1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án Tiến sĩ Y học: Nghiên cứu đặc điểm X quang khớp cổ chân ở người Việt Nam trưởng thành và kết quả điều trị gãy kín Dupuytren bằng phương pháp kết xương bên trong

187 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 187
Dung lượng 3,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận án nghiên cứu với mục tiêu nhằm mô tả một số đặc điểm X quang khớp cổ chân ở người Việt Nam trưởng thành. Đánh giá kết quả điều trị gãy kín Dupuytren bằng phẫu thuật kết xương bên trong. Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

HỌC VIỆN QUÂN Y

NGUYỄN BÁ NGỌC

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM X QUANG KHỚP CỔ CHÂN Ở

NGƯỜI VIỆT NAM TRƯỞNG THÀNH

VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ GÃY KÍN DUPUYTREN

BẰNG PHƯƠNG PHÁP KẾT XƯƠNG BÊN TRONG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

HÀ NỘI – 2021

Trang 2

HỌC VIỆN QUÂN Y

NGUYỄN BÁ NGỌC

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM X QUANG KHỚP CỔ CHÂN Ở

NGƯỜI VIỆT NAM TRƯỞNG THÀNH

VÀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ GÃY KÍN DUPUYTREN

BẰNG PHƯƠNG PHÁP KẾT XƯƠNG BÊN TRONG

Chuyên ngành: Ngoại khoa

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc công

bố trong bất kỳ một công trình khoa học nào khác

Tác giả

Nguyễn Bá Ngọc

Trang 4

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc!

Tôi xin trân trọng cảm ơn Đảng ủy Ban Giám đốc, Phòng Sau đại học,

Học viện Quân y, Bệnh viện Quân y 103 đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin trân trọng cảm ơn các Thầy, Cô Bộ môn – Trung tâm Chấn

thương chỉnh hình - Bệnh viện Quân y 103 cùng các đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi thu thập số liệu nghiên cứu

Tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS.Phạm Đăng Ninh, GS.TS Nguyễn Trường Giang, những người thầy đã tận tình hướng dẫn tôi, luôn tin tưởng,

khích lệ, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập và làm luận án

Tôi xin được gửi lời biết ơn tới những người thân trong gia đình đã luôn động viên giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu Tôi xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đã luôn bên tôi, động viên và hỗ trợ cho tôi

Tôi xin chân thành cảm ơn nhóm tình nguyện tham gia nghiên cứu và

các BN đã đồng ý và tạo điều kiện cho tôi thu thập số liệu để thực hiện đề tài nghiên cứu

Hà Nội, tháng năm 2021

Nghiên cứu sinh

Nguyễn Bá Ngọc

Trang 5

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục chữ viết tắt

Danh mục bảng

Danh mục hình

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 3

1.1 Một số đặc điểm giải phẫu khớp cổ chân 3

1.1.1 Đặc điểm về xương 3

1.1.2 Hệ thống dây chằng và bao khớp 4

1.1.3 Mạch máu vùng cổ chân 8

1.1.4 Sinh lý và chức năng khớp cổ chân 9

1.2 Tình hình nghiên cứu giải phẫu khớp cổ chân trên phim X quang quy ước 10

1.2.1 Trên thế giới 10

1.2.2 Ở Việt Nam 14

1.3 Gãy Dupuytren 14

1.3.1 Khái niệm gãy Dupuytren 14

1.3.2 Thương tổn giải phẫu trong gãy Dupuytren 16

1.3.3 Phân loại gãy các mắt cá 16

1.3.4 Chẩn đoán hình ảnh trong gãy Dupuytren 21

1.3.5 Các phương pháp điều trị gãy kín Dupuytren 26

1.4 Sơ lược lịch sử nghiên cứu và điều trị gãy Dupuytren 32

1.4.1 Trên thế giới 32

Trang 6

2.1 Nghiên cứu một số đặc điểm giải phẫu trên phim X quang qui ước

khớp cổ chân người Việt Nam trưởng thành 37

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu mục tiêu 1 37

2.1.2 Phương pháp nghiên cứu mục tiêu 1 37

2.2 Nghiên cứu trên lâm sàng 45

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 45

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 46

2.2.3 Các bước tiến hành 47

2.2.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu 47

2.2.5 Đánh giá kết quả 49

2.2.6 Phương pháp phẫu thuật 53

2.2.7 Xử lý số liệu 57

2.2.8 Đạo đức nghiên cứu 58

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 60

3.1 Kết quả khảo sát một số đặc điểm giải phẫu trên phim X quang quy ước khớp cổ chân bình thường 60

3.1.1 Tuổi và giới tính 60

3.1.2 Trên phim chụp bàn chân tư thế xoay trong 150 67

3.1.3 Kết quả khảo sát trên phim chụp X quang cổ chân tư thế nghiêng 71 3.2 Kết quả điều trị bằng phẫu thuật kết xương bên trong 71

3.2.1 Đặc điểm nhóm BN nghiên cứu 72

3.2.2 Phương pháp phẫu thuật điều trị gãy Dupuytren 76

3.2.3 Kết quả điều trị 79

3.2.4 Biến chứng sau phẫu thuật 94

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 95

Trang 7

4.1.1 Đặc điểm tuổi, giới của nhóm nghiên cứu mục tiêu 1 95

4.1.2 Lý do phải nghiên cứu đặc điểm giải phẫu X quang khớp cổ chân 96 4.1.3 Kết quả nghiên cứu khớp cổ chân trên phim X quang chụp khớp cổ chân người Việt trưởng thành bình thường 98

4.1.4 Đặc điểm giải phẫu khớp chày sên trên phim X quang qui ước 104

4.1.5 Kết quả khảo sát sự liên quan giữa hai mắt cá 105

4.1.6 Vị trí của xương mác trên phim nghiêng khớp cổ chân 106

4.2 Kết quả điều trị gãy Dupuytren 108

4.2.1 Đặc điểm của nhóm nghiên cứu 108

4.2.2 Đặc điểm tổn thương giải phẫu 109

4.2.3 Thời điểm phẫu thuật 113

4.2.4 Chỉ định điều trị phẫu thuật kết xương bên trong 114

4.2.5 Kỹ thuật mổ kết xương bên trong điều trị gãy Dupuytren 115

4.2.6 Kết quả điều trị 125

4.2.7 Biến chứng sau mổ 131

KẾT LUẬN 134

HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI 137

KIẾN NGHỊ 138 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

Ký hiệu Tên đầy đủ

AO Arbeitsgemeinschaft fur Osteosynthesefragen

(Hiệp hội kết xương bên trong) AOFAS

ATFI

American Orthopaedic Foot and Ankle Society (Hội chấn thương chỉnh hình mắt cá và bàn chân Mỹ) Anterior tibiofibular interval (Khoảng chày mác trước)

BS

CHT

Bác sỹ Cộng hưởng từ CLVT

DMCM

GTTB

MCN

Cắt lớp vi tính DMCM

Giá trị trung bình Mắt cá ngoài

Tibiofibular clear space (Khoảng sáng giữa xương chày và chày mác) Tibiofibular overlap

(Khoảng chồng giữa xương chày và chày mác) Tai nạn giao thông

Tibial width (Kích thước xương chày chiều trước sau) Fibular width (Kích thước xương mác chiều trước sau)

Trang 9

Bảng Tên bảng Trang

1.1 Sự thay đổi các kích thước khi doãng mộng chày mác 11

1.2 Kết quả các kích thước trên phim X quang cổ chân 12

3.1 Giá trị trung bình của các tham số khớp chày mác dưới 60

3.2 Giá trị trung bình của các số đo ở khớp chày mác dưới 62

3.3 Giá trị các số đo liên quan 2 mắt cá theo giới 63

3.4 Kết quả khảo sát các chỉ số liên quan 2 mắt cá trên phim X quang tư thế thẳng 64

3.5 Kích thước của khe khớp chày sên trên phim thẳng 65

3.6 Kích thước trung bình khe khớp chày sên 65

3.7 Giá trị trung bình của các số đo ở khớp chày mác dưới theo giới 67

3.8 Giá trị trung bình của các số đo ở khớp chày mác dưới 68

3.9 Giá trị các chỉ số liên quan 2 mắt cá theo giới 68

3.10 Giá trị trung bình các số đo liên quan với 2 mắt cá 69

3.11 Giá trị trung bình kích thước khe khớp chày sên ở 2 giới 69

3.12 Giá trị trung bình kích thước khe khớp chày sên 70

3.13 Giá trị các số đo trên phim tư thế nghiêng 71

3.14 Liên quan giữa tuổi, giới tính 72

3.15 Nguyên nhân chấn thương 72

3.16 Cơ chế chấn thương 73

3.17 Phương pháp điều trị trước khi nhập viện 73

3.18 Vị trí và đường gãy xương mác 74

3.19 Đặc điểm tổn thương mắt cá trong, mắt cá sau 74

3.20 Mức độ di lệch ra ngoài của xương sên 75

3.21 Thời gian từ khi bị chấn thương đến khi kết xương 76

3.22 Kết hợp xương xương mác 77

3.23 Phương pháp kết hợp xương trong gãy mắt cá trong và mắt cá sau 77

3.24 Phương pháp cố định khớp chày mác dưới 78

3.25 Phương thức bắt vít cố định khớp chày mác dưới 79

Trang 10

3.28 Đối chiếu một số số đo của khớp chày mác dưới sau mổ với các giá trị

tham chiếu 81

3.29 Kích thước khe khớp chày sên sau mổ 82

3.30 Đối chiếu kết quả các số đo trên phim nghiêng của 73 BN sau mổ với các giá trị tham chiếu người Việt bình thường 82

3.31 Kết quả liền xương tại thời điểm 6 tháng 83

3.32 Thời gian theo d i kết quả xa 84

3.33 Kết quả nắn chỉnh phục hồi giải phẫu khớp cổ chân 85

3.34 Kết quả khảo sát sự thay đổi một số kích thước giải phẫu trên phim X quang khớp cổ chân tư thế thẳng 85

3.35 Kích thước khe khớp chày sên và khe khớp mắt cá trong sên 86

3.36 Kết quả kiểm tra sự ổn định của khớp cổ chân trên phim nghiêng 86

3.37 Kết quả dựa trên X quang khớp cổ chân 87

3.38 Mức độ thoái hóa khớp cổ chân theo Van Dijk 88

3.39 Mức độ đau khớp cổ chân khi vận động 88

3.40 Kết quả phục hồi biên độ vận động gấp duỗi khớp cổ chân 89

3.41 Kết quả phục hồi biên độ vận động sấp ngửa bàn chân 89

3.42 Kết quả chức năng một số chỉ tiêu theo thang điểm AOFAS 90

3.43 Kết quả chung 90

3.44 Liên quan kết quả chung với thời điểm phẫu thuật 91

3.45 Liên quan giữa kết quả chung và vị trí gãy xương mác 91

3.46 Liên quan kết quả chung với loại vít xương xốp cố định khớp chày mác dưới 92

3.47 Liên quan kết quả chung với kỹ thuật bắt vít xốp 93

3.48 Liên quan giữa kết quả chung với vị trí bắt vít cố định khớp mác dưới 93

3.49 Liên quan giữa kết quả chung với kết quả X quang 94

Trang 11

Hình Tên hình Trang

1.1 Đầu dưới hai xương cẳng chân 4

1.2 Các dây chằng khớp cổ chân phía trong (dây chằng delta ) 5

1.3 Các dây chằng ở mặt ngoài khớp cổ chân 6

1.4 Hệ thống dây chằng chày mác dưới 8

1.5 Ảnh chụp chân dung của Dupuytren (A) và hình minh họa gãy Dupuytren được mô tả lần đầu (B) 15

1.6 Minh họa phân loại gãy các mắt cá theo AO/OTA với loại 44-A1 17

1.7 Phân loại gãy mắt cá theo Danis – Weber 19

1.8 Phân loại theo Dennis - Weber và Lauge-Hausen 20

1.9 Góc talocrural 22

1.10 Các số đo trên phim X quang qui ước chụp khớp cổ chân tư thế thẳng 23

1.11 Hình ảnh tổn thương cấp tính ở dây chằng chày mác dưới 26

1.12 Hình minh họa cách nắn chỉnh bảo tồn trong gãy Dupuytren do Dupuytren đề xuất 27

2.1 Đo kích thước khoảng sáng chày mác trên phim X quang tư thế bàn chân xoay trong 150 40

2.2 Các vị trí đo A, B, C (Phim X quang tư thế thẳng) 40

2.3 Minh họa sự tăng kích thước của khe khớp xương sên mắt cá trong 41

2.4 Đo các chỉ số trên phim nghiêng 42

2.5 Chụp khớp cổ chân tư thế thẳng 43

2.6 Chụp khớp cổ chân tư thế nghiêng 43

2.7 Chụp khớp cổ chân tư thế xoay trong 150 44

2.8 Đo các biến số trên phim chụp khớp cổ chân bình thường tư thế thẳng 45

2.9 Đo các biến số trên phim chụp khớp cổ chân bình thường tư thế nghiêng 45

2.10 Đường rạch da bộc lộ ổ gãy xương mác 54

2.11 Nghiệm pháp Cotton 56

2.12 Đường rạch da bộc lộ ổ gãy mắt cá trong 56

2.13 Sơ đồ nghiên cứu 59

Trang 12

ĐẶT VẤN ĐỀ

Gãy các mắt cá là tổn thương thường gặp nhất trong các gãy xương ở chi dưới và đây cũng là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây thoái hóa khớp cổ chân Gãy Dupuytren là một dạng gãy các mắt cá được Dupuytren B.R (1777 - 1835) mô tả lần đầu vào năm 1819, với tổn thương điển hình là gãy đầu dưới xương mác, tổn thương các dây chằng của khớp chày mác dưới

và dây chẳng delta, bán sai khớp xương sên ra ngoài; có thể có hoặc không gãy mắt cá trong [1] Căn cứ vào vị trí gãy của xương mác so với khớp chày mác dưới, tác giả chia gãy Dupuytren thành hai loại là gãy Dupuytren cao và gãy Dupuytren thấp

Gãy Dupuytren thường do nhiều nguyên nhân, trong đó thường gặp là tai nạn giao thông, tai nạn thể thao và tai nạn sinh hoạt Cơ chế chấn thương thường gặp nhất là do lực chấn thương làm giạng, xoay ngoài bàn chân gây ra [2]

Đầu dưới xương chày và đầu dưới xương mác kết nối với nhau bằng khớp chày mác dưới tạo thành gọng chày mác ôm gọn ròng rọc của xương sên Về mặt chức năng, xương sên nằm trong gọng chày mác và khớp cổ chân, nó chịu lực tải của toàn bộ trọng lượng của cơ thể khi đi đứng Phức hợp các dây chằng và các bó xơ sợi ở khớp chày mác dưới đã giữ vững sự toàn vẹn khớp kết nối giữa đầu dưới xương chày và đầu dưới xương mác, chống lại các lực tác động theo dọc trục chi, lực xoay, lực tịnh tiến dồn xuống xương sên có xu hướng tách rời hai xương Do đó BN gãy Dupuytren cần phải được chẩn đoán chính xác, điều trị sớm và đúng phương pháp nhằm mục đích phục hồi lại các dây chằng và xương mắt cá bị tổn thương đồng thời làm vững lại khớp cổ chân [3]

Dựa trên khảo sát hình ảnh phim X quang chụp khớp cổ chân bình thường ở ba tư thế bao gồm tư thế thẳng, tư thế bàn chân xoay trong 15º và tư thế nghiêng, Haper và Keller đã đưa ra một số các kích thước liên quan đến khớp chày mác dưới và khớp chày sên Kết quả khảo sát các tham số cho thấy

khoảng trống của khe giữa xương chày và xương mác trên phim thẳng và

phim chụp tư thế bàn chân xoay trong 150

có giá trị bình thường nhỏ hơn 6

mm; kích thước khoảng chồng lấp của xương mác lên xương chày trên phim

chụp cổ chân tư thế thẳng lớn hơn 6mm hoặc > 42 % bề rộng xương mác; Kích thước khoảng chồng lấp giữa xương chày và xương mác trên phim chụp

Trang 13

tư thế bàn chân xoay trong 150

> 1mm [4] Các tiêu chuẩn của Harper và Keller đưa ra được coi là rất hữu ích và thường được vận dụng để đánh giá trên phim chụp X quang quy ước khớp cổ chân có tổn thương khớp chày mác dưới không hoặc đánh giá kết quả phẫu thuật nắn chỉnh phục hồi về giải phẫu…

Về điều trị gãy các mắt cá, theo Sutter và cộng sự [5], đối với gãy các mắt cá không di lệch và gãy vững thì điều trị bảo tồn bằng bó bột là phương pháp an toàn và hiệu quả Đối với gãy có di lệch và gãy không vững thì chỉ định điều trị phẫu thuật nắn chỉnh mở và kết xương bên trong theo đường hướng của AO là cần thiết nhằm phục hồi lại giải phẫu mắt cá, cố định ổ gãy vững chắc, đưa xương sên về lại vị trí giải phẫu và cố định lại khớp chày mác

dưới [5], [6]

Trên thế giới và ở Việt Nam, đều đã có những công trình nghiên cứu về đặc điểm tổn thương và kết quả điều trị phẫu thuật gãy Dupuytren được công

bố như công trình của Burwell H N và cộng sự (1965) [7]; McKenna P B

và cộng sự (2007) [8]; Trần Văn Cư và cộng sự (2016) [9]… Qua các nghiên cứu này, có nhiều vấn đề còn đang tranh luận như vai trò của X quang qui ước trong chẩn đoán, phân loại tổn thương, căn cứ để chọn phương pháp cố định khớp chày mác dưới và thời điểm nào thì tháo vít cố định khớp chày mác dưới… Ở Việt Nam, cho đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về các tham số của khớp chày mác dưới và khớp chày sên trên phim X quang qui ước chụp khớp cổ chân bình thường ở người trưởng thành Bên cạnh đó việc nghiên cứu đặc điểm tổn thương giải phẫu của gãy Dupuytren trên phim X quang qui ước và đánh giá một cách chi tiết kết quả nắn chỉnh và kết xương theo dựa trên khảo sát các số đo của khớp chày mác dưới và khớp chày sên trên phim X quang cũng chưa nhiều Xuất

phát từ những lí do trên đây, chúng tôi đã tiến hành triển khai đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm X quang khớp cổ chân ở người Việt Nam trưởng thành và kết quả điều trị gãy kín Dupuytren bằng phương pháp kết xương bên trong” nhằm

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 Một số đặc điểm giải phẫu khớp cổ chân

Khớp cổ chân là khớp liên kết giữa đầu dưới 2 xương cẳng chân với xương sên Khớp bao gồm các thành phần sau:

1.1.1 Đặc điểm về xương

Theo Trịnh Văn Minh, khớp cổ chân gồm khớp cổ chân trên kết nối đầu dưới xương chày với xương mác và xương sên, khớp cổ chân dưới nối giữa xương sên và xương gót với các xương tụ cốt bàn chân [10]

* Đầu dưới xương chày

Có hình khối vuông 5 mặt [10], cần chú ý các mặt sau:

- Mặt dưới: tiếp khớp với diện ròng rọc xương sên, có gờ phía trước và phía sau để không cho xương sên ra trước và ra sau Gờ sau xuống thấp hơn hay còn gọi là mắt cá sau, mắt cá thứ ba của Destot

- Mặt trong: có phần xuống thấp hơn mặt dưới gọi là mắt cá trong, mặt ngoài mắt cá trong tiếp khớp với mặt trong xương sên, có rãnh sau mắt cá trong để cho gân cơ chày sau, cơ gấp chung các ngón chạy qua

- Mặt ngoài: có khuyết mác, khớp với đầu dưới xương mác

* Phần dưới xương mác

Xương mác nằm phía ngoài cẳng chân, ở 1/3 dưới trên mỏm mắt cá ngoài từ 6 - 8 cm xương mác xoắn từ sau vào trong, đây là điểm yếu dễ bị gãy [10] Đầu dưới xương mác hình tam giác, xuống thấp hơn mắt cá trong khoảng 1cm

Mặt trong: phía trên khớp với khuyết mác đầu dưới xương chày tạo nên khớp chày mác dưới - khớp dạng sợi (Syndesmosis) Xương mác có diện chồng với xương chày khoảng 5 mm và chiều cao khoảng 15 mm

Phía dưới tiếp khớp với mặt ngoài ròng rọc xương sên

Trang 15

Phía sau có rãnh cho cơ mác dài và mác ngắn chạy qua

Hình 1.1 Đầu dưới hai xương cẳng chân

* Nguồn: theo Netter F.H (2007)[11]

* Xương sên

- Xương sên có hình con sên gồm 3 phần: chỏm sên, cổ sên và thân xương sên Được xem như một hình hộp sáu mặt Phía trên là xương chày, phía dưới là xương gót, hai mặt bên khớp với hai mắt cá tương ứng [10]

+ Mặt trên tiếp khớp với trần chày, mặt trong tiếp khớp với mặt ngoài mắt cá trong, mặt ngoài tiếp khớp với mặt trong mắt cá ngoài

+ Mặt dưới: khớp với xương gót bởi 3 mặt khớp: trước, giữa và sau + Mặt sau: hẹp, có mỏm sau xương sên

- Phía trước mặt trên xương sên rộng hơn phía sau, nên khi gấp cổ chân

về phía mu tối đa thì mắt cá ngoài di chuyển ra ngoài khoảng 2mm

Bình thường trục của xương chày chia xương sên thành 2 phần bằng nhau, đồng thời khoảng khe khớp chày sên và khớp sên mắt cá trong cũng bằng nhau

1.1.2 Hệ thống dây chằng và bao khớp

* Bao khớp

Bám vào chu vi các diện khớp, ở phía trước mỏng, hai bên dày lên thành các dây chằng

Trang 16

* Hệ thống dây chằng

- Dây chằng bên trong: còn gọi là dây chằng delta xếp làm 2 lớp [10] + Lớp nông rộng, hình quạt từ mắt cá trong xuống dưới tới xương sên, xương gót và xương ghe Gồm có các phần:

Hình 1.2 Các dây chằng khớp cổ chân phía trong (dây chằng delta)

*Nguồn: theo Adam W (2015)[12]

- Các dây chằng bên ngoài:

+ Dây chằng mác sên trước: từ phần trước mắt cá ngoài đến phía trước ngoài của xương sên

+ Dây chằng mác sên sau: từ phía sau mắt cá ngoài đến phía sau ngoài xương sên

+ Dây chằng mác gót: từ sau dưới mắt cá ngoài đến phía ngoài xương gót

Trang 17

Hình 1.3 Các dây chằng ở mặt ngoài khớp cổ chân

*Nguồn: theo Nguyễn Quang Quyền (1985)[13]

* Khớp chày mác dưới là một khớp xơ sợi (Syndesmosis) hay khớp

dạng sợi, trong đó kết nối giữa diện khớp hình tam giác ở mặt ngoài đầu dưới xương chày (khuyết mác) và chỗ lồi lên ở mặt trong đầu dưới xương mác bằng dải xơ sợi Hai xương kết nối với nhau qua khớp này tạo thành gọng chày mác ôm gọn ròng rọc của xương sên Đây là dạng khớp xơ sợi, giữa các xương được liên kết với nhau bằng dây chằng liên cốt rất chắc, xung quanh được tăng cường băng các dây chày mác và màng liên cốt [14]

- Dây chằng chày mác dưới gồm 3 phần:

+ Dây chằng chày mác trước (anterio tibiofibulo ligament): bám vào mấu xương ở đầu dưới xương chày và đi đến bám vào mặt trước xương mác ở ngay mắt cá ngoài Dây chằng có hình thang vì diện bám vào xương chày rộng hơn chỗ bám vào xương mác Dây chằng chạy theo hướng đi chếch xuống dưới và ra ngoài, tạo với mặt phẳng ngang một góc khoảng 35° và mặt

Dây chằng mác sên sau

Dây chằng mác sên trước

Dây chằng mác gót

Dây chằng chày mác trước

Trang 18

phẳng đứng dọc 1 góc khoảng 65° Dây chằng chày mác trước thường có 3 bó (bó trên, bó giữa và bó dưới), một số ít có 4 bó [15]

+ Dây chằng chày mác sau (Posterior tibiofibulo ligament) bám vào bờ sau của khe giữa xương chày và xương mác, bám vào hố mắt cá ngoài, nơi gồ lên nằm phía sau của diện khớp hình tam giác tiếp nối với đầu dưới xương mác Nó gần như tiếp liền với dây chằng liên cốt chày mác và nằm ở phần thấp nhất Dây chằng này có 3 bó (bó ngang và bó dưới)

+ Dây chằng ngang dưới bắt đầu từ hố l m mắt cá ngoài ngay dưới dây

chằng chày mác sau Nó có thay đổi về hình dạng và kích thước tùy thuộc vào chỗ bám của nó Nó thường bám vào góc sau dưới của khe giữa xương mác

và xương chày, nhưng có khi nó vươn tới bám vào hố mắt cá trong Dây chằng ngang dưới là giới hạn sau của mặt khớp xương chày

- Dây chằng liên cốt chày mác nối giữa l m xương mác của xương chày

và mặt trong của đầu dưới xương mác Các bó của dây chằng này nhìn chung

đi theo hướng từ sau ngoài ra trước nối xương mác với xương chày Có một vài bó đi ngược lại theo hướng đảo ngược của dây chằng liên cốt [15]

Màng liên cốt kết nối giữa xương chày và xương mác có tác dụng làm vững thêm khớp chày mác dưới

* Vai trò của các dây chằng của khớp chày mác dưới

Theo Ebraheim N A và cộng sự [15] cấu trúc giải phẫu của khớp chày mác dưới được đánh giá là quan trọng đảm bảo độ vững chắc và nguyên vẹn của khớp cổ chân Khớp cổ chân mất vững thường gây nên đau mạn tính ở khớp cổ chân và liên quan đến sự tổn thường ở khớp chày mác dưới Các dây chằng của khớp chày mác dưới cần phải được đánh giá về mức độ tổn thương đứt rách khi chẩn đoán khớp cổ chân mất vững Dây chằng chày mác trước là dây chằng có vài trò quan trọng nhất để chống lại lực xoay ngoài Do đó dây chằng này thường bị tổn thương nhất trong gãy xương cổ chân Tuy nhiên theo Snedden M H và cộng sự cho rằng dây chằng chày mác sau quan trọng

Trang 19

hơn đối việc giữ vững xương mác [16] Tuy nhiên dây chằng chày mác trước cũng rất quan trọng đối với sự ngăn cản lực xoay trong

Hình 1.4 Hệ thống dây chằng chày mác dưới

*Nguồn: theo Nguyễn Quang Quyền (1985)[13]

1.1.3 Mạch máu vùng cổ chân

* Động mạch:

- Động mạch chày trước: là một trong hai nhánh tận của động mạch khoeo, bắt đầu từ bờ dưới cơ khoeo đi bờ trên màng liên cốt ra khu cẳng chân trước và đi xuống theo đường định hướng từ h m trước đầu trên xương mác tới giữa hai mắt cá rồi chui qua dây chằng vòng trước cổ chân, đổi tên thành động mạch mu chân Ở cổ chân, động mạch chạy dưới dây chằng vòng và áp ngay vào da Gân cơ duỗi ngón cái đè lên động mạch và đi ở phía trong động mạch Ở cổ chân động mạch chày trước tách ra nhánh mắt cá trong và nhánh mắt cá ngoài Động mạch mu chân tách ra động mạch cổ chân trong và động mạch cổ chân ngoài

NHÌN TỪ NGOÀI

Dây chằng Ngang dưới

Dây chằng

Chày mác sau

Dây chằng Chày mác trước

Dây chằng Chày mác sau sssausau Màng gian cốt

NHÌN TỪ SAU

Trang 20

- Động mạch chày sau là nhánh tận chính của động mạch khoeo từ bờ dưới cơ khoeo chạy xuống khu cẳng chân sau ở hai phần ba trên theo đường thẳng từ giữa nếp gấp khoeo tới giữa hai mắt cá, tới một phần ba dưới cẳng chân thì hơi chếch vào trong, để vào rãnh cơ gấp dài ngón cái ở mặt trong xương gót, chia làm hai ngành tận là động mạch gan chân trong và động mạch gan chân ngoài Động mạch nằm cách đều mắt cá và gân Achille Cùng đi với động mạch có hai tĩnh mạch chày sau Động mạch tách ra nhánh mắt cá trong nối với động mạch mắt cá trước trong của động mạch chày trước và các động mạch cổ chân trong của động mạch mu chân tạo thành mạng mạch mắt cá trong

- Động mạch mác: tách từ động mạch chày sau Ở cổ chân nằm sau khớp chày mác và tận hết cho các nhánh tới cổ chân và gót Động mạch tách

ra nhánh nối với động mạch chày sau và các nhánh sau ngoài nối với động mạch mắt cá trước ngoài của động mạch chày trước

* Tĩnh mạch:

- Tĩnh mạch hiển lớn là tĩnh mạch dài nhất cơ thể, tiếp theo đầu trong cung tĩnh mạch mu chân và tĩnh mạch mu chân ngón cái, đi lên qua phía trước mắt cá trong 1 - 2cm Nó có giá trị đối với dẫn lưu tĩnh mạch của bàn chân bị chấn thương và nên bảo tồn nếu có thể

- Tĩnh mạch hiển bé bắt nguồn từ đầu ngoài cung tĩnh mạch mu chân và tĩnh mạch mu ngoài ngón V Từ dọc bờ ngoài mu chân đi lên ở sau mắt cá ngoài

1.1.4 Sinh lý và chức năng khớp cổ chân

- Khớp cổ chân bao gồm ba mặt khớp: mặt khớp của xương chày với trần xương sên, sên - mắt cá trong, sên - mắt cá ngoài

- Mộng chày mác bao gồm mặt dưới xương chày, hai bên là mắt cá trong

và mắt cá ngoài liên kết với nhau bởi khớp chày mác dưới, giữ chặt xương sên ở giữa

Trang 21

- Xương sên truyền sức nặng của toàn thân xuống cho xương gót (điểm

tỳ vững) và cho vòm bàn chân (điểm tỳ đàn hồi) Chỉ cần biến dạng rất nhỏ của mộng chày mác và xương sên di lệch ra ngoài cũng đủ gây đau khi đứng

và đi lại Tình trạng này kéo dài sẽ gây biến dạng, thoái hóa mặt khớp cổ chân Vì vậy khi có DMCM, bán trật khớp xương sên ra ngoài thì phẫu thuật

ép mộng chày mác, nắn chỉnh xương sên về vị trí giải phẫu là rất cần thiết

- Vận động của khớp cổ chân gồm hai động tác gấp và duỗi, theo một trục chếch đi qua hai mắt cá

+ Gấp cổ chân (gấp phía gan chân) biên độ trung bình là 500

+ Duỗi cổ chân (gấp phía mu chân) biên độ trung bình là 200

Ngoài ra khớp cổ chân còn tham gia các động tác xoay ngoài - xoay trong, dạng – khép và sấp - ngửa

Trong lúc gấp cổ chân phần sau hẹp nhất của xương sên chui vào gọng mộng làm mắt cá ngoài tiến lại gần xương chày do sự co của các thớ chun của dây chằng chày mác Khi duỗi cổ chân phần trước rộng nhất của xương sên chui vào gọng mộng làm mắt cá ngoài tách xa xương chày Do vậy xương sên luôn được giữ chặt giữa hai mắt cá, điều này giúp cho sự vận động gấp, duỗi của khớp cổ chân được dễ dàng, nhưng vẫn đảm bảo được vững chắc

1.2 Tình hình nghiên cứu giải phẫu khớp cổ chân trên phim X quang quy ước

1.2.1 Trên thế giới

Năm 1989, Harper M C và cộng sự đã tiến hành khảo sát một số tham

số trên phim X quang khớp cổ chân bình thường chụp ở 12 mẫu cẳng chân lấy

từ xác tươi và đánh giá sự tương quan của các tham số đó Kết quả thu được như sau: trên phim thẳng và trên phim chụp tư thế bàn chân xoay trong 150

(tư thế Mortise), kích thước khoảng sáng của giữa xương chày và xương mác (TFCS) tương đương nhau là 3,6 ± 0,8 mm (3,0 – 5,0) Nhưng kích thước

khoảng chồng giữa xương chày và xương mác (TFO): trên phim thẳng là 9,4 ±

Trang 22

1,8 mm (7,5 -13) tương đương 50% bề rộng của xương mác tại vị trí đo và trên phim chụp tư thế bàn chân xoay trong 150là 4,2 ± 1,7 mm (2,0 – 7,5) [4] Tác giả tiến hành thực nghiệm làm DMCM trên 12 cẳng chân tươi và thu được kết quả như sau:

Bảng 1.1 Sự thay đổi các kích thước khi doãng mộng chày mác

* Nguồn: Theo Harper M C và cộng sự (1989) [4]

Các thông số này của Harper M C và cộng sự rất hữu ích và thường được các phẫu thuật viên chấn thương chỉnh hình áp dụng để xác định có trật khớp chày mác dưới không? Gọng chày mác có bị doãng hay không, hoặc xương sên có bị bán trật khớp ra ngoài hay không?

Năm 1995, Ostrum R F và cộng sự đã nghiên cứu giải phẫu của khớp

cổ chân bình thường trên phim X quang qui ước chụp tư thế thẳng (A – P) cho

40 nam giới, tuổi trung bình 30,3 tuổi (19 – 64), và 40 nữ tuổi trung bình là 30,8 tuổi (17 – 58) tình nguyện tham gia nghiên cứu Kết quả như sau: kích thước TFCS trung bình là 4,2 mm (trung bình của nam giới là 4,8 mm (2,0 – 7,0) và của nữ giới là 3,8 mm (2,0 – 5,0) trong đó tỷ lệ phần trăm giữa kích thước TFCS và với chiều rộng của xương mác vị trí đo trung bình là 30% Kích thước TFO trung bình là 7,8 mm, trung bình của nam giới là 9,6 mm (5,0 – 16,0) và của nữ giới là 6,0 mm (2,0 – 12,5 mm) và tỷ lệ phần trăm giữa TFO và chiều rộng xương mác vị trí đo trung bình là 54% Tác giả nhận thấy rằng các chỉ số TFCS và TFO ở nam và nữ khác nhau có ý nghĩa thống kê,

Trang 23

tuy nhiên tỷ lệ của 2 chỉ số này so với kích thước của xương mác giữa 2 giới khác nhau không có ý nghĩa thống kê [17]

Năm 1997, Ebraheim N A và cộng sự [18] đã nghiên cứu trên 12 xác cẳng chân tươi, có 4 chân phải và 8 chân trái trên phim X quang khớp cổ chân, ở 5 nam và 7 nữ, kết quả thu được như sau :

Bảng 1.2 Kết quả các kích thước trên phim X quang cổ chân

Tư thế chụp phim Giá trị TB SD Nhỏ nhất Lớn nhất

Năm 2002, Pneumaticos S C và cộng sự [19], đã nghiên cứu trên 12 cẳng chân tươi, kết quả như sau: kích thước TFCS trung bình là 3,9 ± 1,9 mm (2,0 -5,5mm)

Năm 2011, Mulligan E P cho rằng trên phim thẳng kích thước của TFCS bình thường nhỏ hơn 6 mm hoặc nhỏ hơn 44% so với chiều rộng xương mác tương ứng vị trí đo, kích thước của TFO lớn hơn 6 mm hoặc lớn hơn 24% so với chiều rộng xương mác tương ứng vị trí đo Trên phim chếch trong

100, TFO lớn hơn 1 mm, khe khớp xương sên và mắt cá trong lớn hơn 4 mm [20]

Năm 2012, Shah A S và cộng sự, báo cáo kết quả đo các tham số TFO

và TFCS ở 392 phim X quang khớp cổ chân của người khỏe mạnh có tuổi trung bình là 44 ± 13 (18-66) gồm 218 nữ (tuổi trung bình 45 ± 12) và 174 nam (tuổi trung bình 42 ± 13) Kết quả đo được trên phim thẳng, số đo TFO trung bình là 8,3 ± 2,5 mm (8,1-8,5), TFO trung bình của nữ là 7,5 ± 2,0 mm (7,3 – 7,7), TFO trung bình của nam là 9,3 ± 2,6 mm (9,0 – 9,7) Trên phim

Trang 24

chụp bàn chân xoay trong 150

, số đo TFO trung bình là 3,5± 2,1 mm 3,7) TFO trung bình của nữ là 3,1 ± 1,7 mm (2,9 – 3,3), TFO trung bình của nam là 4,0 ± 2,3 mm (3,7 – 4,3) Về chỉ số TFCS: phim thẳng TFCS trung bình là 4,6 ± 1,1 mm, TFCS trung bình của nữ là 4,3 ± 1,1 mm, TFCS trung bình của nam là 4,9 ± 1,0 mm Trên phim chụp tư thế bàn chân xoay trong

(3,3-150, TFCS trung bình là 4,3± 1,0 mm TFCS trung bình của nữ là 4,1 ± 1,0

mm, TFCS trung bình của nam là 4,3 ± 1,0 mm [21]

Năm 2015, Croft S và cộng sự, tiến hành đo các chỉ số trên 72 phim nghiêng (33 cổ chân phải và 39 cổ chân trái trên phim X quang khớp cổ chân) của 35 nam, 37 nữ tuổi trung bình 44 tuổi, kết quả như sau: tỷ lệ kích thước ATFI và TW trung bình là 0,39 ± 0,09 Tỷ lệ kích thước PTFI và TW trung bình là 0,17 ± 0,06 Tỷ lệ giữa kích thước PTFI và tổng (PTFI + FW) trung bình là 0,27 ± 0,06 và tỷ lệ giữa khoảng chày mác trước (ATFI) và tổng (ATFI + FW) trung bình là 0,46 ± 0,07 [22]

Năm 2015, Chen Y và cộng sự nghiên cứu hồi cứu so sánh các tham số giải phẫu trên phim X quang qui ước và CLVT cho 484 người tham gia là những BN bị gãy xương bàn hoặc ngón chân, ngón cái vẹo ngoài (Hallux valgus) và viêm cân gan chân Tất cả các người tham gia đều có khớp cổ chân bình thường trên X quang Loại trừ những BN được chẩn đoán qua X quang như biến dạng khớp cổ chân, gãy xương, thoái hóa khớp cổ chân, các khối u

và bệnh lý khác ở vùng cổ chân Tác giả đo các chỉ số TFO, TFCS trên X quang qui ước và chụp CLVT 2-D và 3-D; đặc biệt trên phim chụp CLVT 2-

D và 3-D, tác giả đã đo TFCS trước và TFCS sau Kết quả trên X quang qui ước TFCS nam và nữ lần lượt là 41 mm (21- 58) và 37 mm (24 – 51) TFO nam và nữ lần lượt là 55 mm (31- 82) và 38 mm (23 – 61) Tác giả kết luận TFO và TFCS trên phim CLVT 3-D và 2-D khác nhau không có ý nghĩa thống kê, nhưng số đo TFO và TFCS trên phim CLVT (2-D, 3-D) và X quang qui ước khác nhau có ý nghĩa thống kê [23]

Trang 25

1.2.2 Ở Việt Nam

Hiện nay chưa có tác giả nào công bố kết quả đo một số chỉ số trên phim

chụp X quang qui ước khớp cổ chân ở người Việt Nam

Như vậy các nghiên cứu về giải phẫu với các kích thước trên phim chụp

X quang qui ước khớp cổ chân mà các tác giả đã công bố có ý nghĩa rất quan

trọng trong việc chẩn đoán, điều trị và đánh giá kết quả nắn chỉnh phục hồi

giải phẫu sau điều trị gãy Dupuytren bằng phẫu thuật kết xương bên trong Ở

Việt Nam, hiện tại chưa có nghiên cứu nào báo cáo về các kích thước giải

phẫu trên phim X quang chụp khớp cổ chân ở người Việt Nam, từ các chỉ số

này các phẫu thuật viên có thể đánh giá được những tổn thương khớp chày

mác dưới, tình trạng mộng chày mác, vị trí của xương sên trong mộng chày

mác…Đồng thời giúp các phẫu thuật viên lựa chọn phương tiện kết hợp

xương mác, mắt cá trong, phương tiện cố định khớp chày mác dưới và cũng là

cơ sở đánh giá kết quả phục hồi giải phẫu như còn DMCM hay không ? Vị trí

của xương sên trong mộng chày mác đã đúng chưa? Xương mác đã phục hồi

đủ chiều dài hay chưa và vị trí của xương mác đã đúng giải phẫu trên phim

nghiêng hay chưa?

1.3 Gãy Dupuytren

1.3.1 Khái niệm gãy Dupuytren

Dupuytren B G (1777-1835) là một nhà ngoại khoa người Pháp Ông

đã phấn đấu từ vị trí giám đốc giải phẫu học trở thành bác sĩ phẫu thuật

trưởng của Bệnh viện l’Hôtel-Dieu Ông đã có nhiều công trình nghiên cứu

khoa học quan trọng được công bố, trong đó có công trình nghiên cứu về một

loại gãy xương vùng cổ chân, được gọi là gãy Dupuytren (1819) [24]

Trong một chuyên luận dài 212 trang, ông đã mô tả các dạng gãy xương

đặc biệt này được rút ra từ những thực nghiệm trên xác để làm sáng tỏ về cơ

chế chấn thương của loại gãy này và đặt tên là gãy Dupuytren

Trang 26

Lúc đầu khái niệm gãy Dupuytren được mô tả là gãy phần xa của xương mác có tổn thương dây chằng chày mác dưới và dây chằng delta ; có bán sai khớp xương sên ra ngoài; có hoặc không gãy mắt cá trong [1] (tương

tự như gãy Pott)

Về sau, tác giả chia gãy Dupuytren thành hai loại như sau:

+ Gãy Dupuytren cao: gãy xương mác ở trên khớp chày mác dưới từ 2-3 inch; do lực xoay ngoài hoặc biến dạng căng do gấp xoay

+ Gãy Dupuytren thấp: gãy đầu dưới xương mác trong phạm vi quanh khớp chày mác dưới (syndesmosis) 1 inch; trong đó lực tác động làm giạng bàn

chân luôn chiếm ưu thế

Hình 1.5 Ảnh chụp chân dung của Dupuytren (A) và hình minh họa gãy

Dupuytren được mô tả lần đầu (B)

Nguồn: Theo Cadogan M và cộng sự (2020) [24].

Hiện nay trong y văn, đối với các gãy xương vùng cổ chân, nhiều khái niệm phân loại gãy mắt cá đã được đề cập Potte mô tả lần đầu loại gãy này vào năm 1768, với đặc điểm của một loại gãy xương mắt cá kèm theo sai khớp

Sau đó là mô tả của Dupuytren về một loại gãy các mắt cá kèm theo DMCM và bán sai khớp xương sên ra ngoài; loại gãy này được phân loại bao

Trang 27

gồm gãy Dupuytren cao và gãy Dupuytren thấp dựa theo vị trí ổ gãy xương

mác

Các tác giả khác ở Đức phân loại gãy mắt cá theo phân loại gãy của

Laug – Hansen và phân loại của Weber Một số tác giả sử dụng danh từ

Dupuytren để chỉ một loại gãy xương mắt cá cổ chân có tổn thương khớp

chày mác dưới, coi đây là danh từ dễ được các BS chẩn đoán hình ảnh, BS

lâm sàng vận dụng với tính chất nhanh chóng, phù hợp với tình huống tại các

khoa cấp cứu chấn thương… 1.3.2 Thương tổn giải phẫu trong gãy Dupuytren

Các tổn thương giải phẫu khớp cổ chân trong gãy Dupuytren đã được

nhiều tác giả mô tả bao gồm:

+ Gãy xương mác ở 1/3 dưới hoặc đầu dưới xương mác ngang khớp

chày mác dưới (tương ứng gãy Weber B và C), hình thái đường gãy có thể

ngang, chéo hoặc có mảnh rời tùy theo cơ chế chấn thương

+ Gãy mắt cá trong: nếu do dây chằng delta bị kéo căng thì đường gãy

ngang mặt khớp chày sên, nếu do xương sên đẩy trực tiếp từ ngoài vào đè ép

trực tiếp thì đường gãy đứng dọc (cơ chế bàn chân ngửa - khép) Cũng có khi

mắt cá trong không gãy nhưng tổn thương rách đứt dây chằng delta [24]

+ Gãy mắt cá sau, xương sên bán trật khớp ra sau

+ DMCM, xương sên bán trật khớp ra ngoài

+ Có thể kèm theo tổn thương hệ thống các dây chằng chày sên, dây

chằng chày gót, dây chằng chày ghe, dây chằng mác sên trước, dây chằng

mác sên sau, dây chằng mác gót, dây chằng chày mác dưới, màng liên cốt

1.3.3 Phân loại gãy các mắt cá

Phân loại gãy các mắt cá rất quan trọng khi lựa chọn phương pháp điều

trị bảo tồn hay phẫu thuật [25] Hiện nay có rất nhiều cách phân loại gãy mắt

cá vùng cổ chân [26] Dựa vào hình ảnh X quang qui ước, nhiều tác giả đã

đưa ra những bảng phân loại tổn thương dựa vào cơ chế chấn thương vùng cổ

Trang 28

chân Tuy nhiên, chỉ có một số các phân loại được sử dụng rộng rãi trong lâm sàng

+ Gãy thể khép: khi bàn chân xoay trong và ngửa làm gãy mắt cá ngoài ngang khe khớp chày sên, xương sên bị trật vào trong, mắt cá trong gãy chéo vát từ dưới lên trên và từ trong ra ngoài

- Phân loại theo AO/OTA: Chia gãy xương vùng mắt cá thành 3 nhóm 44-A, 44-B, 44-C: mỗi nhóm chia thành 3 phân nhóm và mỗi phân nhóm chia thành 3 phân nhóm nhỏ [27] Trong đó nhóm A là trên khớp chày mác dưới,

nhóm B ngang khớp chày mác dưới và nhóm C là trên khớp chày mác dưới

+ Nhóm 44-A là những tổn thương dưới khớp chày mác dưới (tương ứng gãy Weber A), bao gồm 44-A1, 44-A2 và 44-A3

Hình 1.6 Minh họa phân loại gãy các mắt cá theo AO/OTA với loại 44-A1

* Nguồn: theo White O T và cộng sự (2015)[6]

Trang 29

+ Nhóm 44-B là những tổn thương xương mác ngang khớp chày mác

dưới (tương ứng gãy Dupuytren thấp hoặc Weber B), bao gồm phân nhóm B1, 44-B2 và 44-B3

44-+ Nhóm 44-C: Tổn thương xương mác trên khớp chày mác dưới, kèm theo đứt dây chằng chày mác dưới (tương ứng gãy Dupuytren cao hoặc Weber C), bao gồm phân nhóm 44-C1, 44-C2 và 44-C3

Phân loại theo AO/OTA được phát triển từ phân loại của Weber, đây là bảng phân loại rất chi tiết bao gồm chẩn đoán cả gãy các mắt cá, đứt dây chằng chày mác và dây chằng delta Tuy nhiên, trong thực tế lâm sàng không

có nhiều tác giả áp dụng phân loại quá chi tiết khó áp dụng [26] Trong điều trị các gãy xương vùng cổ chân, phần lớn các phẫu thuật viên lúc đầu chỉ quan tâm tới điều trị gãy xương, rất ít có báo cáo nghiên cứu tổng kết về tổn thương các dây chằng trong giai đoạn mới chấn thương

- Phân loại theo Weber: Bảng phân loại này dựa vào vị trí gãy của xương mác, không quan tâm đến có hay không gãy mắt cá trong, Weber phân chia gãy các mắt cá thành 3 loại [28]:

+ Kiểu A: Cơ chế chấn thương là lực tác động làm bàn chân bị khép và bàn chân xoay trong, đường gãy mắt cá ngoài nằm dưới khớp chày mác dưới Mắt cá trong có thể gãy nhưng cũng có thể không gãy

+ Kiểu B: Cơ chế chấn thương là lực tác động làm bàn chân bị giạng và xoay ngoài, đường gãy mắt cá ngoài ngang mức khớp chày mác dưới, dây chằng chày mác dưới bị đứt rách Gãy mắt cá trong hay đứt rách dây chằng delta

+ Kiểu C: bao gồm 2 phân nhóm:

C1: Nếu lực chấn thương gây giạng bàn chân, xương mác gãy chéo, ở trên khớp chày mác dưới Dây chằng chày mác dưới thường bị đứt

Trang 30

C2: Lực chấn thương là bàn chân giạng và xoay ngoài làm xương mác gãy cao hơn nữa, màng liên cốt bị rách Mắt cá trong có thể gãy hoặc rách dây chằng delta

Hình 1.7.Phân loại gãy mắt cá theo Danis – Weber

* Nguồn: theo Rudlof I M (2017)[29]

- Phân loại theo Merle d’ Aubigne’: Đối với gãy các mắt cá thể giạng (Dupuytren) dựa vào vị trí gãy ở xương mác, phân thành 2 loại:

+ Gãy Dupuytren cao: xương mác gãy ngang hoặc gãy chéo ở trên khớp chày mác dưới Đoạn dưới bị di lệch ra ngoài

+ Gãy Dupuytren thấp: vị trí gãy nằm ngang khớp chày mác dưới

- Phân loại theo cơ chế chấn thương (phân loại của Lauge - Hansen ) [30]:

+ Thương tổn gãy xương mác dưới khớp chày mác dưới xảy ra khi bàn chân ngửa, hướng lực chấn thương làm giạng bàn chân Loại gãy này tương đương tổn thương mắt cá típ A của Danis – Weber

Trang 31

+ Thương tổn gãy Dupuytren thấp xảy ra khi bàn chân ngửa, hướng lực chấn thương làm xoay ngoài bàn chân Loại gãy này tương đương tổn thương mắt cá típ B theo phân loại của Danis - Weber

+ Thương tổn gãy Dupuytren cao hay gãy Dupuytren điển hình xảy ra khi bàn chân sấp, hướng lực chấn thương làm xoay ngoài bàn chân Loại gãy này tương đương tổn thương mắt cá típ C theo phân loại của Danis - Weber

Hình 1.8 Phân loại theo Dennis - Weber và Lauge-Hausen

* Nguồn: theo Thordarson D.B (2004) [31]

Hai cách phân loại thường được sử dụng trong chẩn đoán và điều trị gãy mắt các cá là phân loại của Lauge - Hansen và phân loại của Danis - Weber Phân loại của Lauge - Hansen dựa trên vị trí của bàn chân và lực tác động trên nó tại thời điểm chấn thương, còn phân loại của Danis - Weber dựa trên vị trí đường gãy của xương mác Cách phân loại của Lauge - Hansen có giá trị lớn hơn trong việc so sánh các kết quả điều trị bởi vì nó mô tả chính xác mức độ thương tổn Cách phân loại của Danis - Weber đơn giản, dễ áp dụng trong lâm sàng và giúp ích hơn trong việc lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp

Trang 32

1.3.4 Chẩn đoán hình ảnh trong gãy Dupuytren

1.3.4.1 X quang qui ước

Để đánh giá thương tổn ở khớp cổ chân, cần chụp X quang khớp cổ chân

ở 3 tư thế: thẳng, nghiêng và tư thế bàn chân xoay trong 15o

(tư thế mortise) [32], [33], [34], [35], [36], [37]

Tư thế chụp khớp cổ chân khi bàn chân xoay trong 15o, có thể phát hiện được thương tổn gãy đứng dọc của mắt cá trong, đứt dây chằng delta và bán trật ra ngoài của xương sên Tuy nhiên chụp tư thế này trong cấp cứu khó thực hiện vì thương tổn gãy trật khớp cổ chân làm cho khó xác định tư thế xoay trong của bàn chân

Phim chụp cổ chân tư thế nghiêng phát hiện các trường hợp gãy mắt cá sau và đánh giá đầu dưới xương mác có bị trượt ra trước hoặc ra sau hay không Các tác giả đều cho rằng kích thước TFO, TFCS và khoảng cách mắt

cá trong – xương sên trên phim X quang chụp cổ chân tư thế thẳng là những tham số quan trọng trong đánh giá tổn thương khớp chày mác dưới [32], [33], [34], [35], [36],[37],[38]

+ Góc talocrural: là góc tạo bởi trục của xương chày và đường nối hai

đỉnh mắt cá trên phim X quang chụp khớp cổ chân tư thế thẳng Bình thường góc này có số đo trung bình là 83 ± 4º Theo Amendola A., việc phát hiện ra

di lệch chồng ngắn của ổ gãy xương mác rất quan trọng, đặc biệt trong các trường hợp xương mác gãy cao, giúp đánh giá kết quả nắn chỉnh phục hồi giải phẫu xương mác sau mổ Tuy nhiên góc talocrural sử dụng trong tình huống chồng ngắn xương mác là không r ràng [39]

Trang 33

Hình 1.9.Góc talocrural.

*Nguồn:theo Amendola A (1992) [39]

+ Góc chày mác: là góc tạo bởi cạnh ngoài của xương mác song song với ống tủy xương mác và đường nối 2 đỉnh mắt cá

+ Kích thước TFCS được đo từ bờ trong của xương mác đến khuyết

l m xương mác của đầu dưới xương chày, đo ở vị trí trên trần chày là 10 mm (hình 2.1 và hình 2.2) Nếu kích thước khoảng sáng này > 6 mm là có hiện tượng DMCM [37],[40], [41]

+ Kích thước TFO: là kích thước khoảng chồng lên nhau của xương chày

và xương mác trên phim chụp X quang khớp cổ chân tư thế thẳng Đo ở bờ trong xương mác đến bờ ngoài của lồi củ trước ở đầu dưới xương chày, đo ở

vị trí trên trần chày là 10 mm Nếu kích thước khoảng chồng này < 2 mm là

có hiện tượng DMCM Theo Harper M C và cộng sự, bình thường diện chồng nhau của 2 xương này cao từ 6 – 10 mm và rộng từ 3 - 5 mm (từ 42 – 50% bề rộng xương mác tại vị trí 2 xương chồng nhau) trên phim chụp cổ chân tư thế thẳng Nếu đo trên phim mortise khoảng này rộng trên 1 mm [4]

Kích thước khoảng sáng khe khớp trong giữa bờ trong xương sên và mặt ngoài mắt cá trong, vị trí đo dưới sụn trần chày 10 mm Bình thường kích thước khoảng sáng này rộng từ 2 - 4 mm Nếu kích thước khoảng sáng này >

Trang 34

4 mm là có hiện tượng DMCM và có tổn thương của dây chằng delta [41],[42], [43]

Kích thước khoảng sáng khe khớp trên giữa sụn trần chày và mặt trên xương sên Bình thường kích thước khoảng sáng này có kích thước bằng với kích thước khoảng sáng khe khớp trong

Một số tác giả đề nghị kích thước khoảng chồng chày mác là thông số đáng tin cậy để đánh giá DMCM [41] Bình thường phần chồng nhau này chỗ lớn nhất chiếm từ 42 - 50% bề rộng xương mác tại vị trí đó, nếu nhỏ hơn 42

% thì được coi là có DMCM Tuy nhiên, việc xác định tỷ lệ này sau phẫu thuật kết xương mác trong gãy Dupuytren sẽ không chính xác hoàn toàn, bởi

vì bờ ngoài xương mác có nẹp kim loại nên khó xác định chiều rộng của xương mác đoạn chồng với xương chày

Hình 1.10 Các số đo trên phim X quang qui ước chụp khớp cổ chân tư thế thẳng

Nguồn : Theo Miller A N và cộng sự (2010) [44]

(TFO) Kích thước khoảng chồng giữa đầu dưới xương chày và xương mác

(TFCS) Kích thước khoảng sáng giữa đầu dưới xương chày và đầu dưới xương mác

(MCS): Kích thước khoảng sáng ở khe khớp sên mắt cá trong

Trang 35

Chụp CLVT có dựng hình 3D cho phép đánh giá chính xác các tổn thương ở xương và tình trạng trật khớp xương sên trong gãy Dupuytren và các tổn thương kết hợp

Tuy nhiên, với gãy Dupuytren đơn thuần thì hình ảnh X quang qui ước cũng đánh giá khá đầy đủ các tổn thương và từ đó các phẫu thuật viên có thể đưa ra phương pháp điều trị phù hợp

1.3.4.3 Hình ảnh chụp cộng hưởng từ

Chụp cộng hưởng từ hạt nhân hay còn gọi là chụp MRI (magnetic resonance imaging) Phim CHT cho chúng ta hình ảnh một lát cắt qua cấu trúc cơ thể Ưu điểm của CHT so với CLVT là có thể hiện hình r các cấu trúc phần mềm có độ phân giải cao, cho phép chúng ta nhận định hình ảnh r ràng các tổn thương dây chằng, bao khớp cổ chân Chụp CHT không sử dụng tia X nên không gây độc hại cho cơ thể bệnh nhân

Chụp CHT dựa vào tính chất tín hiệu (tăng, giảm hay đồng tín hiệu so với tổ chức xung quanh) Các xung RF có tần số khác nhau sẽ tạo ra sự cộng hưởng khác nhau và do đó cho ra các hình ảnh có cường độ tín hiệu, độ sáng tối và độ tương phản tổ chức khác nhau

Trang 36

Chụp CHT khớp cổ chân không dùng thuốc đối quang từ để đánh giá các tổn thương về dây chằng và các gân ở quanh khớp cổ chân [45]

Theo Ebraheim N A và cộng sự (1997), sự phức tạp nhất trong việc hình dung ra hệ thống các dây chằng trên phim chụp CHT khớp cổ chân với không gian 3 chiều là vô cùng khó khăn đối với việc xác định vị trí của từng dây chằng và chỗ bám của nó vào xương Để có những hiểu biết chính xác về giải phẫu trong không gian của mỗi dây chằng đòi hỏi phải tìm thấy được một

tư thế bàn chân phù hợp và chọn được mặt cắt mà qua đó có thể hình dung được độ dài tối đa của dây chằng [18]

Quan sát các hình ảnh theo lát cắt trên mặt phẳng đứng ngang, trong phạm vi 1 cm có thể cho thấy r hình ảnh của dây chằng chày mác trước và dây chằng chày mác sau Dây chằng ngang dưới quan sát tốt nhất trên hình ảnh cắt ngang qua mép trên của khớp chày - sên Trong nghiên cứu, Ebraheim

N A và cộng sự (2006) đã đo được góc của từng dây chằng ở khớp cổ chân Góc giữa dây chằng chày mác trước và mặt phẳng ngang đo được là 35º ± 5º, với mặt phẳng đứng dọc là 65º ± 7º Góc giữa dây chằng chày mác sau và mặt phẳng ngang đo được là 20º ± 5º, với mặt phẳng đứng dọc là 85º ± 7º [15] Tuy nhiên, trong gãy Dupuytren do có DMCM nên chắc chắn sẽ có tổn thương các dây chằng của khớp chày mác dưới Trên phim X quang qui ước

có hình ảnh gián tiếp thấy được tổn thương dây chằng là doãng rộng khớp chày mác dưới, bán trật khớp xương sên ra ngoài Vì vậy Polzer H., và cộng

sự cho rằng chụp CHT trong gãy mới Dupuytren ít có giá trị trong lựa chọn phương pháp điều trị tổn thương này [45]

Trang 37

Hình 1.11 Hình ảnh tổn thương cấp tính ở dây chằng chày mác dưới

A Trên hình ảnh T1W thấy tổn thương dây chằng chày mác trước

B Trên hình ảnh T2W phù nề ở các dây chằng quanh khớp

*Nguồn: theo White O T và cộng sự (2015)[6]

1.3.5 Các phương pháp điều trị gãy kín Dupuytren

1.3.5.1 Điều trị bảo tồn

Trên cơ sở nghiên cứu thực nghiệm trên xác về cơ chế chấn thương và

di lệch trong gãy Dupuytren, chính tác giả đã đề ra cách nắn chỉnh và cố định bằng nẹp đối với các BN gãy xương loại này Kỹ thuật nắn chỉnh của Dupuytren được mô tả như sau: nắn chỉnh ổ gãy xương bằng cách kéo bàn chân gấp gan quá mức, sau đó đặt một miếng đệm bằng da hình nêm ở phía trong cẳng chân đáy quay về phía gót Sau đó đặt thanh nẹp ở mặt trong cẳng chân từ dưới gối đến bàn chân và quấn băng vòng quanh cẳng chân từ dưới gối đến trên ổ gãy một khoảng ngắn Băng số 8 vòng quanh cổ chân và bàn chân để giữ bàn chân ở tư thế gấp gan quá mức [24]

Trang 38

Hình 1.12 Hình minh họa cách nắn chỉnh bảo tồn trong gãy Dupuytren do

Dupuytren đề xuất

Nguồn: Theo Cadogan M và cộng sự (2020) [24]

Hiện nay phương pháp điều trị bảo tồn được chỉ định trong gãy kín Dupuytren ở trẻ em hoặc những BN chống chỉ định phẫu thuật do bệnh lý toàn thân không cho phép

Năm 1980, Yde J và cộng sự báo cáo kết quả điều trị cho 69 BN gãy các mắt cá, trong đó có 35 BN điều trị bảo tồn bằng bó bột và 34 BN điều trị bằng phẫu thuật, kết quả điều trị nhóm bảo tồn có 29/35 BN đạt kết quả tốt [46]

Theo Manjunath M., điều trị gãy các mắt cá bằng phương pháp nắn chỉnh bó bột chỉ đặt ra với các gãy vững Theo tác giả gãy mắt cá vững là gãy xương mác đơn thuần và hoàn toàn không có tổn thương ở phía bên trong bao gồm cả tổn thương gãy mắt cá trong hoặc đứt rách dây chằng delta Tuy nhiên ông cũng nhấn mạnh rằng để chẩn đoán chính xác gãy vững cần phải thăm khám kỹ trên phim X quang để khẳng định chỉ tổn thương duy nhất là mắt cá ngoài Nếu có mặt của đường gãy ở mắt cá trong hoặc mắt cá sau, cho dù là gãy không di lệch cũng không nên xếp vào nhóm gãy vững Điều trị gãy mắt

cá vững chủ yếu bằng nắn chỉnh bó bột Thời gian mang bột từ 6-8 tuần [47] Tuy nhiên, khi điều trị bảo tồn nếu không nắn chỉnh hết di lệch của xương sên và các mắt cá thì hậu quả để lại sẽ là thoái hóa khớp, cứng khớp…Theo Manjunath M., với các trường hợp gãy mắt cá không vững nếu điều trị bảo tồn, cả BN và thầy thuốc đều phải rất vất vả nhưng hiệu quả vẫn không cao do khó giữ được kết quả nắn chỉnh các ổ gãy xương đến cùng BN phải được

Trang 39

chụp laị X quang kiểm tra 1tuần 1 lần trong thời gian 5 tuần đầu; nếu kết quả nắn chỉnh ban đầu vẫn được duy trì thì mới yên tâm tiếp tục bó bột [47]

1.3.5.2 Điều trị phẫu thuật

Đã từ lâu, điều trị gãy các mắt cá bằng phẫu thuật đã chứng minh được

ưu thế của phương pháp nhờ khắc phục được các nhược điểm của điều trị bảo tồn Do phục hồi lại giải phẫu xương gãy, làm vững chắc mộng chày mác, phục hồi lại độ vững của các dây chằng và trả lại chính xác diện khớp chày sên

Chỉ định điều trị phẫu thuật của gãy mắt cá là các trường hợp gãy không vững và các trường hợp gãy vững nhưng điều trị nắn chỉnh không đạt yêu cầu Gãy không vững là các trường hợp vừa gãy mắt cá ngoài vừa có tổn thương ở phía trong, tổn thương ở phía trong có thể là gãy mắt cá trong hoặc đứt rách dây chằng delta và nhiều trường hợp có tổn thương mắt cá sau

Porter chỉ ra rằng: “Trong gãy cổ chân, chỉ có sự thay đổi giải phẫu bình thường ở mức nhẹ nhất mới có thể phục hồi tốt chức năng của khớp cổ chân” Khó khăn trong việc duy trì cố định gãy xương vùng cổ chân trong bột đã được Cedell C A và cộng sự đề cập tới [48] Mặt khác, thời gian bất động bột lâu từ 10 - 12 tuần làm vận động khớp cổ chân, bàn chân khó phục hồi hoàn toàn, và đòi hỏi tập luyện trong thời gian dài mới đạt kết quả tốt về chức năng Nguy cơ liền lệch tại ổ gãy và xương sên còn bán sai khớp sẽ làm mất

sự vững cơ học của khớp cổ chân do việc nắn chỉnh chính xác và duy trì kết quả bằng cố định bằng bột là khó khăn Kết quả nghiên cứu của Mehta S.S và cộng sự cho thấy điều trị kết hợp xương có kết quả tốt hơn điều trị bảo tồn [49]

1.3.5.3 Các phương pháp cố định khớp chày mác dưới

- Cố định khớp chày mác dưới bằng vít

Cố định khớp chày mác dưới bằng vít được coi là tiêu chuẩn vàng Vít

cố định đòi hỏi được đặt từ mặt ngoài của xương mác vào xương chày Cố

Trang 40

định có thể bằng một hoặc hai vít, chất liệu của vít có thể làm bằng kim loại hoặc vít sinh học tự tiêu, đường kính vít có thể là 3,5 mm hoặc 4,0 mm, vít có bắt ngang qua khớp chày mác dưới hoặc ở ngay trên khớp chày mác dưới, vít bắt qua ba vỏ xương (2 vỏ xương mác và 1 vỏ xương chày) hay 4 vỏ xương (qua 2 vỏ xương mác và 2 vỏ xương chày) [50], [51], [52], [44]

Theo Manjunath M khi cố định khớp chày mác dưới tác giả dùng vít đường kính 4,5 mm, chọn cách bắt từ mặt ngoài xuơng mác theo hướng chếch

ra trước 30º, vị trí bắt vít ở trên khớp chày sên khoảng 2-3 cm, để tránh bắt vít qua khớp chày mác dưới Sau khi khoan đường hầm qua xương mác và xương chày, tác giả đã ta rô đường hầm vừa khoan để tránh bắt vít gây nén ép đầu dưới xương mác vào khuyết mác của xương chày Để giữ vững kết quả nắn chỉnh khi khoan đường hầm, tác giả đã dùng ngón tay cài để đè chặt đầu dưới xương mác vào sau củ trước của xương chày trong khi khoan và bắt vít [47] Thông thường bắt 1 vít cũng đủ cố định chắc nhưng có tác giả cho rằng đối với các gãy xương mác ở cao, màng liên cốt bị rách nhiều thì nên bắt hai vít Vít cố định khớp chày mác dưới có thể đặt riêng ngoài nẹp là phù hợp nhất nhưng còn tủy thuộc vào vị trí của nẹp ở xương mác Có trường hợp đặt vít này đi qua lỗ nẹp hoặc nếu ổ gãy xương mác cao thì bắt vít ở phía dưới đầu xa của nẹp Vít cố định khớp chày mác dưới có vai trò giữ duy trì đúng vị trí giải phẫu của mắt cá ngoài trong khuyết mác của đầu dưới xương chày, không để cho DMCM và giữa xương sên nằm đúng vị trí trong mộng chày mác Sau một thời gian cố định các dây chằng cố định, các dây chằng tham gia giữ vững khớp chày mác dưới liền trở lại và phục hồi khả năng cố định đầu dưới xương mác vào với xương chày tại khớp chày mác dưới Khi đó vấn

đề tháo vít không đã được đặt ra vì nếu để vít lâu dài sẽ có thể dẫn đến cốt hóa ở khớp chày mác dưới, mất đi tính đàn hồi của mộng chày mác và dễ có nguy cơ gãy vít Về vấn đề tháo vít cố định, Manjunath M khuyến cáo rằng vít cố định nên tháo trước khi cho BN đi tỳ nén hoàn toàn lên chân gãy Do đó

Ngày đăng: 16/07/2021, 11:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hunter T. B., Peltier L. F., Lund P. J. (2000). Radiologic history exhibit. Musculoskeletal eponyms: who are those guys? Radiographics, 20(3):819-36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Radiographics
Tác giả: Hunter T. B., Peltier L. F., Lund P. J
Năm: 2000
2. Nguyễn Tiến Bình và cộng sự (2020). Gãy hai mắt cá. Bệnh học chấn thương chỉnh hình, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân: 178 - 81 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh học chấn thương chỉnh hình
Tác giả: Nguyễn Tiến Bình và cộng sự
Nhà XB: Nhà xuất bản Quân đội nhân dân: 178 - 81
Năm: 2020
3. Colton C. L. (1971). The treatment of Dupuytren's fracture-dislocation of the ankle. J Bone Joint Surg Br, 53(1): 63-71 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Bone Joint Surg Br
Tác giả: Colton C. L
Năm: 1971
4. Harper M. C., Keller T. S. (1989). A radiographic evaluation of the tibiofibular syndesmosis. Foot Ankle, 10(3): 156-60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Foot Ankle
Tác giả: Harper M. C., Keller T. S
Năm: 1989
5. Sutter P. M., Peltzer J. (2010). Principles of operative treatment of malleolar fractures today. Eur J Trauma Emerg Surg, 36(6): 505-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Eur J Trauma Emerg Surg
Tác giả: Sutter P. M., Peltzer J
Năm: 2010
6. White O. T. K. and Bugler E. (2015). Ankle Fracture. Rockwood and Green's Fracture in Adults, Wolters Kluwer: 2541 - 92 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rockwood and Green's Fracture in Adults
Tác giả: White O. T. K. and Bugler E
Năm: 2015
7. Burwell H. N., Charnley A. D. (1965). The treatment of displaced fractures at the ankle by rigid internal fixation and early joint movement. J Bone Joint Surg Br, 47(4): 634-60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Bone Joint Surg Br
Tác giả: Burwell H. N., Charnley A. D
Năm: 1965
8. McKenna P. B., O'Shea K., Burke T. (2007). Less is more: lag screw only fixation of lateral malleolar fractures. Int Orthop, 31(4): 497-502 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Int Orthop
Tác giả: McKenna P. B., O'Shea K., Burke T
Năm: 2007
10. Trịnh Văn Minh (2011). Giải phẫu chi dưới. Giải phẫu học đại cương chi trên - chi dưới, Nhà xuất bản y học: 125 - 30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải phẫu học đại cương chi trên - chi dưới
Tác giả: Trịnh Văn Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản y học: 125 - 30
Năm: 2011
11. Netter F. H. (Nguyễn Quang Quyền dịch) (2007). Xương chày và xương mác. Atlas giải phẫu người, 4th, Nhà xuất bản y học: 513 - 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Atlas giải phẫu người
Tác giả: Netter F. H. (Nguyễn Quang Quyền dịch)
Nhà XB: Nhà xuất bản y học: 513 - 4
Năm: 2007
12. Adam W. và cộng sự (2015). Foot and Ankle. Gray's Anatomy for student, 3rd, Churchill Livingstone: 639 - 46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gray's Anatomy for student
Tác giả: Adam W. và cộng sự
Năm: 2015
13. Nguyễn Quang Quyền (1985). Giải phẫu chi dưới. Bài giảng giải phẫu học, Nhà xuất bản y học: 100 - 45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng giải phẫu học
Tác giả: Nguyễn Quang Quyền
Nhà XB: Nhà xuất bản y học: 100 - 45
Năm: 1985
14. Bartonícek J. (2003). Anatomy of the tibiofibular syndesmosis and its clinical relevance. Surg Radiol Anat, 25(5-6): 379-86 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Surg Radiol Anat
Tác giả: Bartonícek J
Năm: 2003
15. Ebraheim N. A., Taser F., Shafiq Q., et al. (2006). Anatomical evaluation and clinical importance of the tibiofibular syndesmosis ligaments. Surg Radiol Anat, 28(2): 142-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Surg Radiol Anat
Tác giả: Ebraheim N. A., Taser F., Shafiq Q., et al
Năm: 2006
16. Snedden M. H., Shea J. P. (2001). Diastasis with low distal fibula fractures: an anatomic rationale. Clin Orthop Relat Res(382): 197-205 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clin Orthop Relat Res
Tác giả: Snedden M. H., Shea J. P
Năm: 2001
17. Ostrum R. F., De Meo P., Subramanian R. (1995). A critical analysis of the anterior-posterior radiographic anatomy of the ankle syndesmosis.Foot Ankle Int, 16(3): 128-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Foot Ankle Int
Tác giả: Ostrum R. F., De Meo P., Subramanian R
Năm: 1995
18. Ebraheim N. A., Lu J., Yang H., et al. (1997). Radiographic and CT evaluation of tibiofibular syndesmotic diastasis: a cadaver study. Foot Ankle Int, 18(11): 693-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Foot Ankle Int
Tác giả: Ebraheim N. A., Lu J., Yang H., et al
Năm: 1997
19. Pneumaticos S. G., Noble P. C., Chatziioannou S. N., et al. (2002). The effects of rotation on radiographic evaluation of the tibiofibular syndesmosis. Foot Ankle Int, 23(2): 107-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Foot Ankle Int
Tác giả: Pneumaticos S. G., Noble P. C., Chatziioannou S. N., et al
Năm: 2002
20. Mulligan E. P. (2011). Evaluation and management of ankle syndesmosis injuries. Phys Ther Sport, 12(2): 57-69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phys Ther Sport
Tác giả: Mulligan E. P
Năm: 2011
21. Shah A. S., Kadakia A. R., Tan G. J., et al. (2012). Radiographic evaluation of the normal distal tibiofibular syndesmosis. Foot Ankle Int, 33(10): 870-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Foot Ankle Int
Tác giả: Shah A. S., Kadakia A. R., Tan G. J., et al
Năm: 2012

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w