và bước đầu thử nghiệm phòng trừ sâu xanh bướm trắng hại rau thập tự, nhằm bảo vệ và sửdụng chúng để phòng trừ sâu hại cây trồng ở tỉnh Nghệ An đồng thời cung cấp cácdẫn liệu khoa học ch
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA NÔNG LÂM NGƯ - -
QUY TRÌNH NHÂN NUÔI BỌ XÍT NÂU VIỀN
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Đề tài tốt nghiệp là sản phẩm của quá trình lao động khoa học không mệt mỏicủa chúng tôi Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi thực hiện dưới sự hướngdẫn của Th.s Nguyễn Thị Thanh Những kết quả đạt được đảm báo tính chính xác vàtrung thực về khoa học
Nếu sai tôi xin chịu trách nhiệm trước Tổ bộ môn, Khoa và Nhà trường
Vinh, tháng 12 năm 2008
SINH VIÊN
HỒ ĐÌNH THẮNG
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện đề tài” “Quy trình nhân nuôi bọ xít nâu viền
trắng (Andrallus spinidens F) và thử nghiệm phòng trừ sâu xanh bướm trắng hại rau
thập tự” tôi đã nhận được sự giúp đỡ quý báu của Khoa Nông Lâm Ngư, Trường Đạihọc Vinh, các nhà khoa học, các thầy cô giáo, chính quyền địa phương nơi thu mẫu
đề tài này
Xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo trại thực nghiệm Nông học khoa NôngLâm Ngư, Trường Đại học Vinh, chính quyền địa phương xã Nghi Phong, HưngĐông, đã tạo điều kiện cho tôi tiến hành nghiên cứu trên địa bàn
Xin cảm ơn gia đình, những người thân, bè bạn gần xa đã động viên giúp đỡ tôihoàn thành khoá luận này
Vinh, tháng 12 năm 2008
Tác giả
Hồ Đình Thắng
Trang 44 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 41.1 Tình hình nghiên cứu nhóm bọ xít bắt mồi trên thế giới và Việt Nam 41.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 4
1.2 Những vấn đề tồn tại cần được nghiên cứu và những vấn đề luận văn tập trung nghiên cứu 71.3 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội ở khu vực nghiên cứu 81.3.1 Điều kiện tự nhiên tỉnh Nghên An 8
CHƯƠNG II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
2.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 10
2.1.1.1 Hệ sinh thái nông nghiệp và dịch hại cây trồng 102.1.1.2 Cấu trúc và tính ổn định của quần xã sinh vật 11
2.3 Đối tượng, vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu 15
Trang 52.4.1 Thí nghiệm ngoài đồng ruộng 16
CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 193.1 Kết quả lưu trứng BXNVT (Andrallus spiniden F.) ở 11oC và 14oC 193.2 Quy trình nhân nuôi BXNVT (Andrallus spinidens F.) ở điều kiện phòng thí nghiệm 283.3 Thử nghiệm sử dụng BXNVT A spinidens F phòng trừ sâu xanh
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 36
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO 39
PHỤ LỤC
Trang 6CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT TRONG BÁO CÁO
BXNVT Bọ xít nâu viền trắng
A spinidens Fabr Andrallus spinidens Fabricius
(Bọ xít nâu viền trắng)PTN Phòng thí nghiệm
SXBT Sâu xanh bướm trắng
IPM Quản lý dịch hại tổng hợp
(Integrated Pest Management)LSD0,05 Sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa ở 5%
CT Công thức thí nghiệm
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
1.1 Tổng nhiệt hữu hiệu và nhiệt độ thềm sinh học của các giai đoạn
trong vòng đời bọ xít nâu viền trắng A Spinidens F.
7
3.1 Kết quả lưu trứng bọ xít nâu viền trắng ở 11oC 193.2 Ảnh hưởng của thời gian lưu đến tỉ lệ nở của trứng BXNVT 213.3 Ảnh hưởng của thời gian lưu đến thời gian phát dục của trứng
BXNVT
213.4 Ảnh hưởng của nhiệt độ ấp tới tỉ lệ nở của trứng BXNVT 223.5 Ảnh hưởng của nhiệt độ ấp đến thời gian phát dục của trứng
BXNVT
22
3.6 Kết quả lưu trứng bọ xít nâu viền trắng ở 14oC, 45%RH 233.7 Ảnh hưởng của thời gian lưu đến tỉ lệ nở của trứng BXNVT 243.8 Ảnh hưởng của thời gian lưu đến thời gian phát dục của
trứngBXNVT
253.9 Ảnh hưởng của nhiệt độ ấp đến tỉ lệ nở của trứng BXNVT 263.10 Ảnh hưởng của nhiệt độ ấp đến thời gian phát dục của trứng
BXNVT
27
3.11 Kết quả thử nghiệm phỏng trừ SXBT ở mật độ 40con/m
2 bằng BXNVT
34
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH VÀ ĐỒ THỊ
Hình 3.1 Vật liệu nhân nuôi và thức ăn của BXNVT 29
Hình 3.3 Trứng bọ xít nâu viền trắng 30Hình 3.4 Ấu trùng BXNVT tuổi 1, 2, 3 31Hình 3.5 Bọ xít nâu viền trắng tuổi 4, 5 32Hình 3.6 Nhân nuôi trưởng thành BXNVT 32Hình 3.7 Thí nghiệm phòng trừ SXBT tại trại thí nghiệm Nông học – Đại
Đồ thị 3.1 Ảnh hưởng của thời gian lưu đến tỉ lệ nở (11oC) 20
Đồ thị 3.2 Ảnh hưởng của thời gian lưu đến tỉ lệ nở (14oC) 24
Đồ thị 3.3 Khả năng tiêu diệt sâu hại của BXNVT 34
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tầm quan trọng và ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
Đã qua một thời gian dài, năng suất được coi là chỉ tiêu chủ yếu để đánh giá kếtquả sản xuất các loại nông sản Vấn đề chất lượng rất ít được quan tâm, chẳng hạnnhư: Đặc tính thơm dẻo của hạt gạo, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong rau họhoa thập tự, Trong xu thế hội nhập hiện nay, đặc biệt khi Việt Nam là thành viêncủa (WTO) thì năng suất chưa đủ để giải quyết vấn đề hiệu quả kinh tế, vì người tiêudùng đã quan tâm nhiều hơn đến vấn đề chất lượng lương thực, thực phẩm Và nếunói đến vấn đề sản xuất hàng hóa xuất khẩu thì chất lượng phải đặc biệt được quantâm hơn
Rau là loại cây thực phẩm đóng vai trò quan trọng trong bữa ăn hàng ngày củangười dân Trong các loài rau trồng ở Việt Nam thì rau họ hoa thập tự là nhóm rau
có giá trị dinh dưỡng và đem lại giá trị kinh tế cao Chính vì vậy rau họ hoa thập tựđược rất nhiều người ưa thích và chúng được trồng rộng rãi khắp cả nước Tuy nhiên
sự phong phú về chủng loại, sự tăng về diện tích và mở rộng các vùng chuyên canhnhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường, cây rau đã chịu sự phá hại của nhiều loại sâubệnh (Viện khoa học Nông nghiệp miền nam,1997)[34] Các loài dịch hại này đang
là mối đe dọa đối với sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất rau nói riêng.Trong số các dịch hại rau họ hoa thập tự thì sâu xanh bướm trắng là loài gây hại chủyếu thường gặp trên các vùng trồng rau ở Nghệ An nói riêng và cả nước nói chung
Ở Việt Nam theo ước tính hàng năm có tới 20% sản lượng nông sản cây trồng
bị thiệt hại do sâu bệnh gây nên (Nguyễn Công Thuật, 1996)(Dẫn theo Phan Thị ThuHiền, 2008)[25] Những năm trước đây trong sản xuất nông nghiệp tập trung phòngtrừ sâu hại bằng biện pháp hoá học Sau một thời gian thuốc hoá học đã biểu hiệnnhững mặt trái trong phòng trừ dịch hại đồng thời kéo theo những hậu quả khôngmong muốn Ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ con người, gây ô nhiễm môi trường, tăng
Trang 10tính chống thuốc của dịch hại, tiêu diệt thiên địch, phá vỡ cân bằng sinh học gây ranhiều vụ “bùng nổ” sâu hại (Phạm Bình Quyền, 1994)(Dẫn theo Phan Thị Thu hiền2008)[25] Ngày nay chiến lược bảo vệ cây trồng được xác định không những bởilợi ích kinh tế trước mắt mà còn bởi sự an toàn sinh thái học, môi trường và sứckhoẻ con người, gia súc Đẩy mạnh việc bảo vệ các loài thiên địch, duy trì sự đadạng của chúng trong hệ sinh thái nông nghiệp, tăng cường và nâng cao sự hiểu biết
về đa dạng sinh học cũng như các mối quan hệ giữa các loài thiên địch với dịch hạibản địa đã và đang là một việc làm rất cần thiết Do đó sự phát triển và thực hiệnbiện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) đang là mối quan tâm của nhiều nướctrên thế giới trong đó có Việt Nam
Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm là vấn đề bức xúc hiện nay, vì vậy trongnhững năm gần đây các nhà khoa học bảo vệ thực vật (BVTV) đã tập trung nghiêncứu biện pháp sinh học và coi biện pháp này là biện pháp cốt lõi trong hệ thống quản
lý dịch hại tổng hợp Trong chương trình IPM việc nhập nội, duy trì các loài côntrùng bắt mồi luôn dữ một vai trò quan trọng Ở Việt Nam đã có một số tác giảnghiên cứu nhân thả thiên địch bắt mồi như: Hà Quang Hùng, Nguyễn Thị Thu
Cúc, Tuy nhiên đối với bọ xít nâu viền trắng (BXNVT) - Andrallus spinidens F đã
bước đầu được một số tác giả quan tâm như: Trương Xuân Lam (2000, 2004), PhanThị Thu Hiền (2008), tuy nhiên những nghiên cứu này mới dừng lại ở đặc điểmsinh học, sinh thái và đánh giá vai trò của BXNVT trong phòng trừ sâu hại cây trồngnông nghiệp Song những nghiên cứu về quy trình và kỹ thuật nhân nuôi loài côntrùng thiên địch quan trọng này thì hoàn toàn chưa được quan tâm
Từ những cơ sở đó chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Quy trình nhân
nuôi bọ xít nâu viền trắng (Andrallus spinidens F.) và thử nghiệm phòng trừ sâu
xanh bướm trắng hại rau thập tự” với mong muốn duy trì và lợi dụng chúng
trong điều hòa số lượng sâu hại trên đồng ruộng, giảm tới mức thấp nhất việc sửdụng thuốc hóa học - một vấn đề bức bách của xã hội hiện nay
Trang 112 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng quy trình nhân nuôi Bọ xít nâu viền trắng (A spinidens F.) và bước
đầu thử nghiệm phòng trừ sâu xanh bướm trắng hại rau thập tự, nhằm bảo vệ và sửdụng chúng để phòng trừ sâu hại cây trồng ở tỉnh Nghệ An đồng thời cung cấp cácdẫn liệu khoa học cho biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), tăng hiệu quả sửdụng nhân tố gây chết tự nhiên của dịch hại, trên cơ sở đó giảm số lần phun thuốctrừ sâu trong mỗi vụ cây trồng, tăng hiệu quả kinh tế, bảo vệ sức khoẻ con người,môi trường và cân bằng sinh học trong hệ sinh thái nông nghiệp
Qua việc nghiên cứu đề tài này giúp bản thân nâng cao hiểu biết về một số nộidung tri thức, kiến thức đã học trong các giáo trình bộ môn sinh thái học, bảo vệthực vật, côn trùng học, IPM,… về thực tiễn sản xuất nông nghiệp và biện phápphòng trừ tổng hợp sâu hại cây trồng
3 Đối tượng nghiên cứu
- Bọ xít bắt mồi ăn thịt nâu viền trắng Andrallus spinidens F (Hemiptera:
Pentatomidae)
- Sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae) (Lepidoptera: Pieridae) hại rau họ hoa
thập tự
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là quy trình nhân nuôi BXNVT và lưu giữtrứng của chúng, đây là vấn đề mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao
- Nhân nuôi BXNVT để phòng trừ các loài sâu bộ cánh vảy (Lepidoptera) hại cây trồngnông nghiệp - một vấn đề đã và đang được quan tâm rất nhiều trong sản xuất nông nghiệp khithuốc hóa học đang thể hiện các mặt trái của nó
- Cung cấp các dẫn liệu khoa học cho biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) tănghiệu quả sử dụng nhân tố gây chết tự nhiên của dịch hại, trên cơ sở đó giảm số lần phunthuốc trừ sâu trong mỗi vụ cây trồng, tăng hiệu quả kinh tế, bảo vệ sức khoẻ conngười, môi trường và cân bằng sinh học trong hệ sinh thái nông nghiệp
Trang 12CHƯƠNG I.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình nghiên cứu nhóm bọ xít bắt mồi trên thế giới và Việt Nam 1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới các kết quả nghiên cứu về bọ xít bắt mồi phải kể đến những côngtrình nghiên cứu về thành phần loài có liên quan đến khu hệ bọ xít bắt mồi ở vùngĐông Dương - Ấn Độ và các nước lân cận với Việt Nam, mà điển hình là những nghiêncứu của các tác giả ở Ấn Độ như Distant (1904 - 1910) đã phân loài và mô tả hình thái
422 loài Vennison, Ambrose (1990) đã ghi nhận được 15 loài bọ xít bắt mồi thuộcgiống Ectomocoris (Dẫn theo Trương Xuân Lam, Vũ Quang Côn, 2004)[31]
Ở Đông Dương Vitalis (1919) đã công bố 14 loài bọ xít bắt mồi bao gồm họReduviidae có 11 loài thuộc 9 giống, họ Nabidae có 1 loài, họ Pentatomidae có 2loài thuộc giống Cazira và Palpada
Trung Quốc, cho đến năm 1971 đã phát hiện được 820 loài côn trùng bắt mồitrong đó có gần 200 loài thuộc nhóm bọ xít bắt mồi (Price, 1915)
Cai wanzhi etall (1995, 1997, 2001, 2002) đã mô tả 15 loài bọ xít bắt mồi thuộcgiống Reduvius và 44 loài thuộc phân họ Harpactorinae, trong đó tác giả đã ghi nhận
3 loài mới cho khoa học (Dẫn theo Trương Xuân Lam, Vũ Quang Côn, 2004)[31].Các công trình nghiên cứu về thành phần loài của bọ xít bắt mồi ở một số cácnước khác trên thế giới cũng đã được nhiều tác giả nghiên cứu như Randall, James(1995) đã thống kê các loài bọ xít ăn sâu Reduviidae trên thế giới có khoảng 65000loài thuộc 930 giống trong 22 phân họ
Nghiên cứu về hình thái, sinh học và sinh thái học của một số loài bọ xít bắtmồi cũng đã được nhiều tác giả đề cập tới
Trang 13Miller (1956) đã mô tả đặc điểm hình thái của 24 loài thuộc họ bọ xít ăn sâuReduviidae và mô tả thiếu trùng tuổi 1, tuổi 4 của 7 loài bọ xít bắt mồi thuộc họ này.Kitamura Kondo (1995) đã nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ đến thời gian
phát dục của trứng và thiếu trùng loài bọ xít bắt mồi Nabis stenoferus (họ Nabidae).
Nghiên cứu về tập tính bắt mồi, ảnh hưởng của các loại thức ăn, khả năng tiêuthụ vật mồi và vai trò của một số loài bọ xít bắt mồi cũng đã được đề cập tới
Theo Khoo (1990) thì ở Malaysia người ta đã sử dụng loài bọ xít bắt mồi
Sycanus collasis (họ Reduviidae) để phòng chống bọ xít xanh hại đậu tương Nezara
viridula (Corpuz, 1969) Ambrose atal (1994) nghiên cứu khả năng ăn mồi của loài
bọ xít bắt mồi Acanthaspis siva (họ Reduviidae).
Nghiên cứu về biến động số lượng, ảnh hưởng của các yếu tố đến mật độ củamột số loài bọ xít bắt mồi như Thagavelu, Sing (1992) ở Ấn Độ Czepak, Contietal(1994) Ở Italia, Cutouli (1995)
Vennison etal (1991) đã nghiên cứu biến động số lượng của con trưởng thành
và thiếu trùng của 7 loài bọ xít bắt mồi họ Reduviidae
Singh etal (1989) nghiên cứu về một số đặc điểm sinh học của loài bọ xít nâu
viền trắng Andrallus spinidens F với vật mồi là loài sâu hại đậu tương Rivula sp Ở
trong phòng thí nghiệm tại Macthya pradesh trong điều kiện (nhiệt độ 24-300C), ẩm
độ 75-80%có vòng đời 32 - 40 ngày
Bakticl (2000) đã nuôi loài bọ xít nâu viền trắng Andrallus spinidens F từ
tháng 4 đến tháng 10/1999 ở Indonesia với vật mồi là loài sâu khoang đậu tương
thấy con cái của loài bọ xít bắt mồi A spinidens F phát dục từ 6 - 10 ngày, trung
bình con cái đẻ 379 quả trứng, thời gian phát dục của trứng 6,86 ngày, tỷ lệ nở70,79% thiếu trùng có 5 tuổi, thời gian phát dục của thiếu trùng 14 - 19 ngày và đạt
tỷ lệ sống sót 68,77 - 72,81%, con trưởng thành trung bình 33 - 44 ngày (Dẫn theoTrương Xuân Lam, Vũ Quang Côn, 2004)[31]
Trang 14Patiet all (1989) cho biết: Trong nhóm côn trùng bắt mồi của 3 loài sâu cắn gié
Mythim sp hại lúa ở Ấn Độ phải kể đến loài bọ xít nâu viền trắng bắt mồi Andrallus spinidens F Loài bọ xít bắt mồi này ăn cả ấu trùng, nhộng của sâu cắn gié và có vai
trò trong việc kìm hãm số lượng của nhóm sâu hại này trên cánh đồng lúa
1.1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam trên các cây trồng việc nghiên cứu thành phần loài côn trùng bắtmồi đã được thực hiện trong nhiều năm qua Tuy nhiên những nghiên cứu có tínhchất hệ thống về nhóm bọ xít bắt mồi còn ít được quan tâm tới
Đặng Đức Khương (1990) nghiên cứu và xác định được 18 loài bọ xít bắt mồi
ở trên cây lúa tại Tây Nguyên (Dẫn theo Trương Xuân Lam, Vũ Quang Côn, 2004)[31]
Trong kết quả nghiên cứu thiên địch của sâu hại khoai lang, (Hà Quang Hùng,
1996) [3] đã ghi nhận loài bọ xít bắt mồi Andrallus spinidens F (họ Pentatomidae)
là loài bắt mồi có triển vọng và vật mồi chủ yếu của nó là loài sâu non của các loàisâu hại khoai lang
Loài bọ xít nâu viền trắng Andrallus spinidens F là loài bọ xít bắt mồi tích cực
trên cây bông, cây đậu tương và cây ngô trong hệ sinh thái đồng ruộng ở NinhThuận, Đồng Nai và một số tỉnh miền Bắc Vật mồi loài bọ xít bắt mồi này là ấutrùng sâu xanh, sâu khoang và sâu đo xanh Tuy nhiên việc nghiên cứu nhân nuôi và
sử dụng chúng chưa được quan tâm đến mà chỉ mới xác định tên loài, vùng phân bố
và xác định trên một số vật mồi của chúng trên cây đậu tương, cây bông (Vũ QuangCôn và CTV, 1995); Phạm Văn Lầm (1993, 1997); Mai Phú Quý và Trần Thị Lài,(1990); Viện bảo vệ thực vật, (1976) Đến 2008, Phan Thị Thu Hiền đã nghiên cứu
và chỉ ra được nhiệt độ thềm sinh học và tổng nhiệt hữu hiệu của các giai đoạn cũngnhư cả vòng đời (bảng 1.1)
Trang 15Bảng 1.1 Tổng nhiệt hữu hiệu và nhiệt độ thềm sinh học của các giai đoạn trong
vòng đời bọ xít nâu viền trắng A spinidens F.
TT Giai đoạn phát triển Nhiệt độ thềm
sinh học (0C)
Tổng nhiệthữu hiệu(độ ngày)
2 Giai đoạn thiếu trùng 12,38 312,42
3 Giai đoạn trưởng thành đến đẻ trứng lần 1 5,45 225,45
nghiên cứu chỉ chú trọng vào loài bọ xít hoa bắt mồi Eocanthecona furcellata thuộc
họ Pentatomidae, gần đây đã có thêm một số kết quả nghiên cứu đặc điểm sinh học,
sinh thái của bọ xít Orius sauteri và thử nghiệm phòng trừ bọ trĩ hại dưa chuột, mà loài bọ xít nâu viền trắng A spinidens F ít được chú ý tới, đặc biệt là ở Nghệ An.
1.2 Những vấn đề tồn tại cần được nghiên cứu và những vấn đề luận văn tập trung nghiên cứu
* Những vấn đề tồn tại cần được nghiên cứu
- Nhân nuôi Bọ xít nâu viền trắng Andrallus spinidens F.
- Xây dựng quy trình lưu giữ trứng BXNVT để chủ động nguồn thiên địch khisâu hại xuất hiện ngoài đồng ruộng
- Xây dựng quy trình nhân nuôi công nghiệp Bọ xít nâu viền trắng Andrallus
spinidens F
Trang 16- Sử dụng Bọ xít nâu viền trắng Andrallus spinidens F phòng trừ các loài sâu
hại cây trồng
- Đánh giá hiệu quả phòng trừ sâu hại của Bọ xít nâu viền trắng Andrallus
spinidens F
- Thành lập trung tâm nhân nuôi, cung cấp Bọ xít nâu viền trắng
Andrallus spinidens F cho người dân sử dụng phòng trừ sâu hại cây trồng
* Những vấn đề luận văn tập trung nghiên cứu
(1) Xây dựng quy trình nhân nuôi Bọ xít nâu viền trắng A spinidens F
(2) Xây dựng quy trình lưu giữ trứng Bọ xít nâu viền trắng A spinidens F để
chủ động nguồn thiên địch phòng trừ sâu hại
(3) Thử nghiệm sử dụng Bọ xít nâu viền trắng A spinidens F phòng trừ sâu
xanh bướm trắng hại rau họ hoa thập tự
1.3 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu
1.3.1 Điều kiện tự nhiên tỉnh Nghệ An
Nghệ An là một tỉnh thuộc vùng Trường Sơn Bắc, có tọa độ địa lý từ 180
35’-19030’ vĩ độ bắc và 103052’-105042’ kinh độ đông với tổng diện tích tự nhiên
1637068 ha (1/20 diện tích lãnh thổ Việt Nam)
Địa hình Nghệ An có thể chia ra 3 vùng cảnh quan, đây là đặc điểm chi phốiđến mọi hoạt động, nhất là trong sản xuất nông nghiệp của Nghệ An Vùng núi cao(chiếm 77,0% diện tích), vùng gò đồi (13,0%), vùng đồng bằng chỉ chiếm 10,0%diện tích Đồng bằng hẹp bị chia cắt thành vùng đồng bằng phù sa và dải cát venbiển Đồng bằng phù sa gồm các dải đồng bằng Vinh, Quỳnh Lưu, Yên Thành, DiễnChâu, Đô Lương, Nam Đàn, Hưng Nguyên, Nghi Lộc Vùng đất cát ven biển QuỳnhLưu, Diễn Châu, Nghi Lộc, Hưng Nguyên
Khí hậu Nghệ An mang đặc tính nhiệt đới gió mùa, với đặc điểm cơ bản lànóng ẩm, mưa nhiều theo mùa Hàng năm đất Nghệ An nhận được trung bình 120-
Trang 17140Kcal/cm2 bức xạ mặt trời, nhiệt độ trung bình 23 - 240C, độ ẩm không khí là85%, lượng mưa trung bình cả năm từ 1600 - 2000mm.
1.3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Nghệ An là một trong những tỉnh đông dân, với dân số 2.923.647 người (tínhđến 31/12/2000), mật độ dân số trung bình toàn tỉnh khoảng 180 người/km2 Dân cưphân bố không đều giữa các vùng, vùng đồng bằng chiếm 10% diện tích nhưng tậptrung đến 80% dân số, vùng núi và gò đồi chiếm 90% diện tích nhưng chỉ có 20%dân số
Ngoài ra sự thay đổi cơ cấu cây trồng cùng với việc đầu tư phân hoá học, thuốctrừ sâu, thuỷ lợi tưới tiêu,… đặc biệt từ những năm 70, tỉnh Nghệ An đã chuyển đổimùa vụ, coi vụ hè thu là một trong ba vụ sản xuất chính trong năm đó là những tácđộng không nhỏ đến hệ sinh thái đồng ruộng trước tiên là sâu hại và thiên địch củachúng
Trang 18
CHƯƠNG II.
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
2.1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1.1 Hệ sinh thái nông nghiệp và dịch hại cây trồng
Hệ sinh thái nông nghiệp vốn là hệ sinh thái tự nhiên được con người biến đổi
để sản xuất lương thực, thực phẩm, sợi và các sản phẩm nông nghiệp khác
Hệ sinh thái nông nghiệp có khả năng tạo ra khối lượng nông sản có ích chocon người Con người không ngừng cải tạo, hoàn chỉnh theo hướng có lợi cho conngười, cho nên hệ sinh thái nông nghiệp đơn giản, ít thành phần loài hơn hệ sinh thái
tự nhiên
Thực tiễn sản xuất nông nghiệp cho thấy một trong những nguyên nhân chủyếu gây tổn thất về năng suất và phẩm chất cây trồng là dịch hại Dịch hại làm giảmnăng suất và làm cho cây trồng không thể tiến hành tạo năng suất một cách bìnhthường Sinh vật gây hại còn tiết ra các chất có tác động làm rối loạn hoạt động sốngcủa tế bào, làm ảnh hưởng đến phẩm chất cây trồng, làm giảm giá trị hàng hoá củanông sản Nói chung dịch hại gây tổn hại cho cây trồng nông nghiệp ở nhiều mặt (sốlượng và chất lượng nông sản) mức độ gây hại khác nhau tuỳ loài cây trồng và vùngsinh thái
Sâu hại cây trồng là trạng thái tự nhiên của hệ sinh thái nông nghiệp Nói về táchại của một loài sinh vật nào đó thực ra là xét dưới góc độ lợi ích của nó đối với conngười Trong tự nhiên không có loài sinh vật gây hại cũng như không có loài sinhvật nào hoàn toàn có lợi Thực ra mỗi loài sinh vật đều có một vị trí nhất định trongmạng lưới dinh dưỡng của hệ sinh thái, chúng thực hiện những chức năng riêngtrong chu trình chuyển hoá vật chất của tự nhiên
Trang 19Như vậy “sinh vật có lợi hay có hại không phải là thuộc tính của một sinh vậtnào đó mà là đặc tính của loài đó trong mối quan hệ nhất định của mỗi hệ sinh thái”.Các loài sinh vật vừa là điều kiện tồn tại của nhau vừa là yếu tố hạn chế trong mỗichuỗi dinh dưỡng của chu trình tuần hoàn vật chất Vì vậy dịch hại cây trồng làtrạng thái tự nhiên của hệ sinh thái nông nghiệp (Hà Quang Hùng, 1998)[4]
2.1.1.2 Cấu trúc và tính ổn định của quần xã sinh vật
Tính ổn định và năng suất quần thể của một loài được xác định bởi rất nhiềuyếu tố, một phần các yếu tố đó là cấu trúc quần xã sinh vật (Walt, 1976) (Dẫn theoTrần Ngọc Lân)[26] Cấu trúc quần xã sinh vật bao gồm 3 nhóm yếu tố:
a Mạng lưới dinh dưỡng trong quần xã
b Sự phân bố không gian của sinh vật
c Sự đa dạng của quần xã
Cũng như các hệ sinh thái khác trong hệ sinh thái đồng ruộng luôn luôn tồn tạimối quan hệ về mặt dinh dưỡng và đó là mối quan hệ tất yếu trong quần xã sinh vậtcũng như hệ sinh thái, mỗi loài sinh vật thường là thức ăn, là điều kiện tồn tại chomỗi loài sinh vật khác
Quan hệ phổ biến giữa các loài sinh vật là quan hệ phụ thuộc lẫn nhau vô cùngphức tạp nhưng có quy luật, đặc biệt là quan hệ dinh dưỡng (thể hiện qua chuỗi vàlưới thức ăn)
2.1.1.3 Quan hệ dinh dưỡng
Tập hợp các quần thể được gắn bó với nhau qua những mối liên hệ được hìnhthành trong một quá trình lịch sử lâu dài và sinh sống trong một khu vực nhất địnhtạo thành quần xã sinh vật Ngoài mối quan hệ tổng hợp giữa các quần thể còn cómối quan hệ tác động lẫn nhau về nhiều mặt, trong đó quan trọng nhất là mối quan
hệ dinh dưỡng Trong quan hệ đặc biệt này, hiện tượng ăn thịt, ký sinh có ý nghĩahết sức quan trọng không những đối với lý luận mà còn đối với thực tiễn, gắn vớicác biện pháp phòng trừ sinh học các loài sinh vật gây hại
Trang 20Hiện tượng ăn thịt là một dạng quan hệ, trong đó một loài (vật ăn thịt) săn bắtmột loài khác (vật mồi) để làm thức ăn và thường dẫn đến cái chết của một con mồitrong thời gian ngắn Để hoàn thành sự phát triển mỗi cá thể vật ăn thịt thường phảitiêu diệt rất nhiều con mồi (trừ một số trường hợp bọ rùa ăn rệp sáp lớn) Các loài ănthịt có 2 khả năng ăn mồi: vật ăn thịt có thể nhai, nghiền con mồi (như cánh cứng ănthịt, chuồn chuồn,…) hoặc chúng hút dịch dinh dưỡng từ con mồi (như bọ xít ănthịt, nhện lớn ăn thịt,…).
Thiên địch thường là nhóm phòng trừ sinh học quan trọng nhất của cây trồng.Trong cả một vòng đời mỗi một thiên địch tiêu thụ rất nhiều con mồi Thiên địchxuất hiện ở hầu hết các môi trường cây trồng nông nghiệp Sự liên quan mật thiếtgiữa các loài sâu hại với côn trùng ký sinh trong quá trình phát triển của quần xã có
ý nghĩa to lớn không những trong lý luận mà còn có ý nghĩa trong thực tiễn Việcnghiên cứu xem xét các mối quan hệ tương hỗ đó đã góp phần trong các biện phápphòng trừ dịch hại cây trồng theo hướng bảo vệ sự đa dạng, mối cân bằng sinh họctrong hệ sinh thái nông nghiệp
Các loài thiên địch đóng vai trò quan trọng trong điều hòa tự nhiên, vai trò tolớn của thiên địch trong hạn chế sự sinh sản của dịch hại đã được ghi nhận từ năm
1760 Đến năm 1800 Darwin viết “Thường thì số lượng trung bình của loài không
phải phụ thuộc sự tìm kiếm thức ăn của chúng mà phụ thuộc vào việc chúng là thức
ăn cho các loài sinh vật khác”.
Đặc điểm đặc trưng của sự tác động qua lại trong hệ thống ký sinh – ký chủ(vật bắt mồi ăn thịt – con mồi) là sự chậm trễ hay phản ứng chậm trễ của ký sinh hayvật bắt mồi ăn thịt đối với sự thay đổi mật độ quần thể ký chủ hay con mồi (Lotka,1925; Lack, 1957), vì vậy Varley (1947) đã gọi hoạt động của thiên địch là “yếu tốchậm phụ thuộc vào mật độ quần thể” Những loài thiên địch có thời gian của sựchậm trễ đối với sự thay đổi mật độ quần thể ký chủ hay con mồi càng ngắn thì vaitrò điều hòa số lượng ký chủ hay con mồi lớn
Trang 21Qua những kết quả nghiên cứu bằng thực nghiệm cho thấy tác động qua lại củacác loài trong hệ thống ký sinh - ký chủ hay vật bắt mồi - con mồi đã dẫn đến nhữngthay đổi trong quần thể có tính chu kỳ của hai loài Sơ đồ biểu diễn sự thay đổi mật
độ của chúng là hai đường đuổi nhau
Phòng trừ tổng hợp sâu bệnh hại cây trồng (IPM) dựa trên mối quan hệ tương
hỗ giữa cây trồng - sâu hại - thiên địch trong hệ sinh thái nông nghiệp, các nguyêntắc sinh thái và đa dạng sinh học của hệ sinh thái nông nghiệp Từ những cơ sở trênchúng tôi đã tiến hành nghiên cứu quy trình nhân nuôi và lưu giữ trứng BXNVT vớimong muốn là tăng cường sự kiểm soát của thiên địch đối với các loài sâu hại
Trang 222.1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
Để bảo vệ cây rau và tăng năng suất, hiện nay ở Nghệ An cũng như các vùngtrồng rau trong cả nước, biện pháp được sử dụng phổ biến nhất để trừ các loài sâunày là sử dụng thuốc hóa học Do thời gian sinh trưởng của cây rau ngắn, sâu hạinhiều nên người dân trồng rau Nghệ An đã sử dụng nhiều loại thuốc hóa học có tínhđộc hại cao, có loại lại không rõ nguồn gốc với số lần phun thuốc từ 4 - 20 lần/vụrau, khoảng cách giữa các lần phun là 5 - 15 ngày (Trần Văn Quyền, Thái ThịPhương Thảo, 2008)[30] Chính vì vậy, ảnh hưởng của thuốc hóa học đã và đang đểlại rất nhiều hậu quả trực tiếp cho người tiêu dùng và vật nuôi, hơn thế thuốc cònxâm nhập vào đất, nước, tồn dư trong rau gây lên những ảnh hưởng lâu dài, phá vỡcân bằng sinh thái và tiêu diệt nhiều loài côn trùng có ích trên cánh đồng rau
Ngày nay, việc phòng trừ sâu hại trên các cây trồng bằng biện pháp phun thuốchóa học chỉ có tác dụng là nhìn thấy sâu hại chết ngay, tuy nhiên nó sẽ gây ra nhữnghậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe cộng đồng Xu hướng chính trong Bảo vệ thựcvật là Quản lý tổng hợp dịch hại cây trồng (IPM) mà việc sử dụng biện pháp sinhhọc thay thế biện pháp sử dụng thuốc hoá học trừ sâu là then chốt, trong đó nhữnghướng đang được ưu tiên, quan tâm và ứng dụng rộng rãi là bảo vệ, duy trì và lợidụng các loài thiên địch, đồng thời nghiên cứu các biện pháp để nhân nuôi thả chúng
ra ngoài đồng ruộng
Cho đến nay, ở Việt Nam đã có một số thành công trong nghiên cứu ứng dụng
và nhân thả một số loài côn trùng bắt mồi trong việc phòng trừ sâu hại một số loại
cây trồng, như sử dụng bọ xít bắt mồi (Orius sauteri) phòng trừ bọ trĩ hại dưa chuột,
sử dụng nhện bắt mồi Phytoseiulus persimilis phòng trừ sâu và nhện đỏ hại cây cà
chua, dưa chuột cho hiệu quả rất tốt (Viện BVTV, 2003) Lợi dụng bọ xít hoa bắt
mồi Cantheconidea furcellata phòng trừ sâu hại trên cây bông đay (Vũ Quang Côn
và ctv, 1994; Nguyễn Thị Hai, 1992) Nghiên cứu và lợi dụng các loài bọ xít cổ
ngỗng Sycanus falleni và Sycanus croceovittatus phòng trừ một số loài sâu hại chính
Trang 23trên cây bông và đậu tương ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam (Trương Xuân Lam và
Vũ Quang Côn, 2004) Kỹ thuật nuôi nhân và sử dụng bọ đuôi kìm để phòng trừ Bọcánh cứng hại dừa (Nguyễn Thị Thu Cúc) Tuy nhiên, nghiên cứu nhân nuôi và sửdụng phòng trừ sâu hại của loài Bọ xít nâu viền trắng (BXNVT) thì chưa được tácgiả nào quan tâm
2.2 Giả thuyết khoa học
Giả thuyết 1: Quy trình và kỹ thuật nhân nuôi BXNVT trong điều kiện phòngthí nghiệm đơn giản, dễ thực hiện
Giả thuyết 2: Trứng BXNVT không phát triển được khi lưu dưới nhiệt độ thềmsinh học của trứng (12,40C)
Giải thuyết 3: Thời gian lưu trứng tỉ lệ nghịch với tỉ lệ nở của trứng BXNVTsau khi lưu
Giải thuyết 4: BXNVT sẽ khống chế được sâu xanh bướm trắng hại rau thậptự: 6 cá thể BXNVT/m2 sẽ khống chế SXBT ở mật độ 40con/m2 dưới mức gây hạikinh tế
2.3 Đối tượng, vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
- Bọ xít bắt mồi ăn thịt nâu viền trắng Andrallus spinidens F (Hemiptera:
Pentatomidae)
- Sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae L.) (Lepidoptera: Pieridae).
* Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 2 đến tháng 12/2008
* Địa điểm nghiên cứu
- Nghiên cứu được tiến hành tại phòng thí nghiệm Bảo vệ thực vật, tổ Bộ mônNông học, Khoa Nông Lâm Ngư, Trường đại học Vinh
- Trại thực nghiệm Nông học, Khoa Nông Lâm Ngư, Trường đại học Vinh
- Thu thập các loài sâu hại trên cây trồng cạn, cây trồng nước, các vùng trồngrau màu, vườn cây ăn quả, tại các xã Nghi Liên, Nghi Kim, Nghi Phú, Nghi Đức
Trang 24huyện Nghi Lộc và trên các ruộng thuộc thành phố Vinh- Nghệ An để làm thức ăncho chúng khi nhân nuôi.
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Thí nghiệm ngoài đồng ruộng
* Thí nghiệm sử dụng BXNVT phòng trừ sâu xanh bướm trắng
Bước đầu thử nghiệm bọ xít nâu viền trắng phòng trừ sâu xanh bướm trắng hại
họ hoa thập tự Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối ngẫu nhiên (RCB)
Bố trí 5 công thức 2 lần lặp lại, cố định số lượng sâu cho mỗi công thức là 40 con/
m2 Sơ đồ bố trí như sau:
* Phương pháp nhân nuôi và lưu giữ trứng bọ xít nâu viền trắng
Thu bắt trưởng thành ngoài đồng ruộng (thu theo cặp hoặc đưa về phòng thínghiệm ghép đôi 1 đực : 1 cái) cho vào lọ nuôi sạch, có bông giữ ẩm, lá tươi, cửa sổthông khí (1-2 cặp/1 lọ nuôi)
Hàng ngày cho chúng ăn và theo dõi thời điểm đẻ trứng, số ổ trứng/cặp, vàthu trứng BXNVT
Trứng mới đẻ được chuyển sang hộp khác để ấp hoặc lưu trong tủ định ôn,theo dõi thời gian và tỷ lệ nở của trứng Khi thiếu trùng bọ xít vừa nở tiến hành bổ
Trang 25sung lá cây sạch và bông ướt để giữ ẩm trong lọ nuôi Từ tuổi 3 trở đi cho thức ăn làsâu tuổi non bộ cánh vảy tuổi 2 - 5 Bọ xít nâu viền trắng từ tuổi 1 - 3 sống tập trungnên nuôi tập thể nhưng từ cuối tuổi 3 đến tuổi 5 chúng bắt đầu phân tán nên tiếnhành nuôi theo nhóm 4 - 7 cá thể/lọ nuôi.
Sau khi vũ hóa tiến hành lựa chọn các cặp bố mẹ khỏe mạnh để tiếp tục nuôisinh sản trong điều kiện phòng thí nghiệm Các cá thể khác đưa ra đồng ruộng đểphòng trừ sâu hại rau thập tự
Khống chế trứng bọ xít nâu viền trắng A spinidens F trong tủ 110C, 140C Sau
đó đưa lên nuôi (ấp) ở các điều kiện: Phòng thí nghiệm (TB: 28,9oC, 70%RH); 20oC,60%RH; 25oC, 65%RH
* Nguyên tắc lưu trứng: Trứng phải được đẻ ra từ những cặp bố mẹ khỏemạnh, hộp nhựa lưu trứng phải có bông và lá tươi giữ ẩm
2.4.3 Xử lý, bảo quản mẫu vật
- Các mẫu vật được bảo quản và xử lý theo quy định xử lý côn trùng Mẫu vậtđược lưu giữ theo phương pháp giữ mẫu vật bằng Fomalin 5%, cồn 700C
- Mẫu vật được bảo quản trong ống nghiệm có ghi số ký hiệu (Etyket)
- Việc bảo quản mẫu được tiến hành cẩn thận tại phòng thí nghiệm BVTV, tổ
Bộ môn Nông học, Khoa Nông Lâm Ngư, trường đại học Vinh
2.4.4 Các chỉ tiêu theo dõi
- Tỷ lệ nở của trứng
Tỉ lệ nở của trứng = Tổng số trứng theo dõiSố trúng nở X 100%
- Hiệu quả phòng trừ của bọ xít nâu viền trắng đối với sâu xanh bướm trắng,được tính theo công thức Abbot
Hiệu lực phòng trừ (%) = Ca - Ta
X 100
Ca
Trang 26Trong đó: Ta là số các thể sống ở công thức thí nghiệm sau khi xử lý
Ca là số cá thể sống ở công thức đối chứng sau khi thí nghiệm
- Tiến hành nhân nuôi số lượng lớn từ đó đưa ra quy rình nhân nuôi
- Khống chế trứng bọ xít nâu viền trắng ở điều kiện nhiệt độ 11oC, 14oC trongthời gian 4, 10, 15, 20, 25, 30, 35, 40, 45, 50, 55, 60 ngày Sau đó chuyển sang ấp ởnhiệt độ 20oC, 60%RH; 25oC, 65%RH; PTN (Nhiệt độ trung bình 28,9, 70%) Theodõi sự phát triển của chúng
2.4.5 Phương pháp sử lý số liệu
Các số liệu được xử lý bằng công thức thống kê toán học và xử lý trên phầnmềm STATISTIX, SPSS, với độ tin cậy 95% Số liệu thu thập được xử lý qua bảngbiểu sơ đồ, đồ thị
Trang 27CHƯƠNG III.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Kết quả lưu trứng BXNVT (Andrallus spiniden F.) ở 11o C và 14 o C
Kết quả thử nghiệm lưu giữ trứng, bảo quản và kìm hãm sự phát triển củatrứng BXNVT ở các nhiệt độ khác nhau sau khi tính được nhiệt độ thềm sinh họccủa trứng BXNVT (12,40C) kết quả cho thấy:
Lưu trứng ở 110C từ 4 đến 60 ngày sau đó đưa ra 3 điều kiện nuôi 200C,60%RH; 250C, 65%RH và phòng thí nghiệm theo dõi, kết quả thu được bảng 3.1
Bảng 3.1 Kết quả lưu trứng bọ xít nâu viền trắng ở 11oC
trứng
TGphátdục
Tỉ lệnở(%)
Sốtrứng
TGphátdục
Tỉ lệnở(%)
Sốtrứng
TGphátdục
Tỉ lệnở(%)
Trang 28Qua bảng trên cho thấy chỉ có trứng lưu từ 4 đến 10 ngày là nở, sau 10 ngày tất
cả trứng đã lưu đều không nở ở cả 3 điều kiện nuôi
Ở điều kiện nuôi là 200C, 60%RH, trứng đã lưu từ 4 – 10 ngày có thời gianphát dục là 21 ± 1 và tỷ lệ trứng nở trung bình là 84,65%, tương ứng trứng nuôi ởđiều kiện 250C, 65%RH là 10 ngày và 82,5% và điều kiện phòng thí nghiệm là 9ngày và 77,1% Như vậy so với các trứng không lưu nuôi trực tiếp ở 3 điều kiện trênthì trứng lưu có thời gian phát dục dài hơn 1- 4 ngày, và tỷ lệ nở thấp hơn, điều đóchứng tỏ lưu trứng ở 110C (dưới nhiệt độ thềm) trứng đã ngừng dục nên khi đưa lênnhiệt độ cao để nuôi chúng cần phải có một thời gian ngắn để phục hồi các hoạtđộng bên trong
Trang 29Bảng 3.2 Ảnh hưởng của thời gian lưu đến tỉ lệ nở của trứng BXNVT
Ghi chú: Các chữ cái khác nhau biểu thị sự sai khác có ý nghĩa giữa các thời
gian lưu ở từng cột theo StatistixN: Số trứng theo dõi
Qua số liệu bảng 3.2 và đồ thị 3.1 cho thấy tỉ lệ nở của trứng BXNVT sẽ giảmdần theo thời gian lưu trứng Xử lý thống kê thu được ở 20oC, 60%RH không có sựsai khác có ý nghĩa về tỉ lệ nở của trứng không lưu, lưu 4, 10 ngày 25oC, 65%RHkhông có sự sai khác có ý nghĩa giữa lưu 4 ngày và không lưu nhưng khi thời gianlưu tăng lên 10 ngày đã có sự sai khác với trứng không lưu Ở nhiệt độ phòng thínghiệm sự sai khác thể hiện rõ rệt giữa trứng lưu và không lưu
Bảng 3.3 Ảnh hưởng của thời gian lưu đến thời gian phát dục của trứng BXNVTThời gian lưu
Ghi chú: Các chữ cái khác nhau biểu thị sự sai khác có ý nghĩa giữa các thời
gian lưu ở từng cột theo StatistixN: Số trứng theo dõi
Trang 30Qua bảng 3.3 cho thấy thời gian phát dục của trứng có sự khác nhau có ý nghĩagiữa trứng lưu và không lưu ở 20oC, 60%RH; 25oC, 65%RH, nhưng không có sựkhác nhau có ý nghĩa giữu lưu 4 ngày và 10 ngày Ở phòng thí nghiệm thời gian lưutrứng không làm ảnh hưởng đến thời gian phát dục của trứng ở mức có ý nghĩa.
Bảng 3.4 Ảnh hưởng của nhiệt độ ấp tới tỉ lệ nở của trứng
Thời gian lưu
81,00a(N=98) 8,29
(N=114) (N=90)80,00b
73,20b(N=84) 17,27
Trứng không
lưu (N=70)91,42c (N=45)94,64c (N=77)92,54c 3,56
Ghi chú: Các chữ cái khác nhau biểu thị sự sai khác có ý nghĩa giữa các thời
gian lưu ở từng hàng theo StatistixN: Số trứng theo dõi
Qua bảng 3.4 cho thấy tỉ lệ nở của trứng giảm dần khi nhiệt độ ấp tăng lên.Song qua xử lý thống kê không có sự sai khác của lệ nở giữa các nhiệt độ này
Bảng 3.5 Ảnh hưởng của nhiệt độ ấp đến thời gian phát dục của trứng BXNVTThời gian
gian lưu ở từng hàng theo StatistixN: Số trứng theo dõi
Theo số liệu ở bảng 3.5 cho thấy khi nhiệt độ ấp tăng lên thì thì thời gian phátdục của trứng giảm Nhưng qua xử lý thống kê sự sai khác không có ý nghĩa giữa ấp
Trang 31ở 25oC, 65%RH và phòng thí nghiệm, nhưng sự sai khác này được thể hiện rõ khi ấp
ở nhiệt độ 20oC, 60%RH so với hai ngưỡng nhiệt độ còn lại
Kết quả lưu 3303 quả trứng bọ xít nâu viền trắng ở nhiệt độ 14oC, 45%RH(trên nhiệt độ thềm sinh học) trong thời gian 4; 10; 15; 20; 25; 30; 35; 40; 45; 50;55; 60 ngày sau đó đưa lên ấp ở 3 điều kiện trên, kết quả thu được ở bảng 3.6
Bảng 3.6 Kết quả lưu trứng bọ xít nâu viền trắng ở 14oC, 45%RH
trứng
TGphátdục
Tỷ lệnở(%)
Sốtrứng
TGphátdục
Tỷ lệnở(%)
Sốtrứng
TGphátdục
Tỷ lệnở(%)
lưu 70 18±1 91,42 93 7 94,64 77 8 92,54Qua bảng ta thấy chỉ có trứng lưu từ 4 - 20 ngày sau đó đưa ra các điều kiệnnuôi thì nở được, trứng lưu lâu hơn đều không nở Tỷ lệ nở của trứng và thời gian phát dục củatrứng ở các điều kiện ấp tỷ lệ nghịch với thời gian lưu trứng Ở điều kiện nuôi 20oC, 60%RHtrứng có thời gian lưu từ 4 - 20 tỉ lệ nở trung bình 69,68% và thời gian phát dục là 13±3 ngày,tương ứng ở 250C, 65%RH thời gian phát dục trung bình 7±1ngày, tỉ lệ nở trung bình 78,52%,điều kiện phòng thí nghiệm thời gian phát dục trung bình 6,5±0,5 ngày, tỉ lệ nở trung bình71,49% Điều đó có nghĩa là thời gian lưu trứng càng dài thì tỷ lệ nở càng thấp, thời gian phát dục