Chúng là nguồn cung cấp nguyên liệu phong phú cho các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dược phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm… đặc biệt là trong y học.Trên thế giới hiện có rất nhiều phòng thí ngh
Trang 1Trờng đại học vinh
==== ====
Nguyễn Thị Phơng Loan
THÀNH PHẦN HOÁ HỌC CỦA HOA SIM
(RHODOMYRTUS TOMENTOSA (AIT) HASSK)
Trang 2Luận văn đợc hoàn thành tại Phòng cấu trúc - Viện Hoá học - Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn:
PGS.TS Hoàng Văn Lựu - Khoa Hoá học - Trờng Đại học Vinh đã giao
đề tài và tận tình hớng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
và hoàn thiện luận văn
PGS.TS Chu Đình Kính - Viện Hoá học - Viện Khoa học và Công nghệ
Việt Nam, ngời đã tận tình hớng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình ghi phổ và xác
định cấu trúc các hợp chất
TS Trần Đình Thắng, TS Lờ Đức Giang đã quan tâm, chỉ dẫn và đóng
góp nhiều ý kiến quý báu cho luận văn
NCS ThS Nguyễn Văn Thanh đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình
thực nghiệm
Nhân dịp này, tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô giáo khoa Hoá học, Trờng Đại học Vinh; các thầy giáo, cô giáo Viện Khoa học
và Công nghệ Việt Nam; gia đình, ngời thân và bạn bè đã động viên và giúp đỡ
để tôi hoàn thành luận văn này
Vinh, tháng 12 năm 2011
Tác giả
Nguyễn Thị Phương Loan
Trang 3TLC : Thin Layer Chromatography (Sắc ký líp máng)
1H – NMR : Proton Magnetic Resonance Spectroscopy (Phæ céng hëng tõ proton)
13C – NMR : Carbon Magnetic Resonance Spectroscopy (Phæ céng hëng tõ h¹t nh©n cacbon – 13)
Trang 5Trang
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Các hợp chất tự nhiên nói chung, các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học nói riêng ngày càng đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống Chúng là nguồn cung cấp nguyên liệu phong phú cho các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dược phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm… đặc biệt là trong y học.Trên thế giới hiện có rất nhiều phòng thí nghiệm đang tích cực tách chiết, xác định và thử hoạt tính các chất tách được từ cây cỏ với mong muốn tìm ra được các hợp chất phục vụ cho đời sống của con người trong các lĩnh vực như: nông nghiệp, công nghiệp, dược phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm đặc biệt
loài thực vật đó thì họ Sim (Myrtaceae) cũng là một họ lớn Ở nước ta, họ Sim
có khoảng 13 chi với gần 100 loài, chủ yếu được dùng để làm thuốc chữa bệnh với một số cây tiêu biểu như cây sim, cây vối, cây sắn thuyền, cây gioi Cây sim là một loài thuộc họ Sim, nó rất phổ biến ở Việt Nam, có nhiều lợi ích và đã được một số nước ở Châu Á nghiên cứu, đưa vào ứng dụng trong nhiều lĩnh vực
Theo Đông y, tất cả các bộ phận của cây sim đều có thể dùng làm thuốc Trong đó, quả sim vị ngọt chát, tính bình, có tác dụng dưỡng huyết, chỉ huyết (cầm máu), cố tinh, dùng chữa các chứng huyết hư, thổ huyết, mũi chảy máu, tiểu tiện ra máu, lỵ, di tinh, băng huyết
Trang 7Lá sim vị ngọt, tính bình, có tác dụng giảm đau, tán nhiệt độc, cầm máu, hút mủ, sinh cơ, dùng chữa đau đầu, tả lỵ, ngoại thương xuất huyết, ghẻ lở, chân lở loét Rễ sim vị ngọt, hơi chua, tính bình, có tác dụng trừ phong thấp, cầm máu, giảm đau, dùng chữa viêm gan, đau bụng, băng huyết, phong thấp đau nhức, trĩ lở loét, bỏng lửa
Cho đến nay đã có một số công trình nghiên cứu về thành phần hoá học của tinh dầu rễ sim, thành phần hoá học của hoa sim, của tinh dầu hoa sim…Với mục đích nghiên cứu và tìm hiểu về thành phần hoá học các hợp chất
có hoạt tính sinh học của hoa sim, góp phần làm tăng sự hiểu biết về nguồn thực vật làm thuốc phong phú và quý giá của Việt Nam Cũng như tìm nguồn
nguyên liệu cho ngành công nghiệp dược liệu và công nghiệp hương liệu…
Chính vì vậy chúng tôi chọn hoa sim làm đối tượng nghiên cứu, với đề
tài: “Nghiên cứu thành phần hoá học hoa sim (Rhodomyrtus tomentosa Ait
Hassk) ở Thanh Hóa”.
2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trong luận văn này chúng tôi có hai nhiệm vụ:
- Chiết chọn lọc với các dung môi thích hợp để thu được các chất từ hoa sim
- Phân lập và xác định cấu trúc các hợp chất từ hoa sim (Rhodomyrtus
tomentosa).
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là hoa cây sim (Rhodomyrtus tomentosa Ait
Hassk) thuộc họ Sim (Myrtaceae) ở tỉnh Thanh hoá.
Trang 8Chương 1 TỔNG QUAN1.1 Họ Sim
1.1.1 Đặc điểm thực vật học
Hä Sim hay họ Đào kim nương (Myrtaceae) là một họ thực vật hai lá mầm, được đặt trong bộ Đào kim nương (Myrtales) Đào kim nương,
sim, đinh hương, ổi, bạch đàn, tiêu Jamaica và ổi, dứa đều thuộc họ này Tất
cả các loài đều có thân gỗ, chứa tinh dầu và hoa mọc thành cụm từ 4 - 5 hoa đơn Lá của chúng thường xanh, mọc so le hay mọc đối, lá đơn và thông thường có mép lá nhẵn (không khía răng cưa) Hoa thường có 5 cánh hoa, mặc dù ở một vài chi thì cánh hoa rất nhỏ hay không có Nhị hoa thường rất
dễ thấy, có màu sáng và nhiều về lượng
Họ Myrtaceae chứa ít nhất 3.000 loài, phân bổ trong 130 - 150 chi Chúng phân bổ rộng khắp ở vùng nhiệt đới và ôn đới ấm áp trên thế giới, và nói chung rất phổ biến trong nhiều khu vực đa dạng sinh học của thế giới Các chi với quả nhiều cùi thịt tập trung nhiều ở miền đông Australia và Malaixia (khu sinh thái Australasia) và khu vực nhiệt đới Trung - Nam Mỹ Eucalyptus (bạch đàn) là chi chiếm đa số, gần như có mặt ở khắp mọi nơi trong khu vực
ẩm thấp hơn của Australia và kéo dài về phía bắc với mật độ thưa hơn tới tận Philipin Một cây trong loài Eucalyptus regnans hiện nay là loại thực vật có hoa cao nhất thế giới Các chi quan trọng khác ở Australia là Callistemon (tràm liễu), Syzygium, và Melaleuca (tràm) Chi Osbornia, có nguồn gốc khu vực Australisia, là các loại cây đước Eugenia, Myria và Calyptranthesb là các chi trong số các chi lớn nhất ở Trung và Nam Mỹ
Ở nước ta họ Sim gồm 13 chi, 100 loài phân bố khắp ba miền Bắc, Trung, Nam Các cây thuộc họ Sim có thể là cây gỗ lớn, cây nhỡ, hay cây bụi, được trồng trong vườn nhà cho quả ăn, cho tinh dầu, hay mọc hoang dại ở đồng bằng trung du, miền núi
Trang 9Chi lớn nhất trong họ Sim là chi Eugenia (trên thế giới có khoảng 600 loài, ở nước ta có 26 loài, nhiều loài được chuyển vào chi Syzygium) Những
cây trong chi này phần lớn là cây gỗ trung bình và đa số là cây hoang dại Cây
thuốc quý ở chi này là cây đinh hương (E caryophyllata Thunb = Syzygium
aromaticum Merr et Perry), có nụ dùng làm thuốc và gia vị Một số loài thuộc
chi Eugenia đã được tách ra và đặt vào chi mới như cây gioi (Syzygium
jambos (L.) Alston = Eugenia jambos L.) có quả ăn ngon; cây vối
(Cleislocalyx operculatus (Roxb.) Merr et Perry = E operculata Roxb) trồng
lấy lá và nụ để uống nước
Nhiều loài thuộc chi Eucalyptus, chúng là cây nhập nội, trên thế giới có
hơn 300 loài, phân bố chủ yếu ở Châu Úc và Malaysia, sống trong những điều
kiện sinh thái khác nhau Hầu hết là cây lớn, có thể cao tới 100m (E globulus
Labill) Nhiều loài cho tinh dầu khác nhau Gỗ của chúng tốt, cứng, có nhiều ứng dụng
Ở nước ta hiện trồng nhiều loài thuộc chi Eucalyptus như: cây bạch đàn trắng (E camaldulensis Dehahardt); cây bạch đàn lá liễu hay long duyên (E exserta F v Muell); cây bạch đàn chanh (E maculata H.K var citriodora (Hoof F)); cây bạch đàn nhựa (E resinifera Sm.); cây bạch đàn đỏ hay bạch đàn lá mít (E robusta J E Smith); cây bạch đàn lá nhỏ (E tercticornis J E
Smith)
1.1.2 Ứng dụng của một số chi thuộc họ Sim
Chi Syzygium:
- Cây đinh hương (Syzygium aromaticum): Tinh dầu đinh hương có các
chất gây tê và kháng vi trùng Nó đôi khi được dùng để khử mùi hôi của hơi thở hay để cải thiện tình trạng đau răng Nó hoặc thành phần chính của nó - eugenol - được các nha sĩ sử dụng để làm dịu cơn đau sau khi nhổ răng sâu Trong y học cổ truyền, người ta dùng nụ hoa đinh hương phơi khô như một vị thuốc với tác dụng làm ấm tỳ, vị, thận và bổ dương Đinh hương có thể dùng
Trang 10trong nấu ăn hoặc ở dạng nguyên vẹn hay ở dạng nghiền thành bột, nhưng do
nó tạo mùi rất mạnh cho nên chỉ cần dùng một lượng rất ít Gia vị làm từ đinh hương được dùng khắp cả ở châu Âu và châu á cũng như được thêm vào một
số loại thuốc lá Nó đôi khi còn được trộn lẫn với cần sa Đinh hương còn là một nguyên liệu quan trọng trong sản xuất các loại hương dùng ở Trung Quốc hay Nhật Bản Tinh dầu đinh hương được sử dụng trong điều trị bằng xoa bóp dầu thơm
- Trâm lá cà mà (Syzygium buxifolium): Quả cây có thể chế rượu Rễ và
vỏ dùng trị sưng vú, trẻ em thở khò khè, bỏng lửa Lá dùng trị lở loét
- Vối rừng (Syzygium cumini): Vỏ cây dùng sắc nước uống hay nước súc
miệng Dịch cây tươi lẫn với sữa cừu dùng trị ỉa chảy cho trẻ em Hạt dùng dưới dạng bột để trị bệnh đái đường Nó làm giảm lượng nước tiểu, làm tiêu hao đường trong nước tiểu sau 18 giờ và trong thời gian điều trị vẫn có thể ăn các loại chất bột mà không gây thương tổn Các bộ phận của cây dùng trị lao phổi
- Đơn tướng quân (Syzygium formosum var Ternifolium): Có tác dụng
tiêu độc, chống dị ứng và kháng khuẩn mạnh Nhân dân thường dùng lá đơn tướng quân chữa sưng tấy, sưng viêm, mẩn ngứa, mày đay với liều 100g sắc uống hàng ngày Có thể dùng ngoài để tắm ghẻ Còn dùng để chữa các chứng viêm họng cấp và mãn tính, viêm bàng quang
- Trâm hoa nhỏ (Syzygium hancei): Cũng có tác dụng như vỏ của nhiều loại
Trâm khác là sát trùng Có thể dùng làm thuốc trị lỵ, ỉa chảy, tẩy giun đũa
- Cây gioi (Syzygium jambos): Quả và lá được dùng làm thuốc trị ỉa chảy,
đau mắt Lá cũng được dùng làm thuốc trị bệnh hô hấp
- Điều đỏ (Syzygium malaccense): Quả và lá dùng để hạ sốt, người ta
ngâm lá với nước để tắm hay súc miệng Rễ làm thuốc lợi tiểu và dùng trong các bệnh về gan Hạt dùng cùng với các vị thuốc khác chữa sốt phát ban
- Trâm lào (Syzygium laosensis): Có tác dụng sát trùng Cũng được dùng
như vỏ, rễ cây roi để trị lỵ, ỉa chảy và vết thương do dao chém bị nhiễm trùng
Trang 11 Chi Eucalyptus:
- Bạch đàn trắng (Eucalypus camaldulesis Petford) có gỗ dùng
làm tà vẹt, gỗ trụ mỏ và bột giấy
- Bạch đàn lá liễu hay long duyên (Eucalypus exserta) là cây
trồng làm cảnh ở các công viên, có gỗ nâu, cứng, dùng trong xây dựng hay làm gỗ trụ mỏ, dầu dùng làm thuốc sát trùng, trị cảm, giảm ho
- Bạch đàn chanh (E maculata H.K var citriodora (Hoof f))
trồng làm cảnh và gây rừng, có gỗ màu xám, cứng, thơm dùng đóng thuyền
Rễ và lá cành dùng cất tinh dầu thơm, dùng làm thuốc bổ dạ dày, giải cảm, đau đầu, giảm ho, sát trùng, chữa viêm cuống phổi
- Bạch đàn đỏ hay bạch đàn lá mít (E robusta J E Smith) trồng
lấy bóng mát, có gỗ dùng làm trụ cầu, nền tầu, trụ mỏ, tà vẹt và bột giấy, còn dùng làm thuốc chữa cảm, sát trùng, giảm ho
- Bạch đàn xanh (E globlus Labill.) trồng làm cảnh, lấy bóng
mát có gỗ tốt, màu xám, cứng, dùng để xây dựng hay làm trụ mỏ
- Bạch đàn nhựa (E resinifera Sm.) có lá nhỏ dài hẹp, dùng làm
thuốc ho long đờm
- Bạch đàn lá nhỏ hay khuynh diệp (E tercticornis J.E Smith) có
gỗ không bị mối mọt và chịu được nước mặn, dùng làm tà vẹt, đóng thành tàu
và cũng dùng làm thuốc long đờm, sát trùng và chữa ho
Chi Psidium
Cây phổ biến là cây ổi (Psidium guajaval.) cây ăn quả, lá và quả non
chứa nhiều chất chát, dùng chữa tiêu chảy Nghiên cứu dược lí cho thấy dịch chiết của các bộ phận của cây ổi chứa nhiều tannin có khả năng kháng khuẩn, làm se niêm mạc và cầm đi lỏng Theo dược học cổ truyền, lá ổi vị đắng, tính
ấm, có công dụng tiêu trùng giải độc, chỉ huyết; quả ổi vị ngọt hơi chua, tính
ấm, công dụng thu liễm, kiện vị cố tràng; các bộ phận của ổi thường được dùng để chữa các chứng bệnh như tiết tả (đi lỏng), cửu lỵ (lỵ mạn tính), viêm
Trang 12dạ dày ruột cấp tính và mạn tính, thấp độc, thấp chẩn, sang thương xuất huyết, tiểu đường, băng huyết
Chi Rhodomyrtus
Đặc trưng bởi có gân lá hình cung, quả mọng nhiều hạt Cây sim
(Rhotomentosa (Ait) Hassk.) cây bụi, lá hình bầu dục, mọc đối, mặt dưới bạc,
có lông mịn Hoa lớn màu tím đẹp Quả mọng màu tím mang đài tồn tại, quả
ăn được Cây mọc nhiều trên các đồi hoang, chứa nhiều tanin để thuộc da
1.2 Chi Rhodomyrtus
1.2.1 Đặc điểm thực vật và phân loại
Rhodomyrtus là một chi thuộc họ Sim (Myrtaceae) Các cây thuộc chi
này là cây bụi hay cây gỗ Hơn 24 loài thuộc chi này được phân bố rộng rãi ở Châu Á, Châu Úc Nhưng đa dạng nhất là ở New Guinea và Đông Bắc Australia
Các nghiên cứu bổ sung về ADN và về hình thái học có thể chia chi
Rhodomyrtus thành các chi nhỏ hơn nữa 24 loài thuộc chi Rhodomyrtus bao
gồm:
- Rhodomyrtus canescens C.T White & W D Francis
- Rhodomyrtus effusa Guymer
- Rhodomyrtus elegans (Blume) A T Scott
- Rhodomyrtus guymeriana N Snow
- Rhodomyrtus lanata Guymer
- Rhodomyrtus locellata (Guill.) Burret
- Rhodomyrtus longisepala N Snow & J Mc Fadden
- Rhodomyrtus macrocarpa Benth – Finger cherry
- Rhodomyrtus mengenensis N Snow
- Rhodomyrtus misimana N Snow
- Rhodomyrtus montana Guymer
Trang 13- Rhodomyrtus novoguineensis Diels
- Rhodomyrtus obovata C.T White
- Rhodomyrtus pervagata Guymer
- Rhodomyrtus pinnatinervis (G Don) Benth
- Rhodomyrtus salomonensis (C T White) A J Scott
- Rhodomyrtus sericeae Burret
- Rhodomyrtus surigaoensis Elmer
- Rhodomyrtus takeuchii N Snow & J Cantley
- Rhodomyrtus trineura (F Muell.) Benth
- Rhodomyrtus tomentosa (Aiton) Hassk.
- Rhodomyrtus kaweaensis N Snow.
- Rhodomyrtus psidioides (G Don) Benth – Native Guava: có nguồn gốc
ở miền đông Australia Khác với các loài khác, lá của loài này có mùi thơm như dứa và bị dính khi nghiền nát
1.2.2 Thành phần hóa học
Các loài thuộc chi Rhodomyrtus chứa các hợp chất tannin, tecpenoit,
flavonoit, steroit Các hợp chất này chủ yếu được nghiên cứu ở cây sim
(Rhodomyrtus tomentosa), những loài thuộc chi Rhodomyrtus còn lại chủ yếu
được nghiên cứu về thành phần hóa học của tinh dầu
Tinh dầu cây Rhodomyrtus canescens C.T White & W D Francis có các
thành phần chính là: aromadendren (12 – 17%) (1),α -pinen (20 – 23%) (2),
β-pinen (6 – 10%) (3).
H H
(1) aromadendren
Trang 14Tinh dầu cây Rhodomyrtus effusa Guymer chứa chủ yếu là các hợp chất
sesquiterpenoit, với thành phần chính là glubulol (11 – 12%) (4), viridiflorol (8 – 10%) (5) và spathulenol (5 – 18%) (6).
HO
H
OH
(4) glubulol (5)viridiflorol (6) spathulenol
Tinh dầu cây Rhodomyrtus macrocarpa Benth – Finger Cherry cũng chứa
chủ yếu là các hợp chất sesquiterpenoit, với các thành phần chính là β
-caryophyllen (9 – 44%) (7), aromadendren (6 – 11%) và glubulol (8 – 10%).
CH2
Me Me
(2) α - pinen (3) β- pinen
Trang 15Tinh dầu cây Rhodomyrtus psidioides (G Don) Benth – Native Guava
chứa chủ yếu monoterpenoit, với các thành phần chính là α -pinen (28 –
66%) và limonen (1 – 24%) (8).
CH3
H3C CH2 H2 C
O H
H
(8) Limonen (9) Caryophyllen oxit
Thành phần chính của tinh dầu cây Rhodomyrtus sericeae Burret là
α -pinen (28%) (6), β-pinen (21%) (7) và β-caryophyllen (13%)
Rhodomyrtus trineura chứa chủ yếu các sesquiterpennoit Trong tinh
dầu cây Rhodomyrtus trineura (F Muell.) Benth có các thành phần chính là
β-caryophyllen (16 – 29%), caryophyllen oxit (2 – 12%) (9) và glubulol
(7 – 10%) Trong khi đó tinh dầu cây Rhodomyrtus trineura Guymer có các
thành phần chính là α -pinen (26%), glubulol (9 – 19%), viridiflorol (5 – 12%)
và spathulenol (4 – 7%) [33]
Hai đồng phân mới của dẫn xuất dibenzofuran thiên nhiên Rhodomyrtoxin (2,8-bis (1-oxo-3-methyl butyl)-4,6-dimethyl dibenzofuran 1,3,7,9-tetrol 2-methyl-1-[1,3,7,9-tetrahydroxy-2,8 dimethyl-6- (1-oxo-3-methyl butyl) dibenzofuran-4-yl] 1-butanone) có tính độc và một hợp chất thứ
ba, rhodomyrtoxin B có thể được phân lập với số lượng nhỏ hơn Các chất
này đã được tách từ Rhodomyrtus macrocarpa benth (ăn quả của cây
Rhodomyrtus macrocarpa benth có thể gây mù)
Trang 16O C
Ở Việt Nam, sim là loài cây quen thuộc mọc ở khắp các tỉnh vùng trung
du và núi thấp bao gồm 12 chi, 60 loài, phân bố khắp nơi trong nước
1.3.3 Mô tả thực vật
Cây sim có hai loại:
Hồng sim (sim bà) (Rhodomyrtus tomentosa) họ Myrtaceae, tiểu mộc cao
đến 1,5m Lá có phiến hình xoan, bầu dục, đầu to, mặt dưới lá màu trắng, có lông dày Hoa cô độc hay là tụ tán có 3 hoa, đài có lông, lá dài 4 - 5mm, hoa màu đỏ tươi, có nhiều tiểu nhị, bầu noãn hạ, phì quả nâu tím, mang nhiều lông mịn
Trang 17Hình 1.1: Hoa và nụ cây hồng sim
Tiểu sim (sim ông) (Rhodamnia dumetorum) họ Myrtaceae, tiểu mộc, vỏ
xám, đo đỏ, nhánh hơi vuông, lá mọc đối, phiến hoa hay hình xoan, mặt dưới
lá mốc trắng Lá có 3 gân chính mọc thành chùm ngắn ở nách lá Hoa trắng, nhiều tiểu nhị, bầu noãn hạ, có lông, phì quả đen có lông trắng, dễ rụng, nạc ngọt, hột vàng to 2,5 – 3 mm
Hình 1.2: Hoa và nụ cây tiểu sim
Trang 181.3.4 Thành phần hóa học của cây sim
Những nghiên cứu đầu tiên về thành phần hoá học của cây sim là các chất sắc tố với mục đích dùng trong thực phẩm Từ cây sim dùng dung môi etanol (40%), pha axit clohyđric (0,05mol/l) chiết xuất ở 400c, thời gian 8 giờ
đã tách được 7,8% một hỗn hợp ổn định trong ánh sáng và chịu sức nóng Dùng nhựa xốp lọc sạch, tách, rửa với etanol 70% pha thêm 2% HCl cho chất sắc tố có màu đỏ tía, bền trong môi trường axit Xác định cấu trúc của các chất sắc tố này gồm có: pelargonidin biglucoside; cyanidin-3-galactoside và delphinidin-3-O- galactoside [21] Từ lá và rễ cây sim đã tách được các ellagi tannin và C- glucoside tannin, thuỷ phân cho: tomentosin, pendunculagin, casuariin, castalagin; các flavon glucoside: myricetin rhamnoside, myricetin furanoarabinoside, myricetin glucoside và dẫn xuất hydroxy pen ta methoxy flavon (combretol) đã tách được từ cây sim [23] Toàn thân cây sim chứa
tanin Quả chứa protein, chất béo, gluxit, vitamin A (15), thiamin (vitamin B1)
(11), riboflavin (vitamin B2) (13), axit nicotinic (12) Hoa chứa axit stearic (14), quercitrin, axit ursolic, α - amyrin axetat (16).
(11) Thiamin (12) Axit nicotinic
Trang 20Từ phần trên mặt đất của cây sim đã tách được hai anthracene glycoside
Cl
-OH HO
HO
(18) Delphinidin-3-O-galactoside
Trang 21O O
OH
O OH
OH
OH OH
HO
O O
OH HO
OH HO
Trang 22(21) Myricitrin
O
O
O H
H
(22) Quercetin (23) Tomentosin
O HO
(24) Pedunculagin
HO
OH
C O
Trang 23(25) Myricetin
(26) Castalagin
O
C O O
OH HO
HO
HO
OH OH
O
OH H
H H
H O C O
O
OH OH OH
OH
OH OH
(27) Casuariin
Từ dịch chiết axeton của lá sim đã tách được các Rhodomyrtoson A – C
(28), (29), (30) và dẫn xuất lepstospermon, còn được gọi là Rhodomyrtosone
Trang 24D (31), cùng với sáu hợp chất được biết đến Cấu trúc được xác định bằng các
O OH
OH O
OO
HOO
(30) Rhodomyrtusone C (31) Rhodomyrtusone D
Theo tác giả Hoàng Văn Lựu [10] thành phần hoá học của tinh dầu rễ sim gồm 49 hợp chất, trong đó đã nhận diện được 27 hợp chất được thể hiện qua bảng 1.1
Trang 25Bảng 1.1: Thành phần hoá học của tinh dầu rễ sim ở Nghệ An
17 phenylmetyl este cua axit pentanoic 0,4
18 3-metyl phenylmetyleste cua axit butanoic 0,8
Tác giả Hoàng Văn Lựu, Trần Đình Thắng và Nguyễn Xuân Dũng [3] đã nghiên cứu thành phần hoá học của tinh dầu hoa sim ở Nghệ An Kết quả được dẫn ra ở bảng 1.2
Bảng 1.2: Thành phần hóa học của tinh dầu hoa sim
Trang 27dụng để điều chế long não tổng hợp và terpin để làm thuốc long đờm, thông tiểu Các thành phần có hàm lượng nhỏ là α-terpineol (4,3%) và caryophyllen oxit (2,3%) Đáng lưu ý là tinh dầu hoa sim có chứa nhiều hợp chất có oxi nh-
ư 1,8 – cineol; isovaleratl; α - campholenol; (E) – pinocarveol; (E)-2-caren- 4
- o1; borneol; terpinen - 4 - ol; myrtenal; α - terpineol; (E)-verbenon; (E)-
carveol; (E)-3-caren- 4 - o1; 5-etyl-3,3,4-trimetyl-hepten-2-on; trans-3
(10)-caren-4-ol; benzyl isovalerat và đồng phân; globulol Chính những hợp chất này đã tạo nên mùi thơm đặc trưng của tinh dầu hoa sim
Từ nụ cây hoa sim, Phan Minh Giang và cộng sự đã tách và xác định được cấu trúc của β-sitosterol (38); stigmasterol (39); apigenin (30); axit gallic (33) và kaempferol-3-O-β-sambubiozit (34) [5]
Nụ hoa sim được chiết ở nhiệt độ phòng bằng metanol, phân bố giữa nước và dung môi hữu cơ theo độ phân cực tăng dần phần chiết n-hexan đã tách và xác định cấu tạo của β-sitosterol và stigmasterol; phần chiết etylaxetat
và n-butanol đã tách và xác định cấu tạo bằng phương pháp phổ IR, EI-MS,
1H-NMR và 13C-NMR các hợp chất (32), (33), (34) lần lượt là apigenin, axit gallic và kaempferol-3-O- β-sambubiozit.
O HO
OH
OH O
OH
OH HO
COOH
(32) Apigenin (33) Axit gallic
Trang 28của lá và cành cây sim các chất lupeol (35); β-amyrin (37); β-amyrenonol
(3β- hydroxy – oleanan -12- en – 11 - on); betulin và một diol chưa xác định,
R1 C30H50O2 và trong cành có các chất friedelin; lupeol; β- amyrin; taraxerol;
betulin – 3 axetat; betulin và có thể là hai hợp chất mới R2 C32H48O5 và R3
C32H50O5. Một hỗn hợp các sitosterol; stigmasterol (39) và campesterol (40)
cũng đã được phân lập từ dịch chiết của lá và cành sim
Trang 29CH3 (36) α - amyrin
CH3
CH3H
H
CH3H
Trang 30H
HH
Wai Haan Hui và cộng sự [25] đã nghiên cứu dịch chiết ete dầu hoả cây
sim (Rhodomyrtus tomentosa) phân lập 2 triterpenoit mới: 3β-axetoxy-11α,
12α-epoxyoleanan-28,13β-olide từ lá và 3β-axetoxy, 12α-hydroxyoleanan-28, 13β-olide từ cành, ngoài ra các hợp chất 3β-hydroxy-2lαH – hop 22 (29)-en- 30-al, 3β-axetoxy-12-oxo-oleanan - 28,13β- olide, 21αH –hop 22 (29)-en-
3β/30-diol và các hợp chất đã biết khác cũng đã được phân lập Dịch chiết
ethanol của lá chứa axit betulinic; axit ursolic, axit aliphitolic (42) và trong cành chứa các axit betulonic (41); axit betulinic (43) và axit oleanolic (44)
Trang 31(42) Axit aliphitolic
H
CH3H
Trang 32(44) Axit oleanolic
Melvyn V Sargent và cộng sự [18] đã phân lập từ dịch chiết etyl axetat
của cây sim hợp chất (45), (46), (47), (48), (49), (50) Hợp chất (49) là hợp
chất mới đặt tên là rhodomyrton [6,8- dihydroxy-2,2,4,4 tetrametyl-7- (3 metyl -1- oxobutyl)-9- (2 metylpropyl) -4,9- dihydro - 1 H- xanthen - 1,3-
(2H) - dion] có hoạt tính kháng khuẩn Escherichia coli và Staphylococus
OH O
O O
(49) (50)
Trang 331.3.5 Tác dụng dược lí của cây sim
Theo kinh nghiệm của dân gian, cây sim cho nhiều bộ phận dùng làm thuốc: Búp non thu hái vào mùa xuân, lá hái quanh năm, nụ hoa và quả hái vào mùa hạ
Theo tài liệu Đông y, cây sim rừng khá nhiều chất sắc, chất này chứa nhiều Pelargonidin dùng làm màu nhuộm tự nhiên trong chế biến thực phẩm Bên cạnh những sản phẩm từ sim rừng như trà hoa sim, rượu, mật, xi-rô… người ta còn chiết xuất phần tinh chất từ thân cây sim để chế biến thành các loại mỹ phẩm như nước hoa, xà phòng… Không dừng lại ở những ứng dụng trong lĩnh vực thực phẩm và mỹ phẩm, các bộ phận của cây sim rừng, từ thân,
lá, rễ đến quả, hoa còn là những vị thuốc tốt đối với sức khoẻ
Cây sim chứa chất phản androgen (hormon nam), ức chế testosteron 5
α -reductase [29], được dùng trong mỹ phẩm chữa tóc [35]
Phần chiết cây sim cũng có tính chất chống viêm, ức chế những enzym như hyaluronidase, hexosaminidase, elstase, phosphodiesterase, kích thích sự phát triển nguyên bào sợi nên được dùng trong mỹ phẩm làm trắng da, thức
Lá sim được nhiều cơ sở nghiên cứu và ứng dụng làm thuốc chữa bỏng
có kết quả rất tốt Dùng cao lá sim không thấy xót, giảm đau nhanh, chống loét lây lan, làm vết thương sạch khô, không có mùi và nhanh lành Ngoài ra còn có thể lấy lá sim sắc thành nước để rửa vết thương, vết trầy xước, hoặc có thể rửa sạch lá sim tươi, giã nát, đắp vào vết thương giúp cầm máu và nhanh lành da Ta cũng có thể dùng búp sim sắc lấy nước uống, chữa bệnh tiêu chảy hoặc rối loạn tiêu hoá khá hiệu quả
Trang 34Bên cạnh đó, lá sim chứa nhiều chất ellagin tannin, khi kết hợp với các chất từ hoa, quả sim để tạo thành một loài thuốc chữa bệnh viêm gan khá tốt Chất rhodomyrtone trong lá sim có vai trò như một chất kháng sinh, giúp
chống lại sự xâm nhập của các vi khuẩn nguy hiểm như escherichia coli và
staphylococcus aureus Đây là những vi khuẩn gây ra tình trạng ngộ độc thực
phẩm Lá sim còn có thể dùng để nhuộm đen
Quả sim dùng để ăn hoặc chế rượu vang Rượu sim uống làm thuốc kích thích tiêu hoá, chữa cơ thể suy nhược Quả sim cũng là một vị thuốc tốt cho người bị bệnh lâu ngày, người bị suy nhược cơ thể, phụ nữ sau sinh bị thiếu máu có thể uống nước sắc từ quả sim và đậu đen, lá dâu non để bồi dưỡng cơ thể Trái sim phơi khô cũng như nước vắt cô đặc, nghiền thành bột làm thành chất nhuộm thức ăn
Rễ, thân cây sim có tác dụng chữa bệnh tim, cầm máu, giải độc Phụ nữ
bị rối loạn kinh nguyệt có thể dùng dược liệu từ cây sim để chữa bệnh, nhưng phải có giám sát của bác sỹ Đông y Theo một nghiên cứu gần đây, sản phẩm
từ sim rừng có thể giúp cải thiện khả năng chăn gối của các đấng mày râu
Rễ và lá sim có thể trị đau dạ dày Rễ sim đôi khi cũng được dùng để chữa tử cung xuất huyết, đau xương, lưng gối nhức mỏi
Ở châu Á, sim được dùng trong các thang thuốc chữa bệnh, ngày nay phần lớn đã được người Trung Quốc đăng ký văn bằng sáng chế Cây sim, nhất là rễ cây có tính chất giảm đau được dùng hỗn hợp với nhiều cây khác để chữa những chứng trong ngành phụ khoa, như chữa khí hư, kinh nguyệt không đều, bất thường, viêm khung chậu, viêm nội mạc tử cung Ngoài ra, sim còn là thành phần có trong những liều thuốc chữa viêm kết tràng, viêm vị tràng, biệt lỵ, thấp khớp, khó tiêu, chán ăn [34], thông máu, giãn gân, cũng cố
tỳ lách, giảm hạ lo âu [37], tiết niệu nhiễm trùng, đặc biệt lá sim dùng chữa nhức đầu [36], chứng tăng huyết áp Ở Malaysia, quả chữa tiêu chảy, nước
Trang 35sắc rễ hoặc lá sim chữa đau dạ dày, tiêu chảy, sản hậu Ở Indonesia, lá sim giã, hơ nóng chữa vết thương.
Chương 2 CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THỰC NGHIỆM2.1 Các phương pháp nghiên cứu
2.1.1 Phương pháp lấy mẫu
Mẫu hoa tươi lấy vào buổi sáng, sau khi lấy về rửa sạch, rồi nhúng qua cồn 96 0, sau đó nghiền nhỏ, phơi khô
Trang 36Sau đó xử lý mẫu bằng cách ngâm với dung môi thích hợp thu được dịch chiết, tiến hành loại dung môi thu được các cao tương ứng dùng cho nghiên cứu phần thực nghiệm.
2.1.2 Phương pháp phân tích, tách và phân lập các chất
Để phân lập các hợp chất, tiến hành lần lượt các phương pháp:
+ Sắc ký cột thường (CC) sử dụng silicagen cỡ hạt 0,040 – 0,063 mm (254 - Merck)
+ Sắc ký lớp mỏng (TLC)
+ Các phương pháp kết tinh phân đoạn
2.1.3 Phương pháp khảo sát cấu trúc các hợp chất
Cấu trúc của các hợp chất được khảo sát nhờ sự kết hợp giữa các phương pháp phổ:
- Phæ céng hưëng tõ h¹t nh©n 1H – NMR;
- Phæ céng hưëng tõ h¹t nh©n 13C – NMR;
- Phæ céng hưëng tõ h¹t nh©n mét chiÒu DEPT;
- Phæ céng hưëng tõ h¹t nh©n hai chiÒu HMBC, HSQC
(Các phổ trên đều được đo tại Viện Hoá học - Viện Khoa học và Công
Trang 37Các dung môi dùng cho sắc ký cột và sắc kí lớp mỏng sử dụng loại tinh khiết phân tích (PA)
* Thu hái mẫu
Mẫu hoa sim được lấy ở huyện Triệu Sơn – tỉnh Thanh Hoá vào tháng 3/
2010 Sau khi lấy về rửa sạch, nhúng qua cồn 96 0, nghiền nhỏ, phơi khô được
5 kg
* Chiết và tách các hợp chất từ hoa sim
Sau khi tiến hành phơi khô mẫu, xử lý mẫu bằng cách ngâm với metanol tinh khiết trong 15 ngày Lọc dịch chiết và chưng cất loại bỏ dung môi ở áp suất thấp thu được 40g cao metanol
Lấy một phần cao metanol hoà tan trong nước cất, sau đó lần lượt chiết với các dung môi hexan, clorofom, etylaxetat, butanol và loại bỏ dung môi được các cao hexan, cao clorofom, cao etylaxetat, phần dịch chiết butanol và phần cặn
Cao clorofom trộn đều với silicagen theo tỉ lệ 1:1 rồi cho vào cột sắc ký
đã được nhồi bằng pha tĩnh silicagel cỡ hạt 0,040 - 0,063mm (254 - Merck) Tiến hành sắc kí với hệ dung môi rửa giải là CH2Cl2 : CH3OH với tỉ lệ tăng dần độ phân cực thu được các phân đoạn (mỗi phân đoạn 80ml), sau đó cất thu hồi dung môi được các phân đoạn tương ứng ở bảng 2.1
Bảng 2.1: Số liệu quá trình chạy cột cao clorofom hoa sim
STT Hệ dung môi CH 2 Cl 2 / MeOH Tỉ lệ Phân đoạn
1 CH2Cl2/ MeOH 100:0 1:10