1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hình tượng tác giả trong thơ chữ hán cao bá quát

103 550 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hình tượng tác giả trong thơ chữ hán cao bá quát
Tác giả Lê Thị Vân
Người hướng dẫn ThS. Thạch Kim Hương
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 509,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và bao giờ những yếu tố này cũng sẽ là ngọn lửa làm “cháy lên” vẻ đẹp đích thực của văn chương nghệ thuật, đồng thời hình tượng tác giả sẽ được thể hiện một cách cụ thể vàsâu sắc hơn thô

Trang 1

===  ===

LÊ THị VÂN

HìNH TƯợNG TáC GIả

KHóA LUậN TốT NGHIệP đại học

CHUYÊN NGàNH VĂN HọC việt nam TRUNG ĐạI

VINH - 2010

Trang 2

===  ===

LÊ THị VÂN

HìNH TƯợNG TáC GIả

KHóA LUậN TốT NGHIệP đại học

CHUYÊN NGàNH VĂN HọC việt nam TRUNG ĐạI

Ngời hướng dẫn: ThS Thạch kim hơng

VINH - 2010

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU 1

PHẦN THỨ NHẤT: MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích yêu cầu của đề tài 2

3 Lịch sử vấn đề 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Cấu trúc luận văn 7

PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG 8

Chương 1 TÁC GIẢ VÀ HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ 8

1.1 Khái niệm tác giả văn học 8

1.2 Khái niệm hình tượng tác giả văn học 10

Chương 2 HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ QUA CÁI NHÌN NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI 14

2.1 Giới thuyết về cái nhìn nghệ thuật 14

2.2 Cái nhìn nghệ thuật về con người trong Thơ chữ Hán Cao Bá Quát .16

2.2.1 Cái nhìn nghệ thuật về con người vũ trụ 17

2.2.2 Cái nhìn nghệ thuật về con người nhân sinh - xã hội 22

Chương 3 HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ QUA GIỌNG ĐIỆU VÀ NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT 35

3.1 Giới thuyết về giọng điệu nghệ thuật 35

3.2 Giọng điệu nghệ thuật trong Thơ chữ Hán Cao Bá Quát 37

3.2.1 Giọng điệu cảm thương 37

3.2.2 Giọng điệu bi phẫn, chua cay 48

3.3 Ngôn ngữ nghệ thuật 56

3.3.1 Ngôn ngữ cũng là một phần biểu hiện của hình tượng tác giả 56

Trang 4

3.3.2 Những đặc điểm ngôn ngữ mang dấu ấn phong cách nhà thơ 56

Trang 5

4.1 Giới thuyết về sự tự thể hiện 65

4.2 Hình tượng con người tài cao, chí lớn 66

4.3 Hình tượng con người đầy uất hận, cô đơn 73

4.4 Hình tượng con người có tấm lòng yêu thương sâu nặng 76

4.5 Hình tượng con người phóng túng, vượt ra ngoài khuôn phép 85

4.6 Hình tượng con người có tinh thần phản kháng mạnh mẽ 91

PHẦN THỨ BA: KẾT LUẬN 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 96

Trang 6

Hình tượng tác giả trong Thơ chữ Hán Cao Bá Quát là một đề tài rất

thú vị, đòi hỏi người thực hiện phải có sự tạo dựng công phu Nhưng do thờigian hẹp và năng lực của bản thân nên khóa luận có những hạn chế nhất định.Chúng tôi mong được sự góp ý của các thầy cô giáo và những người có quantâm đến đề tài

Khóa luận này được hoàn thành nhờ sự giúp đỡ tận tình của cô giáo

ThS Thạch Kim Hương, các thầy cô trong tổ bộ môn Văn học Việt Nam

Lê Thị Vân

Trang 7

PHẦN THỨ NHẤT: MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Cao Bá Quát là một tài thơ trác Việt ở nửa đầu thế kỷ XIX, ông là

người có tài năng, khí phách lớn, là một nhà văn, nhà thơ mà tiếng nói đã

được truyền đi từ nhiều thế kỷ nay như câu tục ngữ “thần Siêu, thánh Quát” thành một câu thơ “văn như Siêu, Quát vô tiền Hán” Tên tuổi và cuộc đời thơ

văn Cao Bá Quát đã để lại vệt sáng trong tâm trí nhiều người cho đến bây giờ

Cao Bá Quát đã để lại cho nền văn học dân tộc một gia tài lớn và vô

cùng quý giá: “về thơ có 1353 bài và 21 bài văn xuôi” [11,10].

Đó là số lượng bài còn lại sau khi đã mất mát lớn, bởi vì ông đã khởinghĩa chống lại triều đình Vì vậy ít ai dám lưu trữ tác phẩm của ông Thếnhưng đã còn hàng trăm bài đủ biết đời vẫn yêu ông, quý ông Trong hàngngàn bài ấy hiện lên chân dung tính cách một nhà thơ vĩ đại Đó là một conngười có hoài bão lớn, một ý chí khác thường, một lòng ưu ái đối với vậnmệnh của Tổ quốc và nhân dân

1.2 Nhà phê bình Hoài Thanh từng nói: “Đọc thơ là đọc một con người,

nhất là con người thời đại” Mà đã đọc một con người nhất là con người thời

đại thì đương nhiên phải đọc từ tư tưởng, tâm hồn, tình cảm Và bao giờ những

yếu tố này cũng sẽ là ngọn lửa làm “cháy lên” vẻ đẹp đích thực của văn chương

nghệ thuật, đồng thời hình tượng tác giả sẽ được thể hiện một cách cụ thể vàsâu sắc hơn thông qua những tư tưởng, tâm hồn và tình cảm đó

Hôm nay đây, đứng trước tập Thơ chữ Hán của một tài năng, một khí

phách lớn và đức độ trong lịch sử văn học dân tộc - Cao Bá Quát, tôi chỉmong rằng khi đi vào tìm hiểu hình tượng tác giả bản thân tôi sẽ thỏa đượcphần nào lòng ngưỡng mộ, trân trọng, yêu quý một nhà thơ lớn của dân tộc.Đồng thời qua đó được dịp hiểu biết sâu hơn về lịch sử xã hội phong kiếnViệt Nam thời kì đó

Trang 8

Có lẽ vì lý do ấy mà tôi đã chọn Thơ chữ Hán Cao Bá Quát mặc dù tôi

biết như thế là vô cùng khó khăn đối với việc nghiên cứu của mình Bởi nói tớiCao Bá Quát không chỉ nói đến một nhà thơ tài hoa của nền văn học Trung đại

mà của cả nền văn học dân tộc Vị trí, tài năng và hầu như tất cả những gì thuộc

về Cao Bá Quát đã được các nhà nghiên cứu từ trước đến nay bàn luận, đánh giá

Tuy nhiên “văn chương muôn đời là không đáy” (chữ dùng của Xuân Diệu),

trong đó có nhiều điều tôi cho là dẫu có nói lại, nói mãi vẫn chưa hết, vẫn luôn là

mới, đó là vấn đề Hình tượng tác giả được thể hiện trong các sáng tác.

1.3 Nghiên cứu “Hình tượng tác giả trong Thơ chữ Hán Cao Bá

Quát”, trước hết là góp phần hiểu sâu hơn về một tài năng, phẩm chất, tính

cách tự do… Đồng thời còn cảm nhận được nét riêng đặc sắc toát lên từ hồnvăn, chất văn của ông Mặc dù vậy Cao Bá Quát vẫn còn là một ẩn số đối vớinhiều sinh viên Và có thể nói, đây là một cơ hội, một sự thử thách để chúngtôi tìm hiểu thêm về một tác giả mà tài năng của ông được xem như thầnthánh và đức độ của ông khiến người đời cảm thương, yêu mến

Nghiên cứu về “Hình tượng tác giả trong Thơ chữ Hán Cao Bá Quát”

chúng tôi không có tham vọng gì lớn mà chỉ mong được góp một tiếng nóinhỏ trong những tiếng nói lớn để hiểu thêm về sự nghiệp thơ văn cũng nhưcuộc đời con người Cao Bá Quát

2 Mục đích nghiên cứu

2.1 Khái quát những đặc điểm chủ yếu của Hình tượng tác giả trong

Thơ chữ Hán Cao Bá Quát.

2.2 Bước đầu chỉ ra những đặc điểm phổ biến và đặc điểm riêng biệt

của hình tượng tác giả văn chương nhà Nho

2.3 Việc giải quyết những yêu cầu của đề tài góp phần khẳng định một

lần nữa giá trị, vị trí thơ văn Cao Bá Quát trong tiến trình văn học Trung đạinói riêng và văn học dân tộc nói chung Thơ văn Cao Bá Quát vút lên từ số

Trang 9

phận không phải số phận của chỉ một cá nhân mà còn là của cả một dân tộc,đồng thời thơ ông như một vầng hồng chính khí bao trùm lên thi đàn, cái thiđàn bị trói buộc gò bó bởi một triều đại chuyên chế và u ám Đồng thời sẽ tạođiều kiện thuận lợi cho chúng ta thực hiện tốt công tác giảng dạy những bài

Thơ chữ Hán Cao Bá Quát trong chương trình học THCS, THPT sau này.

3 Lịch sử vấn đề

M.Gorki đã từng phát biểu rằng: “Người tạo nên tác phẩm là nhà văn

và người tạo nên số phận của tác phẩm là bạn đọc” Quả như vậy, từ muôn

đời nay vẫn thế, cứ có tác phẩm văn chương là có người đọc, người thẩmbình Và cùng với thời gian độc giả chính là người trọng tài công minh, vô tư,nghiêm khắc nhất trong việc phán xét giá trị tác phẩm văn học

Nhìn vào tiến trình lịch sử nghiên cứu Thơ chữ Hán Cao Bá Quát chúng

ta thấy một điều nổi bật là các ý kiến ở đây không phải không có những ý kiếnbất đồng thậm trí trái ngược nhau Tuy nhiên theo dòng chảy của thời gian xéttrong phạm vi đa số những người thực sự sống với văn chương, thật sự trân

trọng di sản dân tộc, thật sự hiểu Cao Bá Quát, hiểu Thơ chữ Hán thì ở thời kì nào những người đến với tập Thơ chữ Hán Cao Bá Quát cũng thấy hình ảnh

tác giả là một nhân cách hiên ngang, bất khuất, một nhà thơ mà cái tên đã ghisâu vào lòng người Việt Nam như một biểu tượng của sức mạnh tự do

Từ trước đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về con người, cuộcđời cũng như sự nghiệp thơ văn của ông Tuy nhiên, nghiên cứu Cao Bá Quáthiện nay còn vấp phải một khó khăn lớn đó là tác phẩm mất mát nhiều, không

những thế ngày tháng ra đời của các bài thơ, các tập Thơ chữ Hán chưa xác

định cụ thể, thậm chí không biết được sáng tác vào thời gian nào cũng làm rốiloạn việc nhận định tư tưởng của tác giả cũng như mối liên hệ sự nghiệp thơvăn với cuộc đời của Cao Bá Quát Vì thế khó có thể nhận định một cách toàndiện, tránh khỏi sự thiên lệch về hình tượng tác giả

Trang 10

3.1 Dưới đây chúng tôi chỉ điểm qua một cách hết sức sơ lược vài nét

trong hướng tiếp cận Thơ chữ Hán Cao Bá Quát.

3.1.1 Trong cuốn Thơ chữ Hán Cao Bá Quát do nhóm tuyển dịch Vũ

Khiêu, Nguyễn Văn Tú, Nguyễn Trác, Hoàng Hữu Yên, Hoàng Tạo (1976):

Nxb Văn học, HN Đây là quyển sách tuyển tập những bài Thơ chữ Hán Cao

Bá Quát đầy đủ nhất từ trước tới nay, với lời giới thiệu hơn 40 trang, các tác

giả đã đi sâu thêm vào những khía cạnh phong phú của con người và thơ văn

Cao Bá Quát Tác giả đã nhận định: “Tuổi trẻ của Cao là những ngày trong

sáng và rực rỡ của một tài năng lỗi lạc, một tâm hồn rộng lớn, một ước mơ cao xa” [11, 9] Tác giả cũng đã nói tới tấm lòng yêu thương, cảm thông, chia

sẻ và quan tâm của Cao Bá Quát tới những số phận bất hạnh, những người

sống thiếu thốn, đói rét, những người đi ở, đi ăn xin: “Trong thời gian nhàn

rỗi, ông càng có dịp tiếp xúc với đời sống nhân dân Những cảnh túng thiếu, đói rét, phải đi ăn xin, bị bắt phu, bắt lính đã khiến ông đau xót, ngày đêm nung nấu trong lòng ông những điều suy nghĩ vô cùng day dứt Làm sao cứu nước cứu dân” [11, 26], đồng thời nói đến giọng điệu được thể hiện trong Thơ chữ Hán Cao Bá Quát tác giả nhận định: “Thơ ông toát ra một giọng buồn bực, nhớ bạn, thương thân” [11, 26].

3.1.2 Trong cuốn VHVN nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX của

Nguyễn Lộc (1999), Nxb Giáo dục, tái bản lần thứ III, cũng đã trình bàynhững nghiên cứu về cuộc đời và thơ văn Cao Bá Quát, trong chương XI Nói

về thơ văn Cao Bá Quát, Nguyễn Lộc chia thành 4 nội dung lớn đó là: “Cao

Bá Quát, một nhà thơ bản lĩnh”, “Cao Bá Quát và chế độ phong kiến triều Nguyễn”, “Cao Bá Quát một tâm hồn giàu cảm thông, yêu mến”, “nghệ thuật thơ của Cao Bá Quát” Tuy nhiên ta thấy, Nguyễn Lộc mới chỉ nhìn nhận thơ

văn Cao Bá Quát với một cái nhìn khái quát chung chung mà chưa tập trung

đi sâu vào vấn đề Hình tượng tác giả.

Trang 11

3.1.3 Trong cuốn viết chung về hai tác giả Cao Bá Quát - Nguyễn

Công Trứ do PTS Hồ Sĩ Hiệp - Lâm Quế Phong cùng một số giáo viên

chuyên văn sưu tập và biên soạn, Nxb Văn Nghệ, Tp.Hồ Chí Minh phát hànhnăm 1997 đã nêu lên những nét chính về tiểu sử cũng như văn nghiệp của Cao

Bá Quát Đồng thời trong cuốn sách này cũng trích dẫn 2 bài nghiên cứu và

bình luận về Cao Bá Quát đó là “Thơ Cao Bá Quát là chí khí và tâm huyết” của Xuân Diệu và “Một nhân cách cứng cỏi, một tâm hồn thắm thiết” của Lê

Trí Viễn

3.1.4 Trong cuốn Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII- nửa đầu

thế kỷ XIX (sách Đại học Sư phạm) của tác giả Đặng Thanh Lê, Hoàng Hữu

Yên, Phạm Luận đã chia nội dung thơ văn Cao Bá Quát thành hai vấn đề

mang tính khái quát đó là: “Cái nhìn hiện thực sắc sảo, tiến bộ”, và “Tâm hồn

cao đẹp, trong sáng, tình cảm chứa chan, nồng hậu đối với cuộc đời và con người” Khi đề cập đến hai vấn đề này các tác giả cũng có sơ qua một số nét

chính về thơ trữ tình của Cao Bá Quát đó là giàu lòng ưu ái, tác giả nhận định:

“Trong thơ ông, rất nhiều hạng người bất hạnh hiện lên đầy đau khổ, rất

đáng thương, nhà thơ bao giờ cũng dành cho họ một lời an ủi, một niềm cảm thông” [13, 249].

3.1.5 Có thể kể thêm một số công trình khác nữa đó là cuốn Nguyễn

Công Trứ, Cao Bá Quát, Cao Bá Nhạ do Vũ Tiến Quỳnh đã tập hợp, tuyển

chọn, trích dẫn một số bài phê bình, bình luận văn học của các nhà nghiên cứuViệt Nam nhằm mục đích nâng cao kiến thức đã khai thác một số nét về cuộcđời và thơ văn Cao Bá Quát Nhưng có thể nói những công trình nghiên cứunày, tựu chung lại chỉ nhằm mục đích nâng cao tri thức cũng như sự hiểu biếtcho học sinh phổ thông mà thôi Vì thế mà không có điều kiện để tập trung đi

sâu vào tìm hiểu Hình tượng tác giả được thể hiện trong tác phẩm bằng chữ

Hán của ông

Trang 12

3.1.6 Trong bài viết Tìm hiểu nhân sinh quan tích cực trong thơ văn

Cao Bá Quát của Nguyễn Huệ Chi (Nghiên cứu văn học, số 6 - 1961).

Nguyễn Huệ Chi cũng đã đề cập đến cái nhìn của Cao Bá Quát về cuộc đời về

con người: “Ông có cái nhìn nảy lửa đối với thống trị, nhưng lại có cái nhìn

tràn đầy yêu mến đối với nhân dân, có con mắt nhìn rất sâu vào từng khía cạnh của cuộc sống muôn vẻ nhưng Cao Bá Quát lại cũng biết nhìn khái quát

về tình trạng bi phẫn nói chung của hiện thực đương thời Cái nhìn của ông nhất trí từ đầu đến cuối, một cái nhìn nồng thắm mà cũng khá nhạy bén.”

3.2 Trên đây là một số công trình nghiên cứu có liên quan tới đề tài

Hình tượng tác giả trong Thơ chữ Hán Cao Bá Quát Tuy vậy, phải thấy một

điều rằng các công trình nghiên cứu, các tác phẩm, các bài viết đều chỉ đề cậpđến vấn đề này như là một luận điểm, một ý hay, một khía cạnh nhỏ trong bàicủa mình chứ chưa xem nó như một hệ thống, một chỉnh thể quan trọng

3.3 Từ những ý kiến, gợi ý trên khóa luận của chúng tôi sẽ đi vào

khẳng định, trình bày một cách trực tiếp, hệ thống về “Hình tượng tác giả

trong Thơ chữ Hán Cao Bá Quát”, tuy nhiên chúng tôi không có tham vọng

nói được tất cả mà chỉ muốn bày tỏ các kiến giải của bản thân về một vấn đềchúng tôi cho là có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mọi người khi tiếp cận

Thơ chữ Hán Cao Bá Quát.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đi sâu vào nghiên cứu một vấn đề, một đề tài nào đó việc đầu tiên làphải xác định cho được đối tượng cụ thể mà mình cần hướng tới, cần đi sâu

vào tìm hiểu Để giải quyết đề tài Hình tượng tác giả trong Thơ chữ Hán

Cao Bá Quát chúng tôi tiến hành xem xét toàn bộ Thơ chữ Hán Cao Bá Quát

của nhóm tác giả Vũ Khiêu, Nguyễn Văn Tú, Nguyễn Trác, Hoàng Hữu Yên,Hoàng Tạo (1976), Nxb Văn học, HN

Trang 13

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu về “Hình tượng tác giả trong Thơ chữ Hán Cao Bá Quát”

tìm hiểu các yếu tố về cuộc đời, cái nhìn nghệ thuật về con người, giọng điệucũng như sự tự thể hiện của tác giả được thể hiện trong thơ góp phần soi sángthêm thế giới hình tượng tác giả

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong khóa luận này chúng tôi vận dụng một số phương pháp như:Thống kê - phân loại, phương pháp phân tích - tổng hợp - bình luận, phươngpháp so sánh Ở đây chúng tôi sử dụng phương pháp phân tích - tổng hợp -bình luận- so sánh làm phương pháp nghiên cứu

6 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận khóa luận gồm 4 chương:

Chương 1 Tác giả và hình tượng tác giả

Chương 2 Hình tượng tác giả qua cái nhìn nghệ thuật về con người Chương 3 Hình tượng tác giả qua giọng điệu và ngôn ngữ nghệ thuật Chương 4 Hình tượng tác giả qua sự tự thể hiện

Trang 14

PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG

Chương 1TÁC GIẢ VÀ HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ

1.1 Tác giả văn học

Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Tác giả văn học nhìn bề ngoài đó là

những người làm ra văn bản ngôn từ: bài thơ, bài văn, bài báo, tác phẩm vănhọc Về thực chất tác giả văn học là người làm ra cái mới, người sáng tạo racác giá trị văn học mới Sự bắt chước mô phỏng theo đuổi, thời thượng hoặcsáng tác không có bản sắc, không làm nên tác giả văn học đích thực” [8,289]

Mặt khác, tác giả văn học còn “là người phát biểu một tư tưởng mới,quan niệm mới, một cách hiểu mới về các hiện tượng đời sống, bày tỏ một lậptrường xã hội và công dân nhất định Xét về đặc trưng, tác giả văn học làngười xây dựng thành công các hiện tượng nghệ thuật độc đáo, sống động cókhả năng tồn tại được trong sự cảm thụ thích thú của người đọc Về mặt nghềnghiệp tác giả văn học là người xây dựng được một ngôn ngữ nghệ thuật mới,

có phong cách, giọng điệu riêng, có bộ mặt riêng trong thể loại, có hệ thốnghình ảnh biểu tượng đặc trưng riêng” [8, 289]

Tác giả văn học còn được đánh dấu bằng ngày sinh, tháng đẻ, quêquán, những chặng đường đời Chẳng hạn nói đến năm sinh 1778 mất 1859người làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh là ta nghĩ đến NguyễnCông Trứ

Còn tác giả Cao Bá Quát tự là Chu Thần, hiệu là Cúc Đường, ngườilàng Phú Thị, huyện Gia Lâm tỉnh Bắc Ninh Cao Bá Quát sinh năm nàokhông thấy ghi rõ, ông sinh trưởng trong một gia đình nhà Nho Họ Cao vốn

là một dòng họ lớn ở Phú Thị…

Trang 15

Tác giả văn học là người có được bản sắc riêng trong vô vàn mối ảnhhưởng Chỉ những người có nhân cách, tài năng và có ý thức rõ rệt về nghề thìmới có thể trở thành tác giả của các sáng tác bất hủ Tác giả văn học có tầm

cỡ khác nhau trong lịch sử văn học Những tác giả văn học mà sáng tác mở ramột thời đại văn học, có tác dụng làm khuôn thước, có ảnh hưởng lớn đối vớinhân loại thì gọi là văn hào, thi hào, nhà văn vĩ đại…

Những tác giả văn học có ảnh hưởng lớn trong văn học dân tộc hoặctừng giai đoạn văn học dân tộc là nhà văn lớn

Như vậy, tác giả văn học chính là một con người có thực trong cuộcđời, là con người có tài năng văn học, có tiểu sử, có ước mơ, có phong cách

cá tính riêng độc đáo Để có thể viết nên được một tác phẩm họ cũng phải laotâm khổ tứ, trăn trở trước cuộc đời Tác phẩm không chỉ là tiếng nói của riêng

họ mà còn là tiếng nói chung của thời đại, là tư tưởng tiên phong của thời đại

Tuy nhiên, phạm trù “tác giả văn học” có thực sự tồn tại trong thế giới

nghệ thuật do họ tạo ra, có hiện diện trong sự thụ cảm của người đọc haykhông? Đây là vấn đề không ít rắc rối đối với lý luận văn học hiện đại Đãtừng có hai khuynh hướng hoặc tuyệt đối hóa vai trò của tác giả văn học màphủ định tất cả các yếu tố khác Hoặc phủ định vai trò của tác giả, chỉ thấy tác

phẩm không cần biết tác giả là ai bởi tác giả sẽ “biến mất” hay “tự hủy hoại

mình trong sáng tác” (Hai đơgơ).

Thực ra phạm trù tác giả là không thể thay thế trên tiến trình văn học:

“Những tác giả lớn bao giờ cũng trở thành “một đơn vị”, “một điểm tính” một

thành tố cơ bản quan trọng tạo nên diện mạo, đặc sắc của một quá trình vănhọc Dễ nhận thấy trong đối tượng nghiên cứu của lịch sử văn học (Bao gồmnhiều loại hiện tượng: tác giả, tác phẩm, thể loại, trào lưu, hệ thống thi pháp,một thời kỳ văn học…) phạm trù tác giả vẫn là phạm trù hạt nhân đóng vai tròtrung tâm tổ chức và thống nhất các mối quan hệ văn học” [6, 81] Hiện nay,nhiều nhà nghiên cứu đều nhận thấy phạm trù tác giả đóng vai trò quan trọng

Trang 16

hàng đầu, như một tiêu chí, một “hằng số” tin cậy nhất trong xác định tiến

trình văn học

Nói tóm lại, tác giả văn học là người sáng tạo ra các giá trị văn học, họphải là những người được tôn trọng, động viên, cổ vũ để tiếp tục cống hiến,sáng tạo nhiều tác phẩm cho đời

1.2 Hình tượng tác giả

“Tác giả” và “tác phẩm” là những khái niệm cơ bản được sử dụng

nhiều nhất trong lịch sử văn học và phê bình văn học

Theo Trần Đình Sử: Hình tượng tác giả là một hình tượng của văn hóanghệ thuật, là sản phẩm sáng tạo của một thời Nó tồn tại và phát triển trên cơ

sở tác giả cụ thể [19]

Chức năng của nghệ sĩ như một hình tượng tác giả là tạo nên cái nhìnnghệ thuật và tạo ra hình thức nghệ thuật: Với tư cách là tác giả, nghệ sĩ, cómột quan hệ nhất định với thế giới vật liệu đời sống, sẽ tạo thành thế giớinghệ thuật của anh ta, có thái độ nhất định đối với ngôn ngữ mà anh ta sửdụng, đối với truyền thống nghệ thuật quá khứ, đối với sáng tạo của tác giảkhác, đối với bạn đọc phê bình Nghệ sĩ cũng có thái độ nhất định đối vớinhân vật của mình và các đặc điểm tài năng của chính mình Tổng hợp cả cácđặc điểm loại hình trong các quan hệ và thái độ đó sẽ tạo thành một kiểu tácgiả nhất định trong lịch sử văn học, thuộc một loại hình nhất định

Đinh Trọng Lạc cho rằng: Hình tượng tác giả diễn đạt 2 khái niệm gắn

bó với nhau Thứ nhất, đó là người sáng tạo ra thế giới nghệ thuật của tácphẩm, người đại diện cho những quan niệm tư tưởng nghệ thuật nhất địnhđược thể hiện ra trong tác phẩm Nhà văn ý thức, cảm nhận như thế nào vềcuộc đời về hiện thực đang diễn ra và thái độ trước hiện thực đó Thứ hai, làcấu trúc lời nói ngôn từ vốn là trung tâm hình thức tác phẩm Nhà văn ý thức

về cuộc đời như thế nào và thể hiện ý thức đó bằng một giọng điệu như thếnào, hệ thống ngôn từ được dùng như thế nào?

Trang 17

Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Hình tượng tác giả là phạm trù thể

hiện cách tự ý thức của tác giả về vai trò xã hội và vai trò của mình trong tác

phẩm (…) cơ sở tâm lí của hình tượng tác giả là hình tượng “cái tôi” trong

nhân cách mỗi người thể hiện trong giao tiếp Cơ sở nghệ thuật của hìnhtượng tác giả trong văn học là tính chất gián tiếp của văn bản nghệ thuật: vănbản của tác phẩm bao giờ cũng là lời của người trần thuật, người kể chuyệnhoặc nhân vật trữ tình Nhà văn xây dựng một văn bản ấy với một giọng điệunhất định” [8, 149]

Như vậy, định nghĩa về Hình tượng tác giả đã bám sát vào vấn đề cái

Tôi, cái Tôi trong nhân cách cũng như cái Tôi trong nghệ thuật Cái Tôi trongnhân cách của tác giả góp phần vào khả năng, năng lực tự ý thức, tự đánh giávai trò của cá nhân trong cuộc sống Cái Tôi do đó là cấu trúc phần tự giác, tự

ý thức của nhân cách, có thể coi đó là trung tâm tinh thần, là cơ sở hình thànhnhững tình cảm xã hội của con người và xác định mặt cá tính của nhân cách.Cái Tôi với sự tự ý thức về chủ thể, về các vấn đề đời sống cá nhân với tưcách là một cá tính là điều không thể thiếu trong tác phẩm trữ tình Nói cáchkhác sẽ không có tác phẩm trữ tình nếu thiếu đi sự ý thức về chủ thể của cáiTôi nghệ thuật Như vậy sự tự ý thức của tác giả trong tác phẩm chính là hạtnhân của hình tượng tác giả Nhưng vấn đề là ở chỗ cái Tôi nghệ thuật làtrung tâm của tất cả các vấn đề thuộc về tác phẩm cũng như loại hình tácphẩm và loại hình tác giả Cho nên sự tự ý thức của tác giả trong tác phẩmnghệ thuật về vai trò xã hội và vai trò văn học là một điểm quan trọng nhưngchưa đặc trưng Cái đặc trưng của hình tượng tác giả thiết nghĩ chính là ở chỗtác giả tự biến mình thành một hình tượng nghệ thuật, nghĩa là tác giả hiệnhình trong tác phẩm như một nhân vật có tư tưởng, quan điểm nghệ thuật, cógiá trị thẩm mĩ riêng

So với các quan niệm của tác giả trên, Trần Đình Sử là người có đónggóp quan trọng trọng việc làm rõ khái niệm hình tượng tác giả một cách rõ

Trang 18

nét Theo Trần Đình Sử: Hình tượng tác giả cũng giống như hình tượng nhânvật- đều là những sáng tạo nghệ thuật trong tác phẩm văn học, song chúngkhác ở nguyên tắc sáng tạo Nếu hình tượng nhân vật được sáng tạo theonguyên tắc hư cấu, được miêu tả theo tính cách nhân vật thì hình tượng tác giảđược biểu hiện theo nguyên tắc tự biểu hiện sự cảm nhận và thái độ thẩm mĩđối với thế giới nhân vật Các nhà văn thường tự biểu hiện mình như ngườiphát hiện, người khám phá cái mới, người có nhãn quan cấp tiến, có cá tínhnghệ sĩ… điều đó trở thành yêu cầu quy ước đối với người đọc.

Từ nguyên tắc sáng tạo đặc trưng đã nêu, ta nhận thấy hình tượng tácgiả là cái được biểu hiện ra trong tác phẩm một cách đặc biệt Nhà thơ Đức

I W.Gơt nhận xét: “Mỗi nhà văn, bất kể muốn hay không đều miêu tả chínhmình một cách đặc biệt Có nghĩa là nhà văn biểu hiện cảm nhận của mình

về thế giới, cách suy nghĩ, diễn đạt của mình Cảm nhận đó trở thành trungtâm tổ chức tác phẩm và sự thống nhất của tác phẩm về mặt phong cách

độ tác phẩm: từ cách quan sát, cách suy nghĩ các quan niệm trong lập trườngđời sống đến giọng điệu lời văn, trong giọng điệu thì không chỉ giọng điệungười trần thuật mà cả giọng điệu nhân vật Có người tập trung thể hiện tácgiả vào mấy điểm: cái nhìn nghệ thuật của tác giả, sự bao quát không gian,thời gian, cấu trúc cốt truyện, nhân vật và giọng điệu Theo một cách nhìn

Trang 19

hợp lí thì hình tượng tác giả biểu hiện ở các yếu tố: “Cái nhìn riêng độc đáo,nhất quán, có ý nghĩa tư tưởng, đạo đức, thị hiếu, giọng điệu nhà văn gồm cả

giọng điệu nhân vật và ở sự miêu tả hình dung của tác giả về chính mình” [20,

Trang 20

Chương 2HÌNH TƯỢNG TÁC GIẢ QUA CÁI NHÌN NGHỆ THUẬT

VỀ CON NGƯỜI

2.1 Giới thuyết về cái nhìn nghệ thuật

Văn học nghệ thuật là một hình thái hoạt động tư tưởng Trong khiphản ánh, nghệ thuật thể hiện cái nhìn chủ quan của mình đối với các hiệntượng và từ đó bộc lộ ý nghĩa đời sống Để hiểu nội dung cuộc sống trong tácphẩm tất yếu phải khám phá cái nhìn nghệ thuật, cách tư duy, cách cảm nhậncủa chính nhà văn, nhà thơ

Một nhà văn, nhà thơ lớn bao giờ cũng có một quan niệm nghệ thuật,một cái nhìn riêng về cuộc đời, về con người Thực sự họ không thể thiếu mộtcách đánh giá những gì đang diễn ra xung quanh, một lý tưởng thẩm mỹ sáng

rõ và một khát vọng vươn tới lý tưởng ấy

Vượt lên mọi hoạt động bản năng, cái nhìn là một năng lực tinh thầnđặc biệt của con người Nó có thể thâm nhập vào sự vật, phát hiện những nétriêng mà vẫn ở ngoài sự vật, bảo lưu sự toàn vẹn thẩm mĩ của sự vật Nó nhìnngắm bóc tách vấn đề bằng chính sự suy luận logic và trừu tượng Do đó cáinhìn được vận dụng muôn vẻ trong nghệ thuật Nghệ thuật đòi hỏi người nghệ

sĩ phải có khả năng lĩnh hội những quá trình của cuộc sống một cách nhạy bénhơn và sâu sắc hơn đối với những ấn tượng của cuộc sống, phải thâm nhập,thấm qua những giới hạn bên ngoài của sự vật mà cho đến thời điểm đó chưa

ai biết tới Cái nhìn bao quát của người nghệ sĩ đối với tác giả vốn được hìnhthành trong quá trình thực tế của cuộc sống, trong những điều kiện xã hội -lịch sử cụ thể đã làm cho những khái niệm về những điều quan sát của anh ta

có được tính chính xác, tính hệ thống

Trang 21

M.khrapchenco nhận xét: “Chân lí cuộc sống trong sáng tác nghệ thuậtkhông tồn tại bên ngoài cái nhìn nghệ thuật có tính cá nhân đối với thế giới

vốn có ở từng nghệ sĩ thực thụ” [15, 109].

Nghệ sĩ sáng tạo ra tác phẩm là để nhận thức và cắt nghĩa đời sống,thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình, giúp con người thể nghiệm ý vị củacuộc đời, lĩnh hội mọi mối quan hệ có ý nghĩa muôn màu, muôn vẻ của bảnthân và thế giới xung quanh Do vậy, cái nhìn là một biểu hiện của tác giả.Nhà văn Pháp MacxenPrutxt có nói: “Đối với nhà văn cũng như nhà họa sĩ,phong cách không phải là vấn đề kỹ thuật mà là vấn đề cái nhìn Đó là sựkhám phá mà người ta không thể làm một cách cố ý và trực tiếp bởi đó làmột cách nhìn khám phá về chất, chỉ có được trong cảm nhận về thế giới,một cách cảm nhận nếu không do nghệ thuật mang lại thì mãi mãi không aibiết đến” [18, 52]

Do vậy, cái nhìn là một biểu hiện cái đẹp, cái xấu, cái bi, cái hài… cáinhìn bao quát không gian bắt đầu từ điểm nhìn trong không gian và thời gian

và không bị không gian, thời gian chi phối Cái nhìn xuất phát từ một cá thểmang thị hiếu và tình cảm yêu, ghét Cái nhìn gắn với liên tưởng, tưởngtượng, cảm giác nội tâm, biểu hiện trong ví von, ẩn dụ, so sánh…Cái nhìn thểhiện ở chi tiết nghệ thuật Bởi chi tiết là điểm rơi của cái nhìn, chi tiết nghệthuật hướng đến cách tiếp cận cuộc sống của độc giả, khi chúng ta nhìn ra nhàvăn này nhìn cuộc sống ở mặt này, nhà văn kia nhìn cuộc sống ở mặt kia, tức

là ta nhìn ra chân dung của từng tác giả

Mỗi nhà văn có một cái nhìn riêng, độc đáo về con người và thế giới.Dưới những cái nhìn nghệ thuật độc đáo ấy các nghệ sĩ đã phát hiện bao nhiêuđiều mới mẻ về sự đa dạng, phong phú của đời sống và của hiện thực thời đạimình đang sống

Nhìn chung, cái nhìn có thể xét ở hai phương diện: Một là điểm nhìn của người trần thuật, hai là cách nhìn thể hiện trong khách thể Thực ra, cái

Trang 22

nhìn thường thể hiện trong chi tiết nghệ thuật Đồng thời, thực tế cũng cho tathấy cái nhìn là linh hồn, là hạt nhân của tác phẩm, là kết tinh của những cảmnhận, suy nghĩ về cuộc đời Cái nhìn thấm nhuần trong tác phẩm như máuchảy trong huyết quản, thấm đến từng tế bào của cơ thể Cái nhìn của tácphẩm có thể được thể hiện qua những lời thuyết minh trực tiếp của tác giả,của nhân vật chính diện, nhưng chủ yếu bộc lộ qua logic miêu tả của nhà văn,hòa thấm khắp chi tiết của thế giới hình tượng sống động trong nội dung cụthể của tác phẩm.

Như vậy, cái nhìn nghệ thuật chịu sự quy định của thế giới quan, vốnsống và tài năng nhà văn Tác phẩm văn học chân chính bao giờ cũng là nơikhẳng định những cái nhìn sâu sắc, mới mẻ về cuộc sống qua sức mạnhtruyền cảm của nghệ thuật Như bất kì một người nghệ sĩ nào khác, Cao BáQuát cũng đã thể hiện trong sáng tác của mình cái nhìn về cuộc sống và conngười Cái nhìn nghệ thuật của Cao Bá Quát được toát lên ở hệ thống hìnhtượng mà nhà thơ miêu tả ở lý tưởng mà nhà thơ hướng đến, ở khát vọng mànhà thơ bày tỏ

2.2 Cái nhìn nghệ thuật về con người của Cao Bá Quát

Con người là đối tượng trung tâm của văn học Dù miêu tả cuộc sốngdưới góc độ nào thì người ta đều thấy ẩn hiện trong đó quan niệm về conngười của người nghệ sĩ Nghệ sĩ không thể miêu tả về con người nếu nhưkhông hiểu biết, cảm nhận và có các phương tiện, biện pháp nhất định.Quan niệm nghệ thuật về con người hướng ta khám phá cách cảm thụ và biểuhiện chủ quan sáng tạo của chủ thể

Quan niệm nghệ thuật về con người biểu hiện trong toàn bộ cấu trúccủa tác phẩm văn học Trong thơ trữ tình nó thể hiện ở đối tượng trữ tình,nhân vật trữ tình mà tác giả đề cập đến Nhân vật văn học nào cũng biểu hiệncách hiểu của nhà văn về con người theo một quan niệm nhất định Nó chính

là mô hình về con người bao quát hơn, rộng lớn hơn khái niệm nhân vật

Trang 23

Quan niệm nghệ thuât về con người là nguyên tắc cảm thấy, hiểu vàmiêu tả con người trong văn học Nó cũng là sản phẩm của văn hoá, tư tưởng

và là hình thức đặc thù nhất cho sự phản ánh nghệ thuật, trong đó thể hiện sựtác động qua lại của nghệ thuật đối với các hình thái ý thức xã hội khác Quanniệm con người chính là sự khám phá về con người Tất nhiên trong dấu ấnsáng tạo của cá tính nghệ sĩ gắn liền với cái nhìn nghệ sĩ

Mỗi loại hình tác giả sẽ mang một hệ thống quan niệm riêng về conngười Có những tác giả chỉ gói gọn quan điểm tư tưởng của mình trong mộtloại hình nhất định, còn có những tác giả lại mang sự pha trộn của rất nhiều

hệ tư tưởng khác nhau Với loại thứ nhất ta có thể dễ dàng khám phá hệ thốngquan điểm của họ với đặc điểm thuần nhất của nó Với loại tác giả thứ hai vấn

đề sẽ trở nên không đơn giản nữa và bản thân hệ thống các quan niệm của họcũng đã mang một sự độc đáo, một sắc thái riêng khác lạ

Trong cái nhìn nghệ thuật về con người, Cao Bá Quát không khỏi tìmthấy được trong đó tầm vóc vũ trụ của không gian để trong đó con người cánhân được vùng vẫy Vòng thời gian dẫu là tuyến tính hay chu kì đều lànhững giới hạn cho cuộc đời Nhìn chung trong lăng kính phản ánh của Cao

Bá Quát ta thấy những nét chung của cách cảm quan trong văn học Trung đại,đồng thời tìm thấy trong nó những nét đặc trưng không thể pha lẫn của mộtphong cách cá nhân tác giả

2.2.1 Con người trong cái nhìn của Cao Bá Quát xuất hiện những dạng

thái khác nhau Trước hết đó là dạng thái con người vũ trụ- mô hình con người này trong Thơ chữ Hán Cao Bá Quát tuy không phải là sản phẩm của

xã hội xây dựng trên nền tảng các quan hệ phong kiến, nhưng vẫn chịu ảnh

hưởng của “mô hình vũ trụ thiên - địa - nhân hoặc quan niệm thiên nhân

Trang 24

Cao Bá Quát thường đặt mình giữa khung cảnh thiên nhiên hùng vĩcủa núi cao, sông dài, biển rộng để thể hiện tầm vóc ngang tầm vũ trụ củamình Cao Bá Quát thường chọn những khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ, tươiđẹp để bộc lộ chí khí và xem đó là cách giải phóng mình ra khỏi cái lồng xãhội chật hẹp.

Đến núi Dục Thúy trước cảnh non nước kì tuyệt, lòng ông dạt dào khátvọng vươn cao, vươn xa:

Thiên địa hữu tư sơn Vạn cổ hữu tư tự Phong cảnh dĩ kì tuyệt Nhi ngã diệc lại thử Ngã dục đăng cao sầu

Hạ ca ký vân thủy Hữu ước nãi vy tư Phàm sự đại đô nhĩ

(Trời đất có núi nàyMuôn thuở có chùa nàyPhong cảnh đã kì tuyệt

Mà lại thêm có ta đến đây

Ta muốn trèo lên đỉnh núi cao ngất kiaHét vang lên để gửi tấm lòng vào mây nướcƯớc ao thế mà không được như nguyện, Đại phàm mọi việc đều thế cả)

(Quá Dục Thúy sơn)

Tâm hồn ông lúc nào cũng mở rộng và như muốn bao trùm lấy đất nước:

Hải thượng bạch ba như bạch đầu

Nộ phong hám phá vạn hộc châu

…Hải khí quyển sơn, sơn như chỉ

Trang 25

Sơn Bắc, sơn Nam, thiên vạn lý

(Mặt biển sóng trắng đầu bạcGió giật xô vỡ chiếc thuyền lớn hàng muôn hộc

…Hơi biển quyện vào núi, núi trông như ngón tayPhía Bắc núi, phía Nam núi muôn ngàn dặm núi)

(Hoành sơn vọng hải ca)

Một ngày đẹp trời cùng bạn lênh đênh trên sóng biển bao la lòng ôngnảy sinh khát khao cháy bỏng được đề thơ lên khắp núi non ở phía chân trời

xa tít, nơi đất trời mênh mông rộng lớn:

Đảo Rùa, đảo Nanh Rồng thấp thoáng ở vùng xa tắp Gió bắc đưa thuyền qua muôn trùng bể

Có cuộc hoan du mới biết cá lớn nghìn dặm

…Dưới bóng cánh buồm mát dịu, ngâm nga thong thả

Ai thử đem những câu kinh người như của chàng Tiểu Tạ

Đề lên khắp các núi ở khắp chân trời kia

(Ngày 22 được mưa thuận gió, viết đùa đưa các bạn cùng thuyền)

Tắm ở khe Bàn Thạch, ông cảm thấy:

Cả non sông không đầy một vốc tay

Một buổi sáng qua sông Hương, niềm cảm khái trong Cao Bá Quát hóathành những vần thơ hào hùng:

Muôn dãy núi như chạy vòng quanh khu ruộng xanh mướt Sông dài như lưỡi gươm dựng giữa trời xanh

(Buổi sáng qua sông Hương)

Hình ảnh dòng sông như lưỡi gươm dựng giữa trời đất là hình ảnh giàuchất biểu tượng Theo Vũ Khiêu: “Đây là gươm của triều đình hủ bại đangtreo trên cổ nhân dân hay một thanh gươm nào khác muốn vung lên giữa trờixanh nước Việt” Dù đó là thanh gươm nào thì cái thế của lưỡi gươm dựng

Trang 26

giữa vũ trụ mênh mông cũng khiến ta liên tưởng tới cái tư thế ngạo nghễ củaCao Bá Quát ở giữa cuộc đời.

Trong bất cứ hoàn cảnh nào Cao Bá Quát vẫn là mình- một con người

có tầm vóc vũ trụ:

Giữa trời đất nhốt một anh tù làm thơ

(Ban đêm một mình cảm nghĩ)

Muốn mượn cả vũ trụ để làm khuây mối sầu lữ thứ

(Tiễn ông bạn họ Nguyễn về làng)

Con người trong thơ Cao Bá Quát không có cảm giác nhỏ bé trước cái

vô cùng của vũ trụ rộng lớn của thiên nhiên mà lại thấy ở đó một sự gần gũi,tri âm, tri kỉ Trong nhiều trường hợp, thiên nhiên là người bạn tri kỉ chia sẻniềm vui, nỗi buồn cùng tác giả Trong tù ông lấy trăng làm bầu bạn:

Nơi giam cầm đổi đời hai bận Trăng bể trăng tròn chẵn mười phen Trăng này sắc vẫn y nguyên

Mà nơi khách ở dần quen lối rồi.

(Đêm trăng tháng 6 dưới ánh trăng viết gửi các bạn cũ)

Những khi lòng ông thấy lạnh lẽo, làm bạn với ông lúc này họa chăngchỉ còn mảnh trăng kia mà thôi:

Hồi thử vân du du Ứng liên nhất phiến nguyệt

Dạ dạ đáo ngân câu (Ngoảnh đầu lại thấy mây bay dằng dặc

Đáng thương cho một mảnh trăngĐêm đêm cứ soi hoài trên dòng bạc)

(Châu hành há Thanh Khê, nhân cố nhân ký biệt tòng du chư đệ tử)

Trang 27

Lắm lúc ông ngồi một mình ngắm trăng, càng thấy mình sống giữatriều đình mà vẫn như một kẻ lưu đày, cô đơn Lúc này ánh trăng kia như mộtngười bạn tri kỉ thấu hiểu nỗi lòng ông:

U nhân ái dạ tọa Tương đối diệc vong ngôn (…) Bạc chước sấn lương dạ,

Úy ngã cơ lưu hồn

(Người buồn vẫn thích ngồi khuya,Nhìn trăng, cả hai đều không nói(…) Nhân lúc đêm khuya thanh nhấp qua chén rượu,

Để an ủi cái tâm hồn bị trói buộc của mình.)

(Thu dạ độc tọa tức sự)

Trong thơ ông, trăng không chỉ là cái mâm vàng trên trời cao đêm đêmsoi sáng, mà trăng còn là người bạn tâm tình của nhà thơ, cùng với ông trongnhững phút giây thảnh thơi, mơ ước cũng như trong đêm oán giận đau thương

Có dịp khác, trăng đã cùng với Cao Bá Quát thức suốt đêm nhìn nhauchẳng nói Có khi u uất nhìn trăng, trăng cũng như hiểu mình, có lúc longđong như con ngựa mỏi trên đường dài, nhìn trăng, thấy trăng cũng cô đơnnhư mình giữa bầu trời lạnh Có lúc trăng cảm thông với tấm lòng trong trắngcủa con người và người cũng thương cho trăng đêm đen cứ soi hoài trên dòngbạc Có lúc trăng là nơi hẹn hò của những tâm hồn thương nhớ:

Khởi tri bắc quách cô ngâm dạ, Cánh thị tây song ngưỡng diện thì

(Biết đâu thành bắc đêm ngâm quạnhChính lúc song tây ngẩng mặt nhìn)

(Nhị thập tam dạ khán nguyệt họa thơ của Phan Hành Phủ)

Trang 28

Như vậy, ta thấy trong Thơ chữ Hán Cao Bá Quát, con người vũ trụ

hiện lên rõ nét Con người đó luôn mang một tầm vóc lớn lao giữa vũ trụ

2.2.2 Bên cạnh đó Cao Bá Quát không mang một cái nhìn tĩnh tại, khô

cứng ngay cả trong những vấn đề mang đặc tính khuôn mẫu, cho nên khi nhìn

về con người nhân sinh xã hội ông cũng thể hiện rất sâu sắc các cung bậc cảm

xúc “Trí thức xưa thường hay ngẫm nghĩ về bản chất nhân sinh và mối quan

hệ giữa con người với xã hội, con người với con người” [21, 56]

Dưới ngòi bút của Cao Bá Quát, con người ở dạng thái này hiện ra nhưmột thực thể no đói, vui buồn Thơ ông không lẩn tránh những cảm xúc đờithực như những quan điểm kinh điển của Nho gia Thưở hàn Nho ông thấmthía cái nghèo túng của mình, đã từng phải nếm trải mùi bần hàn,có lúc Cao Bá

Quát muốn “bán cái nghèo đi” nhưng rồi nhà thơ cũng vẫn phải than thở rằng:

Cứ ngô tiêu tán tự trường ca Sấu cốt chi ly ủng mấn hoa Lão khứ văn chương tri kỷ thiểu Bần lai khẩn phúc luỵ nhân đa

(Phờ phạc ngồi tự ghế những nghêu ngao hoàiNắm xương gầy rời rạc mang mái đầu hoa râm

Về già, văn chương ít được gặp người tri kỉKhi túng, cái mồm, cái bông làm rầy người ta nhiều)

(Thương Sơn công hữu sở quy vật)

Cảnh ngộ nghèo khó “ dưới đáy” của chính mình Cao Bá Quát đã

được nhà thơ thể hiện rất cụ thể, chân thực và cũng từ đó ông thấm thía hơncái vinh nhục của sự đời Cái nhìn của ông thấm đẫm cảm xúc buồn vui, yêughét Ông đã đặt trong thơ mình biết bao vấn đề nhân sinh to lớn, đáng suyngẫm trong thế kỉ ông và chúng ta Ông là nhà thơ đã đi đến tận cùng sốphận mình, đã đốt cháy tất cả năng lực tâm hồn mình bằng một bó đuốc thơrực cháy

Trang 29

Trong cái nhìn về con người về cuộc đời của Cao Bá Quát đều thấmđượm cảm xúc sâu sắc của một con người từng trải, từng chiêm nghiệm bằngchính sự nếm trải của cuộc đời mình.

Ta thấy Cao Bá Quát xuất thân trong một gia đình nhà Nho, được đàotạo theo tinh thần của Nho giáo ấy thế mà đối với Cao Bá Quát, những giáođiều nghiêm khắc của Nho giáo từ lâu không thoả mãn được ông Nhà thơhình như vẫn có cách nhìn, cách đánh giá riêng của mình về cuộc sống khônghoàn toàn phụ thuộc vào thế giới quan Nho giáo

Xét trên phương diện nào đó, Cao Bá Quát là người có tư tưởng truycầu danh lợi, có chí hướng thông qua con đường thi cử đỗ đạt làm quan vàgiương danh với đời Động cơ đó, ông không hề giấu giếm, trái lại còn bộcbạch rõ ràng:

Công danh nhất lộ kỷ nhàn nhàn Quan cái phân phân ngã hành hĩ

(Con đường công danh đã mấy ai được nhàn

Mũ lọng rợp đường ta cũng đi đây)

(Hoành Sơn vọng hải ca)

Ông nói lên tâm trạng của mình khi đã bước lên con đường danh lợi:

Đạp hướng danh đồ bất điếu đầu

(Bước lên con đường danh vọng thì không quay đầu lại nữa)

(Trường giang thiên)

Đó là lẽ sống của nhà Nho, một lòng suy nghĩ của kẻ sĩ trong nhiềuthời: “Chính sách dùng người của bao triều đại phong kiến đã tạo cho conngười có học thức một tâm lý phấn đấu để đỗ đạt làm quan, để vinh thân phìgia, mức sống thấp kém của kẻ sĩ cũng khiến họ nhiều lúc phải hoa mắt vì cái

bả danh lợi Cho nên hoài bão đó của ông không phát triển, không trở thànhmột tư tưởng chi phối suốt cuộc đời như Nguyễn Công Trứ hoặc một số người

đương thời” [22, 154-155].

Trang 30

Nguyễn Công Trứ trong những ngày chưa thành đạt vẫn không quên tựnhắc nhủ mình:

Đã mang tiếng ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông.

Còn với Cao Bá Quát, thực tiễn xã hội đã làm cho ông thấy sự vô nghĩacủa chữ danh và sinh lòng chán ngán:

Tằng thị ngô do thập niên khách Nai khan nhân chỉ nhất danh mang

(Tôi đã từng là người khách 10 năm (đi thi hội)Xem ra con người ta chỉ vì một chữ danh mà vất vả)

(Sơ nhập Thừa Thiên thi viện)

Chúng ta đều biết “Nho học đã vạch cho các sĩ tử cả hai thái độ nhậpthế và rút lui cao đạo” [24, 111] Ở Cao Bá Quát cuối cùng ông đã có thái độdứt khoát:

Dĩ yếm phong trần do đậm bạc Khẩn tương danh lợi dịch sơ ngu

(Đã chán ghét phong trần bởi lẽ còn (giữ được đạm bạc)Đâu để cho danh lợi nô dịch cái ý thô sơ của mình)

Thế lộ canh yên vân Nhân sự như hàn thử

(Đường đời như khói mây thay đổi

Trang 31

Việc nhân như nóng lạnh thất thường)

(Hành xa đề đông dư kỷ mộ lưu túc)

Hay:

Nhân sinh tự hàn thử Lai vãng dĩ thử tâm

(Người đời khác nào như thời tiết nóng lạnh Thời tiết qua lại lòng người cũng đổi thay)

(Viên trung thảo)

Bên cạnh đó, trong Thơ chữ Hán Cao Bá Quát hiện lên hình ảnh một

con người khinh ghét thậm tệ những thế lực xấu xa Ông có cái nhìn sắc sảovạch trần được bộ mặt thối nát của giai cấp thống trị đương thời Con người

đó mỉa mai tố cáo triều đình, vua quan nhà Nguyễn, khi thấy nhân dân quá

đói nghèo thì vua quan thường tổ chức “phát chẩn” Quan lại phong kiến chẳng qua muốn làm cái việc “trả cho dân từng thìa cái mà họ cướp của dân

từng thùng” Cao Bá Quát đã từng chứng kiến cảnh một buổi phát chẩn như

thế, ông cảm thấy vô cùng buồn bực, phẫn uất nên đã nói lên tâm sự củamình:

Văn đạo cật Triêu tương chẩn khí Khả liên dị cảnh diệc huề phù!

Quân ân vị nhẫn di cùng bộ Thanh thế thuỳ năng niệm nhất phu?

Trang 32

(Thấy nói sáng mai ngày phát chẩnCách vùng bồng bế cảnh nên thương

Ơn trên chưa nỡ quên nhà khóĐời thịnh ai lo một kẻ thường?)

(Quan chẩn)

Trông thấy cảnh phát chẩn trớ trêu này khiến Cao Bá Quát vô cùng đau

buồn Cao đã ngụ ý oán ghét của mình vào trong bài thơ “Nửa đêm” sấm to

gió dữ đã làm Cao đang đêm ngồi dậy:

Bạo lôi điền nhất thanh

Vũ lai nhất hà sử Thiên địa thành vật tâm Bất ưng phục vi nhĩ Xuân lai tích lịch thịnh

Xứ xứ hữu áp tử Phong long thực bất liêm Cao thu thượng thùy sử?

Thần đạo hà mang mang?

Hắc vân thùy quá tường Thiên hôn ngưỡng nan thị Ngung tọa độc trầm ngâm Đáo minh thượng bằng kỷ

(Sấm gầm, giận ai chăng; Mưa sao đến gấp thế? Lòng trời đất là gâydựng cho muôn loài; không nên như thế nữa? Xuân sang rét đã nhiều; Nơi nơiđều có người bị đánh chết; Thần phong long thực không biết điều; Cuối thurồi ai khiến làm thế nữa? Đạo quỷ thần sao mà lơ mờ? Mây đen đâu rủ sátxuống mắt tường Trời tối sẫm ngẩng lên trông chẳng thấy! Một mình ngồi xótrầm ngâm Mãi đến sáng vẫn còn tựa ghế)

Trang 33

Bên cạnh đó trong thơ ông là tiếng nói đả kích những tên quan lại thamcủa Hình ảnh con chuột chính là sự hiện thân của chúng:

…Tân khổ cập thành gia Trí khí khải bất tích Đản giới thiết thời bạo Thân lợi phi an đồ

(Phù hạ thử)

(Biết bao nhiêu đau khổ đắng cay ta mới dựng nên cửa nhà Bao nhiêuvật dụng sắm sửa được sao không tiếc Ta cảnh báo con chuột chớ có ăn vụngbừa bãi Vì hám lợi quá không phải là chước lâu dài)

Ông lên án bọn quan lại, ví chúng như những con chuột lớn đục khoétlàm khổ dân

Nhà thơ cảm thấy đau đớn, xót xa trước những cảnh như thế, nhưngkhông biết làm sao để mình có thế thay đổi được nó, mặc dù ông ý thức rất rõđược xã hội mình đang sống Cao Bá Quát có một cái nhìn trần đầy phẫn uấttrước sự tàn bạo của xã hội phong kiến Là người có lòng yêu nước thươngđời Ông không chịu nổi cảnh hiếp đáp dân chúng của đám quan vô lại Ôngđau đớn, quặn lòng, ông điên, nhưng đây không phải là cái điên thông thườngcủa những người mất trí Đây là cái điên sáng suốt của Khuất Nguyên, Tiếp

Dư, Tôn Tẫn, điên của những người thấy mình sống khác với những ngườixung quanh, thấy:

Cuộc đời đục cả, một mình ta trong Người đời say cả chỉ một mình ta tỉnh

(Khuất Nguyên)Điên của Cao là cái điên của những người khinh ghét những bọn chạytheo danh lợi, luồn cúi bọn vua quan để làm hại dân Đúng! Cao Chu Thầnphải phát điên lên thật! điên lên như thế Cái điên đó nói lên sự oán giận tộtbực của Cao Bá Quát đang thôi thúc ông đứng dậy hành động

Trang 34

Nhưng con người đó không chỉ biết hờn ghét thật sâu mà còn biết yêu

thương nồng đượm Đối với những tầng lớp con người “dưới đáy” ông có một

cái nhìn gắn bó và cảm thông sâu nặng Ông yêu thương con người hiền lành

và càng vô cùng yêu thương những ai cùng khổ, từng hoạn nạn đắng caynhiều nhất Cao Bá Quát đặc biệt cảm thông với những người cùng cảnh nhưmình Gặp trong đám học trò hỏng thi một ông già đầu bạc, lòng thương củaông bỗng tăng lên bội phần Dưới cái nhìn của ông, cảnh hỏng thi không hẳn

là đau xót, nhưng cái cảnh lận đận trên bảy mươi tuổi đầu còn đi thi thì quả làđau xót không biết đi đâu cho cùng

Cao Bá Quát còn cảm thông với những nét mặt vui buồn của người

nông dân Cao biết rằng nếu cơn mưa to làm cho ông lão hả hê có thể “Mua

sắm giò lợn để ăn mừng” thì cơn mưa dè dặt lại làm cho họ lo ngay ngáy Cái

nhìn của nhà thơ chan chứa yêu thương, đồng cảm

Hay viết về thân phận của những người đi ở, Cao Bá Quát luôn dànhcho họ sự ưu ái, quan tâm rất chân thành:

Hồi phong xuy quyển chẩm Sóc khí bội thê nhiên

Xuyết tịch giao nô phú Phân khâm tà khách miên

(Gió thổi quẩn vào chiếc gối người đã mỏiHơi gió bấc lạnh lẽo bội phần

Lấy chiếc bảo đầy tớ đắpChia chăn cho khách mượn ngủ nhờ)

(Hàn dạ tức sự)

Trong xã hội phong kiến chắc không mấy ai đối xử với người ở được

như Cao Bá Quát Có thể nói hình tượng con người “dưới đáy” xuất hiện trong

thơ văn Trung đại không phải là hình tượng mới mẻ Tuy nhiên cùng viết vềmột đối tượng nhưng mỗi tác giả lại có cách nhìn, quan điểm, lập trường khác

Trang 35

nhau Với Cao Bá Quát ông đã có một điểm nhìn rất mới mẻ, thể hiện đượcchiều sâu nhân đạo đối với những hạng người bần cùng trong xã hội.

Qua Thơ chữ Hán Cao Bá Quát ta thấy khi viết về con người nhân sinh

xã hội ta thấy ít nhiều Cao Bá Quát đã lên án, phê phán mặt xấu, tiêu cực của

con người nhưng đó chỉ là một phần nhỏ Những bài thơ thể hiện thái độ củatác giả trước thế thái nhân tình ở góc độ tiêu cực không dày đặc như trong thơvăn của Nguyễn Công Trứ Nét khác biệt của Cao Bá Quát khi viết về conngười nhân sinh xã hội là ở chỗ Cao Bá Quát biết nhìn nhận thế thái nhân tình

ở cả hai mặt, tức là bên cạnh việc lên án, phê phán sự thay đổi tráo trở, đổitrắng thay đen của lòng người, sự suy đồi về mặt đạo đức thì Cao Bá Quát còn

có những vần thơ khẳng định cần thiết bản chất tốt đẹp vốn có của con người

Nếu như các nhà văn, nhà thơ đương thời khi viết về những con người

bần cùng “dưới đáy” thì họ luôn đặt những cảnh đời cơ cực, tối tăm, nghèo

đói, tha hóa lên bình diện thứ nhất, làm vấn đề trọng tâm đề cập đến trong tácphẩm thì với Cao Bá Quát cảnh ngộ của những con người đó chỉ là cái cớ đểông bộc lộ cái nhìn đầy thông cảm và niềm tin mãnh liệt vào phẩm chất tốtđẹp trong tâm hồn con người ngay cả khi bị đẩy vào bước đường cùng

Cao Bá Quát đã không có những mặc cảm và cũng không nâng mình

lên vị trí của người từ phía trên nhìn xuống để hài hước nó khi nói tới “vùng

nhạy cảm” của xã hội- nơi phơi bày nỗi đau của thế nhân Chính Cao Bá Quát

đã cúi xuống nỗi khổ đau của những con người đó để lắng nghe tâm sự của

họ, khuyên nhủ giúp họ chân thành như những người bạn Chính vì thế trongnhững tác phẩm viết về những người dân lao động, cơ cực, bần cùng- những

con người có vị trí thấp kém trong xã hội chúng ta bắt gặp hai “điểm nhìn” ở

hai vị trí xã hội khác nhau Cao Bá Quát đã chuyển dịch điểm nhìn một cáchtài tình từ khách thể sang chủ thể đi đến những chiêm nghiệm, day dứt về thânphận của họ Cao Bá Quát đã đồng nhất chủ thể với khách thể để đi đến một

tiếng kêu thống thiết “hãy cứu lấy con người” hãy “bảo vệ quyền làm người”

của những con người bất hạnh:

Trang 36

Bất tài diệc nhân dã Nhi nữ mạc khiêu du

(Hèn chăng thì cũng là ngườiTrẻ con chớ có trêu người rẻ khinh)

(Cái tử)

Người hành khất, tuy nghèo hèn nhưng cũng vẫn còn là “người” Cao

Bá Quát đã khám phá, phát hiện ra những biểu hiện tốt đẹp trong tâm hồn

họ, có một cái nhìn nhạy bén, phát hiện ra những nhân cách tiềm tàng khôngbiến mất:

(Cấm sở cảm sự túng bút ngẫu thư)

Cao Bá Quát nhận thấy bên cạnh những con người “ráo tình cạn nghĩa”

như viên úy say rượu trong bài thơ thì vẫn có những người như chàng Tiêutrọng tình, trọng nghĩa, không ham phú phụ bần, không thay đổi tình đổi nghĩakhi chủ của mình gặp nạn mặc dù trước đó đôi khi bị quở phạt bằng roi vọt

Trang 37

Khi bị bắt giam, bị tra tấn dã man trong ngục tù, những người bạn thânquen của Cao Bá Quát do sợ bị liên lụy nên đã tìm cách xa lánh, lảng tránh,người thân thì không được vào thăm, một thân một mình trơ trọi giữa ngục tùdưới những trận mưa đòn tra tấn Người quan tâm, chăm sóc, khóc thươngcho Cao Bá Quát lúc này lại chính là những người đày tớ:

Đa tạ tiêu gia cực thời bộc Khấp tương ôn ngữ úy vi tu

(Đa tạ chú bộc cũ nhà họ Tiêu

Đã khóc lóc đem những lời ôn tồn mà yên ủi thân này)

(Thập nguyệt thập thất nhật, thừa lễ bộ nghiêm tấn hậu, cưỡng bệnh mạn chí tử thủ)

Ngay cả những chú tiểu đang còn rất nhỏ nhưng vì nghèo nên phải đi ởcũng biết lo lắng cho chủ khi thấy chủ của mình gầy đi, mặc dù sự lo lắng đókhông giải quyết được việc gì nhưng thể hiện được tình nghĩa, sự quan tâmlẫn nhau giữa con người với con người:

Át đồng bất thức Duy Ma bệnh Sát vấn yên vi sấu tổn vô?

(Chú bé còn nhỏ không hiểu cái bệnh Duy Ma của ta

Cứ hỏi luôn rằng “vành đai lưng có gầy đi phần nào không”?)

(Bệnh trung)

Người đọc thực sự cảm động trước hình ảnh người con gái “liễu yếu

đào tơ” đã phải mang tấm áo duy nhất của mình đem đổi cám về nuôi những

người thân qua đói khát:

Phong lộ quá kiều hồn bất ác

Ỷ môn ưng hữu vọng nùng quy

(Sương gió qua cầu không biết rétTưởng người tựa cửa nóng lòng chờ)

(Mộ kiều quy nữ)

Trang 38

Bấy giờ nhân dân đói khổ, đời sống vô cùng khổ cực, bán áo đong gạocũng có thể là chuyện thường dễ hiểu với những người nghèo đói Nhưngđiều đáng quý ở đây không phải chỉ là đức hy sinh của cô gái mà đó còn làtấm lòng dũng cảm của cô trước thực tại khắc nghiệt.

Hay đó còn là tình thần “đồng cam cộng khổ” chia sẻ với nhau khi gặp

khó khăn hoạn nạn:

Lân ông kiến trợ ngã Phế cử mịch tàn khí

(Ông hàng xóm có ý giúp taLục giỏ rách để tìm cơm nguội)

(Mộ phạm bất cấp hý bút ký sự)

Đó còn là tình cảm thủy chung son sắc vợ chồng:

Tự quân chi xuất hỹ

Dạ dạ thủ không sang Hải nguyệt chiếu cô mộng Giang phong sinh mộ lương Tiểu kính kỳ viễn khiếp Hàn y lưu cố phường (phòng) Trì thử các tự úy

Bất khiển lưỡng tương vương (vong)

(Từ ngày anh ra điĐêm đêm em giữ chiếc giường khôngTrăng bể soi giấc mộng cô đơn

Gió song thổi lạnh trời chiềuChiếc gương nhỏ đã gửi vào tráp người đi xaTấm áo rét để lại trong phòng cũ

Giữ những vật ấy để cùng tự yên ủiKhông để cho đôi ta quên nhau)

Trang 39

(Tự quân chi xuất hỷ)

Điều đặc biệt hơn nữa, trở đi trở lại trong thơ trữ tình Cao Bá Quát làhình ảnh người phụ nữ Họ xuất thân từ nhiều thành phần xã hội khác nhaunhưng đều chịu chung số phận bị khinh rẻ Cái nhìn của nhà thơ bao giờ cũngsâu sắc, công bình, tấm lòng nhà thơ bao giờ cũng dạt dào yêu thương

Nhưng tình cảm xót thương của nhà thơ còn đọng lại nhiều hơn trên sốphận của hạng người đàn bà xấu số nhất trong xã hội Đó là người kỹ nữ, Cao

Bá Quát cũng có một cái nhìn cảm thông, đồng cảm

Đây là một đề tài muôn thuở Cũng như nhiều nhà thơ nhân đạo nổitiếng như Bạch Cư Dị (Trung Quốc) hay Nguyễn Du (Việt Nam), nhà thơ họ

Cao cũng đồng cảm với cuộc đời bi đát, rất tội nghiệp của họ (Đề đào nương xá).

Và hơn thế nữa, ông ước có một sức mạnh huyền diệu đến giải thoátcho những cuộc đời khổ tủi ấy:

… Hạt sen ôm tấm lòng đắng ngắt, chỉ một mình mình biết Hoa dương liễu yếu ớt, vì ai mà cứ tất tả bay?

Muốn thử khơi cả trăm hộc nước dòng sông Tô

Để rửa cho người đời sạch hết bụng dạ dơ dáy…

(Chơi ở nhà cũ, đêm nghe đàn gẩy tranh)

Thật khác xa với những nhà Nho chỉ biết “Hồng hồng, tuyết tuyết”

chìm ngập trong khoái lạc vật dục

Tình cảm của Cao Bá Quát dành cho những con người này có nét gì đótương tự như mong ước của nhà thơ cộng sản Tố Hữu sau này, trong khúc ca

đẹp Tiếng hát Sông Hương về một cuộc thay đổi:

Ngày mai em sẽ từ trong ra ngoài Thơm như hương nhụy hoa nhài Sạch như nước suối ban mai giữa rừng

Trang 40

Hoài bão lớn nhất của Cao Bá Quát là mong trở thành một con người

có ích cho dân, con người có thể cứu vớt dân ra khỏi nước sôi lửa bỏng đểdân có cuộc sống ổn định, không phải sưu cao, thuế nặng Và để làm đượcđiều đó ông tự nguyện làm một con người tận tâm với dân với nước, đối vớiông hạnh phúc của con người trước hết là của bản thân mình chỉ có thể tìmthấy trong việc làm cho nước cho dân

Cho đến lúc về già, Cao Bá Quát vẫn không ngừng mong cho nhân dânđược sống yên vui, hạnh phúc:

Tấm lòng lo đời trọc loạn Con mắt già chỉ mong sông Hà nước trong

Như vậy, qua Thơ chữ Hán Cao Bá Quát ta thấy Cao Bá Quát là một

nhà thơ có một nhân sinh quan đẹp đẽ Ông có cái nhìn nảy lửa đối với thốngtrị, nhưng lại cũng có cái nhìn trần đầy yêu mến đối với nhân dân, có con mắtnhìn rất sâu vào từng khía cạnh của cuộc sống muôn vẻ Đó chính là điểmmới, là sự phát hiện, là nét tiến bộ trong cái nhìn nghệ thuật về con người củanhà thơ

Ngày đăng: 18/12/2013, 20:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (2000), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2000
2. Nguyễn Huệ Chi (1961), Tỡm hiểu nhõn sinh quan tớch cực trong thơ Cao Bá Quát, tạp chí văn học, số 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỡm hiểu nhõn sinh quan tớch cực trong thơCao Bá Quát
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Năm: 1961
3. Nguyễn Huệ Chi (2003), Tiếp cận nghệ thuật đối với hai chủ đề độc đáo trong thơ Cao Bá Quát, Tạp chí văn học, số 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận nghệ thuật đối với hai chủ đề độcđáo trong thơ Cao Bá Quát
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Năm: 2003
4. Nguyễn Đình Chú (1995), Văn 10, phần Văn học Việt Nam, Nxb Giáo dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn 10, phần Văn học Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đình Chú
Nhà XB: Nxb Giáodục
Năm: 1995
5. Xuân Diệu (1998), Các nhà thơ cổ Việt Nam, Nxb Giáo dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhà thơ cổ Việt Nam
Tác giả: Xuân Diệu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
6. Biện Minh Điền (2005), Vấn đề tác giả và loại hình tác giả văn học Trung đại Việt Nam, Tạp chí nghiên cứu Văn học, số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề tác giả và loại hình tác giả văn họcTrung đại Việt Nam
Tác giả: Biện Minh Điền
Năm: 2005
7. Nguyễn Đăng Điệp (2002), Giọng điệu trong thơ trữ tình, Nxb Văn học, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trong thơ trữ tình
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Vănhọc
Năm: 2002
8. Lê Bá Hán (1997), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1997
9. Hồ Sĩ Hiệp, Lâm Quế Phong (1997), Cao Bá Quát- Nguyễn Công Trứ, Nxb Văn nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Cao Bá Quát- Nguyễn Công Trứ
Tác giả: Hồ Sĩ Hiệp, Lâm Quế Phong
Nhà XB: Nxb Văn nghệ
Năm: 1997
10. Thạch Kim Hương (2004), Cảm hứng bi phẫn trong thơ Cao Bá Quát, Kỷ yếu hội nghị khoa học, tập II, Trường Đại học Vinh xuất bản, tháng 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm hứng bi phẫn trong thơ Cao Bá Quát
Tác giả: Thạch Kim Hương
Năm: 2004
11. Vũ Khiêu, Nguyễn Văn Tú, Nguyễn Trác, Hoàng Hữu Yên, Hoàng Tạo (1976), Thơ chữ Hán Cao Bá Quát, Nxb Văn học, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ chữ Hán Cao Bá Quát
Tác giả: Vũ Khiêu, Nguyễn Văn Tú, Nguyễn Trác, Hoàng Hữu Yên, Hoàng Tạo
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1976
12. Đinh Trọng Lạc (1997), Phong cách học, Nxb Giáo dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
13. Đặng Thanh Lê, Hoàng Hữu Yên, Phạm Luận (1999), Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX, Nxb Giáo dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học ViệtNam nửa cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX, Nxb Giáo dục
Tác giả: Đặng Thanh Lê, Hoàng Hữu Yên, Phạm Luận
Nhà XB: Nxb Giáo dục"
Năm: 1999
14. Nguyễn Lộc (1999), Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX, Nxb Giáo dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thếkỷ XIX
Tác giả: Nguyễn Lộc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
15. M.Khrapchenco (1978), Cá tính sáng tạo và sự phát triển của văn học, Nxb Tác phẩm mới, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cá tính sáng tạo và sự phát triển của vănhọc
Tác giả: M.Khrapchenco
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1978
16. Vũ Tiến Quỳnh (1997), Nguyễn Công Trứ - Cao Bá Quát - Cao Bá Nhạ, Nxb Văn nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Công Trứ - Cao Bá Quát - Cao BáNhạ
Tác giả: Vũ Tiến Quỳnh
Nhà XB: Nxb Văn nghệ
Năm: 1997
17. Nguyễn Hữu Sơn, Đặng Thị Hảo (2006), Cao Bá Quát về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cao Bá Quát về tác gia vàtác phẩm
Tác giả: Nguyễn Hữu Sơn, Đặng Thị Hảo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
18. Trần Đình Sử (1998), Dẫn luận thi pháp học, Nxb Giáo dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận thi pháp học
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
19. Trần Đình Sử (1999), Mấy vấn đề thi pháp văn học Trung đại Việt Nam, Nxb Giáo dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Mấy vấn đề thi pháp văn học Trung đại ViệtNam
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
20. Trần Đình Sử (2005), Tuyển tập, tập 2, Nxb Giáo dục, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập, tập 2
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

HìNH TƯợNG TáC GIả - Hình tượng tác giả trong thơ chữ hán cao bá quát
HìNH TƯợNG TáC GIả (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w