Chính trong hoàn cảnh đất nớc nh vậy, để hoà chung vào dòng chảycủa lịch sử dân tộc, cũng nh các vùng quê khác trên mảnh đất Việt Namthân yêu, Triệu Sơn cũng đã góp một phần nhỏ bé của m
Trang 1trờng đại học vinh khoa lịch sử
-
-Nguyễn văn hiệu
khoá luận tốt nghiệp đại học
tìm hiểu thân thế, sự nghiệp của một vài danh nhân
Triệu Sơn, tỉnh Thanh hoá dới
ý đề tài khoá luận tốt nghiệp Đại học.
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo Phan Trọng Sung
đã tận tình hớng dẫn tôi hoàn thành đề tài khoá luận tốt nghiệp này Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song bớc đầu làm quen với công việc nghiên cứu khoa học nên không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận đợc sự góp ý của các thầy cô giáo trong khoa cùng toàn thể các bạn sinh viên.
Nguyễn văn Hiệu
Trang 2Nhân dịp này, tôi cũng xin chân thành cảm ơn BCN, CBGD Khoa Lịch Sử Đại học Vinh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình học tập, rèn luyện, tu dỡng tại Khoa và Nhà trờng.
1.2 Truyền thống lịch sử của vùng đất Triệu Sơn 9
Chơng 2: Thân thế, sự nghiệp của một vài danh nhân
Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá dới thời Lê - Trịnh
15
Trang 32.1.3 Tình cảm của quê hơng đối với công lao, sự nghiệp của ông 34
2.2 Danh nhân Lê Thì Hiến (1609 -1675 ) 432.2.1 Thân thế 43
2.2.3 Tình cảm của quê hơng đối với công lao, sự nghiệp của ông 51
2.3 Danh nhân Nguyễn Hiệu (1674- 1735 ) 552.3.1.Thân thế 552.3.2 Sự nghiệp 612.3.3 Tình cảm của quê hơng đối với công lao, sự nghiệp của ông 69
đó còn là sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của những nhà chính trị, nhà quân
sự Tài ba của họ góp phần đa ra đợc những kế sách thích hợp để cùng sứcmạnh của toàn dân nổi dậy đánh thắng mọi kể thù xâm lợc, đa đất nớc tathực sự bớc vào một thời kỳ xây dựng quốc gia phong kiến Đại Việt pháttriển thịnh đạt và phồn vinh
Trải qua các triều đại Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Đại Việt sống trong
độc lập tự do Nhng đến thế kỷ XV, đất nớc ta lại rơi vào tay bọn xâm lợcMinh Khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo sau 10 năm kháng chiến đã
đuổi quân Minh ra khỏi bời cõi, mở đầu cho sự hng thịnh của quốc giaphong kiến Đại Việt Nhng sự ổn định ấy chỉ tồn tại trong một thời gianngắn và để rồi tiếp sau đó là cả một thời kỳ đất nớc ta rơi vào cảnh hỗnchiến, tranh ngôi đoạt vị trong suốt gần hai thế kỷ giữa các tập đoàn phongkiến Trịnh – Mạc, Trịnh – Nguyễn và đợc sử sách chép đây là thời kỳ LêTrung Hng, bởi đây là thời kỳ nhà Lê Sơ phục hồi trở lại Nhng cũng chính
từ lúc này nhà Lê Sơ chỉ là bù nhìn để cho các thế lực phong kiến Mạc –
Trang 4Trịnh – Nguyễn lấy cớ phò Lê để tranh giành quyền lực, gây ra tình cảnh
đất nớc chiến tranh "Huynh đệ tơng tàn","nồi da nấu thịt"
Chính trong hoàn cảnh đất nớc nh vậy, để hoà chung vào dòng chảycủa lịch sử dân tộc, cũng nh các vùng quê khác trên mảnh đất Việt Namthân yêu, Triệu Sơn cũng đã góp một phần nhỏ bé của mình vào sự ổn địnhchung của lịch sử dân tộc
Triệu Sơn là một huyện có truyền thống lịch sử, văn hoá lâu đời, trảiqua hàng ngàn năm đấu tranh và xây dựng đất nớc Triệu Sơn luôn sản sinh
ra những anh hùng, những danh nhân sáng ngời, điển hình cho tinh thầncần cù trong lao động và anh dũng trong chiến đấu, xứng đáng với truyềnthống anh hùng của quê hơng mình Nh trong thời kỳ Bắc thuộc nơi đây đãtừng diễn ra cuộc khởi nghĩa do Chu Đạt lãnh đạo (năm 156), cuộc khởinghĩa của ngời nữ anh hùng Triệu Thị Trinh lãnh đạo (năm 248) Ngoài raTriệu Sơn còn sản sinh ra nhiều vị đại khoa ra phò vua giúp nớc nh thời Lý
có Doãn Tử T, Doãn Anh Khải , thời Trần có Doãn Băng Hài, Lê Thân ,thời Lê Sơ có Lê Nỗ, Lê Lôi, Lê Trạc Tú Đặc biệt thời Lê Trung Hng –một thời kỳ mà chiến tranh giữa các tập đoàn phong kiến làm đảo lộn tất cảmọi trật tự xã hội, gây ra cho đời sống nhân dân vô vàn khó khăn nhngTriệu Sơn đã có những vị đại khoa tài giỏi nh Lê Bật Tứ, Nguyễn Hiệu,Nguyễn Hoàn cũng nh có nhiều vị tớng tài ba đã từng đánh Nam, dẹpBắc, giữ yên xã tắc nh Lê Thì Hiến, Lê Thì Kinh, Lê Thì Hải, Lê Thì Liêu Sinh ra và lớn lên trong cảnh đất nớc có nội chiến, tranh giành quyền lựclẫn nhau giữa các tập đoàn phong kiến, gây ra cho nhân dân bao cảnh lầmthan, cơ cực do nạn binh đao gây nên, nhng không vì thế mà những danhnhân nh Lê Bật Tứ, Lê Thì Hiến, Nguyễn Hiệu lại dửng dng ôm gối đứngnhìn thời cuộc nh vậy Với t tởng "trung quân ái quốc", qua các bộ Tứ th,Ngũ kinh của nho gia đã thấm nhuần trong họ, để rồi họ lựa chọn con đờng
là ra phò vua Lê – chúa Trịnh, để góp một phần tài mọn của mình vào sựnghiệp trung hng đất nớc
Là sinh viên khoa lịch sử, tôi viết khoá luận tốt nghiệp này nhằm tìmhiểu một số danh nhân Triệu Sơn dới thời Lê – Trịnh Cụ thể là các danhnhân nh: Lê Bật Tứ, Lê Thì Hiến, Nguyễn Hiệu, chứ không có tham vọngtìm hiểu tất cả những danh nhân của quê hơng trong thời kỳ này
Sở dĩ tôi lựa chọn việc tìm hiểu về một số danh nhân Triệu Sơn dớithời Lê – Trịnh, vì lịch sử dân tộc ta nói chung và lịch sử xứ Thanh nóiriêng, trong suốt gần hai thế kỷ từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII là một thời
Trang 5kỳ lịch sử đầy biến động và phức tạp, bởi những cuộc chiến tranh, tranhgiành quyền lực của các tập đoàn phong kiến Thanh Hoá lại là quê hơngcủa ba trong số bốn tập đoàn phong kiến tranh giành nhau về quyền lựctrong thời kỳ này Để qua đó nói lên t tởng trung quân ái quốc của các vị
đại quan của quê hơng Triệu Sơn làm việc dới thời Lê Trung Hng
Việc lựa chọn tìm hiểu về thân thế, sự nghiệp của một vài danh nhântrên mảnh đất Triệu Sơn anh hùng dới thời Lê – Trịnh, mong góp phầngiáo dục thế hệ trẻ và lu giữ truyền thống của dân tộc và quê hơng mình
Từ đó làm phong phú thêm lịch sử địa phơng, lịch sử dân tộc
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “Tìm
hiểu về thân thế, sự nghiệp của một vài danh nhân Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá dới thời Lê – Trịnh” làm khoà luận tốt nghiệp đại học.
2 Lịch sử vấn đề.
Ngày nay, đất nớc ta đang trong quá trình bớc vào thời kỳ côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc Cùng với sự hội nhập với bên ngoài,nhằm tiếp thu những thành tựu tiên tiến từ bên ngoài, nhng không vì thế màchúng ta lãng quên đi bản sắc văn hoá dân tộc, những truyền thống lịch sửlâu đời và hào hùng của dân tộc Đảng và nhà nớc ta luôn luôn phấn đấuxây dựng " một nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc" Với đạo lý
"uống nớc nhớ nguồn", "ăn quả nhớ ngời trồng cây" Đảng và nhân dân ta
đang từng bớc khôi phục lại những giá trị lịch sử lâu đời của dân tộc, nhằmgóp phần giáo dục cho thế hệ trẻ và tỏa lòng biết ơn những thế hệ đi trớc.Vì vậy, hàng năm đã có nhiều đền, đình, miếu đợc tôn tạo và khôi phục trởlại Nhiều di tích lịch sử đã đợc công nhận di tích lịch sử, văn hoá cấp tỉnh,cấp quốc gia
Những bộ sử lớn chép về các danh nhân Triệu Sơn nh Lê Bật Tứ, LêThì Hiến, Nguyễn Hiệu Cuốn Đại Việt Sử Ký Toàn Th, Đại Việt Sử KýTục Biên, Lịch Triều Hiến Chơng Loại Chí Nhng tất cả chỉ là sự ghi chépvắn tắt Gần đây nhiều nhà sử học, nhà nghiên cứu đã có những bài viết, bàinghiên cứu, và một số cuốn sách viết về các danh nhân Lê Bật Tứ, Lê ThìHiến, Nguyễn Hiệu nh cuốn:
1/ Danh Nhân Thanh Hoá Lê Bật Tứ (1562 – 1627)( kỷ yếu toạ đàm:UBND xã Tân Ninh- Triệu Sơn)
2/ Danh Nhân Triệu Sơn tập 1 Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử ThanhHoá
Trang 63/ Đất và Ngời xứ Thanh Sở văn hoá thông tin Thanh Hoá.
Nhìn chung, những bài nghiên cứu, bài viết đợc trình bày cha thật
đầy đủ, chi tiết, nhng lại là cơ sở, tạo điều kiện thuận lợi giúp chúng tôi tiếpcận đề tài Trong khoá luận này, trên cơ sở ghi chép của các bộ chính sử,sách tham khảo và các bài viết của các tác giả địa phơng nh :Trịnh Ngữ,Bùi Xuân Vỹ, Nguyễn Đăng Ngân, Lê Bật Điển.vv Ngời viết muốn đợctìm hiểu và giới thiệu lại cho hệ thống và toàn diện hơn
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tợng nghiên cứu là tìm hiểu về thân thế, sự nghiệp của một vàidanh nhân Triệu Sơn dới thời Lê - Trịnh
- Nghiên cứu đề tài này trong phạm vi của một khoá luận tốt nghiệp,vì thời gian và khả năng nghiên cứu có hạn, đề tài không có tham vọng đisâu tìm hiểu toàn bộ những gì liên quan đến các danh nhân này mà thôngqua nguồn tài liệu ít ỏi, cộng với quá trình tham quan điền dã ở đền thờ vàcác di tích này Đề tài sẽ góp phần tìm hiểu về thân thế, sự nghiệp và những
đền thờ, di tích lịch sử thờ các danh nhân này trên vùng đất Triệu Sơn anhhùng
4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu.
Để nghiên cứu để tài này, ngoài việc dựa trên sự ghi chép của các bộquốc sử, các bài nghiên cứu , các bài viết, các hồ sơ di tích đợc lu giữ tại
sở văn hoá thông tin tỉnh, phòng văn hoá UBND huyện, tại th viện tỉnh
Để tiến hành nghiên cứu, su tầm, xác minh nguồn t liệu và hoànthành đề tài này, tôi chủ yếu sử dụng các phơng pháp nh: Phơng pháp lịch
sử và phơng pháp lôgíc, so sánh, tổng hợp t liệu
5 Đóng góp của khoá luận.
Qua việc tìm hiểu về thân thế, sự nghiệp của một vài danh nhân đã
có những đóng góp nhất định về mặt khoa học và thực tiễn Cũng qua đótôi cố gắng phác hoạ lại ba gơng mặt tiêu biểu ở một huyện, trong một giai
đoạn lịch sử phức tạp của đất nớc Cho thấy dù trong bất cứ hoàn cảnh nàoquê hơng, đất nớc ta cũng có những con ngời trung dũng, cần cù chịu khótiếp nhận trí thức đỗ đạt cao, đợc hun đúc bởi chí khí quật cờng của dân tộc
để phụng sự đất nớc Ba gơng mặt: Lê Bật Tứ, Lê Thì Hiến, Nguyễn Hiệu
Trang 7Những ngời xuất thân và bớc vào con đờng công danh khác nhau nhng văn
võ song toàn, lĩnh vực nào cũng xuất sắc
Ngoài ra, đề tài còn góp một phần nhỏ bé trong việc giáo dục thế hệtrẻ, giáo dục tinh thần tự hào dân tộc, góp phần vào việc xây dựng và bảo
vệ tổ quốc ngày càng giàu đẹp
6 Cấu trúc của khoá luận.
Khoá luận ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo,phục lục, nội dung chơng của khoá luận gồm hai chơng:
Chơng 1: Địa lý hành chính và truyền thống lịch sử của vùng đấtTriệu Sơn
Chơng 2: Thân thế, sự nghiệp của một vài danh nhân Triệu Sơn, tỉnhThanh Hoá dới thời Lê – Trịnh
B NộI DUNG Chơng 1: Địa lý hành chính và truyền thống lịch sử của vùng
Huyện Triệu Sơn có diện tích là 292,21 km2, với dân số 211.372
ng-ời độ dân số trung bình là 723,4 ngng-ời trên km2(số liệu năm 1999), toànhuyện có 35 xã và một thị Trấn."[3; 235]
Triệu Sơn là huyện bán sơn địa bao gồm cả đồng bằng và bán sơn
địa, miền núi Có vùng núi Na hùng vĩ nằm trên địa phận các xã Tân Ninh,Vân sơn, Thái Hoà, trên núi còn ghi lại dấu tích ông Tua Na với am tiên,giếng tiên, bàn cờ tiên Trớc kia ngọn núi này còn đợc gọi là Ngàn Na, bởinơi đây có rừng cây bạt ngàn với những loài gỗ quý nh; Lim, Sến, Táu,
Trang 8Nứa với nhiều loại thú quý; Tê giác, Nai, Hơu dới lòng đất của chân núi
Na có nhiều khoáng sản quý với trữ lợng rất lớn nh Crômít, Ni ken nơi
đây cung cấp một nguồn nguyên liệu phong phú cho nhân dân trong vùng
để phát triển các ngành nghề thủ công và cung cấp nguyên liệu cho côngnghiệp Có dãy đồi đất đỏ bazan nằm trên các xã Minh Sơn, Dân Lực, BìnhSơn, Thọ Bình, Thọ Sơn rất thuận lợi cho việc trồng các loại cây lâmnghiệp và cây công nghiệp
Bên cạnh những đồi núi là những vùng đồng bằng rộng lớn, có diệntích tự nhiên là 17.371 ha, trong đó đất nông nghiệp là 11575 ha, đất canhtác là 10285 ha, nằm trên các xã Đồng Tiến, Đồng Lợi, Đồng Thắng, DânQuyền, Dân Lý chủ yếu trồng lúa và nhiều loại cây hoa màu khác phục
vụ cho nhu cầu của nhân dân trong huyện, cung cấp trao đổi với nhân dâncác huyện lân cận
Triệu sơn có các dòng sông chảy qua nh sông Nhơm (hay còn gọi làsông Lãng) có chiều dài là 66,9km, đợc bắt nguồn từ huyện Nh Xuân chảyqua theo núi Na từ phía Bắc Triệu Sơn xuống phía Nam và chảy qua huyệnNông Cống Ngoài ra còn có hệ thống sông Hoàng Giang có chiều dài là81km, đợc bắt nguồn từ huyện Thờng Xuân và tách làm hai nhánh, trong
đó có một nhánh chảy qua huyện Triệu Sơn, dòng sông uốn lợn, quanh co,lòng sông hẹp, nớc chảy chậm, nên khi có ma to thờng gây ra úng lụt chocác xã mà nó chảy qua Bên cạnh đó thì những dòng sông này hàng nămcũng đã góp phần cung cấp nớc tới, tiêu úng cho đồng ruộng và bồi đắpphù sa hàng năm cho các đồng ruộng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc pháttriển nền kinh tế nông nghiệp trong vùng
Về điều kiện khí hậu, Triệu Sơn thuộc vùng khí hậu nhiệt đới giómùa, thể hiện hai mùa rõ rệt; Mùa khô thì khí hậu hanh khô giá rét từ tháng
10 năm nay sang tháng 2 (dơng lịch) năm sau, còn từ tháng 3 đến tháng 6(dơng lịch) khí hậu nóng bức lại thêm gió lào (gió Tây Nam) khô nóng,nhiệt độ có khi lên tới 450C, từ tháng 6 đến tháng 10 lại là mùa ma, vàomùa ma to lợng nớc từ 1.400 ly đến 1.800 ly, mùa ma thờng gây ra bão vàngập úng Điều kiện khí hậu nh vậy, cũng có những thuận lợi, nhng cũnggây cho nhân dân trong vùng không ít khó khăn trong hoạt động sản xuất
và trồng trọt Nhng những con ngời nơi đây, với sự cần cù trong lao động
và anh dũng trong chiến đấu đã không chịu khuất phục trớc những khókhăn của thiên nhiên mà luôn tìm cách chinh phục, chế ngự thiên nhiên đểtiếp tục tồn tại và phát triển, nhằm biến vùng đất nơi đây ngày một giàu đẹphơn
Trang 9Ngày nay, dới sự lãnh đạo của Đảng bộ, các tầng lớp nhân dân tronghuyện đang nỗ lực phấn đấu, lao động sáng tạo, phát huy những điều kiệnthuận lợi do thiên nhiên ban tặng nhằm khai thác triệt để nhiều tiềm năng
và thế mạnh sẵn có của vùng và những giá trị truyền thống cao quý của quêhơng, đồng thời khắc phục những hạn chế, khó khăn mà nơi đây đang phảigánh chịu để xây dựng Triệu Sơn thành huyện ngày càng giàu mạnh, gópphần vào sự phát triển chung của quê hơng xứ Thanh trong quá trình đổimới đất nớc
1.1.2 Tên gọi qua các thời kỳ.
Khác với các huyện ở trong tỉnh, Triệu Sơn là một huyện mới đợcthành lập từ tháng 2 năm 1965 theo quyết định số 177 - CP ngày 16 tháng
12 năm 1964 của chính phủ, bao gồm đất 13 xã của huyện Thọ Xuân và 20xã của huyện Nông Cống cắt ra để thành lập ra huyện Triệu Sơn mới.Chính vì vậy, mà lịch sử của vùng đất và con ngời Triệu Sơn luôn gắn liềnvới truyền thống lịch sử của nhân dân hai huyện Thọ Xuân và Nông Cốngtrong hàng ngàn năm dựng nớc và giữ nớc của dân tộc
Trong thời kỳ dựng nớc, Triệu Sơn thuộc vùng đất bộ Cửu Chân Đến
đầu công nguyên, Triệu Sơn là miền đất thuộc huyện Vô Biên (phần đấtThọ Xuân, Nông Cống cắt về Triệu Sơn), thuở đó tuy cha có tên gọi nhng
đã xuất hiện những đơn vị c trú tiền thân của làng xã Đó là kẻ Na thuộcvùng Cổ Định rộng lớn
Thời thuộc Hán (từ năm 111 trớc công nguyên), phần đất Thọ Xuâncắt về Triệu Sơn thuộc huyện C Phong đến thời Tam Quốc Lỡng Tấn -Nam Bắc triều (từ 244 - 603 sau công nguyên) đổi tên huyện C Phong là DiPhong
Thời thuộc Tuỳ - Đờng (581 - 905) đến thhời Đinh - Lê - Lý thì miền
đất Triệu Sơn thuộc vùng đất Cửu Chân (phần đất Nông Cống) và huyện ờng Lâm (phần đất Thọ Xuân)
T-Thời Trần xuất hiện tên huyện “Nông Cống”, còn Thọ Xuân là huyện
Cổ Lôi, đạo Hải Tây (thời Lý Thái Tổ), Lôi Dơng (thời Lê Thánh Tông)vào thời Nguyễn ( Minh Mạng) đổi tên Lôi Dơng thành Thọ Xuân Nằmtrong huyện Nông Cống và Thọ Xuân nên Triệu Sơn từ thời Trần đến thờiNguyễn cũng thuộc các huyện kể trên
Phần đất mà hai huyện Thọ Xuân và Nông Cống cắt ra để thành lậphuyện Triệu Sơn (năm 1965) gồm các tổng Cổ Định, Đỗ Xá, Đồng Xá, Lai
Trang 10Triều (thuộc Nông Cống); các tổng Lôi Dơng, Thợng Cốc, Bất Nạo, TamLộng (thuộc Thọ Xuân).
Sở dĩ vùng đất này có tên là Triệu Sơn vì nó gắn liền với dấu tích lịch
sử của cuộc khởi nghĩa bà Triệu (Triệu Thị Trinh) năm 248 trên vùng núi
Na,
''Việc đặt tên huyện Triệu Sơn là lấy sự tích từ cuộc khởi nghĩa của
bà Triệu đóng bản doanh ở đất Sơn Trung nay thuộc xã Triệu Thành (huyệnTriệu Sơn) ở đây theo truyền thuyết, có mộ bà (?) và đền thờ Triệu Quốc
Đạt (anh trai bà Triệu) Triệu Sơn có nghĩa là "Núi bà Triệu" mang ý nghĩalịch sử dân tộc và Thanh Hoá chống Hán thuộc".[21; 436]
Nh vậy, kể từ năm 1965 thì huyện Triệu Sơn mới đợc thành lập, gópphần vào sự phát triển chung của lịch sử dân tộc, bên cạnh việc phát huynhững truyền thống lịch sử, văn hoá lâu đời của nhân dân hai huyện ThọXuân và Nông Cống, thì những con ngời mới của huyện Triệu Sơn hôm nayluôn gìn giữ, trân trọng nó từ đó làm cơ sở, động lực góp phần xây dựngnên một huyện Triệu Sơn mới phát triển mạnh mẽ cả về kinh tế, xã hội vàcon ngời, xứng đáng với truyền thống lịch sử, văn hoá lâu đời mà nơi đây
đã có
1.2 Truyền thống lịch sử của vùng đất Triệu Sơn.
Triệu Sơn tuy là một huyện mới đợc thành lập ( 2-1965 ), nhngtruyền thống lịch sử và con ngời của vùng đất nơi đây lại luôn trờng tồncùng với lịch sử dựng nớc và giữ nớc của dân tộc ta Triệu Sơn là hình ảnhcủa một nớc Việt Nam thu nhỏ trong toàn bộ lãnh thổ hình chữ S, ngoàinhững truyền thuyết về "Lạc Long Quân và Âu Cơ", "Sơn Tinh, ThuỷTinh","Thánh Gióng" nói về sự hình thành nên lãnh thổ và con ngời ViệtNam ngày nay, thì vùng đất Triệu Sơn cùng nh các vùng quê khác trên đấtnớc Việt Nam đợc hình thành thì luôn gắn liền với một truyền thuyết, một
sự tích về sức mạnh, ý chí quật cờng Hay là sự chiến thắng giữa cái thiện
và cái ác để rồi từ đó mỗi con ngời chúng ta có quyền tự hào về truyềnthống lịch sử ấy
Theo truyền thuyết dân gian mà đợc ngời dân truyền miệng đến bâygiờ thì, ngay từ thuở mới khai thiên lập địa, nơi đây đã ghi lại dấu tích vănhoá vùng núi Na gắn liền với sự tích ông "Tu Na gánh núi dọn đờng", "Tu
Na đấu với Tu Vồm" một ông Na khổng lồ về sức mạnh và ý chí – biểu ợng cho sức mạnh của ngời Triệu Sơn (và Nông Cống) thuở "Khai thiên lập
t-địa, tạo dựng xóm làng"
Trang 11Truyền thuyết ông Nuông khổng lồ "gánh núi, san đồng đợc gói trọnvào câu phơng ngôn " núi Trẩu con gà, núi Mục hòn xôi".[1;16].
Cho dù những câu chuyện dân gian đó cha hẵn đã là thực, mà chỉ là
sự h cấu, nhng sự h cấu đó lại là một nét văn hoá độc đáo, từ đó tạo ra mộtsức mạnh tinh thần lớn lao để mỗi ngời có thể tự hào và phát huy truyềnthống ấy trong cuộc sống cũng nh trong quá trình dựng nớc và giữ nớc, đặcbiệt là tạo ra sức mạnh để đơng đầu với những kẻ thù xâm lợc từ bên ngoàivào, tạo nên đợc những chiến thắng vĩ đại cho dân tộc Chính vì những
điểm đó mà ngời dân Triệu Sơn luôn tự hào về truyền thống lịch sử củavùng quê mình Để truyền thống nối tiếp truyền thống, thì Triệu Sơn từng
là nơi nổ ra và đón nhận nhiều cuộc khởi nghĩa của những anh hùng dântộc luôn hy sinh vì sự độc lập và giải phóng đất nớc
Trong lịch sử đấu tranh giữ nớc của dân tộc, trên mảnh đất Triệu Sơncòn ghi lại dấu tích văn hoá của nhiều cuộc khởi nghĩa nh vào thế kỷ thứ I
đất Triệu Sơn – Nông Cống đã đón nhận nghĩa quân của Hai Bà Trng do ớng Đô Dơng chỉ huy rút về vùng này và lập căn cứ tử thủ để lại cho đờisau những câu chuyện dân gian đầy khí phách anh hùng
Năm 156 dũng tớng Chu Đạt quê làng Mỹ Hảo (xã Thọ Phú huyệnTriệu Sơn) đã dấy binh khởi nghĩa đánh đuổi quân Nam Hán làm chủ thànhtrì trong nhiều tháng Tấm gơng anh dũng hy sinh của Chu Đạt vì độc lậpdân tộc còn ghi lại trong lòng mỗi ngời dân nơi đây Cho đến bây giờ, nhândân khắp vùng Thọ Phú cũng nh nhân dân Triệu Sơn còn lu truyền chuyện
kể về cái chết anh dũng của ngời anh hùng Chu Đạt và những ngời línhchiến vô danh "Các cụ cao niên giải thích, nơi mà Chu Đạt dừng chân hồi
ấy đợc đổi thành chợ Neo, cánh đồng ông và các nghĩa sĩ vợt qua năm xa,cùng các làng gần đó đợc gọi là cánh đồng Neo, làng Neo" [17;9]
Lịch sử dân tộc ta còn ghi lại về ngời nữ anh hùng Triệu Thị Trinhcùng với ngời anh trai là Triệu Quốc Đạt, một thủ lĩnh ở huyện Quân Anh,quận Cửu Chân đã từng dấy binh khởi nghĩa chống lại giặc Ngô năm 248
"Bà Triệu quê ở huyện Nông Cống (tỉnh Thanh Hoá), là ngời có chí khí hơnngời, có hoài bão đánh giặc ngoại xâm giành lại độc lập cho đất nớc".[25;89]
Năm 19 tuổi ngời con gái đầy khí phách kiên cờng ấy đã cùng anhtrai tập hợp nghĩa sĩ trên đỉnh núi Na, mài gơm, luyện giáo chuẩn bị khởinghĩa và đợc nhân dân trong vùng hởng ứng công cuộc cứu nớc của bà
Trang 12Trong dân gian còn lu truyền bài ca dao nói lên sự hởng ứng cuộc khởinghĩa của nhân dân lúc bấy giờ;
"Ru con con ngủ cho lành,
Để mẹ gánh nớc rửa bành ông voi,
Muốn coi lên núi mà coi,
Coi bà Triệu tớng cỡi voi đánh cồng
Túi gấm cho lẫn túi hồng,
Têm trầu cánh kiến cho chồng ra quân"
[25;90]
Cuộc khởi nghĩa nổ ra mạnh mẽ và thu hút đợc đông đảo nhân dântham gia."Vào năm 248 đã từng làm "Chân, Giao chấn động", làm choquân Ngô ở hai huyện Giao Chỉ và Cửu Chân khiếp sợ, cuộc khởi nghĩa đó
đợc đánh giá là đỉnh cao của phong trào nông dân thế kỷ II, III, nổ ra ngaytrong thời kỳ mà bọn đô hộ có lực lợng hùng mạnh đã củng có ách thống trịtrên đất nớc và đang đẩy mạnh dã tâm đồng hoá nhân dân ta."[1;17,18]
Chỉ trong một thời gian ngắn, các thành ấp của giặc lần lợt bị hạ,quan lại từ Thái thú đến huyện lệnh, kẻ bị giết, bị bắt gần hết Hoảng sợ tr -
ớc uy thế của nghĩa quân, tên thứ sử Giao Châu trốn biệt, cuộc khởi nghĩa
từ Cửu Chân đã lan rộng tận Giao Chỉ Triều đình nhà Ngô đã cử Lục Dận (cháu họ Lục Tốn), xuống làm thứ sử Châu Giao, kiêm lĩnh chức hiệu uýcùng 5000 quân tinh nhuệ xuống đàn áp cuộc khởi nghĩa"[17;13]
Khí phách anh hùng của vị nữ tớng tài ba ấy đợc mọi thế hệ ngời dânTriệu Sơn hun đúc, giữ gìn và phát huy nó trong quá trình dựng nớc và giữnớc "Khi nhận định đánh giá về truyền thống lịch sử Việt Nam anh hùngChủ Tịch Hồ Chí Minh đã viết: "Tỉnh Thanh Hoá có một bà tên là Triệu ẩutuổi vừa đôi mơi tài năng dũng cảm hơn ngời, khởi binh cứu nớc một đời luphơng, phụ nữ ta chẵng tầm thờng đánh đông dẹp bắc làm gơng để
đời"[1;19]
Thế kỷ XV, trong khi cả dân tộc đang gồng mình cùng với nghĩaquân của Lê Lợi trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn để chống lại quân Minhxâm lợc, thì vùng đất Cổ Định xa từng tự hào là nơi đón nhận nghĩa quâncủa khởi nghĩa Lam Sơn do thuộc tớng của Lê Lợi là Nguyễn Chích lập căn
cứ chống giặc ở nơi đây, hởng ứng cuộc khởi nghĩa đó thì nhân dân nơi đây
đã tham gia tiếp tế cho nghĩa quân và đã có nhiều ngời con yêu tú của quê
Trang 13hơng tham gia vào nghĩa quân khởi nghĩa nh Lê Lôi (Lê Duy Thạch), Lê
Nổ (Doãn Thịnh) để sau này trở thành những khai quốc công thần của nhà
Lê Sơ
Vào cuối thế kỷ XVIII, đến thế kỷ XIX, cùng với sự khủng hoảngcủa chế độ phong kiến Việt Nam thì thực dân Pháp lần lợt tìm cách xâm l-
ợc Việt Nam và đặt ách đô hộ lên nhân dân Việt Nam, nhng không vì thế
mà nhân dân ta khuất phục chịu làm nô lệ, lần lợt các phong trào đấu tranhcủa quần chúng nhân dân ta nổ ra, bắt đầu từ phong trào Cần Vơng, tiếp
đến là phong trào đấu tranh theo khuynh hớng t sản và khuynh hớng vô sảnlần lợt diễn ra Cùng với nhân dân cả nớc nói chung thì nhân dân Triệu Sơnnói riêng cũng đã góp một phần nhỏ bé của mình vào sự nghiệp giải phóngnớc nhà Từ những ngày đầu của phong trào Cần Vơng, rất nhiều văn thân,
sĩ phu yêu nớc của vùng đất Triệu Sơn nh Lê Ngọc Toản đã hởng ứng vàtham gia phong trào Cần Vơng chống Pháp Đến khi con đờng cứu nớc theokhuynh hớng vô sản đã đóng vai trò quan trọng trên vũ đài chính trị ViệtNam thì cùng với cả nớc, vùng đất Triệu Sơn cũng đã thành lập nhiều chi
bộ Đảng từ rất sớm tại các xã của Bắc Nông Cống và Nam Thọ Xuân, đãlàm cho phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân nơi đây phát triểnmạnh mẽ
Trong những năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cùng vớinhân dân cả nớc thì quân dân Triệu Sơn đã có những đóng góp to lớn vào
sự toàn thắng của dân tộc, khi nơi đây đã từng đóng góp nhiều sức ngời,sức của cho cuộc đấu tranh vĩ đại của dân tộc
Bên cạnh những truyền thống lịch sử hào hùng ấy thì Triệu Sơn còn
là vùng đất sản sinh ra nhiều vị đại khoa đỗ đạt cao và nhiều vị tớng tài ba,những danh nhân văn hoá, dòng họ văn hoá của vùng đất Triệu Sơn này đã
có những đóng góp quan trọng vào sự phát triển chung của lịch sử dân tộc,cũng nh tô điểm thêm truyền thống lịch sử văn hoá của quê hơng, đất nớc.Thời phong kiến, dòng họ Doãn ở Triệu Sơn có tới ba thế hệ đợc nhà vuatin tởng và giao cho trọng trách đi sứ sang Trung Quốc Thời Lý có Doãn
Tử T, Doãn Anh Khải đợc cử đi sứ sang Tống, có công hoạch định biêngiới và sắp đặt sự hoà hiếu với nhà Tống nên đều đợc nhà vua ban tặng tớcQuận công Thời Trần, có Doãn Băng Hài đợc triều đình cử đi sứ sang nhàNguyên Mông của Trung Quốc và đợc nhà vua ban tặng chức Thiếu phó, t-
ớc hiệu Hng Đình Hầu Ngoài ra, dòng họ Doãn còn có Doãn Thịnh từngtham gia trong khởi nghĩa Lam Sơn và đợc ban quốc tính là Lê Nổ, tớcquan Nội Hầu Bên cạnh những vị đại quan có tài ngoại giao, còn có những
Trang 14vị tớng tài ba nh danh tớng Lê Thì Hiến, là một vị tớng dới thời Lê TrungHng, đợc triều đình ban chức Thái Tể, đã sinh ra một dòng tớng làm rạngdanh cho quê hơng, dòng họ đó là các con Lê Thì Kinh đợc phong tớcTrịnh Tớng Hầu; Lê Thì Hải, đợc phong Thạc Quận Công; Lê Thì Liêu đ-
ợc phong làm Đô Đốc, tớc Trung Quận Công, tặng chức Thái Tể Suốt thờiphong kiến, Triệu Sơn còn có những bậc đại khoa nh: Tống S Lộ, TốngNho, Bùi Trọng Huyến (xã Dân Lực), Lê Tán Tơng, Lê Tán Thiện, Lê Trạc
Tú (xã Xuân Lộc), Lê Thân, Lê Bật Tứ, Doãn Đình Tá, Lê Nhân Kiệt (xãTân Ninh), Lê Khiêm, Trịnh Thế Tế (xã Thọ Dân), Nguyễn Hiệu, NguyễnHoàn, Nguyễn Tái (xã Nông Trờng), Lê Thức (xã Thọ Cờng)
Trong phong trào kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc,những ngời con yêu tú của vùng đất Triệu Sơn đã anh dũng ngã xuống vì sựnghiệp giải phóng dân tộc nh anh hùng Tô Vĩnh Diện đã lấy thân mìnhchèn pháo, góp phần làm nên chiến thắng vĩ đại của lịch sử dân tộc
Với tất cả những dấu tích, những truyền thống và những con ngời ấy
đã trở thành một niềm tự hào của quân dân Triệu Sơn trong suốt những thế
kỷ dựng nớc và giữ nớc và truyền thống ấy tiếp tục đợc các thế hệ sau lugiữ và phát huy "Nhân dân Triệu Sơn có quyền tự hào về truyền thống yêunớc, truyền thống ấy đợc tôi luyện và thử thách qua nhiều thế kỷ, đã trởthành máu thịt của nhiều thế hệ Đó là nét đặc trng lịch sử văn hoá của conngời Triệu Sơn Kế thừa và phát huy truyền thống chống ngoại xâm và gắnliền tên tuổi của các bậc hào kiệt, các bậc khai quốc công thần, mãi mãi làniềm tự hào của đất Triệu anh hùng "[1;31]
Chơng 2 Thân thế sự, nghiệp của một số danh nhân Triệu Sơn dới thời
Lê - Trịnh.
2.1 Danh nhân Lê Bật Tứ (1562 -1627)
2.1.1 Thân thế.
+ Quê hơng đất tổ của Hoàng Giáp Lê Bật Tứ là làng Cổ Định, (nay
là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn- Thanh Hoá) Xa kia vùng đất Cổ Địnhnày có tên là kẻ Nứa, đến thời Lý – Trần có tên là Cổ Na, thời Lê Sơ cótên là Cổ Ninh, đến thời Lê Trung Hng, do trùng với tên huý của vua LêTrang Tông là Lê Ninh, nên Cổ Ninh đổi thành Cổ Định và tên gọi này đợcgọi cho đến triều Nguyễn (nửa đầu thế kỉ XIX ) Sau năm 1945 Cổ Địnhmang tên mới là xã Tân Ninh
Trang 15Cổ Định – Tân Ninh là vùng đất có truyền thống lịch sử văn hoá lâu
đời Ngay từ buổi đầu, nơi đây là quê hơng khởi nguồn bởi 10 vị tiên công,sau này phát triển thành 10 dòng họ, trong đó có dòng họ của Hoàng Giáp
Lê Bật Tứ Vùng đất này đã từng là nơi đóng đại bản doanh của cuộc khởinghĩa bà Triệu (năm 248 sau công nguyên) Vì vậy, mà ngày nay âm hởngcủa cuộc khởi nghĩa này vẫn còn đợc vang vọng với những lời ru cất ra từnhững thôn xóm;
" à ơi, mẹ ru con ngủ cho lành
Để mẹ múc nớc rửa bành cho voi
Muốn coi lên núi mà coi
Coi bà Triệu ẩu cỡi voi đánh cồng."
Trong cuộc kháng chiến chống Minh do ngời anh hùng dân tộc LêLợi lãnh đạo, nơi đây cũng nằm trong vùng căn cứ của nghĩa quân đồngthời cũng có nhiều ngời con của vùng quê này cũng tham gia vào nghĩaquân và sau này đợc phong là những khai quốc công thần nh Lê Nổ, LêLôi
Trong suốt thời kỳ phong kiến Việt Nam, vùng đất Cổ Định – TânNinh nổi tiếng là vùng đất học với nhiều ngời đỗ đạt cao nh Lê Thân, DoãnBăng Hài, Lê Duy Thúc, Lê Duy Xử đã làm rạng danh cho quê hơng đấtnớc và truyền thống ấy ngày nay tiếp tục đợc các thế hệ sau phát huy
Theo cuốn "Danh Nhân Thanh Hoá Lê Bật Tứ" trích trong Báo vănhoá - thông tin Thanh Hoá số 148 đăng bài" Tân Ninh – một dòng ký ức"
có ghi Suốt thời phong kiến, Cổ Định là quê khai sinh từ thuở vua Hùngnổi tiếng là đất học và đất phát quan Làng có tới 24 tiến sĩ "[6;27], đó làcha kể tới những nho sĩ thi đỗ tam trờng hay tứ trờng trong các kỳ thi H-
ơng, thi Hội
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nớc Cổ
Định – Tân Ninh là vùng đất đã có những đóng góp đáng kể về sức ngờisức của cho công cuộc giải phóng và thống nhất tổ quốc Nơi đây đã đợccông nhận là đơn vị anh hùng lực lợng vũ trang và là xã văn hoá củahuyện Chính là đã tiếp nối đợc các di sản quý báu của truyền thống quê h-
ơng thân yêu
+ Gia đình
Trang 16Từ một vùng quê có truyền thống lịch sử, văn hoá lâu đời Cùng với
sự trờng tồn của đất nớc, quê hơng Hoàng giáp Lê Bật Tứ luôn sản sinh ranhững anh hùng, những vị đại khoa góp phần vào sự thịnh suy của dântộc.Vốn đợc xuất thân từ một trong 10 dòng họ lớn của vùng đất Cổ Định,một dòng họ có truyền thống hiếu học
Tuy nhiên, nếu dựa vào gia phả của dòng họ hiện nay đã mất mát,nhng dựa vào một số cứ liệu còn lại của dòng họ thì đợc biết từ cụ thuỷ tổHứa Duy Đàn hiệu là Pháp Giác sinh năm 1250 (thời Trần Thái Tông 1225– 1258) Do con cái học hành thi cử, vì vậy để tránh tên huý của vua Trầnnên đã đổi sang họ Lê, tức Lê Duy Đàn Từ cụ thuỷ tổ của dòng họ là LêDuy Đàn (1250) đến Hoàng giáp Lê Bật Tứ (1562), trải qua 11 thế hệ vàdòng họ đã có tới 8 tiến sĩ, riêng ra đình cụ Lê Duy Đàn đã đạt đợc mộtthành tựu rực rỡ về thi cử khi mà vào thời vua Trần Anh Tông(1293 –1314), khoa thi năm Giáp Thìn (1304), gia đình cụ có hai ngời con trai là
Lê Duy Thúc và Lê Duy Xử thi đỗ thái học sinh (tức tiến sĩ), và ngời con rể
là cụ Lê Thân( tức Lê Đình Thân) cùng đỗ thái học sinh Tiếp đó, trải quacác thế hệ luôn có ngời đỗ đạt cao và giữ những chức quan lớn dới thờiphong kiến, nhiều ngời đợc phong tới chức Công, Hầu, Bá nh thế hệ thứhai có tiến sĩ Lê Duy Thúc đợc cử làm quan Đặc sứ Kim tử Vinh lộc đạiphu Ngự sử trung tán đợc ban tớc quan Nội hầu dớc đời Trần, thế hệ thứ
ba có một ngời đỗ tiến sĩ, hiệu là Vô Chú và làm quan Lạng Sơn yên phủ
sứ Thế hệ thứ 5 có tiến sĩ Lê Duy Duật, làm quan Thanh Đàm chuyển vận
sứ Thế hệ thứ 6 có cụ Lê Lôi, tên thụy là Vô Không, là khai quốc côngthần của triều Lê Sơ và đợc phong Quang lộc đại phu, tả xa kỵ vệ đại tớngquân tớc quan Nội Hầu
Từ một dòng họ có truyền thống hiếu học, có nhiều ngời đỗ đạt cao,nên đến thế hệ thứ 10 của dòng họ, tức là cụ thân sinh ra Hoàng giáp LêBật Tứ đã đổi tên lót của dòng họ cho các con trai từ Lê Duy sang Lê Bật
Cụ thân sinh ra Hoàng giáp là: "Cụ Lê Duy Tốn (hiệu Đức Dụng),
đợc vinh phong Hữu thị lang tớc Duyên hựu Bá Mẹ là Nguyễn Thị Oánh,ngời xã Lu Xá, huyện Kim Bảng, phủ Lý Nhân, trấn Sơn Nam (nay thuộctỉnh Hà Nam) đợc vinh phong Uỷ hạnh tự phu nhân".[6;35]
Hai cụ sinh đơc 5 ngời con, trong đó có 3 nam và hai nữ đó là:
- Anh cả là Lê Bật Trực thi đỗ tứ trờng, làm quan Tán lý công thầnTây kinh đạo, Thái thờng tự khanh, tớc vị dơng Bá
Trang 17- Anh hai là Lê Bật Hiền, thi đỗ tứ trờng, làm quan đại lý tự thiếukhanh.
- Chị cả là Lê thị Loan
- Chị hai là Lê Thị Luyện
- Con trai út chính là Hoàng giáp Lê Bật Tứ
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống khoa cử, nên
Lê Bật Tứ đã không ngừng vợt khó, trau rồi kinh sử và đã đỗ Hoàng giápnăm 1598, đợc triều đình bổ nhiệm làm quan dới thời Lê Trung Hng, từ(1598 đến 1627)
Năm 1588 ông đã kết duyên cùng với bà Hoàng Thị ích (ở xã ĐoàiLâm – Hải Dơng) Hai cụ đã sinh đợc 3 ngời con trai và một ngời con gái
đó là:
- Con trai cả là Lê Bật Giáo, (tức Lê Khả Giáo) sinh năm 1588, tự làTuấn Anh, năm 1611 đợc vua phong Gia tính đại phu Năm 1612, thi đỗ tứtrờng (hơng cống) và làm quan chức T Vụ Năm 1619 đợc phong Lại bộviên ngoại lang, cũng trong năm đó cụ thi kỳ thi hội Năm 1624 đợc phongKim tử vinh lộc đại phu, Sơn Nam xứ, tiên tri thừa chính sứ, tớc Xuân lộcBá
- Con trai thứ là Lê Bật Thế, (tức Lê Khả Thế) sinh 1604, năm 1611
đợc vinh phong hiển cung đại phu Năm 1621 thi đỗ tứ trờng và đợc bổnhiệm làm tri phủ Đông Sơn
- Con trai thứ Lê Bật Kính, (tức Lê Khả Kính) sinh năm 1606, năm
1611 đợc vinh phong Hiển cung đại phu Năm 1621 thi đỗ tứ trờng và đợctriều đình cử làm quan lại bộ viện ngoại lang Năm 1627 đợc phong thôngchính điển sự
- Con gái là Lê Thị Chỉnh
Nh vậy, dòng họ của Hoàng Giáp Lê Bật tứ là một trong 10 dòng họlớn và có mặt sớm nhất ở đất Cổ Định – Tân Ninh, chính từ truyền thốnghọc tập và thi cử đỗ đạt của những thế hệ đi trớc trong dòng họ là niềm tựhào và đáng trân trọng để các thế hệ tiếp sau đó nh Lê Bật Tứ phấn đấu, vợtqua mọi khó khăn gian truân trong cuộc sống để mong sao làm rạng danhcho quê hơng, dòng, họ để không phụ lòng mong mõi của những ngời thântrong gia đình, dòng họ mình
+ Bản thân
Trang 18Lê Bật Tứ sinh ra trong hoàn cảnh đất nớc không mấy yên bình bởichiến tranh loạn lạc, đời sống nhân dân ở các vùng quê vốn xa kia yên bình
là thế, nay phải chịu cảnh tan tác, chia lìa bởi nạn binh đao khói lửa của cáctập đoàn phong kiến Trịnh – Mạc hay còn gọi là chiến tranh Nam - Bắctriều gây ra.Thêm vào đó là nạn tàn phá của thiên tai, hạn hán, màu màngcủa ngời dân luôn bị thất bát khiến đời sống ngời dân vô cùng cơ cực Hoàncảnh đất nớc do thiên tai địch hoạ triền miên gây ra đã làm cho ngời nôngdân ở những vùng quê phải bỏ làng xóm đi phiêu tán khắp nơi và gia đình
Lê Bật Tứ cũng không nằm ngoài vòng xoáy của hoàn cảnh đó
Năm 1562 khi Lê Bật Tứ cất tiếng khóc chào đời đợc bảy ngày thì
ông đã phải nếm trải sự cay đắng nghiệt ngã đầu tiên của số phận Ngời chacủa ông là cu Lê Duy Tốn đã phải xa lìa cõi đời do bệnh tình hiểm nghèo,
để lại một ngời vợ hiền và đàn con thơ
Vào năm Tân Mùi (1571) khi đó Bật Tứ lên 9 tuổi, gặp lúc quê hơng
Cổ Định – Tân Ninh mất mùa, dân tình đói khổ, hoàn cảnh gia đình cũnggặp vô vàn khó khăn, cha mất sớm, nhà lại đông anh em, ngời mẹ gầy yếusuốt ngày lam lũ kiếm sống để mong sao kiếm đợc miếng ăn nuôi các concho qua ngày Để tránh kiếp nạn đó, thì không còn cách nào khác ngoàiviệc gia đình phải nơng nhờ vào ngời thân họ hàng và ngời mẹ tội nghiệp
ấy đã phải để lại ngời anh cả là Bật Trực và hai con gái là Lê Thị Loan và
Lê Thị Luyện ở lại chốn quê nhà để nơng nhờ vào anh em trong dòng họ và
bà con tròm xóm giúp đỡ, còn bà và hai ngời con là anh trai Lê Bật Hiền vàbản thân Bật Tứ khi đó mới chín tuổi ra quê ngoại ở Liêu Xá - Kim Bảng– phủ Lý Nhân ( nay thuộc tỉnh Hà Nam) để nơng nhờ vào anh em họhàng bên ngoại giúp đỡ Gạt dòng lệ rơi, chia tay các con ở chốn quê nhà
để mong sao ra đi tìm cuộc sống bình an, cày thuê cuốc mớn, nuôi dạy cáccon, mong sao các con mình đỡ khổ Nhng không may, một phần vì thơngnhớ các con nơi quê nhà, một phần vì phải làm thuê, cuốc mớn để kiếmmiếng ăn nuôi dạy các con, nên ngời mẹ hiền và tội nghiệp ấy đã lâm bệnh
và từ trần sau hai tháng rời quê hơng ra đi để lại đàn con thơ mồ côi cha
mẹ, không nơi nơng tựa Đợc tin mẹ mất, ngời anh trai là Lê Bật Trực nơiquê nhà đã khăn gói lên đờng ra quê ngoại chịu tang mẹ và lo cho hai emnhỏ đang bơ vơ nơi đây Tại đây anh cả Bật Trực đã tận dụng vốn hiểu biếtcủa mình qua các năm đèn sách để mở lớp dạy chữ cho con em nơi đây đểkiếm sống nuôi các em, đồng thời tự mình chuyên cần, su tầm th sách đểdạy dỗ các em mình
Trang 19So với nhiều nho sĩ lúc đơng thời có điều kiện để học tập, trau rồikinh sử, bản thân Hoàng giáp Lê Bật Tứ lúc sinh thời đã phải nếm trải baonhiêu buồn khổ khi mồ côi cả cha lẫn mẹ, anh em phải nơng tựa vào nhau
để kiếm sống Đợc sự dạy bảo và chăm sóc của ngời anh nên Lê Bật Tứ đãkhông phụ lòng anh trai mình mà chuyên cần dùi mài kinh sử, ham học hỏi
và tỏ ra là một cậu bé thông minh, có tài Ngay từ nhỏ, do hoàn cảnh gia
đình gặp nhiều khó khăn, đợc sống gần gủi với ngời dân lao động suốtngày lam lũ kiếm sống nên ông thấu hiểu đợc nổi khổ của ngời nông dân đ-
ơng thời, cộng với tinh thần vợt khó, hiếu học, khổ học, ham hiểu biết, biếttận dụng hoàn cảnh truyền thống văn hoá của quê hơng, dòng họ, thơngyêu nhau và có trách nhiệm với nhau nên ba anh em đã nơng tựa vào nhau,
cố gắng vơn lên để trởng thành
Sách Danh nhân Triệu Sơn viết về Lê Bật Tứ :" Là một cậu bé thôngminh, học giỏi, nhng cậu út không bao giờ sao nhãng việc học để tìm cáchthoát khỏi những đòn đau của số phận đã giáng xuống đầu anh emcậu"[17;42]
Có lẽ những nổi khổ cực mà ông đã phải gánh chịu ngay từ nhỏ đãgiúp ông phấn đấu trởng thành để không phụ lòng mong mỏi của anh trai
và ngời thân trong gia đình, để mong sao thoát ra khỏi cảnh bần hàn, cơcực của số phận Đó chính là động lực giúp ông quyết chí phấn đấu, traudồi tri thức để sau này ra ứng thi và đỗ đạt cao, đợc triều đình tin dùng vàgiao cho những chức quan quan trọng để góp phần giúp nớc, giúp dân
2.1.2 Sự Nghiệp.
Nhờ tinh thần vợt khó, ham học, ham hiểu biết cộng với ý chí phấn
đấu vơn lên, ông đã không ngừng dùi mài kinh sử, trau dồi tri thức để hyvọng một ngày nào đó có cơ hội thể hiện tài năng và sự hiểu biết của mình
ra phò vua giúp nớc
Năm 1527 khi Mạc Đăng Dung cớp ngôi nhà Lê Sơ và tình hình đấtnớc diễn ra cục diện Nam – Bắc triều, nhà Mạc chiếm cứ đợc kinh đôThăng Long, tiếp đó nhằm củng cố chính quyền của mình thì nhà Mạc cho
mở nhiều kỳ thi để tuyển lựa quan lại vào bộ máy quan trờng Năm 1584
Lê Bật Tứ tham dự kỳ thi hơng do nhà Mạc tổ chức và ông đã đỗ hơngcống, nhng ông không lựa chọn con đờng là ra phò giúp nhà Mạc, mà tiếptục quay về quê nhà dùi mài kinh sử, mở lớp dạy chữ
Năm 1594, ông lặn lội trở về quê Thanh Hoá tham dự kỳ thi hơng
do nhà Lê Trung Hng tổ chức và một lần nữa ông lại đỗ hơng cống Nhng
Trang 20không vì thế mà ông nãn lòng, và đến năm Mậu Tuất 1598, đời vua Lê ThếTông, niên hiệu Quang Hng thứ 21, ông tham dự kỳ thi hội và đỗ tiến sĩ,khoa thi ấy có tới hơn ba nghìn ngời dự thi và chỉ lấy đỗ 5 ngời trong đó có
Lê Bật Tứ, khi vào thi đình nhà vua đã chọn 3 ngời đỗ tiến sĩ xuất thân (tứcHoàng Giáp), trong đó có Lê Bật Tứ Thật là ông trời đã không phụ lòngmong đợi của ông khi qua bao năm đèn sách, dùi mài kinh sử để mong cóngày làm rạng danh cho dòng họ tổ tiên, mong góp một phần tài mọn củamình vào sự nghiệp trung hng đất nớc
Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Th tập 4 viết về ông; "Tháng 4, thi Hộicác sĩ nhân trong nớc, cho bọn Nguyễn Thứ, Nguyễn Duy Thì, Lê Bật Tứ
đỗ tiến sĩ xuất thân, bọn Nguyễn Khắc Khoan, Nguyễn Kiểm đỗ đồng tiến
sĩ xuất thân"[12; 219]
Sau khi thi đỗ Hoàng giáp và đợc triều đình trọng dụng, ông đã chọcon đờng ra phò giúp vua Lê – chúa Trịnh Trải qua 29 năm (từ 1598 –1627) làm quan của mình dới thời Lê Trung Hng, ông đã đợc triều đình vua
Lê – chúa Trịnh giao giữ nhiều trọng trách quan trọng
Năm 1598, sau khi thi đỗ ông đã đợc triều đình bổ dụng chức HànLâm hiệu lý
Năm 1600 ông đợc thăng chức Hộ khoa cấp sự, vâng lệnh vua tớihuyện Đan Phợng (Hà Tây) xem xét việc trồng dâu nuôi tằm Gặp lúc tìnhhình đất nớc có biến, bọn Phan Ngạn, Bùi Văn Khuê làm loạn, làm chokinh thành Thăng Long trở nên hoảng loạn, dân tình náo động nhà vuabuộc phải tạm rời về Tây Kinh (Thanh Hoá) Nghe đợc tin này ông trở vềThanh Hoá xin đợc yết kiến vua và đợc vua cho tham gia luận bàn việc nớccùng các quan khác trong triều để bày mu tính kế Nhà vua đã phong cho
ông làm Chánh phủ tham bồi và cử đi xây dựng lực lợng để giữ yên xã tắc
Năm 1601, ông đợc thăng lại Khoa đô cấp sự và đợc cử làm giámkhảo trờng thi Kinh Bắc
Năm Quý Mão 1603 ông đợc cử làm quan giám khảo trờng thi ở phủThiên Trờng, sau đó đợc cử đi dẹp loạn d đảng của họ Mạc ở Cao Bằng
Năm Giáp Thìn 1604 ông đợc nhà vua thăng Đô ngự sử
Năm Bính Ngọ 1606 ông đợc nhà vua cử làm chánh sứ sang triềuMinh- Trung Quốc để tạ ơn vì việc vua Lê đợc "phong" Đây là một trọngtrách hết sức lớn lao vì Trung Quốc là một đế chế lớn ở phơng Bắc, cáctriều đại phong kiến Trung Quốc luôn tìm mọi cách để xâm chiếm nớc ta,
Trang 21nên những sứ thần mà ta cử sang phải là những ngời tài giỏi, có trình độ,phải có sự hiểu biết về mọi mặt, mọi lĩnh vực, có tài ăn nói thì mới có thểlàm nhụt ý đồ bành trớng của đế chế phơng Bắc đợc và chuyến đi này ông
đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giao phó của triều đình
Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Th tập 4 chép;" Bính Ngọ năm thứ 7(1606) sai chánh sứ là Lê Bật Tứ, phó sứ là bọn Nguyễn Dụng, NguyễnKhắc Khoan sang nớc Minh tiến lễ tạ ơn."[12; 236]
Năm 1608, sau hai năm đi sứ về đã hoàn thành nhiệm vụ, khôngnhững bảo toàn đợc uy tín nớc nhà mà còn đợc kính trọng, sự bang giaothành công tốt đẹp nên đợc nhà vua phong chức Tả thị lang bộ Hộ
Đầu năm 1610, Lê Bật Tứ đợc phong thêm tớc Diễn gia hầu Cũngtrong năm đó ông đã dâng khải lên phủ chúa điều trần hai việc:
1, Xin định ngôi thế tử, và giao cho giữ quyền binh để cố kết lòngdân
2, Xin xử trí với các cờng phiên chuyên quyền một trấn để thốngnhất chế độ
Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Th tập 4 viết:" Mùa đông tháng 10, tả thịlang Hộ bộ là Diễn gia hầu Lê Bật Tứ khải với Bình an vơng về việc thứnhất là lập thế tử, giao cho binh quyền để cố kết lòng ngời và việc thứ hai là
xử trí bọn phiên trấn mạnh, để thống nhất chế độ."[12; 237]
Với lời khải này, ông đã thể hiện tâm huyết, lo lắng của mình trớcvận mệnh của quốc gia, dân tộc là làm sao để góp phần mình làm cho đấtnớc đợc yên ổn, dân tình có điều kiện làm ăn sinh sống
Năm 1611, do có nhiều đóng góp cho triều đình nên nhà vua đã vinhphong cho ông bà, cha mẹ, vợ con ông Đây là một niềm vinh hạnh lớn laocủa ông và gia đình
Năm ất Mão 1615, niên hiệu Hoằng Định thứ 15, trong lúc tình hình
đất nớc rối loại Phía Bắc, d đảng của họ Mạc ở Cao Bằng vẫn tiếp tục quấyphá, làm cho tình hình biên giới phía Bắc không đợc yên ổn ở phía Nam,
họ Nguyễn đang tìm cách xây dựng nơi đây thành một giang sơn riêng đểtách ra khỏi sự lệ thuộc của chính quyền Lê – Trịnh Trong khi đó phủChúa ngày càng lấn át quyền hành của vua Lê, không những thế trong triều
đình vua Lê – chúa Trịnh ngày càng diễn ra cảnh tranh giành vơng quyền,phủ chúa và quan lại trong triều thì ăn chơi xa xỉ, ở địa phơng thì bọn cờnghào ác bá ra sức bóc lột, vơ vét của dân, khiến cho dân tình vô cùng cực
Trang 22khổ làm cho nhân dân nổi dậy chống đối ở nhiều nơi Để đối phó với tìnhhình đó, triết vơng Trịnh Tùng sai tuyển thêm lính để bổ sung vào quânngũ Vốn từ nhỏ, Lê Bật Tứ đã đợc gần gủi với cuộc sống lam lũ của ngờinông dân và bản thân ông từ nhỏ cũng đã sống mồ côi cha mẹ, nên ông rấthiểu tình cảnh của những ngời nông dân và hình ảnh những đàn con thơ, vợdại mỏi mắt đứng chờ chồng, chờ cha, cảnh chia lìa nhau Điều đó khiến
ông không thể nào dửng dng đợc Ông đã cùng với cụ Lu Đình Chất (đỗnhị giáp tiến sĩ năm 1607), làm khải dâng lên phủ chúa đình việc lấy lính ởcác huyện xã ở Thanh Hoa
" Nay trên ra lệnh bắt các huyện, xã ở Thanh Hoa theo hạng kénchọn thêm binh lính, thần sợ rằng lúc này không phải là lúc tuyển lính Naylệnh ấy đã ban ra, những kẻ có quyền thế cai quản ở địa phơng nhân đó cốtuyển thêm thì nhân dân chịu sao nổi đợc Vậy xin nhà chúa để tâm kínhtrời thơng dân, đình việc lấy thêm lính Nếu làm đợc thế thì lòng dân vui, ýtrời yên, khí hoà đem đến điềm lành, sơng ngọt xuống, lúa tốt hơn, muôndân đợc hởng phúc vui đầy đủ Thế nớc nhờ đó vững nh Thái Sơn bàn thạch
mà chúa truyền đến con cháu sau dài mãi không cùng".(trích Lịch TriềuHiến Chơng Loại Chí – Phần nhân vật chí).[4; 221]
Năm Mậu Ngọ 1618, ông cùng với bạn đơng triều là Ngô Trí Hoàlại soạn một tờ khải điều trần 6 việc dâng lên chúa:
1, Xin sửa đức chính để cầu mệnh trời giúp
2, Xin đè nén kẻ quyền hào để nuôi sức dân
3, Xin cấm (phú dịch) phiền hà để đời sống của dân đợc đầy đủ
4, Xin bớt xa xỉ để của dân đợc thừa thãi
5, Xin dẹp trộm cớp để dân đợc ở yên
6, Xin sửa sang quân chính để bảo vệ tính mạng của dân.(trích LịchTriều Hiến Chơng Loại Chí- Phần nhân vật chí) [4; 221]
Qua bản điều trần 6 điểm này, ta thấy nổi lên ở ông một vị quan
th-ơng dân, luôn chăm lo đến cuộc sống của ngời dân và thấm nhuần t tởngnho gia của Khổng – Mạnh, đó là t tởng" Dân vi bản"( dân làm gốc) củaKhổng Tử và "Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh" ( Dân là quý nhất,tới đến xã tắc, vua coi nhẹ) của Mạnh Tử
Ông phụng sự dới một vơng triều, mà ở đó là sự tồn tại song song cảvua lẫn chúa, một chế độ ngày càng tỏ ra thối nát và lâm vào con đờng suy
Trang 23thoái, đã khiến cho những ngời nông dân sống trong xã hội lúc giờ vô cùngcực khổ Ông dâng khải gồm 6 điểm lên phủ chúa để yêu cầu giải quyếtnhững việc cấp bách nhất của đất nớc Điều đó đã nói lên rằng, ông là mộtngời thấm nhuần t tởng “thân dân”, luôn chăm lo đến đời sống của ngờidân Trong 6 điều khải trên đã có tới 5 điều trực tiếp là vì dân Đó là việcyêu cầu vua chúa phải nghiêm trị bọn quyền hào, tham quan ô lại ở địa ph-
ơng, cấm phú dịch phiền hà, bớt xa xỉ để cho nhân dân đợc yên ổn và đờisống đợc no đủ, đồng thời cần phải xây dựng lực lợng, củng cố quân đội đểdẹp trộm cớp, xử trí các cờng phiên để thống nhất chế độ Những điều nàythực sự là rất cần thiết, bởi dới một chế độ phong kiến, nếu vơng triều nàomuốn giữ vững ngai vàng của mình và làm cho đời sống của nhân dân no
đủ, tuyệt đối trung thành với vơng triều đó thì điều trớc tin phải đặt quyềnlợi của ngời dân, của quốc gia dân tộc lên trên quyền lợi của hoàng tộcmình Nh vậy, mới có thể làm cho đời sống nhân dân no đủ và đất nớc ngàycàng vững mạnh Chính điều đó mà điều khải đầu tiên trong số 6 điều khải
mà ông dâng lên phủ chúa, đó là việc yêu cầu những ngời thay trời hành
đạo cần phải sửa đức chính để cầu mệnh trời giúp Đức chính ở đây là việcdùng đức để cai trị dân, chứ không nên dùng sức mạnh, hay hình phạt đểcai trị “ Làm chính trị phải dựa vào đức cũng ví nh sao Bắc đẫu ở yên mộtchỗ mà các sao khác phải chầu xung quanh”.(lời Khổng Tử)
Tất cả những điều khải trên đã nói lên tâm huyết suốt cuộc đời làmquan của ông, mong sao góp tiếng nói của mình vào những chính sách, việclàm của vua chúa để có thể làm lợi cho ngời dân
Năm 1619, vua Lê Thần Tông lên ngôi, thăng ông làm Binh bộ thợng
th kiêm chức Huy văn điện thiêm sự, (giảng văn cho các sĩ tử trong nớc)
Năm 1620, Lê Bật Tứ đợc cử làm Tham tụng phủ chúa (tơng đơngchức tể tớng), để cùng chúa bàn định việc nớc
Năm 1623, ông vì có công trong việc dẹp loạn Trịnh Xuân – conthứ của Trịnh Tùng đốt Đô Thành làm loạn, khiến vua Lê Thần Tông phảilánh nạn vào Thanh Hoa Nhân cơ hội này quân nhà Mạc ở Cao Bằng kéo
về Thăng Long uy hiếp và một lần nữa, Lê Bật Tứ đã góp phần dẹp quânMạc, làm cho Mạc Kính Khoan phải quy thuận nhà Lê và ông đợc cử vềThanh Hoa rớc thánh giá nhà vua quay trở lại Kinh thành, nên trong năm
ấy vì có công lớn nên ông đợc thăng chức Thiếu Bảo
" Tiết chế thái uý thanh quốc công Trịnh Tráng thấy trong nớc đãyên, mới sai bồi tụng tả thị lang Hộ bộ là Diễn gia hầu Lê Bật Tứ cùng với
Trang 24bọn chởng giám thái bảo Nhạc quận công Bùi Sĩ Lâm rớc thánh giá ngự vềKinh thành Từ ấy trong nớc yên tĩnh không có việc gì nữa."[12; 250].
Năm 1626, ông đợc thăng hàm Thiếu phó
Năm 1627 vua Lê Thần Tông đi tuần thú ở vùng đất phía Nam, ông
đã can ngăn nhà vua đình chỉ việc huy động binh lực, rút quân về tránh gâychấn động Vua chấp nhận rút về, sau đó ông cùng với quan Đốc thị LêCông Dinh đi tuần thú làm yên lòng dân nơi đây Thật không may, ngày 15tháng 10 (âm lịch) Đinh Mão 1627 ông đã đột ngột từ trần trong lúc làmnhiệm vụ, thọ 65 tuổi
" Mùa đông tháng 10, Binh bộ thợng th thiếu phó Diễn gia hầu LêBật Tứ chết Tặng quận công, cho thụy là Hoà Nghĩa".[12; 253]
Trong suốt 29 năm làm quan của mình, ông luôn thể hiện là một
ng-ời tài giỏi, văn võ song toàn Ta thấy ở ông vừa là một nhà quân sự, đó làviệc ông đợc triều đình cử làm chức thợng th bộ Binh, từng nắm giữ binhquyền và đem quân đi dẹp loạn, giữ yên xã tắc trong đó có những lần đemquân đi dẹp loạn tàn quân của nhà Mạc ở Cao Bằng, góp phần vào sự ổn
định ở phía Bắc Đó còn là một nhà ngoại giao khi đợc triều đình tin tởng
và giao cho trọng trách đi sứ sang nớc Minh Ông còn là một nhà chính trị,nhà t tởng, khi ông ba lần dâng khải lên vua Lê – chúa Trịnh để mong sao
có đợc sự yên ổn của đất nớc, góp phần vào sự củng cố ngai vàng của vơngtriều Và ở lĩnh vực nào ông cũng hoàn thành xuất sắc công việc của mình,
đợc triều đình xem nh là Ngu Đẩu, là trụ cột của triều đình Nhng bên cạnh
đó thì không mấy ai đợc biết đến tài nghệ của ông ở một lĩnh vực khác, đó
là tài thơ văn
Qua nguồn tài liệu đợc bác Lê Đình Khải – một ngời con của quêhơng Hoàng giáp Lê Bật Tứ, su tầm, công bố và đợc in trong cuốn Danhnhân Thanh Hoá Lê Bật Tứ (1562-1627) (kỷ yếu toạ đàm) ta biết đợc ông
để lại rất nhiều bài thơ hay mỗi khi đi làm nhiệm vụ hay nghĩ về quê hơng,dòng họ mình Năm 1598, khi ông thi đỗ tiến sĩ dới vơng triều Lê ThếTông, niên hiệu Quang Hng thứ 21, khi đợc triều đình cho về vinh quy bái
tổ, ông đã làm đôi câu đối và bài phú để tặng quê hơng
"Na Sơn danh bất h truyền, khai thác vạn niên vị tận,
Làng thuỷ nhơn nhơn tự tại, trờng lu kim cổ vô thanh."
Tạm dịch nghĩa:
"Núi Na nổi tiếng không sai, khai thác muôn năm cha cạn
Trang 25Sông Lờng nhơn nhơn còn đó, lững lờ dòng nớc êm êm.
Và một bài phú đó là bài: "Cổ Na triển vọng Phú"
- Cổ Na chi tây hữu sơn cao cao - thất phiến điệp trùng thành luỹ tựhào
- Cổ Na chi đông hữu thuỷ thâm thâm – Lãng giang uyển chuyểnlong ẩn tiêm vân
Linh địa điểm c, hơng điền dân phú – Nam thanh nữ tú mãn mụcquan chiêm
Thả huống, thị tứ phố phờng hàng hoá tứ phơng quy tụ
Cận giang cận thị cận lộ cận sơn, thuận tiện thơng trờng các các địaphơng bất cập
Cổ lai phong vực, nhân hậu dân hiền, hiếu khách tơng thân quangminh đĩnh đạc
Nam năng hiếu học, nữ trọng công dung, các các gia đình ái phơnggiáo sử
T duy khai hoá dân chuộng kiệm cần, mỗi nhật phơng trơng tạothành trù phú
Ngã sinh tại thử, tiền nhiễm thuần phong - độc th nhi thông nănghành nhi đạt
Phụ mạch chi thực, mẫu y chi trang, tôn tọc gia đờng, niên niên quầntụ
Nhất cử đăng khoa, Nhị giáp trơng danh cập đệ
Vinh quy bái tổ cảm tạ tiền nhân, tích đức chi công tử tôn cảm tri luỹthế
Cổ Na (dân) Nho phong vi luỹ
Cổ Na (dân) phẩm hạnh kiên trì
Lập trí tự cờng – triển vọng vô cùng phấn chấn
Tiền tiến Hậu kế – Thị Cổ Na dân lập thân vi bản
Hữu chí cánh thành – Khả đắc khả thất, giai sự kỳ nhân quyết định
Hữu Thi Viết:
"Cổ Na xã, địa khoát dân cờng,
Trang 26Năng thông kinh sử quý văn chơng.
Ưu thời mẫn thế vinh hoa lục,
Kế tiếp tiền nhân điển cố hơng."
Dịch phú: Bài Cổ Na triển Vọng
- Cổ Na phía tây có núi cao cao, bảy lớp điệp trùng thành luỹ tự hào:
Cổ Na phía đông có nớc sâu sâu, sông uyển chuyển nh con rồng chầu: Đấtlành chim đậu, ruộng tốt dân giàu – Nam thanh nữ tú mắc ý sở cầu –huốn hồ thị tứ phố phờng hàng hoá bốn phơng quy tụ gần sông, gần chợ,gần núi, gần đờng thuận tiện mọi phơng thiên hạ, ít nơi bì kịp
Xa nay phong vực, ngời tốt dân thuần, bè bạn rất thân rõ ràng minhbạch
Con trai ham học, con gái nết na – tập tục mọi nhà chăm đờng dỡngdục
T duy mở rộng, dân lo kiệm cần Ngày một tăng hơn tạo nên trù phú.Tôi sinh ở đó, Nhuần thấm nết hay, sách đọc hàng ngày, hay làm là
Dân Cổ Na tôi, nho phong đạo đức, phẩm hạnh kiên trì, vững bớc mà
đi, trong niềm phấn khởi
Ngời trớc tiến tới, ngời sau nối liền – có chí hẵn thành, lập thân làgốc Khả đắc khả thất đều do tự mình
Nên có thơ rằng:
Cổ Na đất rộng ngời đông
Hay đờng kinh sử thuộc dòng văn chơng
Ưu thời mẫn thế khai trơng,
Noi gơng tiếp bớc, vẻ vang quê nhà
[6; 88,89,90]
Trang 27Năm 1606, niên hiệu Hoằng Định thứ 6, khi đợc triều đình cử đi sứ sang
n-ớc Minh (Trung Quốc), ông đã làm bài thơ: "Sứ Bắc"
"Vạn lý trờng đồ mệnh quân vơng,
Tiết mao sứ sự hành Bắc phơng
Thợng ân vũ lộ Nam thiên khổn
Hạ khuyết đan tâm nhật nguyệt trờng
Cầu phong đắc tứ quang khuê tảo,
Hoà hiếu bang giao thịnh miếu đờng;
Quân quốc nhất tề hoàn trọng nhiệm,
Sơn xuyên hà nại yểm phong sơng."
Dịch thơ: Đi Sứ Tàu
"Đờng xa muôn dặm mệnh vua giao,
Việc sứ Bắc hành ruổi tiết mao
Ơn trên ma móc trời Nam đợm, Cửa khuyết ngày đêm ý dạt dào
Sở cầu nhủ nguyện sao mai sáng, Hoà hiếu đôi phơng thịnh miều trào
Vua nớc cùng lo tròn sứ mệnh, Gió sơng đâu ngại cảnh gian lao."
Tợng binh ẩm thuỷ giang hà kiệt, Tớng sĩ ma đao khuyết thạch bàn
Trảm tớng phá thành bình quốc thổ,
Trang 28Tiêu trừ Mạc khấu định giang san."
Dịc thơ: Tiến Quân Cao Bằng
"Hai đội binh uy đánh Cao Bằng Giang sơn một dải chẳng chia phân
Vạn đội tỳ hu dòng nghĩa khí Trăm viên hùng hổ giáo gơm trần
Voi uống nớc, nớc sông đà cạn, Tớng mài dao đá cũng vẹt dần
Chém tớng phá thành bình đất cũ, Tiễu trừ nguỵ Mạc định giang san."
Cổ Ninh mỗi tởng mỗi thơng trờng."
Dịch thơ: Nhớ Cố Hơng
"Bên sân tản bộ ngắm trăng vàng, Rả rích côn trùng oán thấu xơng
Xa quê từ nhỏ nhiều gian khổ, Giúp nớc tuổi già lắm vấn vơng
Trang 29Ước mong trở lại cùng quê cũ, Giải tấm lòng son với xóm làng.
Binh mã đăng trình sơn khê động, Thủy s Bả trạo hải phong xung
Tự thử sơn hà ninh tích viễn, Tùng kim biên trấn đắc trờng kỳ
Lão thần phụng chiếu yên biên thú,
Hà nạn phong sơng đáo nhật khuy."
Dịch thơ: Kinh Lý Châu Ô
Trơng cờ kinh lý đất ô ry Oai trời nhuần thấm đến man mi Binh mã lên đờng khe núi động, Thủy s mở mái biển rầm rì
Từ đó núi sông yên hàn mãi, Xong đây biên thú đợc đề huề
Lão thần phụng chiếu đi kinh lý,
Dù đến phong sơng có xá chi!"
[6; 92,93]
Qua những vần thơ trên, nói lên nổi niềm thơng nhớ của ông đối vớiquê hơng và trách nhiệm mà triều đình giao phó mổi khi lên đờng đi làmnhiệm vụ, nói lên nổi gian nan vất vã nhng không vì thế mà ông khônghoàn thành đợc trọng trách mà triều đình giao phó Không những thế, bằng
Trang 30tài năng và đức độ của mình, ông đã góp phần quan trọng vào việc giữ yênbiên thùy và xã tắc, đó cũng là nổi niền trăn trở của ông khi phụng sự dớivơng triều Lê – Trịnh, ông luôn cố gắng hết sức lực và trí tuệ của mìnhvào sự nghiệp giúp nớc, giúp dân.
Qua cuộc đời và sự nghiệp của Hoàng giáp Lê Bật Tứ, trong 29 nămlàm quan của mình dới thời Lê Trung Hng, đã hết lòng phụng sự qua ba đờivua và hai đời chúa, đợc triều đình tin dùng và giao cho những chức vụquan trọng nh thay mặt triều đình đi sứ sang Trung Quốc, cầm quân dẹpphản loạn, giao cho việc đón vua Lê chạy loạn trở về kinh thành, qua ba lầndâng khải lên chúa yêu cầu cần phải giải quyết những việc hệ trọng củaquốc gia và ông đợc thăng tới chức thợng th bộ Binh, Thiếu phó, Thamtụng trong phủ chúa Ta thấy ở con ngời ông nổi lên là một nhà chính trị,một nhà ngoại giao, một nhà quân sự, một nhà t tởng, ông đã tiếp nối đợccái truyền thống quý báu của quê hơng, dòng họ ở ông, đó là tinh thần vợtkhó, ham hiểu biết để không ngừng phấn đấu vơn lên và trở thành một vịquan có tài, đức vẹn toàn, suốt đời luôn nghĩ đến tình cảnh của những ngờinông dân lam lũ sống trong một đất nớc không mấy là yên bình, một đất n-
ớc luôn xảy ra những cuộc chiến tranh liên miên giữa các tập đoàn phongkiến với nhau, khiến cho sức lực của ngời dân ngày càng cạn kiệt Có lẽ, vìnhững suy nghĩ trăn trở đó mà ông luôn tìm cách làm lợi cho dân bằng việc
đa ra những chính sách "thân dân" góp phần vào sự ổn định chung của đấtnớc và ông đã để lại cho mọi thế hệ sau một tấm gơng sáng về tính cần cù,vợt khó, sự trung nghĩa của một vị quan sống và làm việc dới một vơngtriều mà ở đó có sự tồn tại cả vua lẫn chúa Một vơng triều mà sự tin tởng,
sự ủng hộ mà ngời dân dành cho là hầu nh không có vì những chính sách,việc làm là nó hoàn toàn đi ngợc lại với lợi ích của ngời dân và không baogiờ đếm xỉ đến những mong muốn, đòi hỏi tối thiểu mà ngời nông dânmuốn có Nhng không vì thế mà ông lại đánh mất đi bản tính tốt đẹp vốn
có của mình, ông luôn giữ mình trong sạch, cần mẫn, tận trung với nớc, tậnhiếu với dân để xứng đáng với truyền thống của quê hơng, dòng họ
2.1.3 Tình cảm của quê hơng đối với công lao, sự nghiệp của ông.
Lúc đơng triều, vốn là một vị quan thanh liêm, luôn giữ mình ngaythẳng, trong sạch, hết lòng vì nớc, vì dân, chỉ mong sao tìm cách đa đất nớcthoát ra khỏi tình trạng chiến tranh triền miên khiến dân nghèo bớt khổ
Ông đợc triều đình tin tởng, trọng dụng, giao cho những trọng trách quantrọng và trở thành một trọng thần, là trụ cột của triều đình và xem nh Ngu
Đẩu Đang lúc quốc gia trọng dụng ông vội ra đi, để tỏ lòng thơng nhớ nhà
Trang 31vua đã miễn triều ba ngày, sai quân hộ tống linh cửu về quê nhà an táng,
đồng thời cử các quan vào điếu tế Đợc triều đình truy tặng Thái Bảo, tớcDiễn quận công, tên thụy là Hoà Nghĩa
Năm Kỷ Tỵ 1629, vua ra lệnh khắc bia đá ghi lại công đức của ông,
đồng thời cho lập đền thờ để con cháu đời đời hơng khói tởng nhớ đến ơn
đức của ông
Hiện nay đền thờ Hoàng giáp Lê Bật Tứ nằm cách trung tâm huyệnTriệu Sơn 12 km về phía Nam, đến ngã ba Na rẽ phải khoảng 500m là tớingôi đền
Theo lời kể của các cụ cao niên trong dòng tộc, thì trớc kia khi cụmất, đợc vua Lê Thần Tông (niên hiệu Vĩnh Tộ thứ 9(1628)), cho xây dựng
đền thờ, đó là một ngôi đền 5 gian đợc làm bằng gỗ hoàn toàn, gồm 3 gianchính và 2 gian chái bất vần Trớc ngôi đền có tấm bình phong đợc xâydựng cao hơn mái hiên của đền, chiều cao khoảng 4,5m, rộng 7,5m, haibên đợc xây chắn mái từ đất lên, 3 cửa chính đi bằng cửa vòm, tức xây t ờnlên cuốn bằng vòm Trên bình phong có đắp hình hổ phù hai bên, có cuốn
th bằng gạch, một bên một cây bút lông và một bên một cây kiếm, hai connghê đá ôm lấy hai bức cuốn th Tuy nhiên, qua thời gian cũng nh nhữngbiến cố của lịch sử thì ngôi đền đã không còn giữ đợc nguyên vẹn nh nhữnggì vốn có Đặc biệt là sau cách mạng đền thờ bị tháo gỡ Qua nhiều lần concháu trong dòng họ và nhân dân trong làng có sự tu sửa, hồi phục lại, nênngôi đền hiện nay tuy không rộng bằng trớc kia nhng không kém phầnkhang trang và tôn nghiêm
Hiện tại, ngôi đền đợc thiết kế theo kiểu hình chữ nhất, bao gồm 3gian có kích thớc bằng nhau, chiều dài 3 gian là 7,5m, chiều rộng phíatrong đền thờ là 5,6m, chiều rộng ở hiên là 1,3m Toàn bộ hai mái của đền
đợc lợp bằng ngói mủi, bên trong ngói liệt, rui mèn bằng lim xẻ vuông, cóhai vì giữa, có hai kẻ trớc và hai kẻ sau (đủ chân tay), đầu kẻ trớc, kẻ sausoi hình đầu rồng, toàn bộ cửa bằng gỗ, kiểu cửa Bức bàn (cửa ngày xa)gồm 3 bộ 12 cánh, từ mặt hiên lên đến mép cửa cao 35cm, trớc hiên có haicây cột lớn, trớc cửa chính giữa có treo bức đại tự "Vạn Đại Anh Linh", cóchiều dài là1,4m, cao 60 cm, phía dới bức đại tự có đôi câu đối cổ treo ởhai bên cửa ra vào gian chính giữa ghi:
"Công đức thiên thu Na lĩnh tuấnBản chi bách thế Lãng giang trờng"
Trang 32Tạm dịch:
"Công đức ngàn năm, thế núi Na sừng sữngChi họ trăm đời, dòng sông Lãng vơn xa"
Ba bức xuân hoa của ba gian đề 6 chữ hán; Từ bên phải sang là hai chữ HoàMộc hai chữ ở bức chính giữa là Tôn Kính, bức bên trái là hai chữ CaTụng Bên trong đền thờ còn một bức đại tự cổ đặt ở gian chính giữa gồm
ba từ; "Lê Công Từ", có 3 đôi câu đối cổ bằng gỗ sơn đen chữ vàng ở trong:Gian chính giữa của đền có đôi câu đối ghi;
"Hiển tại triều vi danh Tiến sĩ
Đăng xã vị hơng Tiên sinh"
Tạm dịch:
"Nổi ở triều ghi danh Tiến sĩ
Về quê hơng tôn trọng bậc thầy"
Gian bên phải ghi:
"Phợng lân giá trọng thiên chi BắcKiều nhạc danh cao đẩu dĩ Nam"
Tạm dịch:
"Phợng lân có giá, trời phơng Bắc trọngNon sông cao, sao Bắc Đẩu lừng Nam"
Gian bên trái ghi:
"Nhất triều khoa hoạn tồn th quyểnQuán thế văn chơng ngỡng Đẩu sơn"
Tạm dịch:
"Đầu triều thi đậu, làm quan ghi sử sáchLừng lẫy văn chơng, sao Bắc Đẩu soi đờng"
Ngoài ra, còn có hai con hạc, hai bộ bát bửu, đôi lộng vàng, trong
đền có một bản in tấm bia đề tên các tiến sĩ khoa Mậu Tuất niên hiệuQuang Hng năm thứ 21 đợc đặt ở Văn Miếu, hơng án cổ, bát hơngcổ Xung quanh đền thờ có tờng xây bao bọc, trồng nhiều cây lu niên, cổthụ tạo nên cảnh trí yên bình, thoáng đãng, trang nghiêm cho di tích Trớcngôi đền có một bát dâng hơng bằng đá chạm trỗ lỡng long chầu nguyệt, và
Trang 33đặc biệt hơn cả khi bớc chân vào ngôi đền ta dễ nhận ra một con rùa đácõng trên lng một tấm bia đá, đợc triều đình cho khắc ghi năm Kỷ Tỵ(1629), nội dung ghi công đức của ông, từ đầu rùa đến đui có chiều dài1,4m, ngang thân rùa là 1,1m, tính từ thân rùa lên đên đỉnh tấm bia cao1,5m, hiện nay một góc của tấm bia đã bị vỡ, đây đợc xem là tấm bia cổtrong đền, trên đầu bia ghi dòng chữ: "Lê Tớng Công Văn Bia", nội dungvăn bia ghi.(Hình 2).
Phiên âm: Lê tớng Công Từ Bi
Minh viết; Lê Hoàng phủ ngự
Việt tộ niên hồngMộc ấp hào phú
ái Châu thế hùng
Phủ tự duy thanhHuyện tắc viết Nông
Cổ Na danh lýHữu Lê tớng côngVăn chơng thủ đoạn
Nghĩa lý trung tâmNho khoa tớng tớng
Đạo trị duy (chung) dung
Dẫn quân dĩ chínhLập triều bản trungNam nhi nhuệ chíBắc sứ thành công
Tớc vinh ngũ đẳng
Vị tiến nhị côngChâu truyền dẫn lợng
Đờng tổ di phùngNhỡng phu u tích
An sũng thuần nông
Trang 34Thợng quang tổ khảoHạ vinh chi tôngDuy nguyên nam hiếu
Đơng chức tử hồng
Từ vu sáng lậpTuế thời phụng cung
Vĩnh niên hơng hoả
Ngật bi sai phongPhu nhân quy hạc
Tử tính lân hồng
Vơng hoà Đậu quế
Mỹ diệp hàn đồngích cơng tớng linhTặng chấn gia phong
Bách phúc thị tổngVạn phúc thu đồng
T minh lặc thạchTrờng đối Na phongHoàng triều Vĩnh Tộ thập nhất niênTam nguyệt, thập lục nhật Lập bi minh
Dịch nghĩa: Bia Đền Thờ lê Tớng Công
(Bia đền thờ ông tớng họ Lê)
Vua Lê đã từng ngự đến
và vỗ về dân chúngPhúc nớc Việt kéo dài to lớn
ấp tắm gội của vua giàu sang
ở ái Châu (Thanh Hoá)Các thế hệ đều hào hùng
Trang 35Trong phủ thanh bình
ở huyện Nông (Nông Cống) có tên nổi tiếng
Là làng Cổ Na
Có ông Lê Tớng CôngVăn chơng tài giỏiNghĩa lý rất chứ chất đầy trong lòng
Đỗ đạt khoa thiLàm tớng văn, tớng võ.(văn võ song toàn)Phép lãnh đạo rất là vừa phải,(tài giỏi ôn hoà)Lấy vua làm chính.(đạo quân vơng làm gốc)Làm nam nhi có chí khí
Đi sứ Bắc (Trung Quốc) thành côngTớc cao năm bậc
Chức vị hai lần công(hai quốc công)Tiếng truyền khắp nơi
Là quan thái tể tài ba
Đất tốt đợc ban
Ân sủng (lộc) nhà vua đợc hởngTrên làm rạng rỡ tổ tiên cha mẹ,Dới làm vinh hiển cho các chi họ, con , cháuLàm ngời con trai có hiếu
Khi làm quan thì chức lớnVì vậy sáng lập nhà thờ
Để bốn mùa cúng phụngMãi mãi hơng hoả
Dựng bia xây thápKhi phu nhân quy tiên,Con cháu đã trởng thành
Trang 36Khi cha đỗ đạt làm quan,Trong triều càng làm rạng rỡ(càng tăng thêm vẻ đẹp của gia phong)Trăm vạn phúc đức đều mãi mãi lu truyền.
Nay khắc vào bia đá để đối mãi với Na Phong
Ngày 16 tháng 3 niên hiệu Vĩnh Tộ năm thứ 11 (1629 - Kỷ Tỵ) dựng bia và khắc bài minh
Trịnh Ngữ và Bùi Vĩ phiên âm dịch nghĩa.[22; 1189-1192].Qua đó ta thấy toàn bộ nội dung tấm văn bia nói lên tài năng phẩmchất, sự nghiệp và gia đình của Hoàng giáp Lê Bật Tứ để từ đó chúng tahiểu rõ hơn về một con ngời vốn xuất thân từ một vùng quê có truyền thốngkhoa bảng Từ đó là động lực giúp ông phấn đấu vợt qua mọi khó khăntrong đời sống để vơn lên trở thành một ngời có ích, giúp nớc, giúp dân.Ngay cả lúc đơng triều, đợc triều đình tin tởng giao phó nhiều trọng tráchquan trọng, nhân dân mến phục, cũng nh khi mất đi thì tình cảm của nhândân, nhất là nhân dân quê hơng dành cho ông vẫn rất đặc biệt
"Đậu đạt làm quan có khối ngờiKhác nhau công đức để cho đời
An dân trị quốc dâng ba khảiDiệt nhũng trừ gian tấu sáu điềuNổi tiếng văn chơng nơi"Bắc quốc"
Vang lừng võ nghiệp chốn biên thuỳ
Trang 37đã để lại tiếng thơm cho quê hơng, dòng họ, lu danh muôn thuở, xứng đángvới truyền thống quê hơng.
Sự biết ơn của nhân dân quê hơng về một vị quan văn võ toàn tài,suốt cuộc đời chỉ nghĩ đến sự an nguy của dân, coi ngời dân nh ngời thântrong gia đình mình Sự biết ơn ấy còn đợc các thế hệ con cháu của dòng họ
và quê hơng lu giữ và phát huy Hàng năm đến ngày giỗ cụ 15 tháng 10(âm lịch), con cháu trong dòng họ và chính quyền địa phơng lại về đền thờ
để dâng hơng tởng nhớ ơn cụ Cứ đến ngày giỗ cụ 15 tháng 10, thì vàochiều ngày 14 tháng 10 thì con cháu trong dòng họ họp lại để báo cáo saumột năm cái đợc và cái cha đợc, sau đó trớc khi làm lễ thì con cháu và mỗimột chi họ (dòng họ có chín chi họ) phải làm một mâm sơn trang (hoa quả)
để rớc đến dâng hơng, buổi tối bà con đến dâng hơng, sáng mai (15 tháng10) khoảng 7h30 sáng tiến hành buổi lễ tởng niệm, nó gồm có hai nội dungkết hợp với nhau Làm lễ thì trong lễ có hội, đó là hàng năm có tổ chức
đêm văn thơ và do huyện, xã cùng dòng họ tổ chức buổi lễ, có báo cáo vềthân thế, sự nghiệp của cụ, dòng họ báo cáo về một năm phấn đấu của dòng
họ, gia đình, trong báo cáo có khen thởng cho các con cháu trong dòng họ
đã có nỗ lực phấn đấu và đạt đợc nhiều thành công (giải thởng Lê Bật Tứ).Trong buổi lễ ngoài các đại biểu của huyện, xã còn có các dòng họ trongxã và nhân dân trong vùng đến dự Việc tổ chức cốt để thực hiện tốt hai
điều; lòng biết ơn quê hơng sản sinh ra danh nhân, từ đó để giáo dục concháu học tập, phát huy truyền thống của dòng họ
Theo lời kể của một số cụ cao niên thì xa kia, cứ đến ngày giỗ cụ,các quan lại địa phơng lại về tế lễ, còn nhân dân trong làng thì mổ lợn, gà
để làm lễ tế, buổi lễ diễn ra rất sôi nổi gồm trống, kèn, phờng bát âm Tuynhiên, hiện nay những nghi thức đó không còn, nhng hàng năm đến ngàygiỗ cụ thì việc tổ chức cũng không kém phần trang trọng, để qua đó giáodục thế hệ con cháu noi gơng cụ, phấn đấu trởng thành trong cuộc sốnghiện tại, góp phần vào việc xây dựng gia đình văn hoá, dòng họ văn hoá,quê hơng ngày càng giàu mạnh, xứng đáng với vùng quê sinh ra Hoànggiáp Lê Bật Tứ
Ngày 24 tháng 1 năm 1998, Bộ trởng bộ văn hoá thông tin đã kýquyết định công nhận đền thờ Hoàng giáp Lê Bật Tứ thuộc "di tích cấpquốc gia".(Hình 3) Đây là vinh dự của quê hơng, của dòng họ Danh nhân
Lê Bật Tứ Nhng vinh dự càng lớn thì trách nhiệm càng cao Để không phụlòng mong mõi của ngời đã khuất và niềm tin, sự giao phó của nhà nớc vàoquê hơng, dòng họ, những ngời dân của quê hơng và con cháu trong dòng
Trang 38họ đang khôn ngừng phấn đấu xây dựng quê hơng, dòng họ ngày càng giàu
đẹp, tiếp nối truyền thống quý báu của quê hơng, góp phần vào sự lu giữ vàbảo lu những giá trị văn hoá truyền thống vốn có của dân tộc
2.2 Danh nhân Lê Thì Hiến (1609-1675)
2.2.1 Thân thế.
+ Quê hơng Hào quận công Lê Thì Hiến là một vùng quê đã có từlâu đời, nhng trớc kia dân c rất tha thớt Thời Lê Sơ, vùng đất này có tên làxã Phú Hào, huyện Lôi Dơng, phủ Thiệu Thiên, tỉnh Thanh Hoa Đến thờinhà Nguyễn (đầu thế kỷ 19), xã Thọ Phú gồm hai làng Phú Hào và MỹHào, thuộc Tổng Bất Nạo (Lôi Dơng).[3; 246-247]
Hiện nay, xã Thọ Phú gồm các làng Phú Hào (làng Hào), Làng MỹHào (làng Hào), làng Quần Trọng, thuộc huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hoá.[21; 442]
Đây là một vùng quê có truyền thống cách mạng, sau cuộc khởinghĩa Hai Bà Trng thì nơi đây đã từng diễn ra cuộc khởi nghĩa do Chu Đạtlãnh đạo năm 156 chống quân Hán Tuy không giành đợc thắng lợi nhng
đó lại là niềm cổ vũ lớn lao đối với nhân dân trong vùng nói riêng và nhândân cả nớc nói chung trong thời kỳ chống Bắc thuộc, để qua đó các thế hệsau có quyền tự hào và phát huy truyền thống đó
+ Gia đình
Hiện nay theo các nguồn tài liệu cũng nh gia phả dòng họ Lê Thìcũng không thấy ghi chép đầy đủ về ông bà và cha mẹ thân sinh ra HàoQuận Công Lê Thì Hiến, theo văn bia "Lê Lệnh Bia Ký" ở đền thờ cụ doTrịnh Ngữ (Giám đốc bảo tàng Thanh Hoá) và Bùi Xuân Vỹ (th viện khoahọc tỉnh Thanh Hoá) phiên âm và dịch nghĩa thì qua đó ta biết đợc ông xuấtthân trong gia đình có:
Ông nội đợc phong tặng Thái Bảo Phúc Chiêu Hầu
Bà nội đợc phong tặng chánh phu nhân Hoàng Phu Sự
Bố Lê Thì trớc là bậc công thần đơng cao võ nghệ, oaihùng, dũng cảm, đợc đặc biệt tiến phong là bậc thợng tớng quân giúp nớc
Điện tiền đô hiệu điểm, t tả hiệu điểm, đăng th vệ s, tặng thêm bắc quân đô
đốc phủ, đô đốc kim sự, tặng thiếu phó, ấn phong Thái Bảo Lê quận công
Lê Thì
Mẹ đợc phong tặng quận chính phu nhân