1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nguồn lợi động vật không xương sống cỡ lớn và nguyên nhân gây suy giảm nguồn lợi ở vùng cửa sông cả

71 773 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nguồn lợi động vật không xương sống cỡ lớn và nguyên nhân gây suy giảm nguồn lợi ở vùng cửa sông Cả
Tác giả Cao Thắng
Người hướng dẫn TS. Trần Ngọc Lân
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Động Vật Học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 18,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Vùng cửa sông Estuary là một đơn vị cấu thành của biển, nằm trong giải ven bờ Coastal Zone với khu hệ sinh vật có nguồn gốc biển, đồng thời là bãi đ

Trang 1

nguồn lợi động vật không xơng sống cớ lớn và nguyên nhân gây suy giảm nguồn lợi ở vùng cửa

sông cả

Luận văn thạc sĩ Sinh học

Vinh - 2007

Trang 3

Môc Lôc

Trang 4

Trang Chữ viết tắt

Danh sách các bảng

Danh sách các biểu đồ

1.5. Một vài đặc điểm điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của tỉnh

Nghệ An và Hà Tĩnh liên quan đến nguồn lợi ĐVKXS cỡ lớn

15

1.6 Đặc điểm điều kiện tự nhiên của hệ thống sông Cả 19

2.3.4 Phơng pháp đánh giá hiện trạng ĐDSH ĐVKXS cỡ lớn theo chỉ số đa

dạng Shannon – Weiner

24

3.1 Đa dạng thành phần loài ĐVKXS cỡ lớn ở vùng vửa sông Cả 26

3.3 Sự phân bố các loài ĐVKXS cỡ lớn theo nồng độ muối 35 3.4 Số lợng trung bình của các loài ĐVKXS cỡ lớn theo nồng độ muối 35

Trang 6

danh mục biểu đồ

Trang Biểu đồ 1 Số loài (tỷ lệ %) các lớp ĐVKXS cỡ lớn vùng cửa sông Cả 32 Biểu đồ 2. Biến động số lợng, mật độ của Sermila tornatella, Stenothyra

messageri theo nồng độ muối

1995-2006 (kg/hộ/năm)

41 Biểu đồ 6 Năng suất, số ngời khai thác cua, ghẹ ở Cửa Hội từ năm 1995-2006

(kg/ngời/năm)

42 Biểu đồ 7 Năng suất, số hộ thuyền khai thác rơi ở Hng Lợi từ năm 1985-2006

(kg/hộ/ngày)

44 Biểu đồ 8 Năng suất, số thuyền khai thác hến ở Đức Tân từ năm 1995-2006 46

Trang 7

(kg/hộ/ngày) Biểu đồ 9 Năng suất, số thuyền khai thác ngao ở Xuân Hội từ năm 1995-2006

(kg/hộ/ngày)

48

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Vùng cửa sông (Estuary) là một đơn vị cấu thành của biển, nằm trong

giải ven bờ (Coastal Zone) với khu hệ sinh vật có nguồn gốc biển, đồng thời là

bãi đẻ, nơi dinh dỡng của các loài sinh vật biển… nên trở thành vùng có vai nên trở thành vùng có vai

trò quan trọng trong việc duy trì tính ĐDSH của các loài sinh vật biển và làm

giàu cho biển bằng tiềm năng nguồn lợi của mình

Nguồn lợi sinh vật vùng cửa sông khá đa dạng và giàu có tơng tự nh

vùng nớc trồi hay các rạn san hô Mặc dù tính không ổn định của môi trờng

vùng cửa sông đã hạn chế sự phân bố của những loài hẹp sinh cảnh, nhng lại

cho phép một số ít loài rộng sinh cảnh phát triển đông về số lợng, tạo nên sản

lợng khai thác cao (Hickling, 1970) Hơn nữa, trong vùng cửa sông xuất hiện

nhiều nơi sống đặc trng mà trong đó tạo nên nhiều loài đặc sản nh tôm, cua

hầu, sò, (Vũ Trung Tạng, 1994) [24] Chúng đợc sử dụng làm nguồn thực

phẩm giàu đạm, nguyên liệu sản xuất đồ thủ công mỹ nghệ Đặc biệt vùng cửa

sông là bãi đẻ của nhiều loài động vật biển Đây chính là một trong những

nguồn cung cấp giống cho nuôi trồng thuỷ sản

Trong các cửa sông ớc lợng có đến 8 - 10 tỉ tôm giống đợc tạo ra bởi

những bãi tôm lớn Những nguồn giống khác (cá, cua, hầu, sò, ) trong vùng

cửa sông không kém phong phú, chính chúng đã duy trì ổn định đối với sản

l-ợng khai thác của các quần thể trong vùng

Việc khai thác các dạng tài nguyên thiên nhiên trớc đây trong vùng cửa

sông mới ở mức độ thấp, cha gây ra những hậu quả cản trở quá trình phát triển

của vùng hay làm suy giảm tài nguyên trong vùng Hiện tại, do sức ép về dân

số, do nhu cầu riêng của từng ngành, từng bộ phận kinh tế, từng địa phơng

Trang 8

Việc khai thác các dạng tài nguyên vùng cửa sông ngày càng đẩy mạnh nhngkhông đợc đặt trong một quy hoạch tổng thể nhiều trờng hợp còn tuỳ tiện, bừabãi đa đến những hậu quả sinh thái nghiêm trọng nh huỷ hoại các nơi sống

đặc trng của nhiều loài, gây sự suy giảm tính đa dạng sinh học (ĐDSH), giảmsút nguồn lợi của các đối tợng khai thác có giá trị trong vùng (Vũ Trung Tạng,1994) [24]

Sông Cả là con sông lớn nhất của khu vực Bắc miền Trung thuộc ranh giớigiữa hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh Cửa sông Cả đợc đánh giá là một trong 13bãi cá chính hiện nay của Việt Nam, và cũng là vùng khai thác tôm lớn (Kếhoạch Hành động ĐDSH) Vùng cửa sông Cả có nguồn tài nguyên thiên nhiênrất đa dạng và phong phú, là nơi c trú của nhiều loài động thực vật quý hiếm

và có nguy cơ bị tuyệt chủng (có trong sách đỏ Việt Nam cũng nh sách đỏ Thếgiới) (Bộ KHCN&MT – Kế hoạch hành động ĐDSH, 1995)[2, 3]

Nhận thức đợc tầm quan trọng của vùng cửa sông đối với việc bảo tồnnguồn lợi, trong thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về cửa sôngven biển ở nớc ta ở khu vực miền Bắc có các công trình nghiên cứu của Phạm

Đình Trọng (1996) [29] ở khu vực Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh có công trình của

Hồ Thanh Hải (1999) nghiên cứu đánh giá nguồn lợi thuỷ sản vùng cửa sôngHoàng Hoá [12]; Nguyễn Huy Chiến, Trần Ngọc Lân, Nguyễn Xuân Quýnh(2003) nghiên cứu đa dạng động vật đáy (Zoobenthos) và động vật nổi(Zooplankton) [6], Trần Đức lơng (2006) nghiên cứu một số nhóm động vậtnổi trong vùng lu vực sông Cả [18] ở miền Nam có công trình của NguyễnHữu Phụng (1998), Bùi Quang Nghị (1999), Lăng Văn Kẻng (1996), Lê ThịNam Thuận (2003), Lê Thị Bình (2003) nghiên cứu nguồn lợi thuỷ sản và kinh

tế xã hội [33]

Nhìn chung các công trình chủ yếu nghiên cứu về đặc điểm sinh học vànguồn lợi của một số loài đặc sản ở vùng biển các tỉnh phía Bắc và phía Nam,

ít có công trình nghiên cứu ở khu vực Bắc miền Trung, mà đặc biệt là vùng

cửa sông Cả Chính vì vậy chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Nguồn lợi

ĐVKXS cỡ lớn ở và nguyên nhân gây suy giảm nguồn lợi ở vùng cửa sông Cả”.

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu Nguồn lợi ĐVKXS cỡ lớn và nguyên nhân gâysuy giảm nguồn lợi ở vùng cửa sông Cả nhằm:

Trang 9

- Đánh giá hiện trạng ĐDSH, khai thác và sử dụng nguồn lợi ĐVKXS

cỡ lớn ở khu vực nghiên cứu

- Tìm hiểu nguyên nhân gây nên sự suy giảm nguồn lợi ĐVKXS cỡ lớn

ở khu vực nghiên cứu

- Đề xuất các giải pháp bảo tồn nguồn lợi ĐVKXS cỡ lớn ở vùng cửasông Cả

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

 Đối tợng nghiên cứu: Những loài ĐVKXS cỡ lớn nh: tôm, cua, hai

mảnh vỏ, chân bụng, giun nhiều tơ

 Phạm vi nghiên cứu: Vùng cửa sông Cả.

Chơng 1.

tổng quan tài liệu

1.1.1 Khái niệm về vùng cửa sông

Từ cửa sông (Estuary) theo nghĩa La tinh, bao hàm từ aestus – là thuỷtriều, còn Estuary là từ chỉ một dạng lục địa, trong đó thuỷ triều đóng vai tròquan trọng trong đời sống và sự phát triển tiến hoá của vùng Bởi vậy, trongcác từ điển ngời ta giải thích “Cửa sông là cửa các con sông lớn có thuỷ triều”(từ điển Oxford) hoặc “một vũng gần bờ đợc khống chế bởi nớc biển khi triều

Trang 10

cao, một vùng biển đợc tạo thành bởi cửa một con sông” (từ điển Larouse)(Vũ Trung Tạng, 1994) [24].

Theo quan điểm của các nhà địa mạo thì cửa sông là cửa của một consông mà ở đó đang có quá trình sụt lún kiến tạo không đợc đền bù hoặc đó làmột thung lũng sông bị chìm ngập do mực nớc biển nâng lên, chúng thờng códạng hình phểu Theo quan điểm động lực, Pritchard (1967) cho rằng “Cửasông là một thuỷ vực ven bờ nửa khép kín, liên hệ trực tiếp với nớc biển và ởtrong đó nớc biển hoà trộn có mức độ với nớc ngọt đổ ra từ các dòng lục địa”[38]

Ranh giới vùng cửa sông rất thay đổi, do khối nớc toàn vùng dịchchuyển tuỳ thuộc vào lợng nớc của dòng chảy và hoạt động của thuỷ triều.Trong mùa nớc kiệt, giới hạn trên của vùng cửa sông tiến sâu vào đất liền còngiới hạn dới ôm sát lấy các cửa sông Trong mùa lũ, lỡi nớc ngọt xâm nhập rất

xa ra biển tới hàng chục hay hàng trăm km Đây là yếu tố động lực quan trọngtrong khi nghiên cứu vì nó gây ra hàng loạt các hậu quả (xâm nhập mặn vàocác hạ lu, sự di nhập của các loài sinh vật biển và nớc ngọt giữa hai môi trờngsông và biển, sự sắp xếp các trầm tích… nên trở thành vùng có vai)

Vùng cửa sông là đơn vị cấu thành của biển nằm trong giải ven bờ(coastal Zone) với khu hệ sinh vật nguồn gốc biển đồng thời là bãi đẻ, nơidinh dỡng của các loài sinh vật biển… nên trở thành vùng có vai nên trở thành vùng có vai trò quantrọng trong việc duy trì tính ĐDSH của các loài sinh vật biển và làm giàu chobiển bằng tiềm năng nguồn lợi của mình [24]

Vùng cửa sông với những nét khái quát đã tạo nên những sự sai khác cơbản với những loại hình thuỷ vực khác đó là:

- Một vùng thờng đợc giới hạn ở cửa các con sông bị khống chế bởi thuỷtriều

- Nớc của vùng cửa sông bị mặn hoá, còn mức độ và phạm vi biến đổicủa nó phụ thuộc vào lợng nớc của dòng sông và hoạt động của thuỷtriều

- Độ muối và hàng loạt các yếu tố môi trờng khác rất không ổn định theokhông gian và thời gian, song sự biến thiên của chúng mang tính chu

kỳ, chu kỳ mùa, chu kỳ triều (nhật triều hay bán nhật triều) Đó cũng là

sự khác biệt cơ bản giữa cửa sông và các hồ nớc mặn (lagoon) ven biển

Trang 11

- Phân bố trong vùng cửa sông là những loài sinh vật rộng sinh cảnh, đặcbiệt là rộng muối Những loài này trong quá trình thích nghi với các

điều kiện môi trờng biến động đã tạo nên những quần xã ổn định để tồntại và phát triển thịnh vợng, làm xuất hiện ở đây một hệ thống sản xuất

có năng suất rất cao so với hàng loạt hệ sinh thái khác

Vùng cửa sông là nơi chuyển tiếp giữa sông và biển nên độ muối rấtbiến động và nằm trong khoảng từ 0,5 đến 30 (32‰), giữa nớc ngọt và nớcbiển ven bờ hay còn gọi là vùng Mixohaline theo phân loại thuỷ vực trên cơ sởbiến đổi của độ muối (bảng 1.1)

Bảng 1.1 Hệ thống phân loại các thuỷ vực nớc lợ của Venice (1959)

đến mức độ nào thì quan hệ đó là nguyên nhân - kết quả [20, 40]

Quỹ Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên (WWF, 1989) định nghĩa "đa dạngsinh học là sự phồn thịnh của sự sống trên trái đất là hàng triệu loài thực vật,

động vật, vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong đó các loài và là hệ sinh

Trang 12

thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trờng" Do vậy ĐDSH đợc xác

định theo 3 mức độ ĐDSH ở cấp loài bao gồm toàn bộ các sinh vật sống trêntrái đất, từ vi khuẩn đến các loài thực vật, động vật và các loài nấm ở mức độphân tử ĐDSH bao gồm cả sự khác biệt về gen giữa các quần thể sống cách lynhau về địa lý cũng nh sự khác biệt giữa các cá thể cùng chung sống trongmột quần thể ĐDSH còn bao gồm cả sự khác biệt giữa các quần xã mà trong

đó các loài sinh sống, các hệ sinh thái nơi mà các loài cũng nh các quần xã sinh vậttồn tại và cả sự khác biệt của các mối tơng tác giữa chúng với nhau [22]

ĐDSH là một khái niệm chỉ tất cả các loài thực vật, động vật, vi sinh vật

và những hệ sinh thái mà sinh vật là một bộ phận cấu thành Đó là một thuậtngữ bao trùm đối với mức độ biến đổi cả thiên nhiên, gồm cả số lợng và tầnsuất xuất hiện của các hệ sinh thái, các loài hay gen trong một tập hợp đã biết

Tuỳ theo các điều kiện cụ thể về khu vực nghiên cứu, số lợng và chất ợng mẫu, có thể sử dụng các chỉ số ĐDSH sau: chỉ số đa dạng Fisher, chỉ sốphong phú Margalef, chỉ số Shannon – Weiner, chỉ số Jaccar – Sorenxen.Trong các chỉ số trên thì chỉ số Shannon – Weiner và Margalef đợc sử dụngrộng rãi hơn cả trong quá trình đánh giá mức độ ĐDSH [20, 21, 24]

Trang 13

Trong việc định hớng khai thác, sử dụng hệ sinh thái vùng triều cửasông Việt Nam các tác giả đã đề xuất 4 định hớng theo từng loại hình cửasông khác nhau: (1) Hệ sinh thái vùng triều châu thổ; (2) Hệ sinh thái vùngtriều cửa sông hình phểu; (3) Các vùng triều cửa sông trong đầm phá; (4)Vùng triều cửa sông miền Trung [27]

Trong khối nớc vùng cửa sông, do lực tơng tác sông biển, do các điềukiện khí hậu (ma, sự bốc hơi nớc trên mặt… nên trở thành vùng có vai) và do lực quay của trái đất mà sựphân bố của độ muối theo chiều thẳng đứng và chiều ngang thay đổi Trên cơ

sở đó, ngời ta phân biệt vùng cửa sông thành mấy dạng:

- Dạng cửa sông thuận: ở đây ma và lợng nớc ngọt chảy ra lớnhơn lợng nớc biển xâm nhập vào

- Dạng cửa sông nghịch: trong điều kiện khí hậu khô nóng, lợngnớc ngọt của dòng lục địa ít ỏi, nớc biển ven bờ có độ muối xâm nhập vào cửasông để hoà trộn với nớc ngọt thì bị mặn hoá dần (trong trờng hợp có các giảicát chắn phía ngoài phát triển mạnh hình thành dạng đầm phá lagoon)

- Giữa dạng cửa sông thuận và nghịch là dạng trung gian: ở đây

đờng đẳng muối thẳng đứng không bị uốn lợn do ảnh hởng của các dòng uthế

Theo Nguyễn Văn Cừ và cộng sự, 2006 thì khu bờ biển miền Trungthuộc loại bờ biển mài mòn – tích tụ, sờn bờ ngầm có độ dốc lớn, đờng bờ cóvách dốc xen lẫn bờ đụn cát, val bờ và các cửa sông có dạng lagoon hoặcliman [4] Nh vậy, các cửa sông miền Trung thuộc cửa sông hình phểu và có 2dạng: đầm phá (lagoon) hoặc cửa sông thẳng (liman)

Trong vùng cửa sông sự tơng tác sông – biển là yếu tố động lực quantrọng đối với sự biến động của các yếu tố khác của môi trờng, ảnh hởng đếnthành phần loài, sự phân bố và mức độ phong phú của các nhóm sinh vật trongvùng cửa sông

Nh vậy, có thể khẳng định cửa sông Cả thuộc miền Trung Việt Nam làcửa sông hình phểu có dạng liman

1.3 Chức năng, vai trò của vùng cửa sông

Vùng cửa sông là hệ sinh thái độc đáo và phức tạp nhng giàu có về tàinguyên thiên nhiên Bởi vậy, 60% dân số thế giới và 2/3 các thành phố lớn tậptrung ở các khu vực cửa sông trong phạm vi 60km từ bờ vào đất liền (công ớcRIO, 1992)

Trang 14

Vùng cửa sông là quá trình tơng tác sông – biển, có cấu trúc và nhữngquy luật riêng, từ đó xuất hiện những cơ chế riêng tạo nên các tài nguyên thiênnhiên độc đáo có giá trị đối với đời sống con ngời: từ những giải đất bồi đếnnguồn lợi thuỷ sản và sản vật từ cây ngập mặn, từ các khoáng vật và hóa chất

đến nguồn nhiên liệu, khả năng phát triển giao thông và mở mang du lịch… nên trở thành vùng có vai

Một trong những vai trò quan trọng đối với việc nghiên cứu cửa sôngnhững năm gần đây nhằm giải quyết vấn đề cấp bách về phòng chống thiêntai, bão lụt, bảo vệ môi trờng, phát triển tiềm năng kinh tế biển Đặc biệt làxây dựng các cảng cá, cảng hàng hải, công trình giao thông thuỷ, công trìnhbiển và công trình thuỷ lợi tập trung nhiều tại vùng cửa sông

Theo Rodriguez (1975), nhận thức đợc giá trị khoa học và tầm quantrọng của vùng cửa sông đối với sự phát triển kinh tế xã hội, hàng loạt nhữngnghiên cứu cơ bản và ứng dụng đợc tập trung vào vùng cửa sông thuộc nhiềunớc trên thế giới, nhất là những nớc ôn đới và cận nhiệt đới Nhờ vậy, nhữngkiến thức, khái niệm khoa học và phơng pháp luận trong nghiên cứu vùng cửasông cũng đợc tích luỹ rất phong phú, trong khi đó, tại những vùng nhiệt đới,nơi xuất hiện hàng loạt các hệ cửa sông lớn, phức tạp về cấu trúc, giàu có vềtài nguyên lại ít đợc nghiên cứu [10]

Vùng cửa sông là cái bãy, bẫy vào đây nguồn chất dinh dỡng giàu có vàtrở thành “cái nôi” ơm nuôi các loài động vật biển còn non, nơi vỗ béo củanhững đàn động vật trởng thành và là bãi đẻ của nhiều loài sinh vật biển [33]

Các nghiên cứu về mối liên quan giữa đất ngập nớc ven biển và sản ợng tôm không phải là trực tiếp, nhng tôm cũng nh các loài động vật di ckhác, kể cả cá rõ ràng là phụ thuộc vào rất nhiều vào năng suất của hệ sinh

l-thái RNM (Redfield 1983) Vòng đời tôm chuối (Penaeus merguensis), cá đối (Mugil cephalus)… nên trở thành vùng có vai cho thấy tầm quan trọng của RNM cửa sông đối với cácloài này với vai trò là môi trờng sống vừa là nơi kiếm ăn, khoảng 70% các loàicá thơng mại phụ thuộc vào vùng cửa sông [24, 30]

Trên các bãi ngập triều là RNM, nơi quần tụ của các loài chim trời cánớc, kho chất dinh dỡng vùng cửa sông và ven bờ kế cận Từ các điều đó,vùng cửa sông chính là vùng “tái sản xuất nguồn lợi”, không chỉ làm giàu chochính mình mà còn làm giàu và duy trì sự ổn định đối với nghề cá và nguồnlợi biển xa bờ Vì vậy, để duy trì và phát triển nguồn lợi cho khai thác lâu dài,thì nghề đánh cá phải đa ra vùng nớc sâu xa bờ, giảm cờng độ khai thác trong

Trang 15

vùng cửa sông và nớc nông, thậm chí còn khoanh vùng cấm đánh bắt Đi đôivới đó, nuôi trồng nớc lợ và nuôi thả biển phải đợc coi trọng nh những nhiệm

vụ chiến lợc Khai thác và nuôi trồng có quan hệ hữu cơ với nhau và gắn haiquá trình của sản xuất là “công nghiệp hoá nghề khai thác” và “nông nghiệphoá vùng biển” [23]

Một trong những tài nguyên có vị trí quan trọng của vùng cửa sông làRNM nh phòng hộ sinh thái, môi trờng sống của nhiều loài thuỷ sản kinh tếcao (tôm he, cua, sò, cá… nên trở thành vùng có vai) và các nguồn lợi khác Khoảng 90% tổng số loàithuỷ sản có giá trị cao ít nhất có một giai đoạn trong đời sống ở RNM cửasông (Hamilton et al, 1984) Những quần xã RNM cửa sông và vịnh trên thếgiới hàng năm cung cấp một sản lợng lớn tôm, cua, cá ớc tính 750.000 tấn,bình quân trên 90kg/ha/năm ở Australia, ngời ta đánh giá là 67% các loàithuỷ sản có giá trị thơng mại đánh bắt đợc phụ thuộc vào RNM vùng cửasông Do đó mà hoạt động về nghề thuỷ sản vùng ven biển nhiệt đới ở nhiềunơi phụ thuộc rất nhiều vào RNM cửa sông (Kapetsky, 1987) Trung bình 1 haRNM có thể tạo ra lợng tôm giống tơng đơng với 15 đô la Mỹ/năm cho nghềnuôi tôm (Dixon, 1989) [14, 24, 30]

Trong vùng cửa sông, đất ngập nớc đợc quan tâm nhiều trong nhữngnăm gần đây bởi chúng có những chức năng quan trọng nh ổn định bờ biển vàchống xói lở, chống sóng bão, chắn gió, ổn định vi khí hậu, giao thông thuỷ,giải trí và du lịch; những sản phẩm nh các loại tài nguyên rừng, động vậthoang dã, chăn nuôi, công nghiệp, cấp nớc và những thuộc tính nh ĐDSH,tính độc đáo văn hoá và di sản… nên trở thành vùng có vai Chẳng hạn, giá trị môi trờng và kinh tế của

đất ngập nớc, nh RNM có vai trò rất quan trọng với chức năng là rừng phòng

hộ, nh bảo vệ đê biển, chống xói lở bờ biển và là nơi sinh sống của các loàithuỷ hải sản Về giá trị bảo vệ đê biển, chi phí trung bình cho tu bổ đê biển ởViệt Nam là 314.350 công/năm/100km đê biển RNM có thể thay thế sức ngờitrong bảo vệ đê biển là 20% thì cũng tiết kiệm đợc 62.870 đô la Mỹ với tiềncông trung bình là 1 đô la Mỹ/1công cho 100km đê biển (Ngân hàng thế giới,1995) Nếu nh dùng những công trình kỹ thuật thay thế RNM trong chức năngbảo vệ đê biển thì phải tốn 6 đến 13 triệu đô la Mỹ/100km đê biển Do đó, khiRNM bị phá huỷ xẽ dẫn đến những tổn thất về kinh tế mà hiện nay tổn thất này

đợc coi là chi phí xã hội (UNDP, 1992) [1, 13, 15, 25, 28]

Trang 16

Trên thực tế vấn đề đặt ra là sử dụng giá trị mà vùng cửa sông mang lại

nh thế nào, đặc biệt khai thác và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sinh vật nói riêng và sửdụng nguồn lợi thiên nhiên nói chung là một ngành khoa học mới đang pháttriển, có liên quan đến rất nhiều ngành khoa học kể cả các chính sách kinh tếxã hội đã đợc Watt K., 1976 đề cập và lợng hoá chi tiết trong cuốn “Sinh tháihọc và việc quản lý nguồn lợi thiên nhiên” [17]

1.4 Tình hình nghiên cứu nguồn lợi ĐVKXS cỡ lớn

1.4.1 Trên Thế giới

về hệ sinh thái rừng ngập mặn đã vợt quá 7000 đầu sách (Snedaker, 1984)[43] Trong đó có hàng trăm công trình đề cập đến quần xã động vật, chỉ riêng

động vật đáy (ĐVĐ) không xơng sống (Macrobenthos) đã có 110 công trìnhcông bố (Phạm Đình Trọng, 1996) [30] Trong rừng ngập mặn Đông Nam á,

đã thống kê đợc gần 230 loài giáp xác, 211 loài thân mềm, 11 loài giun nhiềutơ (IUCN, 1983; Vũ Trung Tạng, 1994) [24]

Nghiên cứu về khu hệ, phân bố, sinh thái ĐVKXS cỡ lớn đã có nhiềucông trình công bố về ĐVĐ ở vùng nớc lợ, nh Chaitiamvong (1983) [36]nghiên cứu về tôm, Bery (1975) [35] nghiên cứu về thân mềm; Piamthipmans(1984) [41] nghiên cứu về giun nhiều tơ, Một số nhà nghiên cứu về ĐVĐ

nh Envink (1973), Hutching and Saenger (1987) Mathes and Kapetsky (1988).Công trình của Mathes and Kapetsky (1988) [38] đã đánh giá tính đa dạng vàthống kê về những loài ĐVĐ có ý nghĩa kinh tế trên toàn thế giới, cho biết cókhoảng 630 loài thân mềm và 240 loài giáp xác phân bố ở rừng ngập mặn vàvùng cửa sông ven biển

1.4.2 ở Việt Nam

Năm 1961, Tổng cục Thuỷ sản hợp tác với viện TINRO (Liên xô cũ)tiến hành điều tra nghiên cứu vùng triều bờ tây vịnh Bắc Bộ bao gồm một sốbãi triều cửa sông ven biển Hải Phòng – Quảng Ninh, đã tìm thấy trên 100loài động vật đáy vùng triều

Năm 1970 – 1971 Viện nghiên cứu biển tiến hành điều tra nguồn lợi

động vật vùng triều Nam Hà và nguồn giống tôm, cua, cá ở các cửa sông BaLạt, Ninh Cơ, Đáy Hầu hết các đối tợng kinh tế quan trọng thuộc thân mềm,giáp xác (Nguyễn Văn Chung và nnk, 1972) [7]

Trang 17

Năm 1974 – 1976 Viện nghiên cứu biển tổ chức điều tra động vậtvùng triều Hải Phòng đã xác định đợc 441 loài thuộc các nhóm động vật đáy(Nguyễn Văn Chung và nnk, 1974) [8].

Trong những năm trở lại đây ở Việt Nam đã có các công trình nghiêncứu về nguồn lợi động vật thân mềm Công trình nghiên cứu của NguyễnXuân Dục (1999) nghiên cứu nguồn lợi thân mềm ở vùng biển Cát Bà - HạLong đã thống kê đợc 372 loài thuộc 202 giống của 9 họ; Nguyễn Hữu Phụng,

Võ Sĩ Tuấn, Nguyễn Huy Yết (1999) điều tra phân bố và nguồn lợi động vậtthân mềm kinh tế thuộc lớp chân bụng (Gastropoda) và lớp vỏ hai mảnh(Bivalvia) ở ven biển Việt Nam Sơ bộ đã thống kê đợc 15 loài ốc, 22 loài ngao

sò Tổng sản lợng của chúng ớc tính khoảng 300.000-500.000tấn/năm Côngtrình này cũng đã đề cập đến sự phân bố của các loài Bùi Quang Nghị (1999)

điều tra số lợng loài và phân bố của động vật thân mềm (Mollusca) ở vùng venbiển Khánh Hoà, đã thống kê đợc 805 loài Trong đó lớp chân bụng(Gastropoda) là phong phú nhất với (525 loài, 64 họ), lớp vỏ hai mảnh(Bivalvia) có (276 loài, 38 họ) [33]

ở miền Bắc có các công trình nghiên cứu nh Công trình nghiên cứu củaPhạm Đình Trọng (1998) nghiên cứu một số đặc điểm thành phần loài, phân

bố và sinh thái của ĐVĐ trong vùng rừng ngập mặn miền Bắc Kết quả nghiêncứu về thành loài thu đợc 389 loài ĐVĐ thuộc 212 giống, 104 họ Trong đóthân mềm chiếm u thế với 173 loài (chiếm 44% tổng số loài), giáp xác 108loài (chiếm 27,8% tổng số loài) Công trình này đã đề cập đến ảnh hởng củaviệc chặt phá rừng ngập mặn lên ĐVĐ và sự phân bố của ĐVĐ trong rừngngập mặn Đỗ Công Trung, Phạm Đình Trọng, Lăng Văn Kẻng (1998) nghiêncứu ĐVĐ khu vực Hạ Long - Cát Bà, đã điều tra đợc 481 loài thuộc 102 họtrong đó lớp vỏ hai mảnh (Bivalvia) chiếm số lợng loài nhiều nhất với 127 loài(chiếm 26,4% tổng số loài), tiếp đến là lớp chân bụng (Gastropoda) có 123loài (chiếm 25,6% tổng số loài) Giáp xác có 110 loài (chiếm 22,9% tổng sốloài) Công trình này cũng đã đề cập đến mục đích sử dụng của các loài có giátrị kinh tế Nguyễn Xuân Dục (1998) điều tra nguồn lợi đặc sản vùng biển ven

bờ tỉnh Quảng Ninh và tiềm năng phát triển NTTS đi sâu nghiên cứu một sốloài có giá trị kinh tế [32]

ở khu vực Thanh Hoá và Nghệ An có công trình của Hồ Thanh Hải(1999) nghiên cứu tiềm năng về điều kiện tự nhiên và nguồn lợi sinh vật vùng

Trang 18

triều cửa sông ven biển Hoằng Hoá - Thanh Hoá Đã xác định đợc hơn 30 loàithân mềm trong đó có nhiều loài có giá trị kinh tế nh phi, ngao, vọp, hầu sông,

sò huyết, vẹm, don, dắt Động vật giáp xác bao gồm hàng chục loài trong đó

họ Penaeidae có nhiều loài có giá trị kinh tế Công trình này cũng đã đề cập

đến hiện trạng khai thác và sử dụng nguồn lợi sinh vật vùng cửa sông [7].Nguyễn Hữu Nghĩa (2003) nghiên cứu quy hoạch bảo tồn và phát triển vùngngập mặn tỉnh Nghệ An Công trình đã nói lên hiện trạng rừng ngập mặnNghệ An và vấn đề quản lý quy hoạch của các cấp chính quyền, cùng với ýthức của cộng đồng dân c đối với việc chặt phá rừng ngập mặn để làm đầmnuôi tôm [34]

ở miền Nam có các công trình nghiên cứu nh: công trình của Lê ThịThuận (2003) Điều tra về mối liên hệ của một số yếu tố môi trờng sinh thái

và sự xuất hiện các loài thuỷ sản vùng Thuận An, hệ đầm phá Tam Giang vớiphơng pháp dựa vào cộng đồng Phỏng vấn 20 ng dân theo hàng tháng để thuthập thông tin về thời tiết, khí hậu, sinh thái (gió, sóng, nắng, ma… nên trở thành vùng có vai) kéo theo

sự xuất hiện các giống loài thuỷ sản khu vực đầm phá cửa Thuận An Đã xác

định đợc 6 loài tôm thuộc 1 họ, 1 bộ và 3 loài cua thuộc 1 họ, 1 bộ Các loàitôm có mặt hầu hết ở các mùa và giao mùa trong năm, chúng là nguồn lợi cógiá trị to lớn đối với đời sống của cộng đồng Lê Thị Bình (2003) bớc đầu điềutra thành phần loài tôm phân bố trên sông Đồng Nai Các mẫu tôm đợc thu bởingời dân đánh ghe, cào, vó, vợt, chài, kéo lới, câu, đăng, kích điện Đã xác

định đợc 39 loài thuộc 16 giống, 8 họ và 2 bộ trong đó 2 họ Penaeidae vàPalaemonidae có số lợng nhiều nhất Công trình này cũng đề cập đến nhữngnguyên nhân làm suy giảm nguồn lợi thuỷ sản trên sông Đồng Nai nh sức épcủa cộng đồng dân c thuộc vùng sông Đồng Nai, các phơng tiện đánh bắtmang tính huỷ diệt [34]; Nguyễn Hữu Phụng (1998) nghiên cứu phân bốnguồn lợi ngêu ở ven biển Nam Bộ Kết quả nghiên cứu cho thấy những bãingêu lớn tập trung ở ven biển các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh với mật

độ tự nhiên khoảng 20 – 60 con/100m2 Sinh vật lợng 40 – 120 kg/1ha [32]

Các công trình nghiên cứu ở vùng sông Cả: công trình của Trần NgọcLân, Hồ Sỹ Dũng, Phạm Hồng Ban (1999) điều tra nghiên cứu ĐDSH củaRNM Hng Hoà công bố có 20 loài thực vật, 63 loài động vật có xơng sống, và

đánh giá vai trò quan trọng trong nguồn lợi thuỷ sản Tuy nhiên nhóm

ĐVKXS còn cha đợc tiến hành phân tích định loại Công trình nghiên cứu của

Trang 19

Nguyễn Huy Chiến, Trần Ngọc Lân, Nguyễn Xuân Quýnh (2003) nghiên cứu

đa dạng động vật nổi (Zooplankton) và ĐVĐ (Zoobenthos) ở một số đầm nuôitôm Hng Hoà - Vinh và Xuân Đan - Nghi Xuân Kết quả đã xác định đợc 119loài, 83 giống, 55 họ, 17 bộ, 4 lớp (Gastropoda, Bivalvia, Polychaeta,Crustaceae) Trần Đức Lơng (2006) nghiên cứu một số nhóm động vật nổitrong vùng lu vực sông Cả Đã xác định đợc 121 loài động vật nổi [6, 11, 18]

1.5 Một vài đặc điểm điều kiên tự nhiên và kinh tế xã hội của tỉnh Nghệ

An và tỉnh Hà Tĩnh liên quan với nguồn lợi ĐVKXS cỡ lớn

1.5.1 Tỉnh Nghệ An

Điều kiện tự nhiên

Nghệ An là một tỉnh thuộc khu vực Bắc Trung Bộ có vùng biển ở vịnhBắc Bộ, có chiều dài bờ biển 82 km và hệ thống cửa sông tơng đối lớn Trên

địa bàn Nghệ An có tới 6 cửa lạch (Lạch Cờn, Lạch Quèn, Lạch Thơi, LạchVạn, Cửa Lò, Cửa Hội) Tại các cửa lạch cũng là nơi diễn ra các hoạt độngkinh tế cộng đồng mạnh mẽ nhất, từ việc khai thác đánh bắt đến nuôi trồngthuỷ sản

Hầu hết bờ biển Nghệ An đã có đê chắn nớc mặn để NTTS nớc lợ Hệsinh thái rừng ngập mặn bị suy thoái nặng nề do hậu quả chiến tranh và cáctác động con ngời, trong đó có cả hoạt động làm đầm nuôi tôm trong rừngngập mặn và phá rừng ngập mặn để nuôi tôm Nền đáy các thuỷ vực nớc lợNghệ An chủ yếu là cát, bùn cát, bùn và bùn sét Vùng triều hẹp và còn sót lạimột ít diện tích không lớn có cây ngập mặn nh Bần chua, Ô rô

Nhiệt độ không khí bình quân cả năm ở Nghệ An trên 240C Nhiệt độbình quân tháng thấp nhất là 17,30C (tháng 1) và tháng cao nhất là 29,20C(tháng 6) Độ ẩm trung bình nhiều năm ở Nghệ An từ 85 - 86%, trong đó thời

điểm cao nhất là 90% và thấp nhất là 80%

Chế độ gió bão trong năm có hai mùa rõ rệt: Gió mùa Đông Bắc thờnghoạt động từ tháng 10 năm trớc đến tháng 3 năm sau, vào thời gian này thờitiết lạnh và gây ma phùn Gió Đông Nam hoạt động từ tháng 4 đến tháng 10,loại gió này quyết định đến chế độ ma ở Nghệ An Thời gian này thờng nhiệt

độ không khí lên cao, độ muối của nớc biển cũng tăng lên Mùa bão cũng xảy

ra ở giai đoạn này, thờng từ tháng 5 đến tháng 10 Lợng ma trung bình hàngnăm ở Nghệ An tơng đối lớn (1500 - 2000mm), mùa ma từ tháng 8 đến tháng

11 chiếm 80% tổng số lợng cả năm Lợng ma hàng năm thờng do áp thấp

Trang 20

nhiệt đới, bão đã làm ảnh hởng mạnh mẽ đến chế độ dòng chảy và chế độ lũcủa các sông trong vùng, gây úng lụt tràn bờ cho nhiều vùng NTTS mặn lợ,làm ngọt hoá nớc ở các đầm nuôi tôm.

Một đặc điểm cũng tơng đối rõ nét là ở Nghệ An có nhiều năm xuấthiên ma tiểu mãn cuối tháng 5, đầu tháng 6 trữ lợng có khi chiếm 25% tổng l-ợng ma cả năm, đây là một đặc điểm có tác động đến nghề NTTS nớc lợ Chế độ thuỷ triều ở Nghệ An là chế độ bán nhật triều không đều Hàngnăm cứ gần nữa số ngày có 2 lần nớc lớn, 2 lần nớc ròng trong ngày, các ngàynày thờng xảy ra thời kì nớc triều kém

Đặc điểm kinh tế xã hội

Nghệ An có diện tích phần biển thuộc quyền quản lý của tỉnh rộng

4239 hải lý vuông và phần đất liền ven biển là địa giới hành chính của 44 xã,phờng thuộc 3 huyện là Diễn Châu, Quỳnh Lu, Nghi Lộc và một thị xã là Cửa

Lò với tổng diện tích tự nhiên là 11,5% về dân số của tỉnh Mật độ dân c trungbình ven biển 3300ngời/Km2, trạng thái phân bố dân c co cụm, tự phát, tậptrung, cùng với sự tập trung dân c là hoạt động kinh tế dân sinh của cộng đồngven biển khá phức tạp, đa dạng và nhạy cảm Việc khai thác nguồn lợi hải sảntăng nhanh và bằng các phơng tiện mang tính huỷ diệt cùng với việc chặt phárừng ngập mặn làm đầm nuôi, là một trong những nguyên nhân gây suy thoáimôi trờng và suy thoái ĐDSH vùng cửa sông ven biển

Trên dải đất ven biển Nghệ An kéo dài 82 Km có gần 3500 dân, mật độdân c có nơi 4000 ngời/km2, trong đó 80% là nông dân, 15% là ng dân, 5%dân làm nghề khác

1.5.2 Tỉnh Hà Tĩnh

Điều kiện tự nhiên

Hà Tĩnh là một tỉnh nằm ở Bắc Trung Bộ trải dài từ 170 53' 56" N đến 180

46' 24" N, 1050 10' 48" E đến 1060 29' 30" E

Phía bắc giáp với huyện Nam Đàn, Hng Nguyên, Thành phố Vinh Nghệ

An, phía nam giáp với huyện Tuyên Hoá và Quảng Trạch tỉnh Quảng Bình,Phía đông giáp với biển, phía tây giáp với Lào

Vùng ven biển nằm dới đờng quốc lộ 1A chạy dọc theo bờ biển vớichiều dài 137 Km và vùng đặc quyền kinh tế biển có diện tích 18000 Km2, địahình đợc tạo thành bởi các dãy đụn cát, các áng trũng đợc lấp đầy trầm tích

đầm phá hay phù sa hình thành do các đụn cát chạy dài ngăn cách biển Do có

Trang 21

nhiều cửa sông, cửa lạch đã tạo nên những bãi triều rộng lớn có khả năng pháttriển NTTS nớc lợ, mặn.

ở vùng cửa sông và các eo vịnh là các vùng có khả năng phát triểnNTTS lồng bè Đây là vùng có thế mạnh về tiềm năng tốt nhất cho phát triểnthuỷ sản mặn, lợ, tạo sản phẩm xuất khẩu có giá trị cao

Hà Tĩnh nằm trong vùng khí hậu Bắc Trung Bộ có đặc điểm chung là:chịu trực tiếp của miền khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng, do vị trí địa lý khá đặcbiệt nên đã làm cho khí hậu phân hoá mạnh và trở nên khắc ngiệt Trong nămkhí hậu phân hoá thành 2 miền rõ rệt:

Mùa nóng: từ tháng 4 đến tháng 9, nhiệt độ trung bình 32,50C, nhiệt độcao tuyệt đối là 400C

Mùa lạnh: từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ trung bình 20,30C,nhiệt độ thấp tuyệt đối là 7,50C

Hà Tĩnh là một trong những tỉnh có lợng ma lớn nhất phía bắc nớc ta

Số ngày ma trung bình năm ở Hà Tĩnh cũng khá cao, nơi ít nhất có 120 ngày

ma trong năm, những vùng nhiều ma có thể lên tới 180 - 190 ngày (huyện KỳAnh), phổ biến là 150 - 160 ngày

Hà Tĩnh có 4 cửa sông lớn: Cửa Hội, cửa Sót, cửa Nhợng và cửa Khẩu.Bốn hệ thống cửa sông này là nguồn nớc chính cung cấp phuc vụ cho NTTSmặn, lợ Vùng biển Hà Tĩnh có chế độ nhật triều không đều, hàng tháng cókhoảng 10-15 ngày có 2 lần nớc cờng và 2 lần nớc ròng trong ngày Cờng độ triềudâng nhanh và thời gian ngắn lại chỉ khoảng 10 - 12 giờ, nhng cờng độ triều rútchậm và thời gian triều rút dài hơn và kéo dài ra khoảng 15 - 16 giờ

Trang 22

304.000 ngời Dân c ở đây chủ yếu sống bằng nghề ng nghiệp còn các ngànhkhác nh nông nghiệp, công nghiệp chiếm tỉ lệ rất ít.

1.6 Đặc điểm điều kiện tự nhiên của hệ thống sông Cả

Hệ thống sông Cả nằm ở phía tây bắc khu Trờng Sơn Bắc, kéo dài theohớng tây bắc - đông nam Lu vực hệ thống sông Cả có chiều dài 350 Km,chiều rộng bình quân 89 Km, diện tích lu vực 27200 Km2, trong đó 17730

Km2 nằm trong lãnh thổ Việt Nam, phần còn lại nằm trong lãnh thổ Lào Đặc điểm nổi bật của địa hình thuộc hệ thống sông Cả là địa hình núithấp và đồi, đồng bằng chỉ chiếm khoảng 13% diện tích toàn bộ Độ cao bìnhquân toàn lu vực bằng 290 m, địa hình thấp dần từ tây bắc xuống đông nam và

từ tây nam xuống đông bắc

Với điều kiện địa hình nh vậy nên lợng ma phân bố rất không đều trong

hệ thống sông Trung tâm ma lớn nhất đạt 3000 mm xuất hiện ở các nhánhsông thuộc tây Nghệ Tĩnh, nơi có điều kiện gây ma thuận lợi của các hoàn lu

đông bắc và tây nam

Sông Cả (sông Lam) bắt nguồn từ miền núi Mờng khút Mờng lập cao

1800 - 2000 m ở Lào Chảy theo hớng tây bắc - đông nam về hạ lu

ở thợng lu, lòng sông hẹp, hai bên bờ là núi cao dựng đứng Từ biên giới ViệtLào đến cửa Rào khá thẳng, dài khoảng 100 Km, độ dốc đáy sông khoảng

đồng bằng tam giác châu lòng sông ở hạ lu đợc mở rộng và uốn khúc quanh

co với hệ số uốn khúc lớn hớn 2 Đoạn từ Đô Lơng đến Nam Đàn lòng sông

có hiện tợng bồi xói mãnh liệt và uốn khúc mạnh

Dòng chính sông Cả có hớng tây bắc - đông nam cho tới chợ Tràng vàTrung Lơng Tại đây dòng chính nhận một phụ lu lớn nhất ở bờ phải là sôngNgàn (hạ lu gọi là sông La) Sau đó, dòng sông chuyển hơng lên đông bắc do

có núi Hông Lĩnh án ngữ Tại đây phân lu là sông Nghèn tách ra và đổ ra biển

ở cửa Sát Trớc khi đổ ra biển ở cửa Hội, từ sông Cả lại tách ra một phân lunữa và đổ ra biển cửa Lò

Trang 23

Khí hậu trong lu vực sông phân hoá theo vùng khá rõ và về cơ bảnthuộc khí hậu nhiệt đới có mùa đông lạnh và chịu ảnh hởng của gió tây nóng(gió Lào) Nhiệt độ không khí bình quân năm 22 - 240C Nhiệt độ cực đại cóthể cao hơn 400C và nhiệt độ thấp nhất có thể hạ xuống dới 50C Độ ẩm khôngkhí bình quân năm khoảng 80 - 85%.

ở vùng đồng bằng gần cửa sông, chế độ nớc sông còn chịu ảnh hởngcủa triều Đặc biệt là mùa cạn, khi nớc thợng nguồn đổ về nhỏ, dao động củamực nớc sông thể hiện sự dao động của triều Tại cửa Hội, nớc triều cao nhấtkhoảng 0,2 - 0,40 m Dao động triều ảnh hởng đến Nam Đàn có khi lên tớiThanh Yên - chợ Cồn [31]

Chơng 2.

Nội dung và phơng pháp nghiên cứu

2.1 Nội dung nghiên cứu

(1) Xác định thành phần loài ĐVKXS cỡ lớn ở vùng cửa sông Cả

(2) Xác định sự phân bố của ĐVKXS cỡ lớn theo độ muối

(3) Xác định chỉ số đa dạng loài ĐVKXS cỡ lớn (ĐVĐ) theo nồng độ muối.(4) Điều tra nguồn lợi một số loài ĐVKXS cỡ lớn có giá trị kinh tế

(5) Điều tra nguyên nhân suy giảm nguồn lợi

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Địa điểm

Thu mẫu ở 3 tuyến thuộc vùng cửa sông Cả

Tuyến 1: Phúc Thọ, Cửa Hội (nồng độ muối 30 - 180/00)

Tuyến 2: RNM Hng Hoà (nồng độ muối 18 – 0,50/00 )

Tuyến 3: Hng Nhân, khu vực gần nhà máy giấy Hng Lam (nồng độ

muối 0,5 - 00/00 )

Trang 24

Ghi chó: T1 (Cöa Héi), T2 (TuyÕn Phóc Thä), T3 (RNM Hng Hßa), T4

(TuyÕn Hng Nh©n), T5 (Khu vùc gÇn nhµ m¸y giÊy Hng Lam)

Thêi gian nghiªn cøu

Trang 25

Công việc đợc thực hiện bắt đầu từ tháng 10/2005 đến 6/2007.

2.3.3 Phơng pháp điều tra phỏng vấn

Các số liệu về kinh tế xã hội đợc thu thập từ niên giám thống kê của

tỉnh, của sở thuỷ sản, sở tài nguyên môi trờng, phòng nông nghiệp và pháttriển nông thôn, phòng thuỷ sản, các huyện vùng cửa sông Cả (thành phốVinh, huyện Nghi Lộc, huyện Hng Nguyên tỉnh Nghệ An và huyện NghiXuân tỉnh Hà Tĩnh)

Các phơng pháp điều tra kinh tế xã hội đợc thực hiện theo tài liệu “Cácphơng pháp tham gia trong quản lý tài nguyên ven biển dựa vào cộng đồng”(Internationl Institute of Rural Reconstructure – IIRR)

Sử dụng phơng pháp đánh giá nhanh có sự tham gia của ngời dân để xác

định thực trạng nguồn lợi, các phơng thức khai thác và xu hớng diễn biếnnguồn lợi

Những phơng pháp trên giúp xác định thông tin về tình hình khai thácnguồn lợi, xu hớng nuôi trồng thuỷ sản, biến động tài nguyên, tác động củathể chế chính sách và các khó khăn của các hộ gia đình làm nghề đánh bắtnuôi trồng thuỷ sản

2.3.4 Phơng pháp đánh giá hiện trạng đa dạng sinh học ĐVKXS cỡ lớn

Chỉ số Shannon – Weiner đợc tính bằng cách lấy số lợng cá thể sinhvật của một đơn vị phân loại chia cho tổng số các cá thể sinh vật trong mẫu,sau đó nhân với logarit của tỷ số đó

Trang 26

Chỉ số Shannon – Weiner (1949) nhằm xác định lợng thông tin haytổng lợng trật tự (hay bất trật tự) có trong một hệ thống Công thức để tính chỉ

Công thức Shannon – Weiner đợc sử dụng phổ biến trong sinh thái học

để tính sự đa dạng trên một cá thể và trong quần xã theo dạng:

H = - 

s

i 1pi( log2 pi)Trong thực hành đợc biến đổi dới dạng:

H = C(log10N -

N

1 ∑nilog10ni)Với H: Chỉ số đa dạng loài

s: Số lợng loài

Pi = ni/N: Tỷ lệ cá thể của loài so với số lợng cá thể trong toàn bộ thu mẫu

i = Số lợng cá thể loài i

C: Thừa số chuyển đổi từ log10 sang log2

Hai thành phần của sự đa dạng đợc kết hợp trong hàm Shannon – Weiner là số lợng loài và tính bình quân của sự phân bố các cá thể giữa các loài Do vậy, số loài càng cao, chỉ số H’ càng cao và sự phân bố các cá thể giữa các loài càng ngang bằng nhau thì cũng gia tăng chỉ số đa dạng loài đợc xác định thông qua hàm số Shannon – Weiner

Từ kết quả tính toán, đa ra nhận xét mức độ đa dạng theo các mức sau đây:

Nếu chỉ số đa dạng > 3: ĐDSH tốt và rất tốtNếu chỉ số đa dạng từ 1 – 3: ĐDSH khá

ở địa phơng ở mọi thời điểm; (8) ít biến dị di truyền và sinh thái; (9) Di

Trang 27

chuyển có mức độ; (10) Đời sống (tuổi thọ) tơng đối dài; (11) Thích hợp chocác nghiên cứu ở phòng thí nghiệm; (12) Hiểu biết về sinh thái của nó [40]

2.3.5 Tính toán và sử lý số liệu

Xử lý số liệu thống kê bằng phần mềm Exel 1997.

2.4 Thiết bị và vật t

Dụng cụ đào đất, gàu Petecxen, rây đất, bình thuỷ tinh, cồn, giấy bóng

mờ, kính hiển vi, kính lúp và các vật t khác

Trang 28

Ch¬ng 3.

KÕt qu¶ nghiªn cøu vµ th¶o luËn

3.1 §a d¹ng thµnh phÇn loµi §VKXS cì lín ë vïng cöa s«ng C¶

Bé Mesogastropoda

Hä Ampullanidae

Trang 29

Hä Potamididae

Trang 31

Hä Grapsidae

Hä Ocypodidae

Hä portunidae

Hä Parathelphusidae

Hä Atyidae

58 Metapenacopsis stridulans (Alcocis) T«m gâ

Trang 32

61 Penaeus longistylus (Kubo) Tôm he đỏ + +

64 Trachypenaeus curvirostris (Simpson) Tôm đanh móc +

Họ Nephthydidae

Bộ Sedentaria

Họ Sabellidae

Ghi chú: T1- Tuyến Cửa Hội T2- Tuyến Phúc Thọ T3- Tuyến Hng Nhân

Lớp Vỏ hai mảnh (Bivalvia) đã tìm thấy 19 loài (chiếm 26,76% tổng sốloài), 15 giống của 11 họ thuộc 5 bộ; Trong đó bộ Arccida có 3 loài (chiếm4,22% tổng số loài), bộ Mitiloida có 2 loài (chiếm 2,81% tổng số loài), bộMyoida có 1 loài (chiếm 1,40% tổng số loài), bộ Pterioida có 2 loài (chiếm2,81% tổng số loài), bộ Veneroida có 11 loài (chiếm 11,24% tổng số loài) Lớp Chân bụng (Gastropoda) đã tìm thấy 16 loài (chiếm 22,53% tổng

số loài), 16 giống của 9 họ thuộc 4 bộ Trong đó bộ Archaeogastropoda có 4loài (chiếm 5,64% tổng số loài), bộ Mesogastropoda có 9 loài (chiếm 12,68%tổng số loài), bộ Orthogastropoda có 2 loài (chiếm 2,81% tổng số loài), bộStenoglossa có 1 loài (chiếm 1,40% tổng số loài)

Lớp Giáp xác (Crustaceae) đã tìm thấy 31 loài (chiếm 43,66% tổng số loài),

25 giống của 12 họ thuộc 3 bộ Trong đó bộ Decapoda có số lợng loài nhiều nhất là

29 loài (chiếm 40,86% tổng số loài), bộ Stomatoda có 1 loài (chiếm 1,40% tổng sốloài), bộ Amphipoda có 1 loài (chiếm 1,40% tổng số loài)

Lớp Polychaeta đã tìm thấy 5 loài (chiếm 7,04% tổng số loài), 5 giốngcủa 3 họ thuộc 2 bộ Trong đó Errantia có 4 loài (chiếm 5,64% tổng số loài),

bộ Sedentaria có 1 loài (chiếm 1,40% tổng số loài)

Bảng 3.2 Số lợng bộ, họ, giống, loài của các lớp ĐVKXS cỡ lớn

ở vùng cửa sông Cả

Trang 33

TT Líp

Sè îng Tû lÖ% Sè l-îng Tû lÖ% Sè l-îng Tû lÖ% Sè l-îng Tû lÖ%

Poly

3.1.2 Nh÷ng loµi phæ biÕn

Trong sè 71 loµi cã 19 loµi rÊt phæ biÕn

- èc nhåi (Pila polita)

- èc b¬u vµng (Pomacea canaliculata)

- èc xo¾n (Melanoides tuberculatus)

- Sß l«ng (Anadara subcrenata)

- Hµu cöa s«ng (Crassostrea rivullaris)

- D¾t (Corbicula castanea)

- HÕn s«ng (Corbicula fluminea)

- Don (Glaucomya chinensis)

- C¸y (Sersama chiromantes)

Trang 34

- Ghẹ ba chấm (Portunus sanguinolentus)

- Tôm đất (Solenocera pectinata)

3.2 Chỉ số đa dạng sinh học theo nồng độ muối

Kết quả nghiên cứu thu đợc (phụ lục 3a, 3b, 3c, 3d) cho thấy chỉ số đadạng Shannon – Weiner (H) của đông vật đáy ở các nồng độ muối nh sau(bảng 3.3):

Bảng 3.3 Chỉ số đa dạng sinh học Shannon – Weiner (H) của động vật đáy

theo nồng độ muối

Loài(1)

Chỉ số đa dạng (H)30-18 0 / 00

Trang 35

Nếu xem xét trong cùng khoảng nồng độ muối 18 – 0,50/00 thì chỉ số(H) ở RNM Hng Hòa (1,75) cao hơn so với ở sông (1,54)

Căn cứ vào tiêu chuẩn chỉ số ĐDSH Shannon Weiner thì:

ĐDSH của động vật đáy ở nồng độ muối 18 – 0,50/00 (sông và RNM), ởnồng độ muối <0,50/00 đạt mức khá

ĐDSH của động vật đáy ở nồng độ muối 30 - 180/00 đạt mức kém

3.3 Sự phân bố các loài ĐVKXS cỡ lớn theo nồng độ muối

Tiêu chuẩn phân chia ba loại nớc vùng cửa sông ven biển theo độ mặn(Vũ Trung Tạng, 1994)

Nớc lợ mặn: Nồng độ muối 300/00 - 180/00

Nớc lợ: Nồng độ muối 180/00 – 0,50/00

Nớc ngọt: Nồng độ muối < 0,50/00

Ngày đăng: 18/12/2013, 20:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Danh lục thành phần loài và phân bố của khu hệ ĐVKXS cỡ lớn               vùng cửa sông Cả - Nguồn lợi động vật không xương sống cỡ lớn và nguyên nhân gây suy giảm nguồn lợi ở vùng cửa sông cả
Bảng 3.1. Danh lục thành phần loài và phân bố của khu hệ ĐVKXS cỡ lớn vùng cửa sông Cả (Trang 32)
Bảng 3.2. Số lợng bộ, họ, giống, loài của các lớp ĐVKXS cỡ lớn ở vùng cửa sông Cả - Nguồn lợi động vật không xương sống cỡ lớn và nguyên nhân gây suy giảm nguồn lợi ở vùng cửa sông cả
Bảng 3.2. Số lợng bộ, họ, giống, loài của các lớp ĐVKXS cỡ lớn ở vùng cửa sông Cả (Trang 37)
Bảng 3.4. Số lợng trung bình của các loài ĐVKXS cỡ lớn theo nồng độ muối - Nguồn lợi động vật không xương sống cỡ lớn và nguyên nhân gây suy giảm nguồn lợi ở vùng cửa sông cả
Bảng 3.4. Số lợng trung bình của các loài ĐVKXS cỡ lớn theo nồng độ muối (Trang 41)
Bảng 3.6. Số lợng, kích thớc của tôm qua các đợt thu mẫu (năm 2004- 2006) - Nguồn lợi động vật không xương sống cỡ lớn và nguyên nhân gây suy giảm nguồn lợi ở vùng cửa sông cả
Bảng 3.6. Số lợng, kích thớc của tôm qua các đợt thu mẫu (năm 2004- 2006) (Trang 43)
Bảng 3.8. Năng suất khai thác tôm ở khu vực Hng Lam 1995 – 2006 - Nguồn lợi động vật không xương sống cỡ lớn và nguyên nhân gây suy giảm nguồn lợi ở vùng cửa sông cả
Bảng 3.8. Năng suất khai thác tôm ở khu vực Hng Lam 1995 – 2006 (Trang 46)
Bảng 3.9. Năng suất khai thác cua, ghẹ ở khu vực Cửa Hội, năm 1995- 2006 - Nguồn lợi động vật không xương sống cỡ lớn và nguyên nhân gây suy giảm nguồn lợi ở vùng cửa sông cả
Bảng 3.9. Năng suất khai thác cua, ghẹ ở khu vực Cửa Hội, năm 1995- 2006 (Trang 47)
Bảng 3.10. Năng suất khai thác rơi ở xã Hng Lợi  (năm 1985-2006) - Nguồn lợi động vật không xương sống cỡ lớn và nguyên nhân gây suy giảm nguồn lợi ở vùng cửa sông cả
Bảng 3.10. Năng suất khai thác rơi ở xã Hng Lợi (năm 1985-2006) (Trang 48)
Bảng 3.11. Năng suất khai thác hến (Corbicula fluminea) ở xã Đức Tân- Đức  Thọ từ năm 1995 – 2006 - Nguồn lợi động vật không xương sống cỡ lớn và nguyên nhân gây suy giảm nguồn lợi ở vùng cửa sông cả
Bảng 3.11. Năng suất khai thác hến (Corbicula fluminea) ở xã Đức Tân- Đức Thọ từ năm 1995 – 2006 (Trang 50)
Bảng 3.12. Năng suất khai thác ngao ở xã Xuân Hội 1995 – 2006. - Nguồn lợi động vật không xương sống cỡ lớn và nguyên nhân gây suy giảm nguồn lợi ở vùng cửa sông cả
Bảng 3.12. Năng suất khai thác ngao ở xã Xuân Hội 1995 – 2006 (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w