Lý do chọn đề tài Việt Nam là nước nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa, địa hìnhphức tạp, với hệ thực vật phong phú và đa dạng.Cho đến nay số loài thực vật bậccao có mặt ở nư
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là nước nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa, địa hìnhphức tạp, với hệ thực vật phong phú và đa dạng.Cho đến nay số loài thực vật bậccao có mặt ở nước ta theo ước tính của các nhà thực vật học là khoảng 12.000 loài.Trên cơ sở những loài đã biết, đã thống kê được 657 loài thực vật có chứa tinh dầuthuộc 357 chi và 114 họ, trong đó có khoảng 3850 loài cây được sử dụng trong yhọc dân tộc [6] Theo thống kê của tổng công ty Dược Việt Nam [1], nhu cầu sửdụng thuốc thảo mộc và dược liệu ở nước ta hiện nay rất lớn, vào khoảng 50.000tấn/năm được thu hoạch từ khoảng 300 loài cây khác nhau Đây là nguồn tàinguyên thiên nhiên vô cùng quý báu của đất nước.Chúng thường được sủ dụng đểlàm gia vị, làm thuốc chữa bệnh, làm dược phẩm rất phổ biến trong đời sốnghằng ngày,cũng như trong y học cổ truyền của các nước Trung Quốc, Nhật Bản,Việt Nam… Điều đó chứng tỏ các hợp chất thiên nhiên có hoạt tính sinh học đóngmột vai trò hết sức quan trọng trong đời sống con người
Ngày nay, công nghiệp tổng hợp các hợp chất hữu cơ phát triển rất mạnh,nhưng nguồn nguyên liệu từ thảo dược vẫn được coi là vô cùng quan trọng khôngthể thiếu Chúng là nguồn nguyên liệu trực tiếp hay gián tiếp cung cấp chất dẫnđường cho việc tìm kiếm các biệt dược mới
Cho đến nay, ngoài những công trình nghiên cứu khoa học về các cây thuốc
và vị thuốc Việt Nam, còn có rất nhiều các cây thuốc và vị thuốc chỉ được lưutruyền trong dân gian, mà chưa được nghiên cứu, hoặc nghiên cứu chưa triệt để vềcấu tạo, thành phần hoá học cũng như tác dụng dược lý Trong đó có cây đào rừng
Đào rừng là một loại cây gỗ to, mọc hoang ở các tỉnh miền núi phía Bắc,đồng bào các dân tộc hay dùng rễ cây làm thuốc chữa đau khớp, đau cột sống vàthần kinh ngoại biên, một số thầy thuốc dùng chúng làm thuốc cường kiện gân cơ,cường tráng cơ thể, nhưng chưa được nghiên cứu nhiều về thành phần hoá học [4]
Trang 2Đào rừng là một trong những đối tượng nghiên cứu của chương trình nghiêncứu cây thuốc ở Bắc Kạn của GS TSKH Nguyễn Xuân Dũng [2].
Chính vì vậy chúng tôi chọn đề tài:'' Tách và xác định cấu trúc một số hợp
chất từ rễ cây đào rừng (Prunus zippeliana var crassistyla (Card) J E Vid.) ở Bắc Kạn ", từ đó góp phần xác định thành phần hoá học của cây đào rừng, đồng
thời có hướng gây trồng, khai thác một nguồn nguyên liệu quý của đất nước, phục
vụ cho sự nghiệp phát triển ngành dược liệu của nước nhà
2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Chiết chọn lọc với các dung môi thích hợp để thu được hỗn hợp cao cáchợp chất từ rễ của cây đào rừng
- Sử dụng các phương pháp sắc ký và kết tinh phân đoạn để phân lập các hợpchất
- Sử dụng các phương pháp phổ để xác định cấu trúc các hợp chất thu được
3 Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu là rễ của cây đào rừng (Prunus zippeliana var.
crassistyla (Card) J E Vid.) thuộc họ Hoa hồng (Rosaceae) ở Bắc Kạn
Trang 3CHƯƠNG I
TỔNG QUAN 1.1 Chi Prunus
1.1.1 Đặc điểm thực vật và phân loại
Chi Prunus là một chi của một số loài cây thân gỗ và cây bụi, bao gồm mận,anh đào, đào, mơ và hạnh Theo truyền thống nó được đặt trong họ Hoa hồng(Rosaceae) như là một phân họ là phân họ Prunoideae (hay Amygdaloideae),nhưng đôi khi được đặt thành một họ riêng của chính nó Prunaceae(Amygdalaceae) Trong chi này có khoảng trên 500 loài đã được phát hiện, chúngphân bố rộng khắp khu vực ôn đới của Bắc bán cầu [13]
Chi Prunus bao gồm hạnh, mơ, anh đào, đào và mận, tất cả chúng đều có các
giống được trồng cho sản xuất quả ở cấp độ thương mại Phần ăn được của quảhạnh là hạt mặc dù quả của nó là loại quả hạch mà không phải là "hột" Cũng cómột số loài, giống lai và giống được trồng chỉ thuần tuý để làm cây cảnh, thôngthường là do sự dồi dào về hoa của chúng, đôi khi là lá hay thân cây Các loại câycảnh này bao gồm nhóm có thể gọi chung là anh đào lấy hoa Hoa của chúngthường có màu từ trắng tới hồng, với 5 cánh và 5 đài hoa Hoa mọc đơn hay thànhkiểu các hoa tán với 2-6 hoa hoặc nhiều hơn trên mỗi cành hoa Qủa của mọi loàiPrunus là loại quả hạch với "hột" tương đối lớn Lá đơn và thông thường có hìnhmũi mác, không thuỳ và có răng cưa ở mép lá
Do giá trị đáng kể của chúng trong vai trò của nguồn cung cấp quả và hoa,
nhiều loài Prunus đã được đưa vào trồng ở nhiều khu vực không phải là bản địa
của chúng Nhiều loài nguồn gốc Cựu thế giới được trồng làm cảnh hay lấy quả và
Trang 4được trồng rộng khắp thế giới; trong số đó nhiều loài đã hợp thuỷ thổ và vượt ra xangoài khu vực nguồn gốc của chúng
Bảng 1: Phân bố một số loài thuộc chi Prunus trên thế giới [13]
ST
T
1 Prunus africana Anh đào châu Phi Sahara và Madagascar
5 Prunus campanulata Anh đào hoa chuông Miền nam Trung Quốc, Đài
8 Prunus cerasus Anh đào chua Châu Âu và tây Nam á
9 Prunus cerasifera Mận anh đào Đông nam Châu Âu và tây
nam Châu á
11 Prunus cornuta Anh đào dại Himalaya Himalaya
12 Prunus dasycarpa Mơ đen Có lẽ là giống lai của P.
armeniaca với P cerasifera
14 Prunus domestica Mận và Mận tía Giống lai, có lẽ từ Tây á và
17 Prunus grayana Anh đào dại xám Nhật Bản
18 Prunus incana Anh đào liễu Tiểu á, Caucasus
20 Prunus jacquemontii Anh đào Afghanistan Afghanistan và Pakistan
Trang 521 Prunus laurocerasus Anh đào nguyệt quế Balkan và Tây á
22 Prunus lusitanica Nguyệt quế Bồ Đào
Nha
Iberia
23 Prunus maackii Anh đào Mãn Châu Đông bắc châu á
24 Prunus mahaleb Anh đào St Lucie Châu Âu
25 Prunus mume Mơ ta hay Mơ Nhật
Bản
Trung Quốc, Nhật Bản
26 Prunus nipponica Anh đào núi Nhật Bản Nhật Bản
29 Prunus prostrata Anh đào núi Địa Trung Hải
30 Prunus salicina Mận Nhật Bản Trung Quốc, Nhật Bản
31 Prunus sargentii Anh đào Sargent Miền bắc Nhật Bản
32 Prunus serrula Anh đào Tây Tạng Miền tây Trung Quốc tới
Trung á
33 Prunus serrulata Anh đào Nhật Bản Đông á
36 Prunus speciosa Anh đào Oshima Các đảo Oshima và Izu Nhật
Bản
40 Prunus tomentosa Anh đào lông Tây nam Trung Quốc,
Himalaya
41 Prunus yedoensis Anh đào Yoshino Nhật Bản (có thể từ nguồn
gốc cây lai giống)
Ở Việt Nam chi Prunus đã ghi nhận và được phân bố ở bảng 2
Bảng 2: Phân bố một số loài thuộc chi Prunus ở Việt Nam [9], [10]
1 Prunus arborea Xoan đào lông, mạy
thông, vàng nương,
đô ca
Sơn La, Hà Giang, TuyênQuang, Bắc Kạn, VĩnhPhúc, Hoà Bình, Thanh
Trang 6Hoá, Nghệ An, Kon Tum,Gia Lai, Lâm Đồng.
2 Prunus armeniaca Mơ, mơ hoa trắng Hà Tây, được trồng nhiều
nơi ở Việt Nam, có nguồngốc từ Trung á
3 Prunus cerasoides Anh đào Lai Châu, Lào Cai, Hà
Giang, Cao Bằng, HoàBình, Ninh Bình, LâmĐồng
4 Prunus ceylanica Mù hôi, rẹp Lào Cai, Sơn La, Vĩnh
Phúc, Quảng Trị, Thừathiên Huế, Đà Nẵng,Quảng Nam, Lâm Đồng,Bình Phước, Đồng Nai
5 Prunus
cochinchinensis
6 Prunus fordiana Vàng nương ford ô
rô núi
Quảng Ninh, Quảng Bình,Quảng Trị, Thừa thiênHuế
7 Prunus grisea Rẹp lông Đà Nẵng, Bình Định, Kon
Tum, Gia Lai, Đắc Lắc
8 Prunus javanica Vàng nương Java Bà Rịa - Vũng Tàu
9 Prunus lancilimba Vàng nương thon Lào Cai
10 Prunus mume Mai, mơ hoa vàng Lào Cai, Cao Bằng, Lạng
Sơn, Hoà Bình, Hà Tây,Ninh Bình
11 Prunus persica Đào Lai Châu, Lào Cai, Hà
Giang, Cao Bằng, LạngSơn, Quảng Ninh, BắcKạn, Thái Nguyên, Phú
Trang 7Thọ, Vĩnh Phúc, HoàBình, Hà Tây, Ninh Bình,Thanh Hoá
12 Prunus phaeosticta Vàng nương đốm
nâu
Lào Cai, Cao Bằng, HoàBình, Vĩnh Phúc
13 Prunus salicina Mận, uc lý, mộc thép Lai Châu, Sơn La, Lào
Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn,Quảng Ninh, Bắc Kạn,Thái Nguyên, Bắc Giang,Bắc Ninh, Phú Thọ, VĩnhPhúc, Hà Tây, Ninh Bình,Lâm Đồng
14 Prunus undulata Mu cai, vàng nương
wallich
Lai Châu, Lào Cai, HàGiang, Hoà Bình, VĩnhPhúc, Kon Tum, LâmĐồng
15 Prunus zippeliana Da bò, đào dại, vàng
Trang 81.1.2 Thành phần hoá học của chi Prunus
Chi Prunus chứa một lượng lớn các hợp chất phenolic có hoạt tính chống oxihoá cao
Kayano S và cộng sự đã tách được các hợp chất: axit caffeoylquinic, axit
hydroxycinnamic, axit benzoic, cumarin, lignan và flavonoit từ Prunus domestica
Trang 9Các nhà khoa học Hàn Quốc đã thử các hoạt tính chống oxy hoá in vitro của
một số loài Prunus chọn lọc của Hàn Quốc như: P buergeriana, P daviana, P padus, P pendula, P sargentii, P serrulata var spontanea và P yedoensis Họ
cũng đã tách được 11 flavonoit đã biết từ phân đoạn tan trong etyl axetat của dịch
chiết metanol từ lá cây P serrulata var spontanea Các hợp chất này có hoạt tính
oxy hoá cao [15]
Từ rễ cây P ameniaca người ta cũng đã tách được ba đồng phân kiểu epiafzelechin-(48; 27)- epiafzelechin (mahuannin A), ent-epiafzelechin- (48; 2 O 7)-(+)- afzelechin và ent-epiafzelechin-(48; 2 O 7)-(-)-
Dưới đây là bảng về các hợp chất đã được tách từ một số loài của chi Prunus:
Bảng 3: Các hợp chất đã được tách từ một số loài của chi Prunus
hiệu
Tài liệu
2-Metyl-3-nonacosanon
Persicogenin 3'-glucozit
Prunasin
123
45
[20][26][16][17][21]
Trang 103-prenyl-4-O--D-glucopyranosyloxy- Axit (2S,3R,4E,8Z)-2-[(2R)-2-
1-O--D-glucopyranosyl-octadecadien-1,3-diol
2,5-diol
1-(3',4'-dihydroxycinnamoyl)-cyclopenta-678910
[20][23][19][22][24][25][27]
Trang 11 1-(3',4'-dihydroxycinnamoyl)-cyclopenta-2,3-diol
Prunetin 5-glucozit
Cyanidin 3-sophorozit
Cyanidin 3-glucosylrutinozit
Cyanidin 3-glucozit
Cyanidin 3-rutinozit
3 Prunus domestica Axit acaciabiuronic
Persicachrom
4-O-Metylphloracetophenon
Domesticozit
Prudomestin Axit chlorogenic Phloracetophenon Cumarin Fraxinol 5,7,4'-Trihydroxy-3-metoxyflavanon 3,5,7-Trihydroxy-6,4'-dimetoxyflavanon Isosakuranetin Prudomestin Dihydrokaempferit Naringenin 3,5,7-Trihydroxy-8,4'-dimethoxyflavanon Axit neochlorogenic Axit cryptochlorogenic Quercetin 3-O-rutinosyl-7,3'-O-bisglucozit Kaempferol 3-O-rutinosyl-4'-di-O-glucozit
1 11 12 13 14 64
14
36
[20] [24] [28] [30] [27]
Trang 124 Prunus
japonica
Leonurizit A
Multiflorin B
15 16 [20] 5 Prunus mume 2''-O-Acetyl-3'-O-methylrutin
Mumefural
Dihydroprudomenin
2''-O-Acetylrutin
Mumenin Kaempferit-7-glucozit Naringenin Prunin (+)-Catechin (-)-Epicatechin Leucoanthocyanidin Flavanon glucozit 17 18 19 20 21 41 36 38 45 [20] [29] 6 Prunus padus Prupazit
Ssiorizit
22 23 [20] 7 Prunus persica Axit acaciabiuronic
Multiflorin B
-D-Galactopyranosyl-(13)--D- galactopyranosyl-(16)-D-galactozơ
6-O--D-Galactopyranosyl-D-galactozơ Mutatoxanthin
Multinosit A 1 16 24 25 26 27 [20] 8 Prunus spinosa Ternozit
Kaempferol 3-O--L-rhamnofuranozit
28 29 [20] [31]
Trang 13 Kaempferol 7-rhamnofuranozit
7-Glucosyloxy-5-hydroxy-6-metoxycumarin
Mahuannin A
Ent-epiafzelechin-(27,48)- epicatechin
Ent-epicatechin-(48,2O7)-catechin
epicatechin
Ent-epiafzelechin-(48,2O7)- epicatechin
Ent-epicatechin-(48,2O7)- catechin
Ent-epiafzelechin-(48,2O7)-3031[32]
Ent-epiafzelechin-(48, 2O7)- afzelechin
(+)- Ent-epiafzelechin-(48, 2O7)- afzelechin
(-)- Ent-epiafzelechin-3-O-p-hydroxybenzoat- (48, 2O7)- epiafzelechin
3334
[20][33][34]
Trang 14 Naringenin-7-O-glucozit (prunin)
Hesperetin-5-O-glucozit
Kaempferol
Kaempferit 7-O-glucozit
Kaempferol 7-O-glucozit (populnin)
Quercetin 7-O-glucozit (quercimeritrin)
24-tetrahydroxy-urs-12-en-616263[20]
Trang 15 Ent-epiafzelechin (2O7, 48) kaempferol
Ent-epiafzelechin (2O7, 48) epicatechin
Ent-epiafzelechin (2O7, 48) epiafzelechin
Ent-epiafzelechin (2O7, 48) catechin
(+)-Catechin
[20][37]
2-(4-hydroxyphenyl)-etyl-(6-O-caffeoyl)-- 3,4,5 trimetoxybenzoyl--D-glucopyranozit
2-(3,4-dihydroxyphenyl)-etyl-(6-O-caffeoyl)--D-glucopyranozit
glucopyranozit
2-(3,4-dihydroxyphenyl)-etyl--D- 6-O-caffeoyl-D-glucopyranozơ
Grayanozit A
Grayanozit B
[20][6][25][38]
Trang 16 Grayanin
Pruyanazit A
Pruyanazit B
17 Prunus dulcis Axit 5-O-caffeoylquinic (axit chlorogenic)
Axit 4-O-caffeoylquinic (axit cryptochlorogenic)
Axit 3-O-caffeoylquinic (axit neochlorogenic)
64 [20][30]
20 Prunus
buergeriana
glucopyranozơ
6-O-caffeoyl-1-O-p-cumaroyl--D- 6-O-p-cumaroyl-D-glucopyranozơ
1,6-di-O-caffeoyl--D-glucopyranozơ
6-O-caffeoyl-D-glucopyranozơ
glucopyranosyloxy] benzenaxetonitril
(2R)-[(6-O-caffeoyl)--D-[20][5]
Trang 1724 Prunus ssiori
2-(3,4-metylendioxyphenyl)-etyl-(6-O-caffeoyl)--D-glucopyranozit
tetra-O-axetyl--D-glucopyranozit
3-O-caffeoyl--D-fructofuranosyl,2,3,4,6-
2-(3,4-dihydroxyphenyl)-etyl-(6-O-caffeoyl)--D-glucopyranozit
[20][41]
Trang 1933 Prunus
africana
Axit urs-12en-28-oic
Trang 20HO OH
OH
CH2
O HO
Trang 21O HO HO
(7) (E-) 1-O-(3,4-dihydroxycinnamoyl) (8) (E-)
OH O
OH
O
O OH
Trang 22
O
OH OH HO
OH O
HO
O
OH HO
OH HO
OH
(15) Leonurizit A (16) Multiflorin B
O HO
HO
OH O
O O
O OH
OH
O
O HO
HO
OH O
O O
HO
OH
CH3O
OH
O O
Trang 23OH OH
CH2OH
O
OH O
CH2OH
O HO
OH
OH
CH2
OH
OH OH
CH2
OH
(25) 6-O--D-Galactopyranosyl D- galactozơ
O HO
OH
8
(26) Mutatoxanthin
Trang 24
O HO
CH3
O
OH OH HO
HO
HO O HO
(29) Kaempferol 3-O--L- (30) Kaempferol 7-rhamnofuranozit
-rhamnofuranozit
Trang 25HO OH
(31) 7-Glucosyloxy-5-hydroxy- (32) Axit
-6-metoxycumarin -glucopyranozit
O
OH HO
OH
O OH
O
HO
O OH
Trang 26(42) Kaempferol 7-O-glucozit (populnin): R1=glc, R2=R3=H
(43) Quercetin 7-O-glucozit (quercimeritrin): R1=glc, R2=H, R3=OH
Trang 27(51) Luteolin-5-O--D-glucozơ: R1=R4=R5=OH, R2=O-Glc, R3=H
(52) Luteolin-7-O--D-glucozơ: R1=O-Glc, R2=R4=R5=OH, R3=H
(54) Hesperetin: R1=R2=R4=OH, R3=H, R5=OMe
(55) Hesperetin-5-O--D-glucozơ : R1=R4=OH, R2=O-Glc, R3=H, R5=OMe
(56) Naringenin-7-O--D-glucozơ: R1= O-Glc, R2=R5=OH, R3= R4=H
Trang 28(58) Morin (59) Baicalein: R1=OH
OH
O HO
HO
OH OOH
(61) Pursargentozit (62) Orobol 7-O-glucozit
COOH OH
CH2OH
H H
HO HO
(63) Axit 1, 2, 3, 24-tetrahydroxy- (64) Axit chlorogenic
-urs-12-en-28-oic
1.1.3 Sử dụng và các hoạt tính sinh học của chi Prunus
Trong y học cổ truyền của Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Việt Nam, thì thực
vật của loài Prunus đã và đang được dùng như là thuốc giảm đau, kháng viêm,
kháng khuẩn và tác nhân chống khối u [42]
Trang 29Các loại Prunus khác như P perisa, P africana, P armeniaca để chữa ung
thư, trị ho cũng đã được mô tả trong các sách thuốc của Trung Hoa và trong nhữngcông bố gần đây
Prunus serrulata var spontanea (Rosaceae) là một loại cây được phân bố
rộng rãi ở Hàn Quốc và Nhật Bản Qủa của nó màu đỏ có thể ăn được và đượcdùng trong y học như là thuốc chữa bệnh phù tim do tim thiếu khả năng, bệnh phù,chứng viêm vú, sâu răng và làm thuốc điều kinh
Vỏ của cây P serrulata var spontanea, P yedoensis và P sargentii còn
được gọi là Pruni Cortex đã và đang được dùng ở trung tâm cai rượu, dùng làmthuốc chống ho của y học cổ truyền Hàn Quốc
Từ dịch chiết methanol của lá P serrulata var spontanea đã tìm ra những chất có hoạt tính chống oxy hoá như: quercetin, kaempferol 3-O--arabinofuraozit, kaempferol 3-O--xylopyranozit, kaempferol 3-O--glucopyranozit, và quercetin 3-O--glucopyranozit.
Cây mơ Nhật Bản (Prunus mume Sieb et Zucc.) đã được trồng rộng rãi ở
Nhật Bản như là một loại cây cảnh, quả khô được dùng trong trang trí, thực phẩm
và để làm đồ uống Còn trong y học cổ truyền Trung Quốc, những phần khác nhaucủa loại cây này như: quả, lá, cành, hạt và rễ cũng được dùng như thảo dược Hoa
của Prunus mume cũng được dùng để cai rượu, chữa đau dạ dày, làm thuốc long
đờm, thuốc an thần và trong điều trị đau mắt [54]
ở Việt Nam [3], [5], [7] nước quả mơ (Prunus armeniaca L.) pha đường và
sirô nước muối mơ cũng được người dân sử dụng nhiều, đặc biệt tốt cho công nhânlàm việc ở nơi có nhiệt độ cao thường xuyên bởi vì nó có tác dụng làm đỡ khátnước, giảm lượng mồ hôi, giảm lượng muối mất đi do toát nhiều mồ hôi trong laođộng Một số trường hợp có hồng cầu vi thể trong nước tiểu đã hết hồng cầu saukhi uống sirô mơ Qua đo lực của cơ bàn tay và định lượng mucoprotein trong nước
Trang 30tiểu sau một ca làm việc, nhận thấy sirô mơ có tác dụng chống mệt mỏi rã rời Lá
mơ đã được nghiên cứu thực nghiệm thấy có tác dụng lợi tiểu Chất amygdalin vàmen làm phân rã có trong những tế bào khác nhau của nhân hạt mơ khi tiếp xúcchặt chẽ với nhau trong qúa trình nhai hoặc ngậm sẽ cho axít hydroxyanic Axít này
là chất độc cực mạnh gây ngộ độc và chết ở liều nhỏ Do tác dụng giảm oxy máucủa axít hydroxyanic trên các tế bào của hệ thần kinh trung ương và sự cảm thụ caocủa những tế bào này đối với sự giảm oxy máu, hoạt động của những bộ phận quantrọng đối với đời sống của hệ thần kinh trung ương bị rối loạn: hô hấp, vận mạch vànhững trung tâm khác Chết do ngộ độc axít hydroxyanic xảy ra do liệt hô hấp Khiuống liều nhỏ amygdalin, chất HCN chỉ giải phóng từ từ sẽ có tác dụng trấn tĩnhtrung khu hô hấp, do đó dùng để chữa ho Gần đây với sự phát hiện ra vitamin B15
trong hạt mơ cùng một số tác dụng của rượu mơ dùng cho người có tuổi cũng đượcgiải thích
Một bài thuốc cổ truyền đã được dùng từ lâu đời ở Nhật Bản để chữa hen,gồm: hạt mơ, ma hoàng, cam thảo, thạch cao Tác dụng của từng dược liệu và của
cả bài thuốc đã được nghiên cứu trong thí nghiệm bộc lộ phế quản chuột lang vàkích thích với lông lợn để gây ho Ma hoàng có liều ED50 thấp nhất Trong một sốthí nghiệm khác, gây ho trên chuột nhắt bằng cách cho ngửi một lượng nhất địnhsunfua dioxyt và đếm những cơn ho Kết quả thí nghiệm cho thấy hạt mơ có vai tròchống ho mạnh hơn ma hoàng Sunfua dioxyt là một khí thải công nghiệp thườnggây ho cho nhân dân sống trong vùng bị ô nhiễm Ho là một hiện tượng sinh lý cóhàng loạt nguyên nhân khác nhau, và bài thuốc cổ truyền Nhật Bản được coi là cónhững chức năng tương ứng nên được áp dụng nhiều hơn là các dược liệu riêng rẽ
Qủa mơ còn được dùng làm ô mai Ô mai có vị chua, mặn, có tính mát, đượcnhân dân dùng làm thuốc giảm ho, trừ đờm, chữa viêm họng, hen suyễn, khó thở,phù thũng, tả lỵ ra máu, nôn mửa, ngày dùng 4- 8g dạng thuốc sắc hoặc ngậm Ô
Trang 31mai còn dùng để chữa giun (phối hợp với các vị thuốc khác); đặc biệt trong trườnghợp giun chui ống mật, ô mai có tác dụng tạo môi trường axít làm cho giun chuikhỏi ống mật trở về ruột và bị tống ra ngoài Rượu mơ dùng làm thuốc bổ giúp ănngon cơm, đỡ khát nước Dầu hạt mơ làm thuốc bổ, thuốc nhuận tràng, làm thuốcbôi trừ nẻ, bôi tóc cho trơn và bóng.
Theo tài liệu nước ngoài, trong y học Trung Quốc, người ta dùng hạt mơ làmthuốc an thần, giảm ho, chữa nấc Hạt mơ phối hợp với những vị thuốc khác để trị
ho gà, viêm phế quản, viêm khí quản và thanh quản, viêm thận Dầu hạt mơ đượcpha chế thuốc mỡ, gôm mơ được dùng làm thực phẩm
Với cây mận (Prunus triflora Roxb, Prunus salicina Lindl, Prunus communis L), quả của nó có vị chua, ngọt, tính bình, có tác dụng thanh can, điều
nhiệt, sinh tân, lợi thuỷ Nhân hạt mận có vị đắng, tính bình, có tác dụng hoạthuyết, tán ứ, lợi thuỷ, nhuận tràng Rễ mận có vị đắng, chát, tính hàn, có tác dụngthanh nhiệt, giải độc Vỏ mận có vị đắng, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt, hạ khí.Hoa mận có vị đắng, mùi thơm Lá mận có vị chua, ngọt, tính bình Mận là một loạiquả ngon, được ăn với muối để kích thích tiêu hoá, giải khát Ngoài ra, còn dùngchữa đau nhức khớp xương ở Trung Quốc quả mận được dùng chữa hư lao cốtchưng (triệu chứng bệnh lao), đái đường Chú ý không được ăn nhiều, gây nóng âm
ỉ trong bụng Nhân hạt chữa ho có đờm, vết thương sưng đau, bụng đầy nước Khidùng nhân hạt mận phải lưu ý, chất amygdalin qua đường tiêu hoá bị acidchlohydric hoặc men amygdalinase phân huỷ thành acid cyanhydric có tác dụng ứcchế men cytochrom oxydase, do đó dùng nhân hạt mận quá liều sẽ gây rối loạn về
hô hấp Rễ chữa bệnh phụ khoa, khí hư, bạch đới, kiết lỵ, đau răng, trẻ em sốt cao.Hoa chữa tàn nhang, rám đen, làm cho da trắng Lá chữa sốt cao, co giật ở trẻ em
Cây đào (Prunus persica (L.) Batsch) có các tác dụng ức chế sự đông máu:
làm thí nghiệm trên thỏ, dùng nước sắc đào nhân cho thẳng vào dạ dày mỗi ngày
Trang 32một lần, liên tục trong 7- 8 ngày, có tác dụng kéo dài một cách rõ rệt thời gian chảymáu và thời gian đông máu Tác dụng chống viêm: theo tài liệu Trung Quốc, hainhóm protit F (có 18 axit amin) và G (có 17 axit amin) từ đào nhân đều có tác dụngchống viêm tai chuột do hoá chất gây nên Còn theo y văn Nhật Bản, các thànhphần protein PR_A và PR_B từ đào nhân có tác dụng ức chế rõ rệt phù gan bànchân chuột do caragenin gây nên.
- Tác dụng chống dị ứng: dạng chiết nước và chiết cồn từ đào nhân thí
nghiệm trên chuột cống trắng và chuột nhắt trắng có tác dụng chống dị ứng qua quátrình ức chế sự sản sinh ra kháng thể
- Tác dụng sát trùng: cao lá đào cho vào môi trường nuôi cấy roi trùng với
các nồng độ 10%, 5% và 0,6%, sau 24 giờ tiếp xúc tác dụng diệt roi trùng đạt đượcvới các tỷ lệ tương ứng là 100%, 100% và 98% Ngoài ra nước ngâm lá đào (1%)
có tác dụng diệt cung quăng đến 95% sau 24 giờ tiếp xúc, còn với nồng độ thấp(0,25 - 0,5%) tác dụng không rõ
Đào nhân có vị đắng, ngọt, tính bình có tác dụng phá huyết, chữa bế kinh,trưng hà, phong tỳ, ứ huyết sưng đau, còn chữa ho, hen suyễn khó thở ở Nhật Bản,đào nhân được dùng cho những phụ nữ có rối loạn nội tiết trong thời kỳ tiền mãnkinh đạt kết quả tốt Lá đào có vị đắng, tính bình, có tác dụng khư phong, bài thấp,thanh nhiệt, sát trùng Nước sắc lá đào thường được dùng tắm chữa ghẻ lở, mẩnngứa, ngâm rửa chữa viêm kẽ chân Nước cất từ lá đào tươi chữa ho giống nhưnước cất hạt mơ Rễ đào có vị đắng, tính bình, dùng chữa vàng da, chảy máu mũi,nôn ra máu, trĩ, bế kinh Nhựa đào có vị đắng, ngọt, tính bình, có tác dụng làm tankết tụ giảm đau và lợi tiểu, dùng chữa đái ra sỏi, đái ra máu, đái đường với liềudùng 15 - 30g sắc nước uống Hoa đào có vị đắng, tính bình, có tác dụng lợi thuỷ,hoạt huyết, thông tiện Để làm sắc mặt tươi đẹp, da dẻ mịn màng ở phụ nữ, lấy hoađào tán nhỏ trộn với máu mào gà, bôi lên mặt, khoảng 2-3 ngày sau, thuốc tróc đi
Trang 33da sẽ mịn và trắng Hoa đào phơi hay sấy khô, tán nhỏ mịn, uống mỗi lần nửa thìa
cà phê với nước ấm, chữa chàm mặt Hoa đào còn dùng chữa phù thũng, đại tiểutiện không thông ở Châu Âu, người ta chế sirô hoa đào cho trẻ uống trị giun
1.2 Cây đào rừng (Prunus zippeliana var crassistyla (Card) J E Vid.)
- Tên địa phương: Tào đông, tào phia, chạ đào
- Tên khoa học: Prunus zippeliana var crassistyla (Card) J E Vid.
- Họ Hoa hồng (Rosaceae)
1.2.1 Thực vật học
Đào rừng là một loại cây gỗ to, cứng, lá thuôn có mép răng cưa cứng, lá mọc
so le, cuống lá ngắn, lá thường dài 5-7 cm, rộng từ 3-5 cm, có 2 loại đỏ và trắng.Loại đỏ lá non và ngọn màu tím, loại trắng thì tất cả lá và ngọn đều xanh, rễ cũngcứng, mọc bám theo vách đá hoặc chui xuống dưới đất Loại rễ đi nổi rất cứng, loại
rễ chìm mềm hơn, vỏ dày hơn, nhiều thầy thuốc kinh nghiệm đã sử dụng cây loại rễchìm [11]
Trang 34
Hình 2: Cây đào rừng (Prunus zippeliana)
Đào rừng mọc hoang trên những dãy núi đá, hay gặp ở vùng Yên Cư, HoàMục, Tân Sơn (chợ Mpí), Sỹ Bình, Vũ Muộn (Bạch Thông), Côn Minh, Cư Lễ (NaRì), Nam Cường, Bản Thi (chợ Đồn) Riêng vùng Côn Minh (Na Rì), Xuất Hoá (thị
xã Bắc Kạn), do dân khai thác nhiều, bệnh viện Y học dân tộc Bắc Thái cũ cũnghay sử dụng cây đào rừng từ nguồn gốc Sỹ Bình, Mỹ Thanh (Bạch Thông) đã gần
30 năm nay, nên nguồn dược liệu này đang bị cạn dần đòi hỏi cần thiết có kế hoạchkhai thác, bảo tồn một cách hợp lý loại dược liệu quý và đặc hữu này
Bộ phận dùng là rễ, có thể thu hoạch quanh năm; đào rễ về, rửa sạch, tháinhỏ, phơi khô (phơi khô trong râm là tốt nhất) và không phải chế biến gì khác
O H
COOH2
20 21 22
19 18 13
17
14 1615
30
29
25
23 24
11 12
26
27
Trang 35O H
O H
OH H
O H
1 2 3
4 5
- Nguyên liệu để nghiên cứu là bột thô của rễ cây đào rừng
- Nghiên cứu tác dụng chống viêm, nghiên cứu này được thực hiện bằng:+ Dung dịch đào rừng được chiết bằng cách: cho bột rễ ngâm trong cồn 400 theophương pháp ngâm kiệt, trước khi dùng cho bốc hơi cồn trên nồi cách thuỷ, cô vềdạng dung dịch 1:1
Liều dùng được quy ra gam dược liệu khô cho 1kg súc vật thí nghiệm
Trang 36+ Chuột nhắt trắng có trọng lượng từ 32-35g được dùng làm vật thí nghiệm.+ Xây dựng mô hình viêm cấp tính bằng dextrant 2% ở hai chân sau củachuột.
Kết quả nghiên cứu như sau: So với lô chứng (không thể dùng thuốc) thìdùng dung dịch "đào rừng" có tác dụng ức chế phù ở bàn chân chuột được gâyviêm bằng dextrant, tỷ lệ ức chế phù phụ thuộc vào liều lượng
- Độc tính cấp:
+ Thí nghiệm cũng được tiến hành trên chuột nhắt trắng có trọng lượng 20g, số lượng 72 con
18-+ Thử độc tính cấp theo phương pháp Behreus-Karber
+ Chia tất cả số chuột làm 8 nhóm, mỗi nhóm 9 con một cách ngẫu nhiên.+ Mỗi lô được uống dung dịch "đào rừng" với liều khác nhau theo thang liều:70-60-50-40-30-20-10-1g/kg, sau 24 giờ đếm số chuột chết trong mỗi lô và tínhLD50
* Kết quả của BS Nông Phúc Chinh đã được ghi nhận như sau:
Thực nghiệm cho thấy dung dịch vị thuốc "đào rừng" dùng chống viêm cấptrên thí nghiệm gây phù bàn chân chuột Kết quả chống viêm này phù hợp với kinhnghiệm dân gian đã sử dụng để chữa các trường hợp thấp khớp có sưng đỏ
- Độc tính: Độc tính thấp, LD50 là 31,5g/kg cân nặng
Cây đào rừng là một vị thuốc dân gian, đồng bào các dân tộc tỉnh Bắc Kạnhay dùng rễ cây làm thuốc chữa đau khớp, đau cột sống và thần kinh ngoại biên,một số thầy thuốc dùng chúng làm thuốc cường kiện gân cơ, cường tráng cơ thể
Dạng sử dụng thông thường là sắc uống, liều lượng từ 10-12g/ngày, thườngkết hợp với một số vị thuốc khác như: dây gắm, thổ phục linh, dây đau xương
Những kinh nghiệm của BS Nông Phúc Chinh- người đã sử dụng cây nàylâu năm, và theo kinh nghiệm của một số thầy thuốc ở Bắc Kạn thì dùng cây đàorừng dưới dạng ngâm rượu là tốt nhất: ngâm 1kg rễ cây đào rừng với 4 lít rượu
Trang 37trong một tuần, sau đó chắt lấy rượu Đổ thêm 2 lít rượu và ngâm tiếp một tuầnnữa Sau đó trộn lẫn hai loại rượu này, mỗi ngày uống hai lần, mỗi lần uống 30mlsau bữa ăn một giờ Ngoài ra có thể ngâm rượu để xoa bóp các khớp đau nhức.Phương thuốc này được dùng để chữa các trường hợp thấp khớp, viêm đa khớp,đau cột sống thắt lưng
CHƯƠNG II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Phương pháp lấy mẫu
Mẫu tươi sau khi lấy về được rửa sạch, để nơi thoáng mát, hoặc sấy khô ở
400C Việc xử lý tiếp các mẫu bằng phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước hoặcchiết chọn lọc với các dung môi thích hợp để thu được hỗn hợp các hợp chất dùngcho nghiên cứu được nêu ở phần thực nghiệm
2.2 Phương pháp phân tích, phân tách các hỗn hợp và phân lập các chất
Để phân tích và phân tách cũng như phân lập các hợp chất, sẽ sử dụng cácphương pháp sắc ký như:
Trang 38- Sắc ký lớp mỏng (TLC)
- Sắc ký cột thường (CC)
- Các phương pháp kết tinh phân đoạn
2.3 Phương pháp khảo sát cấu trúc các hợp chất
Cấu trúc các hợp chất được khảo sát nhờ sự kết hợp các phương pháp phổ:
- Phổ cộng hưởng từ hạt nhân một chiều DEPT
- Phổ cộng hưởng từ hạt nhân hai chiều HMBC, HSQC, COSY
Trang 39Sắc ký cột thường (CC) sử dụng silicagel Merck, cỡ hạt 230-400 mesh(0,040 đến 0,06 mm).
Tinh chế các hợp chất
3.1.3 Dụng cụ và thiết bị
Máy quay cất chân không IKA
Máy đo điểm chảy Kurss optronic
Máy đo phổ tử ngoại UV
Máy đo phổ hồng ngoại IR
Máy đo phổ khối lượng EI-MS
Máy đo phổ 1H-NMR Bruker 500 MHz
Máy đo phổ 13C-NMR Bruker 125 MHz
Máy đo phổ cộng hưởng từ hạt nhân một chiều DEPT
Máy đo phổ cộng hưởng từ hạt nhân hai chiều HMBC, HSQC, COSY
3.2 Nghiên cứu các hợp chất từ rễ cây đào rừng
3.2.1 Phân lập các hợp chất
Mẫu rễ cây đào rừng được lấy ở tỉnh Bắc Kạn vào tháng 5 năm 2007 Saukhi phơi khô và xay nhỏ thu được: 6 kg, ngâm chiết với metanol (14 ngày) Cất thuhồi dung môi thu được cao tổng metanol: 750g Chiết lần lượt với các dung môi vàcất thu hồi dung môi bằng máy quay cất chân không thu được các cặn cao tươngứng: dung môi n-hexan thu được 70,5 g cao n-hexan có màu đào nhạt, dung môicloroform thu được 10 g cao cloroform có màu đào, dung môi n-butanol thu được
120 g cao butanol có màu đỏ đào
Trang 40Các dịch chiết tương ứng từ rễ cây đào rừng (Prunus zippeliana var crassistyla (Card) J E Vid.) đều là những hỗn hợp phức tạp chứa các hợp chất
khác nhau Để phân lập từng chất ra khỏi hỗn hợp, đã sử dụng phương pháp sắc kýcột với các hệ dung môi rửa giải thích hợp và thường phải lặp lại nhiều lần Việctinh chế các chất thường dùng phương pháp kết tinh lại trong dung môi thích hợphoặc hệ dung môi thích hợp Nhờ đó sẽ thu được các chất có độ tinh khiết cao, đápứng các yêu cầu để khảo sát tính chất lý hoá và quang phổ của chúng Đó là nhữngyếu tố quan trọng trong quá trình nhận dạng và xác định cấu trúc hóa học của cácchất đã phân lập được từ các đối tượng nghiên cứu ở trên
Việc phân lập các thành phần hoá học từ rễ cây đào rừng (Prunus zippeliana
var crassistyla (Card) J E.Vid.) được thực hiện theo sơ đồ sau: