Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội 2000 đề cập những yếu tố liên quan đến sự phát triển của Liên bang Nga trong tơng lai, các mối quan hệ chiến lợc trong qua trình hội nhập vào nền ki
Trang 1trần thị sơn
Quan hệ giữa Liên bang Nga và Cộng hòa ấn Độ
từ sau Chiến tranh lạnh đến 2007
Luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử
Vinh - 2008
Trang 2trần thị sơn
Quan hệ giữa Liên bang Nga và Cộng hòa ấn Độ
từ sau Chiến tranh lạnh đến 2007
Trang 3Trớc hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô giáo trong tổ Lịch sử thế giới, Khoa Lịch sử, Khoa sau Đại học - Trờng Đại học Vinh Đặc biệt là PGS Phan Văn Ban - ngời đã nhiệt tâm hớng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Tôi cũng muốn bày tỏ lòng biết ơn đến các cô, các chú ở Viện Nghiên cứu châu Âu, Thông tấn xã Việt Nam, Th viện Trờng Đại học s phạm Hà Nội, Trờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập nguồn tài liệu.
Nhân dịp này, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bè bạn và những ngời thân của tôi luôn ở bên, động viên, giúp đỡ, khuyến khích tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Luận văn sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận đợc sự giúp đỡ từ thầy cô và bạn bè.
Vinh, tháng 12 năm 2008.
Tác giả
Trang 4ASDM STROYEX PORT:
Association of South East Asian Nations(Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á)Chủ nghĩa xã hội
Chủ nghĩa t bảnCơ quan nghiên cứu và phát triển quốc phòngEuropen Union (Liên minh châu Âu)
Gross Domestic Product (Tổng sản phẩm quốc nội)
Hệ thống định vị toàn cầuNhóm các nớc công nghiệp phát triển thế giới vàNga
Intenational Monetary Fund (Quỹ tiền tệ quốc tế)Liên hợp quốc
North American Free Trade Agreement (Khu vực
tự do thơng mại bắc Mỹ)Organization of Petroleum exporting Countries(Tổ chức các nớc xuất khẩu dầu lửa)
Tài liệu tham khảo đặc biệtThông tấn xã Việt NamWorld Bank (Ngân hàng thế giới)World Trade Organifation (Tổ chức thơng mạithế giới)
Trang 5Mở ĐầU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 4
4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của đề tài 6
7 Bố cục luận văn 6
NộI DUNG 7
Chơng 1 Những Nhân tố tác động đến quan hệ giữa Liên bang Nga và Cộng hòa ấn từ sau Chiến tranh lạnh 7
1.1 Nhân tố lịch sử 7
1.1.1 Khái quát quan hệ giữa Liên Xô và ấn Độ trớc Chiến tranh lạnh 7
1.1.2 Thành quả của sự hợp tác quan hệ giữa Liên Xô và ấn Độ trớc Chiến tranh lạnh 8
1.2 Nhân tố trong nớc 14
1.2.1 Tình hình Liên bang Nga sau khi Liên Xô sụp đổ 14
1.2.2 Tình hình ấn Độ từ sau chiến tranh lạnh 18
1.3 Nhân tố quốc tế 23
1.3.1 Sự chuyển biến của môi trờng quốc tế và khu vực sau Chiến tranh lạnh 23
1.3.2 Sự tác động của xu thế toàn cầu hóa 29
1.3.3 Sự tác động của nhân tố Mỹ, Pakixtan, Trung Quốc 33
Trang 62.1 Cộng hòa ấn Độ trong chính sách đối ngoại của Nga 44
2.2 Liên bang Nga trong chính sách đối ngoại của ấn Độ 52
2.3 Quan hệ giữa Liên bang Nga và Cộng hòa ấn từ sau chiến tranh lạnh đến nay 55
2.3.1 Trên lĩnh vực chính trị - ngoại giao 55
2.3.2 Trên lĩnh vực kinh tế - thơng mại 62
2.3.3 Trên lĩnh vực quân sự quốc phòng 72
2.3.4 Trên các lĩnh vực khác 78
Chơng 3 Bớc đầu nhận xét về mối quan hệ Liên bang Nga và Cộng hòa ấn từ sau chiến tranh lạnh đến năm 2007 85
3.1 Một số nhận xét về mối quan hệ hữu nghị hợp tác giữa Liên bang Nga và Cộng hoà ấn từ sau Chiến tranh lạnh 85
3.1.1 Thành tựu 85
3.1.2 Hạn chế 89
3.1.3 Sự tác động qua lại trong quan hệ giữa Liên bang Nga và Cộng hoà ấn Độ từ sau Chiến tranh lạnh 92
3.2 Triển vọng của mối quan hệ hợp tác giữa Liên bang Nga và Cộng hòa ấn Độ 95
KếT LUậN 99
TàI LIệU THAM KHảO 102
PHụ LụC 110
Trang 7Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Trong thời đại ngày nay, đối thoại và hợp tác trở thành xu hớng pháttriển chung của tất cả các quốc gia trên thế giới Trong đó mối quan hệ giữacác nớc lớn, các cờng quốc trở thành điều kiện không thể thiếu đợc trong nền
an ninh - chính trị thế giới Trong các cặp quan hệ có ảnh hởng lớn đến anninh thế giới, khu vực phải kể tới quan hệ Nga - ấn
1.1 Mối quan hệ Nga - ấn đã đợc kế thừa từ mối quan hệ truyền thốngXô - ấn trớc đây Sau khi đợc thành lập Liên Xô trở thành nớc XHCN đầu tiêntrên thế giới, tích cực ủng hộ cuộc đấu tranh của các dân tộc thuộc địa và lệthuộc trong đó có ấn Độ Sự giúp đỡ to lớn đó của Liên Xô trong Chiến tranhthế giới hai, cùng với tinh thần đấu tranh kiên cờng của nhân dân ấn Độ đãbuộc thực dân Anh phải trao quyền tự trị cho ấn Độ vào năm 1947 Đến 1950
ấn Độ tuyên bố độc lập Ngay Sau đó quan hệ ngoại giao Xô - ấn chính thức
đợc thiết lập năm 1950
Mục tiêu của mối quan hệ Xô - ấn hớng tới trong thời kỳ trớc Chiếntranh lạnh là đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, đa các nớc thoát khỏi chủnghĩa thực dân cũ và thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới pháttriển nhanh chóng, gìn giữ hoà bình ổn định thế giới trong một thời gian dài.Chính mối quan hệ này đã góp phần làm suy yếu chủ nghĩa đế quốc Đây đợcxem nh là cơ sở, nền tảng cho quan hệ Nga - ấn phát triển về sau
Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc với sự sụp đổ của Liên Xô thì mốiquan hệ Xô - ấn bị đứt quãng trong một thời gian Sau khi điều chỉnhchiến l-
ợc ngoại giao, Liên bang Nga- ngời kế thừa hợp pháp địa vị của Liên Xô trêntrờng quốc tế đã nối lại quan hệ ngoại giao truyền thống với ấn Độ Quan hệngoại giao Nga - ấn sau Chiến tranh lạnh có tác động lớn đến mối quan hệgiữa các nớc lớn, góp phần vào việc hình thành thế giới đa cực
1.2 Sự phát triển tốt đẹp trong quan hệ Nga - ấn đã tác động tích cực
đến hòa bình ổn định ở khu vực âu - á cũng nh toàn thế giới Việt Nam là
n-ớc có quan hệ mật thiết với Liên Xô và ấn Độ ngay từ những ngày đấu tranhdành độc lập Do đó mối quan hệ Nga - ấn sau chiến tranh lạnh đã có ảnh h-ởng rất lớn đến đờng lối ngoại giao của Việt Nam
Với ý nghĩa khoa học và thực tiễn nêu trên tôi chọn đề tài: Quan hệ“Quan hệ
giữa Liên bang Nga và cộng hoà ấn Độ từ sau Chiến tranh lạnh đến 2007”
làm luận văn tốt nghiệp của mình
Trang 82 lịch sử vấn đề
Nga - ấn là hai nớc lớn có nền kinh tế lớn ở châu Âu và châu á, cónhiều tiềm lực quân sự và khoa học kỹ thuật, có vị trí chiến lợc hết sức quantrọng trên trờng quốc tế Mối quan hệ của hai quốc gia này không chỉ là mốiquan hệ truyền thống mà còn là sự khảo nghiệm của tình hữu nghị giữa hai n -
ớc với hai nền kinh tế và hai thể chế chính trị hoàn toàn giống nhau Mối quan
hệ Nga - ấn từ sau chiến tranh lạnh đến nay đã thu hút đợc nhiều sự quan tâmcủa các tác giả trong và ngoài nớc Tuy nhiên, do trình độ ngoại ngữ còn hạnchế, bản thân chỉ mới tiêp cận đợc các công trình nghiên cứu bằng tiếng Việt
đợc đăng trên sách, báo, tạp chí với dung lợng lớn, nhỏ khác nhau, nhất lànguồn t liệu tham khảo đặc biệt đợc Thông tấn xã Việt Nam cập nhật hàngngày, có thể kể tên một số công trình sau:
- Cuốn “Quan hệNớc Nga trớc thêm thế kỷ XXI” (Ai là đồng minh của Nga)của Vadim Makavenco (do Ngô Thủy Hơng, Đinh Phơng Thúy, Lê VănThắng dịch Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội 2000) đề cập những yếu
tố liên quan đến sự phát triển của Liên bang Nga trong tơng lai, các mối quan
hệ chiến lợc trong qua trình hội nhập vào nền kinh tế chính trị thế giới
- Cuốn “Quan hệSự điều chỉnh chính sách của Cộng hòa ấn Độ từ 1991đến2000”của các tác giả: Trần Thị Lý, Nguyễn Huy Hoàng, Bùi Minh Sơn, Đỗ
Đức Định, Nguyễn Công Khanh Nxb KHXH, Hà Nội 2002, trong đó các tácgiả đề cập đến sự điều chỉnh chính sách của Cộng hòa ấn Độ Đặc biêt trongphần “Quan hệSự điều chính sách đối ngoại”, tác giả đã trình bày một cách khái quát
về chính sách đối ngoại của ấn Độ và Nga từ 1991 - 2001
- Tác giả Hà Mỹ Hơng (2002) viết bài “Quan hệSự kiện 11/9 và điều chỉnhchính sách đối ngoại của tổng thống Nga V.Putin” đăng trên tạp chí Nghiêncứu Châu Âu số 5 Trong bài viết tác giả phân tích một cách cụ thể chính sách
đối ngoại theo giai đoạn lịch sử
- Hà Thị Lịch (2004) viết bài “Quan hệQuan hệ Nga - ấn Độ thời kỳ hậu chiếntranh lạnh”, đăng trên tạp chí Nghiên cứu Châu Âu số 4 Trong đó tác giả đềcập đến các nhân tố thúc đẩy quan hệ hợp tác Nga - ấn Độ tiếp tục phát triển
và quan hệ hợp tác qua các lĩnh vực
Tác giả Phan Văn Rân (2004) đăng bài “Quan hệTam giác chiến lợc Nga Trung - ấn và những trở ngại trong việc thực hiện hóa ý tởng trên” đăng trêntạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 1 Trong bài viết tác giả chỉ ra các điều
Trang 9-kiện khách quan của việc thiết lập tam giác chiến lợc Nga - Trung - ấn, nhữngkhó khăn và dự báo triển vọng trong vài thập kỷ tới.
- Tác giả Phan Văn Rân (2005) trong bài viết “Quan hệTăng cờng quan hệ đốitác chiến lợc Nga - ấn, những năm đầu thế kỷ XXI” trên tạp chí Nghiên cứuChâu Âu số 3 Bài viết đề cập những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển quan
hệ Nga - ấn, thực trạng và triển vọng trong thời gian tới
-Tác giả Trần Hiệp (2006) viết bài: "Sự điều chỉnh chính sách của Liênbang Nga với các nớc Đông Bắc á sau Chiến tranh lạnh”, đăng trên tạp chíQuan hệ quốc tế số 3 Tác giả đề cập những vấn đề về sự điều chỉnh chính sáchcủa Liên bang Nga đối với một số nớc Đông Bắc á sau chiến tranh lạnh
- Viết về mối quan hệ Nga - ấn không thể không nhắc đến nguồn tài liệutham khảo đặc biệt của Thống tấn xã Việt Nam đợc đăng tải thờng xuyên và cậpnhật nh: “Quan hệấn Độ và Nga chia sẻ lợi ích chung thông qua cơ chế hợp tác quân sự”(15.10.2005); "Cơ hội cho tam giác chiến lợc Nga - Trung - ấn” (08.06.2005);
“Quan hệCạnh tranh giữa Trung Quốc, Nhật Bản, ấn Độ” (27.01.2007); “Quan hệấn Độ trên bàn
cờ giữa các nớc lớn” (13.11.2007); “Quan hệQuan hệ Nga - ấn thể hiện trên các lĩnh vực:Quân sự, năng lợng, công nghệ thông tin” đây là nguồn tài liệu mang nhiềuthông tin quan trọng và có tính thời sự rất cao
Những công trình nghiên cứu trên đã giúp chúng tôi có một cơ sở kiếnthức chung để từ đó định hớng tiếp cận, đi sâu nghiên cứu đề tài này
Tuy nhiên, cha có một công trình nào ở Việt Nam tính đến thời điểmhiện tại nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống về mối quan hệ Nga - ấn.Thực hiện đề tài trên, tác giả mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vào việctìm hiểu một cách đầy đủ hơn, hệ thống hơn về mối quan hệ Nga - ấn từ sauchiến tranh lạnh đến nay và nêu lên những thách thức, triển vọng trong quan
hệ hợp tác với mục đích thúc đẩy mối quan hệ giữa Liên bang Nga và Cộnghòa ấn Độ ngày càng tốt đẹp hơn
3 mục đích và nhiệm vụ của đề tài
3.1 mục đích
- Làm rõ mối quan hệ Nga - ấn từ sau Chiến tranh lạnh đến 2007 mộtcách có hệ thống, đi sâu vào phân tích các nhân tố tác động đến mối quan hệ,hợp tác trên các lĩnh vực từ đó rút ra những kết quả đạt đợc, những hạn chếcũng nh dự báo triển vọng và thách thức
- Nghiên cứu mối quan hệ Nga - ấn từ sau Chiến tranh lạnh đến 2007góp phần tìm hiểu về chính sách đối nội đối ngoại của Liên bang Nga và Cộng
Trang 10hòa ấn Độ từ đầu thập niên 90 đến nay Đó cũng là tìm hiểu một phần nộidung quan trọng của lịch sử nớc Nga và ấn Độ thời hiện đại
3.2 nhiệm vụ
Thực hiện mục đích đề tài này, nhiệm vụ mà chúng tôi thực hiện: Sutầm, tập hợp các nguồn t liệu, trên cơ sở tổng hợp, phân tích đánh giá, nhằmxác minh tính chính xác và độ tin cậy của sử liệu Từ đó đi sâu vào làm rõnhững nhân tố tác động đến mối quan hệ Nga - ấn, trên cơ sở phân tích mộtcách khách quan và khoa học, nêu lên kết quả đạt đợc và những hạn chế từ sauChiến tranh lạnh đến nay
4 đối tợng nghiên cứu
4.1 Đối tợng
Đề tài nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện mối quan hệ hợp tácgiữa Liên bang Nga và Cộng hòa ấn Độ từ sau Chiến tranh lạnh đến nay, tậptrung vào các lĩnh vực hợp tác và một số kết quả đạt đợc từ đó nêu lên tháchthức và triển vọng của mối quan hệ này
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Đề tài giới hạn từ sau Chiến tranh lạnh đến 2007
- Về nội dung: Tập trung nghiên cứu về mối quan hệ trên một số lĩnhvực trong phạm vi hai nớc Liên bang Nga và Cộng hòa ấn Độ
5 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu
Trang 11lịch sử và logíc để dựng lại bức tranh về mối quan hệ Nga - ấn từ sau Chiếntranh lạnh đến nay.
Để làm sáng tỏ các mặt, các lĩnh vực hợp tác hai nớc Nga - ấn, chúngtôi còn sử dụng các phơng pháp so sánh, đối chiếu
6 Đóng góp của đề tài
- Trên cơ sở nguồn t liệu ban đầu thu thập đợc, luận văn sẽ khắc họa lạimối quan hệ Nga - ấn từ đầu thập niên 90 đến nay một cách có hệ thống, giúpngời đọc có một cái nhìn tổng thể về mối quan hệ này
- Từ kết quả thu đợc trong công trình nghiên cứu, luận văn có thể dùnglàm tài liệu tham khảo về lịch sử nớc Nga và ấn Độ từ sau chiến tranh lạnh
đến nay Đồng thời luận văn nêu một vài nhận xét bớc đầu trong quan hệ Nga
- ấn từ sau Chiến tranh lạnh đến 2007, một số thách thức và triển vọng
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của luậnvăn gồm ba chơng:
Chơng 1: những nhân tố tác động đến quan hệ giữa Liên bang Nga
và Cộng hoà ấn Độ từ sau Chiến tranh lạnhChơng 2: Quan hệ giữa Liên bang Nga và Cộng hòa ấn Độ từ 1991
đến 2007
Chơng 3: Bớc đầu nhận xét về mối quan hệ giữa Liên bang Nga và
Cộng hòa ấn Độ từ sau Chiến tranh lạnh đến 2007
Nội Dung
Chơng 1 Những Nhân tố tác động đến quan hệ giữa Liên bang Nga
và Cộng hòa ấn Độ từ sau chiến tranh lạnh
1.1 Nhân tố lịch sử
1.1.1 Khái quát quan hệ giữa Liên Xô và ấn Độ trớc Chiến tranh lạnh
ấn Độ và Liên Xô là hai nớc tuy không có chung về lịch sử, văn hóanhng lại có nhiều điểm gần gũi về mục tiêu và t tởng với nhau nh: chống chủnghĩa đế quốc, ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc bảo vệ sự nghiệp hoàbình trên thế giới Xuất phát từ mục tiêu và t tởng này đã đa hai nớc đến gầnnhau hơn
Trang 12Quan hệ Xô - ấn không chỉ dừng lại ở thời điểm trớc Chiến tranh lạnh
mà còn kéo dài đến khi Chiến tranh lạnh kết thúc và đến tận ngày nay Lý giải
về mối quan hệ Xô - ấn thời kỳ Trớc Chiến tranh lạnh cho chúng ta thấy: saukhi Liên Xô đợc thành lập và trở thành nớc xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thếgiới, đồng thời Liên Xô trở thành nớc đi đầu trong việc tích cực ủng hộ cuộc
đấu tranh của các dân tộc thuộc địa và lệ thuộc trong đó có ấn Độ
Bằng chứng về điều này, trong thời kỳ cận hiện đại, nhân dânấn Độphải chịu sự áp bức, bóc lột và thống trị dới gót dày xâm lợc của thực dânAnh, chính sự thống trị này đã làm cho đời sống nhân dân hêt sức cơ cực họmong muốn tìm cho mình một con đờng để giải phóng dân tộc thoát khỏi ách
đô hộ của thực dân Anh Trong hoàn cảnh đó nhân dân ấn Độ đã nhận đợc sựgiúp đỡ to lớn về vật chất và tinh thần từ Liên Xô cùng với tinh thần đấu tranhkiên cờng, bất khuất của nhân dân ấn Độ đã buộc thực dân Anh phải traoquyền tự trị cho nhân dân ấn Độ vào năm 1947 Đến năm 1950 ấn Độ tuyên
bố độc lập ngay sau đó quan hệ Xô - ấn chính thức đợc thiết lập
Nh vậy, sự gắn bó giữa Liên Xô và ấn Độ trong thời kỳ trớc Chiếntranh lạnh đã làm nghiêng hẳn cán cân có lợi cho lực lợng hoà bình, dân chủ
và cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc mà hai nớc hớng tới đó là đấutranh chống chủ nghĩa đế quốc, đa các nớc thoát khỏi chủ nghĩa thực dân cũ
và thúc đẩy phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới phát triển nhanhchóng, giữ gìn hoà bình ổn định thế giới trong một thời gian dài Đặc biệt, saukhi quan hệ Xô - Trung căng thẳng và sau cuộc chiến tranh Trung- ấn năm
1962, quan hệ Xô - ấn ngày càng trở nên mật thiết với bằng chứng là Hiệp ớcHoà bình Hữu nghị và Hợp tác mà hai bên đã ký năm 1971
Nếu nh về chính trị, quân hệ Xô - ấn là quan hệ đồng minh chiến lợc,dựa trên cơ sở những lợi ích trùng hợp thì về mặt kinh tế Liên Xô là chổ dựavô cùng vững chắc của ấn Độ
1.1.2 Thành quả của sự hợp tác giữa Liên Xô và ấn Độ trớc Chiến tranh lạnh
Chúng ta có thể thấy, trong những năm đầu sau giải phóng, sự hợp tácchặt chẽ với Liên Xô đã đem lại cho ấn Độ những lợi ích to lớn và thiết thực.Chính sách công nnghiệp hoá của Liên Xô đã tỏ ra có hiệu quả đối với nhữngnớc mới giành đợc độc lập muốn nhanh chóng công nghiệp hoá nh ấn Độ Vìvậy Nêhru, vị Thủ tớng đầu tiên và cũng là ngời sáng lập nên nớc cộng hoà ấn
Độ đã áp dụng mô hình công nghiệp hoá của Liên Xô vào mô hình phát triển
Trang 13của ấn Độ Các nhà máy chủ chốt trong nền công nghiệp của nớc cộng hoànon trẻ này phần lớn đợc xây dựng với sự hợp tác và giúp đỡ của Liên Xô Cácnhà máy xí nghiệp của ấn Độ do Liên Xô giúp đỡ xây dựng đã sản xuất ra đợc80% tổng sản lợng thiết bị luyện kim, 60% thiết bị điện, 35% sản lợng thép,70% sản lợng khai thác dầu, 30% sản lợng chế biến dầu, 20% sản lợng điện
Bên cạnh đó Liên Xô là bạn hàng lớn thứ hai trong số các bạn hànglớn của ấn Độ và là một bạn hàng “Quan hệdễ tính” mà ấn Độ xuất đợc mọi mặt hàng
từ sản bphẩm nông nghiệp tới các hàng công nghiệp tiêu dùng mà không bị
đòi hỏi lắm về chất lợng Từ 1955 đến 1977, tức là chỉ trong vòng hai thập kỷLiên Xô đã giúp ấn Độ đào tạo trên 96000 chuyên gia trong đó có 19000 cótrình độ đại học và trung học, và 77000 công nhân lành nghề
Cùng với sự hậu thuẫn của Liên Xô đối với ấn Độ trong thời kỳ LiênXô giành đợc độc lập đã đa đến quan hệ giữa hai nớc ở hai khu vực âu - áxích lại gần nhau hơn Góp phần tăng cờng sức mạnh cho phong trào đoàn kết
ở các nớc á - Phi
Sau Hội nghị Ban dung năm 1955, phong trào ở á - Phi bắt đầu bị chia
rẽ dần, xu hớng không liên kết hình thành và phát triển trong các nớc mớigiành độc lập, dẫn tới sự thành lập Phong trào Không liên kết năm 1961 mà
ấn Độ là một trong những nớc sáng lập và đóng vai trò to lớn trong quá trìnhphát triển
Từ đây mối quan hệ Xô - ấn ngày càng đợc củng cố, tranh thủ sự ủng
hộ của Liên Xô để đối phó sức ép của chủ nghĩa đế quốc và giải quyết nhữngvấn đề còn tồn đọng trong nớc Ngoài ra trong thời kỳ này ấn Độ cũng thểhiện thiện chí của mình đối với Liên Xô, đó là ủng hộ chiến dịch quân sự củaLiên Xô tại Apganixtan, còn Liên Xô thờng xuyên hậu thuẫn ấn Độ về lập tr-ờng của nớc này đối với vùng đất Casơmia (khu vực tranh chấp giữa ấn Độ vàPakixtan) Có thể nói khu vực này đã trở thành nguyên nhân của sự tranh chấp
và xung đột cha bao giờ dứt Năm 1955, Thủ tớng J Nêhru thăm Liên Xô vàChủ tịch hội đồng Bộ trởng Khơrutsốp cũng chính thức sang thăm ấn Độ.Liên Xô ủng hộ các mục tiêu dân tộc cơ bản của ấn Độ, trong đó mục tiêuchủ yếu là xây dựng nền kinh tế, độc lập, tự chủ Liên Xô ủng hộ ấn Độ trongvấn đề Casơmia, thỏa thuận giúp ấn Độ xây dựng những ngành công nghiệpnặng, then chốt mà trớc hết là ngành thép và cơ khí nặng sau khi Mỹ và phơngTây khớc từ các dự án công trình mà ấn Độ đề nghị giúp đỡ Có thể nói
Trang 14chuyến thăm của nhà lãnh đạo Liên bang Xô viết Khơrutsốp đến ấn Độ năm
1955, đã đánh dấu sự khởi đầu vững chắc của mối quan hệ gần gũi Để bày tỏ
sự ủng hộ ấn Độ về vấn đề Casơmia, Thủ tớng Nga Vich to Dup Cốp đã tuyên
bố: “Quan hệchúng ta gần nhau đến mức nếu các bạn gọi chúng tôi từ các đỉnh núi,
chúng tôi cũng sẽ đến bên các bạn ” [82, tr1] Liên Xô đã đóng vai trò kiến tạohòa bình giữa ấn Độ và Pakixtan, chấm dứt cuộc chiến giữa hai nớc nổ ra vàonăm 1965
Từ thập niên 70 trở đi hai nớc tập trung vào việc xây dựng và phát triển
đất nớc, đồng thời đa ra các chính sách phù hợp Đối với nhà nớc Xô viết: luôn
đề ra mục tiêu là loại trừ nguy cơ chiến tranh, duy trì hòa bình và an ninhchung, mở rộng hợp tác với các nớc mới giải phóng, duy trì và phát triển quan
hệ với các nớc TBCN trên cơ sở chung sống hòa bình đoàn kết quốc tế vớicác Đảng cộng sản và các Đảng dân chủ Cách mạng với phong trào công nhânquốc tế và phong trào giải phóng dân tộc Trên tinh thần đó Liên Xô luôngiành cho nhân dân ấn Độ sự ủng hộ nhiệt tình về vật chất và tinh thần ngay
từ những ngày đầu để chống lại Chủ nghĩa thực dân, bảo vệ độc lập Vì thế sauChiến tranh thế giới hai, địa vị quốc tế của Liên Xô đợc đề cac hơn bao giờhết Là nớc XHCN lớn nhất, hùng mạnh nhất, Liên Xô trở thành chổ dựa chohòa bình thế giới và Phong trào cách mạng thế giới
Đối với ấn Độ: Bên cạnh việc phát triển kinh tế, nhân dân ấn Độ cònphải đối đầu với nhiều vấn đề về biên giới với Trung Quốc Trung Quốc đãgây ra cuộc xung đột biên giới 1962 với mục đích là hạ uy tín và làm suy yếu
ấn Độ để tăng ảnh hởng ở Nam á và phong trào giải phóng dân tộc Nên ấn
Độ luôn tìm cách giảm căng thẳng đối đầu với Trung Quốc Điều đó khôngnhững xuất phát từ truyền thống hòa bình, không bạo lực của ấn Độ mà cònnhằm tạo bầu không khí hòa bình, ổn định để ấn Độ phát triển kinh tế tuyvậy, ấn Độ nhân nhợng Trung Quốc trong những vấn đề đụng chạm trực tiếptới lợi ích an ninh quốc gia và trở nên rất cảnh giác với Trung Quốc Sau chiếntranh biên giới, ngày 8/11/1962, Quốc hội thông qua một nghị quyết nh một
lời nguyền của nhân dân ấn Độ: “Quan hệTống cổ bọn xâm lợc ra khỏi lãnh thổ
thiêng liêng của ấn Độ, dù cuộc chiến đấu có kéo dài và gian khổ nh thế nào
đi chăng nữa” [36, tr4].
Nh vậy, quan hệ giữa Liên Xô và ấn Độ dù trong hoàn cảnh nh thế nàothì mối quan hệ cũ này luôn đợc củng cố và gắn bó với nhau Vào những năm
Trang 1570 của thế kỷ XX, do những bất đồng gay gắt về vấn đề Apganixtan nên quan
hệ giữa Matxcơva và Ixlamabad đã không mấy tốt đẹp, chính hành động củaPakixtan đã đẩy Liên Xô về phía ấn Độ, khiến mối quan hệ Xô - ấn càng trởnên nồng ấm hơn Cả hai nớc, nhất là ấn Độ, đã thu đợc nhiều lợi ích trong sựhợp tác ở các lĩnh vực ngoại giao, chính trị, công nghệ đặc biệt là lĩnh vựcquân sự Điều dễ nhận thấy là ấn Độ luôn đề cao vai trò của Liên Xô, một
đồng minh truyền thống của mình để hạn chế sự chống phá của các nớc thù
địch bên ngoài, còn Liên Xô một mặt giúp ấn Độ nhng mặt khác cũng từ đóloại trừ những nớc đối lập luôn tìm cách chống phá CNXH ở Liên Xô cũng
nh phong trào giải phóng dân tộc ở các nớc Trung Quốc,Việt Nam Và nângcao vị thế của mình trên trờng quốc tế
Bớc sang thập niên 80, tình hình có nhiều chuyển biến mới thúc đẩymối quan hệ Xô - ấn tiến thêm một bớc Cuộc cách mạng khoa học kỷ thuậthiện đại phát triển mạnh mẽ làm thay đổi cơ cấu kinh tế thế giới làm cho lực l-ợng sản xuất phát triển cha từng có đa đến sự quốc tế hóa cao độ nền kinh tếthế giới Bên cạnh đó cuộc chạy đua vũ trang giữa hai siêu cờng Xô - Mỹ đãchấm dứt, đặt biệt từ khi Gooc ba chốp lên cầm quyền ở Liên Xô, quan hệ Xô-Mỹ đã thực sự chuyển từ “Quan hệđối đầu” sang “Quan hệđối thoại’ Năm 1987, hai nớc đãthỏa thuận cùng giảm một bớc quan trọng trong cuộc chạy đua vũ trang, từngbớc chấm dứt cục diện “Quan hệChiến tranh lạnh”, cùng hợp tác với nhau giải quyếtcác vụ tranh chấp và xung đột quốc tế Nhng trong nớc, Liên Xô luôn phải đối
đầu với nhiều khó khăn, phức tạp, đời sống chính tri của nhân dân Xô Viếtluôn trong tình trạng mất ổn định bởi sự thay đổi thờng xuyyên trong bộ máylãnh đạo cấp cao
Tháng 3 năm 1985 Gooc ba chốp lên cầm quyền ở Liên Xô và đề ra
“Quan hệchiến lợc tăng tốc” với mục tiêu làm cho nhà nớc Xô viết phát triển nhng rồichính công cuộc cải tổ ngày càng lún sâu vào khó khăn, bế tắc, đất nớc XôViết lâm vào khủng hoảng về mọi mặt: sự suy sụp về kinh tế, rối ren về chínhtrị và nhiều tệ nạn xã hội, mâu thuẫn và xung đột giữa các dân tộc dẫn đếnhiện tợng li khai của một số nớc Cộng hòa ra khỏi Liên bang Xô Viết (ba nớcvùng Ban tích, Gờrúclia, Mônđôva )
Toàn bộ quá trình trì trệ, khủng hoảng kéo dài trong những năm của đấtnớc Xô Viết đã lên tới đỉnh cao với cuộc đảo chính nổ ra ngày 19/8 /1991 nh -
ng cuối cùng thất bại Đã để lại những hậu quả cực kỳ nghiêm trọng đối với
Trang 16đất nớc Xô Viết: sau khi trở lại nắm quyền, Gooc ba chốp tuyên bố từ chứcTổng bí th Đảng Liên Xô và yêu cầu giải tán ủy ban trung ơng Đảng (24/8) Chính quyền Xô Viết trong toàn liên bang bị giải thể; nhiều nớc Cộng hòatuyên bố độc lập tách khỏi liên bang Sau cuộc đảo chính, Liên bang Xô Viết -nhà nớc liên minh của nhiều quốc gia dân tộc đứng bên bờ vực của sự sụp đổhoàn toàn
Cuối cùng, ngày 8/2/1991, các Tổng thống ba nớc Nga, Uccraina,Bêlarút ra tuyên bố chung: Liên bang Xô Viết không còn tồn tại nữa và quyết
định thành lập một hình thức liên minh mới gọi là Cộng đồng các quốc gia
độc lập (SNG) Trong buổi tối giá lạnh 25/12/1991, sau lời tuyên bố từ chứccủa Tổng thống Liên Xô M.Gooc ba chốp, lá cờ đỏ búa liềm trên nóc điệnCremli đã hạ xuống, đánh dấu sự sụp đổ của chế độ XHCN và sự tan rã củaLiên bang Cộng hòa XHCN Xô Viết sau 74 năm tồn tại
Trong khi đó, ấn Độ giai đoạn tơng đối ổn định đã chấm dứt, ấn Độ lâmvào khủng hoảng kinh tế xã hội gay gắt Sau khi J.Nêhru qua đời (27/5/1964).Những năm 65 - 66 những mâu thuẫn nan giải trong phát triển kinh tế ngàycàng tăng do nhịp độ tích lũy thấp, sức mua của thị trờng nội địa eo hẹp, nguồnvốn đầu t thiếu hụt đời sống nhân dân ngày càng tồi tệ, mâu thuẫn xã hội gaygắt làm giảm xúc lòng tin và chính quyền và Đảng Quốc Đại
Ngày 19/1/1966, sau khi Thủ tớng L.B.Saxtri, ngời kế nhiệm J Nêhruqua đời, Ganđi con gái Tổng thống Nêhru trở thành Thủ tớng thứ 3 của Cộnghòa ấn Độ Bà đã thực hiện những chính sách mới nhằm khôi phục và pháttriển kinh tế Sau khi bị ám sát bởi các thế lực phản động và bọn cánh hữu, contrai bà là Ragip Ganđi lên thay Dới sự lãnh đạo của thủ tớng R Ganđi, nhândân ấn Độ phải đơng đầu với nhiều khó khăn về kinh tế - xã hội nhng cũng
đem lại nhiều thắng lợi cho nhân dân ấn Độ và đa đất nớc đi lên
Qua bức tranh, diễn biến trên cho thấy vào cuối thập niên 90 hai nớc
đang phải đối phó với nhiều khó khăn trong và ngoài nớc nên quan hệ hợp tácgiữa hai nớc có phần lắng dịu hơn Lí giải về điều này ta thấy Chiến tranh lạnhkết thúc cùng với nó là sự sụp đổ của Liên Xô đã gây lên những biến động lớnkhông chỉ đối với bản thân Liên Xô mà cả toàn thế giới đặc biệt là ấn Độ,một nớc dù chủ trơng không liên kết, nhng trên thực tế lại có quan hệ gắn bó
và chịu nhiều ảnh hởng của Liên Xô thì đây quả là một cú sốc lớn ấn Độ mất
đi chỗ dựa vững chắc Liên Xô sụp đổ thay vào đó là Liên bang Nga và các
Trang 17quốc gia độc lập SNG Tơng lai của mối quan hệ Nga - ấn sẽ diễn biến nh thếnào? Đây là câu hỏi đặt ra cho cả hai nớc
1.2 Nhân tố trong nớc
1.2.1 Tình hình Liên bang Nga sau khi Liên Xô sụp đổ
Quá trình vận động, phát triển của Liên bang Nga sau khi Liên Xô tan rã
là không thể tách khỏi xu hớng phát triển của thế giới thời kỳ hậu Chiến tranhlạnh Tuy nhiên, nhân tố có ý nghĩa quan trọng hơn cả, tác động sâu sắc đến quátrình này là đặc điểm, tình hình chính trị, kinh tế, xã hội sau khi Liên Xô sụp đổ
Thực tế, với t cách là ngời kế thừa Liên Xô, Liên bang Nga đã có nhữngthuận lợi hơn hẳn các nớc cộng hòa khác thuộc Liên Xô Ngoài việc thừa hởng
vị trí ủy viên thờng trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc và các vị trí đại sứquán, lãnh sứ quán của Liên Xô ở tất cả các nớc, Liên bang Nga còn đợc hởng
phần lớn tiềm năng và gia sản của Liên Xô: “Quan hệ70% lãnh thổ, 61% dân số, 70%
ngoại thơng, 60% công nghiệp, 90% dầu khí, 70% lực lợng quân sự, 80% vũ khí hạt nhân và 10/17 nhà máy điện hạt nhân [38, tr79] Đây là những thuận
lợi lớn, tạo cơ sở tiềm lực cho Liên bang Nga chuyển sang một thời kỳ pháttriển mới với trình độ tơng đối cao Nhờ vậy, Liên bang Nga có những điềukiện hơn hẳn các nớc cộng hòa khác thuộc khối Liên Xô cũ đang trong quátrình chuyển đổi mô hình kinh tế - xã hội
Bên cạnh những thuận lợi, Liên bang Nga còn phải đối mặt với rấtnhiều khó khăn, thử thách phức tạp, chồng chéo trên tất cả các lĩnh vực củathời kỳ hậu Xô Viết
Về kinh tế:
Liên Xô tan rã cũng làm cho mối quan liên kết giữa Liên bang Nga vàcác nớc Cộng hòa trong Liên bang Xô viết trớc đây vốn là mối liên kết củamột nền kinh tế thống nhất đợc hình thành và phát triển trong nhiều thập kỷ bịphá vỡ và gián đoạn (thực chất là quá trình liên kết này đã có từ khi Đế quốcNga Sa hoàng hình thành) Mặc dù Nga có nền kinh tế vợt trội hơn cả so vớicác nớc Cộng hòa còn lại, nhng sự hụt hẫng về một không gian kinh tế rộnglớn bao gồm cả một dải đất thuộc Liên Xô, rõ ràng là một vấn đề nan giải mànuớc Nga mơi tách ra phải đơng đầu Theo tính toán của các chuyên gia kinh
tế, sự đỗ vỡ và gián đoạn các mối quan hệ kinh tế truyền thống này đã dẫn đến
sự suy giảm 1/3, thậm chí đến 50 - 70% mức sản xuất chung của từng nớccộng hòa Thêm vào đó chế độ XHCN ở các nớc Đông Âu sụp đổ kéo theo sự
Trang 18tan vỡ của Hội đồng tơng trợ kinh tế, làm cho Liên Bang Nga mất đi thị trờngnớc ngoài truyền thống, nơi mà 2/3 hoạt động xuất nhập khẩu của Liên Xô tr-
ớc đây đợc thực hiện trong nội bộ khối SEV [38, tr19]
Trong khi thị trờng truyền thống bị phá vỡ, gián đoạn và thu hẹp, thị ờng mới cha khai thông thì hoạt động kinh tế đối ngoại của Liên bang Ngagặp phải hàng loạt các vấn đề mới mẽ và phức tạp Đó là khả năng yếu kémcủa Nga trong việc thu hút vốn đầu t của nớc ngoài, trong khi đó cơ cấu lạinền kinh tế đang cần một khối lợng lớn về vốn và công nghệ hiện đại Hànghóa của Nga cha đủ sức cạnh tranh với thị trờng Tây Âu, trong khi đó Nga
tr-đang cần một lợng lớn ngoại tệ để thanh toán các khoảng nợ nớc ngoài đếnhạn và phần lãi hàng năm Cụ thể năm 1992 món nợ nớc ngoài của Liên Xô
mà Liên bang Nga là nớc kế thừa đã lên tới con số khổng lồ: 103 tỷ USD vàphải thanh toán 6 tỷ nợ đến hạn vào năm này [38, tr20]
Để khai thông những bế tắc trên, ngoài việc áp dụng hàng loạt các biệnpháp nhằm đẩy mạnh cải cách và cơ cấu lại nền kinh tế ở trong nớc, Liên bangNga buộc phải có những điều chỉnh trong chính sách đối ngoại, thực hiệnnhững bớc đi thích hợp trong hoạt động đối ngoại nhằm khôi phục lại thị trờngtruyền thống, tìm kiếm và mở rộng thị trờng mới, tìm đối tác và bạn hàng mới,sớm đa nớc Nga hòa nhập vào nền kinh tế của khu vực và thế giới, phù hợp với
vị thế và lợi ích của nớc Nga thời kỳ hậu Xô Viết
Về chính trị:
Diễn biến tình hình chính trị theo đà Liên Xô sụp đổ vẫn mất ổn định vàhết sức phức tạp Mâu thuẫn và đấu tranh giành quyền lực giữa các phe nhóm,
đảng phái là đặc điểm nổi bật ở Liên bang Nga
Để cũng cố vai trò lãnh đạo đất nớc, chính quyền của Tổng thốngyelsin phải tăng cờng tập hợp lực lợng, giải quyết những vấn đề xã hội đang
đặt ra, tiến hành cải cách và xây dựng một thể chế chính trị theo hớng củng
cố quyền lực của mình trên cơ sở đợc đảm bảo bằng pháp luật Để thực hiệnnhững mục tiêu trên ban lãnh đạo Nga nhận thấy phải dựa vào sự ủng hộ vàgiúp đỡ to lớn về vật chất và tinh thần từ các nớc, trớc hết là Mỹ và các nớcphơng Tây Do đó, chính sách đối ngoại của Liên bang Nga trong những năm
đầu phải điều chỉnh theo hớng tìm kiếm sự ủng hộ và giúp đỡ này
Thực tế, tuy là nớc kế thừa Liên Xô trớc đây trong các quan hệ quốc tếnhng chính sách đối ngoại của nớc Nga phải dựa trên cơ sở hiện thực của thể
Trang 19chế chính trị mà nó đang xây dựng, con đờng phát triển mà nó lựa chọn Nhànớc Nga thời hậu kỳ Xô viết đợc xây dựng trên cơ sở nhà nớc pháp quyền, dânchủ, với một nền kinh tế phát triển trên theo mô hình và các chuẩn mực củaphơng Tây Do đó, các nguyên tắc các chuẩn mực, mục tiêu, hớng u tiên trongchính sách đối ngoại của nhà nớc Xô viết trớc đây, ngày nay về cơ bản, khôngcòn phù hợp với thể chế chính trị mà nớc Nga đang xây dựng là một việc làmtất yếu.
Sự suy yếu tơng đối của Liên bang Nga trong lĩnh vực an ninh quốcphòng so với Liên Xô trớc đây cũng là một trong những nhân tố quan trọngdẫn đến sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Liên bang Nga Liên Xô trớc
đây là một siêu cờng trong lĩnh vực quân sự và giành thế cân bằng với Mỹtrong lĩnh vực này Tuy kế thừa phần lớn lực lợng quân đội, các tổ hợp côngnghiệp quốc phòng, các phơng tiện kỹ thuật quân sự và vũ khí, trong đó có80% lợng vũ khí hạt nhân của Liên Xô, nhng xét về tổng thể, tiềm lực quân sựcủa Nga giảm đi đáng kể
Cùng với sự ra đời của các nớc Cộng hòa độc lập, có chủ quyền, Liênbang Nga so với Liên Xô trớc đây, đã mất đi hàng loạt các căn cứ quân sự trên
bộ cũng nh các hải cảng quân sự ở Bán tích và Biển Đen Hơn nữa sự giải thểHiệp ớc Vacsava, theo đó Liên bang Nga phải rút quân đội và các phơng tiệnquân sự ra khỏi lãnh thổ các nớc Đông Âu làm cho Nga mất đi một phần đệm,một hành lang an toàn có tính chiến lợc ở phía Tây Do đó, tiếp tục chính sách
đối ngoại đối đầu với các nớc phơng Tây nh Liên Xô trớc đây cũng có nghĩa là
đem nguy cơ bùng nổ chiến tranh đến tận biên giới phía Tây của mình, đe dọa
sự ổn định của nớc Nga, điều mà nớc Nga hoàn toàn không muốn
Về xã hội:
Cuộc khủng hoảng sâu sắc trên các lĩnh vực và thất bại trong Chiếntranh lạnh, sự sụp đổ của Liên Xô thực sự đã tác động mạnh mẽ đến đời sốngtinh thần, tạo nên sự phân hóa sâu sắc thái độ, t tởng của ngời dân Nhìnchung, ngời dân đã mất dần niềm tin vào những ngời lãnh đạo đất nớc, vào thểchế nhà nớc Giới trẻ, đặc biệt là những trí thức trẻ rất háo hức trông chờ sựbiến đổi của Liên bang Nga cùng với sự bất ổn định chính trị, các khoảngtrống pháp luật xuất hiện làm cơ sở cho tình trạng tội phạm, bạo lực, thiếu antoàn cá nhân gia tăng
Trang 20Ngoài ra, Liên bang Nga là quốc gia rộng lớn, đa dân tộc với lịch sử, vănhóa phong phú, đa dạng, để duy trì một trật tự xã hội ổn định trên toàn Liênbang sau hàng loạt những biến động chính trị, xã hội cuối thập niên 80 đầu thậpniên 90 là hết sức khó khăn Các mâu thuẫn chủ yếu về dân tộc, sắc tộc, tôngiáo sẽ là nguy cơ tiềm ẩn để chủ nghĩa ly khai xuất hiện và ảnh hởng trực tiếp
đến an ninh, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Liên bang Nga
Sự rối loạn, phức tạp, mất phơng hớng của xã hội Liên bang Nga saunăm 1991 đã cho thấy những khó khăn trong công cuộc xây dựng và tái thiếtquốc gia này Nếu Liên bang Nga thực hiện cải cách kinh tế xã hội ở đầu thậpniên 90 để khắc phục những hạn chế và phát huy đợc tính u việt của chế độXô viết thì sẽ đáp ứng đợc yêu cầu, mong muốn của các tầng lớp nhân dânNga Còn sự thay đổi đó theo chiều hớng xấu đi sẽ tạo nên tâm lý hoang mang
và phân hóa sâu sắc trong xã hội về thái độ đối với quá trình chuyển đổi với ờng lối, chính sách cải cách kinh tế - xã hội của Liên bang Nga có tác độngquan trọng đối với sự thành bại của cải cách
Với những đặc điểm riêng biệt sau khi Liên Xô sụp đổ và trong hoàncảnh thế giới thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh, Liên bang Nga đứng trớc hàng loạtnhững cơ hội và thách thức, khó khăn trong quá trình xây dựng và phát triển
đất nớc ở thập niên 90 của thế kỷ XX Quá trình phát triển của Liên bang Ngagặp thuận lợi hay khó khăn, vững mạnh hay tụt hậu, ngoài yếu tố khách quanchi phối, nhân tố cơ bản nhất là đờng lối, chính sách phát triển đất nớc củachính quyền Liên bang có khả năng năm bắt cơ hội, vợt qua thử thách, khókhăn và biến nó thành hiện thực hay không Liên bang Nga sẽ vợt qua khủnghoảng nhanh chóng, tiếp tục khẳng định vị thế của mình trên trờng quốc tế,xứng đáng với vị trí kế tục Liên Xô nếu chính quyền Liên bang lựa chọn đờnglối, biện pháp đúng đắn, phù hợp với điều kiện của đất nớc và hoàn cảnh quốc
tế Ngợc lại, bất cứ một sai lầm nhỏ nào trong chiến lợc phát triển kinh tế - xãhội ở thời điểm cực kỳ nhạy cảm này càng làm khủng hoảng thêm trầm trọng,
đẩy Liên bang Nga xuống vị thế tụt hậu và phải đối diện với những thảm họakhông lờng hết đợc Vì vậy, để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ, bảo đảm nền anninh quốc gia trong điều kiện mới đòi hỏi nớc Nga trong thời kỳ hậu Xô viếtphải điều chỉnh chính sách đối ngoại của mình
1.2.2 Tình hình ấn Độ từ sau Chiến tranh lạnh
Trang 21Năm 1947, thực dân Anh trao quyền tự trị cho ấn Độ thì năm 1950 ấn
Độ tuyên bố độc lập, chấm dứt hàng trăm năm rên xiết dới ách thống trị củathực dân Anh, mở ra một thời kỳ phát triển rực rỡ của lịch sử đất n ớc này Từkhi giành độc lập, ấn Độ đã xây dựng một nền kinh tế tự lập, tự cờng với haithành phần chính: Khu vực kinh tế và kinh tế t nhân phát triển trên cơ sở kếhoạch hóa với mục tiêu xây dựng một nền kinh tế hoàn chỉnh, vững chắc và có
đầu t và phát triển, tạo công ăn việc làm cho nhân dân, giảm đói nghèo Tuy
đạt đợc một số thành tựu quan trọng, nhng đến những năm 80 của thế kỷ XX,tình hình mọi mặt của ấn Độ đi vào khủng hoảng do mô hình kinh tế cũ đãmất vai trò là động lực để phát triển kinh tế, cuộc khủng hoảng đã lan ra tất cảcác mặt khác của đời sống xã hội
Về kinh tế: Cuối thập kỷ 80, thế giới thay đổi trong khi ấn Độ ở trong
tình trạng bất ổn về chính trị với sự thay đổi ba chính phủ, Rajiv Ganhdi bịthất bại trong cuộc tuyển cử năm 1989 một năm trớc khi bị ám sát Mặt trận
đấu tranh do Janata Dal làm nòng cốt nhng không dợc sự ủng hộ của BJP vàcánh tả Tình hình mất ổn định chính trị liên tiếp cùng với những chính sáchkinh tế đóng cửa đã tác động đến toàn bộ đất nớc ấn Độ Đầu thập niên 90,nền kinh tế ấn Độ ngày càng sa sút, sản xuất không đủ tiêu dùng, dẫn đến bộichi ngân sách và lâm vào khủng hoảng Nền kinh tế đã không đạt đợc mụctiêu tăng GDP bình quân 7%/năm, mà còn giảm nghiêm trọng [45, tr24] Đếncuối năm 1991, Liên bang Xô viết sụp đổ đã khiến ấn Độ mất đi một chổ dựalớn về kinh tế Các nhà máy chủ chốt trong nền công nghiệp của ấn Độ chủyếu đợc xây dựng với sự giúp đỡ của Liên Xô trở nên bơ vơ trống rỗng
Về thơng mại: Liên Xô là thị trờng rộng lớn trong số các các bạn hàng
của ấn Độ, thậm chí Liên Xô thờng xuyên bán chịu hàng cho ấn Độ “Quan hệTínhtới khi Liên Xô tan rã, ấn Độ còn nợ Liên Xô 11tỉ USD [3, tr52] Do đó, khi
Trang 22Liên Xô tan rã, nền kinh tế yếu kém và trì trệ của ấn Độ đã hoàn toàn rơi vàomột cuộc khủng hoảng nghiêm trọng “Quan hệMúc tăng GDP tụt xuống còn 0,8%năm 1991- 1992, đầu t trực tiếp nớc ngoài chỉ đạt trung bình khoảng 10 triệuUSD/năm Dữ trữ ngoại tệ đến tháng 5/1991 chỉ còn 1 tỉ USD (đủ cho nhậpkhẩu 20 ngày) Các ngành công nghiệp sản xuất trì trệ, lạm phát nâng cao
(trên 13%), số ngời thất nghiệp lên tới 30 triệu, nợ nớc ngoài lên tới 70 tỉ
USD” [45, tr24] Các tổ chức tài chính, ngân hàng nớc ngoài không cho vay
thêm nữa Nguyên nhân là do trong thời gian dài, khu vực kinh tế thuộc sởhữu nhà nớc phát triển theo chiều rộng đi đôi với hệ thống bao cấp từ trênxuống dới gây ra sự lãng phí quan liêu và hoạt động kém hiệu quả
Trớc tình hình trên, Thủ tớng N.Rao đã phải thừa nhận “Quan hệTình hình ngoại
tệ gần nh tuyệt vọng, tình hình tài chính tồi tệ Chúng tôi gần nh đến mức củamột nớc vỡ nợ với quỹ tiền tệ quốc tế trong thời gian này” [45, tr25]
Về chính trị: Nói tới chính trị ấn Độ thì không thể không nói tới
Đảng Quốc Đại Trong suốt quá trình lịch sử ấn Độ, từ khi đấu tranh giành
độc lập cho đến công cuộc xây dựng đất nớc sau đó, Đảng Quốc Đại luôn
đóng vai trò quan trọng và giành vị thế áp đảo trong nền chính trị quốc giavới chính sách và đờng lối vì độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và pháttriển đất nớc
Tuy vậy, đến cuối thập kỷ 80, trong nội bộ đảng đã bắt đầu có sự chia
rẽ Sau khi hai lãnh tụ vĩ đại M.Gandhi và J.Nêhru mất, I Gandhi lên làm thủtớng, nhân tố gắn kết chính trờng ấn Độ đã giảm sút và rạn nứt Quá trìnhchuyển tiếp thế hệ các nhà chính trị trên chính trờng ấn Độ cũng làm nảy sinhnhiều mâu thuẫn khó dàn xếp Một số chính sách đối nội, đối ngoại màI.Gandhi áp dụng đã dẫn đến cuộc tranh cãi trong nội bộ Đảng Tất cả cácnguyên nhân đó tạo nên sự phân liệt trong nội bộ Đảng Quốc Đại thành nhiều
đảng phái mới
Đến năm 1989, Đảng Quốc Đại lại mất quyền lãnh đạo, Đảng Janatalên cầm quyền Từ đây, ấn Độ phải đối mặt với nhiều khó khăn về chính trị donăng lực và kinh nghiệm lãnh đạo đất nớc của các đảng chính trị sau này cónhững hạn chế Chính phủ của Thủ tớng M Singh chỉ tồn tại trong 11 tháng,tiếp đó chính phủ của Thủ tớng C.Shekhar cũng chỉ tồn tại đợc 6 tháng
Có thể nói rằng, nếu nh về mặt đối nội tình trạng của ấn Độ vào đầuthập kỷ 90, nh lời của Thủ tớng N.Rao nói với báo chí là “Quan hệđã đứng trớc bờ
Trang 23vực” thì về mặt đối ngoại nh lời nhân xét của Thủ tớng R.Gandhi ngày 20/5 /
1991, trớc khi ông bị ám sát một ngày: “Quan hệTrong 15 tháng qua, ấn Độ đã bị lu
mờ nh thể không còn tồn tại Chúng ta phải đảm bảo làm sao ấn Độ xuất hiện trở lại nh một nớc tiên tiến” [45, tr27].
Sự suy thoái về kinh tế và khủng hoảng về chính trị đã tác động xấu
đến tình hình xã hội ấn Độ Kinh tế sa sút dẫn đến sự leo thang về giá cả hànghóa gây ra tâm trạng lo lắng, hoang mang trong nhân dân Hơn nữa, trong quátrình vận động tranh cử, các lực lợng chính trị ấn Độ đã hết sức coi trọng vàtận dụng yếu tố tôn giáo, do đó đã vô tình làm sâu sắc thêm mâu thuẫn âm ỉnhiều thế kỷ giữa các tôn giáo của ấn Độ Những mâu thuẫn giữa các đẳngcấp, sắc tộc, cộng đồng, tôn giáo trong một đất nớc ấn Độ rộng lớn, đa dạng,phức tạp đến lúc này càng có điều kiện phát triển Thêm vào đó là bộ máyhành chính nhà nớc cồng kềnh, kém hiệu quả cũng làm tăng tình trạng thamnhũng, quan liêu
Đứng trớc bờ vực của đất nớc, chính phủ ấn Độ buộc phải có nhữngquyết sách, chuyển hớng kịp thời về tất cả các mặt để cải thiện tình hình đất n-
ớc, phát triển và thích ứng với tình hình mới Trong đó kinh tế và chính sách
đối ngoại là hai lĩnh vực then chốt
ấn Độ tiếp tục theo đuổi chính sách đối ngọai hòa bình, độc lậo, tự“Quan hệ
chủ, không liên kết”, song có điều chỉnh để đáp ứng với tình hình mới, trớc
nguy cơ của đất nớc, Thủ tớng N.Rao đã tiến hành các biện pháp cải cách sâurộng và toàn diện theo hớng thị trờng rộng mở, tự do hóa và gắn kết với kinh
tế thế giới Mục tiêu cải cách và tự do hóa là cứu đất nớc khỏi khủng hoảng vàxây dựng một nền kinh tế hiện đại ấn Độ xúc tiến mở cửa mạnh mẽ cho đầu
t nớc ngoài, thực hiện chính sách ngoại giao cân bằng với tất cả các nớc lớn
Nỗ lc phát triển với tất cả các trung tâm quyền lực, không để bị lôi kéo vàocác liên minh chống đối nhau, tách khỏi xu hớng thân Liên Xô trớc đây vẫncoi trọng Nga, coi đây là nguồn cung cấp kinh tế, quân sự chủ yếu và là chỗdựa đối trọng trong quan hệ với Mỹ, Trung Quốc ấn Độ chú trọng hơn trongviệc cải thiện quan hệ Trung Quốc, coi Trung Quốc là đối tác cạnh tranh nhng
để có môi trờng hòa bình và phát triển, ấn Độ xác định chung sống hòa bình,tăng cờng hợp tác buôn bán, đặc biệt rất coi trọng mối quan hệ đồng minhtruyền thống với Nga trong việc giải quyết vấn đề vùng đất Casơmia ởPakixtan ấn Độ cũng tăng cờng hợp tác với Mỹ, EU, Nhật Bản vì đây là
Trang 24những trung tâm kinh tế lớn của thế giới Cải thiện quan hệ với Trung Quổctrong việc giải quyết vấn đề biên giới, đẩy mạnh “Quan hệchính sách hớng Đông” vàvun đắp cho mối quan hệ tốt đẹp với các nớc Đông Nam á, trong đó có ViệtNam
Những chính sách cải cách do Thủ tớng N.Rao thực hiện đã cải thiện rõrệt tình hình mọi mặt của ấn Độ làm giấy lên một làn sóng mới về tự do hoákinh tế nhằm tạo ra những thay đổi sâu sắc trong cơ cấu kinh tế thơng mạinhằm đa ấn Độ vợt lên vị trí cao trong hàng ngũ các nớc ở khu vực châu á -Thái Bình Dơng và giải phóng sức mạnh nội tại tiềm tàng của một quốc gia đadạng trong quá trình chuyển đổi Có thể nói từ cuộc cải cách kinh tế này đã đa
ấn Độ bớc sang một trang mới nh một con s tử đang cựa mình thức dậy
40 năm Thế giới bớc vào thời kỳ quá độ - quá độ từ sự kết thúc của một trật tựthế giới cũ sang một trật tự thế giới mới
Chiến tranh lạnh kết thúc đã mở ra một thời đại mới trong quan hệ quốc
tế Mặc dù trật tự thế giới sau Chiến tranh lạnh vẫn đang trong quá trình chuyển
động mạnh mẽ, song có thể thấy xu hớng đối thoại, hợp tác đang thay thế dần
xu hớng đối đầu trớc kia Đây là điều kiện để Liên bang Nga với vị thế địachính trị của một nớc lớn nhất thế giới nằm vắt ngang Âu - á dễ dàng mở rộngquan hệ hợp tác trên các lĩnh vực với tất cả các nớc trên thế giới
Cùng với sự kết thúc Chiến tranh lạnh, trật tự thế giới hai cực do Mỹ vàXô đứng đầu sụp đổ đã đa thế giới bớc vào thời kỳ ổn định với một siêu cờngcòn giữ vai trò chủ đạo trong các công việc quốc tế Tuy nhiên, một trật tự thếgiới mới đợc hình thành, Mỹ nổi lên nh một siêu cờng duy nhất bên cạnh sựtrỗi dậy của nhiều trung tâm quyền lực quốc tế Xét về các mặt chính trị, quân
sự, kinh tế, thế cân bằng hình thành từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai bị phá
vỡ Cộng với kết quả của cuộc Chiến tranh vùng Vịnh đã tạo cho Mỹ lợi thế
v-ợt trội về chính trị và quân sự Trong bối cảnh đó Nga cũng nh ấn Độ đều longại về ý đồ của Mỹ thiết lập trật tự thế giới tuy không trở thành trật tự một
Trang 25cực nhng cũng cha hình thành cục diện đa cực Thế giới đang trong trạng thái
“Quan hệnhất siêu đa cờng” Mỹ nổi lên trở thành siêu cờng quốc số một thế giới màcha có một nớc lớn nào có thể thay thế Liên Xô thách thức bá quyền Mỹ Từ
đó đến nay, Mỹ đã tiến hành năm cuộc chiến tranh cục bộ nhằm thiết lập trật
tự thế giới một cực (chiến tranh Kosovo, chiến tranh Apganixtan và ba cuộcchiến tranh Irắc)
Tuy nhiên, sự vơn lên của ba trung tâm t bản từ đầu thế kỷ 70 đến naytiếp tục diễn ra theo chiều hớng thay đổi tơng quan lực lợng về kinh tế, chínhtrị đã gây lên sự bất lợi tơng đối cho Mỹ Mỹ gặp phải một số khó khăn vềkinh tế - xã hội Nếu trong những năm 50 thu nhập quốc dân (GDP) của Mỹhơn GDP của tất cả các nớc t bản cộng lại, thì vào đầu thập kỷ 90, GDP của
Mỹ chỉ chiếm khoảng 25% GDP của thế giới t bản Mặc dù dới thời kỳ Tổngthống B Clinton, nớc Mỹ đạt tốc độ tăng trởng liên tục ở mức trên 4% /nămtrong vòng tám năm nhng vẫn phải đơng đầu với những thách thức mới làNhật Bản và Tây Âu Những nớc này xem việc Liên Xô sụp đổ là cơ hội thuậnlợi để vơn lên tăng cờng vai trò chính trị và quân sự cho tơng xứng với thựclực kinh tế của mình Do Liên Xô tan rã, cái ô hạt nhân của Mỹ cũng khôngcòn cần thiết cho họ nữa, xu hớng li tâm phát triển Cuộc đấu tranh bảo vệ độclập chủ quyền của các nớc đang phát triển chống lại sự áp đặt và can thiệp củacác nớc lớn đã trở thành xu thế đáng kể trên thế giới Trong hoàn cảnh đó, Mỹ
sẽ rất khó thiết lập đợc vai trò chủ đạo của mình trong trật tự thế giới mới,
đồng thời có nhiều khả năng sẽ thi hành chính sách cân bằng lực lợng giữa các
đối thủ lớn, cố gắng kiềm chế bất kỳ một nớc lớn nào có thể vơn lên tháchthức vai trò số một thế giới của mình
Trong điều kiện Chiến tranh lạnh giữa các nớc lớn đã kết thúc, LiênHợp Quốc ngày càng có vai trò quan trọng hơn Trớc đây khi thế giới phânchia thành hai phe, Liên Hợp Quốc thờng bị lợi dụng làm diễn đàn của bênnày chống bên kia, nên khó phát huy hết vai trò toàn cầu của mình Ngày nay,các nớc lớn tìm cách nhân nhợng, thỏa hiệp với nhau thông qua việc sử dụngLiên Hợp Quốc, chủ yếu là Hội đồng Bảo an làm cơ chế xử lý các vấn đề cótính toàn cầu hoặc các vấn đề khu vực có liên quan đến an ninh toàn cục Tuynhiên, sự hạn chế của Liên Hợp Quốc đã thể hiện trong việc không ngăn chặn
đợc cuộc chiến tranh Irắc năm 2003 Vì vậy, hiện đang diễn ra cuộc đấu tranhngấm ngầm nhng không kém phần gay gắt để cải tổ cơ chế và bộ máy của
Trang 26Liên Hợp Quốc cho phù hợp với thực trạng thế giới Các nớc đang phát triển
đòi đợc bảo vệ độc lập, chủ quyền của mỗi nớc thành viên và đòi dân chủ hóaLiên Hợp Quốc [3, tr17]
Để bảo vệ lợi ích chính đáng của mình, thời gian này các nớc đang pháttriển có nhu cầu tập hợp lại với nhau vào Phong trào Không liên kết Tuynhiên, hiệu quả của phong trào cha thật sự cao Sau Chiến tranh lạnh, Nga - ấn
Độ, mà đặc biệt là ấn Độ không mặn mà gì với phong trào, nhng từ năm 1998thì ấn Độ bắt đầu thay đổi lập trờng này Đầu năm 2003, Thủ tớngA.B.Vajpayee tham gia Hội nghị thợng đỉnh lần thứ 13 phong trào Không liênkết đã đa ra yêu cầu đổi mới để phong trào phát triển hơn
Những diễn biến trên cho thấy tình hình thế giới đang có nhiều biến
động, nhiều nớc còn đang trong quá trình điều chỉnh chiến lợc sao cho phùhợp với đặc điểm của thế giới mới Việc tập hợp lực luợng trên thế giới cũng
nh ở các khu vực đang chuyển biến khác trớc, nhiều mối quan hệ đa phơngcũng nh song phơng đang định hình và đan xen phức tạp
Kinh tế thế giới đang trong thời kỳ phát triển phức tạp, phải trải quathời kỳ chuyển đổi cơ cấu dới tác động của một loạt các yếu tố khác nhau,nhất là tác động của cách mạng khoa học và công nghệ Trong khi các ngànhsản xuất truyền thống đang khủng hoảng và loại dần hoặc trang bị lại thì cácngành mũi nhọn về khoa học kỹ thuật hiện đại chỉ mới phát huy tác dụngtrong một số ít nớc và khu vực Thời kỳ chuyển tiếp cơ cấu và thay đổi sâurộng của kinh tế thế giới còn kéo dài, ngày càng quốc tế hóa cao, nhng đồngthời xu hớng khu vực hóa cao, sự cạnh tranh trên mặt trận kinh tế gia tăng hơnbao giờ hết, trong đó những nớc giàu và phát triển càng chiếm u thế Xu hớngchuyển vốn tập trung quay về các khu vực t bản phát triển Các nớc tập trungtìm kiếm sự hợp tác ở các khu vực và khai thác mọi khả năng tiềm tàng ở bênngoài để khắc phục những khó khăn và phát triển kinh tế
Trong bối cảnh trật tự hai cực tan rã, những cuộc xung đột khu vực hoặcgiữa các quốc gia, hay các lực lợng trong cùng một quốc gia, các mâu thuẫndân tộc, sắc tộc và các lực lợng chính trị, xã hội, tôn giáo có xu hớng giatăng Đặc biệt là sự phát triển của chủ nghĩa khủng bố quốc tế mà sự kiện11/9/2001ở Mỹ là một điển hình Trong giai đoạn quá độ đi đến hình thànhmối quan hệ quốc tế mới, tuy trên phạm vi toàn cầu có những nhân tố tích cựccho hòa bình và ổn định, những mâu thuẫn có thể dẫn đến chiến tranh thế giới
Trang 27đã bị đẩy lùi, nhng ở nhiều khu vực đã và đang xuất hiện nhiều nhân tố mớigây ra tình hình mất ổn định không lờng trớc đợc.
Chiến tranh lạnh kết thúc đã tạo điều kiện cho quan hệ quốc tế trở nênnăng động, linh hoạt nhng cũng phức tạp hơn Trớc đây, các mối quan hệ quốc
tế bị chi phối bởi chuẩn mực cùng hay khác ý thức hệ Song, khi trật tự thếgiới hai cực trên thế giới mất đi trong khi trật tự thế giới mới đợc hình thành
Sự tập hợp lực lợng trong quan hệ quốc tế diễn ra đa dạng và linh hoạt, chủyếu dựa trên sự phù hợp về lợi ích dân tộc ở từng lúc, từng nơi Quan hệ quốc
tế có lợi ích đan xen nhau giữa các quốc gia trở nên phức tạp
Trớc những đòi hỏi mới của môi trờng quốc tế dới ảnh hởng của sự tduy về tập hợp lực lợng trên thế giới, các nớc đều điều chỉnh chính sách đốingoại của mình theo chiều hớng tập trung cho yêu cầu phát triển kinh tế, đadạng hóa quốc tế, vừa hợp tác vừa đấu tranh với các đối tợng nhằm mục đíchtạo cho mình vị thế có lợi hơn Sinh hoạt quốc tế ngày nay nổi lên các xu thếmới:
Thứ nhất: Xu thế u tiên cho phát triển kinh tế đang lôi cuốn cả cộng
đồng quốc tế, cả những nớc công nghiệp phát triển cũng nh các nớc đang pháttriển Với việc kết thúc Chiến tranh lạnh giữa các nớc lớn, cuộc chạy đua vềkinh tế trên phạm vi toàn cầu ở nhiều mặt đang thay thế cho cuộc chạy đua vũtrang Từ đầu thế kỷ XXI, diễn ra cuộc chạy đua toàn thế giới về kinh tế vàkhoa học- kỹ thuật trong bối cảnh các nớc trên thế giới hợp tác và đấu tranhcùng tồn tại hòa bình Nhân tố kinh tế ngày càng giữ vị trí quan trọng chủ đạotrong quan hệ quốc tế ngày nay, có vai trò quyết định trong việc tăng cờng sứcmạnh tổng hợp của mọi quốc gia Trật tự thế giới mới và các tập hợp lực lợngcủa nó không phải tạo ra do chiến tranh mà trên cơ sở kinh tế - chính trị
Thứ hai: Xu thế đa dạng hóa quan hệ đối ngoại của tất cả các nuớc, kể
cả các nớc xa nay hạn chế quan hệ đối ngoại ở một số đối tợng nhất định đangdiễn ra Điều này trở thành một đòi hỏi khách quan, bức tranh của môi trờngtoàn cầu mới dới tác động của khoa học công nghệ đa đến sự phụ thuộc lẫnnhau giữa các quốc gia trong nền sản xuất đợc quốc tế hóa Các nớc ra sức mởrộng quan hệ quốc tế, không phân biệt chế độ chính tri - xã hội khác nhau,không câu nệ đối tợng Với tất cả những ai có khả năng hợp tác hiệu quả, việcxác định bạn, thù, hình thức và mức độ quan hệ trở nên rất linh hoạt và thựcdụng Cách thức tập hợp lực lợng theo kiểu truyền thống đã đợc thay bằng sự
Trang 28tập hợp lực lợng trên cơ sở lợi ích quốc gia - dân tộc, cơ động và linh hoạthơn
Thứ ba: Xu thế tăng cờng hợp tác khu vực đã nảy sinh từ cuộc chạy đua
và cạnh tranh kinh tế quyết liệt toàn cầu Các nớc đều coi trọng chính sáchkhu vực, u tiên phát triển quan hệ với các nớc láng giềng, đẩy mạnh hợp tác vàliên kết khu vực, nhất là kinh tế các tổ chức, diễn đàn đa phuơng khu vực đãhình thành, điển hình là các tổ chức nh: ASEAN, NAFTA, WTO, SCO cácnớc vừa và nhỏ đẩy mạnh liên kết khu vực, đồng thời có quan hệ cân bằng vớicác nớc lớn, khai thác mọi cơ hội, khả năng và những điểm tơng đồng dù nhỏnhất trên từng vấn đề và tùy từng lúc nhằm thúc đẩy đối thoại và quan hệ vì lợiích của đất nớc mình Tại châu Âu, các quốc gia châu Âu sau nhiều năm th-
ơng lợng đã tiến tới việc nhất thể hóa kinh tế và từng bớc về chính trị với mụctiêu xây dựng một trung tâm thế giới mới hùng mạnh hơn trong cuộc cạnhtranh đối với các khu vực và quốc tế khác trên thế giới Mỹ củng xúc tiến
thành lập “Quan hệKhu vực tự do thơng mại Bắc mỹ” (NAFTA) gồm Mỹ, Canađa,
Mêxicô và đang có ý đồ mở rộng ra cả vùng Tây Thái Bình Dơng, Nhật Bản
cố gắng tập hợp lực lợng ở châu á và đa ra khái niệm đồng yên ở châu á Thái Bình Dơng
-Tóm lại, Chiến tranh lạnh giữa hai chiến tuyến Đông - Tây, giữa haikhối TBCN và XHCN đã chấm dứt, tạo điều kiện thúc đẩy quá trình toàn cầuhóa và khu vực hóa, trớc hết là lĩnh vực kinh tế diễn ra nhanh hơn Xu thế tấtyếu đa thế giới bớc vào một thế giới mới, thời đại của văn minh tri thức, đồngthời gây ra sự tác động to lớn tới mọi quốc gia không phân biệt trình độ pháttriển, hệ thống chính trị, văn hóa Dù sức mạnh của Mỹ có suy giảm tơng đối,nhng cha thể có một siêu cờng nào khác vơn lên thay thế độc tôn của Mỹtrong tơng lai gần Các siêu cờng đang lên của thế giới nh Nga, ấn Độ cạnhtranh ngày càng găy gắt trong việc tăng cờng sức mạnh quốc gia cũng nh ảnhhởng đối với nhau và đối với các khu vực Xu thế tập trung phát triển kinh tế
để tránh tụt hậu khiến tất cả các nớc phải cùng nhau hợp tác, từng nớc đều thihành chính sách mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế Các nớc trong mỗi khu vực
đẩy mạnh thơng lợng, ký kết các hiệp định tự do thơng mại với mục tiêu xâydựng thành khu vực mậu dịch tự do, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tếmỗi nớc tạo ra quan hệ đối trọng với các nền kinh tế khác Quá trình này cànglàm cho toàn cầu hóa và khu vực hóa diễn ra nhanh hơn, đồng thời thúc đẩy sự
Trang 29phụ thuộc lẫn nhau, đan xen lợi ích quốc gia của các nớc với nhau Do đó,giảm thiểu nguy cơ chiến tranh và xung đột, khiến xu hớng vừa hợp tác vừa
đấu tranh một cách hòa bình phát triển Tiến trình này mở ra thời kỳ mới vớivai trò ngày càng quan trọng trong quan hệ quốc tế nói chung và trong quan
hệ kinh tế quốc tế nói riêng của các chủ thể phi nhà nớc nh các tổ chức kinh
tế, tài chính quốc tế và đa phơng nh APEC, WTO, IMF các tổ chức phichính phủ, các công ty xuyên quốc gia Vai trò các nhà t bản đầu cơ chi phốikhá mạnh nền kinh tế các nớc đang phát triển, có tác động lớn đến quá trìnhhoạch định chính sách đối nội cũng nh đối ngoại của quốc gia này Trong quátrình hội nhập kinh tế toàn cầu, dù là hai quốc gia lớn nh Liên bang Nga vàCộng hòa ấn Độ cũng không tránh khỏi sức ép, chính sách áp đặt của các tổchức kinh tế, tài chính quốc tế khi gia nhập với t cách thành viên
Liên bang Nga và Cộng hòa ấn Độ, là hai quốc gia lớn ở Âu - á, đangtrong quá trình phát triển cũng đã nhanh chóng điều chỉnh chính sách đốingoại một cách toàn diện nhằm thích ứng với bối cảnh quốc tế mới, tạo điềukiện thuận lợi cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nớc Hai nớc cũngnhận thấy sự đối đầu trong điều kiện thế giới đang thay đổi sẽ hết sức bất lợicho quá trình phát triển, mỗi quốc gia, dân tộc phải xác định đúng vị thế, thếmạnh của mình trong nền kinh tế thế giới, có chủ trơng chính sách thích hợp
để có thể hòa nhập vào đời sống kinh tế của khu vực và thế giới, trở thành mộtkhâu, một mắc xích vận hành nhịp nhàng trong hệ thống các hoạt động quốc
tế và quan hệ quốc tế Việc điều chỉnh chính sách và cải thiện mối quan hệngày một tốt đẹp hơn, phục vụ cho yêu cầu số một là phát triển kinh tế
1.3.2 Sự tác động của xu hớng toàn cầu hóa
Thời đại ngày nay, loài ngời đang chứng kiến sự biến đổi diễn ra hàngngày, hàng giờ trong đời sống với quy mô rộng lớn Sự biến đổi đó trớc hếtdiễn ra trong lĩnh vực kinh tế và theo đó bằng sự tác động lẫn nhau, tác độngmột cách sâu sắc tới các lĩnh vực văn hóa, chính trị, xã hội và cả ngoại giao
Dới tác động của Cách mạng khoa học kỹ thuật, đời sống quốc tế đã và
đang thay đổi, mỗi quốc gia đang trở hành một bộ phận cấu thành của thế giới
Tự do hóa thơng mại, tự do lu chuyển vốn phân công chuyên môn hóa, đợc đẩymạnh, hợp tác trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, giáo dục đào tạo, văn hóathể thao, đợc tăng cờng Nhiều vấn đề toàn cầu hóa đã dợc tập trung giải quyết
Trang 30trên cơ sở những lợi ích nhất định, trong đó có lợi ích chung của mọi quốc gia,
đặc biệt là vấn đề môi trờng sinh thái đợc đặt lên hàng đầu
Loài ngời đang xích lại gần nhau, biên giới quốc gia đang đợc mở rộng,
sự giao lu quốc tế đang phát triển, những hình thức tổ chức chung mang tínhquốc tế về sản xuất, lu thông văn hóa, chính trị xã hội đang đợc đẩy mạnh Cácquốc gia dù lớn hay nhỏ trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau với mức độ vàchiều hớng khác nhau Đó là xu thế không thể đảo ngợc trong thời đại ngày nay
mà ngời ta khái quát hóa trong khái niệm toàn cầu hóa
Quá trình toàn cầu hóa có những đặc trng cơ bản sau:
Thứ nhất: Quá trình tự do hóa thơng mại, mở rộng thị trờng về chiều
rộng và chiều sâu, tự do hóa lu chuyển vốn, sự hòa nhập của cơ cấu tài chính,
sự phân công chuyên môn hóa sản xuất Toàn cầu hóa đang diễn ra một cáchsôi động, lôi cuốn các quốc gia, lớn, nhỏ, từ trung tâm đến ngoại vi vào vòngxoáy của nó, tạo nên sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng lớn Từ đó, sự đan xen
về lợi ích cũng nh thống nhất, mâu thuẫn luôn diễn ra trên phạm vi quốc gia,liên quốc gia, khu vực và toàn cầu
Thứ hai: Sự liên kết các nớc diễn ra theo mối liên hệ từ một ngành đến
nhiều ngành, từ kinh tế đến khoa học công nghệ, văn hóa, thể thao, chính trị,ngoại giao Sự liên kết và tơng tác nh vậy đã lan tỏa từ trung tâm đến ngoại vi,vợt qua mọi biên giới quốc gia và thể chế chính trị khác nhau với mức độkhông giống nhau
Thứ ba: Quá trình toàn cầu hóa vận động có xu hớng đối lập nhau.
Bên cạnh việc hợp tác liên kết hình thành cộng đồng thế giới thì lại diễn ra
xu hớng co cụm theo khu vực địa lý Chẳng hạn, sự hình thành NAFTA giữa
Mỹ, Mêhicô, Canada, sự thống nhất các quốc gia trong EU; ASEAN Đồngthời với xu hớng liên kết là xu hớng phân rã, chia rẽ các liên bang, các khuvực liên kết thành các quốc gia độc lập, vùng tự chủ theo sắc tộc, tôn giáo
địa lý
Thứ t: Về cơ bản, quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra trong khung cảnh
hòa bình, đối thoại thay cho đối đầu Song không phải chiến tranh đã hoàntoàn kết thúc, máu đã ngừng đổ mà các thế lực phản động quốc tế vẫn đangtìm mọi cách áp đặt hệ t tởng chính trị của mình lên toàn nhân loại và khi bịphản ứng chúng sẵn sàng dùng vũ lực để chống đối Do vậy, nền hòa bình thế
Trang 31giới vẫn đang bị đe dọa, mọi quốc gia, dân tộc đều có trách nhiệm quét sạchcác thế lực chống đối, bảo vệ vững chắc nền hòa bình cho nhân loại
Thứ năm: Sự hình thành về mặt tổ chức các thiết chế liên quốc gia và
quốc tế tiếp tục đẩy mạnh Song tính bình đẳng của các nớc trong các thể chế
đó luôn là vấn đề nổi cộm Các tổ chức này tuy đã góp phần không nhỏ vàoviệc giải quyết nhiều vấn đề quốc tế mà thành quả của nó mang lại lợi íchchung cả cho cộng đồng thế giới, song trên thực tế nó bị Mỹ và một số cờngquốc phơng Tây khống chế Trong việc giải quyết những vấn đề hệ trọng, th-ờng các tổ chức này lại trở thành bình phong che đậy cho việc thực hiện ý đồcủa Mỹ và một số nớc phơng Tây khác
Nh vậy, với những đặc trng cơ bản của quá trình toàn cầu hóa là tự dohóa, mà trớc hết là tự do hóa về kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật và mởrộng sự giao lu quốc tế về các vấn đề chính trị - xã hội, toàn cầu hóa đang đalại một khả năng to lớn đối với các quốc gia trong việc hợp tác nhằm khai tháccác nguồn lực quốc tế để phát triển
Dới tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng thông tin, đã tạo ra những
điều kiện mới để nhân loại sống gần gũi và hiểu biết nhau hơn Ngời ta có thểchia sẻ cho nhau niềm vui và nổi buồn dù ở bất cứ nơi nào trên hành tinh và từ
đó có thể phối hợp hành động chung để xử lý vì lợi ích mỗi quốc gia và lợi íchcộng đồng
Cùng với những bớc tiến trong đời sống văn hóa do toàn cầu hóa manglại, những quan điểm chính trị, những thách thức về bộ máy nhà nớc, cộng
đồng cũng nh những biến đổi theo chiều hớng tiến bộ Những quan điểm cực
đoan, hiếu chiến, kẻ mạnh áp bức kẻ yếu một cách trắng trợn đã bị d luận lên
án và dần nhờng bớc cho những quan điểm mềm dẻo, linh hoạt, nhân đạo vàhòa bình hơn Chính trị là đấu tranh giai cấp, nhng trong điều kiện của thời đạimới, nó biểu hiện tập trung hơn ở kinh tế và ngoại giao Hội nhập để khai thác
có hiệu quả nhất nguồn nhân lực quốc tế và trên cơ sở những nguyên tắc vềgiữ vững độc lập chủ quyền, bảo đảm cân bằng lợi ích, phù hợp với những tậpquán quốc tế vẫn là hình thức thể hiện sinh động nhất của các quan điểmchính trị đơng đại mà loài ngời đang vơn tới Bộ máy quyền lực chính trị lànhà nớc từ đó cũng có bớc đổi mới, tinh giảm nhng hiệu quả hơn Một nhà nớctiến bộ, thực hiện dân chủ, bảo vệ lợi ích của cộng đồng, trớc hết là của nhândân lao động, mở rộng quan hệ với tất cả các nớc, cùng hợp tác giải quyết
Trang 32những vấn đề quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau đang làmục tiêu vơn tới của nhiều quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị xã hộihay ý thức hệ.
Sự hình thành và phát triển của các thiết chế quốc tế và việc tham gia
điều tiết hoạt động toàn cầu đã mang lại ít nhiều những kết quả khả quan màmọi quốc gia cùng chia sẻ là tác động tích cực khác đáng ghi nhận của toàncầu hóa, trong đó có vai trò của Liên Hợp Quốc và các tổ chức của nó Điềunày thể hiện rõ trong hoạt động chống phân biệt chủng tộc, chống khủng bố,chống bọn tội phạm quốc tế, xử lý tội phạm chiến tranh, ngăn chặn dịch bệnhxã hội, hỗ trợ cho các quốc gia đói nghèo, thiên tai và góp phần bảo vệ môi tr-ờng sinh thái của các tổ chức quốc tế Đó chính là xu hớng tiến bộ hớng tớicái thiện, cái đẹp, hớng tới cuộc sống hòa bình, hạnh phúc của nền văn minhmới
Trớc xu thế toàn cầu nói trên, tất cả các nớc đều phải điều chỉnh chínhsách để thích hợp với hoàn cảnh mới Xu hớng chung là đa dạng hóa các mốiquan hệ và điều chỉnh cơ cấu kinh tế cho phù hợp với đặc điểm ngày càng phụthuộc lẫn nhau của nền kinh tế thế giới Quá trình toàn cầu hóa đã tác độngsâu sắc đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của Liên bang Nga và Cộng hòa
ấn Độ, đặt ra cho cả hai nớc những thách thức, trong đó có việc điều chỉnhchính sách đội ngoại một cách phù hợp và hiệu quả Trong điều kiện nh vậy,
là hai nớc lớn có ảnh hởng đến toàn bộ khu vực Âu - á và quốc tế, lại là hai
n-ớc đồng minh truyền thống của nhau, Nga - ấn không thể không tìm mọi cách
để thúc đẩy mối quan hệ hợp tác Chính mối quan hệ truyền thống trong quákhứ Xô - ấn là điều kiện tốt cho Nga - ấn thúc đẩy sự phát triển kinh tế nội tại
và đảm bảo hòa bình, ổn định và hợp tác an ninh chính trị của hai nớc cũng
Trang 33cạnh đó, ấn Độ cũng là quốc gia đang lên nhanh chóng và là ngời bạn lớn củaLiên bang Nga hiện nay Tầm quan trọng về địa - chính trị và địa - chiến lợccủa ấn Độ sẽ có tác động rất lớn khi nớc này nghiêng về phía nào Liên bangNga hay Mỹ Đây là động thái quốc tế lớn, chi phối mối quan hệ khu vực vàtoàn cầu
Liên bang Nga và ấn Độ là hai nớc ở hai khu vực Âu - á đang pháttriển và hiện đang ở vào thời kỳ trỗi dậy mạnh mẽ, nhng đồng thời cũng đứngtrớc một thực tế là môi trờng quốc tế đang rất phức tạp và có nhiều biến độnglớn Nhất là với Liên bang Nga Những năm qua, Nga đã thực hiện phơngchâm chiến lợc và chính sách ngoại giao ngả về phơng Tây hay “Quan hệđịnh hớng
Đại Tây Dơng” tức là mọi biện pháp, kể cả những thỏa hiệp không điều kiện
để nớc Nga không có lợi ích đối lập với Mỹ và phơng Tây và Nga xem quan
hệ hợp tác lẫn nhau giữa Nga - Mỹ và các nớc phơng Tây là điều kiện sốngcòn bảo đảm sự phồn vinh, phát triển và an ninh của nớc Nga dân chủ Tuynhiên chính sách đối ngoại “Quan hệhớng về phơng Tây” đã tỏ ra không phù hợp với
vị trí địa kinh tế, địa chính trị của nớc Nga, một cờng quốc Âu - á Vì thế Nga
đã chuyển sang “Quan hệđịnh hớng Âu - á” Đây là một chính sách đúng đắn và đemlại nhiều lợi ích cho nớc Nga Cùng với thực lực của đất nớc ngày một tăng lênthì sức ép quốc tế, nhất là Mỹ và phơng Tây đối với Nga cũng theo đó mà tănglên
Những năm gần đây, Mỹ ra sức tăng cờng quan hệ và lôi kéo ấn Độ với
động cơ thực chất là dùng nớc này kiềm chế Liên bang Nga Bởi Nga là nớccung cấp cho ấn Độ rất nhiều về vũ khí, khoa học kỹ thuật, công nghệ thôngtin Đây là một trong những thế mạnh để phát triển đất nớc Thực lực của Mỹtrong giai đoạn này rất mạnh và họ cũng thực hiện nhiều chính sách u đãi đốivới ấn Độ hơn với mục đích lôi kéo ấn Độ về phía Mỹ, nh bán máy bay F- 16,thậm chí cả máy bay chiến đấu tiên tiến nhất là F- 18 cho ấn Độ Nhng xem
ra ấn Độ vẫn không bị lay động nhiều trớc những u đãi này và kiên trì chínhsách độc lập tự chủ, không về hùa với Mỹ mà hy sinh quan hệ với Liên bangNga (Một ngời bạn cũ tốt hơn hai ngời bạn mới) Nga là ngời bạn cũ đã đợcthử thách qua thời gian của ấn Độ, vẫn tiếp tục đóng vai trò chủ chốt tronglĩnh vực quốc phòng, hạt nhân, vũ trụ của ấn Độ
Vào những năm gần đây, có nhiều chuyến thăm của các nhà lãnh đạo
Mỹ đến ấn Độ Mỹ và các nớc phơng Tây đặt rất nhiều hy vọng vào chuyến
Trang 34thăm với mục đích lôi kéo ấn Độ về phía họ, tuy vậy vẫn cha bộc lộ một tầmnhìn chiến lợc nhằm tận dụng đầy đủ lợi thế này để chống Nga.
Có thể nhận thấy rằng, khi nớc Nga đang trên đà phát triển và có khảnăng đe dọa vị trí số một của Mỹ trên thế giới cũng nh khu vực châu á - TháiBình Dơng thì Mỹ rất tích cực lôi kéo ấn Độ Điều đó cho thấy rằng, Mỹ rấtcoi trọng vị trí chiến lợc cũng nh vai trò của ấn Độ trong chính sách Nam ácũng nh châu á - Thái Bình Dơng
Bớc sang thế kỷ XXI, các nhà nghiên cứu tình hình thế giới đều chorằng vai trò của châu á trong bàn cờ chiến lợc an ninh toàn cầu của Mỹ cótầm quan trọng khá lớn, vì vậy việc phát triển quan hệ với ấn Độ và hạn chếquan hệ Nga - ấn là khâu quan trọng để thực hiện chiến lợc này Mỹ lôi kéo
ấn Độ vào bàn cờ chiến lợc chung châu á vì những mục tiêu chủ yếu sau:
Thứ nhất: ấn Độ là nớc lớn, nếu đa vào phạm vi ảnh hởng chung của
Mỹ thì có thể kiềm chế có hiệu quả đối với Trung Quốc và Nga Từ đó làm
Mỹ có thêm cơ sở để “Quan hệmặc cả” quyền lợi với Nga, Trung Quốc
Thứ hai: ấn Độ là nớc lớn đang trỗi dậy, có tiềm lực phát triển kinh tế
to lớn, cộng thêm dân số đông, thị trờng lớn, đó là điều kiện lớn để thúc đẩy
sự phát triển của nền kinh tế Mỹ nếu hai bên hợp tác tốt đẹp
Thứ ba: ấn Độ đang rất muốn nhanh chóng trỗi dậy thành cờng quốc
Châu lục và thế giới Những năm qua, thực lực kinh tế và quốc phòng của ấn
Độ đều tăng lên mạnh mẽ và nhanh chóng, có quan hệ tốt với ấn Độ Mỹ sẽtăng cờng hợp tác kinh tế mà còn có thể xuất khẩu vũ khí cho ấn Độ từ đó dần
đa ấn Độ vào phạm vi ảnh hởng của mình
Vì những mục tiêu trên, Mỹ đã và đang cố xây dựng và phát triển quan
hệ hợp tác chiến lợc Nam á và châu á của mình Tháng 6 /2005 Mỹ và ấn Độ
đã ký hiệp ớc quân sự mời năm Ngày 18/7/2005 hai nớc đã đạt đợc thỏathuận hạt nhân chung, tháng 3/2006, hai nớc đạt đợc hiệp ớc về việc Mỹ sẽcung cấp công nghệ hạt nhân dân sự cho ấn Độ Những hiệp ớc và thỏa thuậnnày đã phần nào tăng cờng hơn mối quan hệ ấn - Mỹ
Tuy nhiên, trớc những diễn biến trên, Nga đã thể hiện quan điểm củamình nh sau:
Một là: Nga không quá lo lắng tới đối tác chiến lợc ấn - Mỹ
Hai là: Nga cho rằng xét về những lựa chọn chiến lợc u tiên của ấn Độcho thấy ấn Độ nghiêng về phía quan hệ chiến lợc Nga - ấn nhiều hơn, vì mối
Trang 35quan hệ này đã đợc thử thách qua thời gian ngay từ khi Liên Xô cha tan rã.Trong khi mối quan hệ của Mỹ và ấn chỉ nhằm mục đích bá quyền mà Mỹtheo đuổi mà thôi Thực tế cho thấy, quyết tâm và những nỗ lực của Tổngthống Putin nhằm thúc đẩy quan hệ chiến lợc NiuĐêli - Matxcơva trùng khớpvới quyết tâm và nỗ lực của Tổng thống Mỹ G.Bush trong việc thiết lập đối tácchiến lợc đầy ý nghĩa Mỹ - ấn Độ.
Ba là: Nga biết rõ rằng ấn Độ khó có thể phớt lờ một trung tâm quyềnlực độc lập toàn cầu tái nổi lên đang xuất hiện tại Matxcơva
Bốn là: Nga tin tởng rằng ấn Độ không có lựa chọn nào khác trong lĩnhvực an ninh năng lợng, công nghệ cao và vũ khí Do vậy, một đối tác chiến lợc
Mỹ ấn khó có thể gây tác động to lớn nên các cuộc thảo luận Nga - ấn trongchuyến thăm của Tổng thống Putin Nh vậy, sự phát triển đang lên của Liênbang Nga nh hiện nay, cũng nh chính sách đối ngoại của Nga ở khu vực châu
á - Thái Bình Dơng đang ngày càng gia tăng nhanh chóng trong con mắt củacác nhà hoạch định chính sách tại Mỹ
Mục tiêu của Mỹ là đảm bảo rằng không có sức mạnh bên ngoài nào cóthể chi phối đợc an ninh khu vực và an ninh toàn cầu Do vậy, hơn bất cứ lúcnào Mỹ muốn lợi dụng ấn Độ để hạn chế sự ảnh hởng ra bên ngoài của ấn Độ
đối với Liên bang Nga cũng nh Trung Quốc Đồng thời Mỹ muốn lợi dụng
điều này để hạn chế quan hệ Nga- ấn, từ đó kiềm chế sự phát triển và ảnh ởng của Nga ra bên ngoài
h-ấn Độ dù luôn thực hiện chính sách đối ngoại độc lập tự chủ và cũngkhông dễ gì từ bỏ nguyên tắc của mình để trở thành quân cờ trên bàn cờ chiếnlợc châu á của Mỹ, nhng rõ ràng chính sách lôi kéo của Mỹ vẫn ít nhiều ảnhhởng đáng kể đến những diễn biến sắp tới.Vì vậy đòi hỏi hai nớc phải tăng c-ờng duy trì sự gắn bó lẫn nhau hơn nữa
* Nhân tố Trung Quốc
ấn Độ là đồng minh truyền thống của Liên Xô và sau này là Nga, nớc
kế thừa vị trí của Liên Xô trong mối quan hệ quốc tế Giờ đây, với nền kinh tếphát triển liên tục ở tốc độ cao, ấn Độ đang nổi lên nh là một tác nhân khôngthể thiếu trong nền chính trị cũng nh kinh tế thế giới Trong khi đó nớc Ngathừa hởng từ Liên Xô cũ mọi mối quan hệ với các đồng minh Vị trí trong cácthể chế quốc tế cũng nh kho vũ khí khổng lồ, sở hữu nguồn dầu lửa và khí đốtkhổng lồ, nớc Nga cũng đang vơn mình trở thành một tác nhân quan trọng
Trang 36trong quan hệ quốc tế Chính vì vậy, cả ấn Độ và Nga đều coi nhau nh lànhững đối tác tự nhiên, đối tác u tiên hành đầu trong chiến lợc quốc tế của hainớc.
Trong Chiến tranh lạnh, cả Trung Quốc và ấn Độ đều có yêu cầu dựavào Liên Xô, tập hợp lực lợng á - Phi và thi hành chính sách chống chủ nghĩa
đế quốc để bảo vệ độc lập, chủ quyền, xây dựng kinh tế và tăng cờng vị trí, vaitrò của mình trên trờng quốc tế
Trong những năm đầu sau giải phóng, sự hợp tác chặt chẽ với Liên Xô
đã đem lại cho Trung Quốc và ấn Độ những lợi ích to lớn và thiết thực TrungQuốc đã nhận đợc sự giúp đỡ hiệu quả của Liên Xô trong bớc đờng côngnghiệp hóa và củng cố quốc phòng của mình Mặc khác, Liên Xô và ấn Độ
đều cùng có mối lo ngại đến từ Trung Quốc và Mỹ Bên cạnh đó Trung Quốccũng nhận đợc sự giúp đỡ của Liên Xô nhng luôn tìm cách hạ thấp Liên Xô,cho rằng Liên Xô tiếp tay cho ấn Độ chống lại Trung Quốc và Trung Quốc sẽ
có cớ để tách khỏi Liên Xô
Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, một tam giác Nga - Trung - ấn đãmanh nha hình thành nhng dờng nh mối quan hệ tay ba này vẫn cha vợt qua
đuợc cái bóng của quá khứ và cả những nghi kỵ của hiện tại và tơng lai
Gần đây, Trung Quốc đang trong thời kỳ trỗi dậy dù là hòa bình chắcchắn sẽ thách thức vai trò và ảnh hởng của ấn Độ và Nga ở khu vực Trung ánhiều tiềm năng về năng lợng và cũng là một trong những địa bàn chiến lợcquan trọng nhất của lục địa Âu - á
Trong suốt thập kỷ 60 đầu thế kỷ 70, Trung Quốc - ấn Độ duy trì chínhsách đối đầu nhau, và Trung Quốc cũng không khuất phục đợc ấn Độ với sự
ảnh hởng của Liên Xô, nên cuối thập niên 70, Trung Quốc đi vào bình thờnghóa quan hệ với ấn Độ
Với những nỗ lực về ngoại giao mà các nhà lãnh đạo Trung Quốc thựchiện góp phần nhằm mục đích cải thiện quan hệ Trung - ấn ngày càng tốt đẹphơn trong tuơng lai Bằng chứng thể hiện mối quan hệ này là các chuyến thămcủa hai nớc này thờng xuyên gặp gỡ và trao đổi ý kiến để thúc đẩy mối quan
hệ hợp tác phát triển ví nh, năm 1987, Trung Quốc đón Thủ ớng ấn ĐộR.Gandhi sang thăm hữu nghị, đây đợc xem là chuyến thăm “Quan hệphá băng” trongquan hệ hai nớc 1991, Thủ tớng Trung Quốc Lý Bằng sang thăm ấn Độ Hai
Trang 37bên đã ký hiệp định về xây dựng biện pháp tin cậy trong lĩnh vực quân sự tạikhu vực kiểm soát thực tế trên tuyến biên giới Trung - ấn
Có thể nói Trung Quốc luôn cố gắng cùng ấn Độ giải quyết ổn thỏatừng vấn đề trên cơ sở hòa bình, hợp tác cùng phát triển Vì vậy, hình ảnh ấn
Độ trong con mắt của Trung Quốc những năm gần đây đang ngày càng thay
đổi theo chiều hớng tốt đẹp hơn Dù Trung Quốc và ấn Độ đều còn có nhữngtrở ngại, bất đồng và còn chính sách kiềm chế nhau nhằm khẳng định u thế vềvai trò và vị trí của mình trên trờng quốc tế
Trong xu thế hội nhập hợp tác cùng phát triển, quan hệ Trung - ấn xíchlại gần nhau cũng là điều dễ hiểu, vì họ đều là hai nớc có nhiều điểm tơng
đồng về văn hóa, vị trí chiến lợc ở khu vực châu á - Thái Bình Dơng Nhngcũng không vì thế mà ấn Độ lạnh nhạt, hay xa lánh đối với Nga, một ngời bạnquan trọng trong quá khứ và hiện tại của ấn Độ Vả lại hình ảnh của nớc Ngabây giờ đang là điểm thu hút đối với ấn Độ
Tuy nhiên để khẳng định vị trí của mình nớc Nga luôn thực hiện chínhsách đối ngoại với nhiều quốc gia, nh Trung Quốc, Nhât Bản trong đó Ngaluôn coi trọng Trung Quốc, qua đó để Trung Quốc thấy rằng dù giành cho ấn
Độ nhiều sự u đãi nhng Nga vẫn không thiên về một nớc nào mà hợp tác vớitất cả các nớc ở khu vực châu á Mặc khác có thể hạn chế ảnh hởng TrungQuốc đối với ấn Độ, bởi lúc này vị trí của Trung Quốc không chỉ cạnh tranhvới Nga mà còn có thể cạnh tranh với Mỹ
Nh vậy đối với Mỹ và Trung Quốc, những nớc trớc đây ấn Độ từng cómối quan hệ không suôn sẻ, ấn Độ phải có những sự chú ý đặc biệt TrungQuốc từ một nớc thù địch trở thành một đối tác chiến lợc của ấn Độ Còn Mỹnớc có mối quan hệ rắc rối với ấn Độ trong 5 thập kỷ, nay ấn Độ đã có mốiquan hệ đối tác chiến lợc Đây là cơ sở để ấn Độ không chỉ chia sẻ giá trị nhdân chủ và quy định về pháp luật, mà còn chia sẻ những quyền lợi chung nhtiếp cận nguồn năng lợng, chống khủng bố quốc tế và buôn lậu ma túy, vũ khí.một mối quan hệ chặt chẽ với Mỹ không chỉ là vấn đề sự lựa chọn, mà còn là
sự cần thiết đối với ấn Độ
Trong khi đó, quan hệ Nga - ấn không hề có khúc mắc cả trên các lĩnhvực chính trị và chiến lợc Hơn thế nữa giữa hai nớc dờng nh có một sự tin t-ởng lẫn nhau bền vững nh nhận xét của tờ Vơremia Novosittes.cho rằng: chỉvới sự tin tởng lẫn nhau thì cha đủ để hai nớc đa mối quan hệ truyền thống
Trang 38tiến thêm một bớc nữa Chính hợp tác kinh tế giữa hai nền kinh tế đang nổi lêngiờ đây đang là chất keo gắn làm cho liên minh cũ càng trở nên sống động.
* Nhân tố Pakixtan
Năm 1947, ấn Độ bị chia thành hai quốc gia là ấn Độ và Pakixtan, mốibất hòa của hai quốc gia này diễn ra từ đó và chủ yếu xoay quanh vùng đấtCasơmia Vấn đề Casơmia nóng bỏng đã dẫn đến những cuộc chiến tranhtrong lịch sử giữa hai nớc vào năm 1947, 1948, 1965 và 1971 ấn Độ cho rằngPakixtan luôn là thách thức lớn nhất đối với địa vị của ấn Độ, thông qua ph-
ơng thức liên minh với các lực lợng khủng bố “Quan hệthánh chiến” nhằm làm “Quan hệchảymáu” ấn Độ thông qua hàng nghìn vết cắt, và Pakixtan đã mở rộng ảnh hởngcủa mình tới các nớc láng giềng nh Bănglađet và Nêpan, thiết lập căn cứ chocác nhóm chủ trơng ly khai với mục đích muốn sánh ngang với ấn Độ
Từ đầu những năm 1990 đến nay hai nớc đã có những bớc đi quan trọng
để giải quyết tranh chấp, tuy nhiên một giải pháp làm hài lòng cả hai bên vẫn
đang còn nằm ở phía trớc Các vụ đánh bom do các phần tử ly khai thực hiệnvẫn thờng xuyên diễn ra ở vùng đất Casơmia do ấn Độ kiểm soát về phầnmình, ấn Độ thờng tố cáo Pakixtan ngầm ủng hộ các lực lợng ly khai này
Những năm gần đây Nga luôn ủng hộ nỗ lực bình thờng hóa quan hệgiữa ấn Độ và Pakixtan Ngày 4/12/2002 Thủ tớng ấn Độ A.Tanvagiơ Pai vàTổng thống Nga Putin cùng kêu gọi Pakixtan chấm dứt việc ủng hộ nhữngphần tử Hồi giáo vũ trang gây bạo lực tại phần lãnh thổ Casơmia thuộc ấn Độ.Hai nhà lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc Ixlama bat thực hiện
đầy đủ những nghĩa vụ và cam kết của mình chấm dứt sự thâm nhập của cácphần tử Hồi giáo vũ trang từ lãnh thổ Pakixtan sang đất ấn Độ Tổng thống
Nga và Thủ tớng ấn Độ cũng kêu gọi Pakixtan “Quan hệphá hủy cơ sở hạ tầng của
bọn khủng bố trên đất Pakixtan coi đó là điều kiện để nối lại thơng lợng giữa
ấn Độ và Pakixtan nhằm giải quyết những vấn đề tồn tại trong khuôn khổ song phơng” [68, tr2] Tiếp đó, 15/6/2003, Bộ trởng Ngoại giao Nga Ivanốp
đến ấn Độ mở đầu chuyến thăm ấn Độ hai ngày
Trên tinh thần đó, ngoại trởng Nga có cuộc gặp với các nhà lãnh đạo ấn
Độ, để bàn về các vấn đề song phơng và khu vực đặc biệt là mối quan hệ ấn
Độ và Pakixtan, cũng nh cuộc chiến chống khủng bố và tình hình Irắc Nhngtrớc đó ngoại trởng Nga đến thăm Pakixtan và phát biểu tại cuộc họp báochung 15/6 sau khi hội đàm cùng với bộ trởng ngoại giao Pakixtan
Trang 39Khurasítmát M tcaxuri ðtcaxuri ở Ixlamabát ngoại trởng ngoại giao Nga Ivanốp nêu
rõ Nga hoan nghênh và hoàn toàn ủng hộ những nỗ lực hòa bình của ấn Độ vàPakixtan nhằm bình thờng hóa quan hệ hai nớc
Hai bên đã trao đổi quan điểm về một loạt vấn đề nh tăng cờng hợp táctrong các lĩnh vực kinh tế, thơng mại giữa Nga - Pakixtan, những diễn biếnquan trọng của tình hình khu vực và Trung Quốc Nhân dịp này ngoại trởngNga Ivanốp đã có cuộc hội đàm riêng lẻ với tổng thống Pakixtan Pêvết mu-sa-ráp và Thủ tớng Dapharuca Gia-mali Ông hoan nghênh nỗ lực củaPakixtan nhằm cắt giảm các hoạt động khủng bố trên lãnh thổ nớc này trongkhi gọi nạn khủng bố là một hiện tợng quốc tế đe dọa cả Nga và Pakixtan
Tóm lại, với nỗ lực của Nga nhằm giúp ấn Độ và Pakixtan bình thờnghóa quan hệ, chuyển từ quan hệ đối đầu, căng thẳng sang đối tác, thân thiện.Tuy nhiên giải quyết vấn đề trên không phải một sớm một chiều mà cả mộtgiai đoạn dài, cả ấn Độ và Nga đều phải nỗ lực hơn nữa
* Tiểu kết
Sau khi Liên Xô tan rã, Nga và ấn Độ đều ra sức củng cố và phát triển
đất nớc theo con đờng mà mình đã chọn nhằm nâng cao vị thế của mình và hộinhập vào khu vực và quốc tế Để thực hiện mục tiêu đó, thì việc đầu tiên là tạo
ra đợc môi trờng hòa bình, ổn định trong nớc cũng nh trong khu vực và trênthế giới là yêu cầu quan trọng đối với hai quốc gia này
Liên bang Nga và ấn Độ là hai nớc ở hai khu vực khác nhau đang trongthời kỳ trỗi dậy mạnh mẽ, một là “Quan hệcon gấu” và kia là “Quan hệcon voi” ở khu vực Âu -
á Nhng hai nớc có nhiều điểm chung, có dân số đa chủng tộc chung sốngtrong một chỉnh thể liên bang, có nền kinh tế năng động, có sức tăng nhanh vànhu cầu giống nhau, lại phải đối phó những nhiệm vụ tơng tự trong thế kỷXXI Vì thế họ tìm đến với nhau để xây dựng nền tảng cho các mối quan hệsau này Với những điểm trên tạo ra một nền tảng hợp tác vững chắc trongquan hệ Nga - ấn và đợc Matxcơva coi là một trong những u tiên đối ngoạihàng đầu
Việc xây dựng và phát triển mối quan hệ song phơng Nga - ấn luôn làmột trong những nhiệm vụ trọng tâm của chính quyền và nhân dân hai nớc
đảm bảo cho mục tiêu hòa bình ổn định của hai dân tộc nói riêng và khu vực
á - Âu nói chung Hai nớc Nga - ấn đã và đang vun đắp cho mối quan hệtruyền thống trong quá khứ này ngày một vững bền hơn Sau gần 60 năm kể từ
Trang 40khi thiết lập mối quan hệ ngoại giao (1950) thời kỳ Liên Xô mà ngày nay làLiên bang Nga, mối quan hệ Nga - ấn đã trải qua nhiều thử thách, lúc thănglúc trầm đặc biệt thời kỳ sau khi Liên Xô sụp đổ, đây nh là một cú sốc lớn đốivới Công hòa ấn Độ Ngoài ra còn có nhiều nhân tố khác Trong đó mỗi nhân
tố đều có một vai trò và vị trí riêng, tác động ở các mức độ khác nhau vàochiều hớng vận động và phát triển của mối quan hệ này
Có thể nói, những chính sách đối ngoại mà hai nớc thực hiện từ sauChiến tranh lạnh là nhân tố quyết định đến mối quan hệ song phơng Bên cạnh
đó, sự tác động mạnh mẽ của các nhân tố quốc tế, nhất là tình hình thế giớisau Chiến tranh lạnh cũng là nhân tố bên ngoài có ảnh hởng rất lớn đến chiềuhớng phát triển của mối quan hệ truyền thống này
Tìm hiểu những nhân tố tác động đến mối quan hệ Nga - ấn là cơ sởquan trọng và cần thiết giúp chúng ta lý giải những chủ trơng, chính sách thực
tế mà hai nớc đã thi hành trong việc giải quyết mối quan hệ song phơng đồngthời, nó giúp ngời đọc có cái nhìn tổng quan hơn về thực trạng mối quan hệ
đồng minh tự nhiên này