Bên cạnh các tác phẩm đã đợc in thành sách, quá trình xây dựng và phát triển của Trờng Đại học S phạm Vinh và sau này là Trờng Đại học Vinh cũng đã đợc đề cập trongcác báo cáo, văn kiện
Trang 1trờng đại học Vinh khoa lịch sử -
trần thị tâm
Quá trình xây dựng và phát triển của
trờng đại học s phạm vinh 1973 - 2001
khoá luận tốt nghiệp
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
số 62/2001/QĐ - TTg đổi tên Trờng Đại học S phạm Vinh thành Trờng Đại họcVinh Trờng có nhiệm vụ đào tạo giáo viên có trình độ đại học và trên đại học,từng bớc mở thêm các ngành đào tạo khác phù hợp với khả năng của trờng và
Trang 2nhu cầu nhân lực của xã hội, nghiên cứu khoa học phục vụ phát triển kinh tế –xã hội.
Trải qua 50 năm xây dựng và trởng thành, từ một Phân hiệu Đại học Sphạm Vinh trong buổi đầu, đến nay trờng đã phát triển thành một trờng đại học
đa ngành lớn, một địa chỉ đào tạo và nghiên cứu khoa học có uy tín không chỉ ởtrong nớc mà còn đối với quốc tế Để có đợc vị thế đó, tập thể thầy và trò nhà tr-ờng đã luôn cố gắng nỗ lực không ngừng, vợt bao khó khăn gian khổ, từ những
ngày sơ tán “cõng trờng trên lng” đến những năm tháng trở về Vinh xây dựng lại
trờng từ trong đổ nát chiến tranh và sau đó là vợt qua những thử thách của đất
n-ớc trong thời kỳ đổi mới 50 năm qua, dù phải trải qua bao thăng trầm, biến động,
dù trong hoàn cảnh nào thì nhà trờng vẫn luôn đặt mục tiêu đào tạo lên hàng đầu,chú trọng chất lợng và hiệu quả để đào tạo nhân lực, bồi dỡng nhân tài, xứng
đáng là “ngọn cờ hồng trên quê hơng Xô Viết” Thành quả hôm nay của trờng là
kết quả của quá trình vơn lên lâu dài, vợt khó vợt khổ của biết bao thế hệ cán bộcông chức và học sinh, sinh viên nhà trờng, đặc biệt là trong giai đoạn 1973 –
2005 – thời điểm từ khi trờng trở về Vinh sau thời kỳ sơ tán đến khi đổi tênthành Trờng Đại học Vinh
Cùng với xu thế hội nhập và phát triển hiện nay, Trờng Đại học Vinh đã và
đang phấn đấu hết mình để trở thành một trờng trọng điểm của không chỉ khuvực Bắc miền Trung mà còn đối với cả nớc Công cuộc đó thành công hay khôngphụ thuộc một phần rất lớn vào sự quyết tâm, nỗ lực của tập thể thầy và trò nhàtrờng Vì vậy, việc nghiên cứu quá trình xây dựng và phát triển của Trờng Đạihọc S phạm Vinh từ 1973 đến 2001, ngoài phơng diện nhìn lịch sử để thấy hiệntại còn cung cấp cho chúng tôi một cách nhìn tổng quan sâu sắc, toàn diện về quátrình xây dựng và phát triển của trờng cùng với vị trí, vai trò của Trờng Đại học
S phạm Vinh trong bối cảnh đất nớc lúc ấy Đồng thời, từ việc nghiên cứu này,chúng tôi sẽ khảo sát các vấn đề có liên quan và sẽ thấy đợc nhiều vấn đề quantrọng nh: những bớc đi chiến lợc của nhà trờng trong từng thời kỳ, những quyếtsách đúng đắn, kịp thời của trờng trớc những khó khăn thử thách… từ đó giúp từ đó giúpcho chúng tôi có một kiến thức vững vàng hơn về lịch sử của mái trờng thân yêucủa mình và cũng qua đó rút ra đợc những bài học kinh nghiệm quý báu cho bảnthân để vận dụng vào thực tiễn
Nh vậy, việc nghiên cứu quá trình xây dựng và phát triển của Trờng Đạihọc S phạm Vinh, đánh giá về vị trí và vai trò của quãng thời gian trờng mang tên
Đại học S phạm Vinh đối với vị thế hôm nay của Trờng Đại học Vinh là một việclàm cần thiết Bằng tình cảm thiết tha đối với mái trờng đã gắn bó suốt cuộc đời
Trang 3sinh viên và trên tinh thần nghiên cứu khoa học nghiêm túc, chúng tôi mạnh dạn
chọn đề tài: Quá trình xây dựng và phát triển của Tr“ ờng Đại học S phạm Vinh từ 1973 đến 2001 ” làm khóa luận tốt nghiệp đại học của mình
2 Lịch sử vấn đề
Trờng Đại học Vinh là một trờng đại học lớn, có bề dày lịch sử nhiều năm,
do đó việc nghiên cứu về quá trình lịch sử của trờng cũng đã đợc xem xét và đềcập dới nhiều góc độ khác nhau:
Tháng 10 - 1999, nhân dịp chào mừng Đại học S phạm Vinh tròn 40 tuổi(1959 - 1999), Ban thờng vụ Đảng ủy và Ban giám hiệu nhà trờng đã chủ trơng
biên soạn cuốn "Đại học S phạm Vinh - 40 năm xây dựng và phát triển" Tới
tháng 4 - 2001, nhân sự kiện quan trọng Thủ tớng Chính phủ ký Quyết định đổitên Trờng Đại học S phạm Vinh thành Trờng Đại học Vinh, Ban nghiên cứu lịch
sử của trờng cũng đã tổ chức biên soạn cuốn "Từ Trờng Đại học S phạm Vinh
đến Trờng Đại học Vinh - những chặng đờng phát triển" Năm 2004, nhân dịp kỷ
niệm 45 năm ngày thành lập trờng, lãnh đạo nhà trờng cũng đã quyết định xuất
bản tập tài liệu "Trờng Đại học Vinh - 45 năm xây dựng và phát triển" Bên cạnh
các tác phẩm đã đợc in thành sách, quá trình xây dựng và phát triển của Trờng
Đại học S phạm Vinh và sau này là Trờng Đại học Vinh cũng đã đợc đề cập trongcác báo cáo, văn kiện của Đại hội Đảng bộ nhà trờng và báo cáo của các phòngban trong 50 năm qua
Dới góc độ nghiên cứu khoa học, từ trớc tới nay mới chỉ có một khoá luận
tốt nghiệp đại học nghiên cứu về “Đảng bộ Trờng Đại học Vinh – quá trình phấn đấu và trởng thành (1959 – 2005)” của sinh viên Nguyễn Văn Sô khoá43B (năm 2006) cũng đã đề cập đến quá trình phát triển của trờng trong 47 năm(1959 - 2005)
Tuy nhiên, các tài liệu trên mới chỉ ghi lại một cách tơng đối về nhữngmảng những sự kiện chính trong tiến trình xây dựng và phát triển của trờng kể từkhi thành lập đến nay, cha có tài liệu nào đi sâu nghiên cứu quá trình phát triểncủa trờng trong một giai đoạn cụ thể trong tiến trình phát triển của trờng suốt 50năm qua, đặc biệt là thời kỳ từ 1973 đến 2001 Vì vậy, quá trình phát triển củaTrờng Đại học S phạm Vinh từ 1973 đến 2001 là một vấn đề đang cần tiếp tục đ-
ợc đầu t nghiên cứu thoả đáng
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tợng nghiên cứu
Đề tài xác định đối tợng nghiên cứu là những hoạt động của Trờng Đại học
S phạm Vinh trên các mặt: cơ cấu tổ chức, quan điểm chỉ đạo, quá trình thực
Trang 4hiện, kết quả, thành tựu thu đợc qua từng giai đoạn phát triển, từ đó rút ra một sốnhận xét, đánh giá về quá trình xây dựng và phát triển của Trờng Đại học S phạmVinh qua các giai đoạn, thời kỳ.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian: từ tháng 5/1973, khi Trờng Đại học S phạm Vinh trở về thành
phố Vinh sau thời kỳ sơ tán cho đến ngày 25/4/2001, khi Thủ tớng Chính phủ raQuyết định số 62/2001/QĐ/TTg đổi tên Trờng Đại học S phạm Vinh thành Trờng
Đại học Vinh
Những vấn đề nằm ngoài khung thời gian trên không thuộc phạm vi nghiêncứu của đề tài
- Không gian: ngoài việc đề cập đến địa điểm chủ yếu của trờng trong thời
gian 1973 - 2001 là thành phố Vinh, chúng tôi còn nghiên cứu một số sự kiện,
địa danh khác có ý nghĩa thực tiễn phục vụ cho công tác nghiên cứu
4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tài liệu
Để phục vụ cho khóa luận tốt nghiệp này, chúng tôi dựa trên nhiều nguồn
t liệu khác nhau nh sách báo, tài liệu (báo cáo, nghị quyết các kỳ đại hội Đảng bộtrờng, các số liệu thống kê lu trữ của các phòng ban ), các công trình nghiên cứucủa những thế hệ sinh viên đi trớc
4.2 Phơng pháp nghiên cứu
- Cơ sở phơng pháp luận của khóa luận là lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, ttởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tácnghiên cứu khoa học
- Phơng pháp nghiên cứu: để thực hiện đề tài này, tác giả đã sử dụng cácphơng pháp chủ yếu của khoa học lịch sử là phơng pháp logic và phơng pháp lịch
sử để tái hiện quá khứ đúng nh nó đã tồn tại, thấy đợc quá trình phấn đấu và pháttriển của Trờng Đại học S phạm Vinh, đồng thời nhằm rút ra những đánh giá, kếtluận khoa học đúng đắn, khách quan
Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử dụng các phơng pháp liên ngành khác nh sosánh, tổng hợp, khái quát hóa để giải quyết nhiệm vụ đề tài đã đặt ra
5 Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung
chính của khóa luận đợc trình bày trong 3 chơng:
Chơng 1: Khái quát Trờng Đại học S phạm Vinh trớc năm 1973.
Chơng 2: Quá trình xây dựng và phát triển của Trờng Đại học S phạm
Vinh thời kỳ 1973 - 1990
Trang 5Chơng 3: Quá trình phát triển từ Trờng Đại học S phạm Vinh thành Trờng
Đại học Vinh đa ngành
Nội dung
Chơng 1 khái quát trờng đại học s phạm vinh
trớc năm 1973
1.1 Điều kiện tự nhiên - xã hội của vùng đất Nghệ An
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Với diện tích 16 487,29km2, Nghệ An là tỉnh dẫn đầu trong số các địa
ph-ơng thuộc vùng Bắc Trung Bộ và là một trong những tỉnh lớn nhất nớc ta, chiếm5% diện tích cả nớc Dân số 2 858 265 ngời, chiếm 3,74% dân số Việt Nam.(1/4/1999) [37, 86]
Địa giới tự nhiên Nghệ An nằm trong toạ độ từ 18035’ vĩ độ Bắc đến
20000’10” vĩ độ Bắc và từ 103050’25” kinh độ Đông đến 105040’30” kinh độ
Đông Phía Bắc tiếp giáp với tỉnh Thanh Hoá ở địa giới huyện Quỳnh Lu vàhuyện Tĩnh Gia; Phía Nam giáp với tỉnh Hà Tĩnh; Phía Đông tiếp giáp Biển
Đông, với tuyến đờng biển kéo dài từ Quỳnh Lu đến Diễn Châu, Nghi Lộc, Cửa
Lò dài 92km; Phía Tây giáp các tỉnh Xiêng Khoảng, Bôlikhămxay, Hủaphănthuộc nớc CHDCND Lào, với đờng biên giới dài 419 km [1, 9]
Nghệ An có một địa hình rất đa dạng – kết quả của quá trình lịch sử kiếntạo lâu dài và phức tạp, với dạng địa hình chủ yếu là đồi núi và trung du Nghệ
An cũng là tỉnh có nguồn tài nguyên thiên nhiên hết sức phong phú, đợc xếp vàodanh sách các tỉnh có nhiều loại khoáng sản nhất cả nớc Than đá ở Khe Bố (ConCuông), đá đỏ (rubi), thiếc, đá trắng ở Quỳ Hợp, Quỳ Châu Đất sét trắng, đất sétmịn có mặt ở nhiều nơi là nguyên liệu để sản xuất gạch ngói, gốm sứ Đặc biệt,
đá vôi có trữ lợng rất lớn (khoảng 250 triệu m3), phân bố rải rác ở nhiều nơi trongtỉnh, nhất là ở Quỳnh Lu, Anh Sơn Đây là nguồn nguyên liệu dồi dào cho cáccông trình xây dựng, làm đờng sá, sản xuất ximăng, vôi… từ đó giúp
Nghệ An là tỉnh đứng thứ 2 cả nớc về diện tích rừng với 684,4 nghìn ha(1999) Trong rừng có nhiều loại gỗ và động vật quý hiếm của rừng nhiệt đới vàcận nhiệt đới, phân bố chủ yếu ở vùng núi phía Tây Bên cạnh các khu rừng đặcchủng nh quế, thông, bạch đàn với hàng ngàn ha mỗi loại, đáng lu ý là ở Nghệ
An còn có các cánh rừng nguyên sinh nh Pù Mát, Pù Hoạt thuộc các huyện ConCuông, Tơng Dơng, là nơi c trú của các loại động vật rất quý hiếm nh mang lớn,gấu ngựa, cầy vằn, sao la, sóc bay… từ đó giúp[1, 11]
Trang 6Nghệ An có đờng bờ biển dài 92km, với nhiều của lạch: lạch Cờn, lạchQuèn, lạch Thơi, lạch Vạn, Cửa Lò, Cửa Hội… từ đó giúp Biển đáy nông, tơng đối bằngphẳng Độ mặn trung bình 3,4 – 3,5%, mang lại sản lợng muối cao trong mùanắng hạn Nhiệt độ trung bình trên mặt biển 20 – 25 0C [1, 11] Tài nguyên sinhvật biển của Nghệ An khá đa dạng, ở vùng biển có 207 loài cá, 20 loài tôm cùngnhiều nguồn lợi sinh vật khác [37, 77] Đây là nguồn tài nguyên có giá trị quantrọng đối với việc phát triển các ngành kinh tế biển Ngoài ra, biển Nghệ An còn
đợc biết đến bởi tiềm năng du lịch hấp dẫn với nhiều bãi tắm sạch đẹp nh bãibiển Cửa Lò, bãi biển Nghi Thiết, bãi Lữ… từ đó giúp thu hút nhiều du khách trong vàngoài nớc
Về sông ngòi, Nghệ An có dòng sông Lam hiền hoà, lớn thứ 3 cả nớc (dài523km, phần chảy qua Nghệ An dài 375km), gồm hơn 151 nhánh sông lớn nhỏchảy từ Lào men theo dãy Trờng Sơn rồi tìm đờng đổ ra Biển Đông Trải quahàng triệu năm bồi đắp, sông Lam đã tạo ra một hệ thống bãi bồi ven sông và cảnhững cánh đồng màu mỡ dọc đôi bờ tả - hữu ngạn thuộc địa bàn 2 tỉnh Nghệ An– Hà Tĩnh Từ xa đến nay, cộng đồng c dân Xứ Nghệ đã sử dụng hệ thống sôngLam vào việc phát triển giao thông đờng thuỷ nối liền nhiều huyện, thành, vùng,miền, vận chuyển bè mảng, tàu thuyền, cung cấp nớc tới và nớc sinh hoạt chonhân dân trong vùng Ngoài ra, đây còn là điều kiện quan trọng để hình thànhnên các cảng sông lớn của vùng
Nghệ An còn có vị trí địa lí rất quan trọng, là địa điểm yết hầu trên con ờng Bắc – Nam Là một tỉnh địa đầu của miền Trung, Nghệ An có thể thông th-
đ-ơng giao lu với các tỉnh trong nớc và với bạn bè quốc tế bằng tất cả các loại hìnhgiao thông với chất lợng ngày càng đợc cải thiện
Ngoài những mặt thuận lợi, Nghệ An cũng phải gặp phải nhiều khó khăn
nh khí hậu khắc nghiệt, thuỷ chế phức tạp và phải hứng chịu nhiều thiên tai nhgió Tây Nam nóng bức về mùa hè, hạn hán, bão lũ… từ đó giúp Đặc biệt, do bắt nguồn từvùng núi cao, dòng chảy của sông Lam có lu tốc lớn, nhiều thác ghềnh, nhất là vềmùa ma lũ việc đi lại trên sông hết sức khó khăn Với lu lợng nớc quá lớn, sôngLam đã gây ra không biết bao nhiêu hiểm họa cho các thế hệ c dân sống vensông trong mùa ma bão Sự nghiệt ngã, khắc khổ của vùng đất này đã đợc các
nhà nghiên cứu ngoại quốc nh Giăng La - cu - tuya nhận định: Không“ có nơi
đâu đẹp hơn nhng cũng không có nơi đâu ác nghiệt hơn thiên nhiên ở nơi này ”
Còn Lăng - đơ thì viết: Nghệ Tĩnh dân chúng say s“ a lao động và cam chịu trớc
sự bạc bẽo của đất đai mà nó phải nuôi mình”[34, 27] Nhng cũng chính sự khắc
Trang 7nghiệt ấy đã rèn luyện cho ngời dân xứ Nghệ lòng can đảm và tính gắn bó, cố kếtcộng đồng rất bền chặt.
Về mặt hành chính, địa danh Nghệ An bắt đầu từ thời Lý Năm ThôngThụy thứ 3 (1036), Lý Thái Tông đã cho đổi Hoan Châu thành châu Nghệ An.Cùng với dòng chảy của lịch sử, cơ cấu hành chính và địa giới của Nghệ An đã
có thay đổi ít nhiều, có một thời gian từ 1976 đến 1991 sát nhập với tỉnh Hà Tĩnhthành tỉnh Nghệ Tĩnh [1, 14]
Hiện nay, Nghệ An có một thành phố loại 1 (thành phố Vinh), 2 thị xã(Thái Hoà, Cửa Lò) và 17 huyện Thành phố Vinh vừa là tỉnh lị, vừa là trung tâmkinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của cả tỉnh và đang phấn đấu trở thành trungtâm kinh tế, văn hoá của cả khu vực Bắc miền Trung
Những yếu tố về điều kiện tự nhiên nêu trên là cơ sở, nền tảng hình thànhnên cốt cách và con ngời xứ Nghệ trong suốt hàng ngàn năm lịch sử và là điềukiện thuận lợi cho sự phát triển của Trờng Đại học S phạm Vinh
1.1.2 Điều kiện xã hội
Việc nghiên cứu các di chỉ khảo cổ học trên đất Nghệ An đã chứng minhrằng Nghệ An là một tỉnh có bề dày về lịch sử và văn hoá, là một trong những cáinôi đầu tiên của ngời Việt cổ Sau khi phát hiện di chỉ Thẩm ồm (Châu Thuận,Quỳ Châu), giới sử học Việt Nam đã khẳng định rằng trên đất Nghệ An đã có ngờivợn cổ c trú cách đây khoảng 20 vạn năm Ngoài ra các di chỉ khảo cổ khác cũngchứng tỏ ngời nguyên thuỷ đã nhờ lao động mà tiến triển từ nền văn hoá này sangnền văn hoá khác tiến bộ hơn, nh văn hoá Sơn Vi (di chỉ đồi Dùng và đồi Rạng -Thanh Chơng), văn hoá Hoà Bình (di chỉ Thẩm Hoi – Con Cuông, Hang Chùa –Tân Kì), văn hoá Quỳnh Văn (di chỉ Quỳnh Văn – Quỳnh Lu), văn hoá Đông Sơn(di chỉ Làng Vạc – Nghĩa Đàn)… từ đó giúp [1, 16]
C dân Nghệ An là một khối cộng đồng đa dân tộc Trải qua bao thời kỳcộng c, thiên di và biến đổi, đến nay dân số cả tỉnh đạt 2 858 265 ngời, đứng thứ
3 trong số 61 tỉnh thành của cả nớc [37, 86] Trong đó dân tộc Kinh là đông đúcnhất, chiếm 2 585 550 ngời, bằng 82% dân số toàn tỉnh Tiếp theo là dân tộc Tháivới 281 415 ngời, chiếm 74% c dân thiểu số trong tỉnh, sinh sống hầu khắp cáchuyện miền núi Tây Nghệ An Ngoài ra còn có dân tộc Thổ với 62 526 ngời c trútại các huyện Nghĩa Đàn, Tân Kì, Quỳ Hợp… từ đó giúpdân tộc Khơmú gồm 30 527 ngờisinh sống chủ yếu tại Kì Sơn, Tơng Dơng, Quế Phong… từ đó giúpcùng với các dân tộcH’mông, Ơđu, Đan Lai, Tàypoọng… từ đó giúplàm nên tính đa dạng của dân c trong vùng[34, 18 – 19] Trong tiến trình phát triển, c dân các dân tộc của Nghệ An luôn
Trang 8nêu cao tinh thần đoàn kết, tơng thân tơng ái trong cuộc sống cũng nh trong côngcuộc chinh phục tự nhiên và đấu tranh chống kẻ thù xâm lợc.
Nghệ An là mảnh đất có bề dày về truyền thống yêu nớc và cách mạng rất
vẻ vang và đáng tự hào Theo dòng lịch sử, nhân dân Nghệ An đã cùng nhân dâncả nớc viết nên những trang sử hào hùng của dân tộc Việt Nam Trên quê hơngNghệ An, mỗi tên đất, tên làng đều gắn với những chiến công vang dội của chủnghĩa anh hùng cách mạng Đó là núi Mộ Dạ gắn với Thục Phán An Dơng Vơng,
là núi Đụn Sơn trong khởi nghĩa Mai Thúc Loan, một Nghĩa Liệt Sơn có chùa An
Quốc khắc sâu khí phách Nguyễn Biểu, những Bồ Đằng, Trà Lân đi vào “Bình
Ngô đại cáo”, một Dũng Quyết Sơn gắn với anh hùng “áo vải cờ đào” Nguyễn
Huệ – Quang Trung… từ đó giúp Biết bao danh nhân đã đợc sinh ra trên mảnh đất HồngLam văn vật ấy, và chính họ lại đã là những ngời tô thắm thêm truyền thống cách
mạng, truyền thống yêu nớc nồng nàn của miền quê này
Trong hơn ngàn năm Bắc thuộc, nhân dân ở đây đã tích cực tham gia nhiềucuộc đấu tranh chống bọn thống trị ngoại bang, giành lại độc lập dân tộc Với tinhthần quả cảm, hy sinh thân mình vì đại nghĩa, lớp lớp ngời dân xứ Nghệ đã tham giavào cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trng vào mùa xuân năm 40, khởi nghĩa Bà Triệunăm 248, khởi nghĩa Lí Bí năm 542… từ đó giúp Vào thế kỷ VIII, Mai Thúc Loan lãnh đạonhân dân Hoan Diễn vùng dậy khởi nghĩa chống ách cai trị tàn bạo của nhà Đờng.Khởi nghĩa thành công, Mai Thúc Loan xng Đế, tục truyền gọi là Mai Hắc Đế.Thành Vạn An trở thành quốc đô trong thời điểm ấy
Trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, trai tráng xứ Nghệ luôn luôn
là nguồn nhân lực tin cậy của các triều đại mỗi khi đất nớc có giặc Nhà Lý dựa
vào dân cày xứ Nghệ để thực hiện chính sách “ngụ binh nông” qua việc mở trại
Định Phiên Thời Trần, khi cả dân tộc đang dốc sức kháng chiến chống Mông –
Nguyên, vào những ngày nguy hiểm khủng hoảng nhất trong vận mệnh n“ ớc nhà , khi kết cục một chiến dịch quyết định còn ngập ngừng trên cán cân lực l- ợng, một nhà vua anh dũng vẫn đặt tất cả tin tởng vào đội quân hậu bị của Nghệ Tĩnh
– (Đặng Thai Mai) [34, 28] Trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418 –
1428), theo lời quan Thiếu uý Nguyễn Chích: Nghệ An là nơi hiểm yếu, đất“
rộng, ngời nhiều, nay ta vào hãy lấy Trà Long (phủ Tơng Dơng) rồi hạ thành Nghệ An để làm chỗ trú chân đã, nhiên hậu sẽ quay trở ra đánh lấy Đông Đô,
nh vậy thiên hạ có thể bình đợc” (Trần Trọng Kim) [34, 28], Lê Lợi đã quyết
định chọn Nghệ An làm đất đứng chân để chống quân Minh, làm nên những
chiến công vang dội “Trận Bồ Đằng sấm vang chớp giật – Miền Trà Lân trúc chẻ tro bay” trên mảnh đất xứ Nghệ anh hùng này
Trang 9Vào cuối năm Mậu Thân (1788), lãnh tụ phong trào nông dân Tây SơnNguyễn Huệ – Quang Trung trên đờng hành quân ra Bắc đánh quân Thanh đãdừng chân ở Nghệ An để tuyển mộ quân sĩ Chỉ trong mấy ngày, hàng vạn thanhniên trai tráng xứ Nghệ đã nô nức tòng quân nhập ngũ, góp phần quan trọng vàochiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa mùa xuân năm Kỷ Dậu (1789), quét sạch bè lũcớp nớc và bán nớc, giữ vững nền độc lập của non sông xã tắc Đồng thời vua
Quang Trung cũng nhận thấy rằng: “chỉ đóng đô ở Nghệ An là độ đờng vừa cân,
vừa có thể khống chế đợc trong Nam ngoài Bắc và sẽ làm cho ngời bốn phơng
đến kêu kiện tiện việc đi về” (Theo Hoàng Xuân Hãn / La Sơn Phu Tử), do đó ông
đã cho xây dựng thành Phợng Hoàng dới chân núi Dũng Quyết, huyện Chân Lộc,
dự tính sẽ là quốc đô sau này của một nớc Nam độc lập, thống nhất và hùngmạnh Tiếc thay, sự nghiệp ấy đang còn dang dở thì vua Quang Trung đột ngộtqua đời Hiện nay, tại phía Nam thành phố Vinh, dới chân núi Dũng Quyết và núiKì Lân vẫn còn dấu vết của di tích Phợng Hoàng Trung Đô mà vua Quang Trung
đã cho xây dựng thở trớc
Ngày 1 - 9 - 1858, thực dân Pháp nổ súng lên bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng,chính thức xâm lợc nớc ta Triều đình Huế từ chỗ không quyết tâm chống Pháp,yếu hèn rồi trợt dài trên con đờng thoả hiệp Trớc hoàn cảnh lịch sử đó, các vănthân sĩ phu yêu nớc của Nghệ An đã cùng với nhân dân sớm tỏ rõ ý chí quyết tâm
đánh cả triều lẫn Tây
“ ” Năm 1874, tại 2 huyện Thanh Chơng, Nam Đàn nổi lêncuộc khởi nghĩa của Trần Tấn, Đặng Nh Mai Khi phong trào Cần Vơng dấy lên,tại vùng Bắc Nghệ An lại nổi lên cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Xuân Ôn, LêDoãn Nhã (1885 – 1889) Trong hơn 10 năm (1885 – 1896), nhân dân xứ Nghệlại sôi nổi hởng ứng cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng, Cao Thắng từ HơngKhê (Hà Tĩnh) phát triển ra [1, 22]
Vào đầu thế kỷ XX, cả nớc ta bùng lên ngọn lửa mới của phong trào Đông
Du và công cuộc vận động Duy Tân Ngời khởi xớng phong trào Đông Du là nhàchí sĩ yêu nớc kiệt xuất Phan Bội Châu Là ngời tiêu biểu cho xu hớng bạo độnglúc bấy giờ, Phan Bội Châu đã cùng Ngô Quảng lôi cuốn đợc rất nhiều tầng lớpnhân dân, kể cả giáo dân tham gia vào phong trào kháng chiến chống Pháp SàoNam - Phan Bội Châu - ngời con u tú của quê hơng Nghệ An thật xứng đáng lànhân vật tiêu biểu nhất trong phong trào yêu nớc và cách mạng Việt Nam 20 năm
Trang 10đờng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con ngời – con đờngcách mạng vô sản đã đợc chính ngời con u tú này của xứ Nghệ tìm ra Thành quảlớn lao của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc mà chúng ta đang thừa hởng cómột phần đóng góp đáng kể của những ngời con u tú trên mảnh đất núi Hồngsông Lam này.
Có thể nói rằng, trong suốt tiến trình lịch sử, ở bất kì thời đại nào, Nghệ
An cũng đã trở thành nơi sinh ra biết bao bề tôi lơng đống cho triều đình –những con ngời xả thân mình cho độc lập dân tộc, bởi vậy nơi đây đợc gọi là đất
“cậy thần” Ngời dân xứ Nghệ luôn ý thức đợc những yêu cầu khẩn cấp của tình thế: “Quốc gia chi hng vong, thất phu hữu trách”, tức là nớc nhà cờng thịnh hay
suy vong, đã là ngời đàn ông đều phải có trách nhiệm Đó là đức tính trung dũng,không từ nan, can đảm vợt qua mọi gian nguy, thử thách, sẵn sàng hy sinh vìnghĩa lớn Mảnh đất ấy, con ngời ấy đã là chỗ dựa của triều đình, của quốc giakhi tình hình đất nớc biến động, nh lời đúc kết ngắn gọn mà ý nghĩa của vua TrầnNhân Tông:
“Cối Kê cựu sự quân tu trí
Hoan ái do tồn thập vạn binh”
Tức là: Cối Kê chuyện cũ ngời nên nhớ – Hoan ái kia còn chục vạn quân.Bên cạnh tinh thần yêu nớc và cách mạng, Nghệ An cũng là mảnh đất rạngngời đạo học Cũng nh các miền quê khác trên đất nớc ta, từ xa xa, dân Nghệ An
đã chịu ảnh hởng rất sâu sắc của nền giáo dục Nho học.Qua các kì thi Hội, thi
Đình ngày xa, Nghệ An thờng đứng thứ nhất, nhì về số thí sinh đậu Tiến sĩ Theo
tác giả cuốn “Khoa bảng Nghệ An (1075 – 1919)”, chỉ tính riêng thời Nguyễn,
từ năm Gia Long thứ 6 (1807), đến năm thi hơng cuối cùng (1918), triều đình tổchức đợc 47 khoa thi, lấy đậu 5 232 Cử nhân, riêng Nghệ An có 523 ngời thi đậu,cha kể 88 vị đậu tiếp lên Tiến sĩ hoặc Phó bảng thì tổng số ngời đậu Cử nhân là
611 ngời Đây cũng là một trong số ít những địa phơng vinh dự đợc triều đìnhchọn đặt trờng thi Hơng để tuyển chọn quan lại cho nhà nớc, giúp vua phò xã tắc
Trên mảnh đất hiếu học ấy đã sinh ra biết bao dòng họ khoa bảng nh họ
Hồ ở Quỳnh Đôi (Quỳnh Lu), họ Nguyễn Đức ở Nghi Trung (Nghi Lộc), họNguyễn Sĩ ở Thanh Lơng (Thanh Chơng), họ Nguyễn Thức ở Nghi Trờng (NghiLộc)… từ đó giúp Nghệ An cũng có những làng học nổi tiếng cả nớc nh làng Hoành Sơn,làng Trung Cần (Nam Đàn), làng Quỳnh Đôi (Quỳnh Lu)… từ đó giúp Từ mảnh đất núiHồng sông Cả ấy, rất nhiều nhà khoa bảng tài danh đã ra đời nh Trạng nguyênBạch Liêu, Trạng nguyên Hồ Tông Thốc, Thám hoa Nguyễn Văn Giao, Thámhoa Phan Thúc Trực, Tiến sĩ Ngô Trí Hoà, nhà canh tân Nguyễn Trờng Tộ… từ đó giúpĐi
Trang 11cùng với tinh thần hiếu học ấy của nhân dân, nơi đây cũng đã xuất hiện nhiềunhà giáo trứ danh nh Nguyễn Đức Đạt, Nguyễn Thức Tự… từ đó giúpvà một tầng lớp đông
đảo trí thức bình dân thông hiểu Nho – Y – Lý – Số thờng đi khắp nơi trong
nớc để dạy học, dạy chữ, dạy đạo làm ngời - đó là những thầy đồ“ Nghệ” Hình
ảnh “thầy đồ Nghệ” đã đi vào ca dao, dân ca, trở thành một hình tợng cao đẹp về
tài năng, khí tiết và đức độ, tạo nên một bản sắc không thể trộn lẫn của nghề dạyhọc ở miền quê văn hoá này
Tóm lại, vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và những truyền thống phẩm chấtquý báu của con ngời xứ Nghệ đã từng là chỗ dựa vững chắc của nhiều triều đại
xa kia và là niềm tin của cả quốc gia dân tộc trong thời đại ngày nay, đặc biệt làtruyền thống trọng học, nh lời Thạch phủ Bùi Dơng Lịch đã nhận xét trong tác
phẩm “Nghệ An ký”: Ngời Nghệ Tĩnh thuần, giản mà hiếu học“ ” [30, 238] Trảiqua bao thăng trầm của lịch sử, bao gian nguy thử thách, truyền thống hiếu học,tôn s trọng đạo vẫn luôn đợc các thế hệ c dân xứ Nghệ bảo tồn và phát triển ngàycàng rực rỡ hơn Tất cả những điều ấy của đất và ngời xứ Nghệ vừa là điều kiệncho sự phát triển của vùng, vừa là cơ sở, tiền đề quan trọng cho việc thành lập,xây dựng và phát triển của Trờng Đại học S phạm Vinh trên địa bàn tỉnh NghệAn
1.2 Sự ra đời và hoạt động của trờng Đại học S phạm Vinh thời kì từ 1959
đến 1973
1.2.1 Từ Phân hiệu Đại học S phạm Vinh đến những ngày đầu xây
Chiến thắng Đông – Xuân 1953 – 1954 mà đỉnh cao là chiến thắng ĐiệnBiên Phủ đã buộc Thực dân Pháp phải ký kết Hiệp định Giơnevơ rút quân về nớc,lập lại hoà bình trên cơ sở thừa nhận chủ quyền dân tộc của 3 nớc Đông Dơng,kết thúc thắng lợi sự nghiệp kháng chiến chống Thực dân Pháp xâm lợc Do sosánh lực lợng và tình hình chính trị phức tạp lúc đó, Việt Nam tạm thời bị chiacắt làm 2 miền với 2 chế độ chính trị khác nhau: Miền Bắc đã hoàn toàn giảiphóng và đi lên chủ nghĩa xã hội, còn miền Nam tạm thời bị Đế quốc Mĩ và cáclực lợng tay sai thống trị Sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ của nhân dân tatrên cả nớc còn cha hoàn thành Vĩ tuyến 17 vẫn còn đó nh là minh chứng cho nỗi
đau chia cắt của dân tộc Nhân dân ta vừa phải lo hàn gắn vết thơng chiến tranh,khôi phục kinh tế, đa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, vừa phải tiếp tục đẩy
Trang 12mỈnh cuờc cÌch mỈng dẪn tờc dẪn chũ nhẪn dẪn ỡ miền Nam, tiến tợi thỳc hiệnhoẾ bỨnh, thộng nhất cả nợc [28, 134]
Miền B¾c Ẽùc hoẾn toẾn giải phọng lẾ mờt th¾ng lùi to lợn trong cuờckhÌng chiến cũa dẪn tờc ta, tỈo ra cÈ sỡ vứng ch¾c cho cuờc Ẽấu tranh Ẽể tiến tợixẪy dỳng mờt nợc Việt Nam Ẽờc lập, thộng nhất, dẪn chũ vẾ hoẾ bỨnh VỨ vậy,nhiệm vừ cũa miền B¾c lục nẾy lẾ khẩn trÈng hoẾn thẾnh cÌch mỈng dẪn tờc dẪnchũ vẾ chuyển sang cÌch mỈng x· hời chũ nghịa, tỈo thế vẾ lỳc Ẽể Ẽảm bảo tộtvai trò cũa hậu phÈng lợn nhÍm hoẾn thẾnh cho Ẽùc mừc tiàu cÌch mỈng dẪn tờcdẪn chũ ỡ miền Nam ưể tỈo tiền Ẽề kinh tế, vẨn hoÌ, x· hời cho cÌch mỈng x·hời chũ nghịa, miền B¾c Ẽ· dẾnh 3 nẨm (1954 - 1957) hoẾn thẾnh cải cÌch ruờng
Ẽất, khẬi phừc kinh tế vẾ dẾnh 3 nẨm (1958 – 1960) cho cải tỈo quan hệ sảnxuất theo hợng x· hời chũ nghịa, bợc Ẽầu phÌt triển kinh tế vẾ vẨn hoÌ Cúngtrong thởi kỨ nẾy, nhiều cÈ sỡ kinh tế quan trồng Ẽùc tiến hẾnh xẪy dỳng nh ưỈithuỹ nẬng B¾c – Hng – Hải, khu gang thÐp ThÌi Nguyàn, nhẾ mÌy nhiệt ẼiệnVinh… tử Ẽọ giụpưởi sộng cũa nhẪn dẪn bợc Ẽầu Ẽùc cải thiện, nhu cầu hồc tập cũa con emnhẪn dẪn tẨng nhanh [40, 6]
ưể ẼÌp ựng Ẽùc yàu cầu cũa thởi ẼỈi mợi, sau ngẾy miền B¾c hoẾn toẾngiải phọng, củng vợi sỳ phÌt triển chung cũa cả nợc tràn nhiều lịnh vỳc, sỳnghiệp giÌo dừc cúng phÌt triển mỈnh mé Việc mỡ thàm cÌc trởng phỗ thẬng ỡmiền B¾c, trong Ẽọ cọ cÌc trởng cấp 3 Ẽòi hõi mờt sộ lùng giÌo viàn rất lợn.Trong khi Ẽọ, cả miền B¾c lục nẾy mợi chì cọ Trởng ưỈi hồc S phỈm HẾ Nời lẾcÈ sỡ ẼẾo tỈo giÌo viàn cấp 3, khẬng thể cung cấp Ẽũ nhu cầu giÌo viàn cho cÌctình.VỨ vậy, việc mỡ thàm mờt trởng ẼỈi hồc s phỈm nứa lẾ yàu cầu khÌch quan
vẾ thỳc sỳ cần thiết Ẽội vợi yàu cầu cũa x· hời lục nẾy ưổng thởi, vẾo thởi Ẽiểm
ấy, việc chuẩn bÞ cho ưỈi hời ẼỈi biểu toẾn quộc lần thự III cũa ưảng Ẽ· cÈ bảnhoẾn thẾnh ChÈng trỨnh hẾnh Ẽờng cho toẾn ưảng, toẾn dẪn, toẾn quẪn tronggiai ẼoỈn cÌch mỈng mợi Ẽùc soỈn thảo, trong Ẽọ, việc phÌt triển giÌo dừc vẾ ẼẾotỈo trỡ thẾnh mờt vấn Ẽề trồng tẪm Ẽùc ưảng vẾ nhẾ nợc hết sực lu ý
Mặt khÌc,trong 9 nẨm khÌng chiến chộng PhÌp, Thanh – Nghệ – Tịnh lẾvủng tỳ do, cọ Ẽiều kiện cho sỳ nghiệp giÌo dừc phÌt triển Sau Hiệp ẼÞnhGiÈnevÈ, hoẾ bỨnh Ẽùc lập lỈi tràn toẾn miền B¾c thỨ vủng nẾy lỈi cẾng cọ Ẽiềukiện phÌt triển mỈnh mé hÈn nứa sỳ nghiệp giÌo dừc vẾ lẾ vủng cung cấp chũ yếunguổn tuyển sinh cho cÌc cÌc trởng ẼỈi hồc
Nghệ An (cọ tình lÞ lẾ ThÞ x· Vinh) lỈi lẾ mờt tình thuờc vÞ trÝ trung tẪmcũa vủng Thanh – Nghệ – Tịnh vẾ cũa cả khu vỳc B¾c Trung Bờ, cọ truyềnthộng hiếu hồc vẾ cÌch mỈng, lẾ quà hÈng cũa l·nh từ Hổ ChÝ Minh Việc thẾnh
Trang 13lập ở Vinh một trờng đại học s phạm vừa là sự tiếp nối, vun đắp thêm truyềnthống tốt đẹp của vùng đất này, vừa đáp ứng nguyện vọng và lòng mong đợi củanhân dân xứ Nghệ cũng nh nhân dân cả nớc Về mặt vị trí địa lí, Nghệ An nằm ở
vị trí giữa của dải đất từ Hà Nội đến vùng giới tuyến – vĩ tuyến 17, dài hơn 700
km, do đó việc xây dựng một trờng đại học s phạm ở đây sẽ khắc phục đợc nhữngkhó khăn về mặt vị trí địa lý, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nền giáodục mới ở khu vực miền Trung của đất nớc, đào tạo giáo viên và cán bộ khoa học
để cung cấp, phục vụ sự nghiệp phát triển của miền Trung và của nớc nhà [33,12]
Với những thuận lợi đó, Thủ tớng Chính phủ đã chấp nhận đề nghị của BộGiáo dục lấy Vinh - tỉnh lị của Nghệ An làm địa điểm xây dựng trờng đại học sphạm thứ 2 của miền Bắc xã hội chủ nghĩa Phân hiệu Đại học S phạm Vinh đợcthành lập ngày 16/7/1959 theo Nghị định số 375/NĐ của Bộ trởng Bộ Giáo dục[40, 4] Sự ra đời của Phân hiệu Đại học S phạm Vinh là một sự kiện quan trọngtrong lịch sử ngành giáo dục nớc nhà nói chung và của tỉnh Nghệ An nói riêng.Phân hiệu Đại học S phạm Vinh cùng với các trờng s phạm khác trở thành nềntảng của sự nghiệp giáo dục - đào tạo con ngời mới xã hội chủ nghĩa cho đất nớctrong tơng lai
Do thực hiện triệt để chính sách “tiêu thổ kháng chiến”, cho nên tuy nằm
trong vùng tự do nhng đến khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc thì Vinhvẫn là một thị xã hoàn toàn phải xây dựng lại Vì thế, năm 1959 tuy đã có quyết
định của Bộ Giáo dục thành lập ở Vinh một phân hiệu đại học s phạm nhng tỉnhvẫn không tìm đâu ra một cơ sở còn nguyên vẹn để làm nơi ăn chốn ở cho cán
bộ, công nhân viên và những sinh viên khoá đầu tiên Trớc tình hình đó, Uỷ banHành chính tỉnh Nghệ An đã quyết định chọn 2 khu Nhà Giòng Nam (nay làBệnh viện Thành phố Vinh), là 2 trong số rất ít nhà cửa bằng gạch ngói còn sótlại trong thị xã lúc bấy giờ để làm cơ sở đầu tiên của phân hiệu Đồng thời vớinhững cố gắng lớn lao đó nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho trờng đi vào hoạt động,lãnh đạo tỉnh Nghệ An còn cử đồng chí Nguyễn Trờng Khoát - Phó Bí th Tỉnh uỷcùng một số chuyên viên sang giúp trờng trong buổi ban đầu.Có thể nói rằng, sự
động viên chia sẻ của lãnh đạo tỉnh Nghệ An dành cho trờng trong những ngàygian nan ấy chính là những viên gạch đầu tiên xây đắp nên tình cảm nồng thắm
và sự gắn bó thuỷ chung với tỉnh Nghệ An trong quá trình phát triển của trờng
Tháng 8/1959, Bộ Giáo dục bổ nhiệm Giáo s Nguyễn Thúc Hào, Phó Giám
đốc Trờng Đại học S phạm Hà Nội làm Giám đốc Phân hiệu Đại học S phạmVinh Đồng chí Nguyễn Chí Linh, Phó Bí th Đảng uỷ Trờng Đại học S phạm Hà
Trang 14Nội làm Phó Giám đốc và cử 17 cán bộ giảng dạy đầu tiên vào công tác tại Phânhiệu [39, 9]
Vào 8h ngày 14/10/1959, lễ khai giảng năm học đầu tiên đã đợc tổ chứctrọng thể tại nhà nguyện khu nhà Giòng Nam (trên ngã t đờng Lê Mao và Ng Hảingày nay) với sự tham dự của đông đảo cán bộ, chuyên viên của Bộ Giáo dục,các trờng đại học ở Hà Nội, các ban ngành của Tỉnh uỷ và Uỷ ban Hành chínhtỉnh Nghệ An cùng với 158 sinh viên khoá 1 Tại buổi lễ, Giáo s, Tiến sĩ NguyễnVăn Huyên – Bộ trởng Bộ Giáo dục đã đọc quyết định thành lập Phân hiệu Đạihọc S phạm Vinh, giao nhiệm vụ cho cán bộ, công nhân viên và sinh viên toànPhân hiệu Chủ tịch Uỷ ban Hành chính tỉnh Nghệ An Hoàng Văn Diệm cũng đã
bày tỏ niềm hân hoan: “Hôm nay, lần đầu tiên trong lịch sử, một trờng đại học
đ-ợc xây dựng trên đất Nghệ An, trên vùng Liên khu IV Đây là bằng chứng hùng hồn nói lên bản chất u việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ” Cũng nhân dịp này, Uỷ
ban Hành chính tỉnh Nghệ An đã tặng Phân hiệu danh hiệu “Ngọn cờ hồng trên
quê hơng Xô Viết ”
Trong những năm tháng đầu tiên ấy, Phân hiệu Đại học S phạm Vinh đãxây dựng đợc một cơ cấu tổ chức chặt chẽ, quy củ gồm: Giáo s Nguyễn ThúcHào làm Giám đốc, thầy Nguyễn Chí Linh làm Phó Giám đốc kiêm Bí th Đảng
uỷ Thầy Lê Văn Hớn làm Th ký Công đoàn Thầy Phạm Huy Phơng làm Bí th
Đoàn, thầy Hoàng Xuân Đính làm Hội trởng Hội sinh viên Ngoài ra còn có cácphòng ban chức năng nh Phòng Giáo vụ, phòng Tổ chức cán bộ, phòng Quản trịhành chính, ban Lao động, ban Kiến thiết cơ bản, bộ phận Th viện Các ban đàotạo gồm có ban Văn – Sử, ban Toán – Lý, tổ Chính trị, tổ Thể dục, tổ Vật lý, tổHoá học và tổ Sinh học Kết thúc năm học 1960 – 1961, 158 sinh viên đầu tiêncủa phân hiệu đã tốt nghiệp, trong đó có 17 sinh viên tốt nghiệp loại giỏi đã đợcgiữ lại bổ sung cho đội ngũ cán bộ giảng dạy của phân hiệu [40, 11]
Sau 3 năm thành lập, phân hiệu đã phát triển rất nhanh cả về quy mô, số ợng và khả năng đào tạo Xét thấy Phân hiệu Đại học S phạm Vinh đã lớn mạnh,
l-để đáp ứng nhu cầu của xã hội cũng nh mong muốn của cán bộ công chức và sinhviên đang công tác học tập tại đây, ngày 28/8/1962, Bộ trởng Bộ Giáo dục raQuyết định số 637/ QĐ đổi tên Phân hiệu Đại học S phạm Vinh thành Trờng Đạihọc S phạm Vinh và bổ nhiệm Giáo s Nguyễn Thúc Hào làm Hiệu trởng, đồngthời thành lập 3 khoa: khoa Toán, khoa Văn và khoa Lý – Hoá - Sinh Tới đầunăm học 1963 – 1964, theo quyết định của Bộ Giáo dục, khoa Lý – Hoá - Sinhchia thành 2 khoa: Vật lý và Hoá - Sinh
Trang 15Có thể nói công tác đào tạo của trờng trong 5 năm đầu 1959 – 1964 làmột quá trình phấn đấu liên tục nhằm xác định mục tiêu đào tạo, xây dựng cảitiến chơng trình, nội dung, phơng pháp giảng dạy và học tập Từ một chơng trình
đào tạo hệ 2 năm, trờng đã từng bớc xây dựng và hoàn thiện dần chơng trình đào
tạo hệ 3 năm (bắt đầu từ áp dụng từ năm học 1963 – 1964) với phơng châm cơ“
bản, hiện đại, Việt Nam” Vấn đề chất lợng giáo dục cũng đợc coi trọng với việc
quán triệt tính t tởng, tính khoa học, tính thực tiễn, tính s phạm
Công tác giáo dục rèn luyện cho sinh viên về mặt t tởng, đạo đức, tác phongluôn đợc đề cao và đợc coi là nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu với mục tiêu xây dựng
đợc lòng say mê nghề nghiệp, đạo đức tác phong của ngời giáo viên xã hội chủnghĩa Trờng cũng luôn xem Đoàn Thanh niên Lao động là lực lợng nòng cốt trongcông tác giáo dục chính trị t tởng cho sinh viên Những cuộc vận động quần chúng
của Đoàn nh “Yêu ngành nh yêu quê hơng , Tranh thủ rèn luyện để trở thành” “
ngời sinh viên toàn diện” cũng nh các đợt tham quan, học tập ở các khu di tích
lịch sử có tác dụng giáo dục t tởng chính trị sâu sắc Dới ngọn cờ thi đua “Hai tốt”
của ngành, cán bộ và sinh viên hăng hái thi đua giảng dạy và học tập, coi đây làtrận địa chính của mình
Đi đôi với công tác giảng dạy và học tập, lãnh đạo nhà trờng cũng đã rấtchú trọng chỉ đạo công tác nghiên cứu khoa học Nghị quyết Đại hội I của Đảng
bộ trờng đã nhấn mạnh: “Cần xây dựng những tổ nghiên cứu chuyên môn để hỗ
trợ cho công tác giảng dạy, có nề nếp sinh hoạt thờng xuyên Những việc trên cần đợc tiến hành theo phơng châm: kỷ luật liên hệ thực tế, đi đúng đờng lối quần chúng, tích cực học tập một cách khẩn trơng để dần đặt cơ sở cho việc nghiên cứu khoa học” [33, 19] Dới sự chỉ đạo sát sao, hiệu quả của Ban giám
hiệu, công tác nghiên cứu khoa học đã đợc triển khai có hiệu quả Hàng trăm đềtài đã đợc đăng ký và thực hiện, trong đó có nhiều đề tài phục vụ sản xuất, phục
vụ đào tạo và phát triển kinh tế
Đối với công tác đào tạo cán bộ, Đại hội khoá đầu tiên và các đại hội Đảng
bộ hàng năm của trờng đều nhấn mạnh công tác xây dựng, bồi dỡng đội ngũ cánbộ,đặc biệt là cán bộ giảng dạy Phơng hớng xây dựng, bồi dỡng đội ngũ cán bộ
là coi trọng cả hai mặt “hồng” và chuyên “ ” Phơng châm bồi dỡng chủ yếu là tựlực cánh sinh phối hợp với sự hỗ trợ của các trờng đại học khác Nguồn tuyển lựa
bổ sung cán bộ chủ yếu là sinh viên tốt nghiệp đạt loại khá, giỏi có quá trình rènluyện phấn đấu tốt
Để nâng cao chất lợng đội ngũ cán bộ, lãnh đạo nhà trờng đã chủ trơngthực hiện tốt các biện pháp nh: mở lớp bồi dỡng tại chức về ngoại ngữ, các lớp
Trang 16chuyên tu, tổ chức các buổi nói chuyện chuyên đề, câu lạc bộ khoa học, cử cán
bộ đi bồi dỡng tại các trờng bạn, viện nghiên cứu, đi đào tạo ở nớc ngoài… từ đó giúp Nhờ
có phơng hớng đúng và biện pháp đa dạng nên chỉ trong 5 năm, số cán bộ giảngdạy của trờng đã tăng từ 17 ngời năm học đầu tiên đã tăng lên 141 ngời ở nămhọc 1963 – 1964 [40, 15]
Công việc xây dựng cơ sở mới của trờng (ở địa phận phờng Hng Bình ngàynay) đợc triển khai khẩn trơng từ năm học thứ nhất Sang năm học 1962 – 1963,toàn trờng chuyển ra cơ sở mới Cơ sở mới đợc xây dựng khang trang, thoángmát với 4 dãy nhà 4 tầng và các dãy nhà bán kiên cố, tạo thành một khu vực vàoloại đẹp của thị xã Vinh lúc bấy giờ [40, 12]
Để gắn việc học đi đôi với hành, kiến thức đi liền với thực tiễn, nhà trờngcũng rất chú trọng giáo dục tinh thần và kỹ năng lao động cho sinh viên Ngoàicác buổi học và lao động ở xởng trờng cũng nh ở nhà máy Điện, nhà máy Gỗ,nhà máy Sửa chữa ôtô trên địa bàn thành phố Vinh, hàng năm trờng còn tổ chứccho sinh viên đi lao động tập trung tại các Hợp tác xã nông nghiệp, các nông tr-ờng, tham gia chống lụt bão, sẵn sàng có mặt trên các đoạn đê xung yếu nh đê H-
ng Hoà… từ đó giúp
Trải qua 5 năm phấn đấu vợt khó, vợt khổ, Trờng Đại học S phạm Vinh đãtrở thành một địa chỉ đào tạo tin cậy của nhân dân khu IV và của ngành giáo dụcnớc nhà Trong báo cáo tổng kết 5 năm xây dựng và trởng thành của trờng, Giáo
s, Hiệu trởng Nguyễn Thúc Hào đã khẳng định: “Quá trình 5 năm xây dựng của
trờng là một quá trình phấn đấu tự lực cánh sinh đầy khó khăn và cũng là 5 năm thắng lợi vẻ vang của tập thể nhà trờng” [40,16] Những thành tựu bớc đầu ấy là
cơ sở, nền móng vững chắc cho chặng đờng tiếp theo của Trờng Đại học S phạmVinh trong những hoàn cảnh mới
1.2.2 Trờng Đại học S phạm Vinh trong thời kì sơ tán (1965–1973)
Dới sự lãnh đạo của Đảng với đờng lối tiến hành cùng lúc hai chiến lợccách mạng trên hai miền Nam – Bắc, nhân dân ta đã giành đợc những thắng lợi
to lớn.Sau 10 năm khôi phục, cải tạo, “miền Bắc nớc ta đã tiến những bớc dài
ch-a từng thấy trong lịch sử dân tộc Đất nớc, xã hội, con ngời đều đổi mới ” [28,177] và trở thành hậu phơng lớn vững chắc của cách mạng miền Nam Còn cáchmạng miền Nam cũng lập đợc nhiều chiến công vang dội, xứng đáng với niềm tin
và lòng mong đợi của cả dân tộc, đặc biệt là những thắng lợi của phong trào
Đồng Khởi và phong trào phá ấp chiến lợc, làm sụp đổ chiến lợc “chiến tranh
đặc biệt ” của Đế quốc Mĩ Để ngăn chặn sự chi viện từ hậu phơng lớn miền Bắc
đối với tiền tuyến lớn miền Nam, ngày 5/8/1964, Đế quốc Mĩ đơn phơng mở
Trang 17rộng chiến tranh bằng không quân và hải quân tiến hành phá hoại miền Bắc.Thành phố Vinh là một trong những địa điểm bị máy bay Mĩ đánh phá đầu tiên ởNghệ An và là một trong những trọng điểm bị đánh phá.
Để kịp thời đối phó với tình hình, Đại hội đại biểu Đảng bộ trờng lần thứ VI
(1963) đã nêu rõ: “Phải cải tiến tổ chức, lề lối làm việc, quân sự hoá nhà trờng,
làm cho mọi thành viên trong nhà trờng có tinh thần, có tổ chức, có tác phong vừa học tập vừa sẵn sàng chiến đấu, đối phó với mọi tình thế” [40, 17].
Biến phơng hớng, chủ trơng của Đại hội Đảng bộ trờng lần thứ VI thành hành
động, lãnh đạo nhà trờng đã chỉ đạo cán bộ và sinh viên chủ động phòng thủ: đàohầm trú ẩn và giao thông hào, đắp luỹ che chắn các phòng thí nghiệm, tổ chức độicứu thơng, cứu hoả, canh gác bảo vệ tài sản, trực chiến… từ đó giúp
Do chiến tranh phá hoại của giặc Mĩ leo thang ngày càng ác liệt, ngày12/5/1965, Uỷ ban Hành chính tỉnh Nghệ An phát lệnh sơ tán các điểm tập trungkinh tế, văn hoá, xã hội… từ đó giúp trên địa bàn toàn tỉnh Chấp hành chủ trơng đó, Đảng
uỷ, Ban giám hiệu nhà trờng đã chỉ đạo cho cán bộ, sinh viên toàn trờng từng bớcsơ tán trờng đến địa điểm an toàn nhằm đảm bảo tính mạng, tài sản và tạo điềukiện tiếp tục sự nghiệp giáo dục đào tạo
Chặng đờng sơ tán của trờng kéo dài từ tháng 4/1965 đến 5/1973, trải quacác giai đoạn nh sau:
+ Từ 4/1965 đến 8/1965: Một bộ phận của trờng vẫn đóng tại Vinh, tất cảsinh viên hệ chính quy và phần lớn cán bộ công chức thì sơ tán tại 2 xã NghiLong và Nghi Thuận (Nghi Lộc) [40, 18]
+ Từ 8/1965 đến 11/1965: Cơ sở của trờng đóng tại các xã Thanh Tân,Thanh Khê, Thanh Long của huyện Thanh Chơng (Nghệ An) [40, 19]
+ Từ 11/1965 đến 6/1966, cơ sở của trờng đóng tại các xã Hà Vân, HàThanh, Hà Châu, và Hà Lan của huyện Hà Trung (Thanh Hoá) [40, 20]
+ Từ 6/1966 đến 9/1969: Trờng đóng tại các xã Thạch Bình, Thạch Sơn,Thạch Tân, Thành Trực của huyện Thạch Thành (Thanh Hoá) Riêng khoa Vănlúc đầu đợc bố trí ở xã Vĩnh Khang ( Vĩnh Lộc) sau chuyển lên Thành Mỹ, mộtxã vùng sâu của huyện Thạch Thành [40, 20 – 21]
+ Từ 9/1969 đến 4/1972: Trờng sơ tán về Quỳnh Lu (Nghệ An) Các khoa
đợc bố trí trên địa phận các xã: Quỳnh Văn, Quỳnh Thạch, Quỳnh Hậu, QuỳnhMinh, Quỳnh Nghĩa, Quỳnh Vinh, Quỳnh Liên, Quỳnh Phơng, Quỳnh Lơng,Quỳnh Bảng và Quỳnh Hoa [40, 23]
+ Từ 4/1972 đến 4/1973: Trờng chuyển đến Yên Thành (Nghệ An), đóngtrên địa bàn các xã Hậu Thành, Phúc Thành, Lăng Thành, Mã Thành, Đức
Trang 18Thành, Thọ Thành, Riêng khu Hiệu bộ đóng tại xã Diễn Lâm (Diễn Châu) vàkhoa Sinh chuyển lên xã Quỳnh Lâm (Quỳnh Lu) [40, 24]
Trong suốt 8 năm sơ tán, trờng đã gặp phải muôn vàn khó khăn gian khổ,
có lúc tởng chừng không thể vợt qua Trong làn ma bom bão đạn của địch, trong
điều kiện vật chất thiếu thốn, nhng với tinh thần dũng cảm, quyết tâm vợt quamọi thử thách, thầy và trò nhà trờng vẫn động viên nhau vừa giảng dạy, học tập
tốt vừa chiến đấu giỏi Nhận thức đợc “từ hoà bình chuyển sang chiến tranh, từ
tập trung chuyển sang phân tán không phải một lúc mà khắc phục hết những khó khăn, vì thế trờng ta cần tiếp tục giải quyết tốt công tác chuyển hớng tổ chức, làm cho tổ chức mới đáp ứng yêu cầu đào tạo mới” [33, 25], lãnh đạo nhà trờng
đã chú trọng đặt công tác giáo dục chính trị t tởng lên hàng đầu, ra sức giáo dụcchủ nghĩa anh hùng cách mạng, rèn luyện cán bộ và sinh viên trong thực tế chiến
đấu và sản xuất, đồng thời khẩn trơng tiến sâu vào chuyển hớng nội dung đàotạo, nâng cao chất lợng đào tạo lên một bớc rõ rệt, tiếp tục thực hiện chuyển hớng
tổ chức cho phù hợp với tình hình mới Nhờ đó, tuy phải trải qua 8 năm sơ tángian khổ nhng Trờng Đại học S phạm Vinh vẫn đạt đợc những thành tựu đángkhích lệ
Về công tác đào tạo, trên cơ sở mục tiêu chung, các khoa đã bớc đầu xâydựng mục tiêu đào tạo cho đơn vị mình Đến năm học thứ 10 (1959 – 1969), vấn
đề xây dựng mục tiêu đào tạo và chơng trình đào tạo hệ 3 + 1 đã đợc trao đổirộng rãi Trờng đã tổ chức Hội đồng phê duyệt khung chơng trình của các khoa
Công tác chính trị t tởng cũng có nhiều thành tích, giúp cho cán bộ côngchức và học sinh sinh viên toàn trờng an tâm công tác, ra sức xây dựng trờng tronghoàn cảnh Đế quốc Mĩ leo thang bắn phá miền Bắc hết sức ác liệt và khu IV trởthành tuyến lửa của cả nớc Từ năm học 1966 – 1967, sau khi có Chỉ thị 102 củaBan Bí th Trung ơng, việc giáo dục chính trị t tởng càng đợc đẩy mạnh Thời giannày, trờng đã mời các anh hùng dũng sĩ diệt Mĩ, các vị anh hùng cách mạng, thânnhân các anh hùng liệt sĩ đến thăm và nói chuyện tại trờng Các buổi nói chuyện
có tác dụng mạnh mẽ trong việc bồi dỡng tình cảm cách mạng cũng nh ý chí phấn
đấu cho cán bộ, sinh viên toàn trờng
Trong thời gian đầu của cuộc chiến tranh, điều kiện giảng dạy và học tậpgặp nhiều khó khăn song thầy và trò vẫn đồng tâm chung lng đấu cật vợt qua Từnăm học thứ 8 và thứ 9 trở đi, thực hiện nội dung của Đại hội Đảng bộ tr ờng lần
thứ VIII, phơng châm Học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn“ ” càng
đợc coi trọng trong các môn học, giờ thực hành và rèn luyện kỹ năng cho sinhviên càng đợc tăng cờng rõ rệt Trong phong trào cải tiến phơng pháp giảng dạy,
Trang 19các khoa và các tổ bộ môn đã có nhiều hình thức tổ chức hoạt động phong phúnh: hội nghị cải tiến phong cách giảng dạy, thông qua bài giảng tập thể, dự giờrút kinh nghiệm từng bài từng chơng, đăng ký giờ dạy tốt, tăng cờng chỉ đạo sinhviên tự học, tổ chức thi sinh viên giỏi, phụ đạo sinh viên kém, bổ sung chỉnh lýgiáo trình cũng nh biên soạn thêm tài liệu tham khảo.
Để rèn luyện tay nghề cho sinh viên, đảm bảo chất lợng giáo viên đáp ứngcho công cuộc cách mạng của đất nớc, ngay từ đầu năm học 1965 – 1966, trờng
đã đề ra chủ trơng “Toàn trờng làm công tác nghiệp vụ” Mặc dù trờng phải sơ
tán qua nhiều địa điểm song công tác thực tập s phạm luôn đợc tổ chức chu đáo,hiệu quả
Số sinh viên học tập tại trờng liên tục tăng qua các năm Năm học 1966 –
1967, số sinh viên là 1 028 Năm học 1967 – 1968 tăng lên 2 227 sinh viên vànăm học thứ 9 (1968 – 1969) là 3 029 sinh viên So với năm học thứ 5 thì sinhviên năm thứ 9 đã tăng 2 lần và so với năm học đầu tiên đã tăng 20 lần [40, 22]
Do hoạt động trong điều kiện có chiến tranh, để đảm bảo bí mật, từ tháng11/1965, Trờng Đại học S phạm Vinh lấy tên giao dịch là Trờng Văn hóa 12 – 9.Các đơn vị đợc gọi theo ký hiệu: K1 (Hiệu bộ), K2 (khoa Văn), K3 (khoa Toán),K4 (khoa Lý) Cũng trong tháng 11/1965, theo quyết định của Bộ Giáo dục, khoaHoá - Sinh đợc chia thành 2 khoa: khoa Hoá học và khoa Sinh học Ngay từ khithành lập, khoa Hoá mang ký hiệu K5, khoa Sinh mang ký hiệu K6 Cuối năm học
1966 – 1967, theo quyết định của Bộ Giáo dục, trờng tiếp nhận Trờng Trung học
10 + 2 Thanh Hoá và chuyển thành khoa đào tạo giáo viên cấp 2 gồm 4 ngành học:Văn – Sử, Toán – Lý, Sinh – Hoá, Sinh - Địa Thầy Trần Lê Thiệu – Hiệu tr-ởng Trờng Trung học 10 + 2 Thanh Hoá đợc bổ nhiệm làm chủ nhiệm khoa Khoa
đào tạo giáo viên cấp 2 mang ký hiệu K7
Tháng 10/1969, khoá đào tạo đầu tiên của khoa Lịch sử đợc tuyển sinh,
đánh dấu sự ra đời của khoa Lịch sử Thầy Phạm Huy Phơng đợc bổ nhiệm làmchủ nhiệm khoa (trong thực tế, quyết định về thành lập khoa Lịch sử ở Trờng Đạihọc S phạm Vinh đã đợc ký từ tháng 8/1968, song vì nhiều lý do, nên đến nămhọc 1969 – 1970, khoa mới tổ chức tuyển sinh) Khoa Lịch sử lấy ký hiệu K8.[40, 20]
Trong 8 năm sơ tán, bên cạnh việc chỉ đạo thực hiện tốt mọi mặt hoạt độngcủa nhà trờng, Đảng bộ cũng không ngừng tự trau dồi, rèn luyện và phát triển vềmọi mặt Việc rèn luyện phẩm chất chính trị cho đảng viên luôn đợc chú trọng.Các đảng viên trong chi bộ luôn nêu cao tinh thần cách mạng, xung kích, hoànthành tốt nhiệm vụ, trở thành nòng cốt cho mọi hoạt động của trờng Với phơng
Trang 20châm: “Trờng s phạm phải là nguồn bổ sung quan trọng về Đảng viên cho các cơ
sở Đảng ở trờng phổ thông” [19, 19], chỉ tính riêng trong nhiệm kỳ VII, Ban chấp
hành Đảng bộ đã kết nạp thêm 41 đảng viên mới, bồi dỡng đợc 250 cảm tình
đảng và đối tợng đảng Để đẩy mạnh hơn nữa việc tổ chức xây dựng Đảng vữngmạnh, Ban chấp hành Đảng bộ đã có sự khắc phục, chỉnh đốn những thiếu sótqua các nhiệm kỳ, phát động đảng viên toàn trờng tích cực tham gia phong trào
xây dựng “Chi bộ 4 tốt, tổ đảng 4 tốt và đảng viên 4 tốt ”
Công tác nghiên cứu khoa học cũng đợc lãnh đạo nhà trờng đặc biệt chú
trọng nhằm “bồi dỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn, nâng cao chất lợng đào tạo”
[33, 29] Với các biện pháp nh: tăng cờng nhận thức cho cán bộ giảng dạy về tầmquan trọng của công tác nghiên cứu khoa học, củng cố về tổ chức, xây dựng quychế nghiên cứu khoa học… từ đó giúp phong trào nghiên cứu khoa học đã đợc đẩy mạnhmột bớc Tổng số đề tài nghiên cứu khoa học các cấp đã đăng ký trong 3 năm
1967 – 1969 là 234, trong đó đề tài khoa học giáo dục chiếm 40% Các đề tàiphục vụ sản xuất và nghiên cứu cũng tăng nhanh (nghiên cứu về ca dao và thơchống Mĩ, phân tích chất độc hoá học da Mĩ thả ở Nghệ An, điều tra thổ nhỡng
và xử lý đất ở Thanh Tân – Phúc Điển (Thanh Hoá), điều tra côn trùng học… từ đó giúp).Năm 1969, lần đầu tiên trờng tổ chức Hội nghị khoa học của sinh viên và đợc
đông đảo sinh viên hởng ứng
Dù phải trải qua việc sơ tán nhiều lần nhng trong thời kỳ này, công tác bồidỡng đội ngũ cán bộ giảng dạy và cán bộ quản lý vẫn luôn đợc Đảng uỷ, Bangiám hiệu xem là nhiệm vụ chiến lợc Nhờ có chủ trơng đúng về công tác đàotạo, bồi dỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ nên đến năm 1973, trờng đã có 320 cán
bộ giảng dạy, trong đó có nhiều đồng chí đã tham gia viết giáo trình góp phầnlàm phong phú tủ sách đại học s phạm
Một mặt hoạt động nữa của nhà trờng trong thời kì sơ tán là công tác tuyểnquân,tham gia chiến đấu bảo vệ Tổ quốc Đây là công tác đặc biệt trong một giai
đoạn lịch sử đặc biệt Tính đến năm 1973, trờng đã làm lễ tiễn đa 1312 cán bộsinh viên lên đờng làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, phát huy truyền thống vẻ vangcủa Trờng Đại học S phạm Vinh Nhiều đồng chí đã trở thành sĩ quan cao cấp,trung cấp trong quân đội 62 cán bộ công chức và học sinh sinh viên của trờng đãanh dũng hy sinh vì sự nghiệp độc lập, tự do của dân tộc, trong đó hình ảnh tiêubiểu nhất là Liệt sĩ anh hùng Lê Thị Bạch Cát (nguyên cán bộ giảng dạy khoaThể dục) Sau khi đất nớc hoà bình, thống nhất, phần lớn các cán bộ công chức
và học sinh sinh viên của nhà trờng tham gia quân đội đã chuyển ngành trở vềtiếp tục học tập, công tác [40, 29]
Trang 21Mặc dù phải sơ tán khỏi thành phố Vinh trong điều kiện chiến tranh pháhoại của giặc Mĩ nhng nhà trờng vẫn thờng xuyên nhận đợc sự quan tâm chỉ đạosát sao của lãnh đạo tỉnh Nghệ An Tháng 8/1969, đồng chí Võ Thúc Đồng – Bí
th Tỉnh uỷ Nghệ An đã ra Thạch Thành làm việc với trờng và tha thiết mời trờng
trở lại Nghệ An “đói no cùng chia sẻ” Đáp lại lòng mong mỏi đó, tháng 9/1969,
lãnh đạo nhà trờng đã chỉ đạo toàn trờng sơ tán từ địa bàn Thạch Thành (ThanhHoá) trở về địa bàn Quỳnh Lu (Nghệ An) [40, 23]
Thời điểm trờng chuyển về Nghệ An (9/1969) cũng chính là thời điểm cảdân tộc ta và nhân loại tiến bộ đau thơng vĩnh biệt Chủ tịch Hồ Chí Minh – vịlãnh tụ muôn vàn kính yêu của dân tộc, ngời con u tú của xứ Nghệ anh hùng.Biến đau thơng thành hành động, toàn trờng đã cùng với nhân dân cả nớc quyết
tâm thi đua thực hiện “Di chúc” thiêng liêng của Ngời.
Với âm mu kết thúc chiến tranh theo hớng có lợi, từ cuối năm 1973, Đếquốc Mĩ đã liều lĩnh dùng các loại máy bay, kể cả B.52 đánh phá huỷ diệt HàNội, Hải Phòng và một số trọng điểm kinh tế khác Với tinh thần dũng cảm,quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh, nhân dân ta đã đập tan âm mu phá hoại của
địch, buộc chúng phải ký Hiệp định Pari ngày 27/1/1973 chấm dứt chiến tranh,lập lại hoà bình ở Việt Nam Chiến thắng oanh liệt của nhân dân ta đã hoàn thành
mục tiêu “đánh cho Mĩ cút”, tiến tới thực hiện “đánh cho Ngụy nhào” ở miền
Nam, đồng thời tạo ra điều kiện thuận lợi cho Trờng Đại học S phạm Vinh có kếhoạch di chuyển về một địa bàn ổn định và theo đó, kế hoạch đa trờng trở vềthành phố Vinh đã đợc nêu ra và thông qua, kết thúc thời kỳ sơ tán của trờng
Trải qua 8 năm sơ tán, mặc dù gặp phải rất nhiều khó khăn thử thách nhngTrờng Đại học S phạm Vinh vẫn đạt đợc nhiều thành tích to lớn Trên miền Bắcxã hội chủ nghĩa trong những năm tháng chống chiến tranh phá hoại của Đế quốc
Mĩ, Trờng Đại học S phạm Vinh là trờng đại học sơ tán dài ngày nhất, di chuyểnqua nhiều địa điểm nhất, chịu đựng gian khổ nhiều nhất Mặc dù vậy, trong bất
cứ hoàn cảnh nào, thầy và trò nhà trờng vẫn luôn “cõng trờng trên lng ,” lựa chọncác địa điểm an toàn để tiếp tục sự nghiệp giáo dục đào tạo, vừa tự xây dựng cơ
sở vật chất vừa tham gia sản xuất chiến đấu Trong những năm sơ tán, nhà trờng
đã đào tạo đợc 21 914 sinh viên, thực hiện hàng trăm đề tài nghiên cứu khoa họccác cấp, tiễn đa hàng ngàn giảng viên và sinh viên lên đờng nhập ngũ, xứng đáng
là một trong những địa chỉ đỏ, là ngọn cờ hồng trên quê h“ ơng Xô viết” Trải qua
gian khổ, trờng đã dần trởng thành về mọi mặt, tạo ra những kết quả đáng khích
lệ, tô thắm thêm trang sử hào hùng về truyền thông vẻ vang của nhà trờng
Trang 23Chơng 2 Quá trình xây dựng và phát triển của
Trờng Đại học S phạm Vinh thời kỳ 1973 – 1990 1990
2.1 Trờng Đại học S phạm Vinh giai đoạn 1973 – 1975
2.1.1 Tình hình Trờng Đại học S phạm Vinh sau thời kì sơ tán
(1973 – 1975)
Sau thắng lợi tại Hội nghị Pari (27/1/1973), nhân dân ta đã hoàn thành mục
tiêu “đánh cho Mĩ cút” trên cả nớc để tiến tới hoàn thành mục tiêu đánh cho“
Ngụy nhào ” ở miền Nam Trong không khí hoà bình đợc lập lại ở miền Bắc,tháng 4/1973, Đại hội đại biểu Đảng bộ trờng lần thứ XII đã đợc tiến hành tại xãDiễn Lâm (Diễn Châu, Nghệ An) Ban chấp hành mới đợc bầu do đồng chíNguyễn Đang làm Bí th Đảng ủy Nghị quyết của Đại hội đã động viên toàn
Đảng bộ cùng tất cả công chức và học sinh sinh viên “phấn đấu dến mức cao
nhất để đa trờng trở về Vinh, ổn định và cải thiện một bớc đời sống cán bộ, nhân viên và học sinh” trong đó việc tập trung toàn tr“ ờng về thành phố Vinh là nhiệm
vụ trung tâm đột xuất của toàn trờng ” [3, 2]
Trờng trở về Vinh trong bối cảnh toàn miền Bắc đang ra sức hàn gắn vếtthơng chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế, đẩy mạnh sản xuất, xây dựngchủ nghĩa xã hội, ổn định đời sống nhân dân, tăng cờng tiềm lực về mọi mặt đểtiếp tục thực hiện nhiệm vụ của hậu phơng lớn là chi viện sức ngời sức của chotiền tuyến lớn miền Nam và làm nghĩa vụ quốc tế cao cả đối với Lào và
Cămpuchia Hội nghị lần thứ 22 của Đảng đã chỉ rõ: “Phải nhanh chóng hoàn
thành việc hàn gắn vết thơng chiến tranh, ra sức khôi phục và phát triển kinh tế, phát triển văn hoá, tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội củng cố quốc phòng; ra sức chi viện cho tiền tuyến và xây dựng vùng giải phóng của đồng bào miền Nam” [31, 359].
Dới ánh sáng của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 22 của Đảng, tháng 2/1973,Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An cũng đã mở Hội nghị bàn về việc lãnh đạonhân dân thực hiện nhiệm vụ năm 1973 là xoá bỏ tàn tích chiến tranh, nhanhchóng đi vào ổn định đời sống
Hởng ứng lời kêu gọi của Trung ơng Đảng và Chính phủ, cũng nh sự chỉ
đạo của Tỉnh uỷ, ngay từ khi trở lại thành phố Vinh, Đảng ủy, Ban giám hiệu nhàtrờng đã chỉ đạo, động viên cán bộ và sinh viên phấn khởi bắt tay ngay vào việckhắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh, nhanh chóng ổn định công tác giảngdạy và học tập Thời điểm này, trờng có những thuận lợi cơ bản và rất quan trọng
Trang 24đó là sự giúp đỡ của lãnh đạo và nhân dân tỉnh Nghệ An, không khí nô nức đónhoà bình của nhân dân miền Bắc cũng nh tinh thần hăng hái, nhiệt tình của tập thểcán bộ, sinh viên toàn trờng Đây chính là động lực to lớn thúc đẩy trờng vợt khóvợt khổ để từng bớc ổn định và phát triển
Bên cạnh những thuận lợi to lớn ấy, thời gian này trờng cũng gặp muônvàn khó khăn Cơ sở cũ của trờng tại thành phố Vinh đã h hỏng nặng, khuôn viêncủa trờng bị phá hoại hoàn toàn Trở về Vinh nhng không phải là về cơ sở cũ,thầy trò phải bắt tay xây dựng cơ sở mới Khu đất trờng đợc chia lại là một vùng
đất trống chỉ có cát trắng, mồ mả, phi lao, cỏ dại và bom đạn còn sót lại Cảthành phố bắt đầu đi vào tái thiết nên điều kiện xây dựng các lớp học, nhà ở, nhà
ăn, khu làm việc… từ đó giúp hết sức khó khăn Trong điều kiện đó, nhiệm vụ đào tạo củanhà trờng đợc Bộ Giáo dục giao lại nặng nề hơn trớc, theo đó bắt đầu từ năm
1973, trờng thực hiện chơng trình đào tạo đại học s phạm hệ 4 năm và bắt đầu từnăm 1976, trờng đợc Bộ Giáo dục giao nhiệm vụ bồi dỡng sau đại học
Bám sát điều kiện hoàn cảnh mới, tháng 4/1973, Đại hội Đảng bộ trờng
lần thứ XII đã đợc tổ chức và đề ra nhiệm vụ : “Tranh thủ điều kiện thuận lợi của
thời bình để giải quyết tốt hơn nữa một số mặt chất lợng đào tạo, thực hiện mạnh
mẽ hơn nữa phơng châm: tinh giản, vững chắc, sát đối tợng phổ thông, mà mấu chốt là vững chắc, tiếp tục đẩy mạnh, chuyển hớng phơng thức đào tạo với hai mũi nhọn tiến công: lao động sản xuất và thực hành nghiệp vụ ” Đồng thời tíchcực chuẩn bị một số điều kiện cần thiết để đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoahọc mà trọng tâm là cải cách giáo dục và công tác bồi dỡng cán bộ một cách có
kế hoạch [3, 3]
Thực hiện chủ trơng đó, trờng đã tổ chức cho học sinh sinh viên tự lao
động xây dựng lớp học, nhà ăn, nhà ở trong giai đoạn trờng vừa chuyển về Vinh.Các khoa đã bố trí sinh viên lên rừng Hơng Sơn khai thác nứa, giang, lá cọ đóng
bè chở về Vinh Sinh viên nhiều lớp cũng đã tự nguyện tổ chức xây dựng các nhàcấp 4 làm nhà ở cho khu nội trú và giảng đờng Bằng sự cố gắng đó, đến cuối
năm 1974, trờng đã xây dựng đợc một cơ ngơi với “hơn 15.000 m 2 nhà cửa, xây dựng và mua sắm đợc nhiều trang thiết bị, dụng cụ, phục vụ cho đời sống, giảng dạy và học tập ” [4, 3]
Công tác thực hành nghiệp vụ cũng đợc nhà trờng hết sức coi trọng trờngphấn đấu nâng cao chất lợng bài giảng, quán triệt phơng châm: gắn học với hành,
lý luận với thực tiễn, phát huy tính chủ động của học sinh sinh viên đồng thời có
kế hoạch để các lớp sinh viên tự bố trí các giờ rèn luyện nghiệp vụ, tổ chức thaogiảng, đánh giá các tiết giảng thử với sự giúp đỡ của các giáo viên bộ môn
Trang 25Với tinh thần quyết tâm vợt qua mọi khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụcủa mình, tập thể cán bộ và học sinh sinh viên nhà trờng đã nỗ lực khắc phục hậuquả chiến tranh, tạo dựng cơ sở vật chất mới để phục vụ công tác học tập vàgiảng dạy, ổn định đời sống nhằm tạo ra những bớc chuyển biến mới tích cực cho
sự phát triển của nhà trờng
2.1.2 Những thành tựu đạt đợc trong giai đoạn 1973 – 1975
Sau 8 năm sơ tán, từ năm 1973 trờng đợc trở về thành phố Vinh, không
còn phải phân tán trên địa bàn quá rộng nh trớc, đợc giảng dạy và học tập trong
điều kiện hoà bình, đất nớc nối liền một dải từ Bắc đến Nam và đang bắt tay vàoxây dựng chủ nghĩa xã hội Khí thế ấy đã cổ vũ động viên cán bộ công chức vàhọc sinh sinh viên của trờng không ngừng phấn đấu thi đua dạy tốt học tốt
Từ năm học 1973 – 1974, Trờng Đại học S phạm Vinh bắt đầu thực hiệnchơng trình đào tạo đại học s phạm hệ 4 năm Nhìn lại suốt chặng đờng đã qua,
kể từ khi thành lập, trải qua 15 năm trởng thành, trờng đã liên tục có những bớctiến mới trong công tác đào tạo, từ hệ đào tạo đại học s phạm chính quy 2 năm( 1959 1963), hệ s phạm chính quy 2 + 1 (1964 – 1966), hệ s phạm chính quy
3 năm (1967 – 1969), hệ s phạm chính quy 3 + 1 (1969 – 1973) và việc ápdụng chơng trình hệ s phạm chính quy 4 năm kể từ năm 1973 Đây thực sự là một
nỗ lực lớn khẳng định quyết tâm của thầy và trò nhà trờng Kết thúc năm học
1973 – 1974, 545 sinh viên hệ chính quy khoá 10 của trờng đã tốt nghiệp Đây
là sự cố gắng lớn của nhà trờng nhằm tạo ra một đội ngũ giáo viên đáp ứng nhucầu mới của công cuộc tái thiết đất nớc sau chiến tranh
Mặc dù phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, nhng với quyết tâm và ý chívợt khó, sau một năm trở về Vinh, nhà trờng đã gặt hái đợc nhiều thành quả đángkể:
- Toàn trờng đã phấn đấu hoàn thành về cơ bản chơng trình và kế hoạch
đào tạo… từ đó giúp trên một số mặt cụ thể của công tác đào tạo khá hơn trong thời kỳchiến tranh nh cải tiến giảng dạy, truyền thụ tri thức cơ bản một cách vững chắc,khôi phục lại hoạt động của một số phòng thí nghiệm, bồi dỡng học sinh giỏi,giúp đỡ học sinh kém, đẩy mạnh các hình thức học tập nh tham quan tại các nhàmáy, học tập trên hiện trờng lịch sử, tham quan di tích lịch sử, tăng cờng lãnh
đạo việc dạy và học ngoại ngữ ở năm thứ nhất, khôi phục phong trào thể dục thểthao ở khu tập thể… từ đó giúp Phát huy vai trò trung tâm khoa học đối với ngành và địaphơng, bồi dỡng và nâng cao trình độ khoa học, ngoại ngữ và nghiệp vụ cho cán
bộ [4, 1 – 2]
Trang 26- Về xây dựng cơ sở vật chất và đời sống: trờng đã xây dựng đợc một cơngơi về cơ sở vật chất … từ đó giúp xây dựng và mua sắm đợc nhiều trang thiết bị hiện đạiphục vụ cho đời sống, giảng dạy và học tập Song song với việc đó, nhà trờngcũng đã lãnh đạo việc tổ chức đời sống đảm bảo cho cán bộ, nhân viên và họcsinh ăn bếp ăn tập thể 2 bữa chính, tiếp tế lơng thực, thực phẩm cung cấp định l-ợng cho cán bộ và học sinh ăn bếp riêng [4, 3 – 4]
- Về công tác t tởng: Đảng uỷ và các chi bộ đã chỉ đạo việc giáo dục thời
sự chính sách lãnh đạo làm cho đảng viên và quần chúng nhận rõ tình hình nhiệm
vụ cách mạng trong giai đoạn mới, động viên mọi ngời thực hiện nghị quyết của
Đảng bộ và các tổ chức đoàn thể… từ đó giúp để tiếp tục nâng cao ý chí chiến đấu, quyếttâm vợt qua mọi khó khăn, đóng góp trí tuệ và sức lực của mình vào sự nghiệpcách mạng, sự nghiệp giáo dục
Công tác xây dựng Đảng cũng đợc nhà trờng rất quan tâm “nhằm mục tiêu
phấn đấu nâng cao ý chí chiến đấu và năng lực hoạt động của các cấp uỷ, chi bộ
và mỗi đảng viên, đủ sức làm tròn nhiệm vụ ” Đảng uỷ đã có kế hoạch củng cố
và tăng cờng các cấp uỷ liên chi, chi bộ, cải tiến sắp xếp lại số liên chi, chi bộ, tổ
đảng Đảng uỷ đã mở lớp học chơng trình chính trị cơ sở cho 24 đảng viên, phốihợp mở lớp sơ cấp cho 20 đảng viên Trong nhiệm kỳ XII (4/1973 – 10/1974) đãkết nạp đợc 7 đảng viên mới [4, 5- 6] Đại bộ phận đảng viên nhất trí với đờng lốicách mạng, đờng lối giáo dục của Đảng, có ý thức kỷ luật, có tinh thần đoàn kếtnhất trí, chịu đựng gian khổ, tự lực cánh sinh, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ đợcgiao
Để nâng cao hiệu quả lãnh đạo, nhà trờng đã đề ra các giải pháp thiết thựcnh: thành lập một số tổ chức mới, điều chỉnh tăng cờng lực lợng cho những mũinhọn công tác mới nh xây dựng khu đệm, quản lý khu tập thể… từ đó giúp điều chỉnh, bổ“
sung quy chế nhiệm vụ các phòng ban và các khoa để mỗi tổ chức có điều kiện làm tốt nhiệm vụ chính trị của mình” [4, 6] Tháng 10/1973, Th viện trờng đợc
thành lập lại, thầy Nguyễn Văn Tự đợc cử làm phụ trách Tháng 11/1973, phòngHành chính – Tài vụ đợc chia thành 2 phòng: Tài vụ và Hành chính tổng hợp.Thầy Phan Văn Thê đợc bổ nhiệm làm Trởng phòng Tài vụ Thầy Nguyễn TrọngCầu đợc bổ nhiệm làm trởng phòng Hành chính tổng hợp Để đảm bảo tốt cáctrang thiết bị thí nghiệm, các phòng thí nghiệm của 3 khoa Lý – Hoá - Sinh đợcchuyển từ nơi sơ tán về khu vực trờng cũ tại phờng Hng Bình, bố trí vào nhà A vàmột nửa nhà B còn sót lại sau chiến tranh
Bên cạnh những thành quả đã đạt đợc, thời gian này hoạt động của trờngvẫn đang còn mộ số hạn chế nh:
Trang 27- Trong công tác đào tạo, “việc lãnh đạo công tác giáo dục đạo đức t tởng
cho học sinh cha có cải tiến đáng kể, riêng đối với các khoa về Vinh trớc có phần bị buông lỏng chất lợng đào tạo nói chung cha có chuyển biến gì đáng kể”
- Công tác nghiên cứu khoa học, bồi dỡng cán bộ vẫn cha đợc lãnh đạo và
quản lý chặt chẽ, “thành tích và kết quả nghiên cứu khoa học, bồi dỡng cán bộ
cha đáp ứng đợc nhu cầu và cha tơng xứng với tiềm lực đội ngũ cán bộ trờng ta ”[4, 3]
- Bộ máy tổ chức quản lý từ trên xuống dới nhiều khâu cha đợc tăng cờng,
“việc phân công phân nhiệm cho mỗi tổ chức, mỗi ngời cha đợc thực sự cụ thể,
rõ ràng Công tác quản lý, chơng trình kế hoạch công tác, quản lý lao động vật t còn lỏng lẻo, việc cải tiến lề lối làm việc cha đáp ứng đợc yêu cầu nâng cao hiệu suất công tác trong tình hình mới” [ 4, 5].
Nguyên nhân của những hạn chế, khuyết điểm trên về khách quan là dotình hình khó khăn chung của đất nớc và tỉnh nhà về cơ sở vật chất, đời sống, nềnếp sinh hoạt công tác do hậu quả chiến tranh để lại… từ đó giúp nhng về chủ quan thì “sự
lãnh đạo của Đảng uỷ và Đảng bộ đối với các nhiệm vụ chính trị thờng xuyên của nhà trờng cha làm cho mọi tổ chức, mọi ngời quán triệt đờng lối giáo dục
đào tạo của Đảng, cha lãnh đạo tốt công tác tổ chức thực hiện nên cha phát
động đợc phong trào tổ chức quần chúng, liên tục duy trì và đẩy mạnh phong trào thi đua dạy tốt học tốt” [4, 3]
Tuy vẫn còn một số tồn tại nhng phải khẳng định rằng những thành quả nhàtrờng đã đạt đợc trong thời kỳ này vẫn là chủ yếu Sự nỗ lực cố gắng đó của tập thểthầy và trò Trờng Đại học S phạm Vinh đã đợc ghi nhận Tháng 5/1974, trờng vinh
dự đợc Nhà nớc tặng thởng Huân chơng Kháng chiến hạng Ba Phần thởng cao quý
ấy là sự khẳng định quyết tâm của trờng, đồng thời làm tăng thêm lòng tự hào vàtinh thần phấn khởi thi đua công tác, học tập và rèn luyện của cán bộ và học sinhsinh viên Trờng Đại học S phạm Vinh
Năm học 1974 -1975, công tác đào tạo của trờng đã có nhiều khởi sắc.Toàn trờng bớc vào năm học mới với đợt học tập về tình hình nhiệm vụ mới của
đất nớc, của ngành giáo dục Nghị quyết 21 của Trung ơng đã đề ra kế hoạchkhôi phục, phát triển kinh tế, văn hoá 2 năm 1974 – 1975 ở miền Bắc, đồng thời
đòi hỏi miền Bắc phải dốc sức cho cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam,tiến tới thống nhất đất nớc Hoà chung với không khí thi đua của dân tộc, toàn tr-ờng cũng dấy lên đợt thi đua lập nhiều thành tích mới chào mừng kỷ niệm 15năm ngày thành lập trờng, đóng góp sức mình vào sự nghiệp cách mạng của cả n-ớc
Trang 28Cũng trong năm học này trờng lại vinh dự đợc đón Bộ trởng Nguyễn VănHuyên về thăm trờng Bộ trởng chúc mừng trờng đã trở lại Vinh và chăm chúlắng nghe ý kiến nguyện vọng của cán bộ công chức, học sinh sinh viên đề đạtcho lãnh đạo Bộ và khen ngợi thầy và trò nhà trờng đã có nhiều cố gắng qua hơn
8 năm sơ tán, động viên toàn trờng nỗ lực hơn nữa trong giai đoạn mới, xứng
đáng là trờng đại học trên quê hơng Xô Viết, quê hơng Bác Hồ kính yêu Trong
buổi làm việc với lãnh đạo trờng, Bộ trởng căn dặn: “Phải luôn coi trọng công
tác chính trị t tởng, đảm bảo an ninh chính trị trong mọi tình huống và giữ vững chất lợng đào tạo chuyên môn” [40, 33]
Cuối năm 1974, do tuổi cao sức yếu, Giáo s Nguyễn Thúc Hào – Hiệu ởng nhà trờng trong suốt 15 năm đợc điều ra Bộ, phó Hiệu trởng Lê Hoài Nam đ-
tr-ợc bổ nhiệm làm Hiệu trởng
Ngày 30/4/1975, chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng Miền Nam hoàntoàn giải phóng, Nam – Bắc một nhà, non sông thu về một mối Thầy và trò Tr -ờng Đại học S phạm Vinh cũng tràn ngập niềm vui chung của đất nớc, của dântộc, chào mừng thắng lợi rực rỡ của cách mạng Việt Nam
Nhận thức đợc trách nhiệm của mình đối với sự nghiệp giáo dục của đất
n-ớc, với tinh thần tình nguyện, chia sẻ, tơng thân tơng ái, ngay sau ngày đất nớcthống nhất, thầy Trần Duy Châu – cán bộ giảng dạy khoa Ngữ văn đợc điều vào
Đại học Sài Gòn và thầy Võ Văn Thu – cán bộ giảng dạy khoa Lý đợc điều vào
Đại học Cần Thơ làm công tác tiếp quản Cuối năm học, trờng tổ chức lễ kếtnghĩa với Đại học S phạm Huế, tặng Đại học S phạm Huế 403 cuốn giáo trình đạihọc s phạm và trên 5000 cuốn sách khác Năm học 1974 – 1975, Trờng có 827sinh viên (khoá12) tốt nghiệp, trong đó có hơn 400 sinh viên đợc phân công côngtác ở các tỉnh phía Nam [40, 34]
Những thành tựu bớc đầu của Trờng Đại học S phạm Vinh sau thời kỳ sơtán đã khẳng định thêm sự đúng đắn, kịp thời, sáng suốt của lãnh đạo nhà trờngkhi chủ trơng quyết tâm đa trờng trở lại Vinh trong năm 1973 Với quyết tâm cao
độ vợt mọi khó khăn, tự lực cánh sinh, ngay từ khi trở về Vinh, tập thể cán bộcông chức và học sinh sinh viên toàn trờng đã nỗ lực hết mình, tập trung sức lực
để xây dựng cơ sở vật chất, đảm bảo kịp thời tiến trình giảng dạy và học tập, đ ahoạt động của trờng dần đi vào nề nếp, ổn định và phát triển, cải tiến chơng trình
và có những tiến bộ nhanh chóng, hoàn thành nhiệm vụ chính trị cao nhất củamình là giáo dục đào tạo đồng thời chi viện cho giáo dục các tỉnh phía Nam vớitinh thần trách nhiệm cao, khẳng định vị thế của Trờng Đại học S phạm Vinhtrong nền giáo dục nớc nhà
Trang 292.2 Trờng Đại học S phạm Vinh giai đoạn 1975 – 1990
2.2.1 Trờng Đại học S phạm Vinh trớc thời kỳ đổi mới (1975 – 1986)
Đại thắng mùa xuân 1975 đã mở ra một trang mới trong lịch sử dân tộcViệt Nam với nhiều thời cơ nhng cũng lắm thách thức Đất nớc thống nhất, nonsông thu về một mối, cả nớc có điều kiện đi lên chủ nghĩa xã hội Nhân dân taphấn khởi, tự hào trớc thắng lợi vĩ đại của dân tộc càng tin tởng tuyệt đối vào chủtrơng chính sách của Đảng và Nhà nớc Chiến thắng oanh liệt của cuộc cáchmạng giải phóng dân tộc là sự cổ vũ, động lực to lớn để cả dân tộc b ớc vào mộtcuộc cách mạng mới – cuộc cách mạng tấn công vào đói nghèo, lạc hậu để đa
đất nớc phát triển phồn vinh, hạnh phúc Trong cuộc cách mạng ấy, văn hoá giáodục trở thành một mặt trận quan trọng và những ngời thầy giáo, cô giáo là nhữngchiến sĩ tiên phong trên mặt trận ấy
Trong không khí chiến thắng của dân tộc, dới sự lãnh đạo của Đảng, củaNhà nớc và của ngành Giáo dục, tập thể thầy và trò Trờng Đại học S phạm Vinhlại cùng nhau bớc vào một thời kỳ mới với những quyết tâm và nỗ lực cao nhất để
đóng góp sức mình vào sự nghiệp cách mạng mới của đất nớc
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, tuy chúng ta có đợc nhữngthuận lợi hết sức cơ bản nhng bên cạnh đó cũng còn rất nhiều khó khăn bởinhững hậu quả chiến tranh để lại
ở miền Bắc, sau một thời gian dài vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa làmnhiệm vụ của hậu phơng lớn, vừa phải trực tiếp chống lại hai cuộc chiến tranh
phá hoại của Đế quốc Mĩ nên “quá trình tiến lên sản xuất lớn bị chậm lại” [31,
365] Vì thế, kinh tế miền Bắc chủ yếu vẫn là sản xuất nhỏ, nông nghiệp lạc hậu,cơ chế quản lý vốn đã nặng nề về tập trung quan liêu bao cấp lại bị chi phối bởiquy luật chiến tranh nên càng bị méo mó, phi kinh tế Sau năm 1975, chiến tranhkết thúc, cơ chế quản lý kinh tế lại bộc lộ rõ hơn những bất cập của nó Quan hệsản xuất có dấu hiệu của sự khủng hoảng Do vậy việc chấn chỉnh lại cơ chế quản
lý cho phù hợp với quy luật vận động là một vấn đề hết sức khó khăn Về mặt xãhội, chiến tranh đã làm xáo trộn và gây tổn thất lớn cho lực lợng lao động và đểlại những hậu quả rất nặng nề và kéo dài
ở miền Nam, do chính sách thực dân kiểu mới của Mĩ, kinh tế miền Namchủ yếu vẫn là sản xuất nhỏ, cơ cấu mất cân đối và lệ thuộc vào nớc ngoài Vìvậy sau khi Mĩ rút quân, cắt viện trợ, kinh tế miền Nam lập tức rơi vào khủnghoảng Đó là cha kể đến sự khó khăn ở những vùng bị tàn phá bởi chiến tranh, bịhuỷ diệt bởi chất độc hoá học Nan giải nhất vẫn là sự phức tạp về mặt xã hội
Trang 30Bên cạnh số đông quần chúng nhân dân phấn khởi bắt tay vào xây dựng chế độmới thì vẫn còn một số bộ phận, nhất là những ngời đã từng đợc tham gia trong
bộ máy quân sự và chính quyền cũ tỏ ra lo ngại, thậm chí kích động, lôi kéo quầnchúng, móc nối với bên ngoài gây rối loạn trong nớc Những di hại do chế độThực dân mới của Mĩ để lại cũng rất nặng nề nh tệ nạn ma tuý, lu manh, bụi đời,mại dâm… từ đó giúp Số ngời thất nghiệp, đặc biệt là số ngời mù chữ chiếm tỉ lệ lớn trongdân c Trong bối cảnh đó, trách nhiệm của những chiến sĩ văn hoá, của ngànhgiáo dục lại càng nặng nề hơn trớc
Với tấm lòng vì miền Nam ruột thịt, với t thế của một trờng đại học s phạmcủa miền Bắc xã hội chủ nghĩa, trờng đã hết lòng chi viện cho miền Nam Trongnhiều năm, nhiều cán bộ giảng dạy của trờng đã không quản ngại đờng xa vàothỉnh giảng ở các trờng đại học phía Nam Từ năm học 1975 – 1976, các cán bộgiảng dạy và cán bộ công chức của trờng quê ở miền Nam đợc Bộ Giáo dục lần l-
ợt điều động trở về quê hơng và trở thành những nòng cốt tại các trờng đại học,
cao đẳng và các cơ sở giáo dục Với tinh thần “chủ động, tích cực vợt qua mọi
khó khăn , ” trờng đã cử những đồng chí cán bộ giảng dạy có trình độ, có kinhnghiệm, có phẩm chất đạo đức tốt vào miền Nam tham gia giảng dạy chơng trìnhnghiệp vụ chuyên môn ở nhiều trờng từ Huế dến Sài Gòn… từ đó giúp cử một số đồng chícán bộ quản lý, cán bộ giảng dạy chuyển hẳn về tăng cờng cho một số trờng đạihọc miền Nam [6, 2]
Bên cạnh đó, Trờng Đại học S phạm Vinh còn “cố gắng đóng góp vào việc
giúp đỡ cho Đại học S phạm Lào”, xây đắp thêm tình hữu nghị nồng thắm giữa
hai nớc Việt – Lào anh em [6, 2]
Do san sẻ lực lợng cho các trờng đại học phía Nam, chỉ tiêu tuyển sinh cácnăm sau lại cao hơn các năm trớc, nên ở năm học 1975 – 1976, trờng thiếu cán
bộ giảng dạy, cán bộ quản lý, cơ sở vật chất phục vụ cho dạy và học đã thiếu lạicàng thêm thiếu Tuy vậy, với quyết tâm và nỗ lực phấn đấu không ngừng, trờng
đã từng bớc khắc phục mọi khó khăn và đạt đợc những thành tựu đáng kể ở nămhọc này, trờng vui mừng đón hơn 500 sinh viên là những đứa con đã làm vẻ vangcho trờng từ quân ngũ trở về tiếp tục học tập
Phơng pháp đào tạo đã có những thay đổi đáng kể Các hoạt động cơ bản
đợc tiếp tục đẩy mạnh Cuộc vận động công tác dạy và học đợc tiến hành khắpnơi và khá sôi nổi Đối với số học sinh sinh viên là bộ đội trở về đi học, trờng đã
có những biện pháp tích cực để bổ túc bồi dỡng thêm về văn hoá [6, 1]
Việc rèn luyện nghiệp vụ s phạm cũng đợc mở rộng hơn trớc.Các hoạt
động lao động phục vụ đợc tăng cờng và ở một số khoa, việc kết hợp giảng dạy,
Trang 31học tập với phục vụ xã hội đợc kết hợp khá nhuần nhuyễn Công tác giáo dục t ởng đợc tiến hành tơng đối kịp thời, liên tục gắn với bớc chuyển giai đoạn củacách mạng Việt Nam Cuộc vận động xây dựng tập thể học sinh xã hội chủ nghĩa
t-đã đợc phát động và tạo nên một số đơn vị tiên tiến, đợc Trung ơng Đoàn côngnhận, biểu dơng Việc thực hiện phơng thức kết hợp giảng dạy, học tập, nghiêncứu khoa học với phục vụ, gắn nhà trờng đại học S phạm với thực tiễn phổ thông
đã có nhiều cố gắng và tiến bộ đáng kể: “chúng ta đã chuyển việc tham quan
kiến tập của sinh viên năm thứ 3 thành một đợt thực tập s phạm Chúng ta cũng
đa học sinh sinh viên vào các hớng nghiên cứu khoa học phục vụ sản xuất và tham gia hoạt động xã hội, gắn việc phục vụ với ngành nghề đào tạo” [5, 1 – 2].
Đặc biệt đây là năm các em học sinh khối chuyên Toán đạt nhiều thành tích caotrong các kì thi học sinh giỏi quốc gia và quốc tế Điển hình là em Ngô NgọcChuyên đạt giải Ba tại kì thi Toán quốc tế lần thứ 18
Về mặt nghiên cứu khoa học, trờng phấn đấu “hoàn thành kế hoạch nghiên
cứu khoa học 1973 – 1975, xây dựng kế hoạch nghiên cứu khoa học 5 năm 1976
Bớc sang năm học 1976 – 1977, Bộ Giáo dục giao cho trờng nhiệm vụbồi dỡng hoàn chỉnh hệ 4 năm cho gần 900 giáo viên cấp 3 công tác trên địa bàncác tỉnh từ Thanh Hoá đến Bình – Trị – Thiên và xét đặc cách cấp bằng đại học
hệ 4 năm cho những sinh viên tốt nghiệp hệ 2 – 3 năm trớc đây Bộ Giáo dụccòn giao cho trờng nhiệm vụ giúp đỡ các Sở Giáo dục từ Thanh Hoá đến Bình –Trị – Thiên mở lớp bồi dỡng giáo viên giảng dạy môn Đạo đức, Chính trị tại cáctrờng phổ thông
Trớc yêu cầu và nhiệm vụ mới, toàn trờng đã đoàn kết nhất trí tiếp tục pháthuy tinh thần cách mạng tiến công liên tục, tinh thần tự lực tự cờng khắc phụckhó khăn, ra sức ổn định củng cố nhà trờng về mọi mặt, đẩy mạnh các hoạt độngtrong trờng, đồng thời đáp ứng các yêu cầu đột xuất do tình hình mới đặt ra Đạihội đại biểu Đảng bộ trờng lần thứ XV họp từ 26 đến 28/10/1976 đã đề ra phơng
hớng nhiệm vụ chung của năm học này là: “Quyết tâm cải tiến bớc đầu công tác
đào tạo và bồi dỡng theo quyết định 391/CP, đồng thời vừa ra sức ổn định, củng
cố nhà trờng về mọi mặt trong hoàn cảnh hiện nay, vừa tích cực xây dựng các
Trang 32điều kiện cần thiết để phát triển sự nghiệp đào tạo, bồi dỡng của trờng một cách mạnh mẽ trong những năm tới, đáp ứng yêu cầu của cải cách giáo dục trong các trờng phổ thông” [6, 4] Trên cơ sở đó, trờng đã đề ra các nhiệm vụ cụ thể nh:
- Cải tiến việc đào tạo, tập trung khắc phục một số nhợc điểm, thiếu sót cơ
bản trong chất lợng đào tạo hiện nay, đặc biệt là về chính trị, t tởng, về kiến thức
và kỹ năng thực hành chuyên môn và nghiệp vụ, dồn sức vào một số khâu nhất
định để đạt tới những kết quả rõ rệt.
- Mở lớp bồi dỡng tại chức: phấn đấu đảm bảo chỉ tiêu (600) và tổ chức
đợt học tập trung đầu tiên vào cuối nhiệm kì I, xác định mục tiêu bồi dỡng chơng trình, nội dung và kế hoạch cho thích hợp, cử cán bộ có trình độ và kinh nghiệm chuẩn bị, thành lập bộ máy quản lý công tác bồi dỡng tại chức từ trờng đến khoa.
- Đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu khoa học: phấn đấu hoàn thành tốt
kế hoạch nghiên cứu khoa học năm 1975, dành u tiên cho các đề tài phục vụ thiết thực, có ý nghĩa khoa học đáng kể và nhằm xây dựng mũi nhọn, xây dựng kế hoạch nghiên cứu khoa học năm 1977 đảm bảo đúng phơng hớng đề ra, đảm bảo tất cả cán bộ giảng dạy đều nghiên cứu khoa học, quản lý chặt chẽ việc thực hiện
kế hoạch, đa sinh hoạt khoa học vào kế hoạch nề nếp
- Tổ chức tốt công tác bồi dỡng cán bộ: bắt đầu thực hiện việc bồi dỡng
sau đại học và đào tạo trên đại học theo kế hoạch 5 năm, cụ thể là gấp rút hoàn thành kế hoạch và chơng trình bồi dỡng các loại cán bộ theo quy định của nhà trờng, tích cực cử và chuẩn bị một số cán bộ làm nghiên cứu sinh trong nớc và n-
ớc ngoài, xúc tiến đào tạo sinh viên Cao đẳng s phạm cho Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh [6, 4 – 5]
Quán triệt thực hiện nội dung Nghị quyết Đại hội XV vào thực tiễn, hoạt
động đào tạo và nghiên cứu khoa học của trờng đã có nhiều chuyển biến tích cực.
Năm học 1976 – 1977, ngoài nhiệm vụ thờng xuyên là đào tạo sinh viên nội trú(2 910 sinh viên) và học sinh chuyên Toán (50 học sinh), trờng còn bồi dỡng ch-
ơng trình năm thứ 4 cho 487 giáo viên cấp 3 đã ra trờng từ các khoá trớc Đội ngũgiáo viên của trờng ngoài nhiệm vụ giảng dạy trong trờng còn phải tham giagiảng dạy ở Trờng Đại học S phạm Huế và các trờng đại học s phạm ở Sài Gòn,các trờng lớp đại học và trung học chuyên nghiệp trong thành phố Tuy vậy, nhàtrờng vẫn hoàn thành kế hoạch giảng dạy với kết quả tích cực Riêng khoá 14 thitốt nghiệp ra trờng đã đậu 822 sinh viên (đạt 92,2%), trong đó trên 200 sinh viên
đợc phân công giảng dạy ở các tỉnh phía Nam
Công tác nghiên cứu khoa học trong năm học này cũng đợc đẩy mạnh với
143 đề tài đợc đăng ký trong đó có 96 đề tài thuộc khoa học giáo dục, 40 đề tài
Trang 33khoa học cơ bản và 7 đề tài phục vụ sản xuất Kết quả là hầu hết các đề tàinghiên cứu hoàn thành đúng hạn, trong đó đáng chú ý là các đề tài phục vụ sảnxuất đều đợc công nhận tốt Đầu năm 1977, số đề tài phục vụ sản xuất là 12 và đềtài nghiên cứu khoa học giáo dục là 59 Trên 20 đề tài nghiên cứu khoa học đ ợcbáo cáo ở hội nghị khoa học cấp trờng [33, 46]
Cũng từ năm học này, dới sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục, trờng đã tổ chứckhoá đào tạo bồi dỡng Sau đại học đầu tiên, tiền thân của hệ đào tạo cao học vànghiên cứu sinh sau này, với 66 học viên, chủ yếu là các giáo viên của Nghệ Tĩnh
và Thanh Hoá Việc mở các khoá bồi dỡng Sau đại học trớc hết nhằm nâng caotrình độ cho đội ngũ cán bộ giảng dạy của trờng đồng thời góp phần bồi dỡng cán
bộ cho các trờng s phạm và giáo viên cốt cán chuyên môn ở các trờng phổ thông
Đây là một nhiệm vụ mới đòi hỏi sự nỗ lực lớn của tập thể cán bộ, tạo điều kiện
để nâng cao vị thế của trờng trong hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học
ở các năm học cuối cùng của thập niên 70, đất nớc gặp nhiều khó khăn.Trong nớc, ở nhiều nơi, tình hình an ninh trật tự không ổn định Đặc biệt ở miềnNam, các thế lực phản động đợc cài lại trong nớc phối hợp với những lực lợng thù
địch ở nớc ngoài âm mu trỗi dậy tìm cách phá rối, hô hào bạo loạn hòng lật đổchính quyền cách mạng Kinh tế chậm phát triển, sản xuất sút kém, đời sốngnhân dân thiếu thốn, lơng thực thiếu trầm trọng, hàng hoá khan hiếm, nền kinh tếcủa đất nớc rơi vào khủng hoảng Trong hoàn cảnh khó khăn đó, cán bộ côngchức và học sinh sinh viên của trờng vẫn động viên nhau cố gắng hoàn thànhnhiệm vụ, tiếp tục giữ vững chất lợng đào tạo
Bớc vào năm học 1977 – 1978, công tác đào tạo của trờng có nhiều thuậnlợi nhờ có sự chỉ đạo của Nghị quyết Đại hội Đảng, Nghị quyết II của Trung ơng,Nghị quyết Đại hội IX của Tỉnh đảng bộ và chỉ thị của các đảng đoàn và tỉnh uỷsoi sáng Từ phong trào cách mạng trong cả nớc và nhất là các phong trào cáchmạng sôi nổi của nhân dân Nghệ Tĩnh cổ vũ, trờng đã có thêm một số cơ sở vậtchất, một số kinh nghiệm lãnh đạo chỉ đạo tổ chức quản lý, vận động quần chúngthực hiện những nhiệm vụ mới Nhng bên cạnh đó, những thách thức mới đặt racho nhà trờng vẫn còn nhiều: trờng đợc cấp trên giao thêm những nhiệm vụ mới
và đặt ra những yêu cầu cao hơn về chất lợng đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ,xây dựng Đảng, tổ chức phong trào quần chúng… từ đó giúp nhng đội ngũ cán bộ của trờngcha đợc tăng cờng về số lợng cũng nh chất lợng, cơ sở vật chất và đời sống cònnhiều khó khăn
Căn cứ vào các chỉ thị, nghị quyết của cấp trên và tình hình thực tế, Đạihội đại biểu Đảng bộ trờng lần thứ XVI (5 – 6/11/1977) đã nhất trí đề ra phơng
Trang 34hớng, nhiệm vụ của trờng trong năm học mới là: “Phát huy sức mạnh tổng hợp,
đẩy mạnh phong trào thi đua Hai tốt“ ” theo tinh thần đồng khởi, thực hiện Nghị
quyết Đại hội toàn quốc lần thứ IV của Đảng, tạo nên một sự chuyển biến bớc đầu nhng mạnh mẽ và vững chắc trong công tác đào tạo, hoàn thành các nhiệm vụ đợc giao, đồng thời tích cực đẩy mạnh công tác xây dựng đội ngũ cán bộ chuẩn bị cho những năm sau, có sự chuyển biến rõ rệt trong việc kết hợp giảng dạy, học tập và lao động sản xuất, hoạt động xã hội, thực nghiệm và nghiên cứu khoa học, có tiến
bộ đáng kể trong việc tổ chức đời sống vật chất và tinh thần, tạo nên môi trờng giáo dục tốt trong nhà trờng ” [7, 1]
Hởng ứng tinh thần Nghị quyết Đại hội XVI, thầy và trò nhà trờng đã tích
cực thi đua lập nhiều thành tích Các lớp phấn đấu xây dựng Tập thể học sinh xã “Tập thể học sinh xã hội chủ nghĩa , Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo , ” “ ” cán bộ thi
đua xây dựng tổ, đội lao động xã hội chủ nghĩa, tăng cờng “Giáo dục đạo đức
cách mạng trong trờng học ” Kết quả, năm học này trờng có 591 sinh viên khoá
14 tốt nghiệp Công tác đào tạo đã đi vào ổn định, các hoạt động giáo dục, hoạt
động giảng dạy… từ đó giúp đều có những tiến bộ, những kinh nghiệm mới Kế hoạchgiảng dạy, đào tạo của năm học đều đợc triển khai một cách toàn diện, chủ động
và đều hoàn thành [8, 7] Hoạt động nghiên cứu khoa học cũng thu hút đợc nhiềucán bộ và học sinh tham gia Có một số đề tài nghiên cứu phục vụ sản xuất và đờisống đợc thực hiện hiệu quả và có tác dụng rõ rệt Nhiều đề tài phục vụ việc nângcao chất lợng đào tạo nh viết giáo trình, đề cơng bài giảng lớp Sau đại học, hàmthụ năm thứ t đã phát huy tác dụng trong công tác đào tạo, bồi dỡng cán bộ trong
và ngoài trờng [8, 8] Công tác bồi dỡng cán bộ có nhiều chuyển biến: có quy
định cụ thể về chế độ học tập bồi dỡng, chế độ tập sự khoa học, học tập của cán
bộ giảng dạy ở các chuyên đề ở khoa, tổ [8, 8]
Công tác xây dựng sửa chữa cơ sở vật chất và tổ chức đời sống cũng rất
đ-ợc chú trọng: có thêm một số diện tích nhà mới “Tập thể học sinh xã một số cơ sở vật chất phục vụ công tác giảng dạy và sinh hoạt” [8, 9].
Công tác giáo dục t tởng cũng đợc phát huy cao độ Nhà trờng đã có kếhoạch bồi dỡng chính trị cho tất cả các đảng viên và cán bộ, học sinh sinh viêntrong trờng (gồm 2980 học sinh và 780 cán bộ công nhân viên), nhằm nâng caotinh thần đấu tranh cách mạng, có tinh thần cảnh giác trong tình hình mới Riêngcán bộ chủ chốt có 25 đồng chí học ở lớp do Ban khoa giáo Trung ơng và 15
đồng chí học ở lớp do Đảng bộ mở [8, 11]
Cũng trong năm học này, Bộ Giáo dục cho phép trờng mở khoa Tại chức,thầy Phạm Huy Phơng đợc bổ nhiệm làm chủ nhiệm khoa
Trang 35Sang năm học 1978 – 1979, nhân dịp kỷ niệm 20 năm ngày thành lập ờng, các hoạt động của trờng cũng có nhiều đổi mới.
tr-Tháng 1/1979, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 14 về cải cách giáo dụcnhằm xây dựng và phát triển hệ thống giáo dục quốc dân thống nhất trong cả n -
ớc với phơng châm “S phạm phải đi trớc một bớc ” Để triển khai Nghị quyếtcủa Bộ Chính trị đạt kết quả tốt, trờng đã chỉ đạo các khoa, các đơn vị rà soát lại
đội ngũ cán bộ công chức, đặc biệt là chất lợng đội ngũ cán bộ giảng dạy, xemxét đánh giá lại chơng trình đào tạo, điều chỉnh việc thực hiện quy chế đào tạo,quyết tâm đa sự nghiệp giáo dục của trờng ngày càng phát triển
Trong không khí hồ hởi hớng về ngày trờng tròn 20 tuổi, tập thể cán bộ
công chức thực hiện khẩu hiệu: Mỗi cán bộ công chức là một tấm g “Tập thể học sinh xã ơng sáng cho học sinh sinh viên noi theo”, học sinh sinh viên thực hiện khẩu hiệu: “Học mời giờ một ngày có chất lợng” Cũng nhân dịp này, trờng vinh dự đợc nhà nớc
đã có không ít ngời mãi mãi nằm lại chiến trờng, hy sinh tuổi thanh xuân và cảcuộc đời cho độc lập dân tộc
Trong hoàn cảnh khó khăn chung của toàn dân tộc, với sự nỗ lực khôngngừng, Trờng Đại học S phạm Vinh vẫn hoàn thành nhiệm vụ đào tạo của mình.Kết thúc năm học 1978 – 1979, 634 sinh viên khoá 16 của trờng tốt nghiệp Kếtthúc năm học 1979 – 1980, 724 sinh viên khoá 17 tốt nghiệp
Bớc sang thập niên 80, đất nớc lâm vào tình trạng hết sức khó khăn Vớimong muốn đa đất nớc thoát nhanh khỏi nghèo nàn, lạc hậu, trở thành nớc pháttriển mạnh với quy mô lớn, Đảng và Nhà nớc ta đã hoạch định một đờng lốichiến lợc có phần cha hợp lý, đề ra những mục tiêu quá lớn và bỏ qua những bớc
đi cần thiết, thể hiện t tởng chủ quan, nóng vội, duy ý chí Thêm vào đó, các yếu
tố khách quan tác động nh việc chúng ta tiến lên chủ nghĩa xã hội từ một xuấtphát điểm rất thấp, lại chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh Năm 1979, chiến
Trang 36tranh biên giới Tây Nam và chiến tranh biên giới phía Bắc làm cho bức tranhkinh tế xã hội của đất nớc càng xấu hơn Cùng với nó là thiên tai địch họa trongnhững năm 1977, 1978… từ đó giúp Tất cả những yếu tố đó cùng tác động đã làm cho kếhoạch 5 năm 1976 – 1980 không thu đợc nhiều kết quả, thậm chí một số sảnphẩm công nghiệp và nông nghiệp quan trọng bình quân đầu ngời không giữ đợcmức của năm 1976 Tình hình sản xuất kém cộng với những sai lầm trong luthông phân phối, thị trờng tài chính, tiền tệ nên lạm phát diễn ra nghiêm trọng.
Đời sống của nhân dân gặp rất nhiều khó khăn Đất nớc rơi vào khủng hoảngkinh tế
Vào những năm 80, những sai lầm trong chính sách giá - lơng – tiền làmcho đất nớc vốn đã khủng hoảng lại càng khủng hoảng trầm trọng Lạm phát tăngvọt và trở thành siêu lạm phát vào năm 1986 với tốc độ tăng giá lên tới 774,7%,cuộc sống của ngời dân vô cùng khó khăn, khổ cực.[31, 378]
Do nền kinh tế giảm sút nên sự nghiệp giáo dục cũng gặp nhiều khó khăn,nhu cầu đào tạo giáo viên cấp 3 giảm nhanh chóng Chỉ tiêu tuyển sinh vào cáctrờng đại học s phạm trong nớc ở mức rất thấp Những khó khăn đó kéo dài cho
đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986) và tiếp tục ảnh h ởng
đến sự nghiệp giáo dục trong những năm tiếp đó Trong hoàn cảnh ấy, tập thể cán
bộ công chức và học sinh sinh viên các khoa của trờng vẫn chung lng đấu cật,
đoàn kết động viên nhau vợt qua mọi khó khăn, duy trì sự tồn tại và phát triểncủa nhà trờng
Để kịp thời thích ứng với tình hình mới, tháng 12/1980, lãnh đạo Trờng
Đại học S phạm Vinh đã tổ chức Đại hội đại biểu Đảng bộ lần thứ XVIII Sau khi
đã phân tích tình hình, khẳng định và phát huy những cố gắng tiến bộ đã đạt đợc,kiên quyết sửa chữa khắc phục những khuyết điểm tồn tại, lãnh đạo nhà trờng đã
đề ra phơng hớng phấn đấu trong thời gian tới là: “Nâng cao ý chí cách mạng
tiến công, phát huy ý thức và vai trò làm chủ tập thể của mọi thành viên trong ờng, tích cực cải tiến công tác tổ chức và quản lý, phát huy mọi tiềm lực khoa học và tận dụng cơ sở vật chất của trờng, phấn đấu vợt qua mọi khó khăn, tiếp tục quán triệt các quan điểm t tởng của cải cách giáo dục và thực tiễn đào tạo, giữ vững và có phần nâng cao chất lợng đào tạo, hoàn thành tốt cuộc vận động giáo dục đạo đức cách mạng”[9, 3].
tr-Những mục tiêu chính là:
- Tiếp tục triển khai mạnh mẽ, đều khắp cuộc vận động “Tập thể học sinh xãTăng cờng giáo
dục đạo đức cách mạng trong trờng học” nhằm góp phần nâng cao chất lợng
đào tạo toàn diện triển khai sâu rộng cuộc vận động “Tập thể học sinh xãMỗi thầy giáo cô giáo
Trang 37là một tấm gơng cho học sinh noi theo” Tăng cờng công tác chủ nhiệm, nâng
cao chất lợng các hoạt động tập thể của học sinh.
- Đẩy mạnh việc cải tiến giảng dạy và học tập, lấy việc tổ chức tốt việc học tập cho học sinh làm trung tâm của mọi hoạt động, trớc hết là việc giảng dạy.
- Cải tiến công tác quản lý học sinh theo hớng tăng cờng vai trò làm chủ tập thể đồng thời nêu cao ý thức thái độ trách nhiệm của mỗi học sinh.
- Nâng cao một bớc chất lợng giáo dục, rèn luyện nghiệp vụ cả về nhận thức tình cảm, lý luận khoa học và năng lực nghề nghiệp tiếp tục phát triển phong trào nghiên cứu khoa học trong tất cả cán bộ giảng dạy, thu hút đông đảo học sinh tham gia [9, 4 – 5]
Bên cạnh công tác đào tạo, công tác giáo dục t tởng và vận động quần
chúng cũng đợc nhà trờng hết sức quan tâm, chú trọng nhằm tạo nên những “Tập thể học sinh xã chuyển biến cụ thể phát huy quyền làm chủ tập thể của quần chúng và đóng góp phần thiết thực giải quyết những khó khăn hiện nay, giữ vững và nâng cao chất lợng đào tạo” [9, 5] Nhờ sự quan tâm chỉ đạo sát sao kịp thời, đúng đắn của
lãnh đạo nhà trờng, trong những năm học 1980 – 1981, 1981 – 1982, trờng vẫn
đạt đợc nhiều kết quả đáng khích lệ “ở một số khoa, nề nếp học tập, sinh hoạt
đợc giữ vững, có tiến bộ, trong trờng không xảy ra những hiện tợng tiêu cực lớn”
[10, 4]
Về mặt tổ chức, năm học 1980 – 1981, Hiệu trởng Lê Hoài Nam đợc cử đihọc ở Trờng Đảng Nguyễn ái Quốc Phó Hiệu trởng Phạm Quý T đợc chỉ định giữchức vụ quyền Hiệu trởng Cuối năm 1981, thầy Lê Hoài Nam trở về thì thầyPhạm Quý T đợc Bộ điều động làm Hiệu trởng Trờng Đại học S phạm I Hà Nội.Năm 1982, thầy Lê Hoài Nam đợc Bộ Giáo dục điều vào làm Hiệu trởng Trờng
Đại học S phạm Quy Nhơn, phó Hiệu trởng Phan Bá Nhẫn đợc bổ nhiệm làm Hiệutrởng [40, 38]
Cũng trong các năm 1980 – 1981, 1981 – 1982, công tác đào tạo của ờng đã thu đợc nhiều thành tựu Việc giảng dạy ở các bộ môn chung và các khóa
tr-đều có sự cải tiến về mặt nội dung và phơng pháp nhằm tăng cờng giáo dục đạo
đức cách mạng, tiếp tục tinh giản nội dung, đảm bảo hệ thống kiến thức cơ bảnkết hợp với hiện đại hoá từng phần, gắn với yêu cầu giảng dạy ở trờng phổ thông,tăng cờng thực hành thực nghiệm phục vụ sản xuất và phục vụ 3 cuộc cách mạng
Trong công tác chính trị t tởng, cuộc vận động giáo dục đạo đức cáchmạng đã đợc kết hợp với cuộc vận động chống tiêu cực và cuộc vận động bảo vệ
an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, cơ quan thu đợc nhiều kết quả tốt Đặcbiệt, công tác xây dựng và tổ chức, phát triển Đảng có nhiều thành tựu vợt bậc.Riêng trong 2 năm học này đã kết nạp đợc 31 đảng viên trong đó 15 đồng chí là
Trang 38cán bộ giảng dạy Trên 100 đồng chí đợc giới thiệu về sinh hoạt nhóm đảng viêncùng phố và tổ chức 38 nhóm đảng viên sinh hoạt cùng nhà ở trong khu vực khutập thể của trờng gồm 160 đảng viên tham gia [10, 3].
Công tác xây dựng sửa chữa cơ sở vật chất cũng đã thu đợc nhiều thành tựuvới việc làm thêm 4500m2 nhà ở, sửa chữa hàng trăm mét đờng ống nớc, sửa chữalại nhiều nhà, nhiều cửa lớp học, bàn ghế học sinh… từ đó giúp làm giảm bớt những khókhăn trớc đây
Kết thúc năm học 1980 – 1981 trờng có 642 sinh viên khoá 18 tốt nghiệp.Kết thúc năm học 1981 – 1982 trờng có 322 sinh viên khoá 19 tốt nghiệp
Có thể nói rằng trong hoàn cảnh khó khăn nh lúc bấy giờ, việc trờng khôngchỉ tồn tại và đứng vững mà còn thu đợc những kết quả đáng khích lệ nh trên làmột sự nỗ lực lớn của cán bộ công chức và học sinh sinh viên toàn trờng Tuyvậy, so với tiềm lực và truyền thống của trờng thì rõ ràng kết quả nh vậy là chaxứng tầm và và cần phải cố gắng nhiều hơn nữa
Nhận thức đợc tình hình thực tế đó, lãnh đạo nhà trờng cũng đã có nhiềubiện pháp khắc phục nhng do nhiều lý do khách quan và chủ quan mà trong 2
năm học tiếp theo (1982 – 1983, 1983 – 1984), “chất lợng đào tạo cha có
chuyển biến đáng kể nh yêu cầu đặt ra, kể cả chất lợng chính trị t tởng và văn hóa nghiệp vụ Trong sinh viên, tinh thần học tập và ý thức tổ chức kỷ luật trật tự vẫn còn nhiều biểu hiện yếu kém”[11, 1] Tình hình an ninh tuy có nhiều cố gắng
nhng vẫn còn nhiều tồn tại… từ đó giúp Đời sống cán bộ và sinh viên còn nhiều khó khăn,
“nhiều cán bộ giảng dạy sức khoẻ giảm sút rõ rệt, bữa ăn của sinh viên còn
thấp” [11, 2].
Trớc tình hình đó, ngày 10/11/1983, lãnh đạo trờng đã quyết định tổ chứcHội nghị Đảng ủy mở rộng về những nhiệm vụ cấp bách hiện nay, trong đó nhấnmạnh cần tập trung chỉ đạo cho đợc những chuyển biến cụ thể, mạnh mẽ, đềukhắp về ba công tác cấp bách là:
- Tăng cờng hơn nữa công tác quản lý giáo dục học sinh, tạo chuyển biến
rõ rệt về nề nếp giảng dạy học tập, ăn ở, đảm bảo an toàn tuyệt đối trong khu nội trú, xây dựng đơn vị quyết thắng về trật tự và an ninh.
- Đẩy mạnh hơn nữa hoạt động nghiên cứu ứng dụng các tiến bộ khoa học
kỹ thuật và sản xuất, đời sống và quốc phòng, đẩy mạnh lao động sản xuất làm
ra của cải Đây là yêu cầu vừa cấp bách vừa lâu dài.
- Tiếp tục tổ chức tốt đời sống vật chất cho cán bộ và học sinh, nâng tiêu chuẩn và chất lợng bữa ăn bếp tập thể [12, 1 – 3 – 4].
Đồng thời nhà trờng cũng đa ra chơng trình hành động cho năm học 1983– 1984 với các yêu cầu chung:
Trang 39- Xây dựng trờng thành đơn vị lành mạnh về chính trị, t tởng và nếp sống,
đơn vị quyết thắng về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
- Từng bớc cải thiện đời sống cán bộ và học sinh.
- Xây dựng nề nếp giảng dạy học tập tốt đồng đều trong trờng.
- Triển khai tốt việc nghiên cứu ứng dụng các tiến bộ khoa học và kỹ thuật vào sản xuất và đời sống [13, 2].
Nhờ sự chỉ đạo kịp thời, kiên quyết, liên tục của các cấp uỷ, các cấpchuyên môn, các tổ chức trong trờng về việc thực hiện 3 nhiệm vụ cấp bách nênhoạt động của trờng trên tất cả các mặt đều có những chuyển biến đáng kể Nămhọc 1983 – 1984, trờng có 404 sinh viên khoá 21 tốt nghiệp, trong đó tốt nghiệp
đợt 1 đạt 56% (so với khoá học trớc là 50% ) và tốt nghiệp cả khoá đạt 94% (sovới khoá học trớc là 92%) [16, 1]
Công tác nghiên cứu khoa học, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật cómột số chuyển biến với 186 đề tài đợc đăng ký triển khai, tổ chức đợc 2 hội nghịcấp trờng, 19 đề tài khoa học và 19 sáng kiến kinh nghiệm đợc khen thởng [14,2]
Chất lợng chính trị t tởng của học sinh sinh viên cũng có những tiến bộ.Xếp loại t tởng cuối học kì I có 24,3% loại A, 2,4% loại D [14, 1] Cuối năm học
có 100% chi đoàn là vững mạnh, trong đó có 2 chi đoàn đợc trung ơng Đoàn tặng
cờ, 6 tập thể đợc trung ơng tặng bằng khen Trong đợt thi đua kiểm tra xếp loạicủa tỉnh đoàn, Đoàn Trờng Đại học S phạm Vinh đợc xếp loại tốt Trong hai cuộcthi tìm hiểu lịch sử Đảng, quân đội, Đoàn cũng đựơc xếp loại I và có nhiều họcsinh đạt giải của trung ơng [16, 1]
Trong không khí tiến bộ mới của nhà trờng, tháng 10/1984, Đại hội đạibiểu toàn trờng lần thứ XX đợc họp Nghị quyết đại hội đã tiếp tục nhấn mạnh
việc phát triển, nâng cao chất lợng đào tạo: Phải phát huy hiệu quả giáo dục “Tập thể học sinh xã của hoạt động chuyên môn, hoạt động xã hội và các hoạt động hàng tháng chủ
động tích cực trong công tác nghiên cứu khoa học và bồi dỡng cán bộ nhằm đáp ứng kịp thời các yêu cầu của sự nghiệp đào tạo cải cách giáo dục và phát triển kinh tế ” [15, 1 - 2]
Năm học 1984 – 1985, nhà trờng đã cố gắng cải tiến phơng pháp, nộidung giảng dạy theo hớng phục vụ cải cách giáo dục, đa vào chơng trình rènluyện nghiệp vụ một số chơng bài thiết thực giúp cho học sinh ra trờng ít bỡ ngỡ.Cũng trong năm học này, nhân dịp kỷ niệm 25 năm thành lập, trờng đã phát độngphong trào thi đua quần chúng trên tất cả các hoạt động, thực sự tạo đợc chuyểnbiến về t tởng và tình cảm trong cán bộ và học sinh sinh viên: tự hào về truyền
Trang 40thống của trờng, tin tởng vào bớc phát triển mới, xác định đợc trách nhiệm củatừng ngời và của và của tập thể nhà trờng.
Đây cũng là năm học có nhiều đề tài nghiên cứu và hội nghị khoa học,trong đó có 3 hội nghị do trờng chủ trì hoặc phối hợp chủ trì mang tầm cỡ quốcgia nh: Hội nghị Toán học ở Cửa Lò, Hội nghị văn học dân gian miền Trung ởQuy Nhơn, Hội nghị khoa học về Hồ Chủ tịch Một số đề tài ứng dụng thiết thực
nh phân tích đất (khoa Hoá - Sinh ở Diễn Châu, Nghi Lộc, Đức Thọ), phân tíchchất lợng muối (khoa Hoá - với Chi cục muối), ứng dụng phiếu lỗ để quản lý cán
bộ (khoa Toán – với Sở Xây dựng)… từ đó giúp
Công tác bồi dỡng cán bộ trong năm học này cũng có nhiều chuyển biến
Có 5 giáo viên đã bảo vệ xong luận án tiến sĩ và phó tiến sĩ Trong số 6 ngời đựơc
cử đi thi nghiên cứu sinh ở nớc ngoài đã đậu 4 ngời, đi thi nghiên cứu sinh trongnớc 7 ngời đã đậu 5 ngời Hàng chục cán bộ đã đợc cử đi thực tập, tham quankhoa học trong và ngoài nớc [17, 4]
Cũng trong năm học này, Nhà nớc đã phong tặng học hàm Phó Giáo s cho
17 cán bộ của trờng Đặc biệt, Giáo s Nguyễn Thúc Hào đợc Nhà nớc tặng Huânchơng Lao động hạng Nhất Ngoài ra, trờng còn tổ chức việc bình xét công nhậnchức vụ khoa học trong cán bộ giảng dạy, xét phong chức vụ giảng viên trởngcho 51 ngời, giảng viên cho 46 ngời, trợ lý cho 111 ngời Cán bộ giảng dạy Tr-ờng Đại học S phạm Vinh là một trong hai đơn vị đầu tiên của ngành giáo dục tổchức xét phong chức vụ khoa học [16, 4 – 5]
Cũng từ năm 1974, Bộ Giáo dục cùng với Bộ Quốc phòng quyết địnhthành lập Khoa Quân sự tại Trờng Đại học S phạm Vinh Trung tá Đặng NgọcChính đợc bổ nhiệm làm chủ nhiệm khoa Các đồng chí trong ban chủ nhiệm vàcán bộ giảng dạy của khoa đều là sĩ quan biệt phái Từ đây, ngoài nhiệm vụ huấnluyện thờng xuyên cho sinh viên, trờng còn có nhiệm vụ đào tạo sĩ quan dự bị.Kết thúc năm học 1984 – 1985, trờng đã đào tạo đựơc 75 học viên, với 100%
đạt yêu cầu đợc phong Thiếu uý, trong đó 3 học viên xuất sắc đợc phong Trung
uý [16, 2], tiễn đa 9 cán bộ giảng dạy là sĩ quan dự bị nhập ngũ và 26 học sinh điHọc viện quân sự (vợt chỉ tiêu 2) [17, 3]
Sau 2 năm gián đoạn, từ năm học 1983 – 1984, khối trung học phổ thôngchuyên Toán tuyển sinh trở lại, tạo nên niềm phấn khởi cho cán bộ giáo viêntrong khối nói riêng và toàn trờng nói chung
Kết thúc năm học 1984 – 1985 trờng có 505 sinh viên khoá 22 tốt nghiệp.Kết thúc năm học 1985 – 1986 trờng có 247 sinh viên khóa 23 tốt nghiệp