Mở đầuCá Rô phi vằn Oreochromis niloticus là đối tợng nuôi trồng có nhiều đặc tính u việt nh tốc độ sinh trởng nhanh, ít dịch bệnh, thích ứng đợc vớinhững điều kiện nuôi khác nhau cũng n
Trang 1Mở đầu
Cá Rô phi vằn (Oreochromis niloticus) là đối tợng nuôi trồng có nhiều
đặc tính u việt nh tốc độ sinh trởng nhanh, ít dịch bệnh, thích ứng đợc vớinhững điều kiện nuôi khác nhau cũng nh điều môi trờng khắc nghiệt, thịt cá rôphi thơm ngon nên trong những năm gần đây đã nhanh chóng trở thành một
đối tợng nuôi rất phổ biến trên thế giới Theo thống kê của ngành thuỷ sản,hiện nay cá rô phi đang đợc nuôi trên hơn 140 quốc gia và đợc xem là mộttrong những loài cá nuôi quan trọng nhất thế kỉ 21 Tổng sản lợng cá rô phi
Oreochromis niloticus trên thế giới đã tăng lên không ngừng từ 200000 tấn
năm 1980, đến 400000 tấn năm 1991 và đạt gần 1.6 triệu tấn năm 2003, giá trị
ớc tính khoảng 2.5 tỉ USD, dự đoán năm 2010 tổng giá trị cá rô phi nuôi toàncầu đạt 4 tỉ USD
Cá rô phi đợc nhập vào nuôi ở Việt Nam năm 1973 từ Đài Loan, nhngmãi đến những năm gần đây chúng mới trở thành đối tợng nuôi đợc đầu t nuôitrồng để phục vụ tiêu dùng trong nớc và xuất khẩu, đang từng bớc vơn lênngang tầm với các nớc trong khu vực Mục tiêu của ngành thuỷ sản đặt ra là
đến năm 2010, chúng ta phải sản xuất đợc 200000 tấn cá rô phi, do đó việcxây dựng quy trình nuôi cá rô phi để sản xuất đang trở nên rất cấp thiết
Nhờ sự phát triển của khoa học kĩ thuật trong lĩnh vực thuỷ sản, gần đâynhững vấn đề khó khăn về môi trờng, quản lý chăm sóc,… đã đợc giải quyết.Riêng thức ăn hỗn hợp cho cá rô phi nuôi vẫn còn là một vấn đề cần quan tâm.Các loại thức ăn thờng đợc sử dụng phổ biến hiện nay tuy có chất lợng tốt nh-
ng giá bán lại rất cao làm cho chi phi thức ăn chiếm tới 80% tổng chi phí sảnxuất( Phạm Nhật Thành, Phạm Xuân Am ,2001) Trong thực tế sản xuất, đểnuôi cá rô phi có lãi thì yêu cầu chi phí cho việc sử dụng thức ăn phải dới 70%( Phạm Anh Tuấn và CTV,2002)
Để giảm giá thành chi phí thức ăn thì có thể giảm bớt các thành phầnnguyên liệu giá cao thay thế bằng các nguồn nguyên liệu sẵn có nhng vẫn
đảm bảo cung cấp đầy đủ thành phần dinh dỡng phù hợp với nhu cầu của đốitợng nuôi Sử dụng bột nhân hạt cao su thay thế bột cá trong khẩu phần ăn củacá rô phi (Oreochromis niloticus) là một giải pháp Bột cá là nguồn protein
động vật phổ biến nhất dùng trong chế biến thức ăn chăn nuôi Tuy có hàm ợng protein cao, có đầy đủ khoáng, vitamin và các acid amin thiết yếu nhnggiá của nó còn cao và hạn chế Mặt khác áp lực thiếu hụt bột cá trong tơng lai
Trang 2l-là tất yếu do nhu cầu bột cá dự đoán sẽ tăng từ 13 triệu tấn lên 30 triệu tấn(2010) tức tăng xấp xỉ 44% của 10 năm trớc (Ground, 2005)
Bột nhân hạt cao su có giá trị dinh dỡng cao, có thể so sánh với khô dầulạc, khô dầu đậu nành Các acid amin quan trọng trong protein nhân hạt cao su
ở mức khá Mặt khác cây cao su là cây công nghiệp nhiệt đới có giá trị kinh tếcao đợc trồng rất nhiều ở các nớc Mỹ La Tinh, Châu á, Châu Phi…nên đây lànguồn protein thực vật lớn, giá cả hợp với ngời dân tuy có nhiều u điểm nhvậy nhng trong thành phần của nó có chứa độc tố axit Xyanhydric
Xuất phát từ thực tế đó, đồng thời để bớc đầu làm quen với phơng phápnghiên cứu khoa học Đợc sự phân công của khoa Nông Lâm Ng, bộ môn
NTTS tôi đã trực tiếp thực hiện đề tài “Nghiên cứu sử dụng protein bột nhân hạt cao su thay thế một phần protein bột cá trong khẩu phần ăn
của cá rô phi (Oreochromis niloticus) giai đoạn thơng phẩm nuôi trong
bể”
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là thiết lập đợc công thức thức ăn sửdụng protein bột nhân hạt cao su phù hợp để giảm giá thành chi phí thức ăntrong nuôi cá rô phi, giảm áp lực về nhu cầu bột cá hiện tại và trong tơng lai
chơng1 tổng quan tàI liệu
1.1 Một số nét về cá Rô phi vằn Oreochromis niloticus
1.1.1.Phân loại
Cá rô phi chọn giống dòng GIFT đợc tập hợp từ đàn cá rô phi bố mẹngoài tự nhiên và đợc chọn lọc qua nhiều thế hệ với sự trợ giúp của chơngtrình GIFT Foundation, theo Smith(1945) cá thuộc:
Loài Oreochromis niloticus
1.1.2 Nguồn gốc và phân bố tự nhiên của cá rô phi vằn
Trang 3Cá rô phi (Oreochromis niloticus) dòng GIFT đợc Philipine lai tạo và
chọn lọc từ 8 dòng cá khác nhau trong đó có dòng cá châu phi (Egipt, Ghana,Kenya,and Senegan) và 4 dòng cá rô phi thuần từ các nớc Israel, Singapore,Taiwan và Tháiland Năm 1993 cá rô phi vằn dòng GIFT đợc nhập vào việnnghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản 1 từ Philippine Là kết quả của dự án ”Nângcao phẩm giống di truyền cá rô phi nuôi” thông qua lai tạo và chon lọc từ cácdòng cá khác nhau
Trong nghề nuôi thuỷ sản, các loài cá rô phi thuộc giống Oreochromis
đ-ợc nuôi rộng rãi ở nhiều hệ thống nuôi khác nhau từ nớc ngọt, lợ và cả ở nớcmặn Cá rô phi có thể nuôi lồng, nuôi nớc chảy, nuôi kết hợp với cấy lúa, nuôi
ao ( nuôi đơn, nuôi ghép), nuôi trong bể xi măng và đặc biệt gần đây TrungQuốc đã thành công nuôi cá rô phi mật độ cao trong bè nhỏ (Schmittau ctv,1991)
1.1.3 Đặc điểm hình thái
Cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus) có thân ngắn mình cao, vẩy lớn
dày và cứng Màu sắc thân thay đổi theo môi trờng và giai đoạn phát triển củacá thân cá có màu hơi sẫm, trên thân có 7 - 9 sọc đen từ gốc đuôi đến vâyngực, ở duôi và vây có chấm hoa xếp theo thứ tự thành vạch đen đều đặn, cá
đực cũng nh cá cái nhng màu sắc của cá đực sặc sỡ hơn
Miệng cá có nhiều hàm răng nhỏ và sắc, dạ dày bé, đặc biệt cá rô phi córuột dài gấp 6 – 7 lần chiều dài của cơ thể
Trang 4
Hình 1: Hình thái ngoài Cá Rô phi vằn (Oreochromis niloticus)
1.1.4 Đặc điểm sinh trởng và phát triển của cá rô phi
Quá trình sinh trởng và phát triển của cá rô phi có thể chia làm 3 giai
đoạn chính là giai đoạn cá bột, giai đoạn ơng nuôi và trởng thành, giai đoạnthành thục và sinh sản
1.1.4.1 Giai đoạn cá bột
Giai đoạn cá bột kéo dài từ khi trứng đợc đẻ ra cho tới khi nở thành cábột, sau khi đẻ ra, trứng đợc thụ tinh thì cá mẹ ấp trứng trong miệng Tuỳthuộc vào nhiệt độ nớc mà thời gian ấp trứng dài hay ngắn ở nhiệt độ 200Cthời gian ấp trứng kéo dài trong 6 ngày, ở 280C thời gian ấp trứng là 4 ngày vàchỉ 2-3 ngày ở nhiệt độ 34,50C (Rana, 1990) ở giai đoạn này, nhiệt độ nớc vàthức ăn có ảnh hởng lớn đến sự phát triển của cá bột Theo Rana (1990), cábột trong giai đoạn này phát triển tốt nhất ở nhiệt độ 300C Khả năng bắt mồicủa cá bột càng sớm hoàn thiện khi nhiệt độ nớc càng tăng ở nhiệt độ 240C cábột bắt đầu ăn sau 8 ngày, nhng chỉ 5 ngày ở nhiệt độ 280C và 4 ngày ở nhiệt
độ 300C Trong giai đoạn này sự khác biệt lớn về sinh trởng và kích thớc trongquần đàn sẽ dẫn đến hiện tợng ăn lẫn nhau ở các giai đoạn tiếp theo
1.1.4.2 Giai đoạn cá giống và trởng thành.
Cá bột trong giai đoạn ơng thờng bơi lội thành từng đàn và tập trung ởnhững vùng nớc sông, thức ăn ở giai đoạn này là thực vật phù du, ấu trùngmuỗi, ấu trùng côn trùng Cá bột O.niloticus chênh lệch sau 14 ngày tuổi cóthể ăn lẫn nhau và hiện tợng này tăng mạnh mẽ sau 24 ngày tuổi Hiện tợng ănlẫn nhau là nguyên nhân gây nên tỷ lệ hao hụt lớn của cá bột trong giai đoạnnày Tuy nhiên trong môi trờng nuôi có thức ăn tự nhiên phong phú, hiện tợng
ăn lẫn nhau của cá con có thể giảm đi và tỷ lệ sống tăng lên (Nguyễn Thị DiệuPhơng, 2001) Trong giai đoạn nuôi thịt, mật độ cá thả phụ thuộc vào cỡ cá và
hệ thống nuôi
Trang 5Bảng1: Mật độ, cỡ cá thả và khẩu phần Protein của cá rô phi O.niloticus ở một
và Jian, 1998
ctv, 2000
Vậy khi nuôi cá rô phi O.niloticus tùy theo điều kiện môi trờng và thức
ăn bổ sung có thể nuôi ở mật độ cao hay thấp
1.1.4.3 Giai đoạn cá thành thục và sinh sản.
Tuỳ thuộc vào tuổi, kích cỡ cá và điều kiện môi trờng sống mà cá thànhthục sớm hay muộn Các loài Rô phi khác nhau thì tuổi thành thục của chúng
là khác nhau: Cá rô phi O.mossambicus thờng thành thục sinh dục ở kích cỡ nhỏ hơn và sớm hơn so với loài O.niloticus Trong ao nghèo dinh dỡng cá th-
ờng thành thục ở kích cỡ nhỏ hơn so với ao giàu dinh dỡng (Low-Mc Connell,1982)
Trung bình một con cái có thể đẻ 6 đợt mỗi năm, mỗi đợt từ vài trăm tớivài nghìn trứng (Macintosh and Little, 1995) Nếu trong điều kiện đủ dinh d-ỡng, nhịp độ sinh sản của O.niloticus có thể là 30-60 ngày/lần Trong giai
đoạn sinh sản của cá cái cần nhiều năng lợng cho sự phát triển của tuyến sinhdục và đặc biệt trong suốt thời gian ấp trứng, cá cái không ăn (Macintosh andLittle, 1995) điều này làm tốc độ tăng trởng của chúng giảm nhiều hoặcngừng hẳn
Mặt khác, việc sinh sản tự nhiên trong ao làm cho mật độ quần thể trởnên quá cao, dẫn đến giảm tốc độ sinh trởng của quần đàn Vì vậy, việc nuôicá rô phi đơn tính là một phơng pháp nhằm khắc phục tồn tại này Gần đây,việc sử dụng học môn chuyển giới tính để sản xuất cá rô phi toàn đực trên thếgiới cũng nh ở Việt Nam có thể tạo ra 95% cá đực (Nguyễn Dơng Dũng,1998)
Trang 61.2 Một số vấn đề về dinh dỡng của cá
1.2.1 Đặc điểm cơ quan tiêu hoá của cá rô phi
Cá rô phi có bộ máy tiêu hoá đợc cấu tạo thích nghi với việc ăn tạp.Miệng khá rộng hớng lên trên và có thể ăn đợc những mồi lớn Răng hàmngắn và nhiều đợc sắp xếp lộn xộn giúp bắt và giữ mồi rất tốt Lợc mang ngắn,dày giúp cho việc lọc tảo rất hiệu quả Cá rô phi có hai tấm răng hầu ở trên vàmột tấm ở dới làm nhiệm vụ nghiền thức ăn Cá rô phi có thực quản ngắn, dạdày nhỏ, thành dạ dày mỏng Ruột cá dài và xoắn nhiều vòng, là đặc điểm củaloài ăn thực vật(Jauncey, 1998)[bbuif Đoàn Dũng]
Trang 7cho rằng để nuôi cá rô phi đạt hiệu quả cao thì hàm lợng protein trong thức ănviên khô phải từ 30-35% Sự kết hợp hài hoà giữa các nguyên liệu để đảm bảonhu cầu về Protein cho cá sẽ đạt đợc hiệu quả cao trong thực tiễn sản xuất.Khi nuôi thâm canh với mật độ cao trong ao hay lồng bè cần cung cấpdinh dỡng cho cá bằng thức ăn viên khô bởi những u điểm của nó nh độ ẩmthấp (10%), chất lợng dinh dỡng cao, hiệu quả thức ăn cao Để thức ăn viên
có chất lợng cao điều căn bản là nguyên liệu phải đợc lựa chọn đảm bảo chấtlợng tốt về các mặt nh hàm lợng dinh dữơng có sẵn, khả năng tiêu hoá, khôngnhiễm thuốc sâu và các độc tố nhng cần thiết dựa trên nhu cầu dinh dỡng củacá mà sử dụng sao cho giá thành thấp đồng thời có tính bền vững ổn địnhtrong nớc
1.2.3 Tính ăn của cá rô phi.
Tính ăn của cá rô phi rất thay đổi tuỳ thuộc theo loài, giai đoạn phát triển
và môi trờng nuôi Khi còn nhỏ, thức ăn chủ yếu của cá rô phi là sinh vật phù
du, sau khi nở 20 ngày chúng chuyển dần sang ăn nh cá trởng thành (Philipart
và Ruwet, 1982) Theo Trewavas (1982) ở giai đoạn sớm của cá hơng chúng
ăn động vật phù du, chất cặn vẩn và những ấu trùng dới nớc, cho tới khi đạt6cm thì chuyển sang ăn thực vật phù du nhiều hơn Tới tuổi trởng thành, cá rôphi có phổ thức ăn khá rộng: tảo, mùn bã hữu cơ, động vật phù du, ấu trùng,côn trùng, những thực vật thợng đẳng mềm và cả thức ăn viên khi nuôi trong
ao, lồng
Trong các vực nớc tự nhiên giàu dinh dỡng, thức ăn chính của cá rô phi làthực vật phù du, nhng ở các thuỷ vực nghèo dinh dỡng thì kể cả tảo bám đáycũng đợc chúng sử dụng Cá rô phi có đặc tính thích nghi cao với môi trờngsống, chúng có thể ăn cả những côn trùng rơi xuống nớc trong ruộng lúa củamô hình lúa - cá (Đỗ Đoàn Hiệp, Vũ Văn Tân, 2000)
1.2.4 Nhu cầu dinh dỡng của cá rô phi.
Để đáp ứng nhu cầu tăng trởng, sinh sản và các chức năng sinh lý của cáthì cần đáp ứng đầy đủ các chất dinh dữơng nh protein, lipid, năng lợng,vitamin và khoáng Nhu cầu này cũng thay đổi tuỳ thuộc từng loài cá và từnggiai đoạn phát triển của nó
1.2.4.1 Protein.
Trang 8Protein là thành phần quan trọng nhất dùng để xây dựng các tổ chức vàsản xuất các enzyme cho cơ thể Protein là hợp chất cao phân tử có 50%cacbon, 22% oxy, 7% hydrô, 16% nitơ và 5% các thành phần khác (Vũ DuyGiảng, 2003).
Cá rô phi không có nhu cầu protein cố định song đòi hỏi một sự phối hợpcủa 20 axit amin chính thiết yếu và không thiết yếu để tạo nên các protein.Tiêu hoá protein xảy ra trớc hết dới tác dụng của các enzyme thức ăn đợc tiêuhoá để tạo thành các axít amin tự do rồi đợc hấp thụ qua ống tiêu hoá vàomáu, chúng đợc máu vận chuyển tới các tổ chức mô khác nhau để tham giavào quá trình sinh tổng hợp hoặc ôxy hoá để giải phóng năng lợng
Bột cá vẫn là nguồn protein động vật chủ yếu trong thức ăn của cá rô phi,ngoài ra có thể lựa chọn các loại khác nh thịt gia cầm, cá ủ xilô, bột tôm,nhuyễn thể, Những protein thực vật đợc sử nhiều nhất trong thức ăn cá rô phi
là đỗ tơng, lạc, hạt bông, hạt hớng dơng, bột gạo, bột bắp Tuy nhiên nhữngprotein động vật và thực vật trên chỉ có thể thay thế một phần bột cá trongthức ăn của cá rô phi Điều này có thể do sự thiếu cân bằng của các chất dinhdỡng thiết yếu nh các axit amin và các chất khoáng, do sự hiên diện của cácnhân tố phi dinh dỡng làm giảm tính hấp dẫn của thức ăn, giảm tính ổn địnhcủa thức ăn trong nớc và độ tiêu hoá thức ăn kém
1.2.4.2 Lipid:
Lipid là một trong những thành phần quan trọng của thức ăn cung cấpnguồn năng lợng cho động vật Lipid là este của glyceryl và axit béo, tuỳthuộc vào axit béo cấu trúc no hay không no mà lipid ở dạng lỏng hay dạngrắn Số lợng Cacbon, số lợng nối đôi và vị trí của nối đôi thứ nhất sẽ có ảnh h-ởng lớn tới chất lợng của axit béo không no vì vậy ngời ta thờng dùng axit béokhông no để đánh giá chất lợng lipid
Lipid trong cơ thể cá dự trữ dới dạng mô mỡ, khi thiếu thức ăn mô mỡnày sẽ đợc sử dụng để cung cấp năng lợng cho cá Lipid cũng đợc tìm thấytrong não, tế bào thần kinh là tiền thân của hormon giới tính và các hormonkhác trong cá (new, 1987) Theo Jauncey (1982) cho biết cá rôphi không sửdụng mức cao của khẩu phần lipid nh cá hồi và cá chép, cá rô phi cỡ 25g nên
sử dụng mức lipid là 10% và giảm xuống 6% đối với cá lớn Khi nghiên cứunhu cầu lipid cho cá rôphi O.niloticus cái với các khẩu phần ăn chứa 5%, 9%
và 12% lipid, Hanley (1991) kết luận việc tăng hàm lợng lipid trong khẩu
Trang 9phần ăn không làm tăng tốc độ tăng trởng nhng lại làm tích luỹ lipid trong cơthể cá rô phi.
1.2.4.3 Vitamin.
Vitamin là chất hữu cơ có vai trò lớn trong việc kích thích tăng cờng trao
đổi chất, tăng cờng quá trình tiêu hoá và hấp thụ, tăng cờng sức khoẻ và khảnăng đề kháng, mặc dù nhu cầu về vitamin của động vật nói chung không cao.Vitamin có các loại nh vitamin A (kích thích sự phát triển của trứng),vitamin D (tăng cờng hấp thụ canxi), Vitamin C, vitamin E (tăng cờng sức đềkháng)
Cá rô phi có nhu cầu vitamin tơng tự nh các loài cá nớc ấm khác, nhngchúng không tự tổng hợp đợc vitamin mà phải lấy từ khẩu phần thức ăn, đặcbiệt khi nuôi thâm canh cần phải cung cấp đầyđủ 15 vitamin thiết yếu để đềphòng các dấu hiệu suy dinh dỡng (Schmittou và ctv, 1998).Lovell&Limsuwan (1982) cho rằg O.niloticus sản xuất vitamin B12 trong ốngtiêu hoá thông qua hoạt động của vi khuẩn và không cần bổ sung trong khẩuphần thức ăn
1.2.4.4 Khoáng
Khoáng là thành phần, quan trọng để tạo mô, các quá trình trao đổi chấtgiữ cân bằng thẩm thấu giữa nội dịch và môi trờng Cá rô phi cần 22 loạikhoáng trong đó một số loại khoáng thiết yếu trong khẩu phần và một sốkhoáng hoà tan có sẵn trong nớc nh can xi nên cá có thể trao đổi dịch giữa cơthể và môi trờng nớc thông qua mang
Sự thiếu hụt khoáng có thể làm giảm tăng trởng của cá, thiếu máu kém
ăn, khung xơng biến dạng, cá lờ đờ Bệnh nặng thì da vây mòn, đục thuỷ tinhthể, cơ thoái hoá, tỷ lệ chết cao( Nguyễn Thị Diệu Phơng, 2001)
Trang 10kinh tế Vì vậy, ngoài việc đáp ứng đủ nhu cầu dinh dỡng cho cá thì phải chocá ăn với tỷ lệ thức ăn hợp lý.
Theo Jauncey & Ross (1982) lợng thức ăn và cỡ cá có mối quan hệ vớiphần trăm trọng lợng cơ thể Tỷ lệ cho ăn đợc tính theo phần trăm trọng lợngcá và biến đổi tuỳ theo kích cỡ, tuổi của cá, sự biến động về chất lợng, nhiệt
độ nớc, mức dinh dỡng Lợng thức ăn mỗi ngày đợc giới hạn bởi tác động củaviệc đồng hoá thức ăn đến chất lợng nớc Khi lợng thức ăn tăng, lợng nớcgiảm, lợng ôxy hoà tan thấp là yếu tố môi trờng đầu tiên ảnh hửơng tới cá.Theo Schmittous và ctv, (1998) tỷ lệ thức ăn tối u của cá rô phi nuôithâm canh là lợng thức ăn làm thoả mãn gần 100%, chính là tổng lợng thức ăntiêu thụ ở mỗi lần cho ăn Tỷ lệ cho ăn lý tởng là thoả mãn 90%, lợng thấphơn sẽ tiết kiệm thức ăn song ảnh hởng tới tăng trởng hoặc cho ăn quá nhiều
sẽ tiêu tốn thức ăn hơn Theo Tacon (1998) tỷ lệ thức ăn co cá rô phi từ 30%trọng lợng cơ thể (cỡ cá 0-5g/con) giảm xuống 1,2% Schumittou và ctv,(1998) cho rằng khi nuôi cá rô phi mật độ cao trong lồng bè nhỏ, cho cá ănthức ăn chứa 32% protein có thể giảm dần tỷ lệ cho ăn từ 4,5% (cỡ cá 25g)xuống 3,7% (cá cỡ 50g), 3,2% (cá cỡ 100g), 2,8% (cá cỡ 300g), 2% (cá cỡ400g) và chỉ còn 1,7% đối với cá cỡ 500g
Bảng 2: Tỷ lệ thức ăn cho cá rô phi O.niloticus qua các độ tuổi:
Trang 11Số lần cho ăn thay đổi tuỳ theo kích cỡ hoặc tuổi của cá: Từ 12 lần mỗingày đối với cá mới nở, 3-4 lần/ngày đối với cỡ cá giống, 1-3 làn/ngày cho cátrởng thành và 1 lần/ngày cho cá bố mẹ Cho ăn nhiều lần trong ngày có thểtăng tỷ lệ sinh trởng (đặc biệt hệ thống tiêu hoá của cá rô phi phù hợp hơn với
sự cung cấp một lợng nhỏ thức ăn và thờng xuyên còn hơn là với một lợngthức ăn lớn mà cung cấp không thờng xuyên ), tuy nhiên tần suất cho ăn tối uphụ thuộc vào nhiều yếu tố nh cỡ cá, khoảng cách giữa hai lần cho ăn và nhiệt
độ vì thời gian cho ăn có thể ảnh hởng với cá cỡ lớn trên 100g cho ăn nhiềulần không cần cải thiện hơn về sinh trởng mà còn tiêu tốn thức ăn(Schumittous và ctv 1998) Trong thực tiễn sản xuất, lợng thức ăn hàng ngàynên đợc chú ý theo dõi và điều chỉnh theo nhiệt độ nớc ở nhiệt độ 25-290C l-ợng thức ăn cho cá là 100%, theo tính toán thì chỉ cho ăn 80% khi nhiệt độ n-
ớc là 20-400C và 30-320C Song nếu nhiệt độ thấp dới 150C hay cao trên 330Cchỉ cho ăn khi cá đói (Schmittous và ctv, 1998)
1.2.6 Các yếu tố ảnh hởng tới hệ số thức ăn.
Các yếu tố ảnh hởng tới hệ số thức ăn bao gồm kích cỡ cá, lợng, chất ợng thức ăn, hàm lơng protein, số lần cho ăn và chất lợng nớc Tỷ lệ cho ănquá cao có thể gây lãng phí vì thức ăn cá ăn vào nhiêu hơn lợng thức ăn có thể
l-sử dụng trớc khi cá bài tiết từ hệ tiêu hoá (Jauncey và Ross, 1982) Số lần cho
ảnh sẽ ảnh hởng đến hệ số thức ăn vì hệ tiêu hoá của cá rô phi phù hợp vớimột lợng thức ăn nhỏ cho nên ăn nhiều lần trong ngày hơn một lợng thức ănlớn mà cho ăn ít lần Ngoài ra phơng pháp cho ăn cũng rất quan trọng, đểtránh thức ăn thừa tốt nhất nên cho ăn cố định một chỗ và có máng kiểm soátthức ăn
1.2.7 ảnh hởng của thức ăn lên môi trờng nớc
Trong nuôi cá rô phi thâm canh cùng với việc tăng về tỷ lệ cho ăn, cácsản phẩm thải càng có xu hớng tăng lên, tích luỹ trong môi trờng nuôi làm xấuchất lợng nớc Khi nớc bị các chất thải hoà tan không chỉ có cá bị stress, sinhvạt phù du phát triển quá mức làm tiêu tốn ôxy vào ban đêm Sục khí là mộtgiải phẩm cần thiết, sục khí có thể làm tăng hàm lợng ô xy hoà tan trong nớc(Nguyễn Thị Diệu Phơng 2001)
1.3 Chất lợng nớc và các yếu tố môi trờng ảnh hởng tới cá rô phi.
1.3.1 nhiệt độ
Trang 12Nguồn gốc của cá rô phi đã nói lên một phần ngỡng nhiệt độ của chúng.Theo Stickney (1997) cá rô phi là loài cá thích ứng rộng với yếu tố nhiệt độ,nhng thiên về nhiệt độ cao hơn là nhiệt độ thấp; ngỡng gây chết thấp là 110C
và cao là 420C; nhiệt độ thích hợp cho cá rô phi phát triển là 20-350C và tối u
từ 28-300C (Blarin và Haller, 1982) ở nhiệt độ thấp (dới 100C) khả năngkháng bệnh của cá kém và gây chết trong một vài ngày
1.3.2 Oxy hoà tan
Cá rô phi có thể chịu đựng đợc ôxy hoà tan thấp 0,1mg/l trong mộtkhoảng thời gian ngắn Cá rô phi O.niloticus có thể sống bằng cách sử dụngoxy không khí làm lợng ôxy hoà tàn giảm dới 1mg/l, nhng cá phát trỉên chậmkhi oxy hoà tan dới 0,5mg/l, DO thích hợp cho cá rô phi phat triển là lơn hơnhoặc bằng 4mg/l(Chervinski, 1982).Trong môi trờng nuôi thâm canh có hàmlợng oxy hoà tan thấp cá sẽ giảm tiêu thụ oxy, giảm các hoạt động trao đổichất và giảm tốc độ sinh trởng Vì vậy, để nuôi cá rô phi thơng phẩm đạt hiệuquả kinh tế cao, khi sinh khối cá đạt 200g/m3 nớc, hệ thống nuôi phải đợc bậtsục khí vào sáng sớm lúc 5-6 giờ sáng, đồng thời tăng dần thời gian sục khítheo thời gian nuôi (Phạm Anh Tuấn, 2000)
1.3.3 Độ pH
Độ pH có ảnh hởng trực tiếp và gián tiếp tới cá nuôi Độ pH nhỏ hơn 4hay lớn hơn 11có thể gây chết cho cá(Nguyễn Đức Hội, 1997) Độ pH cao sẽlàm tăng độc tính của H2S , tăng khả năng hoà tan của kim loại nặng vào nớc,ngợc lại độ pH thấp sẽ làm tăng độc tính của khí NH3 và làm cản trở hoạt độngcủa một số men trong sinh vật làm thức ăn cho cá (Trịnh Thị Thanh,1995)
Cá rô phi thích hợp với môI trờng pH trung tính hay kiềm nhẹ, pH từ6,5 – 9 là phù hợp(Nguyễn Đức Hội, 1997) Cá rô nuôi O niloticus chịu đợc
pH 8 – 11 trong ao nuôi
1.3.4 Hyđrosulfide (H 2 S)
Là chất khí, mùi trứng thối, rất độc, hoà tan rất nhiều trong nớc, khi tanthể hiên tính axit yếu H2S tác động lên cơ thể động vật trớc hết chiếm đoạtoxy trong máu làm cho con vật chết ngạt, đồng thời tác động lên hệ thần kinhlàm cho con vật bị tê liệt (Nguyễn Đức Hội, 1997)
H2S trong thuỷ vực đợc tạo thành do hoạt động phân huỷ chất hữu cơ của
vi khuẩn trong điều kiên yếm khí và vi khuẩn lu huỳnh khử sulphate trong nớcnơI có nhiều sulphate Theo Svoboda (1993) trong môI trờng nớc ao nuôI th-
Trang 13ờng tồn tại Hyđrosulfide ở dạng: H2S (unionized),HS-(ionized sulphide), S2-.Trong đó, chỉ có H2S là gây độc Mức độ gây độc có liên quan tới nhiệt độ và
Cá Rô phi có nguồn gốc từ châu Phi, đợc con ngời đa vào nuôi từ năm
1924, song nghề nuôi cá Rô phi hiện đại thì mới đợc phát triển ở những nămgần đây, phong trào nuôi cá Rô phi mới mới bắt đầu dấy lên từ những năm
1990 và đầu những năm 2000 Sau cá Chép, cá Rô phi là loài đợc nuôi thảrộng rãi nhất, cho đến nay đã đợc nuôi ở hơn 140 nớc trên thế giới
Sản lợng cá Rô phi của thế giới không ngừng tăng lên trong những nămgần đây Sản lợng cá Rô phi của thế giới đã tăng lên gấp hai lần trong 10 năm
từ 1990 - 1999, từ 830.000 tấn (năm 1990) tăng lên 1,6 triệu tấn (năm 1999)(Helga, 2001) Trong đó sản lợng cá Rô phi nuôi tăng từ 400.000 tấn lên hơn
1 triệu tấn Đến năm 2002 sản lợng cá Rô phi trên thế giới đã đạt trên 2 triệutấn, dự tính đến năm 2010 tổng sản lợng cá Rô phi trên toàn thế giới đã đạttrên 2 triệu tấn, dự tính đến năm 2010 tổng sản lợng cá Rô phi trên toàn thếgiới có giá trị khoảng 4 tỷ USD (Fiorillo, 2003) Các nớc châu á đóng góp tới80% tổng sản lợng cá Rô phi nuôi trên thế giới (Helga, 2001) Trung Quốc, AiCập, Thái Lan, Philippin, Đài Loan, Indonesia là những nớc đang đứng đầuthế giới về sản lợng cá Rô phi nuôi (Pullin và Capili 1988), Capili 1995,Macintash và Little 1995, Guerero 1996) Trong tổng sản lợng cá Rô phi nuôi
của thế giới thì sản lợng cá Rô phi rằn (Oreochromis niloticus) chiếm tới
80%
Công nghệ nuôi cá Rô phi trên thế giới ngày càng đợc phát triển nhằmthu đợc năng suất cao và tạo ra sản lợng tập trung Các hệ thống nuôi thâmcanh bao gồm nuôi trong ao, trong hệ thống bể nớc chảy, trong lồng bè trênsông hồ Hệ thống nuôi cá Rô phi thâm canh trong ao xây đợc áp dụng rộngrãi ở nhiều nớc nh Đài Loan, Trung Quốc và Thái Lan Hệ thống nuôi này đãcho năng suất từ 10 - 15 tấn/ha/năm Nuôi cá Rô phi trong lồng bè là rất phổbiến ở các nớc nh Đài Loan, Indonesia, Philippin và Malaisia Năng suất cáRô phi nuôi lồng dao động từ 40 - 200 kg/m3 tùy thuộc vào kích thớc lồng và
Trang 14trình độ thâm canh Lồng có kích thớc nhỏ sẽ cho năng suất cao hơn lồng cókích thớc lớn do khả năng trao đổi nớc trong và ngoài lồng cao hơn Lồngnuôi cá Rô phi có kích thớc giới hạn từ 5 - 20m3 là phù hợp nhất.
Cá Rô phi nuôi thơng phẩm vừa phục vụ cho tiêu thụ nội địa, vừa cungcấp nguồn thực phẩm rẻ tiền giàu đạm động vật cho dân nghèo, vừa có thểxuất khẩu thu ngoại tệ Đến nay, cá Rô phi đứng thứ 10 trong số các loài cánuôi có giá trị cao trên thế giới Thị trờng tiêu thụ ngày càng đợc mở rộng,hàng năm sản lợng nhập khẩu cá Rô phi vào thị trờng Mỹ tăng khoảng 2%.Năm 2003, nhập khẩu cá Rô phi của Mỹ đạt khoảng 241,2 triệu USD tăng38% so với năm 2002 (Báo điện tử - Thời báo kinh tế Việt Nam, 2005) [10]
1.2.2 Tình hình sản xuất cá Rô phi trong nớc
Năm 1973, loài cá Rô phi rằn (O.niloticus) đã đợc nhập vào miền Nam
nớc ta từ Đài Loan, sau đó nó đợc phát tán nuôi trong cả nớc vào những năm
1970 - 1980 Tuy nhiên do sự tạp dao với các loài cá Rô phi đen
(Oreochromis mossambicus) trong các hệ thống nuôi, khiến cho chất lợng di
truyền của loài cá Rô phi rằn này bị thoái hóa, kéo theo số lợng cá Rô phi củanớc ta trong những năm cuối 1980 đầu 1990 bị giảm sút nghiêm trọng Để gópphần khôi phục và phát triển nghề nuôi cá Rô phi ở nớc, trong những năm
1994 - 1007, Viện nghiên cứu NTTS 1 (Viện 1) đã nhập nội và thuần hóa 3
dòng cá Rô phi rằn (Oreochromis niloticus) từ Philippinnes và Thái Lan.
Trong đó, dòng GIFT là dòng có sức sống cao nhất, nó đợc tiếp nhận và pháttriển ở nhiều nơi, đặc biệt là các tỉnh đồng bằng sông Hồng (Nguyễn CôngDân và ctv, 2000) [2, 3] Để ổn định và nâng cao phẩm chất giống của cá Rôphi dòng GIFT mới nhập,từ năm 1998 đến nay, Viện nghiên cứu NTTS 1 đãtiến hành chơng trình chọn giống dòng cá này nhằm tăng sức sinh trởng vàkhả năng chịu lạnh Sau 3 năm thực hiện, đến năm 2000 đã chọn đợc đàn cáRô phi có sức sinh trởng cao hơn 16% so với đàn cá Rô phi dòng GIFT thờng(Nguyễn Công Dân và ctv, 2001) Chơng trình chọn giống này đã đợc tiếnhành ở Viện nghiên cứu NTTS 1 với nguồn kinh phí của dự án NORAD '[2,3]
Từ năm 2000 đến nay, cá Rô phi dòng GIFT đã đợc công nhận là u việt vàphát tán nuôi trong cả nớc Trong năm 2002 - 2003, Viện 1 đã cung cấp 1,5triệu cá giống Rô phi dòng GIFT thế hệ chọn giống thứ 3, 4 cho 60 tỉnh thànhtrong cả nớc để nuôi thành cá bố mẹ, phục vụ cho việc sản xuất giống, cungcấp con giống cho ngời nuôi Cùng với chơng trình chọn giống, điều khiển