Xây dựng hình tợng nho sĩ hành đạo trong Truyền kỳ mạn lục Nguyễn Dữ đã có sự kế thừa ở các tác phẩm trớc đó, tuy nhiên “văn ch- ơng không cần đến những ngời thợ khéo tay, làm theo một v
Trang 1đặng thị thu hơng
Hình tợng nho sĩ hành đạo
trong “truyền kỳ mạn lục” của Nguyễn Dữ
khoá luận tốt nghiệp đại học
ngành cử nhân khoa học ngữ văn
Vinh, 5-2005
Trang 2Lời cảm ơn
Truyền kỳ mạn lục là một tác phẩm mà từ trớc đến nay đã có rất
nhiều công trình nghiên cứu trên nhiều phơng diện Khoá luận này củachúng tôi tìm hiểu hình tợng nho sĩ hành đạo trong tác phẩm Là mộtsinh viên, tôi gặp không ít khó khăn khi nghiên cứu đề tài này Trong quátrình làm khoá luận tôi luôn nhận đợc sự quan tâm giúp đỡ của thầy giáoPhạm Tuấn Vũ, của các thầy cô giáo trong tổ Việt Nam I và bạn bè Tôixin chân thành cảm ơn sự hớng dẫn, chu đáo của thầy giáo Phạm Tuấn
Vũ cùng các thầy cô giáo và bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi hoàn thànhluận văn cuối khóa này
Sinh viên
Đặng Thị Thu Hơng
Trang 3Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Hình tợng nho sĩ hành đạo đã trở thành một hình tợng phổ biếntrong sáng tác văn chơng nhà nho Việt Nam trong các thời kỳ Tuy nhiênmỗi tác giả tài nănglại có những đóng góp riêng khi thể hiện hình t ợng
này Truyền kỳ mạn lục đợc xem là áng “thiên cổ kỳ bút” cũng là sáng
tác duy nhất của Nguyễn Dữ là một trong những tác phẩm mở đầu chonền văn xuôi tự sự Việt Nam Giải quyết đề tài cũng chính là để nhận ra
đóng góp của Nguyễn Dữ ở hình tợng nho sĩ hành đạo
Xây dựng hình tợng nho sĩ hành đạo trong Truyền kỳ mạn lục Nguyễn Dữ đã có sự kế thừa ở các tác phẩm trớc đó, tuy nhiên “văn ch-
ơng không cần đến những ngời thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu
đa cho Văn chơng chỉ dung nạp những ngời biết đào sâu, biết tìm tòi khơi những nguồn cha ai khơi và sáng tạo những gì cha có ” (Đời thừa-
Nam Cao) nên bằng tài năng sáng tạo của mình Nguyễn Dữ cũng đã cónhững sự đổi mới trong nghệ thuật xây dựng hình t ợng Vì vậy nghiêncứu đề tài sẽ chỉ ra sự tơng đồng và khác biệt của hình tợng nho sĩ hành
đạo trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ với sáng tác văn xuôi của
các tác giả khác
Truyền kỳ mạn lục đợc viết trong thời kỳ suy thoái của phong kiến
Việt Nam thế kỷ XVI Chúng tôi chọn đề tài “Hình tợng nho sĩ hành
đạo trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ ”, nghiên cứu hình tợng
này để nhận thức đợc những đặc điểm của hình tợng trong hoàn cảnh suythoái của chế độ phong kiến Việt Nam
2 Mục đích yêu cầu của việc giải quyết đề tài
Hình tợng nho sĩ hành đạo là một trong những hình tợng tiêu biểu,
nổi bật trong Truyền kỳ mạn lục Tìm hiểu hình tợng này là tìm hiểu một
thành tựu lớn của tác phẩm Trong điều kiện thời gian hạn hẹp và nănglực bản thân hạn chế chúng tôi chỉ khái quát những đặc điểm mang tính
phổ quát và cá biệt của hình tợng này trong Truyền kỳ mạn lục Đồng
thời lý giải đợc những căn nguyên tạo thành hình tợng nh tài năng củaNguyễn Dữ, hoàn cảnh xã hội khi tác phẩm ra đời và t tởng, tình cảmcủa nhà văn
3 Lịch sử vấn đề
Trang 4Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ ra đời vào thế kỷ XVI đã đánh
dấu một bớc tiến trong quá trình phát triển của văn học trung đại ViệtNam Đó là một mốc quan trọng trong lịch sử văn học dân tộc, đánh dấu
sự mở đờng cho văn xuôi Việt Nam Cho đến nay đã có rất nhiều côngtrình nghiên cứu về tác phẩm này trên nhiều phơng diện khác nhau Đặcbiệt về phơng diện nghệ thuật xây dựng nhân vật tuy nhiên cha có côngtrình nào khai thác về hình tợng nho sĩ hành đạo trong tác phẩm mộtcách trọn vẹn và triệt để
Trong Từ điển văn học tác giả Bùi Duy Tân đã nhìn nhận, đánh giá cao về Truyền kỳ mạn lục là “tập truyện có nhiều thành tựu nghệ thuật
đặc biệt là nghệ thuật dựng truyện, dựng nhân vật ” Nhà nghiên cứu tuycha đi vào từng loại nhân vật cụ thể nhng đã nhân mạnh về vấn đề conngời trong chế độ phong kiến rạn nứt thế kỷ XVI
Một bài nghiên cứu khá đặc sắc là bài của tác giả Nguyễn Phạm
Hùng Tìm hiểu khuynh hớng sáng tác trong Truyền kỳ mạn lục của
Nguyễn Dữ Tác giả đã đề cập đến vấn đề ngời trí thức phong kiến nhng
cũng cha đi sâu vào nghiên cứu cụ thể hình tợng nho sĩ hành đạo
ở giáo trình Văn học Việt Nam thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XVIII do
Đinh Gia Khánh chủ biên đã chú ý đến các loại nhân vật trong Truyền kỳ
mạn lục đã đa ra nhận xét: “trớc hết, phải thấy rằng từ các truyện của Truyền kỳ mạn lục toát lên tinh thần dân tộc Không phải ngẫu nhiên Nguyễn Dữ lại phóng tác những cốt truyện gắn bó với đất nớc Việt” [2; 507]
Bên cạnh đó cũng có những công trình nghiên cứu với những ý kiến
về nghệ thuật xây dựng nhân vật chung trong toàn bộ tác phẩm Truyền
kỳ mạn lục.
K.I.Golyghinr trong bài Cù Hựu và Truyền kỳ mạn lục nhận xét:
“Nguyễn Dữ bao giờ cũng chuyển câu chuyện sang không gian địa lý
Việt Nam với tên ngời Việt Nam”[1; 647].
Tác giả Trần ích Nguyên trong sách Nghiên cứu so sánh Tiễn đăng
tân thoại và Truyền kỳ mạn lục đã viết về mối quan hệ giữa hai tác phẩm
này Tác giả đã đi sâu khai thác, so sánh, tìm hiểu về nguồn gốc, nộidung t tởng, kỹ xảo nghệ thuật của hai tác phẩm
Ngoài ra còn có một số chuyên luận, chuyên khảo và các bài nghiên
cứu khác về tác phẩm Truyền kỳ mạn lục đề cập đến nhiều phơng diện
Trang 5khác nhau nh những yếu tố kỳ ảo trong Truyền kỳ mạn lục, yếu tố truyện dân gian, mối quan hệ giữa truyện dân gian và Truyền kỳ mạn lục
Truyền kỳ mạn lục là một kiệt tác nghệ thuật nên cho phép chúng ta
có cái nhìn từ nhiều phía để tìm ra vẻ đẹp của tác phẩm Những ý kiến,nhận xét, đánh giá trên đây rất có ý nghĩa giúp chúng tôi tìm hiểu sâuhơn về hình tợng nho sĩ hành đạo Chọn đề tài này chúng tôi muốn gópthêm một phơng diện tiếp cận với kiệt tác này và cũng để thấy đợc nhữngtài năng sáng tạo, tâm t của Nguyễn Dữ trong nghệ thuật xây dựng hìnhtợng nho sĩ hành đạo
4 Phơng pháp nghiên cứu
Chúng tôi sử dụng nhiều phơng pháp: thống kê, tổng hợp, phân tích,
so sánh
Trớc hết chúng tôi sử dụng phơng pháp thống kê, tổng hợp để thấy
đợc vị trí của hình tợng ở trong tác phẩm Sau đó sử dụng phơng phápphân tích để thấy đợc phẩm chất, đạo đức của hình tợng trong các vấn đề,các mối quan hệ Và cuối cùng bằng phơng pháp so sánh để thấy đợc sự
kế thừa đổi mới cũng nh tài năng nghệ thuật của Nguyễn Dữ trong nghệthuật xây dựng hình tợng
Trang 6Phần nội dung chính Chơng 1 Khái niệm nho sĩ hành đạo và ý nghĩa của việc nghiên cứu hình tợng này ở Truyền kỳ mạn lục
1.1 Khái niệm nho sĩ hành đạo
Hình tợng nho sĩ hành đạo cóvị trí rất quan trọng trong Truyền kỳ
mạn lục Trong 20 truyện của tác phẩm thì có đến 15 truyện có nhân vật
nho sĩ, trong đó có 13 truyện có hình tợng nho sĩ hành đạo
Nho sĩ hành đạo là những ngời theo học đạo Nho, đọc sách Thánhhiền, là tầng lớp trí thức trong xã hội phong kiến Họ là những nho sĩ đãthi cử đỗ đạt ra làm quan cho triều đình phong kiến
Hình tợng nho sĩ hành đạo đợc Nguyễn Dữ xây dựng trong Truyền
kỳ mạn lục vừa có cả nho sĩ hành đạo là nhân vật chính diện, vừa có cả
nho sĩ hành đạo là nhân vật phản diện Mỗi loại nhân vật đợc tác giả xâydựng có những đặc điểm riêng về nghệ thuật xây dựng cũng nh về phẩmchất, t tởng, tình cảm và thông qua đó thể hiện quan điểm của tác giả đốivới tầng lớp nho sĩ đơng thời
1.1.1 Nho sĩ hành đạo là nhân vật chính diện
Đó là những nho sĩ có t tởng, đạo đức, hành động ứng xử của mộtnhà nho chân chính, những nhà nho có khí phách, cứng cỏi dám đấutranh chống lại gian tà bạo ngợc, giàu lòng nhân hậu, đức hy sinh theo
đạo lý thánh hiền đã dạy
Đó là các nhân vật:
1 Văn T Lập trong Cái chùa hoang ở Đông Trào.
2 Dơng Đức Công, Dơng Thiên Tích trong Chuyện gã trà đồng giáng sinh.
3 Văn Dĩ Thành trong Chuyện tớng Dạ Xoa.
4 Từ Thức trong Từ Thức lấy vợ tiên.
5 Phùng Lập Ngôn trong Chuyện ngời nghĩa phụ ở Khoái Châu.
6 Phạm Tử H và Dơng Trạm trong Chuyện Phạm Tử H lên chơi Thiên tào.
7 Phật Sinh trong Chuyện Lệ Nơng.
8 D Nhuận Chi trong Chuyện nàng Tuý Tiêu.
9 Ngô Tử Văn trong Chuyện chức Phán sự ở đền Tản Viên.
10 Hồ Tôn Thốc trong Câu chuyện ở đền Hạng Vơng.
Trang 71.1.2 Nho sĩ hành đạo là nhân vật phản diện
Đó là những nho sĩ mang phẩm chất t tởng hành động không xứng
đáng với t cách nhà nho là bộ phận tiêu cực trong tầng lớp trí thức phongkiến
Đó là các nhân vật:
1 Thần Thuồng luồng trong Chuyện đối tụng ở Long cung.
2 Quan Trụ quốc họ Thân trong Chuyện nàng Tuý Tiêu.
3 Hà Nhân trong Cuộc kỳ ngộ ở Trại Tây.
4 Trọng Quỳ trong Chuyện ngời nghĩa phụ ở Khoái Châu.
5 Viên quan họ Hoàng trong Chuyện yêu quái ở Xơng Giang.
1.2 ý nghĩa của việc nghiên cứu hình tợng nho sĩ hành đạo ở
Truyền kỳ nạm lục
Gorki từng nói: “văn học là nhân học”, bất cứ một nền văn học nào
cũng lấy con ngời làm đối tợng chủ yếu Chính việc quan tâm và lý giảinhững vấn đề có liên quan đến con ngời làm nên đặc trng của văn họcnghệ thuật Mỗi nền văn học đều có nhân vật riêng của mình Nếu nh đốitợng phản ánh của văn học dân gian là những ngời lao động bị áp bứctrong xã hội đã có sự phân chia giai cấp, thì đến văn học trung đại khiNho giáo ở cơng vị ý thức hệ thống trị, dĩ nhiên vai trò của nhà nho hành
đạo là chủ đạo Và hình tợng những nhà nho tiết tháo trở thành hình tợng
đẹp trong văn học Việt Nam trung đại
Nếu nh đối tợng phản ánh của văn học thế kỷ XV về trớc thờng lànhững cái tao nhã, trang trọng, lý tởng thì văn học thế kỷ XVI có thêmnhững cái bình thờng, con ngời trong văn học từ đây ít bị ràng buộc vào
những giáo lý có sẵn Điều này bắt đầu một cách rõ rệt từ Truyền kỳ mạn
lục của Nguyễn Dữ Đó là một quan niệm mới về con ngời đã xuất hiện.
Nội dung t tởng của Truyền kỳ mạn lục là lên án phê phán sự vi
phạm đạo đức của giai cấp thống trị từ trên xuống dới, từ vua quan trongtriều đình đến bọn cờng hào ác bá ở nông thôn Xã hội Việt Nam thế kỷXVI không còn ổn định nh thế kỷ XV Sự hoang dâm vô độ và xa hoalãng phí của vua Lê Uy Mục, Lê Tơng Dực đã gây nên bao nhiêu khổcực, điêu đứng cho nhân dân Sự tranh giành ngôi vị, và sát hại lẫn nhaudiễn ra liên tiếp trong triều Lê Sự bất lực và hèn hạ trớc kẻ thù của Mạc
Đăng Dung, tình trạng coi vật chất, đồng tiền là trên hết làm cho truyềnthống đạo đức tốt đẹp ngày càng xấu xa, sa đoạ Là nhà nho mang lý t -
Trang 8ởng tốt đẹp đứng trớc tình trạng xã hội “cơng thờng đảo điên” Nguyễn
Dữ đã có ý thức phản ánh xã hội phong kiến mục nát, suy thoái Bằngngòi bút đầy trách nhiệm với đời ông đã lên án, phê phán giai cấp thốngtrị Nghiên cứu hình tợng nho sĩ hành đạo là một vấn đề có ý nghĩa rấtquan trọng vĩ hình tợng nho sĩ hành đạo là một hình tợng giữ vị trí trung
tâm trong Truyền kỳ mạn lục, thể hiện tập trung nhất lý tởng thẩm mỹ
của nhà văn Hơn nữa Nguyễn Dữ là ngời từng ôm ấp lý tởng hành đạonhng bất mãn với thời thế lui về ở ẩn nên hình tợng nho sĩ hành đạo đóngvai trò quan trọng trong việc thể hiện t tởng của nhà văn
Nói đến hình tợng nho sĩ hành đạo ngời ta thờng nghĩ ngay đếnnhững nhà nho có lý tởng hành đạo giúp đời Nhng thực tế hình tợng nho
sĩ hành đạo vừa có cả nhân vật chính diện và phản diện Tuy nhiên dù lànhà nho chính diện hay phản diện họ cũng đều là những ng ời theo đòinghiệp Nho, đọc sách Thánh hiền, còn thực hiện hay không thực hiện lýtởng tốt đẹp đó còn phụ thuộc vào t tởng, tình cảm, bản chất của từng ng-
ời Để tái hiện hình tợng nho sĩ hành đạo một cách khách quan, NguyễnDữ đã đặt nhân vật của mình vào các biến cố của đời sống, các sự kiệnxẩy ra có tác dụng phơi bày những mặt nhất định của bản chất con ng ời.Chính vì thế hình tợng nho sĩ hành đạo đã đợc miêu tả đầy đặn, nhiềumặt, từ ngoại hình đến nội tâm, từ hành động đến ngôn ngữ cụ thể và đ ợc
đặt trong môi trờng hoàn cảnh khác nhau Do đó nghiên cứu hình tợngnho sĩ hành đạo thể hiện đợc sự tập trung, then chốt đời sống xã hội thời
đại của Nguyễn Dữ
Tóm lại, hình tợng nho sĩ hành đạo là hình tợng đợc đa vào sáng tácvăn chơng từ đầu nền văn học trung đại Dù là nhà nho ở ẩn thì họ cũng
đã từng là ngời ôm ấp lý tởng hành đạo vì bất đắc chí mới phải lui về ở
ẩn Điều đó cho thấy hình tợng nho sĩ hành đạo đóng một vai trò rất quantrọng trong xã hội phong kiến Hình tợng nho sĩ hành đạo thể hiện nhữnggiá trị tinh thần, phẩm chất đẹp đẽ, những hành vi của con ng ời đợc nhàvăn miêu tả có thể để khẳng định, đề cao hoặc lên án, phê phán, đả kíchnhững thói xấu hay hành vi không tốt Vì vậy nghiên cứu hình t ợng nho
sĩ hành đạo mang ý nghĩa làm rõ quan điểm, t tởng, lý tởng xã hội, lý ởng thẩm mĩ của nhà văn Nguyễn Dữ trong hoàn cảnh lịch sử lúc bấygiờ
Trang 9t-Chơng 2 hình tợng nho sĩ hành đạo qua việc giải quyết những vấn đề chính trị xã hội đất nớc
2.1 Một số vấn đề của tình hình xã hội Việt Nam thế kỷ XVI
Đây là thời kỳ mở đầu quá trình khủng khoảng trong sự phát triểncủa chế độ phong kiến Việt Nam Nếu nh từ thế kỷ XV trở về trớc, vấn
đề có bản của lịch sử là sự khẳng định quốc gia dân tộc, mâu thuẫn cơbản là mâu thuẫn dân tộc, thì từ thế kỷ XVI mâu thuẫn giai cấp trở thànhnhững vấn đề trung tâm của sự phát triển lịch sử Việt Nam
Vào những năm cuối triều Lê Thánh Tông chế độ phong kiến tậpquyền đã phát triển mạnh mẽ và đạt tới một thời kỳ thịnh vợng cha từng
có Nhng chỉ tám năm, sau khi Lê Thánh Tông mất (1497) kể từ Lê UyMục (1505), chế độ phong kiến Đại Việt đã nhanh chóng bớc vào thời kỳsuy thoái
Quan hệ sản xuất phong kiến, với quyền sở hữu ruộng đất tối caocủa nhà vua và quyền chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ phongkiến, sau một thời kỳ phát triển, đã dần dần bộc lộ tính chất tiêu cực lạchậu trớc yêu cầu phát triển mới của nền sản xuất xã hội Giai cấp phongkiến, sau khi đã ổn định địa vị thống trị của mình, thì xa hoa h ởng lạc,tìm mọi cách bóc lột tô, thuế và cớp đoạt ruộng đất của nông dân Lực l-ợng sản xuất chủ yếu là nông dân ngày càng bị áp bức bóc lột nặng nề,
đời sống của họ ngày càng bần cùng điêu đứng Mâu thuẫn giữa nhândân và giai cấp phong kiến là mâu thuẫn cơ bản nổi lên hàng đầu củahiện thực lịch sử Cho nên ngay từ đầu thế kỷ XVI đã có nhiều cuộc khởinghĩa của nông dân Cũng từ đầu thế kỷ XVI, nội bộ giai cấp phong kiếnlại có sự tranh giành, thoán đoạt và xung đột giữa các phe phái; hoặc lànội bộ hoàng tộc, hoặc giữa hoàng tộc với ngoại thích, hoặc giữa hoàngtộc với triều thần, hoặc giữa triều thần với nhau Mâu thuẫn giữa các tập
đoàn phong kiến, hoặc ngay trong nội bộ từng tập đoàn phong kiến nhiềukhi đã bùng nổ thành những cuộc xung đột vũ trang ác liệt và kéo dài.Hai tập đoàn Trịnh và Nguyễn đã rạch đôi sơn hà, phá hoại sự thống nhất
đất nớc, sau khi xô đẩy nhân dân vào những cuộc chém giết đau th ơng
và thảm khốc
Sự tranh chấp giữa các tập đoàn phong kiến, nạn cát cứ và nội chiếnphản dân tộc, đã có tác hại đối với sự phát triển của dân tộc và đời sống
Trang 10nhân dân Nội chiến phi nghĩa làm cho hao ngời, tốn của, su cao, thuếnặng; rồi cớp bóc, chém giết, đốt phá Nhân dân phải chịu bao cảnh lầmthan bần cùng, chết chóc Kinh tế bị kìm hãm, tàn phá, và việc xây dựng
đất nớc do đó gặp những khó khăn nghiêm trọng
Vua chúa, quan lại trong các thế kỷ này, có nhiều kẻ đồi truỵ về mặtvăn hoá Tiêu biểu là Lê Uy Mục là kẻ chè rợu, đa sát, hoang dâm vô độ,say mê cung phi, thả sức làm điều bạo ngợc, tàn khốc Còn Lê Tơng Dực
là kẻ ăn chơi xa xỉ và nổi tiếng dâm dật Lối sống xa xỉ, việc tu bổ chùachiền, xây dựng đài các, phủ đệ nguy nga, tráng lệ và sự chi phí trong cáccuộc chiến tranh phong kiến làm cho các tập đoàn phong kiến phải tăngcờng vơ vét tiền bạc của nhân dân bằng su cao, thuế nặng
Trong bối cảnh xã hội chính trị nh thế, tình hình t tởng, văn hoátrong các thế kỷ này có những chuyển biến rõ rệt và sâu sắc Nho giáovẫn đợc các tập đoàn phong kiến sử dụng để củng cố trật tự phong kiến,ràng buộc hành vi, tình cả và lý trí con ngời Việc học hành thi cử vẫn đ-
ợc các tập đoàn phong kiến coi trọng Nho giáo vẫn đ ợc đề cao, tầng lớpnho sĩ, những ngời vốn đắc lực cho Nhà nớc phong kiến vẫn đợc trọng
dụng Nhng “ dần dần theo thói phù hoa chắp nhặt , tập tục kẻ sĩ mỗi
ngày một kém” (Bùi Huy Bích, Lữ trung tạp thuyết) Nội dung học tập
ngày càng sơ sài, nông cạn, lối học phù phiếm, chú trọng đến từ ch ơng
sáo rỗng hơn là “giảng cứu về nghĩa lớn của chính văn” (Bùi Huy Bích,
Lữ trung tuỳ bút), đã thấy từ đời Lê sơ thì đến nay này càng có cơ phát
triển Tệ gian lậu, phép thi không nghiêm túc và về sau, lệ nộp tiền thông
kinh, ở chốn trờng ốc, khiến cho số đông nho sĩ thoái hoá “Những
kẻ may mà đỗ đạt, phải đơng đến đại sự, bàn đến đại lễ, thì cẩu thả vơ vào làm cho xong việc ”, “những kẻ ra ứng dụng cho đời phần nhiều là phờng hủ lậu ít tài giỏi” (Phạm Đình Hổ, Vũ trung tuỳ bút), “tập tục sĩ phu thối nát tệ hại không sao kể xiết” (Lê Quý Đôn, Kiến văn tiểu lục) Tuy rằng khi Mạc Đăng Dung cớp ngôi nhà Lê, khi nhà Mạc thất
thế, khi họ Trịnh chuyên quyền, lấn át vua Lê, cũng có những sĩ phu vìnghĩa mà tuẫn tiết, ngời thì chết theo vua, ngời thì ném nghiên mực, nhổvào mặt kẻ nghịch thần, ngời thì nắm cơng ngựa kẻ loạn thần để chochúa chạy thoát nhng phần lớn thì xu thời, chạy theo kẻ mạnh để mucầu quyền uy bổng lộc Đạo đức và trật tự phong kiến bị phá hoại ngay từtrong hàng ngũ nho sĩ quan liêu Chúa lấn át vua, triều thần lũng đoạn,
Trang 11anh em nhà vua, nhà chúa bức hại lẫn nhau Bên cạnh v ơng triều nhà Lê
“hữu danh vô thực”, phủ chúa nắm hết quyền lực, tự tiện phế lập ngôi vua Kẻ sĩ ra làm quan vừa thờ vua, vừa thờ chúa, vứt bỏ khí tiết “tôi
trung không thờ hai vua” Tất cả những việc ấy đã phá vỡ nghĩa quân
thần, đạo cơng thờng, mà thế kỷ XV cố gắng xây dựng Câu trả lời của
Phạm Công Thế: “đã lâu nay danh phận không rõ, lấy gì mà phân thuận
nghịch”, khi bị chúa Trịnh vặn hỏi về nghĩa cơng thờng, vừa bộc lộ trạng
thái tinh thần của phần lớn sĩ phu, vừa gián tiếp tố cáo chúa Trịnh, kẻ vi
phạm lớn nhất giáo hoá “chính danh định phận” của Khổng Mạnh Tầng
lớp nho sĩ bị phân hoá, một số khá đông không chịu tham gia chínhquyền hoặc bất đắc dĩ thì chỉ tham gia trong một thời gian ngắn rồi rútlui về ở ẩn trong thôn dã Nho sĩ ẩn dật là lực l ợng đứng ngoài nhữngcuộc tranh chấp, có thái độ đối lập với từng tập đoàn phong kiến Nh ng vì
họ có uy tín trong xã hội nên các tập đoàn phong kiến th ờng tìm cáchtranh thủ, mong sử dụng họ trong những mục đích riêng của mình Một
số nho sĩ mở trờng dạy học, hoặc làm thầy thuốc, một số đông hơn họchành kém cỏi, truỵ lạc, đi làm các nghề thầy tớng, thầy cúng, lang băm Tóm lại, trong thế kỷ XVI tình hình xã hội không còn ổn định nh ởthế kỷ XV, mâu thuẫn giai cấp trở nên gay gắt, quan hệ xã hội bắt đầuphức tạp, các tầng lớp xã hội phân hoá mạnh mẽ, trật tự phong kiến lunglay, chiến tranh phong kiến ác liệt kéo dài, đất n ớc bị các tập đoàn phongkiến chia cắt, cuộc sống không yên ổn, nhân dân điêu đứng, cơ cực Vấn
đề con ngời - nhất là ngời bị áp bức - trở thành mối quan tâm lớn nhấtcủa xã hội Xung đột gay gắt giữa các lực lợng phong kiến thống trị ngàycàng bảo thủ và phản động với các lực lợng xã hội tiến bộ, các tầng lớp
bị trị đau khổ là xung đột cơ bản của gần bốn thế kỷ (từ thế kỷ XVI đếnnửa đầu thế kỷ XIX)
2.2 Hình tợng nho sĩ hành đạo qua việc giải quyết những vấn đề chính trị xã hội đất nớc
Nguyễn Dữ là ngời thuộc dòng dõi khoa hoạn, từng ôm ấp lý t ởnghành đạo Nguyễn Dữ từng đi thi hơng, đậu Hơng tiến (tức Cử nhân) sauthi Hội, trúng Tam trờng và có ra làm tri huyện Thanh Toàn (nay làhuyện Tam đảo, Vĩnh Phúc) Đợc một năm, sau vì bất mãn với thời cuộc,cáo quan về ở ẩn ở núi rừng Thanh Hoá lấy lý do phải phụng d ỡng mẹ già
cho tròn đạo hiếu, từ đó “trải mấy mơi sơng, chân không bớc đến thị
Trang 12thành” Sống vào một triều đại suy loạn, kỷ cơng đổ nát, phong hoá suy
đồi, Nguyễn Dữ đã kịch liệt đả kích những cái xấu, đề cao đạo đức, công
lý, dụng ý của tác giả là răn đe ngời xấu, khích lệ ngời tốt Do đó hình ợng nho sĩ hành đạo mang một nội dung giáo dục sâu sắc
t-2.2.1 T tởng xây dựng một xã hội lý tởng của Nguyễn Dữ qua hình tợng nho sĩ hành đạo là nhân vật chính diện
Trong Truyền kỳ mạn lục nhân vật nho sĩ chính diện không mang
đặc điểm của ngời anh hùng ôm ấp lý tởng, lu danh sử sách mà là nhữngcon ngời đời thờng, con ngời gần gũi Hình tợng nho sĩ hành đạo là nhânvật chính diện mang phẩm chất của nhà nho chính thống, lấy giá trị đạo
đức làm thớc đo của con ngời Họ không màng vật chất, không ham lợidanh Họ là những ngời theo học sách Thánh hiền có thể ra làm quanhoặc không làm quan nhng đều là những con ngời vì dân, vì nớc, đứng ra
đấu tranh trừ gian ác, đem lại cuộc sống bình an cho nhân dân Đó lànhững phẩm chất đẹp đẽ của nhà nho chân chính mà các nhà văn thế kỷtrớc còn ít miêu tả Đó cũng là mong muốn, lý tởng cao đẹp của Nguyễn
Dữ ớc mơ một xã hội lý tởng “vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn”,
“vua sáng tôi hiền” trăm dân hạnh phúc, bình an Đó là vấn đề nhân văn cao cả đặt ra cho thời đại của ông và mai sau nên Truyền kỳ mạn lục của
Nguyễn Dữ xứng đáng đặt ở vị trí là áng văn muôn đời
Hồ Tôn Thốc trong Câu chuyện ở đền Hạng Vơng là một vị quan
Thừa chỉ cuối đời Trần phụng lệnh sang Trung Quốc đi sứ Tác giả miêutả đảm phí của một sứ thần Đại Việt trên đất nớc ngời, đi qua đền HạngVơng làm thơ giễu cợt Câu chuyện đợc miêu tả qua giấc mộng, qua nhânvật Hồ Tôn Thốc bày tỏ tính cách thẳng thắn, cứng cỏi phê phán chínhsách bạo lực của Hạng Vũ, nhng cũng vạch trần thủ đoạn xảo trá của Lu
Bang “Sở đã đành trái với nhân nghĩa nhng Hán chỉ giống với nhân
nghĩa Họ Hạng nớc Sở không đợc là hạng bá giả mà vua Cao Tổ nhà Hán cũng là tạp nhạp” Và “So Sở với Hán thì Hán hơn, nhng sánh Hán với bậc vơng giả thì Hán còn xa lắm” Đánh giá Lu Bang và Hạng Vũ
nh vậy quả là táo bạo, trái hẳn với lời tán tụng của sử gia T Mã Thiên
Văn T Lập trong Chuyện cái chùa hoang ở Đông Trào đến tri huyện
Đông Trào thấy cảnh chùa chiền hoang tàn, đổ nát đã lo lắng “dóng dả
dân binh các xã đánh tranh kên nứa và sửa chữa lại” Thấy dân quanh
huyện khổ vì nạn trộm cắp của bọn gian tà, những bọn đội lốt nhà Phật
Trang 13hoành hành, Văn T Lập tự thấy đó là trách nhiệm của mình “ Thấy dânquanh huyện khổ vì nạn trộm cắp của bọn gian tà, những bọn đội lốt nhà
Phật hoành hành, Văn T Lập tự thấy đó là trách nhiệm của mình “ta ở
vào địa vị một viên ấp tể, không có cái minh để xét ra kẻ gian, cái cứng
để chế phục kẻ, vì nhân nhu mà hỏng việc, chính là cái lỗi ở ta ” Ông đã
đứng ra cùng nhân dân trừ gian, từ cắt cử cho các thôn đêm ngày canhphòng cẩn mật, đi mời thầy phù thuỷ cao tay, xin bùa yểm chân đốt h ơng
lễ bái chùa chiền Cuối cùng vạch ra mặt thật của kẻ gian đứng sau nhàPhật để cớp bóc nhân dân Văn T Lập là một ông quan liêm chính vì dânvì nớc, luôn có trách nhiệm trớc cuộc sống nhân dân, đa lại quyền sống,hạnh phúc, bình an cho dân
Những nhà nho hành đạo chính nghĩa luôn lo lắng đến số phận của
cuộc sống nhân dân Chuyện tớng Dạ Xoa cho thấy cảnh tợng thê thảm của nhân dân “sống chẳng gặp thời, chết không phải số Đói không có
thứ gì cấp dỡng, lui không có chỗ nào tựa nơng Trong gò xơng trắng rầu
rĩ cỏ rêu, trên đống cát vàng lạnh lùng sơng gió ” Cho nên có tình trạng
“chết chóc nhiều, những oan hồn không chỗ tựa n ơng thờng họp lại
thành từng đàn lũ ” Trớc nạn ma quỷ “hoành hành ở đồng nội không biết kiêng sợ gì cả” Văn Dĩ Thành không chịu để ma quỷ mê hoặc Phàm
những hoa yêu nguyệt quái, và dâm thần lệ quỷ không đợc liệt vào từ
điển, chàng đều coi thờng không sợ hãi gì Văn Dĩ thành là một ông quanvì dân, luôn đặt chính nghĩa lên trên tất cả Ông luôn đ ợc dân tin yêu,kính phục, làm quan rất uy nghiêm, đề ra những việc đúng đắn nghiêm
khắc: “ không đợc coi khinh mệnh lệnh, không đợc quen thói dâm ô,
không đợc quấy quắc để làm hại mạng của dân, không cớp bóc và phải cứu nạn cho dân, ban ngày không đợc giả hình, ban đêm không đợc kết
đảng Nghe lệnh ta thì ta làm tớng các ngời, trái lệnh ta thì ta trị tội các ngời ” Đây là lời răn lũ quỷ cũng là lời răn những kẻ quyền hành, lộng
hành cớp bóc nhân dân Lời răn cho những quan lại phải có trách nhiệmvới dân với nớc Đó cũng là lời tố cáo với kẻ cờng hào, ác bá quan lạilộng quyền hà hiếp dân lành Văn Dĩ Thành luôn lấy dân làm gốc đặtchính nghiã nhân nghĩa lên trên nên làm việc gì cũng thành công và đ ợcủng hộ Bởi vậy công việc của Văn Dĩ Thành ngày càng tốt đẹp, oai vọnglẫy lừng đợc tiến cử vào chức quan lớn là Tớng Dạ Xoa Qua hình tợngVăn Dĩ Thành, Nguyễn Dữ muốn nói những ngời giữ quyền bính đứng
Trang 14trên muôn dân nếu chính trực, công bằng, lấy nhân nghĩa, chính nghĩalàm đầu chắc chắn sẽ đợc lòng dân, đợc dân tin tởng ủng hộ, làm việc gìcũng thành công Xã hội có nhiều ông quan lo cho dân cho n ớc nh thế sẽluôn thái bình thịnh trị Đó cũng là lý tởng của Nguyễn Dữ muốn xâydựng một xã hội lý tởng, vua sáng tôi hiền, vua Nghiêu Thuấn dânNghiêu Thuấn Đó là vấn đề mang tính thời đại, mang giá trị nhân văncao cả.
Đến Chuyện chức Phán sự đền Tản Viên phẩm chất ngời nho sĩ hành
đạo chính diện Ngô Tử Văn đợc Nguyễn Dữ giới thiệu là khảng khái,
c-ơng phc-ơng “thấy sự gian tà thì không thể chịu đợc ” Tức giận vì hồn ma
của một tớng giặc ẩn náu trong toà đền làm yêu làm quái đánh đuổi một
vị Thổ thần để chiếm phần hơng lửa, rồi bức hại cả dân lành Tử Văn đãdũng cảm châm lửa đốt đền, bất chấp cả cái chết có thể đến với mình đểchống lại tà gian trị tên ác quỷ ấy Đây là một chi tiết tiêu biểu, độc đáo,
điển hình, thể hiện phẩm chất nổi bật khí tiết, cứng cỏi, thẳng thắn, tựtin, ngoan cờng không biết sợ hãi gì trớc thần quyền gian ác trái ngang.Tính cách ấy còn thể hiện ở việc dới âm phủ chàng kiên quyết chốngchọi với yêu quỷ làm sao cho chính nghĩa phải thắng gian tà, ng ời tốt đợc
đền bù xứng đáng, kẻ xấu bị trừng trị đích đáng Sau đó chàng cùng Thổthần vạch đợc mặt giả mạo đội lốt đền chùa mà hại dân lành của tên t ớnggiặc bại trận Bắc triều cho Diêm Vơng trị tội, trả lại miếu cho Thổ thần
và Tử Văn không bệnh mà chết đợc lĩnh chức Phán sự đền Tản Viên Qua
Chuyện chức Phán sự đền Tản Viên Nguyễn Dữ đã ca ngợi phẩm chất
đẹp đẽ của Ngô Tử Văn Đó là nét tính cách c ơng trực, lòng nghĩa khí,khí phách táo bạo, tự tin, không sợ gian tà, bằng sự chính nghĩa mà đemlại quyền lợi cho dân Nguyễn Dữ khẳng định chính nghĩa thắng gian tà,thiện thắng ác Ngô Tử Văn đại diện cho công lý đó là mong muốn củadân cũng là lý tởng thẩm mỹ và t tởng nhân đạo sâu sắc của Nguyễn Dữ
Đứng trớc tình hình xã hội phong kiến thế kỷ XVI đang đi vào rạnnứt bắt đầu suy thoái nhân dân lâm vào cảnh đói khổ, lầm than, xã hội
đầy rẫy những sự bất công nên qua những nhân vật chính diện trênNguyễn Dữ mong muốn có những ông quan thanh liêm, chính trực vì dânvì nớc để đứng ra bảo vệ cuộc sống cho nhân dân và lo cho vận mệnh đấtnớc Trong bớc suy thoái của chế độ phong kiến, trớc những thăng trầmkhôn lờng của một xã hội hỗn loạn, kinh truyện Nho gia không đủ giúp
Trang 15Nguyễn Dữ giải đáp những vấn đề đặt ra trong cuộc sống Ông tìm cáchgiải đáp những vấn đề đó và một phần đã tìm thấy đ ợc ở những t tởng của
Đạo giáo, Phật giáo Dơng Thiên Tích trong Chuyện gã trà đồng giáng
sinh chất vấn một đạo nhân “Tôi nghe đạo trời công minh nh cái cân cái gơng, có thần minh để gây dấu vết, có tạo hoá để giữ công bằng gơng tất soi suốt mà không riêng, lới tuy tha thớt mà không lọt Phép thuật chí nghiêm mà chí mật, ngời nên không oán cũng không hờn Cớ sao những
sự khuyên răn lại thấy lắm điều lộn xộn Làm sự lợi vật, ch a nghe thấy
đ-ợc phúc, làm sự hại dân, cha nghe thấy mắc nàn Kẻ nghèo có chí cũng thành không, ngời có muốn gì cũng đợc nấy Có ngời chăm học mà suốt
đời không đỗ, có nhà xa hoa mà luỹ thế vẫn giàu Ai bảo rằng trao quỳnh giả mận, thế mà vẫn trồng da đợc đậu Đó là những sự mà tôi rất nghi ngờ không hiểu” Đạo nhân trả lời: “Thiện ác tuy nhỏ cũng rõ rệt, báo ứng dù chậm nhng lớn lao Âm công khi rõ ràng ra, phải đợi quả thiện đ ợc tròn trặn, dơng phúc khi tiêu tan mất, phải chờ mầm ác đã cao dài Có khi sắp duỗi mà tạm co, có khi muốn đè mà thử nống Có hạnh mà nghèo, hoặc bởi tội khiên kiếp trớc bất nhân mà khá, hoặc bởi phúc thiện
đời xa Tuy rằng khó biết sâu xa, nhng thực không sai tơ tóc Cho nên không nên lập luận một bề mà xem trời một mặt” Đoạn văn đối đáp trên
đây đã phản ánh một sự thực: để lý giải những vấn đề củ cuộc sống tronglúc trật tự đảo điên, cơng thờng đổ nát, thì nhà văn Nguyễn Dữ đã phảimợn đến những quan niệm nghiệp duyên quả báo, hoạ phúc của Phậtgiáo Chính vì vậy mà Nguyễn Dữ xây dựng những ông quan có phẩmchất đẹp đẽ nh Dơng Đức Công, Dơng Thiên Tích là những ông quan
thanh liêm chính trực, công bằng và nhân hậu trong Chuyện gã trà đồng
giáng sinh Dơng Đức Công làm quan coi việc hình án trấn Tuyên Quang
“Xét rõ mọi điều oan khuất khiến các vụ án đều đợc công bằng” lại là
một vị quan nhân từ phúc hậu nên đợc mọi ngời gọi là Đức Công Vì là
ông quan liêm chính, công bằng, nhân nghĩa, tốt bụng nên đ ợc sống thêmhai kỷ nữa và đợc Thợng đế ban cho một ngời con trai tốt là Dơng ThiênTích Dơng Thiên Tích văn chơng thông thái, sớm hôm lo học hànhkhông hề biếng trễ, về sau trải hai mơi năm làm đến vị quan lớn Ông là
ngời “thờ vua thì trung, giữ mình thì liêm, trải thờ hai triều chốn miếu đ
-ờng lấy làm ỷ trọng ” về sau ngời ta ngờ rằng ông đắc đạo thành tiên.
Trang 16Nh vậy qua hình tợng nho sĩ hành đạo là nhân vật chính diện mangphẩm chất đẹp đẽ của những nhà nho chân chính, nhân nghĩa xử phạtcông minh, vì dân vì nớc đó là mong ớc của nhân dân cũng nh của tácgiả Qua đó ông đã bộc lộ tâm t, khát vọng hoài bão lớn lao về một xãhội lý tởng và đặt ra nhiều vấn đề nhân sinh của con ngời và thời đại đó
là đa lại quyền sống quyền làm ngời, thái bình cho đất nớc cho nhân dân
Và khẳng định lý tởng “ở hiền gặp lành”, “chính nghĩa thắng gian tà”,
“thiện thắng ác” là mong ớc thực tại xã hội, là tiếng nói của Nguyễn Dữ
cất lên thay cho khao khát của nhân dân bấy giờ
2.2.2 T tởng chính trị xã hội của Nguyễn Dữ qua hình tợng nho
sĩ hành đạo là nhân vật phản diện
Bên cạnh hình tợng nho sĩ hành đạo là nhân vật chính diện thì cónhững hình tợng kẻ sĩ quên hết mọi nhiệm vụ cao quý, mọi lời răn dạycủa Thánh nhân Đó là hình tợng nho sĩ phản diện mang t tởng hành
động ứng xử không xứng đáng với t cách nhà nho là bộ phận tiêu cựctrong tầng lớp trí thức phong kiến
Quan Trụ quốc họ Thân trong Chuyện nàng Tuý Tiêu nham hiểm và thâm độc là “đồ hèn yếu mà làm đến bậc Vệ, Hoắc kêu xin chạy chọt, lúc
nào ở cửa cũng rộn rập những ngời ra vào, vàng bạc châu báu trong nhà, chồng chất đầy rẫy” D Nhuận Chi là th sinh nổi tiếng hay thơ, ngời
vợ là Túy Tiêu vào hạng sắc nớc hơng trời Nàng theo chồng vào kinhkhảo thí, bị quan Trụ quốc bắt đem về Tuý Tiêu căm uất và th ơng nhớchồng định tự tử, tên quan háo sắc buộc lòng phải hứa hẹn sẽ cho nàng
về với chồng cũ Nhng khi gọi Nhuận Chi đến, y giữ Chi trong nhà màchẳng bao giờ cho đôi bên gặp nhau Về sau nhờ ngời lão bộc giúp sức,Tuý Tiêu đợc giải thoát, cùng Nhuận Chi bí mật trốn đi nơi khácsống.Tên quan Trụ quốc này vừa tàn ác, trắng trợn vừa nham hiểm thâm
độc, quyết chia rẽ lứa đôi tự nguyện Vì hắn có “uy thế rất lớn, các toà,
các sở đều tránh kẻ quyền hào, gác bút không dám xét xử ”, vì hắn “làm quan đến ngôi thợng công, quyền cao lộc hậu, việc khoản đãi khách khứa, mỗi ngày tốn phí đến hàng chuông thóc” Nguyễn Dữ đã nhìn thấy
sự thật: bọn quan lại trong thời ông, nhiều kẻ không hề có lý t ởng hành
đạo vì dân vì nớc, mà lại dùng thủ đoạn xấu xa cốt đạt danh vọng để vinhthân phì gia, điều đó thật trái với đạo lý, quay l ng với những lễ sống vốn
đợc rèn đúc theo giáo lý Khổng Mạnh
Trang 17Ngoài ra Chuyện đối tụng ở Long cung đã kịch liệt tố cáo bọn quyền thần: “nh nhà ngơi trớc có công lao, nên ta cho coi giữ một phơng,
vì dân che chở Vậy mà ngơi dở thói dâm ngợc, nh thế là trừ tai ngữ hoạn cho dân đấy ”; “Nay nhà ngời vốn do luân phiệt, lạm giữ phơng ngung,
lẽ nên linh hiển, để tỏ đức rồng, sao đợc tà dâm, làm theo nết rắn ”, dã
tâm cớp vợ ngời của bọn quan lại quyền thế Viên quan họ Trịnh đờiTrần xuống Thuỷ cung đòi vợ bị thần Thuồng luồng cớp Bộ mặt xấu xacủa thần Thuồng luồng này gợi đến bộ mặt xấu xa của bọn quan lại gian
ác dới chế độ phong kiến Với sự giúp đỡ của Long hầu, chuyện đối tụng
ở Long cung giữa ngời và quỷ thần đã chứng tỏ một điều: công lý bao giờcũng thắng Thần Thuồng luồng dùng sức mạnh thế quan chiếm vợ ng ời,chia rẽ hạnh phúc vợ chồng ngời cuối cùng đã phải chịu lu đày Sự đấutranh quyết liệt của con ngời bao giờ cũng thắng
Qua hình tợng nho sĩ hành đạo, chúng ta thấy rằng Nguyễn Dữ đãkhéo léo bày tỏ lý tởng của mình Hình tợng nho sĩ hành đạo có thể trựctiếp nói lên t tởng, quan niệm của tác giả, nhng trớc hết nó là một sự kháiquát hoá nghệ thuật Hơn nữa, khuynh hớng t tởng của tác phẩm khôngphải chỉ thể hiện thông qua những tuyên bố của nhân vật chính mà thôngqua của ngôn ngữ, hành động, tình tiết của câu chuyện trong xu h ớnggiải quyết những mâu thuẫn mà tác phẩm phản ánh Những hình tợngnghệ thuật của Nguyễn Dữ cho chúng ta thấy rằng chính ông đang nghi
ngờ vai trò của một bộ phận giai cấp thống trị Trong Chuyện ngời nghĩa
phụ ở Khoái Châu nói đến tình cảnh những bề tôi, những nho sĩ khảng
khái vì: “nói thẳng mà bị ngời ta ghen ghét không để lại nơi khu yếu, bề
ngoài vờ tiến cử đến chỗ hùng phiên, bề trong thực dồn đuổi vào nơi tử
địa” Bản chất xấu xa của bọn quyền thần đợc phản ánh trong Truyền kỳ mạn lục qua hình tợng nho sĩ hành đạo là nhân vật phản diện nh một tình
trạng phổ biến thời bấy giờ Chuyện Phạm Tử H lên chơi Thiên tào thì lại
qua ý kiến trao đổi giữa Tử H và thầy học của mình mà tóm tắt tình trạng
thối nát của quan lại nói chung: “ông mỗ ở ngôi trọng thần mà tham lam
không chán, ông mỗ làm chức s t mà mô phạm không đủ, ông mỗ coi lễ
mà lễ nhiều nhiếu thốn, ông mỗ chăn dân mà dân bị tai hại, ông mỗ chấm văn mà lấy đỗ thiên vị, ông mỗ trị ngục mà buộc tội oan uổng; lại còn những lúc thờng bàn nói thì mồm mép bẻo lẻo, đến lúc trù tính, quyết
định kế lớn của quốc gia thì mờ mịt nh ngồi trong đám mây mù, thậm chí
Trang 18không noi theo danh không xét thực, không trung với đấng quân thợng lớn thì làm việc bán nớc, nhỏ thì làm việc dối vua ” Vua quan thì nh
thế, còn sĩ phu thì không ít kẻ cũng bị truỵ lạc, h hỏng Dơng Trạm nói
với học trò: “ngày nay những ngời mặc áo nhà nho, đeo dải nhà nho thì
khác hẳn Họ thờng đổi họ để đi học, thay thế tên để đi thi: hễ trợt đỗ thì
đổ lỗi mờ quáng cho quan chấm trờng, hơi thành danh thì hợm hĩnh tài giỏi hơn cả tiền bối, chí khí ngông ngạo tính tình tráo trở, thấy thầy nghèo thì lảng tránh, gặp bạn nghèo thì làm ngơ, không biết rằng ngày thờng dắt dẫn rèn cặp phần nhiều là cái công đức của thầy bạn ” Tình
hình Nho học suy đồi, cơng thờng đạo lý bị đảo lộn, việc học, việc thi trởthành bậc thang công danh bám đầy bùn nhơ Kẻ sĩ chỉ chuộng h văn, bo
bo mu lợi ích cho mình
T tởng của Nguyễn Dữ trong Truyền kỳ mạn lục trớc hết thể hiện ở
lý tởng chính trị, xã hội của ông Nguyễn Dữ phủ định triều đại mục nát
đơng thời để khẳng định một vơng triều lý tởng trong tơng lai, lên án
bọn “bá giả” để ca ngợi “đạo thuần vơng” Cho rằng sự hng thịnh của
một triều đại không phải do mệnh trời mà do ngời, Nguyễn Dữ vạch rõ
rằng “bỏ việc ngời mà đi bàn lẽ trời”, thì “đến táng hại cũng không tỉnh
ngộ” và ông nêu ra nguyên tắc đối với kẻ cầm quyền: “phàm xoay cái thế thiên hạ ở trí chứ không phải ở sức thu tấm lòng thiên hạ ở nhân chứ không phải ở sức; thu tấm lòng thiên hạ ở nhân chứ không phải ở bạo ”.
Rằng kẻ trị dân nếu “chỉ lấy quát thét làm mai, lấy cơng cờng làm đức”,
“đắp nền cho cao bằng những hờn oán của dân, chứa kho cho đầy bằng
những máu mỡ cuả dân” thì sẽ “bỏ mình”, “mất nớc”, “mất lòng ngời”.
Ông yêu cầu kẻ làm vua phải “giơng cái cung thánh nhân, tuốt lỡi gơm
thiên tử, lấy nhân nghĩa làm yên khấu, lấy nghĩa làm chèo lái, lấy hào kiệt làm nanh vuốt, lấy trung tín làm giáp trụ”, “mở lới vơ hiền, giăng chài vét sĩ ”, “khiến trong triều nhiều bậc lơng tá ” Ông đòi hỏi kẻ
làm quan phải có “tiết cứng nh tùng, lòng bền tựa đá”, “đem cái tài vuốt
nanh, giữ cái trách phên giậu”, “sa cơ không chịu sống mà nhục, liều mình giữ đợc thác là vinh” Lý tởng chính trị, xã hội của Nguyễn Dữ chỉ
là một chế độ phong kiến có “vua sáng tôi lành” để “ban ân trạch cho
dân sinh, đa tẩt cả cuộc đời vào cõi nhân thọ” Có điều là, tiếp thu đợc
truyền thống của những nhà chính trị, những nhà văn yêu n ớc thời trớc,lại là ngời quan tâm đến vận mệnh đất nớc, đến đời sống nhân dân,
Trang 19Nguyễn Dữ thờng nhấn mạnh đến cơ sở nhân nghĩa và nêu cao tác dụngcủa lòng dân Trớc hiện trạng của chế độ phong kiến đang suy, Nguyễn
Dữ không dám hành động để thực hiện lý tởng “an nguy trị loạn” song
ông vẫn hy vọng có thể xây dựng lại kỷ cơng của chế độ phong kiến Lýtởng chính trị, xã hội của Nguyễn Dữ tất nhiên ch a thoát ly ý thức hệ
phong kiến, cha thể vợt ra ngoài cơng thờng của Nho giáo: “làm chính trị
không ngoài cơng thờng để dựng nớc”, “giữ thiên hạ không ở quy mô rộng lớn mà ở việc đến tế ở Khúc Phụ mở nền nơng tựa cho đời sau ”.
Những t tởng trên đây rõ ràng là của Nho giáo Nhng hiện thực màNguyễn Dữ đồng tình hoặc phê phán trong tác phẩm thì lại có phần thíchhợp ở đời sống dân tộc, với nguyện vọng của nhân dân Tái hiện hiệnthực và thể hiện mong ớc đó, Nguyễn Dữ đã đa nhân vật của mình vàonhững thế giới khác nhau để thoả mãn chí nguyện Hiện thực xã hộiphong kiến bắt đầu rối ren, suy yếu, cơng thờng đạo lý bị đảo lộn,Nguyễn Dữ đã xây dựng một xã hội lý tởng ở cõi khác để đền đáp chonhững nho sĩ hành đạo có những phẩm chất tốt đẹp mà cuộc sống đơng
thời không có đợc Dơng Trạm trong Chuyện Phạm Tử H lên chơi Thiên
tào lúc ở trần gian là ngời tín nghĩa đợc đền đáp ở chốn Thiên tào, nơi có
khung cảnh tơi đẹp lộng lẫy: “một khu có những bức tờng bao quanh, có
cửa lớn khảm trai lộng lẫy, hai bên có những toà lầu chậu, điện ngọc vằng vặc sáng nh ban ngày, sông Ngân bến Sao, ôm ấp lấy đằng trớc, gió thơm phng phức, đợm mát quanh hiên hơi lạnh thấu da, ánh sáng chói mắt, trông xuống cõi trần thấy mọi vật đều bé nhỏ tủn mủn Và ở đó mọi toà lầu có cuộc sống thần tiên hạnh phúc dành cho những ngời đã sống tốt đẹp khi ở trần gian Cửa Tích Đức dành cho những vị tiên thuở sống
có lòng yêu thơng mọi ngời không keo bẩn, không hợm hĩnh Đó là những ngời có nhân, đợc liệt vào hàng thanh phẩm Cửa Thuận Hạnh dành cho những vị tiên thuở sống hiếu thuận hoặc trong lu ly biết bao bọc lâý nhau, hoặc đem đất cát mà san sẻ cho nhau, mấy đời ở chung không nỡ chia rẽ Cửa Nho thần cho những danh thần trong thiên hạ cứ cách năm trăm năm lại cho giáng sinh, cao thì làm đến khanh tớng thấp cũng đợc làm sĩ phu, hiệu doãn ” Ngô Tử Văn trong Chuyện chức Phán sự đền Tản Viên và Văn Dĩ Thành trong Chuyện tớng Dạ Xoa lại đợc đền đáp
nơi cõi âm Cõi âm đợc xem là một thế giới công bằng nghiêm minh:
“d-ới Xiêm la tuyển ngời không khác gì tuyển Phật không thể đút lót mà đ ợc
Trang 20hay cầu mà nên Giữ mình cơng chính tuy hèn mọn cũng đợc cất lên, ở nết gian tà tuy hiển vinh cũng không kể đến” Và trong Chuyện đối tụng
ở Long cung ông phát biểu qua lời của Bạch long hầu: “Họ dù càn rỡ, đã
có sắc lệnh của triều đình Long Vơng ai dám dấy động giáp binh để phạm vào một lỗi lầm không thể tha thứ đợc” Ông mong muốn duy trì và
củng cố trật tự phong kiến Mọi cái ác theo ông đều phải bị trừng trịnghiêm khắc, xứng đáng Mọi cái thiện phải đợc đề cao bảo vệ Nhngcách đặt vấn đề của ông có tính ảo tởng Đó chính là nguyên nhân dẫn
đến tính bi kịch trong kết thúc của nhiều truyện Cái ác nhất định bịtrừng trị nhng bị trừng trị nh thế nào là cả một vấn đề Tên quan Trụ quốc
họ Thân trong Chuyện nàng Tuý Tiêu cuối cùng không phải bị trừng trị vì
chính tội ác mà y gây ra Rõ ràng Nguyễn Dữ không có những lúng túng
dè dặt trong việc giải quyết những vấn đề phức tạp của thời đại Thời đại
mà Nguyễn Dữ và cả sự nhận thức chủ quan của nhà văn chỉ cho phép
ông giải quyết vấn đề đến đấy Nhng điều đáng lên án ở hình tợng nhânvật phản diện phản ánh thói h tật xấu của tầng lớp nho sĩ trong xã hội lúcbấy giờ, khi xã hội phong kiến bắt đầu bớc vào thời kỳ rối ren, suy yếu
T tởng xây dựng một xã hội lý tởng của Nguyễn Dữ yêu cầu cải tạo hiệnthực, duy trì củng cố chế độ phong kiến, nhng lại đầy xao động, lúngtúng thậm chí cả bế tắc nữa Đó là một hạn chế lịch sử tuy nhiên quahình tợng nhi sĩ hành đạo Nguyễn Dữ cũng đã nói lên đợc ớc mơ khaokhát một xã hội lý tởng, một cuộc sống hạnh phúc của nhân dân trong
đó có những ông quan thanh liêm chính trực, nghiêm minh, nhân nghĩavì dân vì nớc nh Dơng Đức Công, Dơng Thiên Tích, Văn Dĩ Thành, Văn
T Lập, Ngô Tử Văn Còn những tên quan lại xấu xa, tàn ác, bất nghĩa bấtnhân, coi thờng kỷ cơng đạo lý phải bị trừng trị nh Thuồng luồng, quanTrụ quốc họ Thân
Trang 21Chơng 3 Hình tợng nho sĩ hành đạo qua ứng xử đời thờng
3.1 Hình tợng nho sĩ hành đạo là nhân vật chính diện qua ứng
xử đời thờng
Lấy chất liệu xây dựng nhân vật văn học từ truyền thống tốt đẹp của
ngời nho sĩ, những ngời có học thức, đợc dạy dỗ về đạo lý “tam cơng ngũ
thờng”, có chí hớng tu thân, tề gia trị quốc bình thiên hạ Nguyễn Dữ đã
xây dựng nên những nho sĩ chính diện mang phẩm chất tốt đẹp rất đáng
ca ngợi của những nhà nho sống có tình nghĩa, tôn trọng đề cao các mốiquan hệ nh tình thầy trò, tình bạn, tình yêu thuỷ chung sâu sắc Thểhiện mong ớc về sự tất thắng của chính nghĩa, là mục tiêu hớng tới cáichân - thiện - mỹ trớc cuộc đời còn nhiều oan trái, tác giả đã giành chonhững nhân vật nho sĩ chính diện những kết thúc tốt đẹp, có hậu
Nhân vật Phạm Tử H và Dơng Trạm trong Chuyện Phạm Tử H lên
chơi Thiên tào mang niềm tự hào theo kiểu Nho giáo Phẩm chất Phạm
Tử H “là ngời tuấn sảng hào mại, không a kiềm thúc Theo học nhà xử sĩ
Dơng Trạm, Trạm thờng răn Tử H về tính hay kiêu căng Từ đấy chàng
cố sức sửa đổi trở nên con ngời có đức tính tốt” Tử H là ngời học trò
trung hậu, mang trong mình phẩm chất “tôn s trọng đạo” luôn là học trò
tình nghĩa, không quên ân tình, tôn trọng những điều răn dạy của ng ờithầy đã tận tình dạy dỗ mình thành ngời tốt Đức tính cao cả, trung hậucủa Phạm Tử H đợc thể hiện ở chỗ sau khi thầy Dơng Trạm mất thì các
học trò khác tản đi hết còn Phạm Tử H thì “làm lều ở mả để chầu chực,
sau ba năm rồi mới trở về” Đó là ngời học trò có đức, luôn biết ơn ngời
dạy dỗ, giữ đạo lý làm ngời và không nản chỉ quyết tâm học tập đènsách, kế nghiệp thầy Vì tấm lòng trung hậu, tình nghĩa, một lòng thờthầy nên cuối cùng Phạm Tử H đợc đền đáp xứng đáng lên chơi Thiên tào
và thi đỗ ra làm quan giúp dân, “rồi phàm những việc cát hung họa phúc
nhà Tử H, thờng đợc thầy báo cho biết” Qua nhân vật Phạm Tử H tác giả
khuyên con ngời sống giữ đạo lý làm ngời nh lời khuyên cuối truyện “
ngay việc Phạm Tử H lên chơi trời để dùng khuyên những ngời trung hiếu với thầy lại có thể răn những kẻ bất hiếu với thầy ” Sống phải có
nhân nghĩa trớc sau nh một, không quên ngời đã dạy dỗ mình Còn DơngTrạm là ngời thầy tốt, phúc hậu, luôn dạy con ngời những điều hay lẽ
phải, sống biết giữ điều tín nghĩa với thầy bạn “ quý trọng những tờ giấy