạy bộ môn Địa lý trong trường phổ
Trang 8thông mà cụ thể hơn là nâng cao hiệu quả khai thác kênh hình, một kênh kiếnthức quan trong trong nội dung chương trình sách giáo khoa Địa lý ở trườngphổ thông.
Đề tài có thể là một bước tiến mới trong quá trình giúp giáo viên và họcsinh phổ thông xóa bỏ dần thói quen, tâm lý lệ thuộc vào các tài liệu chữ viết
mà không quan tâm đến những kiến thức tàng ẩn phía sau các loại hình ảnhđược trình bày trong sách giáo khoa Cùng với việc khai thác kiến thức, cảhọc sinh và giáo viên sẽ nắm được các kĩ năng Địa lý quan trọng, tháo gỡđược những vướng mắc khi đứng trước những kênh thông tin ngoài chữ viết,
là những ẩn ý về kiến thức và phương pháp mà các tác giả SGK đã gửi gắmvào trong đó
3 Đối tượng nghiên cứu
Việc ứng dụng CNTT vào quá trình khai thác kênh hình trong SGK Địa
lý lớp 11 – BCB
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ mục đích muốn góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quảdạy học bộ môn Địa lý ở trường phổ thông, đề tài có nhiệm vụ:
- Nghiên cứu lý thuyết về CNTT và kiến thức SGK Địa lý lớp 11 –BCB
- Nghiên cứu và đề xuất những phương pháp, cách thức giúp nâng caohiệu quả khai thác kênh hình trong SGK bằng CNTT
5 Phạm vi, giới hạn đề tài
Việc nghiên cứư các vấn đề liên quan đến phương pháp dạy học là rấtlớn, song với những thời lượng có hạn của một đề tài khóa luận tốt nghiệp, tácgiả đề cập chủ yếu xung quanh vấn đề ứng dung CNTT để nâng cao hiệu quảkhai thác kênh hình trong sách giáo khoa Địa lý 11- BCB
Trang 9Phạm vi hẹp cũng là những điều kiện thuận lợi để đề tài tập trungnghiên cứu sâu hơn đối với vấn đề được đề cập góp phần tránh sự sai lệchkhông đáng có trong phương hướng nghiên cứu.
Về mặt khách thể đề tài tập trung vào việc ứng dụng CNTT để nângcao hiệu quả khai thác kênh hình, bao gồm những phương tiện, thiết bị CNTT
có khả năng phục vụ quá trình dạy học bộ môn như: máy vi tính, máy chiếu,băng hình video, các phần mềm trong dạy học Địa lý,…
6 Quan điểm nghiên cứu
6.1 Quan điểm hệ thống - cấu trúc
Quan điểm hệ thống - cấu trúc là một luận điểm quan trọng của phươngpháp luận nghiên cứu khoa học Quan điểm này yêu cầu phải xem xét đốitượng một cách toàn diện nhiều mặt, nhiều mối quan hệ, trong trạng thái vậnđộng và phát triển, trong những điều kiện hoàn cảnh cụ thể để tìm ra bản chất
và quy luật vận động của đối tượng nghiên cứu
- Đối với đối tượng nghiên cứu của đề tài này, tác giả đã vận dụng quanđiểm hệ thống - cấu trúc nhằm nghiên cứu quá trình ứng dụng CNTT vào việckhai thác kênh hình trong SGK Địa lý lớp 11 – BCB, đặt nó trong hệ thống -cấu trúc của quá trình dạy học trong nhà trường, trong quá trình vận động đổimới giáo dục, đổi mới nội dung chương trình SGK và phương pháp dạy học ởtrường phổ thông
- Quan điểm này cũng đặt ra yêu cầu xem xét các mối quan hệ của đốitượng nghiên cứu bao gồm quan hệ giữa kênh hình với các kênh thông tinkhác trong nội dung SGK, quan hệ giữa kênh hình với các loại của CNTTtrong dạy học bộ môn,…
Nghiên cứu vấn đề của đề tài theo quan điểm hệ thống - cấu trúc cho tatri thức đầy đủ, toàn diện, khách quan về đối tượng nghiên cứu, thấy được
Trang 10mối quan hệ của hệ thống với các hiện tượng khác, từ đó mà thấy được tínhtriệt để, khách quan của các tri thức khoa học.
Vận dụng quan điểm hệ thống vào nghiên cứu đề tài này, tác giả đã đặtđối tượng nghiên cứu trong hệ thống quá trình dạy học các nội dung kiến thứcĐịa lý trong sách giáo khoa Địa lý THPT, hệ thống tổ chức dạy học bằng cáchình thức, phương pháp, phương tiện dạy học nhằm làm sáng tỏ vai trò, vị trícủa một trong những kênh thông tin quan trọng trong nội dung chương trìnhsách giáo khoa Địa lý THPT, đó là kênh hình
6.2 Quan điểm lịch sử
Quan điểm lịch sử cho phép ta nhìn nhận toàn bộ sự phát triển của đốitượng nghiên cứu theo một thời gian, không gian cụ thể trong mối quan hệchặt chẽ của những yếu tố tác động Đó là một quá trình diễn biến kháchquan, phức tạp trong những điều kiện hoàn cảnh cụ thể của đối tượng nghiêncứu
Việc vận dụng quan điểm lịch sử là cơ sở để nhìn nhận khách quan quátrình ứng dụng CNTT để khai thác kênh hình trong sách giáo khoa, bao gồmquá trình đổi mới sách giáo khoa đi kèm với quá trình đổi mới phương phápdạy học, những thay đổi trong chất lượng và hiệu quả dạy học bộ môn trước
và sau khi vận dụng các giải pháp được đề xuất trong đề tài
Quá trình giải quyết các nhiệm vụ của đề tài, vận dụng đề tài vào thựctiễn cũng là một quá trình phức tạp tạo ra nhiều biến đổi quan trọng trong hiệuquả nhận thức đối với các đối tượng thực nghiệm đề tài, đó là các lớp học sinh
6.3 Quan điểm thực tiễn – khách quan
Theo lý luận nghiên cứu khoa học, quan điểm thực tiễn - khách quanyêu cầu nghiên cứu khoa học phải bám sát sự phát triển của thực tế sinh động
Thực tiễn là những diễn biến của sự vật trong tự nhiên và xã hội mộtcách khách quan với những sự kiện đa dạng, phức tạp, nhiều khuynh hướng
Trang 11Vận dụng quan điểm thực tiễn – khách quan vào việc nghiên cứu đề tài
là quá trình xuất phát từ những vấn đề do thực tiễn giáo dục của thời đại, củacác nhà trường phổ thông đặt ra hiện nay
- Thực tiễn giáo dục giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đàotạo là động lực thúc đẩy quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài
- Thực tiễn yêu cầu của đổi mới nội dung sách giáo khoa, đổi mớiphương pháp dạy học bộ môn Địa lý góp phần quan trọng vào mục đíchnghiên cứu đề tài
- Thực tiễn giáo dục và đổi mới phương pháp dạy học cũng là mộttrong những tiêu chuẩn thúc đẩy quá trình tổ chức thực nghiệm đề tài
Quan điểm thực tiễn khách quan dựa trên thực tế bản chất của đổitượng nghiên cứu Bao giờ sự phát triển của đối tượng nghiên cứu cũng tuântheo những quy luật khách quan nhất định Quan điểm này tạo cơ sở cho việctuân thủ các nguyên tắc khách quan trong nghiên cứu xây dựng đề tài Nhữngkết quả thực nghiệm thu được cũng bắt nguồn từ những diễn biến khách quancủa đối tượng nghiên cứu trong mối quan hệ với các nhân tố tác động
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Để xây dựng đề tài, việc đầu tiên là phải xây dựng hệ thống lý thuyếtcho vấn đề nghiên cứu Tác giả đã vận dụng một số phương pháp nghiên cứu
lý thuyết để tìm hiểu, tiếp thu các tài liệu có liên quan cần thiết cho đề tài.Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết được vận dụng chủ yếu là: phươngpháp phân tích và tổng hợp lý thuyết; phương pháp phân loại và hệ thống hóa
lý thuyết Trên cơ sở vận dụng các phương pháp này, cơ sở lý luận của đề tàiđược hoàn thiện
Trang 127.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết
Việc nghiên cứu các tài liệu lý thuyết về phương pháp dạy học bộ môn
là hết sức quan trọng đối với quá trình xây dựng và phát triển đề tài Bằngcách phân tích các tài liệu lý luận khác nhau về vấn đề phương pháp, phươngtiện dạy học Địa lý, tác giả sẽ có được những thông tin toàn diện, đầy đủ hơn,tạo cơ sở và tính thuyết phục ban đầu cho đề tài
Trong quá trình nghiên cứu, những lý thuyết được tác giả chú trọngphân tích là lý thuyết về các phương tiện, thiết bị CNTT, các phần mềm phục
vụ quá trình dạy học bộ môn Địa lý; lý thuyết về đổi mới trong quá trình dạyhọc trong nhà trường; lý thuyết về đổi mới nội dung chương trình SGK cácphương pháp, phương tiện dạy học bộ môn
Sau khi phân tích, các tài liệu được tổng hợp lại tạo thành một hệ thống
lý thuyết mới, sâu sắc, đầy đủ và hoàn chỉnh của đề tài nghiên cứu
Tuy phân tích và tổng hợp là hai quá trình, hai phương pháp có chiềuhướng đối lập nhau song lại thống nhất với nhau Như Ănghen đã nói: “Tưduy không chỉ đem đối tượng nhận thức phân chia thành các nhân tố mà cònđem các nhân tố có liên quan với nhau hợp thành một thể thống nhất Không
có phân tích thì không có tổng hợp.”
7.1.2 Phương pháp phân loại, hệ thống hóa lý thuyết
Phân loại là phương pháp sắp xếp các tài liệu thành một hệ thống cólôgic chặt chẽ theo từng mặt, từng đơn vị kiến thức, từng vấn đề có cùng nộidung Đó là quá trình đơn giản hóa các nội dung của đề tài thành những đơn
vị để nghiên cứu
Hệ thống hóa là phương pháp sắp xếp kiến thức khoa học theo một hệthống trên cơ sở những hiểu biết và lý thuyết về vấn đề nghiên cứu Thực chấtcủa phương pháp này dựa trên quan điểm hệ thống cấu trúc trong nghiên cứukhoa học Những thông tin đa dạng thu thập được từ các nguồn tài liệu khác
Trang 13nhau nhờ phương pháp hệ thống hóa mà có được một chỉnh thể nội dung kếtcấu chặt chẽ, từ đó tạo ra kết cấu hoàn chỉnh cho đề tài.
Phân loại và hệ thống hoá là hai phương pháp đi liền với nhau, trongphân loại đã có hệ thống hóa, hệ thống hóa phải dựa trên cơ sở của phân loại,làm cho phân loại được đầy đủ, chính xác hơn, toàn diện hơn
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Nghiên cứu thực tiễn gồm một nhóm các phương pháp trực tiếp thựchiện đối với các chủ thể, khách thể nghiên cứu Đề tài này vận dụng cácphương pháp thực tiễn chủ yếu là phương pháp thực nghiệm khoa học;phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm
7.2.1 Phương pháp thực nghiệm khoa học
Thực nghiệm khoa học là phương pháp đặc biệt quan trọng của nghiêncứu thực tiễn nhằm thực hiện vấn đề nghiên cứu theo mục tiêu dự kiến của tácgiả Thực nghiệm thành công sẽ cho ra kết quả khách quan và mục đíchnghiên cứu được thực hiện một cách chủ động, khách quan
Phương pháp thực nghiệm được vận dụng vào đề tài nhằm tiến hànhgiảng dạy các bài giảng thực nghiệm để ứng dụng và kiểm tra, đánh giá kếtquả nghiên cứu của đề tài
7.2.2 Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm
Phân tích và tổng kết kinh nghiệm là phương pháp nghiên cứu xem xétlại những thành quả của hoạt động thực tiễn trong quá khứ để rút ra những kếtluận bổ ích cho thực tiễn và cho khoa học
Vận dụng phương pháp này, việc thực hiện ứng dụng đề tài vào thựctiễn được nhận định, đánh giá và đúc rút kinh nghiệm để đề tài tiếp tục đượcnghiên cứu theo hướng hoàn thiện và tính ứng dụng cao hơn
Trang 14Những kinh nghiệm rút ra qua phân tích, tổng kết cần được phổ biến ápdụng rộng rãi, nhằm tuyên truyền cho những thành công, áp dụng những giảipháp hiệu quả vào thực tế.
- Sử dụng lý thuyết toán học để xây dựng lý thuyết chuyên ngành, đểtính toán các thông số có liên quan đến đối tượng từ đó tìm ra các quy luậtcủa đối tượng
Phương pháp toán học giúp cho quá trình nghiên cứu đi đúng hướng,nhất quán, hệ thống và mạch lạc trong việc trình bày kết quả nghiên cứu, nhờ
đó, các kết luận của công trình nghiên cứu có tính thuyết phục cao
Phương pháp toán học được vận dụng chủ yếu vào khâu thực nghiệm
và đánh giá quá trình thực nghiệm trong đề tài
8 Đóng góp của đề tài
Đề tài là quá trình nghiên cứu làm sáng tỏ lý luận về đổi mới phươngpháp dạy học bộ môn Địa lý ở trường phổ thông Đổi mới phương pháp dạyhọc hiện nay đang trở thành một phong trào rộng rãi trong ngành giáo dục nóichung và trong các trường học phổ thông nói riêng Việc dạy học bộ môn Địa
lý cũng bắt nhịp và trở thành một mục tiêu quan trọng trong việc nâng caohiệu quả dạy học bộ môn
Đề tài là sự đóng góp nhiệt tình vào việc thúc đẩy thực hiện phong tràođổi mới phương pháp dạy học bộ môn Địa lý, đặc biệt góp phần cụ thể hóa
Trang 15những lý thuyết đổi mới phương pháp, đưa các phương pháp dạy học bộ mônphát huy hiệu quả tối ưu của chúng.
Trong thực tiễn dạy học bộ môn, đề tài đã góp phần phát hiện ra nhữngthiếu sót trong việc thực hiện các quá trình đổi mới dạy học, trong các thaotác vận dụng các phương pháp, phương tiện dạy học tích cực vào dạy học Địa
lý ở trường phổ thông Đó là thiếu sót trong việc khai thác kênh hình, kênhthông tin hết sức quan trọng của nội dung sách giáo khoa Kênh hình ẩn chứatrong đó kiến thức Địa lý, kĩ năng Địa lý đối với cả giáo viên và học sinh,đồng thời ẩn chứa phương pháp dạy học Hiện nay rất nhiều trường hợp dạyhọc môn Địa lý ở trường phổ thông, cả giáo viên và học sinh đều chú trọng,hay nói cách khác là lệ thuộc vào nội dung bài viết chính, đồng thời cũng lãngquên hoặc không quan tâm đúng mức đến hệ thống kênh hình trong SGK
Nguyên nhân chính nằm ở những rào cản cơ bản trong quá trình vận dụngcác phương pháp, phương tiện dạy học bộ môn để đổi mới quá trình dạy học.Những rào cản đó có thể xuất phát từ các yếu tố chủ quan hoặc khách quan
Về khách quan, vấn đề hoàn thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ quátrình dạy học bộ môn ở trường phổ thông còn thiếu thốn, bất cập làm cho cả giáoviên và học sinh đều nhận thấy trở ngại khi sử dụng các phương pháp, phươngtiện dạy học nhằm thực hiện quá trình đổi mới trong dạy và học bộ môn
Về chủ quan, bản thân các thế hệ giáo viên được đào tạo để công tác ởcác trường phổ thông có trình độ khác nhau, vì thế năng lực tiếp thu, vậndụng các phương pháp, phương tiện dạy học tích cực vào việc đổi mới dạyhọc bộ môn gặp những khó khăn nhất định Trong khi, chủ thể của các quátrình dạy học là học sinh với một bộ phận không nhỏ luôn xem Địa lý là mộtmôn phụ, ít quan tâm đến việc học tập chuyên sâu bộ môn này Đó cũng làmột yếu tố chủ quan làm cho công tác đổi mới trong dạy học bộ môn gặpnhiều khó khăn
Trang 16Từ việc phát hiện ra những điểm bất cập đó, tác giả đã mạnh dạn đưa ranhững giải pháp nhằm góp phần khắc phục tình trạng trên trong dạy học Địa
lý ở trường phổ thông, mà cụ thể là việc khai thác có hiệu quả các kênh thôngtin trong sách giáo khoa một cách đầy đủ, thống nhất
9 Giả thuyết khoa học
Các bài giảng Địa lý lớp 11 – BCB được sử dụng tối ưu hóa các loạiphương tiện, thiết bị dạy học địa lý vào việc khai thác tối đa kênh hình trongsách giáo khoa bên cạnh các kênh thông tin khác tạo nên hiệu quả cao trongdạy học bộ môn Đó là việc tiếp thu một cách đầy đủ, chính xác, hệ thống nộidung kiến thức Địa lý, đồng thời nắm được các kĩ năng Địa lý cơ bản Qua
đó, chất lượng dạy học bộ môn Địa lý lớp 11 – BCB cũng như chương trìnhĐịa lýTHPT được nâng cao
10 Kế hoạch thực hiện đề tài
Vấn đề nghiên cứu đã được tác giả phát hiện trong quá trình học tập,nghiên cứu bộ môn Địa lý trong trường đại học cũng như thông qua tiếp cận,điều tra tình hình dạy học bộ môn Địa lý trong các nhà trường THPT Đây làmột vấn đề mới xuất hiện đi kèm với quá trình đổi mới nội dung chương trìnhsách giáo khoa cũng như đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông
Đề tài bắt đầu được tiến hành nghiên cứu từ tháng 02 năm 2011, vàđược triển khai trong suốt 4 tháng với quá trình điều tra, thực tiễn, thu thập, xử lý,phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và xây dựng cơ sở lý thuyết cho đề tài
Sau khi đã hoàn thiện cơ sở lý thuyết, quá trình thực nghiệm được thựchiện kết hợp trong thời gian thực tập sư phạm ở trường phổ thông Công việcthực nghiệm bao gồm giảng dạy, kiểm tra, đánh giá kết quả, nhận xét, kếtluận thực nghiệm Thông qua đó để đề xuất các giải pháp phù hợp trong việc
áp dụng đề tài vào thực tiễn giảng dạy
Công việc cuối cùng là tổng kết và hoàn thiện đề tài được thực hiện vàođầu tháng 5 năm 2011
Trang 17Báo cáo kết quả: ngày 21 tháng 5 năm 2011.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạmPhần C: Tổng kết
Trang 181.1.1 Cơ sở của việc đổi mới dạy học Địa lý ở trường phổ thông
1.1.1.1 Hoạt động dạy - học trong trường phổ thông
Quá trình dạy học (QTDH) là một quá trình dưới sự hướng dẫn, tổchức, điều khiển của giáo viên, học sinh tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo,biết tự tổ chức, tự điều khiển hoạt đông nhận thức, học tập của mình nhằmthực hiện tốt các mục tiêu dạy học
- Dạy là quá trình tổ chức nhận thức cho học sinh của người giáo viên,
bản chất của dạy học là tổ chức các tình huống học tập, các tình huống gia cốtrong đó học sinh sẽ hoạt động tích cực dưới sự hướng dẫn của giáo viênnhằm đạt được chất lượng và hiệu quả dạy học Trong quá trình này, học sinhluôn luôn phải hoạt động tích cực, giáo viên luôn tăng cường cũng cố kiếnthức cho học sinh, khen thưởng, xác nhận một cách kịp thời
- Học (hoạt động học tập) là một quá trình hoạt động tự giác, tích cực
của học sinh nhằm lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, phát triển trí tuệ, thể chất
và hình thành nhận cách của bản thân Như vậy, học là một hoạt động nhằmthay đổi, phát triển bản thân mình cho phù hợp với yêu cầu của xã hội Nóimột cách khác, học là nhằm biến những yêu cầu của xã hội thành những phẩmchất và năng lực của cá nhân
Sự thống nhất của hai quá trình này đi đến một hệ thống các quan hệdạy học theo sơ đồ sau:
Trang 19Sơ đồ 1: CHỨC NĂNG CỦA HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
Sơ đồ 2: MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC THÀNH TỐ TRONG
Môi trường giáo dục
(Theo Đặng Văn Đức – Lý luận dạy học Địa lý – NXB ĐH Sư Phạm,
2007)
Trang 20Hoạt động dạy học ở trường phổ thông với những đặc trưng của nó là
cơ sở để thực hiện các quá trình đổi mới dạy học
1.1.1.2 Những đổi mới trong dạy học Địa lý ở trường phổ thông
Hiện nay, ngành giáo dục và đào tạo đang tập trung vào việc đổi mớiphương pháp dạy học ở các bậc học Đổi mới phương pháp dạy học là quátrình thay đổi từ mục tiêu đến nội dung, phương pháp, phương tiện,… Về cơbản, vấn đề đổi mới nhằm đưa học sinh vào vị trí trung tâm của mọi quá trìnhdạy học, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học
Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện
về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẫm mĩ và các kĩ năng cơ bản nhằm phát triển
nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, những con người “lao động
tự chủ, năng động và sáng tạo, có năng lực giải quyết những vấn đề do thực tiễn đề ra, tự lo liệu được việc làm, lập nghiệp và thăng tiến trong cuộc sống”, xây dựng phát triển tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị
cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xâydựng và bảo vệ Tổ quốc
Với chức năng của mình, môn Địa lý trong nhà trường phổ thông có thểgóp phần hình thành được những mục tiêu cơ bản đó
Cùng với sự thay đổi không ngừng của thực tế cuộc sống, dạy học Địa
lý trong nhà trường cũng phải thay đổi để kịp thời thích nghi và đáp ứngnhững yêu cầu mới Bắt nhịp với sự sôi động của cuộc sống, của tự nhiên,kinh tế và xã hội, nội dung kiến thức Địa lý cũng thay đổi, phù hợp phongtrào đổi mới trong dạy học ở trường phổ thông
Địa lý vốn là một khoa học tổng hợp, cho phép người học có đủ nhữngkiến thức toàn diện về tự nhiên, kinh tế và xã hội ở mỗi nơi trên toàn trái đất,dựa trên cơ sở tư duy lãnh thổ Việc nắm bắt được kiến thức, khả năng họctập nghiên cứu bộ môn theo phương pháp tích cực nhất luôn được quan tâm
Trang 21để việc học tập bộ môn đạt hiệu quả cao Đổi mới trong dạy học Địa lý khôngnằm ngoài mục đích đó.
Hiện nay, khi SGK Địa lý phổ thông đã được đổi mới, mọi kênh thôngtin được trình bày trong SGK đều ẩn chứa nội dung kiến thức, kĩ năng,phương pháp dạy học nhất định ở trong đó Bởi vậy, cả giáo viên và học sinhđều phải nắm bắt một cách linh hoạt những dụng ý tàng ẩn trong cách trìnhbày của SGK về cả kiến thức, kĩ năng, phương pháp để thực hiện được ý địnhđổi mới dạy học bộ môn của các tác giả, những nhà nghiên cứu đầu ngành của
bộ môn này
1.1.1.3 Những đổi mới của SGK Địa lý phổ thông
SGK Địa lý là tài liệu chính của nhà nước quy định hệ thống kiến thức,
kĩ năng địa lý phù hợp với mục đích, yêu cầu dạy học bộ môn trong nhàtrường phổ thông Toàn bộ nội dung SGK Địa lý là những tri thức Địa lýđược lựa chọn, được cấu trúc phù hợp với tính hệ thống của khoa học Địa lý,với yêu cầu của nhà trường và những quy luật về tâm – sinh lý của học sinh
SGK Địa lý có vai trò là nguồn cung cấp những kiến thức Địa lý cơ bảncần thiết nhất do chương trình quy định đối với mỗi lớp học Là công cụ giúphọc sinh rèn luyện các kĩ năng và phương pháp học tập bộ môn
Trong cải cách giáo dục vừa qua, SGK các bộ môn được biên soạn lạitheo tinh thần đổi mới: sách riêng cho học sinh, do đó có điều kiện thể hiệnđầy đủ tính sư phạm
Điểm đổi mới nổi bật trong SGK Địa lý hiện nay chính là sự xuất hiệnmột cách đa dạng, phong phú của kênh hình Đó là sự chuyển đổi một phầnkiến thức từ kênh chữ sang dạng trực quan hoá, làm cho kiến thức trong SGKtrở nên đa dạng, ẩn chứa kiến thức, kĩ năng và phương pháp dạy học bộ môn
Nội dung học tập trong sách giáo khoa trước kia được thể hiện hoàntoàn bằng chữ, nay được chọn lọc, rút gọn, và chuyển một phần sang các hình
Trang 22vẽ, sơ đồ, lược đồ kèm theo Ví dụ: trong bài 10, SGK Địa lý 11, người ta không
mô tả đặc điểm về phân bố dân cư của Trung Quốc, mà chỉ trình bày một lược đồ
về phân bố dân cư và đặt câu hỏi: “Quan sát hình 10.4 và dựa vào kiến thức trong
bài, nhận xét và giải thích sự phân bố dân cư Trung Quốc?”…
Như vậy, học sinh buộc phải dựa vào hình vẽ để hình thành kiến thức
về đặc điểm phân bố dân cư của Trung Quốc Đối với các nội dung kiến thứckhác hoặc ở các lớp khác, SGK cũng đều được biên soạn theo tinh thần nhưvậy nhằm hướng học sinh vào việc rèn luyện kĩ năng sử dụng các loại bản đồ,biểu đồ, hình vẽ, tranh ảnh,… nhờ đó học sinh lĩnh hội kiến thức một cáchtích cực, vững chắc hơn
Những đổi mới của SGK Địa lý hiện nay là cơ sở quan trọng để tác giảlấy đó làm căn cứ triển khai nghiên cứu đề tài
1.1.1.4 Thiết kế bài giảng Địa lý theo hướng đổi mới
Liên quan đến vấn đề đổi mới trong dạy học bộ môn Địa lý nói chung,đổi mới nội dung SGK Địa lý nói riêng, việc cụ thể hóa quá trình đổi mới dạyhọc thể hiện rất rõ qua các thiết kế bài giảng
Trong thiết kế bài giảng, giáo viên có thể thể hiện ý đồ đổi mới củamình nhằm mục tiêu đưa học sinh vào vị trí trung tâm của mọi quá trình dạyhọc Cụ thể hoá quá trình đổi mới trong dạy học bộ môn, các giáo án biênsoạn theo hướng tích cực, ứng dụng những thành tựu của khoa học kĩ thuậtvào trong dạy học là một trong những biểu hiện giúp nâng cao hiệu quả dạyhọc bộ môn
Đi tiên phong trong việc soạn giảng các giáo án theo hướng đổi mớidạy học bộ môn là các loại bài giảng thiết kế dựa trên những ứng dụng CNTT.Nhiều ứng dụng CNTT được sử dụng rất hữu hiệu trong việc thiết kế bàigiảng Địa lý, đó là các phần mềm trong bộ ứng dụng Microsoft, các video,phim giáo khoa và phần mềm khác có nội dung địa lý, cho phép chuyển tải
Trang 23kiến thức ở các dạng khác nhau từ kênh chữ đến các hình ảnh tĩnh, động, cácđoạn phim, video, …
Thực tế cho thấy, những bài giảng có ứng dụng CNTT đã thể hiện rõhiệu quả của nó trong việc nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Địa lý trongnhà trường phổ thông
Hiện nay, phần lớn các trường phổ thông đã đưa những ứng dụng củaCNTT vào trong dạy học, đó là cơ sở để giáo viên từng bước sử dụng giáo ánđiện tử vào giảng dạy Những đổi mới đó cũng là cơ sở để tác giả có điều kiệnthuận lợi tiến hành nghiên cứu đề tài
1.1.2 Kênh hình trong SGK Địa lý THPT
1.1.2.1 Khái niệm kênh hình
Như đã đề cập đến ở nội dung đổi mới SGK Địa lý phổ thông, kênhhình là một kênh thông tin quan trọng, bao gồm bản đồ, lược đồ, sơ đồ, hình
vẽ, bảng thống kê, biểu đồ, tranh ảnh ẩn chứa nội dung kiến thức, kĩ năngcũng như phương pháp dạy học Địa lý Kênh hình là một trong những bộphận nội dung kiến thức, kĩ năng được chọn lọc, trình bày thay cho kênh chữtrong mỗi bài học
Kênh hình kà sự thể hiện một cách trực quan bằng hình ảnh, biểu tượngcác nội dung kiến thức Địa lý mà ở nhiều nội dung kiến thức nó mang lại hiệuquả lĩnh hội kiến thức, kĩ năng Địa lý đạt hiệu quả cao hơn đối với học sinh
1.1.2.2 Vai trò của kênh hình trong dạy học Địa lý
Kênh hình là một kênh thông tin trực quan Kiến thức ở kênh hìnhkhông được trình bày rõ ràng trên mặt chữ mà nó tàng ẩn phía sau những hìnhảnh, những bản đồ, biểu đồ, sơ đồ, bảng biểu, Để nắm được kiến thức tàng
ấn đó, yêu cầu học sinh phải nắm được kiến thức địa lý cơ bản cũng như kĩnăng địa lý cần thiết
Trang 24Là một kênh thông tin quan trọng, kênh hình có vai trò chuyển tải một
số nội dung kiến thức và kĩ năng địa lý tương ứng có chọn lọc và tinh gọn.Thông qua việc tiếp cận, khai thác kênh hình, học sinh có thể nắm được mộtcách đầy đủ, toàn diện những kiến thức cơ bản, đồng thời hình thành và rènluyện những kiến thức địa lý cần thiết
Kênh hình góp phần phát triển ở học sinh thế giới quan khoa học, nănglực thẫm mĩ, óc quan sát, óc phát hiện khám phá, trí tò mò, từ đó sẽ kích thích
tư duy sáng tạo ở học sinh, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi học sinh trunghọc phổ thông
Bên cạnh đó, kênh hình là một trong những yếu tố thu hút sự tập trung chú
ý của học sinh, từ đó kích thích ở học sinh hứng thú học tập đối với bộ môn
Kênh hình ở những khía cạnh nhất định của nó có sự liên kết chặt chẽvới kênh chữ trong SGK Việc học tập kiến thức, kĩ năng địa lý bằng hệ thốngkênh hình còn giúp học sinh rèn luyện tư duy lôgic có hệ thống
Kênh hình đối với giáo viên, đó là một trong những yếu tố cơ sở đểthiết kế bài giảng theo hướng đổi mới Rõ ràng, đưa kênh hình vào SGK mộtcách đa dạng, phong phú chính là sự đa dạng hóa phương pháp dạy học bộmôn Trên cơ sở đó, giáo viên nắm bắt được dụng ý phương pháp ẩn chứađằng sau hệ thống các kênh thông tin trong SGK mà thiết kế bài giảng, tổchức dạy học sao cho đạt hiệu quả cao nhất Đặc biệt là hiệu quả khai tháckênh hình
Sự đa dạng của kênh hình trong SGK là lợi thế để giáo viên sử dụngcác loại phương tiện thiết bị dạy học, tạo nên những điểm nhấn trong quátrình dạy học, làm cho việc biên soạn nội dung bài giảng trở nên tinh gọn màvẫn đạt được mục tiêu dạy học đặt ra, đồng thời nâng cao hiệu quả dạy bộmôn
Trang 25Đây là một trong những vai trò quan trọng, là cơ sở để đổi mới trong dạy họcĐịa lý với mục đích hướng vào học sinh – trung tâm của các quá trình dạy học.
1.1.2.3 Phân loại kênh hình
Kênh hình trong SGK Địa lý phổ thông được đưa vào rất đa dạng,phong phú Nếu đựa trên cơ sở các loại kĩ năng Địa lý cần rèn luyện cho họcsinh thì có thể phân chia kênh hình thành các loại: bản đồ, lược đồ; tranh ảnh(ảnh và hình vẽ); sơ đồ; bảng thống kê và biểu đồ
- Bản đồ là hình ảnh trực quan thu nhỏ thể hiện một cách bao quátnhững khu vực lãnh thổ rộng lớn, những vùng lãnh thổ xa xôi trên bề mặt TráiĐất Bản đồ phản ánh sự phân bố và những mối quan hệ của các đối tượng địa
lý trên bề mặt Trái Đất thông qua hệ thống ngôn ngữ bản đồ như kí hiệu, màusắc, biểu tượng, các hình thức thể hiện khác, được xây dựng trên hệ thốnglưới kinh – vĩ tuyến
Trong SGK Địa lý mới, hệ thống bản đồ, lược đồ rất phong phú baogồm bản đồ, lược đồ tự nhiên, kinh tế - xã hội của thế giới, châu lục, khu vực,quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới Ví dụ: Hình 11.1 (Trang 98 – SGK Địa
lý 11) Địa hình và khoáng sản Đông Nam Á.
- Tranh ảnh bao gồm ảnh chụp và hình vẽ là những hình ảnh trực quan
về các đối tượng, sự vật, hiện tượng địa lý, hình ảnh về vật thật mô tả một sốđặc điểm và thuộc tính của các sự vật, hiện tượng đó Ví dụ: Hình 8.2 (Trang
63 – SGK Địa lý 11) Hồ Bai-can, hồ nước ngọt sâu nhất thế giới.
Hệ thống tranh ảnh trong SGK Địa lý khá phong phú và đa dạng, tạonên tính đa dạng của các kênh thông tin, kiến thức và góp phần đa dạng hóacác kĩ năng Địa lý cần hình thành cho học sinh cũng như đa dạng hoá cácphương pháp dạy học của giáo viên
- Sơ đồ là hình vẽ thể hiện mối quan hệ của các yếu tố trong một hệthống biểu hiện đặc điểm, tính chất, cấu trúc của một đối tượng, hiện tượng
Trang 26địa lý nào đó Ví dụ: Hình 7.4 Các cơ quan đầu não của EU (SGK Địa lý lớp
11 – BCB, trang 49).
- Bảng thống kê là một hệ thống số liệu có mối quan hệ nhất định vớinhau được tập hợp lại thành bảng thể hiên một số thuộc tính của một hoặc
nhiều đối tượng, hiện tượng địa lý Ví dụ : Bảng 6.3 GDP của Hoa Kì và một
số châu lục năm 2004 (SGK lớp 11 – BCB, trang 41)
- Biểu đồ là hình ảnh trực quan biểu hiện các mối quan hệ giữa các số
liệu bằng hình vẽ Ví dụ : Hình 8.3 Tháp dân số LB Nga năm 2004 (SGK Địa
lý 11 – BCB, trang 64)
Như vậy hệ thống kênh hình trong SGK Địa lý THPT khá đa dạng,phong phú Có thể nói, với sự thể hiện đa dạng đó, kênh hình cũng đã khẳngđịnh rõ vai trò không kém phần quan trọng so với kênh chữ, thậm chí còn rấtquan trọng trong việc chuyển tải nội dung kiến thức và kĩ năng dối với quátrình nhận thức của học sinh
1.1.2.4 Mối liên hệ giữa kênh hình và các kênh thông tin khác trong SGK Địa lý phổ thông
Kênh hình là một trong hai kênh thông tin cơ bản và quan trọng củaSGK Địa lý THPT Giữa kênh hình và kênh chữ luôn có mối liên hệ hết sứcmật thiết
Kênh hình chiếm một vị trí đáng quan tâm trong SGK, với vai trò, chứcnăng quan trọng trước nhất là một nguồn khai thác thông tin Khi đó kênhhình cùng với kênh chữ có thể bổ sung cho nhau, hoàn thiện lẫn nhau trongviệc cung cấp một hệ thống tri thức và kĩ năng cần thiết, cơ bản và hoàn chỉnhcho học sinh trong mỗi bài học
Kênh hình với vai trò là một hệ thống minh hoạ kiến thức, thì lúc nàychúng là một trong những kênh phát ngôn bằng hình ảnh trực quan của kênh chữ
Trang 27Giữa các loại kênh hình với nhau cũng luôn có các mối liên hệ Rõràng, chúng nằm trong một hệ thống hoàn chỉnh của bài học, có khả năng pháttriển kế tiếp nhau các đơn vị kiến thức trong bài.
Như vậy, kênh hình liên hệ rất mật thiết với kênh chữ và kết hợp vớinhau rất chặt chẽ, nhằm phối hợp các kiến thức và kĩ năng để có thể cung cấp
và rèn luyện cho học sinh một cách hiệu quả nhất
1.1.3 Công nghệ thông tin và những ứng dụng của nó trong dạy học Địa lý ở trường phổ thông
1.1.3.1 Khái niệm công nghệ thông tin
- Công nghệ có thể hiểu là: ‘‘Phát triển và ứng dụng của các dụng cụmáy móc, nguyên liệu và quy trình để giúp đỡ, giải quyết những vấn đề củacon người Nó thể hiện kiến thức của con người trong giải quyết các vấn đềthực tế để tạo ra các dụng cụ, máy móc nguyên liệu hoặc quy trình tiêuchuẩn’’
- Công nghệ thông tin (Information Technology) là ngành ứng dụngcông nghệ quản lý và xử lý thông tin, đặc biệt là trong các cơ quan tổ chứclớn Có thể hiểu ‘‘Công nghệ thông tin là ngành sử dụng máy tính và phầnmềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, thu thập và truyền thôngtin’’
1.1.3.2 Vai trò của việc ứng dụng CNTT trong dạy học Địa lý
Theo quan điểm cấu trúc - hệ thống thì phương tiện, thiết bị dạy học làmột nhân tố trong quá trình dạy học, nó cùng với các nhân tố khác: mục đích,nhiệm vụ, nội dung dạy học, hoạt động của giáo viên - học sinh tạo thành mộtthể hoàn chỉnh và có quan hệ biện chứng thúc đẩy quá trình dạy học đạt tớimục đích nhất định Vì vậy việc vận dụng và tiến hành các phương pháp dạyhọc không thể tách rời việc sử dụng các phương tiện dạy học
Trang 28Ứng dụng CNTT vào dạy học là một quá trình sử dụng các phươngtiện, thiết bị CNTT nhằm phục vụ các quá trình dạy học Việc ứng dụngCNTT vào dạy học Địa lý có một vai trò hết sức to lớn.
- CNTT có chức năng thu thập, xử lý, lưu trữ, và truyền thông tin, vìvậy, việc ứng dụng CNTT vào dạy học Địa lý ở trường phổ thông có vai tròchuyển tải một khối lượng rất lớn kiến thức địa lý ở nhiều dạng khác nhauđến với học sinh
- Ngoài những tri thức địa lý có sẵn trong SGK và các tài liệu thamkhảo, CNTT là công cụ để cập nhật một lượng rất lớn các thông tin kiến thứcđịa lý mới nhằm bổ sung, mở rộng thêm Từ đó, kiến thức địa lý trong trườngphổ thông được phong phú hoá, bắt kịp với những biến động nhanh chóng vàphức tạp của thế giới tự nhiên và kinh tế - xã hội ở mọi nơi trên Trái Đất
- Các ứng dụng CNTT là biểu hiện trình độ và trí tuệ cao của con ngườitrong mọi hoạt động của cuộc sống Trong dạy học Địa lý cũng vậy, đó là mộtcách thông minh giúp các quá trình dạy học diễn ra thuận lợi, tạo hiệu quả caođối với việc lĩnh hội tri thức, kĩ năng của học sinh Trong tâm lý lứa tuổi họcsinh, các bài giảng khắc sâu với các em phải là những bài giảng lưu lại ở các
em nhiều ấn tượng nhất Ấn tượng về hình ảnh, màu sắc, những cái gì mới lạ,trực quan và sinh động CNTT làm được điều đó khi các ứng dụng của nó chophép chuyển tải đến học sinh những kiến thức địa lý bằng nhiều kênh thôngtin khác nhau: kênh chữ, kênh hình, thu hút được hứng thú học tập ở các em,
là điều kiện để việc lĩnh hội kiến thức kĩ năng đạt kết quả cao nhất
- Thông qua việc sử dụng các thiết bị dạy học có ứng dụng CNTT, giáoviên còn giúp học sinh đào sâu những tri thức đã lĩnh hội được và kích thíchhứng thú nhận thức, năng lực quan sát, phân tích, tổng hợp để rút ra đượcnhững kết luận cần thiết có độ tin cậy
Trang 29- Các ứng dụng CNTT trong dạy học Địa lý là những phương tiện rấthữu ích không chỉ giúp học sinh lĩnh hội tri thức mà còn giúp học sinh rènluyện các kĩ năng địa lý một cách thuận lợi nhất Các bài giảng ứng dụngCNTT là phương tiện trực quan nhất giúp học sinh hình thành và rèn luyệnnhững kĩ năng, kĩ xảo địa lý cơ bản, đồng thời giúp hình thành ở các em thếgiới quan, óc khoa học, thẩm mĩ, đức tính kiên trì, chủ động, tự giác,
- Các ứng dụng CNTT là những thành quả khoa học tiến bộ của nhânloại, giúp mọi quá trình tìm kiếm, trao đổi thông tin diễn ra nhanh chóng vàthuận tiện Ứng dụng vào dạy học Địa lý trong nhà trường, CNTT tạo điềukiện cho cả giáo viên và học sinh được tiếp cận, làm việc với các phương tiện,thiết bị hiện đại, giúp khai thác thông tin, tri thức một cách đa dạng, phongphúi từ nhiều nguồn khác nhau và tiếp nhận các tri thức hiệu quả nhất, hìnhthành cho giáo viên và học sinh tính năng động, nhạy bén, kịp thời nắm bắt,
xử lý thông tin chính xác Đó là điều kiện để đào tạo những con người mới đủnăng lực và phẩm chất để đáp ứng sự phát triển nhanh của xã hội trong thờiđại mới
- Bên cạnh đó, sử dụng CNTT trong dạy học cũng giúp cho giáo viên
có thêm những điều kiện thuận lợi để trình bày bài giảng một cách tinh giản,đầy đủ, sâu sắc, điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh cũng nhưkiểm tra, đánh giá kết quả học tập được thuận lợi hơn, có hiệu quả hơn
- Đưa CNTT vào dạy học Địa lý là điều kiện thuận lợi để giáo viênthực hiện các biện pháp đổi mới phương pháp dạy học bộ môn, phù hợp với
xu hướng và yêu cầu phát triển của thời đại
1.1.3.3 Các phương tiện, thiết bị CNTT được vận dụng để khai thác kênh hình trong SGK Địa lýlớp 11 - BCB
Quá trình dạy học môn Địa lý ở trường phổ thông không tách rời việc
sử dụng các loại phương tiện, thiết bị dạy học Địa lý Tuy nhiên, trong hệ
Trang 30thống các loại phương tiện, thiết bị dạy học địa lí đa dạng và phong phú,không phải phương tiện nào cũng được sử dụng có hiệu quả vào mục đíchkhai thác kênh hình CNTT cũng là một bộ phận trong hệ thống các loạiphương tiện, thiết bị dạy học Địa lý tỏ rõ vai trò quan trọng của mình trongviệc nâng cao chất lượng dạy học bộ môn và khai thác có hiệu quá kênh hìnhtrong SGK Địa lý nói chung và SGK Địa lý lớp 11 – BCB nói riêng.
Là một nhóm các thiết bị kĩ thuật phục vụ dạy học Địa lý, các thiết bịCNTT bao gồm các máy móc, thiết bị giúp cho việc dạy học Địa lý đạt hiệuquả cao về cả tốc độ, thời gian, khối lượng kiến thức cũng như chất lượngtrong quá trình lĩnh hội tri thức của học sinh Các thiết bị đó là máy chiếu,máy phóng hình, máy vi tính, vô tuyến truyền hình, phim, video, các phầnmềm,… có nội dung Địa lý
Đây là hệ thống các phương tiện, thiết bị dạy học phản ánh được tínhtrực quan, sinh động của những kiến thức địa lý được trình bày dưới dạnghình ảnh, biểu tượng Chúng hỗ trợ đắc lực cho việc chuyển tải và sinh độnghoá kênh hình trong SGK đến với học sinh trong quá trình dạy học bộ môn
1.1.3.4 Ý nghĩa của việc ứng dụng CNTT để khai thác kênh hình trong SGK Địa lý THPT
Như chúng ta đã biết, kênh hình là một kênh thông tin trực quan, baogồm các hình ảnh, bản đồ, biểu đồ, bảng biểu, Bằng lời giảng của giáo viênkhông thể chuyển tải hết kiến thức và tính trực quan thể hiện qua những hìnhảnh đó một cách tối ưu nhất CNTT được sử sụng trong các bài giảng là lợithế để kênh hình được khai thác có hiệu quả hơn cả
Các ứng dụng CNTT có nhiều tính năng vượt trội, có khả năng đưa vàodạy học bộ môn một khối lượng những kiến thức đa dạng trong đó có kênhhình Với các thiết bị, các phần mềm cho phép thu thập, xử lý, trình chiếu cáchình ảnh tĩnh, động một cách đẹp mắt, hấp dẫn và sống động, các ứng dụng
Trang 31CNTT trong dạy học đã góp phần làm nổi bật hệ thống kênh hình trong SGKĐịa lý mà với bất cứ một phương tiện trực quan nào cũng không thế hiệnđược rõ điều đó Đó là ưu thế vượt trội của các ứng dụng CNTT trong khaithác kênh hình mà từ trước đến nay kênh thông tin này vẫn ít được quan tâmđến.
Kênh hình trong SGK Địa lý bao gồm nhiều loại bản đồ, sơ đồ, hìnhảnh, với các phương tiện dạy học truyến thống như bản đồ, tranh ảnh treotường, không thế phát huy tối ưu khả năng khai thác chúng Ứng dụngCNTT vào dạy học là điều kiện thuận lợi nhất để trình chiếu hệ thống kênhhình đa dạng, phong phú trong SGK với kích thước lớn, rõ ràng, đẹp mắt, thuhút hứng thú học tập của học sinh
Các ứng dụng CNTT còn giúp bổ sung, thêm mới hoặc làm rõ rànghơn, sinh động hơn các dạng kênh hình trong SGK, làm cho nội dung các bàihọc được phong phú hoá, hiệu quả dạy học do đó cũng được nâng lên rõ rệt
Ví dụ, với hình 3: Hiện tượng tràn dầu trên biển (SGK Địa lý 11 – BCB,
trang 15), giáo viên có thể thu thập và đưa vào những hình ảnh khác về sự cốtràn dầu để bổ sung, làm rõ nguyên nhân, thực trạng và hậu quả của hiệntượng này Qua đó giúp học sinh có nhận thức sâu sắc hơn về kiến thức trongbài
Thay vì chỉ giữ vai trò là hệ thống kiến thức minh họa thì dưới sự vậndụng chức năng của các ứng dụng CNTT, hệ thống kênh hình trở thành nhữngnguồn tri thức, kĩ năng quan trọng trong SGK, một trong những mục tiêu cầnhướng đến của học sinh
Hình ảnh luôn luôn là những phương tiện trực quan sinh động có tácdụng rất quan trọng đối với quá trình hình thành, phát triển thế giới quan ởhọc sinh Ứng dụng CNTT vào khai thác kênh hình chính là con đường ngắnnhất để hình thành biểu tượng, kiến thức một cách chính xác và thế giới quankhoa học sinh động cho học sinh
Trang 32Có thể nói sử dụng các phương tiện, thiết bị dạy học Địa lý để khai tháckênh hình trong SGK Địa lý là một quá trình thổi hồn vào kênh hình, làm chonhững hình ảnh đó trở thành điểm nhấn của các bài học, có khả năng cuốn húthứng thú học tập của học sinh Đó cũng là một trong những nhân tố góp phầnnâng cao hiệu quả học tập, nghiên cứu, giảng dạy bộ môn và là một trongnhững cơ sở quan trọng của quá trình đổi mới trong dạy học bộ môn Địa lý ởtrường phổ thông.
1.1 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 Đặc điểm tâm – sinh lý lứa tuổi học sinh THPT
Lứa tuổi học sinh THPT là lứa tuổi đầu thanh niên, đã đạt được những
sự trưởng thành về thể lực và phát triển tương đối về tâm lý Trong sinh lý lứatuổi này, hệ thần kinh có những thay đổi quan trọng do cấu trúc bên trong củanão phức tạp và các chức năng của não phát triển Điều đó tạo tiền đề cầnthiết cho sự phức tạp hoá hoạt động phân tích, tổng hợp của não trong quátrình học tập của học sinh
Các em rất nhạy bén với những thay đổi của mọi sự vật hiện tượngtrong cuộc sống, đặc bệt là những thay đổi có tính nổi bật như màu sắc, hìnhkhối, những rung động, những hiện tượng lạ hoặc đẹp mắt Chúng có tác độngrất lớn đối với sự phát triển tư duy và óc tưởng tượng của học sinh Đó là cơ
sở để hình thành thế giới quan, óc thảm mĩ cho các em
Nắm được những đặc điểm tâm – sinh lý của học sinh THPT, việc ứngdụng CNTT vào dạy học bộ môn Địa lý nói chung và kênh hình trong SGKnói riêng, chính là biện pháp có ưu thế để nâng cao hiệu quả dạy học bộ môndựa trên cơ sở tâm lí lứa tuổi học sinh
1.2.2 Thực trạng của việc ứng dụng CNTT để khai thác kênh hình trong SGK Địa lý lớp 11 – BCB ở các trường THPT
Trang 331.2.2.1 Thực trạng khai thác kênh hình trong SGK Địa lý lớp 11 – BCB ở các trường THPT hiện nay
Mỗi bài học trong SGK Địa lý thông thường được trình bày bằng haikênh thông tin: kênh chữ và kênh hình Kênh chữ có chức năng chuyển tải nộidung bài viết chính, các loại câu hỏi, bài tập Kênh hình chuyển tải một bộphận nội dung kiến thức của bài học, với rất nhiều chức năng Có thể là một
số bản đồ, biểu đồ, hình ảnh, bảng biểu, Bên cạnh những kiến thức cơ bản,kênh hình còn ẩn chứa những kĩ năng Địa lý cần hình thành và rèn luyện chohọc sinh
Tuy vậy, hầu hết giáo viên và học sinh khi dạy - học các bài học trongsách, chỉ chú trọng vào những nội dung mà kênh chữ truyền đạt Kênh hìnhđược sử dụng như một công cụ minh hoạ Có khi chúng bị bỏ qua Cả giáoviên và học sinh đều quên rằng ở những hình ảnh đó còn chứa đựng rất nhiềukiến thức, kĩ năng không thể bỏ qua đối với học sinh Người giáo viên khôngchú trọng vào việc khai thác kênh hình chính là nguyên nhân làm hổng kiếnthức và kĩ năng Địa lý đối với học sinh Thực trạng này diễn ra rất phổ biến ởnhiều trường phổ thông
Theo điều tra ngắn tại trường THPT Trần Phú đối với b lớp: 11A3,10A10 và 10A12 về vấn đề khai thác kênh hình trong SGK cho kết quả nhưsau:
Bảng 1: MỨC ĐỘ KHAI THÁC KÊNH HÌNH CỦA HỌC SINHTRƯỜNG THPT TRẦN PHÚ (ĐỨC THỌ, HÀ TĨNH)
Trang 343 Quan niệm kênh hình là nguồn tri thức 28 20,7
5 Học sinh tự nhận xét bản thân đã nắm vững kĩ năng khai thác kênh hình. 14 10,4
Phần lớn ý kiến của học sinh trình bày cho rằng bản thân đã từng đượchọc về cách khai thác bản đồ, lược đồ, biểu đồ, phân tích bảng số liệu thống
kê, nhưng nắm bắt các kĩ năng khai thác các kênh thông tin này một cáchvững chắc thật sự là điều khó khăn
Qua đó cho thấy, khai thác kênh hình chưa hiệu quả không chỉ ảnhhưởng đến việc lĩnh hội kiến thức đối với học sinh, mà còn làm thiếu hụtnhững kĩ năng Địa lý cơ bản, là phương pháp quan trọng nhất để học tập,nghiên cứu tốt nhất bộ môn
Thực tế của việc khai thác kênh hình đặt ra cho chúng ta những trăn trởcần phải thay đổi Đó chính là việc thay đổi thói quen tiếp cận, xử lý các loạithông tin, khai thác các nguồn tri thức và rèn luyện các kĩ năng Trong dạyhọc Địa lý phổ thông, làm thế nào để khai thác có hiệu quả kênh hình, bêncạnh bài viết chính là một nhiệm vụ quan trọng cần được quan tâm trong việcnâng cao chất lượng học tập bộ môn nói riêng và sự phát triển trí dục toàndiện của học sinh nói chung
1.2.2.2 Thực trạng ứng dụng CNTT để khai thác kênh hình trong SGK Địa lý lớp 11 – BCB hiện nay
Các ứng dụng CNTT trong dạy học ở nước ta đã được triển khai, đẩymạnh từ lâu, nhưng không phải trường phổ thông nào cũng bắt nhịp nhanhchóng với xu hướng đó
Ở các trường phổ thông, việc ứng dụng CNTT để dạy học các bộ môncũng thể hiện nhiều bất cập Các ứng dụng CNTT trong dạy học rất đa dạng
Trang 35phong phú, tuy nhiên không phải ứng dụng nào cũng được khai thác có hiệuquả trong dạy học Bộ môn Địa lý cũng vậy Là một khoa học tổng hợp, mônĐịa lý trong nhà trường cung cấp cho học sinh thế giới quan về các vấn đề địa
lý tự nhiên, địa lý kinh tế - xã hội ở các lãnh thổ khác nhau trên bề mặt TráiĐất Các ứng dụng CNTT phục vụ dạy học Địa lý là phương tiện rất có gía trịtrong việc khai thác có hiệu quả các kênh tông tin, kiến thức của bộ môn.Nhưng, phần lớn các ứng dụng đều chưa phát huy được vai trò, chức năng của
nó để giúp cho các quá trình dạy học bộ môn đạt được kết quả như mongmuốn
Ở nhiều trường phổ thông, các trang thiết bị có ứng dụng CNTT đãđược đưa vào sử dụng, đó cũng là điều kiện thuận lợi để dạy - học Địa lý cókhả năng phát huy được vai trò của mình trong nhà trường phổ thông Nhưngviệc vận dụng triệt để và có hiệu quả các ứng dụng CNTT trong dạy học Địa
lý không phải là việc dễ dàng khi mà một bộ phận không nhỏ cán bộ giáo viêncòn thiếu nhiệt tình và hạn chế trong năng lực sử dụng các thành tựu kĩ thuật
đó Điều đó cũng làm hạn chế hiệu quả dạy học bộ môn trong nhà trường
Việc ứng dụng CNTT vào khai thác kênh hình trong SGK Địa lý là mộtphương pháp hiệu quả, tuy vậy trong thực tế dạy học còn nhiều hạn chế vềtrang thiết bị, phương tiện, kĩ năng sử dụng các thiết bị kĩ thuật của một bộphận không nhỏ giáo viên là những cản trở làm cho việc khai thác kênh hình
và ứng dụng CNTT vào khai thác kênh hình chưa đạt được những kết quả nhưmong muốn Ứng dụng CNTT để khai thác có hiệu quả kênh hình trong SGKĐịa lý lớp 11 – BCB vẫn còn là một vấn đề hiếm gặp trong dạy học Địa lý ởcác trường THPT hiện nay
1.2.3 Những lợi thế của việc ứng dụng CNTT để khai thác kênh hình trong SGK Địa lý THPT
Việc ứng dụng CNTT vào dạy học Địa lý để khai thác kênh hình trongSGK có nhiều điều kiện thuận lợi nhất định làm cơ sở
Trang 36Thứ nhất, hầu hết các trường phổ thông hiện nay đều có trang thiết bịdạy học tương đối phong phú và đa dạng Nhiều trường phổ thông, nhất là cáctrường ở đô thị, hệ thống phương tiện, thiết bị dạy học được hiện đại hoá, đưanhiều loại thiết bị kĩ thuật vào phục vụ quá trình dạy học Hiện nay, hầu hếtcác trường THPT đều có phòng máy vi tính, phòng máy chiếu.
Thứ hai, với chất lượng đào tạo cán bộ giảng dạy ngày càng được chútrọng nâng cao và đổi mới, đội ngũ giáo viên phổ thông hiện nay, nhất là giáoviên trẻ đều có kiến thức, kĩ năng tương đối vững Việc sử dụng các loại thiết
bị kĩ thuật dạy học trở nên dễ dàng hơn
Thứ ba, quá trình đổi mới giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học đang
đi vào giai đoạn phát triển cao, toàn ngành giáo dục rất quan tâm đến hoạtđộng đổi mới giáo dục ở tất cả các cấp học, bậc học Đổi mới phương phápdạy học trở thành một trong những động lực và là điều kiện thuận lợi để đẩymạnh Nâng cao hiệu quả dạy học đối với từng bộ môn, từng lớp học, từng bàihọc, thậm chí từng đơn vị kiến thức, kĩ năng Dạy học địa lý cũng không nằmngoài luồng của đổi mới giáo dục và đổi mới phương pháp dạy học và có điềukiện thuận lợi để các quá trình dạy học bộ môn phát huy được hiệu quả vàchất lượng Việc khai thác kênh hình trong SGK do đó cũng có điều kiệnthuận lợi để phát huy được chức năng của nó, bởi đây là một bộ phận kênhthông tin kiến thức có giá trị lớn trong việc góp phần đổi mới phương phpádạy học
Đối với kênh hình trong SGK Địa lý THPT, việc khai thác chúng trởnên thuận lợi hơn khi mỗi trường học đều có trang thiết bị dạy học đầy đủ, đadạng và hiện đại, có đội ngũ giáo viên vững về chuyên môn, thành thạo về kĩnăng Trong phong trào đổi mới giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học,kênh hình là một trong những biểu hiện quan trọng hàm ý đổi mới Vì vậyviệc khai thác có hiệu quả kênh hình bằng các ứng dụng CNTT chính là làmnổi lên những ẩn ý đổi mới phương pháp trong SGK Địa lý mới
Trang 37Hiện nay, hệ thống các ứng dụng CNTT mới đã được đưa vào phục vụdạy học trong nhà trường, trong đó các ứng dụng CNTT trong dạy học Địa lýcũng hết sức đa dạng, phong phú Cùng với cơ sở trang bị máy móc là cácphần mềm và phương tiện có nội dung địa lý phục vụ đắc lực cho việc dạyhọc bộ môn như các phần mềm trình chiếu, các phim giáo khoa, video, cácphần mềm biên vẽ, thu thập, xử lý thông tin, hình ảnh, địa lý Đó là cơ sởquan trọng nhất để việc ứng dụng CNTT vào việc khai thác kênh hình trongSGK Địa lý phổ thông có hiệu quả cao.
Với các ứng dụng CNTT, hệ thống các loại bản đồ, biểu đồ, tranhảnh, được thu thập, biên vẽ, xử lý trình chiếu một cách trực quan, rõ ràng vàđẹp thay vì các hình ảnh có trong SGK Đó là điểm nổi bật làm cho các bàigiảng có ứng dụng CNTT trở nên hấp dẫn đối với học sinh, làm cho các kênhhình trong SGK phát huy được chức năng và vai trò của chúng
Các ứng dụng CNTT ngoài việc giúp trình chiếu các loại hình ảnh còncho phép biên vẽ, thành lập bổ sung các loại bản đồ, biểu đồ, tranh ảnh, bảngthống kê mới, phù hợp hơn với nội dung bài học trong SGK
Với những điều kiện thuận lợi như vậy, việc ứng dụng CNTT để khaithác kênh hình sẽ đạt hiệu quả cao hơn khi có sự phối hợp nhịp nhàng, chuđáo của cả giáo viên và học sinh trong các quá trình dạy học bộ môn
Trang 38Chương 2: ỨNG DỤNG CNTT ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ KHAI THÁC KÊNH HÌNH TRONG SGK ĐỊA LÝ LỚP 11 – BCB
2.1 ỨNG DỤNG CNTT ĐỂ KHAI THÁC CÁC LOẠI KÊNH HÌNH TRONG SGK ĐỊA LÝ LỚP 11 – BCB
2.1.1 Các dạng kênh hình trong SGK Địa lý 11 – BCB
Kênh hình trong SGK Địa lý lớp 11 – BCB hết sức đa dạng và phongphú, điều đó nói lên rằng chúng có vai trò, vị trí rất quan trọng đối với dạyhọc bộ môn Bảng thống kê sau đây thể hiện rõ sự đa dạng đó
Bảng 2: CÁC LOẠI KÊNH HÌNH TRONG SGK ĐỊA LÝ LỚP 11 –
Trang 39Bảng thống kê trên cho thấy, với số lượng và tỉ lệ cao, chứng tỏ vai trò
và tầm quan trọng của các loại kênh hình là rất lớn
Số lượng bảng số liệu thống kê chiếm tỉ lệ cao nhất sau đó đến tỉ lệtranh ảnh và các bản đồ, biểu đồ Kiến thức địa lý được thể hiện bằng bản đồ,lược đồ, tranh ảnh và biểu đồ là đặc trưng của môn học Nó cho phép trựcquan hoá, sinh động hoá một khối lượng rất lớn kiến thức địa lý thay vìchuyển tải chúng bằng kênh chữ khô cứng, đôi khi trở nên nhàm chán
Số lượng các sơ đồ chiếm tỉ lệ nhỏ nhất do đặc trưng của loại hình ảnhnày chỉ có thể sử dụng để trình bày một số dạng kiến thức phù hợp và kiếnthức trong sơ đồ thường tương đối khó với học sinh phổ thông trong việc khaithác chúng
Dựa trên sự đa dạng, phong phú của kênh hình và những điều kiện vềphương tiên, thiết bị dạy học hiện nay, trong dạy học Địa lý, giáo viên có thểứng dụng CNTT nhằm nâng cao hiệu quả khai thác kênh hình trong SGK
2.1.2 Những ứng dụng của CNTT trong việc khai thác kênh hình
2.1.2.1 Bộ ứng dụng Microsoft Office
a Phần mềm Microsoft Word
Trong bộ phần mềm Microsoft Office, Microsoft Word là một phầnmềm ứng dụng công nghệ được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay cho phép soạnthảo các loại văn bản, bảng biểu, biểu đồ, biên vẽ và xử lý các hình ảnh đơngiản Trong dạy học, phần mềm này được sử dụng làm phương tiện để biênsoạn các giáo án
Đối với việc khai thác kênh hình trong SGK Địa lý, phần mềm này gópphần biên soạn các bảng biểu thống kê, các biểu đồ, tranh ảnh đơn giản
Trang 40b Phần mềm Microsoft Excel
Phần mềm Microft Excel có các tính năng nổi trội như lưu trữ thông tindưới dạng bảng tính, tự động tính toàn theo các số liệu được cập nhật, thựchiện được nhiều phép tính từ đơn giản đến phức tạp Excel cũng có khả năngchuyển các bảng số kiệu thống kê sang dạng biểu đồ một cách chính xác vàkhoa học
Những tính năng đó có khả năng phục vụ rất hiệu quả đối với dạy họcĐịa lý nói chung và việc khai thác một số dạng kênh hình trong SGK nóiriêng, đặc biệt là bảng số liệu thống kê và biểu đồ