Giả thuyết khoa học Khả năng hòa nhập của TKT trong các lớp mầm non hòa nhập cũng nhưhiệu quả công tác GDHN cho TKT ở các trường mầm non còn chưa cao.Nguyên nhân chủ yếu là do các nhà gi
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, chúng tôi đã nhận được rất nhiều ý kiến đóng góp và sự quan tâm giúp đỡ của Ban chủ nhiệm khoa, các thầy cô giáo trong khoa GDTH, cùng với các cán bộ quản lí, các giáo viên và phụ huynh trẻ trường mầm non Hoa Sen, trường mầm non Bình Minh, trường mầm non Trung Đô…cũng như sự động viên, khuyến khích của bạn bè, gia đình và người thân.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ và những đóng góp, những tình cảm hết sức quý báu đó.
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc nhất đến cô giáo hướng
dẫn – Thạc sỹ Nguyễn Thị Quỳnh Anh, người đã tận tình dìu dắt, giúp đỡ tôi
rất nhiều trong suốt thời gian qua.
Đây là lần đầu tiên thực hiện công việc nghiên cứu khoa học nên tôi thực sự bỡ ngỡ Do vậy, chắc chắn sẽ không tránh khỏi những sai sót Qua đây rất mong nhận được sự dạy bảo, đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, bạn bè để đề tài được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn
Vinh, tháng 05 năm 2010
Sinh viên
Lê Thị Thiết
Trang 2MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4 Phạm vi nghiên cứu 3
5 Giả thuyết khoa học 3
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Những đóng góp mới của đề tài 4
9 Cấu trúc khoá luận 4
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 Sơ lược về lịch sử vấn đề nghiên cứu 5
1.1.1 Ở nước ngoài 5
1.1.2 Ở Việt Nam 7
1.2 Một số khái niệm cơ bản 10
10
1.2.1 Khái niệm trẻ khuyết tật 10
1.2.2 Khái niệm Giáo dục hoà nhập 12
1.2.3 Giáo dục hoà nhập cho trẻ khuyết tật mầm non 14
1.2.4 Khái niệm can thiệp sớm 15
1.2.5 Giáo dục hội nhập 15
1.2.6 Giáo dục điều chỉnh 16
1.2.7 Giáo dục chuyên biệt 17
1.3 Hoạt động GDHN TKT ở trường mầm non 17
1.3.1 Các đặc trưng cơ bản của GDHN 17
1.3.2 Mục đích GDHN TKT ở trường mầm non 18
1.3.3 Nội dung GDHN cho TKT ở trường mầm non 19
Trang 31.3.4 Phương pháp GDHN cho TKT mầm non 20
1.3.5 Hình thức GDHN cho TKT ở trường mầm non 21
1.4 Trẻ khuyết tật và hoạt động GDHN .………
23 1.4.1 Tiêu chí phân loại và một số dạng khuyết tật phổ biến 23
1.4.2 Một số nét tâm lí đặc trưng của TKT 24
1.4.3 Vai trò của GDHN đối với TKT mầm non 26
Kết luận chương 1 30
Chương 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC HOÀ NHẬP 31
2.1 Cách thức điều tra thực trạng 31
2.1.1 Mục đích điều tra 31
2.1.2 Đối tượng điều tra 31
2.1.3 Phương pháp điều tra 31
2.2 Thực trạng GDHN cho TKT tại các trường mầm non trên địa bàn thành phố Vinh 31
2.2.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên, phụ huynh về vai trò, ý nghĩa của việc GDHN cho TKT 31
2.2.2 Thực trạng về môi trường học tập, sinh hoạt đáp ứng nhu cầu GDHN cho TKT 39
2.2.3 Thực trạng việc thực hiện chương trình GDHN cho TKT tại các trường mầm non trên địa bàn thành phố Vinh 41
2.2.4 Thực trạng về trình độ giáo viên được đào tạo chuyên sâu về GDHN cho trẻ khuyết tật 53
2.2.5 Thực trạng về chế độ chính sách của nhà nước với những người làm công tác giáo dục 56
Kết luận chung về thực trạng 60
2.3 Đề xuất một số biện pháp GDHN cho trẻ khuyết tật tại các trường mầm non trên địa bàn thành phố Vinh 60
2.3.1 Nhóm biện pháp tăng khả năng hòa nhập cho TKT 60
Trang 42.3.2 Nhóm các biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác GDHN
cho TKT ở trường mầm non 64
Kết luận chương 2 68
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70 PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC KÍ HIỆU CHỮ CÁI VIẾT TẮT
GDHN: Giáo dục hòa nhập
TKT : Trẻ khuyết tật
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trẻ em là mầm non tương lai của đất nước Chính vì vậy, trẻ cần đượcchăm sóc và giáo dục ngay từ lứa tuổi đầu đời để tiếp bước cha anh làm chủ xãhội Tuy nhiên, không phải mọi trẻ em sinh ra đều có cuộc sống bình thường,bên cạnh những “Bé khoẻ, bé ngoan” vẫn còn những em bé khuyết tật, sinh ravới những khiếm khuyết về thể chất, tinh thần khiến các em gặp nhiều khó khănbất hạnh trong cuộc sống Theo số liệu của Tiến sĩ Lê Văn Tạc - Viện chiến lược
và chương trình giáo dục - trong tổng số 32 triệu trẻ em Việt Nam, TKT cókhoảng 1,1 triệu em, chiếm khoảng 3,4% so với trẻ em cùng độ tuổi TKT là đốitượng thiệt thòi nhất trong số những trẻ em thiệt thòi, các em cần được sự quantâm đặc biệt của gia đình, cộng đồng và toàn thể xã hội Nhiều công trình nghiêncứu đã chứng minh rằng, TKT cũng có nhu cầu và năng lực học tập như mọi trẻbình thường khác Vì vậy, việc phát hiện, can thiệp sớm và giáo dục cho TKT,giúp các em vượt qua những nghiệt ngã của số phận, có cuộc sống bình thường
là điều hết sức quan trọng Đặc biệt đối với trẻ em lứa tuổi mầm non, đây là giaiđoạn hình thành những phẩm chất nhân cách và năng lực nhận thức ban đầu làmnền tảng cho sự phát triển sau này của trẻ Việc chăm sóc, giáo dục trẻ nóichung và TKT nói riêng ngay từ lứa tuổi đầu đời là trách nhiệm của cộng đồng
và toàn thể xã hội “Chiến lược Giáo dục mầm non từ nay đến năm 2020”, Bộ
Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội, 10/1997, đã chỉ rõ: “Cần làm cho chính quyền các cấp thấy được việc giáo dục TKT là trách nhiệm, nghĩa vụ của toàn xã hội và cộng đồng, đây không phải là một việc làm mang tính nhân đạo đơn thuần mà
là thực hiện các luật, chính sách quốc gia, chính sách của giáo dục và đào tạo, TKTt có quyền về cơ hội bình đẳng trong học tập và hoà đồng với trẻ em phát triển bình thường”.
Trước đây, TKT thường được giáo dục ở các trường chuyên biệt, trẻ ít có
cơ hội tiếp xúc với xã hội, với bạn đồng trang lứa nên gặp nhiều khó khăn tronggiao tiếp bình thường Xu thế phát triển chung của thời đại cùng với những tiến
bộ về khoa học kĩ thuật đã thúc đẩy sự ra đời của mô hình GDHN cho TKT
Trang 7GDHN tạo cơ hội cho mọi trẻ em, đặc biệt là TKT cơ hội tiếp cận bình đẳng, cóchất lượng, giúp TKT được học tại nơi trẻ sinh sống cùng gia đình, không có sựtách biệt môi trường sống GDHN tạo điều kiện tốt nhất để mọi trẻ em cùngchung sống, học tập và xây dựng một xã hội bình đẳng cho tất cả mọi người.
Điều này đã được nêu rõ trong tuyên bố Salamanca, năm 1990: “Các trường học chính quy theo hướng hoà nhập là phương thức tốt nhất để xoá bỏ phân biệt, tạo ra những cộng đồng thân ái, xây dựng một xã hội bình đẳng cho tất cả mọi người”.
Vấn đề GDHN mang ý nghĩa to lớn đối với trẻ em khuyết tật lứa tuổi mầmnon, là điều kiện hết sức quan trọng giúp TKT sớm được can thiệp và có cơ hộitrở lại với cuộc sống bình thường, hoà nhập vào cộng đồng Tuy nhiên, hiện nay
ở Nghệ An nói chung và Thành phố Vinh nói riêng, công tác GDHN cho TKTvẫn chưa được quan tâm đúng mức Vẫn còn nhiều TKT chưa được đến trường,
có một số trẻ đã theo học ở các trường mầm non nhưng vẫn chưa nhận được sựchăm sóc và giáo dục phù hợp, có hiệu quả Việc nghiên cứu thực trạng nhằmtìm nguyên nhân từ đó đề xuất một số biện pháp hữu hiệu để nâng cao chấtlượng GDHN cho TKT tại các trường mầm non trên địa bàn Thành phố Vinh,giúp TKT sớm được can thiệp, vượt lên số phận và hoà nhập vào cộng đồng làđiều rất cần thiết
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Thực trạng Giáo dục hoà nhập cho trẻ khuyết tật tại các trường mầm non trên địa bàn thành phố Vinh” làm đề tài nghiên cứu.
2 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu và nghiên cứu thực trạng GDHN cho TKT tại các trường mầmnon trên địa bàn thành phố Vinh qua đó đề xuất một số biện pháp nhằm nângcao hiệu quả công tác GDHN cho TKT tại các trường mầm non
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Công tác GDHN cho TKT tại các trường mầm nontrên địa bàn thành phố Vinh
Trang 8- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng GDHN cho TKT tại các trường mầmnon trên địa bàn thành phố Vinh.
4 Phạm vi nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng chung của công tác GDHN cho TKT tại các trườngmầm non trên địa bàn thành phố Vinh
5 Giả thuyết khoa học
Khả năng hòa nhập của TKT trong các lớp mầm non hòa nhập cũng nhưhiệu quả công tác GDHN cho TKT ở các trường mầm non còn chưa cao.Nguyên nhân chủ yếu là do các nhà giáo dục cũng như các bậc phụ huynh chưa
có nhận thức đúng đắn và chưa có những biện pháp tác động phù hợp
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lí luận cho vấn đề nghiên cứu
- Nghiên cứu thực trạng GDHN cho TKT tại các trường mầm non trên địabàn thành phố Vinh
- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác GDHN choTKT tại các trường mầm non trên địa bàn thành phố Vinh
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Chúng tôi tiến hành đọc, tổng hợp và phân tích tài liệu trong và ngoài nước
để làm sáng rõ cơ sở lí luận về công tác GDHN cho TKT mầm non
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra: Sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến giáo viên, cán bộquản lí và phụ huynh trẻ ở các trường mầm non nhằm thu thập thông tin về việcthực hiện công tác GDHN cho TKT ở trường mầm non
- Phương pháp đàm thoại: Trò chuyện, trao đổi với giáo viên và phụ huynhtrẻ về các vấn đề chăm sóc, giáo dục TKT Phỏng vấn cán bộ quản lí các trườngmầm non nhằm thu thập thêm thông tin về công tác GDHN tại các trường mầmnon
Trang 9- Phương pháp quan sát: Quan sát giáo viên trong quá trình tổ chức cáchoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ và quan sát TKT trong các hoạt động ở lớp hòanhập.
- Phương pháp thống kê toán học: Xử lí số liệu thu được
8 Những đóng góp mới của đề tài
- Làm rõ thực trạng GDHN cho TKT tại các trường mầm non trên địabàn thành phố Vinh
- Đề xuất một số biện pháp tăng khả năng hòa nhập cho TKT và biện phápnhằm nâng cao hiệu quả công tác GDHN cho TKT tại các trường mầm non trênđịa bàn thành phố Vinh
9 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu thamkhảo, khoá luận gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng GDHN cho TKT tại các trường mầm non
Trang 10Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Sơ lược về lịch sử vấn đề nghiên cứu
Việc nghiên cứu GDHN TKT được nhiều nhà khoa học trong và ngoàinước quan tâm Các tác giả đều nhấn mạnh, GDHN không phải đơn thuần đemlại ý nghĩa riêng cho TKT, mà quan trọng hơn, nó tạo ra cộng đồng thân ái, xóa
bỏ mọi phân biệt để xây dựng một xã hội bình đẳng cho tất cả mọi người Họcũng chỉ ra vai trò to lớn của GDHN đối với TKT tuổi mầm non, và chỉ ranhững điều kiện, những phương thức hình thành quá trình GDHN
hệ thống giáo dục quốc dân
Theo quan niệm thời bấy giờ, TKT là những người “không bình thường”cần phải huấn luyện “đặc biệt” để trở thành người bình thường Như vậy, mụctiêu của giáo dục chuyên biệt là thực hiện vấn đề nhân đạo, cái đích cuối cùng làphục hồi chức năng để hi vọng “lành lặn”, TKT mới đạt tiêu chuẩn để trở thànhngười lao động như mọi người khác Nhưng trước hết, khi họ còn là ngườikhuyết tật thì cần sự quản lí, giám sát để khỏi làm ảnh hưởng đến cộng đồng.Quan điểm tâm lí học: Góp phần tạo một mô hình giáo dục hội nhập TKTđược chăm sóc, hòa nhập từng phần vào xã hội
Năm 1770 đã xuất hiện một mô hình giáo dục hội nhập TKT ở Mỹ, năm
1950 mô hình giáo dục hội nhập xuất hiện ở nhiều nước Năm 1956, Philipin đãđưa trẻ điếc vào học ở trường phổ thông Năm 1945, Anh đưa TKT vào trườnghội nhập vv…
Trang 11Về bản chất, giáo dục hội nhập vẫn dựa vào mô hình y tế - phục hồi chứcnăng, TKT sau khi được phục hồi chức năng được học với trẻ lành, song chỉtham gia một số hoạt động.
Cho đến năm 1960, tư tưởng tôn trọng giá trị và bình đẳng cho mọi người,trong đó có trẻ em, đã xuất hiện và trở thành trào lưu trên toàn thế giới GDHN
ra đời Ở đó TKT được giáo dục ngay trong trường học của trẻ em bình thường,tại cộng đồng nơi các em đang sinh sống
Đầu tiên xuất hiện ở một số nước Châu Âu như: Thụy Điển, Nauy, Italy,Tây Ban Nha… sau tiếp là ở Bắc Mỹ, Newzeland, tiếp tục phát triển ở các nước
và được sự ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng Quốc tế, UNESCO và UNICEF.Thành công của GDHN được khẳng định từ nửa thế kỉ XX, giúp một số lượnglớn TKT ở mọi quốc gia có cơ hội phát triển, nhiều trẻ thành đạt, đại đa số cócuộc sống bình thường, hòa nhập cộng đồng thuận lợi
Một số tác giả đã dày công nghiên cứu về vấn đề GDHN:
M.Soder, đã nghiên cứu thực hiện hòa nhập cho trẻ chậm phát triển trí tuệ.Ông cho rằng: Cần phải tập trung nghiên cứu để giúp trẻ tự tìm ra hoàn cảnh củamình thay thế cho việc đo đạc hiệu quả của công việc hòa nhập
Cũng quan điểm này, Irene Lospez đã nghiên cứu thành công “hòa nhập từviễn cảnh học sinh”: “… những suy nghĩ, nhận thức và mong muốn của đứa trẻcần được tìm ra bằng cách hỏi trẻ như một con người”, và ông xác định trongmục tiêu hòa nhập đấy là cộng đồng tinh thần đoàn kết, sự hiểu biết lẫn nhau,tham gia và giao tiếp
Học thuyết thực tiễn của Glassers – cơ sở giảng dạy của Nissens nói rằng
“sự phát triển tích cực của đứa trẻ là khi nhu cầu cơ bản của trẻ đã được thỏa mãn qua sự chăm nom đầy đủ và điều kiện phát triển là khi trẻ có cảm giác luôn thỏa mãn”.
L.X.Vưgôtxki nhà tâm lí học hoạt động, đã khởi xướng thuyết về “Vùng
phát triển gần nhất” của trẻ em Ông cho rằng : “Sự phát triển của trẻ lứa tuổi mầm non không thể dựa vào vốn liếng di truyền, không tự phát mà diễn ra trong quá trình phát triển” Điều này, không có nghĩa là chỉ có giá trị với trẻ em Mầm
Trang 12non bình thường, mà rất có ý nghĩa với TKT mầm non Bởi vì, được hòa nhậpvới bạn bè, với người lớn trong môi trường giáo dục là phương thức tốt nhất đểtrẻ hoạt động và phát triển.
Cũng trong cuốn “Tư duy và ngôn ngữ” Vưgôtxki lập luận rằng: Hoạt độngtinh thần của con người chính là kết quả học tập mang tính xã hội, chứ khôngphải là hoạt động học tập chỉ là của cá thể Theo ông, khi trẻ em gặp phải nhữngkhó khăn trong cuộc sống, trẻ tham gia vào sự hợp tác với người lớn và với bạn
bè có năng lực cao hơn, những người này đã giúp đỡ và khuyến khích trẻ Trongmối quan hệ hợp tác này, quá trình tư duy trong một xã hội nhất định đượcchuyển giao sang trẻ Điều này vô cùng có ý nghĩa đối với việc cần phải GDHNcho TKT
1.1.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, trước cách mạng tháng tám, công tác chăm sóc giáo dục TKTchưa được quan tâm, ở một số cơ sở tiếp nhận khoảng 200 TKT: Thành lập cơ
sở dạy trẻ điếc 1866 tại Lái Thiêu và cơ sở dạy gần 100 trẻ mù tại Sài Gòn
Từ sau cách mạng tháng tám đến năm 1975, có thêm một cơ sở tập trung 12trẻ điếc tại bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội
Năm 1976- 1990, thành lập một số cơ sở giáo dục chuyên biệt cho trẻkhiếm thính, khiếm thị và chậm phát triển trí tuệ với 72 cơ sở, tập trung thu nhậngần 4000 TKT
Từ năm 1991 đến nay, GDHN tại Việt Nam chính thức hình thành và pháttriển Hơn 10 năm thực hiện GDHN cho TKT Mầm non, có 40 tỉnh thành vớikhoảng 70.000 TKT được GDHN Những năm gần đây, với sự hỗ trợ của tổchức UNICEF, Vụ Giáo dục Mầm non đã tổ chức tập huấn về GDHN cho nhiềuđịa phương trong cả nước Gần đây nhất, tháng 9/2003 Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo có quyết định số 4431 thành lập ban chỉ đạo giáo dục TKT để thựchiện chức năng quản lí nhà nước của Bộ đối với công tác giáo dục TKT ở ViệtNam
Trang 13Việc nghiên cứu GDHN cho TKT Mầm non được thể hiện nhiều trong cáctạp chí, báo giáo dục, chuyên san giáo dục đặc biệt và nhiều tài liệu nghiên cứucủa nhiều nhà khoa học:
Tác giả Lê Văn Tạc trong cuốn “Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật” đã xem
xét hiệu quả của công tác GDHN trong việc điều chỉnh chương trình dạy họcphù hợp với khả năng và nhu cầu của TKT Theo tác giả, trên cơ sở những đặcđiểm khác nhau về khả năng, nhu cầu, sở thích của trẻ, căn cứ vào nội dung củamôn học, bài học, trong lớp học hòa nhập có thể áp dụng một trong các cáchđiều chỉnh sau: Phương pháp đồng loạt, phương pháp đa trình độ, phương pháptrùng lặp giáo án, phương pháp thay thế Việc điều chỉnh cần dựa vào khả năngcủa từng trẻ và cũng không có một phương pháp nào có thể áp dụng cho mọiTKT
Cũng trong cuốn “Giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật ở Việt Nam”(1),
nhóm tác giả Lê Văn Tạc, Trần Văn Đích và một số tác giả đã viết: “Cần nhìn trẻ khuyết tật như mọi trẻ em khác, những em này cũng có năng lực nhất định… các em phải được tham gia một cách bình đẳng trong mọi công việc của cộng đồng để thực hiện lí tưởng một xã hội cho mọi người” Các tác giả đã chỉ ra cụ
thể từng bước đi và cách làm đối với công tác GDHN cho TKT ở Việt Nam.Trong đề cương bài giảng về GDHN, Tiến sĩ Nguyễn Thị Hoàng Yến đãnhấn mạnh tầm quan trọng của các đặc tính tâm lí TKT, khả năng tham gia củachúng trong các trường, lớp học Tác giả cũng khẳng định: Hiểu rõ những đặcđiểm tâm lí và tính quy định tâm lí cá nhân đối với hoạt động chính là điều kiện
có ảnh hưởng căn bản đến hiệu quả của quá trình GDHN và phát triển trẻ Ảnhhưởng đến chất lượng giáo dục, mà trước hết là chuẩn bị cho trẻ những năng lựccần thiết để hòa nhập cuộc sống, học để biết, học để làm và học để chung sống
Nhóm tác giả: Trịnh Đức Huy, Phạm Toán, Dương Thận trong cuốn “Dạy học hòa nhập cho trẻ khuyết tật” đề cập nhiều đến hình thức giáo dục cho TKT,
(1)Trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật, NXB Chính trị Quốc gia (1995)
Trang 14trong đó khẳng định GDHN là mô hình giáo dục toàn diện và hiệu quả nhất Cáctác giả cho rằng: Việc áp dụng lí luận dạy học hiện đại - dạy học lấy trẻ làmtrung tâm - là nền tảng để dạy học hòa nhập cho TKT Cần phải xem xét đứa trẻ
ở năng lực và nhu cầu của chúng để áp dụng biện pháp giáo dục cho phù hợp.Một số kỹ năng cơ bản dạy các loại tật của trẻ trong hòa nhập cũng được các tácgiả chỉ ra một cách chi tiết
Hai đề tài nghiên cứu cấp Bộ của Phòng giáo dục trẻ khiếm thính, Viện
khoa học giáo dục: “Phương pháp nâng cao khả năng giao tiếp của trẻ khiếm thính tuổi mầm non và tiểu học trong môi trường giáo dục hòa nhập”, “Chương trình và giáo trình đào tạo giáo viên mầm non và tiểu học dạy trẻ khiếm thính học hòa nhập” đã khái quát các bước tổ chức quá trình dạy học hòa nhập, mô tả
khá tỉ mỉ các khả năng và đặc điểm phát triển của trẻ khiếm thính Các côngtrình này cung cấp tài liệu về những bước phát triển nhằm nâng cao các khảnăng hòa nhập của TKT về thính giác Đóng góp cho lĩnh vực nghiên cứuGDHN TKT mầm non nói chung và TKT thính giác nói riêng, đồng thời lànhững cơ sở khoa học định hướng cho việc nghiên cứu tiếp về GDHN TKT ởcác địa phương
Những năm qua, tại trung tâm nghiên cứu giáo dục mầm non, trung tâm tậthọc, Viện khoa học giáo dục còn thực hiện nhiều đề tài cấp Bộ, Viện và các đềtài tham dự Dự án hợp tác Quốc tế khác về GDHN cho trẻ Mầm non
Viện khoa học giáo dục, trung tâm giáo dục TKT “Tài liệu đào tạo giáo viên dạy hòa nhập cho trẻ khuyết tật” (1995).
Tác giả, chủ biên Nguyễn Thị Ngọc Châm và nhóm tác giả: Phạm Mai Chi,
Trương Đắc Nguyên, Nguyễn Thị Hoan, Ngô Sỹ Sính với “Tài liệu bồi dưỡng giáo viên mầm non về phát hiện sớm và GDHN” (1998).
Nhóm tác giả: Nguyễn Thị Thu Hà, Lê Thị Đức với cuốn “Phương pháp GDHN lứa tuổi mầm non” (1999) Chủ nhiệm Nguyễn Văn Hường và nhóm tác giả Trương Văn Đích, Nguyễn Văn Đính, Lê Văn Tạc với cuốn “GDHN và cộng đồng” (2001).
Trang 15Tổ chức CRS - Tổ chức cứu trợ phát triển - đã hỗ trợ Vụ Mầm non xâydựng và cấp phát nhiều tài liệu quan trọng về giáo dục TKT Điển hình là bộ
sách “Can thiệp sớm và GDHN TKT mầm non” Tài liệu này không chỉ là công
cụ tốt của cán bộ giáo viên mầm non mà ngay cả với những bà mẹ trong độ tuổisinh đẻ cũng rất cần thiết để phát hiện những dấu hiệu bất thường của con để cóbiện pháp can thiệp sớm cho trẻ
Tháng 6/2007, Vụ Mầm non đã tổ chức xây dựng phim phóng sự “Tầm quan trọng của can thiệp sớm trong GDHN TKT mầm non” Phim có tác dụng
nâng cao nhận thức cho phụ huynh và cộng đồng, khẳng định sự phối hợp quantrọng giữa y tế và giáo dục cũng như vai trò quan trọng của các cơ quan trongquản lí giáo dục và chính quyền các cấp trong hoạt động GDHN
Để thực hiện công tác GDHN có hiệu quả cần có sự phối hợp của rất nhiềuyếu tố Trong đề tài này chúng tôi mong muốn một mặt tiếp tục làm sáng tỏ vaitrò của GDHN cho TKT mầm non Mặt khác nghiên cứu tìm hiểu những khókhăn của các trường mầm non khi thực hiện công tác GDHN cho TKT, qua đóthử đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác GDHN cho TKTmầm non
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Khái niệm trẻ khuyết tật
Xây dựng khái niệm khoa học trả lời cho câu hỏi: Thế nào là TKT? là mộtvấn đề phức tạp Việc tìm kiếm những đặc điểm chung để định nghĩa về TKT đãđược nhiều nhà khoa học nghiên cứu và gây không ít những tranh luận gay gắt.Bởi quan niệm về TKT không giống nhau, tùy thuộc vào thời kì lịch sử, nhậnthức, chế độ xã hội, nền văn hóa và thái độ của mỗi người, hay nhóm ngườitrong cộng đồng xã hội
Trước đây, quan điểm duy tâm tôn giáo: Con người do thượng đế tạo ra vàTKT chính là những linh hồn bị trừng phạt
Quan điểm giáo lý phật giáo: Kiếp sống do trời phật định đoạt, TKT là hậuquả do kiếp trước ăn ở ác, kiếp sau phải gánh chịu cho nên không thể trở thànhngười
Trang 16Quan điểm duy tâm tôn giáo đã coi TKT là đối tượng không được chấpnhận trong xã hội Các quan điểm của họ chỉ dựa vào thế giới quan tôn giáo đểgán mác, chụp mũ cho TKT Cũng có thể thời bấy giờ khoa học kỹ thuật chưaphát triển, cho nên bế tắc trong việc giải thích các hiện tượng khuyết tật mộtcách khoa học Do đó, quan niệm về TKT mang tính tiêu cực, chủ quan, hạ thấp,thậm chí còn sai lệch và xuyên tạc.
Tư tưởng nhân văn đã có ảnh hưởng tích cực trong cách nhìn nhận củacộng đồng đối với TKT Tư tưởng này xuất hiện từ thời văn hóa phục hưngChâu Âu Lúc này, y học đã có những bước phát triển Quan điểm về TKT lànhững con bệnh cần chữa trị, muốn vậy cần phân loại con bệnh để chăm sócriêng biệt cho phù hợp
Quan điểm này dù có tiến bộ hơn quan điểm duy tâm tôn giáo, đó là nhìn rađược các khuyết tật ở con người Tuy nhiên vẫn là sự gán mác, nhìn nhận TKTmột cách biệt lập, coi TKT là người không bình thường trong xã hội người.Quan điểm tâm lí học: Trước hết thừa nhận TKT là trẻ em như mọi trẻ emkhác Coi mỗi đứa trẻ đều có những khả năng nhất định và những hạn chế nhấtđịnh trong hoạt động Quan điểm này tiến bộ hơn nhiều, bởi cho rằng, mỗi đứatrẻ đều có những khó khăn trong quá trình phát triển Những khó khăn đó có cáinằm bên trong đứa trẻ, có cái nằm bên ngoài đứa trẻ
Quan điểm tôn trọng giá trị con người và bình đẳng: TKT là trẻ em, là conngười như mọi người trong xã hội Mỗi TKT đều như trẻ em khác, đều có nhucầu và năng lực nhất định Như vậy mỗi đứa trẻ chính là một cá nhân, một nhâncách có năng lực khác nhau, có cách học khác nhau, tốc độ lĩnh hội, tiếp nhận trithức, kinh nghiệm xã hội khác nhau Song tất cả TKT đều có thể tham gia hòanhập xã hội, đều có khả năng tham gia các hoạt động để tồn tại và phát triển
Điều 1 Pháp lệnh người tàn tật, 1998 định nghĩa: “Trẻ tàn tật là những trẻ
từ 0 -18 tuổi, không phân biệt nguồn gốc gây ra khuyết tật, thiếu một hay nhiều
bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, học tập, sinh hoạt gặp nhiều khó khăn”.
Trang 17“TKT là những trẻ có thiếu hụt cấu trúc cơ thể hoặc suy giảm các chứcnăng dẫn đến những hạn chế nhất định trong hoạt động của cá nhân và gặp khókhăn, trở ngại (do môi trường sống đem lại) trong việc tham gia đầy đủ và cóhiệu quả mọi hoạt động trong xã hội – cộng đồng” (2).
Như vậy khái niệm TKT có thể phát biểu như sau: Trẻ khuyết tật là những trẻ bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể, giác quan (thể chất) hoặc chức năng (tinh thần) biểu hiện dưới nhiều dạng khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho trẻ gặp nhiều khó khăn trong lao động, sinh hoạt, học tập, vui chơi.
1.2.2 Khái niệm về giáo dục hòa nhập
GDHN được dùng nhiều trong những năm gần đây ở nhiều quốc gia trênthế giới Khái niệm GDHN tương đối năng động để biểu đạt quan điểm “quâyquần lại chúng ta sẽ tốt hơn” (Irenne Lóper- Thụy Điển) Động từ gốc La Tinhincludere có nghĩa là đóng cửa lại sau khi có người nào đó vào nhà
Định nghĩa thông thường của động từ tiếng Anh include là có, xem xét vànhìn nhận một cái gì đấy như một phần của một tổng thể
Giáo dục trong ngữ cảnh này nhấn mạnh những hoạt động nhằm khuyếnkhích óc phê phán, phát triển năng lực trí tuệ và kích thích tính tò mò GDHNcũng có hàm ý là giảm bớt sự phân biệt
Thuật ngữ GDHN được xuất phát từ Canada và được hiểu là những trẻngoại lệ được hoà nhập, qui thuộc vào trường hoà nhập GDHN là phương thứcgiáo dục mọi trẻ em, trong đó có TKT, trong lớp học bình thường của trường
phổ thông Giáo dục hoà nhập là "Hỗ trợ mọi học sinh, trong đó có trẻ khuyết tật, cơ hội bình đẳng tiếp nhận dịch vụ giáo dục với những hỗ trợ cần thiết trong lớp học phù hợp tại trường phổ thông nơi trẻ sinh sống nhằm chuẩn bị trở thành những thành viên đầy đủ của xã hội” Hoà nhập không có nghĩa là "xếp
chỗ" cho TKT trong trường lớp phổ thông và không phải tất cả mọi trẻ đều đạttrình độ hoàn toàn như nhau trong mục tiêu giáo dục GDHN đòi hỏi sự hỗ trợcần
Trang 18
(2)Tổ chức Y tế thế giới, Định nghĩa, phân loại người khuyết tật 4/2001
thiết để mọi học sinh phát triển hết khả năng của mình Sự hỗ trợ cần thiết đóđược thể hiện trong việc điều chỉnh chương trình, các đồ dùng dạy học, dụng cụ
hỗ trợ đặc biệt, các kỹ năng giảng dạy đặc thù,… Các giáo viên và nhân viênnhà trường cần thấm nhuần tư tưởng hoà nhập để TKT được phụ thuộc lẫn nhau,được chấp nhận, được có giá trị, được hỗ trợ của bạn bè… Trường hoà nhập là
"Tổ chức giải quyết vấn đề đa dạng nhằm chú trọng đến việc học của mọi trẻ Mọi giáo viên, cán bộ và nhân viên nhà trường cam kết làm việc cùng nhau tạo
ra và duy trì môi trường đầm ấm có hiệu quả cho việc học tập Trách nhiệm cho mọi trẻ được chia sẻ"
GDHN dựa trên quan điểm xã hội trong việc nhìn nhận đánh giá đúngTKT Nguyên nhân gây ra khuyết tật không phải chỉ do khiếm khuyết của bảnthân cá thể mà còn là môi trường xã hội Môi trường xã hội đóng vai trò quantrọng trong sự phát triển của TKT TKT về vận động (như liệt) sẽ là mất khảnăng nếu không có các phương tiện đi lại, không được tham gia vào hoạt động
xã hội và sẽ trở thành tàn phế nếu không ai chăm sóc giúp đỡ Nhưng cũng trẻ
đó, nếu được hỗ trợ, có phương tiện đi lại và xã hội có những cơ sở vật chấtthích ứng không tạo ra các khó khăn (như có các đường lên xuống dễ dàng cho
xe đẩy) và cùng được tham gia vào các hoạt động, trẻ sẽ được bình đẳng và pháttriển như mọi trẻ khác
GDHN dựa trên quan điểm tích cực về TKT Mọi TKT đều có nhữngnăng lực nhất định, chính từ sự đánh giá đó mà TKT được coi là chủ thể chứkhông phải là đối tượng thụ động trong quá trình tiếp nhận các tác động giáodục Từ đó người ta tập trung quan tâm, tìm kiếm những cái mà TKT có thể làmđược Các em sẽ làm tốt những việc phù hợp với nhu cầu và năng lực của mình.Trong giáo dục, gia đình, cộng đồng, xã hội cần tạo ra sự hợp tác và hoà nhậpvới các em trong mọi hoạt động Vì thế, các em phải được học ngay ở trườnghọc gần nhất, nơi các em sinh ra và lớn lên Các em luôn luôn được gần gũi giađình, luôn được sưởi ấm bằng tình yêu của cha, mẹ, anh, chị mình và được cả
Trang 19cộng đồng đùm bọc, giúp đỡ TKT sẽ được học cùng một chương trình, cùnglớp, cùng trường với các bạn học sinh bình thường Cũng như mọi học sinhkhác, học sinh khuyết tật là trung tâm của quá trình giáo dục Các em được thamgia đầy đủ và bình đẳng mọi công việc trong nhà trường và cộng đồng để thựchiện lý tưởng "trường học cho mọi trẻ em, trong một xã hội cho mọi người".Chính lý tưởng đó tạo cho TKT niềm tin, lòng tự trọng, ý chí vươn lên để đạtđến mức cao nhất mà năng lực của mình cho phép Đó là GDHN.
Như vậy: GDHN là phương thức giáo dục trong đó TKT được học chung với trẻ em bình thường cùng lứa tuổi ở nơi sinh sống, trẻ được tham gia vào các hoạt động như mọi trẻ bình thường, không có sự phân biệt Tất cả trẻ đều học theo nội dung chương trình giáo dục chung có sự điều chỉnh cho phù hợp với mức độ và loại tật của trẻ.
1.2.3 Giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật Mầm non
GDHN cho TKT Mầm non là phương thức giáo dục cho trẻ TKT vào họctrong môi trường giáo dục bình thường (trường Mầm non) TKT Mầm non đượcvui chơi, học tập cùng với trẻ bình thường cùng lứa tuổi ngay tại nơi trẻ sinh ra
và lớn lên Trong môi trường đó, giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn và tạo
cơ hội cho TKT được tham gia tiếp xúc, giao tiếp với mọi người, được tham giahoạt động với các bạn để lĩnh hội những kiến thức văn hóa, hình thành những kỹnăng sống phù hợp với lứa tuổi Mầm non, giúp trẻ có thói quen và tự tin vào bảnthân
Giáo dục cho tất cả các cháu trong độ tuổi Mầm non, đây là quan điểm thiếtyếu, yếu tố đầu tiên thể hiện bản chất của GDHN Trong GDHN không có sựtách biệt giữa trẻ, mọi trẻ đều được tôn trọng và có giá trị như nhau
Sự cần thiết GDHN cho TKT trong độ tuổi Mầm non xuất phát từ quanđiểm xã hội trong việc nhìn nhận TKT Nguyên nhân gây ra khuyết tật khôngphải chỉ do khiếm khuyết của bản thân cá thể mà còn là khiếm khuyết về phía xãhội
Chẳng hạn, TKT về thính giác sẽ mất khả năng nghe nếu không có hỗ trợcủa máy trợ thính, không được tham gia các hoạt động xã hội, trẻ sẽ trở thành
Trang 20người tàn phế suốt đời Ngược lại, cũng trẻ đó, nếu được hỗ trợ của máy trợthính, được tham gia giao tiếp, hòa nhập cộng đồng, được tham gia các hoạtđộng vui chơi, học tập với trẻ khác, trẻ đó sẽ có sự bình đẳng và phát triển nhưmọi trẻ khác.
Như vậy, “như mọi trẻ khác”, TKT là trung tâm của quá trình giáo dục điềuchỉnh Các em được tham gia đầy đủ và bình đẳng trong mọi hoạt động củatrường Mầm non để thừa hưởng các quyền lợi và thực hiện các nhiệm vụ, tạocho TKT niềm tin, lòng tự trọng, ý chí vươn lên để đạt tới mức cao nhất mànăng lực của mình cho phép
1.2.4 Khái niệm can thiệp sớm
Can thiệp sớm là những chỉ dẫn ban đầu và các dịch vụ dành cho trẻ và giađình TKT trước tuổi Tiểu học nhằm kích thích và huy động sự phát triển tối đa ởtrẻ, tạo điều kiện và chuẩn bị tốt cho trẻ tham gia vào hệ thống giáo dục bìnhthường và cuộc sống sau này
Can thiệp sớm là việc trợ giúp nhằm vào tất cả các trẻ em có nguy cơ hoặc
đã bị khuyết tật Việc trợ giúp này bao gồm toàn bộ giai đoạn từ chẩn đoán trướckhi sinh cho đến lúc trẻ đến tuổi đi học Nó bao gồm toàn bộ việc phát hiện vàchẩn đoán sớm cho đến lúc hướng dẫn Can thiệp sớm có liên quan đến cả đứatrẻ lẫn cha mẹ, gia đình và một mạng lưới rộng lớn
Như vậy có thể kết luận: Can thiệp sớm là việc nhận biết, phát hiện, đánhgiá và chẩn đoán loại khuyết tật, xây dựng các chương trình can thiệp sớm chocha mẹ trẻ, nhà trường và giáo viên để giáo dục và điều trị y tế Can thiệp sớm là
sự hỗ trợ cho trẻ em và gia đình trẻ có nhu cầu giáo dục đặc biệt từ khi trẻ đượcphát hiện có vấn đề cho đến tuổi học đường
1.2.5 Giáo dục hội nhập
Giáo dục hội nhập là hình thức giáo dục TKT trong lớp học chuyên biệtđược đặt trong trường bình thường Trong quá trình giáo dục có một số môn học,một số hoạt động TKT cùng tham gia với trẻ bình thường Hoặc TKT tham gia tất
cả các giờ hay chỉ một số giờ hướng dẫn ở các lớp của trường phổ thông Hoặc
Trang 21TKT tham gia học cả ngày hay một phần trong ngày tại các lớp của trường phổthông.
Ture Johson(3) đã đưa ra khái niệm về các mức độ hội nhập như sau:
1 Hội nhập về thể chất: Trẻ lành và TKT được giao lưu với nhau hay cùng
chơi với nhau trong một địa điểm và trong một thời gian nhất định
2 Hội nhập về chức năng: Trẻ lành và TKT được tham gia cùng nhau
trong một số hoạt động như thể thao, vẽ…
3 Hội nhập xã hội: Trẻ cùng học với nhau trong một trường nhưng theo
các chương trình khác nhau, có giờ học chung và học riêng tùy theo môn học vàkhả năng học tập của trẻ
4 Hội nhập hoàn toàn: TKT học như trẻ bình thường theo một chương
trình cứng bắt buộc
Về bản chất, giáo dục hội nhập vẫn dựa vào mô hình y tế phục hồi chứcnăng, TKT sau khi phục hồi chức năng được học với trẻ lành, song chỉ tham giamột số hoạt động (hòa nhập về mặt nhận thức) Trẻ được tham gia một số hoạtđộng trong lớp bình thường hoặc có lớp TKT được đặt trong trường bình thườngnhưng nội dung học khác nhau (hòa nhập về mặt xã hội)
Về khái niệm thì giáo dục hội nhập và GDHN một phần không giống nhaunhưng theo thực tế có một số điểm giống nhau: Xếp trẻ vào lớp bình thường vàchỉ hòa nhập một số hoạt động, xếp riêng trẻ thành một lớp trong trường bìnhthường
1.2.6 Giáo dục điều chỉnh
Quan điểm mới về chương trình dạy học và điều chỉnh cho rằng: “Trẻ nào cũng có khó khăn trong những thời điểm nhất định, đó là điều bình thường Khi trẻ gặp khó khăn cần có sự quan tâm đặc biệt, sự giúp đỡ trẻ kịp thời sẽ tạo cơ hội cho trẻ vượt qua được các khó khăn Những khó khăn của trẻ là yếu tố mở đường cho chúng ta điều chỉnh chương trình, thay đổi phương pháp dạy học”.
Tính tất yếu của việc điều chỉnh là sự thay đổi trong mục tiêu, nội dung,phương pháp, biện pháp nhằm giúp trẻ phát triển trên cơ sở năng lực của chúng
Trang 22_
(3) Chuyên gia liên hợp quốc về phục hồi chức năng
Việc điều chỉnh sẽ giúp trẻ:
- Hứng thú, nâng cao hiệu quả học tập tốt trên cơ sở vận dụng tối đa nhữngkhả năng của bản thân để lĩnh hội những kiến thức và kỹ năng cần thiết
- Tránh bất cập giữa kỹ năng hiện có của trẻ với nội dung giáo dục
- Hạn chế những xử sự về tinh thần và hành vi không tốt ở lớp mẫu giáohòa nhập Đồng thời nâng cao tính tương tác giữa cách học của trẻ và phươngpháp dạy của giáo viên
Chính vì vậy, GDHN TKT đòi hỏi nội dung, phương pháp phải được điềuchỉnh cho phù hợp với nhu cầu và năng lực của trẻ
1.2.7 Giáo dục chuyên biệt
Là phương thức giáo dục tách biệt TKT với trẻ bình thường, cho TKT cócùng loại tật vào học tập ở trường lớp riêng biêt (hoặc trung tâm riêng) Tại đó,TKT được học theo phương pháp riêng, với những nội dung giáo dục riêng theoloại tật và theo các nguyên tắc giáo dục riêng biệt
Mục tiêu của giáo dục chuyên biệt là :
- Chăm sóc, chữa trị và phục hồi chức năng
- Dạy văn hóa và dạy nghề
1.3 Hoạt động GDHN TKT ở trường mầm non
1.3.1 Các đặc trưng cơ bản của GDHN
Giáo dục cho mọi đối tượng trẻ - đây là tư tưởng chủ đạo thể hiện bản chấtcủa GDHN Trong GDHN không có sự tách biệt giữa các trẻ với nhau, mọi trẻ
Trang 23đều được tôn trọng và đều có giá trị như nhau Điều này thể hiện quan điểm bìnhđẳng trong giáo dục, tôn trọng quyền lợi và khả năng phát triển của mọi trẻ em.Trong GDHN, trẻ được học ngay tại địa phương, không bị tách biệt môitrường sống Bởi vì, trường mầm non hòa nhập có trách nhiệm tiếp nhận mọi trẻ
em trong độ tuổi vào học, không kể trẻ mầm non bình thường hay TKT Điều đótạo cơ hội cho TKT được đến trường mầm non mà khoảng cách và không giankhông bị thay đổi lớn, trẻ có khả năng sớm thích nghi và hòa nhập nhanh vàomôi trường bình thường
GDHN đảm bảo cho mọi trẻ em đều được hưởng một chương trình giáodục Tuy nhiên, chương trình đó phải được điều chỉnh cho phù hợp với mức độ
và loại tật của trẻ Điều chỉnh chương trình, đổi mới phương pháp dạy học vàthay đổi quan điểm, cách đánh giá là vấn đề cốt lõi giúp GDHN đạt hiệu quả caonhất Điều chỉnh chương trình là việc làm tất yếu của GDHN, có điều chỉnhchương trình phù hợp mới đáp ứng cho mọi trẻ em có nhu cầu, năng lực khácnhau
GDHN không đánh đồng mọi trẻ em như nhau Mỗi đứa trẻ là một cá nhân,một nhân cách có năng lực khác nhau, cách học khác nhau, tốc độ học cũngkhông như nhau Vì thế, điều chỉnh chương trình cho phù hợp là rất cần thiết.Mặt khác, dạy học một cách sáng tạo, tích cực và hợp tác là mục tiêu củadạy học hòa nhập Dạy học hòa nhập sẽ tạo ra được cho trẻ kiến thức chung,tổng thể, cân đối Do vậy, trong dạy học hòa nhập, các phương pháp được lựachọn và sử dụng luôn phải mang lại hiệu quả và đáp ứng được các nhu cầu khácnhau của trẻ
1.3.2 Mục đích của GDHN TKT ở trường mầm non
Mục đích của GDHN TKT của trường mầm non là nhằm giúp mọi trẻ em,trong đó có cả trẻ mầm non bình thường và TKT được phát triển toàn diện vềthể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhâncách và chuẩn bị cho trẻ vào lớp một, tạo ra được môi trường sống, học tập hòanhập tốt nhất cho TKT mầm non
Trang 24Để thực hiện mục tiêu này, trường mầm non có nhiệm vụ tiếp nhận tất cáccác trẻ trên địa bàn dân cư nơi sinh sống của trẻ mà trường chịu trách nhiệmquản lí giáo dục Mặt khác, tổ chức các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ trongmột môi trường giáo dục bình thường, tạo điều kiện thuận lợi cho TKT đượctham gia học cùng trẻ bình thường ở các lớp mầm non hòa nhập Tạo điều kiệncho mọi trẻ em, kể cả TKT có cơ hội được chăm sóc và giáo dục bình đẳng Bêncạnh đó, để thực hiện các nhiệm vụ chăm sóc, giáo dục trẻ đạt kết quả, trườngmầm non cần tạo được sự cộng tác giữa gia đình và nhà trường trong việc chămsóc và giáo dục trẻ Nhà trường có trách nhiệm đề xuất tăng cường sự hỗ trợ củagia đình và xã hội về cơ sở vật chất, đồ dùng học tập cho TKT Quan trọng hơn,nhà trường có trách nhiệm tạo điều kiện và cơ hội học tập về giáo dục đặc biệtcho giáo viên mầm non tham gia dạy TKT hòa nhập, giúp giáo viên có kiếnthức, khả năng và phương pháp, kỹ năng tổ chức tốt các hoạt động chăm sócgiáo dục trẻ tại trường lớp mầm non hòa nhập.
1.3.3 Nội dung GDHN cho TKT ở trường mầm non
Mọi trẻ em đều được học trong môi trường giáo dục, mà trong đó trẻ cóđiều kiện và có cơ hội để lĩnh hội những tri thức mới theo nhu cầu và khả năngcủa mình Để có một môi trường học tập như vậy cho mọi trẻ em, GDHN đề cậpđến những nội dung cơ bản sau đây trong dạy và học:
- Trẻ được học theo một chương trình phổ thông
- Tuỳ theo năng lực và nhu cầu của từng trẻ mà giáo viên có trách nhiệmđiều chỉnh nội dung cho phù hợp
- Đổi mới phương pháp dạy và học, đặc biệt giáo viên cần biết cách điềuchỉnh và lựa chọn những hoạt động học tập sao cho mọi trẻ đều có đủ nhữngđiều kiện thuận lợi và cơ hội để lĩnh hội kiến thức mới
- Môi trường giáo dục phù hợp cho mọi đối tượng
Mỗi hoạt động trong chương trình giáo dục được biên soạn nhằm phát triểnkiến thức, kỹ năng nhất định cho trẻ bình thường Tuy nhiên, những hoạt động
đó cũng rất cần thiết đối với TKT trong lớp học Vốn sống, môi trường chămsóc giáo dục tại gia đình, năng lực nhận thức, khả năng ngôn ngữ, của TKT rất
Trang 25đa dạng Do vậy, khi trong lớp học có TKT hòa nhập, giáo viên cần căn cứ vàođặc điểm về năng lực và nhu cầu để linh hoạt điều chỉnh các hoạt động sao choTKT tích cực tham gia vào các hoạt động trong lớp học Việc điều chỉnh cầnđược tiến hành về mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện hoạt động vàcách đánh giá kết quả hoạt động.
Việc điều chỉnh cần được tiến hành ngay từ khi đặt mục tiêu của hoạt động
Cơ sở của việc điều chỉnh này là “Thang nhận thức Bloom gồm 6 mức độ: Biết
→ hiểu → vận dụng → phân tích → tổng hợp → đánh giá” Sau đó, tùy thuộcvào hoạt động, năng lực của trẻ, giáo viên cần linh hoạt xác định mục tiêu chophù hợp với trẻ và chuẩn bị đồ dùng thích hợp
Để đạt được mục tiêu của các hoạt động, giáo viên cũng cần lựa chọn nộidung hoạt động cho phù hợp với khả năng của trẻ Thông thường, với TKT, giáoviên không nên cho trẻ hoạt động với quá nhiều nội dung
Việc điều chỉnh và lựa chọn nội dung giáo dục phù hợp có ý nghĩa rất lớnđối với TKT, các em có cơ hội phát huy hết khả năng của mình và tham gia hoạtđộng tích cực hơn trong lớp hòa nhập
1.3.4 Phương pháp GDHN cho TKT mầm non
Ở lớp học hòa nhập, TKT ngoài việc tham gia các hoạt động chung cùngvới cả lớp còn phải có sự tác động riêng Tại tiết học chung, TKT cần được xếpngồi phía trên gần giáo viên nhưng tránh là tâm điểm chú ý của lớp, ảnh hưởngcác cháu khác Ngoài tiết dạy chung theo chương trình cho cả lớp, giáo viêndành thời gian thực hiện tiết học cá nhân cho TKT Tổ chức các hoạt giáo dục cánhân cho trẻ tại lớp hòa nhập còn có sự phối hợp giữa giáo viên chính và giáoviên phụ Đồng thời phối hợp giữa trường lớp mầm non và gia đình trong giáodục trẻ tại trường và gia đình
Giáo viên cần động viên, khích lệ TKT trong mỗi nấc thang tiến bộ của trẻ,tạo dựng lòng tin và sự tin tưởng, lạc quan cho trẻ Như vậy, trẻ sẽ cố gắng vươnlên phát huy hết khả năng của mình và thực hiện tốt các nhiệm vụ học tập
Tiết học cá nhân được giáo viên thực hiện với từng TKT theo đặc điểm củatật và tại địa điểm riêng của lớp Tùy theo mức độ tật của trẻ mà giáo viên có
Trang 26phương pháp giáo dục khác nhau, thời gian khoảng từ 15 – 20 phút sau buổi họcchung.
Kế hoạch bài giảng của giáo viên dạy lớp hòa nhập cần được xây dựng theobiểu đồ hình tháp:
- Cả lớp sẽ học gì?
- Đa số trẻ sẽ học gì? Và đạt được những kết quả gì?
- Trẻ khuyết tật sẽ học gì? Và tiến bộ như thế nào?
Mục tiêu, yêu cầu chương trình học của TKT tùy thuộc vào mức độ khuyếttật, chương trình học được xây dựng riêng cho từng trẻ và từng loại tật
Muốn xây dựng chương trình riêng cho từng TKT, giáo viên cần khảo sátđánh giá các mặt phát triển của trẻ dựa vào 5 lĩnh vực phát triển sau:
+ Vận động thô: đi, chạy, nhảy…
+ Vận động tinh: Sờ mó, cầm nắm…
+ Nhận biết ngôn ngữ
+ Kỹ năng cá nhân và xã hội
+ Kỹ năng giao tiếp
Khi tiến hành khảo sát trẻ trên 5 lĩnh vực trên, giáo viên phải dựa vào cácmốc phát triển tâm lí, sinh lí, ngôn ngữ và vận động của trẻ bình thường cùng độtuổi để xác định, ghi nhận sự phát triển của trẻ
* Đánh giá trẻ khuyết tật: tức là đánh giá sự tiến bộ của trẻ sau mỗi giai
đoạn chăm sóc giáo dục về các mặt hành vi, cách cư xử, giao tiếp, cách sốngtrong cộng đồng và các hiểu biết khác Kết quả những lần đánh giá TKT tronglớp học mầm non là đánh giá hiệu quả giáo dục đối với TKT mầm non với vaitrò giáo dục của giáo viên và cha mẹ trẻ Trong quá trình GDHN TKT mầm non,
sự phối hợp giữa giáo viên, trẻ, môi trường sống và học tập của trường lớp vàcha mẹ trẻ là những yếu tố đóng vai trò quyết định của sự thành công Đồngthời, giáo viên và cha mẹ trẻ cần tham khảo ý kiến của các chuyên gia trongnhóm chuyên ngành đa chức năng để đánh giá đúng mức sự tiến bộ của trẻ vàhướng can thiệp
1.3.5 Hình thức GDHN cho TKT ở trường mầm non
Trang 27Để công tác GDHN cho TKT ở trường mầm non đạt hiệu quả, tạo cho trẻmôi trường tốt nhất để phát triển, ngoài việc điều chỉnh nội dung, phương phápdạy học thì hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục cũng được thay đổi chophù hợp với khả năng và nhu cầu của TKT.
Thứ nhất là thay đổi hình thức hoạt động của trẻ Căn cứ vào khả năng và
sở thích của trẻ, căn cứ vào nội dung và thời điểm của bài học, giáo viên đưa racác dạng hoạt động phù hợp với trẻ Có thể tổ chức các hoạt động theo hìnhthức:
- Hoạt động theo nhóm
- Học theo từng đôi
- Học qua sự giúp đỡ của bạn bè
Thứ hai là thay đổi hình thức giảng dạy của giáo viên Nhiều khi việc ghinhớ kiến thức của trẻ không phải chỉ thông qua việc giảng giải, hướng dẫn củagiáo viên mà còn được thông qua các hoạt động khác như:
- Hoạt động vui chơi, đóng kịch hoặc phân vai
- Các giờ học thực hành
- Các giờ học ngoài trời
Giáo viên căn cứ vào dạng khuyết tật của trẻ, căn cứ vào khả năng và nhucầu của từng TKT trong lớp hòa nhập để lựa chọn và tổ chức các hình thức hoạtđộng phù hợp Đối với TKT, giáo viên cần sử dụng linh hoạt các hình thức tổchức giáo dục để trẻ có thể phát huy tối đa khả năng của mình và học tập tốtnhất trong môi trường hòa nhập
Việc thay đổi hình thức giáo dục còn thể hiện ở sự thay đổi phong cáchgiảng dạy của giáo viên Trong dạy học hòa nhập, giáo viên phải thay đổi cáchtruyền đạt hay phong cách giảng bài nhằm giúp TKT tiếp thu các kiến thức mộtcách tốt nhất
Khi trong lớp mẫu giáo có TKT học hòa nhập giáo viên phải chú ý: trẻthuộc loại khuyết tật nào, khả năng nhận thức, hoạt động…của trẻ ra sao, để cócách tổ chức thực hiện các hoạt động phù hợp Chẳng hạn, đối với trẻ khiếmthính, cho trẻ ngồi ở vị trí mà có thể nghe giáo viên nói và nhìn được khuôn
Trang 28miệng giáo viên rõ nhất Trước khi bắt đầu một hoạt động nào đó, phải cho trẻchú ý bằng cách rung chuông, gõ vào bàn…sau đó mới nêu các yêu cầu, nộidung cần thực hiện Hay đối với trẻ khiếm thị, giáo viên cần bố trí lớp học, ánhsáng và chỗ ngồi để trẻ khiếm thị nhìn rõ nhất Cho trẻ sờ mó, ngửi…để nhậnbiết vị trí của các bạn, các đồ vật, đồ chơi trong lớp.
Việc thay đổi và tổ chức hình thức giáo dục phù hợp có ý nghĩa quan trọngđối với sự phát triển của trẻ trong lớp mẫu giáo hòa nhập
1.4 Trẻ khuyết tật và hoạt động giáo dục hòa nhập
1.4.1 Tiêu chí phân loại và một số dạng khuyết tật phổ biến
Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) phân loại khuyết tật được dựa trênnhững đặc điểm sức khỏe và những hạn chế trong hoạt động của cá thể trongmôi trường sống của họ
Thông thường phân loại khuyết tật theo 3 yếu tố cơ bản:
+ Những thiếu hụt về cấu trúc cơ thể
+ sự suy giảm các chức năng
+ Những hạn chế trong hoạt động của cá thể
Quá trình nghiên cứu để tìm kiếm những phương thức giáo dục phù hợpcho TKT, các nhà khoa học đã phân chia TKT thành các loại như sau:
Trang 29Đặc điểm cơ bản và chung nhất ở tất cả các loại khuyết tật là đều làm ảnhhưởng đến ngôn ngữ và khả năng giao tiếp của trẻ.
+ Với trẻ khuyết tật thính giác: Khả năng nghe bị giảm (khiếm thính) hoặc
mất hẳn sức nghe (điếc) làm cho trẻ khó khăn khi giao tiếp với người khác, ảnhhưởng đến phát triển ngôn ngữ, trường hợp điếc nặng thường dẫn đến mất tiếngnói (trẻ bị câm)
+ Trẻ khuyết tật thị giác: Khả năng nhìn bị suy giảm (nhìn kém) hay hoàn
toàn không nhìn thấy (mù) làm cho trẻ gặp nhiều khó khăn trong quan sát trigiác đối tượng một cách cụ thể bằng mắt
+ Trẻ khuyết tật trí tuệ: Năng lực hoạt động nhận thức bị suy giảm ở những
mức dộ nhận thức khác nhau làm cho đứa trẻ có chỉ số thông minh kém trẻ bìnhthường, trẻ khó thích nghi với xã hội và gặp rất nhiều khó khăn trong học tập,nhận thức
+ Trẻ khuyết tật vận động: Những thiếu hụt về cấu trúc cơ thể như thiếu
ngón tay, khoèo tay khoèo chân, những cơ quan vận động bị tổn thương…làmcho trẻ đi đứng, cầm nắm, di chuyển hoạt động khó khăn Tuy nhiên, hầu hếtTKT vận động năng lực trí tuệ vẫn phát triển bình thường
+ Trẻ khuyết tật ngôn ngữ: Trẻ có thể câm hay nói ngọng nói lắp…làm cho
trẻ gặp khó khăn trong giao tiếp với người khác
+ Một số tật khác ở trẻ như: Động kinh, tự kỷ, trẻ có hành vi xa lạ…
1.4.2 Một số nét tâm lí đặc trưng của trẻ khuyết tật
* Về nhu cầu của TKT:
Nói đến nhu cầu của con người, người ta thường đề cập đến 2 nhóm nhucầu cơ bản: Thứ nhất: Nhóm các nhu cầu thiên về vật chất như: ăn ở, đi lại…thứ
2, nhóm nhu cầu về tinh thần bao gồm: học tập, vui chơi giải trí, giao tiếp…Nhà tâm lí học người Mỹ Abramma phân loại nhu cầu con người bằng sơ đồ
“Bậc thang nhu cầu căn bản của con người” Theo tác giả, nhu cầu con ngườibao gồm 6 loại: nhu cầu phát triển nhân cách, nhu cầu tôn trọng, nhu cầu xã hội,nhu cầu được quan tâm, nhu cầu về sự an toàn, nhu cầu vật chất để tồn tại
Trang 30Đối với TKT, nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định: Nhu cầu của TKTkhông có gì khác với nhu cầu của trẻ bình thường Nhưng để thỏa mãn các nhucầu của TKT, đòi hỏi sự trợ giúp nhiều hơn trẻ bình thường Tuy vậy, các nhucầu thường không được đáp ứng cùng một mức độ, sự nhìn nhận chúng cũngkhông hề biệt lập, do đó đứa trẻ khuyết tật rất khó khăn để tự mình đáp ứng nhucầu cho bản thân mà phụ thuộc rất nhiều đến sự giúp đỡ của người khác.
Chúng tôi cho rằng, về nhu cầu của TKT và trẻ bình thường không có sựkhác biệt Song để thỏa mãn nhu cầu của TKT, sự hỗ trợ của người khác là vôcùng quan trọng Đặc biệt là các nhu cầu về chăm sóc sức khỏe, nhu cầu để phụchồi những chức năng do khuyết tật mang lại Các nhu cầu về bình đẳng trong vuichơi, giao tiếp và giải trí, nhu cầu được hòa nhập, được tôn trọng về quyền sống,học tập và làm người
Yếu tố phương tiện đối với TKT cũng có ý nghĩ đặc biệt quan trọng trongviệc thỏa mãn các nhu cầu của chúng Chẳng hạn máy trợ thính đáp ứng yêu cầu
về thính lực cho trẻ khiếm thính, hay để thỏa mãn nhu cầu nhận thức cho trẻkhiếm thị rất cần sự hỗ trợ của máy học chữ nổi Braille Những TKT nặng nhưbại não, liệt cần được giúp đỡ về nhu cầu đi lại, ăn uống, vệ sinh, trẻ động kinhcần thuốc thang để kiểm soát những cơn co giật để bảo vệ sức khỏe và an toàn
về tính mạng
* Về năng lực của TKT
Ở TKT, một mặt là sự khiếm khuyết, sự thiếu hụt các chức năng do cơ thểmang lại đã gây ra nhiều những hạn chế, mặt khác sự vượt trội của một số chứcnăng khác của cơ thể đề bù đắp những thiếu hụt như là sự bù trừ Nếu nhận được
sự chăm sóc và giáo dục phù hợp, cùng với sự cố gắng nỗ lực vượt lên từ chínhbản thân trẻ, thì một số khả năng sẽ trội hơn trẻ bình thường Tri giác nhìn củatrẻ khiếm thính chi tiết và tỉ mỉ hơn trẻ bình thường
* Thái độ và quan hệ của TKT
Tật học hiện đại đã đưa ra nhận xét: Thái độ và quan hệ của TKT khônghoàn toàn bình thường Do loại tật mắc phải và tùy những mức độ khác nhau,
mà biểu hiện của thái độ và quan hệ ở TKT cũng không hề giống nhau Có lúc
Trang 31đứa trẻ khuyết tật rất nhu mỳ, yếu đuối trước mọi người, có thái độ muốn gầngũi, thân thiện và giao tiếp với người khác Nhưng có lúc thì chúng lại ngôngnghênh, cộc cằn không muốn tiếp xúc và gần gũi với người khác Nếu khôngđược sống trong môi trường thuận lợi đứa trẻ dễ có thái độ mặc cảm, tự ty hoặcphá phách, la hét quá khích hoặc sống im lặng thu mình trước cộng đồng xã hội.Tuy nhiên, thái độ và quan hệ của TKT không phải là sự bất biến mà nóphụ thuộc rất nhiều vào môi trường sống Nếu được chăm sóc, giáo dục tốt, thái
độ, quan hệ của trẻ sẽ được phát triển theo chiều hướng tích cực
* Hành vi của TKT
Những hành vi của TKT không được bình thường Cũng không ít tác giảkhi nghiên cứu đã cho rằng những trẻ có hành vi bất bình thường được xếp vàoloại tật “Trẻ có hành vi xa lạ” Một số trẻ cử động chân tay không theo điềukhiển của trí não, chúng hay khua chống chân tay, lúc lắc người rất khó chịu.Một số TKT khó tập trung chú ý, không muốn nghe lời người lớn, đi đứng khókhăn Một số trẻ có hành vi quậy phá, chọc ghẹo người khác Cũng có những trẻtrốn tránh mọi người, thích lủi thủi một mình trong ngôi nhà, xó bếp
Những hành vi của TKT không phải đều giống nhau, mặc dù hành vi nàynhìn thấy rõ và tập trung đại đa số ở những trẻ bị tật về trí tuệ Tuy nhiên, tùytheo loại tật và mức độ mà hành vi của TKT được biểu hiện dưới những đặctrưng và ở mức độ khác nhau
1.4.3 Vai trò của giáo dục hòa nhập đối với trẻ khuyết tật mầm non
Quá trình tìm kiếm các phương thức giáo dục cho phù hợp với sự phát triểncủa TKT, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Giáo dục TKT cần được tiến hànhcàng sớm càng tốt, và môi trường tốt nhất để TKT tham gia giáo dục hòa nhập
đó chính là trường Mầm non
Quá trình phát triển của trẻ trong những năm đầu của cuộc đời diễn ra vôcùng nhanh chóng Đồng thời với sự phát triển của não bộ, với sự tăng nhanhtrọng lượng, chiều cao của cơ thể…là sự phát triển vượt trội về ngôn ngữ, nhậnthức, tình cảm và thực hiện các kỹ năng xã hội Phát hiện và thực hiện can thiệp
Trang 32sớm cho TKT ở giai đoạn này có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình phát triểncủa trẻ.
GDHN cho TKT Mầm non có vai trò hết sức to lớn không chỉ đối với TKT
mà nó còn có ý nghĩa đối với trẻ bình thường
Đối với TKT, việc tham gia lớp học hòa nhập như một thành viên đượctiếp đón ân cần dạy cho trẻ tính tự lực và giúp chúng nắm vững những kỹ năngmới Đối với một số trẻ, đó có thể là lần đầu tiên trong đời chúng được mongđợi và khuyến khích là những điều chúng có thể làm cho bản thân Làm việc vàvui chơi với những trẻ khác khuyến khích TKT phấn đấu để đạt được nhữngthành tích lớn hơn Do đó chúng phát triển được cái tôi khỏe mạnh và tích cực.Nếu cứ sống và học tập mãi với bạn bè khuyết tật, TKT sẽ không bao giờkhám phá ra được những khả năng tiềm tàng mà chúng có Vì vậy, việc học tậptrong một lớp hòa nhập với trẻ bình thường giúp cho trẻ hiểu đúng về năng lựccủa mình, từ đó chúng có thể tìm được cách phát huy những tiềm năng này và tựphát triển Ví dụ, một trẻ khiếm thính sẽ rất khó phát hiện ra khả năng nhận biết
từ ngữ diễn đạt bằng việc mấp máy môi Hay chúng có thể không làm giàu đượcvốn ngôn ngữ ký hiệu của bản thân nếu không sinh hoạt với trẻ bình thườngcùng tuổi Việc hòa nhập TKT giống như một thứ nhớt làm trơn quá trình lĩnhhội của chúng
Một số khuyết tật không chẩn đoán được cũng được khám phá thông quachương trình hòa nhập trước tuổi học Có một số khuyết tật không nhận biếtđược một cách rõ ràng cho đến khi trẻ gia nhập trường tiểu học, và do vậy rấtnhiều thời gian học tập bị đánh mất Giáo viên mầm non có thể quan sát và sosánh nhiều trẻ cùng độ tuổi Điều này làm cho việc phát hiện những vấn đề chothấy triệu chứng của một khuyết tật nào đó trở nên dễ dàng hơn Nhà trẻ có thể
là cơ hội đầu tiên mà một số trẻ nhận được sự chăm sóc mà chúng cần
Việc hòa nhập giúp đỡ cả trẻ không khuyết tật nữa Chúng học cách vui vẻtiếp nhận những sự khác biệt đặc biệt của con người Nhiều công trình nghiêncứu đã cho thấy rằng, thái độ của trẻ đối với TKT có thể trở nên tích cực hơn khichúng có cơ hội chơi chung với nhau một cách thường xuyên Chúng học được
Trang 33rằng, TKT cũng như chúng, có thể làm một số việc tốt hơn những việc khác.Trong một lớp hòa nhập, chúng có cơ hội làm bạn với nhiều trẻ khác nhau.
Chúng ta biết rằng, sự thân ái là viên gạch đầu tiên giúp xây dựng lòngnhân hậu và vị tha cho trẻ Trẻ em sống trong một môi trường đa chủng tộc, đavăn hóa thường độ lượng hơn trong cách nhìn nhận và chấp nhận sự khác biệt vềmàu da và đa dạng về văn hóa là vì vậy Do đó, khi học cùng một lớp với TKT,trẻ bình thường sẽ học được cách nhìn nhận một cách rộng lượng và đối xử nhânhậu với TKT Cũng chính vì vậy, chúng sẽ làm giàu được vốn sống của mình.Đôi khi phụ huynh TKT có thể lo lắng rằng con họ sẽ không được những trẻkhác thích và chấp nhận, có khi còn bị ăn hiếp, đối xử thô bạo hay trêu chọc.Tuy nhiên chúng ta cũng biết rằng, một trong những điểm mạnh của trẻ em làchúng rất dễ thích nghi, dễ tiếp nhận cái mới nên lo lắng này có thể khắc phụcđược Đương nhiên, một số trẻ không tỏ ra thân thiện, nhưng đây không phải làvấn đề chỉ xảy ra với trẻ khuyết tật Đó không phải là lý do để né tránh lớp học,lại càng không phải lý do để lẩn tránh cả thế giới còn lại Dù sao đi nữa thì TKTcũng cần được tiếp cận với cuộc sống bình thường bởi vì một lẽ: Cuộc sống làmột món quà phải được mở bởi chính đôi bàn tay của chúng
Như vậy, GDHN TKT mầm non góp phần tạo ra được môi trường sống,học tập tốt nhất cho TKT, tạo điều kiện thuận lợi cho TKT được tham gia họccùng trẻ bình thường ở các trường, lớp mầm non GDHN là cơ hội để trẻ bìnhthường và TKT hiểu đúng giá trị của nhau, xóa bỏ sự cách biệt mặc cảm, xa lánh
để trẻ có trách nhiệm với nhau hơn Bên cạnh đó, GDHN giúp TKT được học tạinơi trẻ sinh sống cùng gia đình, không có sự tách biệt môi trường sống vì trườngmầm non hòa nhập có trách nhiệm tiếp nhận toàn bộ trẻ của địa phương nơitrường đóng không kể TKT hay trẻ bình thường vào học Thông qua lớp học hòanhập, giúp cho mọi trẻ, trong đó kể cả trẻ mầm non bình thường và TKT đượcphát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành nhữngyếu tố đầu tiên của nhân cách và chuẩn bị cho trẻ vào lớp một GDHN TKTmầm non còn đóng vai trò giúp TKT được can thiệp sớm và hỗ trợ gia đình TKTtrong công tác can thiệp sớm Tổ chức các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ
Trang 34trong một môi trường giáo dục bình thường, tạo cho mọi trẻ mầm non kể cảTKT có cơ hội được chăm sóc và giáo dục bình đẳng Và đặc biệt, GDHN tạo sựhợp tác giữa gia đình, cộng đồng và nhà trường trong việc chăm sóc và giáo dụctrẻ mầm non.
Để thấy rõ hơn vai trò của GDHN, UNICEF và UNESCO đã đưa ra bảngtổng hợp khái quát sự khác nhau giữa các mô hình giáo dục:
Đặc biệt Môn học làm trọng tâm Lấy trẻ làm trọng tâm
Giáo viên Chuyên biệt
Giáo viên chủ nhiệm, giáo viên chuyên biệt, chuyên gia các lĩnh vực liên quan
Giáo viên chủ nhiệm
Hiệu quả
giảng dạy của
giáo viên
Chuyên biệt cho nhóm trẻ cùng dạng tật
Không thay đổi, chỉ
có khả năng dạy trẻ “lành”
Có khả năng giống mọi trẻ trong quá trình học
Sự tự tin ở trẻ
Thấp, cảm giác mình bị tách biệt
Có cảm giác bị cách biệt
Cảm giác tự tin về bản thân
Môi trường
Gần như bị tách biệt, từ chối
Không thay đổi
Giới hạn thấp nhất,
mở rộng ngang bằng với những trẻ khác
Ngân sách Rất cao Đỡ đắt hơn Hầu hết đều có hiệu quả Tính bền
vững
Không bền vững
Không chứng minh được là bền vững Hoàn toàn bền vững
Cơ hội tham
gia Rất hạn chế Một phần Bình đẳng như mọi trẻ
Quyền học
tập của trẻ
Đối tượng của từ thiện
Được thừa nhận là
có quyền nhưng không triệt để
Thực tế và cấp thiết được thực hiện thì hoàn toàn bình đẳng
Trang 35Như vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng, GDHN là mô hình hoàn thiệnnhất, kinh tế nhất và mang tính nhân văn nhất.
Kết luận chương 1
Trẻ em đến tuổi học cần phải được đến trường đó là việc làm căn bản, thiếtyếu Tuy nhiên không phải đứa trẻ nào cũng may mắn có được cuộc sống xuôichèo mát mái như vậy Có những đứa trẻ đến tuổi nhưng vẫn không được đếntrường mầm non, nguyên nhân là do các em không có sự phát triển bình thườnggiống như những đứa trẻ khác - đó là những trẻ em khuyết tật Các em có sựthiếu hụt về cấu trúc, chức năng đẫn đến gặp nhiều khó khăn trong học tập, sinhhoạt Tuy vậy, nếu được can thiệp sớm và GDHN ngay từ tuổi còn bé thì các em
có khả năng phục hồi rất cao Việc đưa trẻ đến trường hòa nhập từ lứa tuổi mầmnon có ý nghĩa rất lớn, đó là môi trường tốt nhất giúp trẻ được học tập, vui chơivới các bạn bình thường cùng trang lứa
Để thực hiện tốt công tác GDHN cho TKT ở trường mầm non đòi hỏi phải
có sự nỗ lực rất lớn không chỉ của các giáo viên mầm non mà còn cần đến sựchung tay hỗ trợ của các lực lượng cộng đồng Để trẻ có được môi trường tốtnhất trong lớp hòa nhập, giúp trẻ phát huy hết khả năng của mình và có đượccon đường phát triển tốt nhất giáo viên cần biết cách xây dựng môi trường họctập, sinh hoạt cũng như có biện pháp tác động phù hợp đến trẻ Để làm được nhưvậy, giáo viên phải được bồi dưỡng các kiến thức cơ bản về kỹ năng chăm sóc,giáo dục TKT cũng như nắm vững đặc điểm tâm lí, khả năng nhận thức củaTKT trong lớp hòa nhập
GDHN là môi trường tốt nhất để TKT có cơ hội vươn lên thể hiện nhữngkhả năng của mình và tự tin, hòa nhập vào cộng đồng Hơn thế nữa, nó còn giúpcho những trẻ bình thường học được cách quan tâm, giúp đỡ bạn bè và bồidưỡng lòng nhân ái ở trẻ em Vì vậy, việc làm tốt nhất là hãy đưa TKT hòa nhậpngay từ tuổi mầm non
Trang 36Chương 2
THỰC TRẠNG GIÁO DỤC HÒA NHẬP CHO TRẺ KHUYẾT TẬT TẠI CÁC TRƯỜNG MẦM NON TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ VINH 2.1 Cách thức điều tra
2.1.1 Mục đích điều tra
Điều tra thực trạng chung về công tác GDHN cho TKT tại các trường mầmnon trên địa bàn thành phố Vinh
Qua đó đề xuất một số biện pháp nhằm tăng khả năng hòa nhập cho TKT
và nâng cao hiệu quả của công tác GDHN cho TKT ở trường mầm non
2.1.2 Đối tượng điều tra
- Giáo viên, cán bộ quản lí trường mầm non và phụ huynh trẻ ở các trườngmầm non trên địa bàn thành phố Vinh
2.1.3 Phương pháp điều tra thực trạng
- Phương pháp điều tra an két: Sử dụng 60 phiếu trưng cầu ý kiến giáo viên,
20 phiếu trưng cầu ý kiến cán bộ quản lí trường mầm non và 30 phiếu dành chophụ huynh trẻ
- Phương pháp quan sát, trao đổi, ghi chép
- Phương pháp thống kê toán học
2.2 Thực trạng GDHN cho TKT tại các trường mầm non trên địa bàn thành phố Vinh
2.2.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên, phụ huynh về công tác GDHN cho TKT ở trường mầm non
2.2.1.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên về công tác GDHN cho TKT ở trường mầm non
STT Mức độ quan trọng Số lượng Tỷ lệ (%)
Trang 37Bảng 1: Nhận thức của giáo viên về công tác GDHN cho TKT ở trường mầm non
Công tác GDHN cho TKT ở trường mầm non là một vấn đề khá mới mẻ vàmới được triển khai trong những năm gần đây Tuy nhiên, hầu hết các giáo viênđều nhận thức được tầm quan trọng của công tác này
Qua điều tra chúng tôi được biết, có tới 86,7% giáo viên cho rằng, việcGDHN cho TKT là hết sức quan trọng, có vai trò rất cần thiết đối với sự pháttriển của trẻ Thế nhưng, thực tế, các giáo viên đã tiến hành công tác GDHN choTKT như thế nào? Trẻ đã có được môi trường học tập, sinh hoạt phù hợp khihòa nhập ở trường mầm non hay chưa? Công tác GDHN cho TKT ở trườngmầm non đã thực sự mang lại hiệu quả? đang là một vấn đề cần phải bàn đến.Mặc dù, các giáo viên đã nhận thức được tầm quan trọng của việc GDHNcho TKT Nhưng khi quan sát môi trường học tập, sinh hoạt trong lớp học hòanhập, quan sát các hình thức tổ chức tiết học, tìm hiểu chương trình GDHN choTKT và đặc biệt là tìm hiểu nhận thức của giáo viên được đào tạo chuyên sâu vềGDHN cho TKT chúng tôi thấy còn nhiều vấn đề bất cập, công tác GDHN choTKT chưa thực sự mang lại hiệu quả thiết thực TKT vẫn được đến trường, đượchọc hòa nhập trong các lớp mẫu giáo bình thường nhưng trẻ chưa thực sự cóđược môi trường tốt nhất để phát triển
Điều này cũng dễ hiểu bởi vì công tác GDHN mới được triển khai trongnhững năm gần đây, nhiều giáo viên chưa thực sự hiểu hết về công tác này.Ngay cả khái niệm “Thế nào là Giáo dục hòa nhập?” cũng có nhiều cách hiểukhác nhau
Trang 38STT Khái niệm giáo dục hòa nhập Số
lượng
Tỷ lệ (%)
1
GDHN là hình thức giáo dục TKT trong môi trường giáo
dục bình thường TKT được học chung với trẻ bình
thường cùng lứa tuổi ngay tại địa phương theo một
chương trình giáo dục chung
2
GDHN là hình thức giáo dục TKT trong lớp học chuyên
biệt được đặt trong trường bình thường Trong quá trình
giáo dục có một số môn học, một số hoạt động TKT cùng
tham gia với trẻ bình thường
3
GDHN là hình thức giáo dục TKT trong môi trường giáo
dục bình thường Trong đó TKT cùng học với trẻ em
bình thường ngay tại nơi trẻ sinh sống theo một chương
trình chung có sự điều chỉnh cho phù hợp với mức độ và
loại tật của trẻ
Bảng 2: Cách hiểu của giáo viên mầm non về khái niệm Giáo dục hòa nhập
Có nhiều quan điểm cho rằng, GDHN đơn giản chỉ là đưa TKT vào trongmôi trường giáo dục bình thường Qua thực tế điều tra trên 60 giáo viên ở cáctrường mầm non, khi chúng tôi đưa ra ba khái niệm về Giáo dục hòa nhập đã có
những cách hiểu khác nhau Có tới 50% giáo viên cho rằng “GDHN là hình thức giáo dục TKT trong môi trường giáo dục bình thường TKT được học chung với trẻ bình thường cùng lứa tuổi ngay tại địa phương theo một chương trình giáo dục chung” Theo ý kiến của các giáo viên, đã cho trẻ “Hòa nhập” thì tất nhiên
là phải đưa trẻ vào trong môi trường giáo dục bình thường, hơn thế nữa để trẻthực sự được “hòa nhập” cần cho trẻ học theo chương trình giáo dục chunggiống như tất cả những trẻ em bình thường khác Đây là cách hiểu chưa đầy đủ,bởi lẽ TKT là những trẻ có sự thiếu hụt về cấu trúc, chức năng khiến các em gặpkhó khăn trong hoạt động học tập, vui chơi Trẻ không thể tiếp cận các kiến thức
Trang 39một cách dễ dàng, nhanh chóng giống như trẻ bình thường được Hòa nhậpkhông có nghĩa là “xếp chỗ” cho TKT trong trường lớp mầm non và không phảimọi trẻ đều đạt trình độ như nhau trong mục tiêu giáo dục GDHN đòi hỏi sự hỗtrợ cần thiết để mọi trẻ phát triển hết khả năng của mình Sự hỗ trợ cần thiết đóđược thể hiện trong việc điều chỉnh chương trình, các đồ dùng dạy học, các dụng
cụ hỗ trợ đặc biệt, các kỹ năng giảng dạy đặc thù Hòa nhập không chỉ đơn giản
là đưa TKT vào trong một chương trình giáo dục chung với trẻ bình thường.Phải thiết lập những bước rõ ràng để đảm bảo cho TKT được tham gia một cáchđầy đủ và tích cực những hoạt động trong lớp học Hiểu một cách đơn giản làmột mặt, cho trẻ học theo chương trình giáo dục chung với trẻ bình thường, mặtkhác, với TKT giáo viên cần linh hoạt điều chỉnh để phù hợp với khả năng nhậnthức của trẻ
Bên cạnh những giáo viên có cách hiểu chưa đầy đủ, còn có tới 6,7% giáo
viên có cách hiểu sai về GDHN Họ cho rằng “GDHN là hình thức giáo dục TKT trong lớp học chuyên biệt được đặt trong trường bình thường Trong quá trình giáo dục có một số môn học, một số hoạt động TKT cùng tham gia với trẻ bình thường” Ở đây, các giáo viên đã nhầm sang hình thức giáo dục hội nhập.
Với hình thức này, vẫn là cách thức đặt trẻ vào môi trường giáo dục bình thườngnhưng nó vẫn có sự tách biệt TKT và trẻ bình thường không cùng học chungmột lớp mà có một khoảng cách nhất định
Chỉ có 43,3% giáo viên có cách hiểu đúng về GDHN GDHN là hình thứcgiáo dục TKT trong môi trường giáo dục bình thường, TKT được học chung vớitrẻ bình thường theo một chương trình giáo dục chung Tuy nhiên, để phát huyđược tính tích cực, giúp trẻ nắm được các kiến thức một cách dễ dàng khi thựchiện chương trình giáo dục phải có sự điều chỉnh cho phù hợp với mức độ vàloại tật của trẻ
2.2.1.2 Nhận thức của phụ huynh về công tác GDHN cho TKT ở trường mầm non
Để các trẻ em khuyết tật được đến trường mầm non hòa nhập cùng bạn bèthì nhận thức của phụ huynh về GDHN có vai trò rất quan trọng Chính các bậc
Trang 40phụ huynh là người đóng vai trò quan trọng, quyết định đến số lượng TKT đượcđến trường mầm non.
Sinh con ra có những khiếm khuyết về bất cứ mặt nào cũng là điều màkhông bố mẹ nào mong muốn Tuy nhiên, khi gặp phải điều không may mắn đóthì bố mẹ nào cũng muốn bù đắp cho con, tìm cho con con đường phát triển tốtnhất Nhưng lựa chọn cho con con đường nào tốt nhất, phù hợp nhất không phải
là điều dễ dàng và không phải ai cũng ý thức được điều đó
STT Giải pháp trong trường hợp có con bị khuyết tật Số
lượng
Tỷ lệ (%)
3 Cho con vào học trường bình thường tại địa phương 17 56,7
Bảng 3: Những giải pháp phụ huynh lựa chọn trong trường hợp có con bị
khuyết tật
Qua điều tra thực tế trên 30 phụ huynh trẻ ở các trường mầm non, trong đó
có 15 phụ huynh TKT và 15 phụ huynh trẻ bình thường, chúng tôi được biết, có9/30 phụ huynh (chiếm 30%) chọn giải pháp cho con vào học trường chuyênbiệt Theo ý kiến của những phụ huynh này thì trẻ vào trường chuyên biệt sẽđược học theo một chương trình riêng, đặc thù với dạng khuyết tật của trẻ Mặtkhác, có sự hỗ trợ của các chuyên gia, các giáo viên chuyên về chăm sóc – giáodục TKT nên khả năng phục hồi sẽ cao hơn Thế nhưng, họ chưa hiểu đượcrằng, vào trường chuyên biệt trẻ hàng ngày chỉ tiếp xúc, giao lưu với những bạnkhuyết tật, không có cơ hội giao lưu với xã hội bên ngoài vì vậy trẻ sẽ mặc cảm,
tự ti khi ra ngoài xã hội
Chúng tôi cũng thừa nhận rằng, đối với những trường hợp khuyết tật nặngthì vẫn nên cho trẻ vào trường chuyên biệt vì ở đó có đủ điều kiện thuận lợi đểchăm sóc, giáo dục trẻ Như vậy sẽ tốt hơn cho bản thân các em cũng như giáo