công cuộc bình Ngô và công cuộc dựng nước yên dân thì có những phươngchâm và phương hướng mong muốn không giống nhau” [51, 161-162 ].Trong bài viết nhan đề Nguyễn Trãi, GS Đặng Thai Mai
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
lê Thị Huyền
hình tợng lê lợi trong văn chơng của nguyễn trãi
Luận văn thạc sĩ Ngữ vănChuyên ngành: Lý luận văn học
Trang 2Để có được chiến thắng vĩ đại xứng đáng lưu danh thiên cổ ấy chúng takhông thể không nhắc đến tên tuổi của người anh hùng Lê Lợi, vị lãnh tụ tốicao của nghĩa quân Lam Sơn Ông là một thiên tài quân sự, một anh hùng cứunước lớn của dân tộc, là người đã kết tinh trí tuệ, nghị lực và tâm hồn ViệtNam Hình tượng Lê Lợi từ lâu đã trở thành đối tượng nhận thức và phản ánhcủa văn học Ông xuất hiện trong nhiều truyền thuyết, cổ tích, giai thoại được lưu truyền phổ biến trong dân gian và trở thành nguồn cảm hứng phongphú cho rất nhiều tác giả sống cùng thời và cả sau này nữa.
1.2 Trong số những nhà văn, nhà thơ viết về người anh hùng Lê Lợi,Nguyễn Trãi là người viết nhiều nhất và có những cống hiến nổi bật nhất.Điều này do nhiều nguyên nhân Như chúng ta đã biết, Nguyễn Trãi đã tớiLam Sơn ngay từ buổi đầu của cuộc khởi nghĩa và đã cùng Lê lợi nhen nhómphong trào cứu nước Ông cũng đã dự hội thề Lũng Nhai lịch sử, có mặt trongnhững ngày nghĩa quân dựng cờ khởi nghĩa và sau đó luôn luôn ở bên cạnh
Lê Lợi để cùng bàn mưu, tính kế lãnh đạo cuộc chiến tranh giải phóng chođến ngày thắng lợi Viết về Lê Lợi, Nguyễn Trãi có những điều kiện chủ quan
và khách quan thuận lợi Trong cảm nhận của Nguyễn Trãi, Lê Lợi là biểutượng của khí phách anh hùng và là khát vọng phồn vinh của dân tộc ViệtNam đầu thế kỷ XV
Đến Nguyễn Trãi, khi xây dựng hình tượng người anh hùng Lê Lợi,không những ông đã đem truyền thống anh hùng vào văn học và dùng vănhọc phát huy truyền thống ấy lên; hơn thế nữa ông đã sáng tạo nên hình tượngngười anh hùng giải phóng dân tộc với tất cả lý tưởng, phẩm chất cốt cách,đạo đức có tính đặc thù của nó Đó là một đóng góp của Nguyễn Trãi vàotruyền thống thể hiện nhân vật anh hùng trong văn học Việt Nam
Tác phẩm của Nguyễn Trãi bao gồm nhiều thể loại từ thư từ, cáo, chiếubiểu, văn thực lục cho đến thơ và phú Vì vậy khi nghiên cứu hình tượng LêLợi trong các loại văn bản văn chương của cùng một tác giả chúng ta sẽ nhận
Trang 3thức được những đặc điểm chung và những đặc điểm cá biệt của các thể loạikhi thể hiện cùng một nhân vật
1.3 Các tác phẩm có hình tượng Lê Lợi được Nguyễn Trãi sáng tạotrong một thời gian dài Vì thế tư tưởng và tình cảm của tác giả với đối tượngnày có nhiều biến đổi Nghiên cứu hình tượng Lê Lợi sẽ giúp chúng ta hiểuđược diễn trình tư tưởng, tình cảm của Nguyễn Trãi với nhân vật lịch sử lỗilạc này
1.4 Một số tác phẩm của Nguyễn Trãi được dạy học ở trong nhà trườngtrong đó có hình tượng Lê Lợi Nghiên cứu đề tài này chúng tôi mong rằng sẽgóp phần dạy học tốt hơn các tác phẩm đó
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Vấn đề nghiên cứu hình tượng Lê Lợi trong văn chương NguyễnTrãi cũng đã được một số tác giả quan tâm
Ở chương VI của cuốn Nguyễn Trãi - khí phách và tinh hoa của dân
tộc khi bàn về tình nghĩa quân thân trong sáng tác của Nguyễn Trãi, các tác
giả đã có những phát hiện về mối quan hệ giữa Nguyễn Trãi và Lê Lợi khátinh tế Họ nhận thấy mối quan hệ này “có sự chuyển biến từ giai đoạn BìnhNgô sang giai đoạn sau Bình Ngô cả về hình thức lễ giáo và về nội dung tưtưởng” Lý giải điều này, nhóm tác giả của cuốn sách cho rằng: “ Thực tiễnmười năm chiến đấu cứu nước gắn chặt hai người anh hùng dân tộc với nhau.Mục tiêu chung đòi hỏi và đảm bảo sự nhất trí trong các chủ trương và hànhđộng Vào thành Đông Quan rồi, triều đình được dựng lên rồi, quãng cáchgiữa hai người rộng hơn khi ở trên chòi quan sát và chỉ huy ở bến Bồ Đề.Trong công cuộc “triệu tạo” một quốc gia mới, đã bắt đầu thấy có khe hở
trong tư tưởng Sau Bình Ngô đại cáo nói tiếng nói của Lê Thái Tổ, có bài
Chí Linh sơn phú bộc bạch tư tưởng của Ức Trai Đọc hai tác phẩm có thể
thấy ngay suốt gần mười năm chống giặc cứu nước, sự đồng tâm nhất trí như
là một khối đá hoa cương nguyên vẹn Nhưng ở phần cuối nói đến sự kết thúc
Trang 4công cuộc bình Ngô và công cuộc dựng nước yên dân thì có những phươngchâm và phương hướng mong muốn không giống nhau” [51, 161-162 ].
Trong bài viết nhan đề Nguyễn Trãi, GS Đặng Thai Mai đã có những
nhận xét xác đáng về nguyên nhân sâu xa của những vần thơ Nguyễn Trãi viết
về Lê Lợi: “ Cái đẹp của non sông, đất nước trong thơ Nguyễn Trãi thườngthường là gắn chặt với những trang sử vẻ vang của dân tộc Và thời đại củaNguyễn Trãi cũng lại là một thời đại mà dưới sự lãnh đạo của cuộc khởi nghĩaLam Sơn, nhân dân Việt Nam bằng nước mắt, mồ hôi, bằng máu, bằng trí tuệ
và nghị lực của hàng triệu con người vừa viết nên một trang sử vô cùng anhdũng và huy hoàng Rất dễ hiểu là tất cả lời ca ngợi chiến thắng đều biểu hiệndưới hình thức những bài thơ tán tụng Lê Thái Tổ Trong tâm hồn của thờiđại, Lê lợi chính là nhân vật truyền kỳ đã thể hiện ước mong và ý chí của dântộc Đối với Ức Trai, cuộc gặp gỡ với Bình Định Vương trước sau vẫn là mộtmối duyên tri ngộ của một tài trí được một nhà vua anh minh tín nhiệm”[46,47 ]
Ngoài ra ở một số tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Trãi mà hình tượng
Lê Lợi được xây dựng một cách tập trung và rõ nét như: Bình Ngô đại cáo,
Phú núi Chí Linh thì khi khai thác giá trị của tác phẩm các nhà nghiên cứu
đều nhắc đến hình tượng này
Trong cuốn Giảng văn văn học Việt Nam khi khái quát Cảm hứng về
cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, về tinh thần quyết chiến, quyết thắng của quân dân Đại Việt ở bài Bình Ngô đại cáo, nhóm tác giả của cuốn sách đã chỉ rõ ý đồ
nghệ thuật của Nguyễn Trãi khi ông tập trung khắc họa hình tượng Lê Lợi:
“Lúc Nguyễn Trãi viết Bình Ngô đại cáo, Lê Lợi đã trở thành hoàng đế với
vương miện rực rỡ hào quang chiến thắng, cần phải tái hiện lại hình tượng LêLợi buổi đầu khởi nghĩa, vẫn là để ngợi ca nhưng không quá mức thành ra xuphụ Trong hình tượng Lê lợi, có sự thống nhất giữa con người bình thường
và lãnh tụ cuộc khởi nghĩa Qua sự tái hiện hình tượng Lê Lợi - con người
Trang 5bình thường và người anh hùng - tác giả đã phần nào nói lên tính chất nhândân của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn [36,146].
Khi so sánh bốn bài phú chữ Hán của bốn tác giả (cùng thời với Lê
Lợi) cùng viết về đề tài núi Chí Linh, các tác giả cuốn Văn học Việt Nam - thế
kỷ X - nửa đầu thế kỷ XIX đã có những nhận xét khá sâu sắc về điểm tương
đồng giữa chúng: “ sự nhất trí về tư tưởng kết hợp với sự đa dạng về phongcách Các tác giả tất nhiên hết ý ca ngợi Lê Lợi, nhưng qua đó lại đã ca ngợi
sự nghiệp kháng chiến của của dân tộc Địa linh, nhân kiệt, đất thiêng, ngườigiỏi, đó là luận điểm chủ đạo của cả bốn bài phú Núi Chí Linh là đất thiêng,
Lê Lợi là người giỏi, địa linh, nhân kiệt gắn bó với nhau mà tạo nên sự nghiệp
lớn” [19,209] Hơn thế, tác giả của bài viết này còn chỉ ra điểm khác biệt thể
hiện tài năng của người lãnh đạo văn đàn - Nguyễn Trãi- so với các tác giảkhác khi họ cùng so sánh sự nghiệp cứu nước vĩ đại của Lê Lợi với ViệtVương Câu Tiễn thời Xuân Thu và Lưu Bang đời Tần Nguyễn Trãi khôngnhững đã thấy: “ nếu so về ý chí, về tài năng về đức lớn thì Câu Tiễn và LưuBang không thể sánh kịp Lê Lợi” mà ông còn “chia làm hai nấc để đưa lời cangợi ấy lên cao dần : trước hãy khẳng định rằng Câu Tiễn không thể sánh vớiđại độ của Lê Lợi, sau đó mới tiến lên chứng minh rằng Lưu Bang cũngkhông thể so được với thịnh đức của Lê Lợi”[19, 210]
Tác giả Bùi Duy Tân trong bài Anh hùng và cảm quan anh hùng qua
thơ văn Nguyễn Trãi đã cho người đọc thấy Nguyễn Trãi dù không trực tiếp
phát biểu quan niệm của mình về người anh hùng nhưng “Qua những dòngviết về người anh hùng, nhất là qua việc phản ánh cuộc kháng chiến chốngMinh và ca ngợi Lê Lợi - một siêu anh hùng, một đại anh hùng, một chân chủcủa dân tộc - Nguyễn Trãi cũng đã khẳng định nhiều phẩm chất cao cả củachủ nghĩa anh hùng và nhân vật anh hùng Nổi bật là chí lớn, tài cao trong sựnghiệp giải phóng đất nước, biết giấu chí, đợi thời, chịu đựng gian khổ, khắcphục hiểm nguy, quyết chiến, quyết thắng, son sắt một lòng, tin tưởng tuyệt
Trang 6đối vào nghĩa lớn tất thắng Tức là khẳng định lý tưởng và phẩm chất ngườianh hùng giải phóng mà văn học trước thời Nguyễn Trãi chưa hề có”[45,443].
Cũng tác giả Bùi Duy Tân trong bài viết Nguyễn Trãi - nhà văn chính
luận kiệt xuất đã khẳng định những đóng góp của Nguyễn Trãi vào truyền
thống thể hiện nhân vật anh hùng ở mảng văn chính luận Tác giả đã đưa ranhững cơ sở đầy sức thuyết phục để chứng minh cho luận điểm của mìnhrằng: “Đến Nguyễn Trãi thì chỉ riêng văn chính luận, đã có thể đủ cho ta hìnhdung rõ nét hơn một loại anh hùng mới: anh hùng giải phóng dân tộc Lê Lợitrong văn chính luận Nguyễn Trãi là biểu tượng tuyệt đẹp về người anh hùng.Nguyễn Trãi là người ca ngợi hay nhất, đánh giá đúng nhất con người và sựnghiệp của Lê Lợi Viết về Lê Lợi, Nguyễn Trãi không phải là một bầy tôi lotán dương nhà vua mà là một nhà văn chiến sĩ ca tụng một lãnh tụ tối cao củanghĩa quân, một lãnh tụ của cả phong trào đấu tranh giải phóng đất nước đầuthế kỷ XV.Với Nguyễn Trãi, lần đầu tiên, chân dung một thiên tài chính chị
và quân sự, một anh hùng bậc nhất, tiêu biểu của một dân tộc anh hùng đượcthể hiện bằng văn chính luận [45, 145-146]
Như vậy qua các công trình nói trên chúng tôi thấy vấn đề hình tượng
Lê Lợi trong văn thơ Nguyễn Trãi đã từng bước được nghiên cứu Tuy nhiênphần lớn các công trình nghiên cứu mới chỉ đề cập đến hình tượng Lê Lợi với
tư cách là nhân vật trữ tình xuất hiện trong tác phẩm của Nguyễn Trãi chứchưa phải là khách thể tinh thần của đời sống mà hơn nữa đó lại là một nhânvật có thật trong lịch sử Vì thế chưa có một cái nhìn thật đầy đủ, toàn diện vàsâu sắc về hình tượng người anh hùng của dân tộc, người đã làm nên một mốcson chói lọi trong lịch sử của dân tộc ta ở thế kỷ XV, được tác giả NguyễnTrãi phản ánh một cách đặc sắc trong suốt chiều dài sáng tác của mình, ởnhững thể loại khác nhau
Trang 72.2 Hình tượng nhân vật (tiếng Anh là image, tức là hình ảnh, phản
hình ở trong gương) Theo Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, Trần
Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) hình tượng là sản phẩm củaphương thức chiếm lĩnh, thể hiện và tái tạo hiện thực theo quy luật của tưởngtượng và hư cấu nghệ thuật
Người nghệ sĩ sáng tạo ra tác phẩm là để nhận thức và cắt nghĩa đờisống nhằm thể hiện tư tưởng và tình cảm của chính mình, giúp con người thểnghiệm ý vị của cuộc đời và lĩnh hội mọi quan hệ có ý nghĩa muôn màu muôn
vẻ của bản thân và thế giới xung quanh Nhưng điều khác với các nhà khoahọc, người nghệ sĩ không diễn đạt trực tiếp ý nghĩ và tình cảm bằng khái niệmtrừu tượng, bằng định lý, công thức mà bằng hình tượng, nghĩa là bằng cách
cụ thể và gợi cảm những sự việc, những hiện tượng đáng làm ta suy nghĩ vềtính cách và số phận, về tình đời, tình người qua một chất liệu cụ thể
Có thể nói, hình tượng nhân vật nói riêng, hình tượng nghệ thuật nóichung chính là khách thể đời sống được nghệ sĩ tái hiện bằng tưởng tượng,được sáng tạo trong những tác phẩm nghệ thuật Giá trị trực quan độc lập làđặc điểm quan trọng của hình tượng nhân vật Bằng chất liệu cụ thể, nó làmngười ta có thể ngắm nghía, thưởng ngoạn và tưởng tượng Hình tượng có thểtồn tại qua chất liệu vật chất, nhưng giá trị của nó là ở phương diện tinh thần.Khi nói tới hình tượng nhân vật, người ta thường nghĩ tới hình tượng conngười hay hình tượng một tập thể người với những chi tiết biểu hiện cảm tínhphong phú
Hình tượng nhân vật tái hiện đời sống nhưng không phải sao chép mộtcách nguyên xi những hiện tượng có thật mà là tái hiện có chọn lọc, sáng tạothông qua trí tưởng tượng và tài năng của người nghệ sĩ, sao cho các hìnhtượng truyền lại được một cách ấn tượng sâu sắc và từng làm cho nghệ sĩ daydứt, trăn trở cho người khác Hình tượng nhân vật vừa có giá trị thể hiệnnhững nét cụ thể, cá biệt, không lặp lại, vừa có khả năng khái quát làm bộc lộ
Trang 8được bản chất của một loại người hay một quá trình đời sống theo quan niệmcủa nghệ sĩ Hình tượng nhân vật thể hiện tập trung các giá trị nhân học vàthẩm mỹ của nghệ thuật
Vì những lẽ trên, cấu trúc của hình tượng nhân vật bao giờ cũng là sựthống nhất cao độ giữa các mặt đối lập: chủ quan và khách quan, lý trí và tìnhcảm, cá biệt và khái quát, hiện thực và lý tưởng, tạo hình và biểu hiện, hữuhình và vô hình Và cũng chính vì lẽ đó mà hình tượng còn là một quan hệ xãhội – thẩm mỹ vô cùng phức tạp Trước hết là quan hệ giữa các yếu tố vàchỉnh thể của bức tranh đời sống được tái hiện qua hình tượng Thứ đến làquan hệ giữa thế giới nghệ thuật với thực tại mà nó phản ánh Về phương diệnnày, hình tượng không chỉ tái hiện đời sống mà còn cải biến nó để tạo ra mộtthế giới mới chưa từng có trong hiện thực Đó còn là quan hệ giữa tác giả vớihình tượng, với cuộc sống trong tác phẩm Một mặt, hình tượng là hình thức,
là ký hiệu của một tư tưởng tình cảm, một nội dung nhất định, là sản phẩmsáng tạo của nghệ sĩ Mặt khác, hình tượng lại là một khách thể tinh thần cócuộc sống riêng không phụ thuộc vào mong muốn Và cuối cùng là quan hệgiữa tác giả, tác phẩm với công chúng của nghệ thuật, giữa hình tượng vớingôn ngữ của một nền văn hóa
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Chúng tôi tìm hiểu: hình tượng Lê Lợi trong văn chương Nguyễn Trãi,qua đó chỉ ra những điểm chung và những điểm cá biệt ở các tác phẩm củaNguyễn Trãi thuộc các thể loại khi thể hiện cùng một nhân vật
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, chúng tôi đã nghiên cứu di sản văn thơ của Nguyễn
Trãi được tập hợp trong cuốn Nguyễn Trãi toàn tập tân biên ( Mai Quốc Liên
chủ biên, Nxb Văn học và Trung tâm nghiên cứu Quốc học, 2001) Đây là
Trang 9công trình mới nhất, đầy đủ, toàn diện nhất về sự nghiệp văn chương củaNguyễn Trãi, được các nhà nghiên cứu sử dụng khá nhiều bởi độ tin cậy cao.
5 Phương pháp nghiên cứu
Người ta thường nói đối tượng nào thì phương pháp ấy bởi vì phươngpháp nghiên cứu là con đường để đi tới mục đích khoa học Để hoàn thànhmục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra, chúng tôi đã sử dụng nhiều phươngpháp để nghiên cứu: phương pháp thống kê, phương pháp phân loại, phươngpháp phân tích, phương pháp so sánh
6 Cấu trúc của luận văn:
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Nội dung chính của luận văn đượctrình bày trong 3 chương:
Chương 1 Hình tượng Lê Lợi trong văn chính luận
Chương 2 Hình tượng Lê Lợi trong văn thực lục
Chương 3 Hình tượng Lê Lợi trong phú và thơ
Chương 1 HÌNH TƯỢNG LÊ LỢI TRONG VĂN CHÍNH LUẬN
1.1 Hình tượng Lê Lợi trong Quân trung từ mệnh tập
1.1.1 Hoàn cảnh ra đời của Quân trung từ mệnh tập
Quân trung từ mệnh tập là một tập văn chiến đấu khá có hệ thống mà
Nguyễn Trãi viết thay cho Lê Lợi nhưng với tất cả bầu nhiệt huyết, với tất cả
Trang 10sự mẫn tiệp của mình Đọc Quân trung từ mệnh tập không phải chúng ta chỉ
đọc một tập văn bình thường mà chúng ta còn hình dung được cả một thời kìchiến đấu oanh liệt của quân và dân ta thời khởi nghĩa Lam Sơn
Quân trung từ mệnh tập (Tập văn từ lệnh trong quân) là tập văn chữ
Hán gồm những bức thư Nguyễn Trãi viết trong thời gian tham gia nghĩaquân Lam Sơn, gửi các tướng lĩnh cao cấp nhà Minh như: Sơn Thọ, PhươngChính, Thái Phúc, Vương Thông , ngoài ra còn có một số gửi cho nguỵquan, nguỵ quân và một số gửi cho tướng sĩ ta Nhân danh Lê Lợi, NguyễnTrãi tranh luận bàn bạc với các tướng viễn chinh nhà Minh về những việc liênquan đến cuộc chiến tranh, liên quan đến hai quốc gia và dân chúng hai nước.Mục đích trực tiếp là thuyết phục các thành ra hàng, tiến đến bãi binh hoàntoàn, rút quân về nước, thừa nhận nền độc lập tự chủ của Đại Việt Ngoài racòn có biểu cầu phong, văn hội thề kết thúc chiến cuộc cùng thư từ kêu gọicác tướng sĩ và hào kiệt trong nước hăng hái tham gia lập công giết giặc
Những lá thư đầu tiên được viết vào những năm 1423-1424, đây là thời
kì mà lực lượng khởi nghĩa đang lâm vào tình thế nguy ngập Trước một quânđịch quá lớn và sau mấy năm chiến tranh gian khổ, mấy nghìn quân khởinghĩa luôn bị bao vây, truy kích Quân Lam Sơn cũng đã ghi được những trận
vẻ vang, nhưng tổn thất cũng khá lớn Thiếu thốn và đói khát, đến mức quân
sĩ cũng mong được nghỉ ngơi Bình Định Vương đành phải tìm một dịp hoàhoãn Mấy lá thư đầu tiên thực sự là những lá thư cầu hoà Những bọn tướnglĩnh nhà Minh như Phương Chính còn cậy ở ưu thế quân sự của chúng nên đãgạt bỏ mọi đề nghị của Bình Định Vương trong cuộc đấu bút
Tiếp theo, khi lực lượng khởi nghĩa Lam Sơn đã sang thế công và đã cóthể uy hiếp quân địch trên khắp các địa điểm từ Nam đến Bắc, thì mục tiêucuộc đấu tranh ngoại giao cũng khác Thư từ gửi bọn Phương Chính hồi này
rõ ràng có ý thách thức kẻ địch Còn đối với những tướng lĩnh nhà Minh thì
Trang 11trước hết là dụ dỗ bọn chúng nên giảng hoà, nên đầu hàng để khỏi bị tiêu diệthoàn toàn.
Giai đoạn cuối là kết thúc của cuộc đấu gồm những bức thư gửi chotổng binh Vương Thông Thư viết cho Vương Thông nhiều (gần 20 thư) Điều
đó chứng tỏ tính chất gay go của cuộc đấu tranh ngoại giao trong lúc này.Nhưng cuối cùng Vương Thông cùng thuộc hạ đã phải cúi đầu nghe theo lờinói của chính nghĩa để có thể rút tàn quân về nước Cuộc đấu đã kết thúc vớinhững thắng lợi hoàn toàn vẻ vang trong cuộc đấu tranh gian khổ kéo dài hơn
10 năm
Về số lượng bức thư trong Quân trung từ mệnh tập có nhiều ý kiến khác nhau Vì cũng như phần lớn thơ văn khác của Nguyễn Trãi, Quân trung
từ mệnh tập chắc đã bị tán lạc sau thảm hoạ tru di Nguyễn Trãi Mãi đến năm
1467, theo lệnh vua Lê Thánh Tông, Trần Khắc Kiệm mới bỏ sức sưu tầm lạitác phẩm của Nguyễn Trãi và không chắc những gì được công bố sau hơn 10năm tìm tòi của Trần Khắc Kiệm là còn đủ Hơn thế nữa, từ Trần Khắc Kiệm
cho đến 1868, là thời gian Quân trung từ mệnh tập được Dương Bá Cung cho
khắc in đã có ngót 400 năm Với bao nhiêu biến động lịch sử đã diễn ra, di
sản khó còn nguyên vẹn Theo Từ điển văn học: “Nếu chỉ căn cứ vào Ức Trai
di tập của Dương Bá Cung thì Quân trung từ mệnh tập gồm 42 văn kiện.
Nhưng trong một phần khác, phần “Văn loại”, của chính bộ sách Dương BáCung, thấy có 11 văn kiện nữa cũng thuộc loại thư, biểu gửi cho bọn tướng tá
giặc nhà Minh Trong một bản Ức Trai di tập khác, của Phạm Lý, chép tay,
có thêm 6 văn kiện nữa Rồi Trần Văn Giáp lại phát hiện thêm 12 văn kiện
mới trong cuốn Hoàng Lê hoàng các di văn và 5 văn kiện trong cuốn Hoàng
triều dữ Minh nhân vãng phục thư (cũng gọi Lê triều dữ Bắc triều vãng phục thư) Chung quy lại nếu tính hết các sách hiện còn thì số lượng thư từ ngoại
giao được bản doanh Lê Lợi khởi thảo trong cuộc kháng chiến chống Minh
Trang 12phải có đến trên 75 bức Có thể nói đó mới là con số đầy đủ nhất hiện nay của
Quân trung từ mệnh tập [34, 479]
1.1.2 Đặc điểm thể loại
Thư từ là hình thức giao thiệp bằng bút Mà giao thiệp là cả một nghệthuật Trong ngoại giao, giao tiếp bằng miệng hay bằng bút cũng là một cuộcchiến đấu chính trị Văn học Trung Quốc từ xưa vẫn xem trọng khoa từ mệnh.Khổng Tử đã đánh giá cao người có tài biện luận, biết ăn nói và không làmnhục mệnh nhà vua trong khi đi sứ bốn phương
Quân trung từ mệnh tập gồm những bức thư gửi cho giặc để chủ động
tấn công chúng trên mặt trận ngoại giao, phối hợp nhịp nhàng với tấn côngquân sự Nguyễn Trãi thấu hiểu nhân tố con người trong chiến tranh nên đãvận dụng chiến lược tâm công Sức mạnh của các bức thư là kết hợp chínhnghĩa với lòng nhân đạo, mưu mẹo và chủ nghĩa anh hùng, nói theo ngôn ngữđương thời là sức mạnh của nhân, trí, dũng Những bức thư đã phối hợp nhịpnhàng với các chiến công trên mặt trận quân sự, làm cho kẻ thù thêm hoangmang, suy sụp nhanh chóng
Cho đến thế kỷ XV, đây là tập văn từ mệnh quy mô nhất Số phận củatập văn cũng chìm nổi như số phận của tác giả Có thể bộ phận nào đó đã thấtlạc, nhưng căn cứ vào số hiện còn cũng có thể thấy đây là tập văn từ mệnhdày dặn, chứng tỏ Nguyễn Trãi kiên trì sử dụng cây bút như cây đao (ông gọi
là đao bút) trong cuộc chiến đấu Điều này xuất phát từ chiến lược mưu phạt, tâm công mà Nguyễn Trãi luôn kiên trì Quân trung từ mệnh tập là mẫu mực
của sự kết hợp trí thuật với thực lực
Ta thấy, giá trị của thư từ nói chung và của Quân trung từ mệnh tập nói
riêng là ở nội dung đích thực của nó Để thể hiện được những nội dung khác
nhau, cũng cần phải có những hình thức nghệ thuật phù hợp Ở Quân trung từ
mệnh tập, phương pháp lập luận chặt chẽ (bao gồm cả cách chọn lọc từ ngữ
Trang 13và kết cấu tác phẩm) chính là các hình thức nghệ thuật quan trọng làm nênsức thuyết phục trong các bức thư của Nguyễn Trãi.
Ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt ra, phần lớn các bức thư của
Nguyễn Trãi trong Quân trung từ mệnh tập đều có cùng một mô hình, một
kiểu kết cấu rất đúng quy phạm, gồm ba phần: phần đầu, phần giữa, phần kếtluận Đầu thư, bao giờ Nguyễn Trãi cũng đề xuất một luận điểm dưới dạngnguyên lí Nhưng vấn đề là ở chỗ, phải đề xuất luận điểm nào để đối phương
dù không muốn cũng khó bắt bẻ? Người ta thấy hầu hết các luận điểm củaNguyễn Trãi đều xuất phát từ ba cơ sở chủ yếu:
Thứ nhất là những khái niệm đạo đức Nho giáo đã được hai bên côngnhận Thứ hai là những chân lí khái quát rút ra từ thực tế đời sống Thứ ba lànhững vấn đề về chữ thời mà phần lớn các sách binh pháp xưa đều có đề cậpđến và người dùng binh nào cũng phải thấu hiểu
Trong luận điểm thứ nhất, Nguyễn Trãi thường nhấn mạnh vào mấyluận đề cơ bản: nhân, nghĩa, trí, tín Với Phương Chính, ông lặp đi lặp lại
“Phàm mưu việc lớn, phải lấy nhân nghĩa làm gốc Duy nghĩa có gồm đủ thìcông việc mới thành đạt được” Với Sơn Thọ, Vương Thông ông cũng nhắc:
“Lương ăn và quân có thể bỏ được, điều tín không thể bỏ được”
Luận điểm thứ hai, Nguyễn Trãi hay dùng lối nói bằng hình ảnh khiếnngười nghe, người đọc có thể hình dung ngay được điều ông muốn nói Ví dụ,
ở đầu bức thư số 42 gửi Vương Thông Nguyễn Trãi đưa ra luận điểm: “Kể cảnhà lớn gần xiêu, một cây gỗ khôn hay chống đỡ, đê dài sắp vỡ, một vốc đấtkhó thể duy trì Nếu không biết lượng sức mình mà cứ cưỡng làm, thì ít khikhông thất bại’’ Trong luận điểm này có hai thực tế: một cây gỗ không chốngnổi nhà xiêu, một vốc đất con không thể cứu được đê dài sắp vỡ Và hai thực
tế này có giá trị vạch đường cho Vương Thông biết: làm một việc quá sứcmình thì nhất định sẽ thất bại
Trang 14Loại luận điểm thứ ba, về chữ thời, thường được Nguyễn Trãi sử dụngtrong những bức thư viết vào khoảng gần cuối chiến cuộc Bấy giờ tình thế địch
đã cùng kiệt, nhưng chúng vẫn phân vân chưa quyết định giảng hoà vì còn chờviện binh, và cũng còn tin ở sức mạnh của bề trên Nguyễn Trãi đưa luận điểmchữ thời ra lúc này là để mở mắt cho chúng, giúp chúng nhìn thấy tình thế thựccủa chúng là thế nào, và một thái độ khôn ngoan thức thời là phải thế nào Có thểtìm thấy loại luận điểm này ở thư số 27 cho Đả Trung và Lương Nhữ Hốt, thư số
32 dụ thành Tam Giang; thư số 34, 35 dụ Vương Thông
Tuy các luận điểm đưa ra phần nhiều tập trung chủ yếu trên ba phươngdiện như đã nói như trên nhưng cách đặt vấn đề của Nguyễn Trãi không đơnđiệu mà rất đa dạng, sinh động Đặc biệt ngay khi đề xuất luận điểm, ôngcũng bộc lộ luôn thái độ của mình với đối tượng đọc thư Vì thế sức nặng ởmỗi bức thư thường bắt đầu từ những dòng chữ đầu tiên
Tóm lại, mỗi bức thư của Nguyễn Trãi trong Quân trung từ mệnh tập
đều bộc lộ một trình độ kiến thức chắc chắn, một khả năng tư duy sắc sảo Tấtnhiên đối với Nguyễn Trãi, tư duy luận lí khúc chiết không phải là một hìnhthái khô khan, tồn tại độc lập với tình cảm ở ông, có lúc tình cảm ẩn kín saucái lý, cũng có khi cái lý tan vào tình cảm Khi đó, chỉ còn trên mỗi trang thưmột giọng nói chân tình Điều này bộc lộ rõ nhất trong những thư từ, lệnhdụ gửi nguỵ quân, gửi binh sĩ của ta Do đó, người ta còn thấy: trongphương pháp lập luận của Nguyễn Trãi có hai nhân tố lớn luôn luôn đóng vaitrò chỉ đạo gần như ngang nhau, đó là một trình độ tư duy khoa học và một tưtưởng tình cảm lớn Tính chặt chẽ trong lập luận của ông là sự kết hợp nhuầnnhị của lôgíc khách quan và lôgíc tình cảm Đó là cái mạnh của ông trongsuốt quá trình đánh giặc bằng ngòi bút phục vụ cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
1.1.3 Hình tượng Lê Lợi
Trong bài viết nhan đề Nguyễn Trãi - nhà văn chính luận kiệt xuất, tác
giả Bùi Duy Tân cho rằng: “Lê Lợi là tác gia danh nghĩa và Nguyễn Trãi là
Trang 15tác gia thực sự của văn chính luận Nguyễn Trãi Giữa cái danh (Lê Lợi) và cáithực (Nguyễn Trãi) ở đây về cơ bản nếu không nói hoàn toàn, là thống nhất.Những vấn đề chính trị, xã hội trọng đại, cũng như chủ trương chính sách cụthể ở đây, thể hiện quan điểm của Nguyễn Trãi cũng là của Lê Lợi và ngượclại Song với tư cách là chủ thể sáng tạo, Nguyễn Trãi đã đồng thời thể hiệnquan điểm của mình đối với cá nhân Lê Lợi trong những áng văn chương đó.
Có thể khẳng định Nguyễn Trãi viết cho Lê Lợi nhưng cũng là viết về LêLợi” [45,147]
“Viết về Lê Lợi, Nguyễn Trãi không phải là một bầy tôi lo tán dươngnhà vua mà là một nhà văn chiến sĩ ca tụng một lãnh tụ tối cao của nghĩaquân, một lãnh tụ của cả phong trào đấu tranh giải phóng đất nước đầu thế kỷ
XV, một chân chủ của dân tộc, một anh hùng cứu nước, một thánh nhân cứuđời mà phẩm chất và đức độ có thể đem Nhị đế, Tam hoàng mà so sánh chứcác hạng vua chúa của thời cổ Trung Quốc như: Việt Câu Tiễn, Hán Cao Tổđều không đáng kể Kể ra ca ngợi Lê Lợi như thế thì có thể là hết lời Mà nhưthế lại chính là qua Lê Lợi ca ngợi các hào kiệt và những truyền thống caođẹp, trước hết là truyền thống yêu nước, truyền thống anh hùng và tinh thầnnhân đạo chủ nghĩa của dân tộc” [45,148] Đây là những nhận xét xác đángnhất về hình tượng Lê Lợi trong văn chính luận của Nguyễn Trãi nói chung
và trong Quân trung từ mệnh tập nói riêng Đọc Quân trung từ mệnh tập, người đọc sẽ khám phá được những vẻ đẹp khác nhau của hình tượng Lê Lợi.
1.1.3.1 Một con người giàu lòng yêu nước, luôn kiên định với lập trường nhân nghĩa
Xuyên suốt tác phẩm Quân trung từ mệnh tập, qua ngòi bút Ức Trai, ta
thấy nổi bật hình tượng một con người có lòng yêu nước nồng nàn và có thái
độ kiên quyết không đội trời chung với quân xâm lược Trên nhiều trang thư,Nguyễn Trãi đã biểu lộ nỗi lòng yêu nước của Lê Lợi Yêu nước trước hết đó
là sự xót thương đối với người dân phải chịu cảnh lầm than cơ cực dưới sự
Trang 16thống trị tàn bạo của giặc Minh: “Phương Chính, Mã Kỳ chuyên làm hàngược, sinh linh lầm than, thiên hạ ta oán, đào phần mộ ở ấp ta, bắt vợ con
của dân ta, người sống bị hại, người chết ngậm oan” (Thư số 35) Nhiều lúc
qua lời buộc tội bọn quan lại giặc Minh từ lớn đến bé, người ta thấy được nỗithống khổ của nhân dân và cũng là nỗi đau lòng của người chủ soái Lê Lợi:
“Trước vì tri huyện Đỗ Phủ là người đồng hương cùng tôi hiềm khích nó đútlót Tham Chính Lương Nhữ Hốt, nói vu cho tôi khinh mạn quan trên, cậymệnh mà chống lại mệnh trên, nếu không trị trước tất có lo sau Nhữ Hốt báovới quan Quản binh cùng Nội quan Mã Kỳ nhân đó cho quan quân đến đánh
úp bộ của chúng tôi, không kể trẻ già, đều bị chém giết, bắt bớ Họ hàng tôiđều tan tác, vợ con tôi đều chia lìa Lại khai quật mồ mả tổ phụ tôi mà phơi
bày hài cốt” (Thư số 1).
Yêu nước còn là niềm tự hào về nền văn minh, văn hiến lâu đời củanhân dân ta Trong hơn 20 năm xâm lược Việt Nam, giặc Minh đã thi hànhchính sách đồng hoá cực kì thâm độc, đốt phá nhiều tài sản văn hoá của ngườiViệt, mong biến họ thành những kẻ mất hết quá khứ lịch sử, để chúng dễ bềkhai hoá Vì thế chủ trương của Bình Định Vương Lê Lợi ở nhiều trang thư làphải dứt khoát bày tỏ thái độ, phải khẳng định sự khác biệt về nhiều mặt giữaNam và Bắc, chỉ cho bọn giặc thấy trình độ văn minh của nước ta không thuakém gì Trung Quốc và chúng đã ảo tưởng khi muốn dập vùi mọi truyền thốngtốt đẹp của nước ta “Thư bảo cho tướng hiệu quan viên cùng quân nhân trongthành Bắc Giang Ta nghe nói: người còn có kẻ Bắc, người Nam, nhưng đạothì chẳng thế này thế khác Nhân nhân quân tử không đâu là không có NướcNam ta tuy ở xa ngoài Ngũ lĩnh mà nổi tiếng là nước thi thư, những bậc trímưu, tài thức đời nào cũng có Vì thế, phàm những việc ta làm đều đúng theo
lễ nghĩa, hợp thời thuận người” (Thư số 31).
Với tư cách là một người trong cuộc hiểu về người trong cuộc, NguyễnTrãi đã dành những dòng ý nghĩa nhất để nói về cuộc chiến đấu của nghĩa
Trang 17quân và ca ngợi vị lãnh tụ tối cao của Lam Sơn Dưới ngòi bút của ông cuộckhởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi sáng ngời chính nghĩa, và vì đại nghĩa màđược khắp nơi hưởng ứng: “quân ta đi đến đâu, nghĩa thanh vang dậy, dân
chúng bốn phương cõng địu nhau mà đến theo ta” (Thư số 30) Xuyên suốt
Quân trung từ mệnh tập, Ức Trai đã cho chúng ta thấy rõ ngọn cờ chính nghĩa
mà Lê Lợi và nghĩa quân ta đã giương cao và luôn kiên định trong suốt cuộcchiến đấu chống quân xâm lược
Quan niệm chính nghĩa thắng gian tà là một quan niệm thông thườngkhông riêng gì trong nhân dân ta, mà ở khắp nhân dân trong thế gian từ cổ chíkim, từ Đông sang Tây Bởi thế dân ta lúc nào cũng noi theo nhân nghĩa, khácvới giặc tàn bạo, dối trời hại dân, phản lại nhân nghĩa Và chính vì noi theonhân nghĩa mà quân dân ta tất thắng, chính vì phản lại nhân nghĩa mà giặcMinh thất bại Đây là một trong những nội dung căn bản mà Nguyễn Trãi thaymặt Lê Lợi nhắc đi nhắc lại trong nhiều bức thư gửi cho tướng lĩnh nhà Minh,
rõ nhất là trong các bức thư gửi Phương Chính hoặc Vương Thông
Trong nhiều bức thư trả lời Phương Chính, Nguyễn Trãi đã thay mặt LêLợi khẳng định: “Phàm mưu việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm gốc, nên công
to phải lấy nhân nghĩa làm đầu Chỉ có gồm đủ nhân nghĩa thì công việc mới
xong xuôi” (Thư số 8); “Bảo cho mày ngược tặc Phương Chính biết: đạo làm tướng lấy nhân nghĩa làm gốc, trí dũng làm của ” (Thư số 5) “Bảo cho mày
ngược tặc Phương Chính biết: Ta nghe nói danh tướng trọng nhân nghĩa,khinh quyền mưu Bọn bay quyền mưu còn chưa đủ huống chi nhân nghĩa”
(Thư số 7).
Đối với Tổng binh Vương Thông, ngay từ những bức thư đầu tiên,Nguyễn Trãi đã nêu bật ý nghĩa chân chính của tư tưởng nhân nghĩa phải thểhiện ở lòng thương dân như: “ Quả thực có lòng thương xót dân chúng, thìhãy phái đầu mục đến ra lệnh cho họ đem quân về thì không những cứu sinh
Trang 18linh nước tôi khỏi cảnh lầm than, mà còn tránh cho quân binh Trung Quốc cái
khổ gươm giáo” (Thư số 9).
Sau đó ông còn thường xuyên nhấn mạnh trong các bức thư khác gửi
Vương Thông Chẳng hạn ở lá thư số 14: “Từ nay về sau, nếu có thể bỏ hẳn
lòng nghi hoặc, lại dốc lòng hoà hảo, thì dưới tránh được cảnh lầm than cho
An Nam, trên giải được sự nhọc mệt cho Trung Quốc, bốn biển đều yên, thiên
hạ may lắm” Hay như trong thư số 19: “ Nếu đúng như lời ấy (tức hoà hảo)
thì không riêng một nước Giao Chỉ được may, mà cũng là may lớn cho vạn
bang trong thiên hạ” Đặc biệt trong lá thư số 35, phía ta đã phân tích khá kỹ
tác dụng tích cực của tư tưởng chính nghĩa thắng gian tà và tính chất chínhnghĩa làm nên sức mạnh của đại quân Lê Lợi: “Nay tôi dấy nghĩa binh, trêndưới cùng lòng, anh hùng hết sức, quân sĩ càng luyện, khí giới càng tinh, vừacày ruộng lại vừa đánh giặc Còn quân sĩ trong thành thì đều mỏi mệt, tựchuốc bại vong”
Trong một số bức thư trả lời Lê Lợi, Vương Thông hay dẫn chứng quânđội Hồ Quý Ly bị quân Minh đè bẹp một cách dễ dàng Nguyễn Trãi liền viếtthư trả lời để phân tích rõ ý nghĩa của thời và thế của Hồ Quý Ly, hoàn toànkhác với thời và thế của Lê Lợi, bởi vì Hồ Quý Ly đã mất lòng dân nên dânkhông ủng hộ, còn Lê Lợi thì trái lại, được lòng dân, nên trên dưới như một
và dân như thế nào thì quân như thế ấy, vì quân cũng ở dân mà ra Do đó đoạncuối bức thư đã phê phán sự nhận thức hồ đồ về thời thế của Vương Thông:
“Tôi (chỉ Lê Lợi) cho rằng việc ngày nay với việc ngày trước khác nhau Họ
Hồ thì dối trá, hại dân mà tôi thì kính trời, thuận dân Vậy lẽ thuận nghịchkhông giống nhau là một Quân của họ Hồ trăm vạn người, trăm vạn lòng,còn quân của tôi bất quá vài mươi vạn nhưng ai cũng một bụng một dạ, lẽ đó
không gống nhau là hai” (Thư số 28).
Như vậy, nhuệ khí sắc bén, tinh thần đoàn kết vững chắc ý chí chiếnđấu bền bỉ của quân dân ta đều có nguồn gốc từ đại nghĩa dân tộc Còn giặc
Trang 19Minh mang các chiêu bài điếu dân, phạt tội, diệt Hồ, phục Trần để ăn cướpnước ta thì chẳng qua là một bọn lừa bịp, tất phải bại vong Bộ mặt phản nhân
nghĩa của chúng đã được vạch rõ trong nhiều bức thư Ví như ở thư số 8:
“Nước mày nhân dịp họ Hồ lỗi đạo, mượn tiếng điếu dân phạt tội, kỳ thựclàm việc bạo tàn, lấn cướp đất nước ta, bóc lột nhân dân ta, thuế nặng hìnhphiền, vơ vét của quý, dân mọn xóm làng không được sống yên Nhân nghĩa
mà lại thế ư?” Hay ở thư số 15, bộ mặt phản tín nghĩa của quân giặc cũng bị
bóc trần: “Tôi (Lê Lợi) nghe nói: điều tín là vật báu của nước, người ta không
có điều tín thì liệu lấy cái gì mà làm việc? Các ngài nếu thực không bỏ lờiước cũ, thì phàm làm việc gì cũng phải lợi hại rõ ràng Muốn rút quân thì cứrút quân, muốn cố giữ thì cứ cố giữ, hà tất phải ngoài thì nói giảng hoà màtrong thì mưu tính kế khác Đừng nên trước sau trái nhau, trong ngoài bất nhấtnhư thế ” Thái độ bất tín, trí trá của quân giặc đã làm Lê Lợi phẫn nộ:
“Trước đây bụng mưu giả trá, mặt thác giảng hoà, rồi cứ đào hào đắp luỹ,ngồi chờ viện binh Tâm tính không rõ, trong ngoài khác nhau, sao đủ khiến
cho ta chắc tin mà không ngờ được ” (Thư số 35).
Trái với quân địch giả nhân giả nghĩa và bất tín, quân ta lúc nào cũnggiữ vững chữ tín, trước sau như một, vẫn muốn thực hiện lời giao ước chođịch giảng hoà Trong hầu hết các bức thư gửi cho tướng giặc khi chúng đãthất thế, Lê Lợi đều cho biết thiện ý của quân dân ta sẵn sàng cung cấp mọiphương tiện, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tàn quân của Vương Thông rút
về nước yên ổn Và điều đó, sau này, quân ta đã thực hiện đúng như lời hứa
Đại Việt sử kí toàn thư cũng đã chép về đoạn Vương Thông, Sơn Thọ mang
quân ra ngoài thành đầu hàng như sau: “Lúc bấy giờ người trong nước vì đãchịu quá nhiều khổ cực do tội ác của giặc gây ra, nên kéo nhau đến xin vua(Lê Lợi) giết hết lũ giặc cho hả lòng căm giận Nhưng vua trả lời: “Phục thùbáo oán là thường tình của con người ta Nhưng không thích giết người đómới là bản tâm của bậc nhân giả Vả chăng người ta đã hàng mà mình lại giết
Trang 20đi, thì thật không còn gì là bất lương hơn nữa Huống hồ muốn cho hả giậntrong một lúc mà chịu mang tiếng “sát hàng” trong muôn đời, thì sao bằng đểsống ức vạn mạng người mà dứt mối chiến tranh về sau cho hai nước Sử sáchchép lại, nghìn thưở lưu thơm, há chẳng vẻ vang hay sao” Chúng ta thấy tưtưởng của Lê Lợi ở đây chính là kết tinh vẻ đẹp của truyền thống nhân đạocủa dân tộc ta.
1.1.3.2 Một nhà chiến lược tài ba, luôn kiên trì với đường lối tâm công
Tác giả Bùi Văn Nguyên trong bài viết Quân trung từ mệnh tập – tập
văn chiến đấu có ý nghĩa lịch sử quan trọng ở thế kỷ XV cho rằng: “Với quan
niệm chính nghĩa sáng ngời, đúng đắn, biện pháp chiến đấu của nghĩa quânLam Sơn không ngoài nghệ thuật “tâm công” như Nguyễn Trãi đã đúc kết
trong bài Bình Ngô đại cáo, Lê Lợi nói “chẳng đánh mà người chịu khuất, ta
đây mưu phạt tâm công” Nói “chẳng đánh” là chẳng đánh bằng vũ lực màgiải phóng được một số thành quan trọng, như thành Nghệ An, thành ĐôngQuan, chứ đánh bằng địch vận và ngoại giao thì liên tục, kể cả khi đã chiếnthắng hoàn toàn
Không riêng gì nhân dân ta, nhiều người dân Trung Quốc cũng đứng vềphía lập trường chính nghĩa Trên cơ sở thực tế đó, phía ta đã đạt được nghệthuật “tâm công” diệu kì: phân hoá cao độ kẻ địch ngay từ thời kì đầu cho đếnsuốt cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trãi dùng nghệ thuật hùng biện qua ngôn từ,vừa khéo léo khêu gợi tình cảm của giặc, vừa sắc bén thuyết phục lý trí củagiặc, tuỳ từng đối tượng phải đối đầu, ví dụ như bọn ác tướng khá xảo quyệtnhư Phương Chính, Sơn Thọ thì giọng văn mạnh mẽ đập thẳng vào tim đencủa chúng, hoặc như bọn đầu sỏ ngoan cố kiểu Trần Trí, Vương Thông, thìgiọng văn lúc cứng lúc mềm, bắt bẻ có tình có lý khiến chúng cứng họng vàlúng túng, còn đối với những người tỏ ra biết liêm sỉ, biết phân biệt phải trái,
dở hay, biết sức mạnh của chính nghĩa tất thắng như Thái Phúc thì giọng văn
Trang 21nhuần nhị, tình lý nên chăng, để cuối cùng cảm hoá được kẻ thù, chuyển thùthành bạn” [45,217].
Quả thật đối với loại tướng giặc hùng hổ, vô mưu nhưng lại hiếu chiến
và ngoan cố như Phương Chính và Liễu Thăng Lê Lợi ít khi chủ trương choNguyễn Trãi phải thuyết phục nhiều Đối với chúng, chỉ có đánh, và đánh saocho thật trúng, thật đau Thư từ viết cho chúng chính là nhằm khiêu khích, tạothời cơ cho quân ta giáng những đòn thật chí mạng xuống đầu chúng
Phương Chính là đô đốc, đã nhiều lần chỉ huy quân lính đàn áp nghĩaquân Lam Sơn Hắn là tên tướng võ biền khát máu, luôn chủ trương dùng vũlực để tiêu diệt quân ta Đầu năm 1425, Phương Chính đem binh vây căn cứnghĩa quân ở miền núi Nghệ An, hắn không dám tiến sâu vào núi rừng hiểmtrở, nhưng cũng không chịu lui, lại còn thách Lê Lợi ra đánh nhau ở chỗ đồngbằng đất phẳng Để sớm thoát khỏi tình trạng bị bao vây dẫn đến việc cạnnguồn lương thực, nghĩa quân mỏi mệt; lại nắm được tâm lý chần chừ và tính
sĩ diện hão của loại tướng vũ dũng như Phương Chính trước quân lính, bộtham mưu của ta đã quyết định: Một mặt, đánh một đòn tâm lý vào nội bộgiặc, dồn Phương Chính vào cái thế chần chừ là bất nhân bất nghĩa với cảđồng bọn: “Huống chi bây giờ, nước mùa xuân mới sinh, lam chướng bốcđộc, thế không thể chịu lâu được Nay mày nắm đại binh mà chỉ nấn ná không
tiến, khiến quân tướng nhiễm lam chướng mà chết, đó là tội ai?” (Thư số 5).
Mặt khác, ông đánh trúng ngay chỗ sĩ diện của Phương Chính: sợ rừng núikhông dám tiến chỉ là loại tướng xoàng: “Bảo cho mày ngược tặc PhươngChính: kể người dùng binh tài giỏi thì không có đâu là hiểm, đâu là khônghiểm, không có đâu là dễ, đâu là không dễ Thắng hay phụ là ở tướng chứkhông ở đất hiểm hay dễ Vào chỗ hiểm mà đánh nhau không khác gì hai con
hổ đánh nhau trong thung lũng, giỏi thì được, vụng thì thua Bởi vậy đấtkhông có hình thường nhất định, trận không có thế thường nhất định, sao lại
Trang 22phân biệt hiểm với dễ! Mày nếu không lui tất phải đem binh vào quyết chiến”
(Thư số 6).
Với loại tướng đầu sỏ như Trần Trí, Sơn Thọ và đặc biệt là VươngThông, bộ tham mưu Lê Lợi - Nguyễn Trãi đã phải mất nhiều thời gian côngphu đối đáp từ đầu cho đến phút cuối cuộc chiến
Thực hiện chủ trương sáng suốt của Lê Lợi và bộ tham mưu, các bứcthư Nguyễn Trãi gửi Vương Thông luôn dùng nhiều tri thức kinh điển, xưng
hô nhã nhặn chứ không thể xô bồ gọi y như gọi Phương Chính: “Kính đạtngài Tổng binh” hoặc “Tổng binh quan Vương đại nhân” Nhưng cũng không
vì sự trang nhã mà phải hi sinh cả cái quyền được bộc lộ thái độ đối với kẻthù cho nên đôi khi cũng phải thay đổi cách xưng hô một chút, đủ cho kẻ thùhiểu rằng mình đã quá kiên nhẫn: “Thư bảo cho Tổng binh ngươi biết Cổnhân có nói: “Giặc đến lúc cùng, chớ nên đuổi bức” Nay ta đem ba bốn mươivạn quân vây bốn thành của ngươi, chỉ e chim cùng mổ, thú cùng vồ, cho nên
ta không đem quân toàn thắng cùng quân tất tử, để tranh thắng với lũ trẻ con
vậy ”(Thư số 39) Thậm chí khi hắn bội tín, phía ta cũng không ngại đả kích
mạnh mẽ: “Tôi nghe có người đem chim cắt và chó săn vào rừng, bủa lướichài xuống chằm mà bảo người ta rằng tôi không phải là người đi săn, làngười đánh cá Như thế thì dẫu dài mồm ba thước mà nói cũng không tự biện
giải được” (Thư số 26).
Nghệ thuật đánh vào lòng người (tâm công) trong Quân trung từ mệnh
tập cũng bộc lộ rõ trong những thư gửi loại tướng lĩnh cấp thấp hoặc có nhiều
bất mãn với quan trên và triều đình nhà Minh, tiêu biểu là Thái Phúc
Đây là một tướng giỏi của nhà Minh, vừa có kiến thức, thông hiểu vănnghĩa vừa có tài cầm quân, buổi đầu sang ta, đã lập được công trạng cho nhàMinh Tuy nhiên, ông thường bị bọn quyền thần chèn ép, tranh công rồi lại bịVương Thông lừa đem vào những nơi đầy khó khăn nguy hiểm như thànhNghệ An ở núi Hùng Sơn thay cho Phương Chính Lê Lợi sai người tìm hiểu
Trang 23khá kỹ sự nghiệp và hoàn cảnh của ông rồi sai Nguyễn Trãi viết thư thuyếtphục ông.
Qua thư từ đi lại, Thái Phúc đã dần dần thức tỉnh, từ đáy lương tâm củamình, rồi nghe theo tiếng nói của chính nghĩa, đứng hẳn về phía ta, chẳngnhững gương mẫu trả thành Nghệ An cho ta, mà còn giúp nghĩa quân đithuyết phục khá có hiệu quả tướng tá nhà Minh đóng ở các thành khác nhưDiễn Châu, Tân Bình, Điêu Diêu, Lê Lợi đã không quên công lao của ông.Trong lá thư Nguyễn Trãi thay mặt Lê Lợi gửi cho Thái Phúc, từ lời xưng hôđến lời ca ngợi đều thể hiện sự xúc động chân tình: “Kính gửi hiền huynhThái công, Đệ ngụ ở Đông Quan, nghe tin hiền huynh đã ra cửa thành bái yếtTrần chúa chúng tôi, đáng mừng lắm lắm Từ đây giải binh, khiến nước Namđược thoát cái khổ can qua, thật may làm sao! Có thể gọi là bậc quân tử biết
thời cơ vậy! Ân tình rất hậu, trăm năm không thể quên được ” (Thư số 11).
Cho đến khi lễ hội thề kết thúc, Thái Phúc xin về nước, Lê Lợi lại choviết một lá thư khẩn khoản khuyên ông ở lại giúp nhà Lê Trong thư ngườiviết không ngại vạch cho Thái Phúc mọi điều hơn lẽ thiệt kể cả tình hình rốirắm của đất nước Trung Hoa Rất tiếc là Thái Phúc đã không nghe lời Lê Lợi
ở lại với ta, mà trở về Trung Quốc để bị bọn quyền thần giết hại Lê Lợi truytặng ông tước Tuyên Nghĩa hầu và sai lập đền thờ ông ở chân núi Hùng Sơn.Phía ta đã giữ trọn tín nghĩa như đã tuyên bố
Nghệ thuật đánh vào lòng người trong Quân trung từ mệnh tập cũng
bộc lộ rõ trong những bức thư gửi thổ quan Đây là những người Việt, làmquan cho nhà Minh Lê Lợi tin rằng họ có thể phục thiện bởi trong số họ có
những người do tình thế bất đắc dĩ mà trở thành kẻ nối giáo cho kẻ thù Thư
dụ thổ quan thành Điêu Diêu điển hình cho chiến lược giác ngộ và tranh thủ
những kẻ lầm lỡ của bộ chỉ huy Lam Sơn Lá thư là những hình ảnh gợi suynghĩ thấm nhuần tình yêu quê hương đất nước, tình yêu đồng bào đồng chủng,đánh thức lương tâm những con người lầm đường lạc lối, kêu gọi họ quay đầu
Trang 24mà trở về với chính nghĩa Thư viết thật sâu sắc, thấm thía: “Người xưa cócâu: “Quạ bay đi còn biết quay về nơi cũ, cáo chết còn quay về núi cũ” Chimmuông còn thế, huống nữa là người? Các người vốn là dân đất Việt, con nhàdòng dõi Trước đây nhân họ Hồ thất đức, giặc Ngô lăng loàn, có người thìthân mình bị hãm ở chính quyền giặc, có người thì tên tuổi bị buộc ở chứctước của giặc, đó là thế bất đắc dĩ, vốn không phải ở lòng mình.
Nay thượng đế nghĩ thương dân ta, đã mượn tay ta, nên ta mới thay trờilàm việc nghĩa, cứu dân, đánh kẻ có tội, để khôi phục cơ đồ, Quân ta đi đếnđâu, nghĩa khí vang dội đến đó, dân chúng bốn phương địu con mà theo về
Như bọn các ngươi biết sửa lòng đổi dạ, bỏ nghịch theo thuận, hoặc ởlại làm nội ứng, hoặc thoát ra đầu hàng, thì không những rửa được mối hổthẹn về trước, mà còn dự phần soi xét về sau Ta không nói lời, rồi lại ăn lời.Nếu các ngươi còn ham nguỵ chức, chống lại nghĩa quân, đến khi thành bịhãm, tội các ngươi tất nặng hơn tội giặc Ngô vậy!”
Cũng khoảng thời gian này, lúc mà thành Đông Quan còn trong tay
giặc Minh, Lê Lợi sai Nguyễn Trãi thảo Chiếu dụ hào kiệt kêu gọi người tài
ra giúp nước, đồng thời với một lời hịch truyền đi trong quân dân nơi cónhững thành trì vừa giải phóng: “Giặc mạnh chưa trừ diệt hết, dân sinh chưađược thoả thuê, các ngươi có yên tâm không? Xưa kia họ Hồ lỗi đạo, ngườiMinh thừa cơ kéo sang xâm lược bắt dân ta phải chịu thuế nặng sưu cao, hìnhphạt hà khắc Các người đều mắc vào vòng bạo ngược của dân chúng, nênmới cùng nhau đứng dậy, chống kẻ thù chung Bây giờ, công việc đã gầnthành, các ngươi cố gắng đắp tròn quả núi, đừng để thiếu một sọt đất mà núiphải dở dang! Và chỉ phải dùng sức chịu khó nhọc một năm, mà được hưởngvui sướng thái bình muôn thưở Các ngươi hãy cố gắng lên” [24,636]
Thông thường khi gần đến ngày chiến thắng, tinh thần chiến đấu củaquân dân thường giãn ra, ý thức cảnh giác giảm sút, nên Lê Lợi mới cho phát
Trang 25đi các lời kêu gọi quân dân tiếp tục giữ vững hàng ngũ và khí thế đến cùng.Quả là tầm nhìn sâu rộng của một vị lãnh tụ vĩ đại.
Có thể nói trước sau như một, trên cơ sở chiến lược tâm công sángsuốt, Nguyễn Trãi đã lấy bút thay kiếm, dùng lời lẽ phải trái để thuyết phụcgiặc, buộc giặc phải nghe ta mà chấp nhận biện pháp hoà giải Có thể, trừ một
số ít tướng giặc vì ngoan cố, mù quáng mà phải đền tội, khiến cho dân chúngchết lây, như bọn chỉ huy thành Xương Giang còn thì hầu hết vì nghe theochính nghĩa, được khoan hồng, tha cho về với vợ con, ngay những tên áctướng có nợ máu với nhân dân ta như Phương Chính, Mã Kỳ cũng đượchưởng ân huệ này Điều này cho thấy, mục tiêu chiến đấu của ta quả thật cao
cả, đậm đà tinh thần nhân đạo, đúng với bản chất một đội quân nhân nghĩa.Chúng ta quý trọng tính mạng và quyền sống nhân dân ta, và cũng quý trọngtính mạng và quyền sống của nhân dân Trung Quốc
Như vậy, đường lối đấu tranh quân sự kết hợp với đấu tranh chính trị,chiến lược mưu phạt tâm công của quân sư Nguyễn Trãi được Lê Lợi nhất trí,chủ trương, nghĩa quân thực hiện đã được thực tế chứng minh là đúng, đã dẫncuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn Đúng ngày 22 tháng 11 năm ĐinhMùi (cuối 1427) bọn Vương Thông phải ra dự lễ ăn thề ở phía nam thànhĐông Quan hẹn đến ngày 12 tháng Chạp năm đó (tức đầu năm 1428) thì rútquân Và đúng như lời đã hứa, năm ngày sau khi quân lính Trung Quốc đã rút,Vương Thông và các tướng tá còn lại mới kéo nhau sang dinh Bồ Đề chào từbiệt Lê Lợi và triều đình ta Cuộc tiễn đưa thoả đáng Bọn Phương Chính nghĩmình được sống sót trở về vừa xấu hổ, vừa xúc động mà rơi lệ Cuối tháng
Chạp năm đó, bài Bình Ngô đại cáo được công bố, coi như kết thúc một giai
đoạn kháng chiến oanh liệt, đồng thời mở ra một kỷ nguyên xây dựng đấtnước trong hoà bình
1.2 Hình tượng Lê Lợi trong Bình Ngô đại cáo
1.2.1 Hoàn cảnh ra đời, đặc điểm thể loại, giá trị của Bình Ngô đại cáo
Trang 261.2.1.1 Hoàn cảnh ra đời
Cuộc kháng chiến chống Minh của nhân dân ta kéo dài hơn 20 năm,cuộc khởi nghĩa Lam Sơn dài hơn 10 năm đã kết thúc thắng lợi hoàn toàn,thắng lợi triệt để, nước Đại Việt sạch bóng quân xâm lược Mùa xuân năm
1428, Lê Lợi chính thức lên ngôi Hoàng đế lấy lại quốc hiệu cũ là Đại Việt,đặt niên hiệu là Thuận Thiên lập ra triều Lê
Theo lệnh của Lê Lợi, Nguyễn Trãi thay lời vua viết Bình Ngô đại cáo.
Tác phẩm có ý nghĩa trọng đại của một bản Tuyên ngôn độc lập được công bốvào tháng Chạp, năm Đinh Mùi (tức đầu năm 1428) để tuyên bố cho nhân dân
cả nước biết rằng cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã đánh bại quân Minh, đem lạiđộc lập cho dân tộc Bài đại cáo tổng kết cả một giai đoạn lịch sử đau thươngnhưng rất anh hùng của dân tộc, nghiêm khắc lên án tội ác tày trời của giặcMinh, biểu dương chiến thắng vĩ đại của nhân dân ta, trịnh trọng tuyên cáoquyền làm chủ dân tộc Đại Việt đối với bờ cõi non sông Đại Việt
1.2.1.2 Đặc điểm thể loại
Cáo là một thể văn nghị luận có từ thời cổ ở Trung Quốc, thường đượcvua chúa hoặc thủ lĩnh dùng để trình bày một chủ trương, một sự nghiệp,tuyên ngôn một sự kiện để mọi người cùng biết Trong thể cáo, có loại văncáo thường ngày như chiếu sách của vua truyền xuống về một vấn đề nào đó,
có loại văn đại cáo mang ý nghĩa một sự kiện trọng đại, có tính chất quốc gia.
Cáo có thể viết bằng văn xuôi nhưng phần nhiều được viết bằng văn biềnngẫu, không có vần hoặc có vần, thường có đối, câu dài ngắn không gò bó,mỗi cặp hai vế đối nhau Cũng như hịch, cáo là thể văn hùng biện, do đó lời lẽ
phải đanh thép, lí luận phải sắc bén, kết cấu phải chặt chẽ, mạch lạc Bình
Ngô đại cáo là văn bản duy nhất của thể cáo ở Việt Nam Từ những bài cáo
trong Thượng Thư – tác phẩm văn xuôi đầu tiên của Trung Quốc (Thế kỷ XIV trước công nguyên) đến Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi có khoảng cách
gần 30 thế kỷ Chúng khác biệt lớn về hình thức, nội dung và ý nghĩa
Trang 27Tác giả Bùi Văn Nguyên trong bài viết Bình Ngô đại cáo, bản hùng ca
lẫm liệt cho rằng:“ So với bài đại cáo mà vua Thang công bố sau khi đánh bại
vua Kiệt nhà Hạ, hoặc với bài đại cáo mà vua Vũ công bố sau khi đánh bại
vua Trụ nhà Ân-Thương, thì bài Bình Ngô đại cáo thời khởi nghĩa Lam Sơn này có một điểm khác về căn bản, là vì ở đây Lê Lợi lãnh đạo nghĩa quân
đánh giặc Minh để bảo vệ đất nước chứ không phải đơn thuần lật đổ một tênvua gian ác như Kiệt hoặc Trụ để giành chính quyền, có tính chất nội bộ mộtquốc gia Cho nên ngoài ý nghĩa của lời tuyên bố đấu tranh cho độc lập vàhạnh phúc của nhân dân Việt Nam, cũng là lời tuyên bố đấu tranh cho cả hạnh
phúc của nhân dân Trung Quốc” [45,306-307] Như vậy, Bình Ngô đại cáo
không chỉ là bản Tuyên ngôn độc lập có tính chất quốc gia, mà còn mang yếu
tố của bản Tuyên ngôn nhân quyền có sắc thái quốc tế
Nói về nội dung, bài Bình Ngô đại cáo có những đặc điểm như vậy, và
nói về hình thức lại cũng có những đặc điểm của nó, không giống với nhiềuvăn kiện chính luận dưới dạng tuyên ngôn vốn có trước đó Quả vậy các bài
đại cáo trong Kinh Thư đều viết theo thể văn xuôi cổ đúng với thể văn chính
luận, nên thường khô khan, còn bài đại cáo do Nguyễn Trãi viết lại theo thể tứlục (từng cặp câu, mỗi câu mười chữ, ngắt theo nhịp 4/6) đời Tống có niêm,
có luật, cho nên âm điệu nhịp nhàng, lại có nhiều hình tượng nghệ thuật sinhđộng, mang yếu tố văn sáng tác, nên rất hấp dẫn và gợi tả; nội dung mang tínhchất chính luận, mà nghệ thuật dựa theo thể sáng tác, một kết hợp hài hoà,một chỉnh thể sáng tạo trong văn chương Việt Nam
Bố cục của Bình Ngô đại cáo rất chặt chẽ, lôgíc và được chia làm bốn
phần chính Mở đầu là phần lung khởi, sau khi nêu một nguyên lí cơ bản làm
nền tảng cho đường lối chính trị của nghĩa quân Lam Sơn:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, quân điếu phạt trước lo trừ bạo
Trang 28tác giả đi vào xác định những nhân tố chính đã góp phần tạo nên cộng đồngdân tộc Việt: một cộng đồng lãnh thổ, một nền văn hoá lâu đời, một phong tụctập quán riêng và một lịch sử đầy những chiến công của anh hùng hào kiệt những nhân tố này đã quyện lại, như những truyền thống tinh thần bền vững,khiến cho quốc gia Đại Việt không những tồn tại mà còn độc lập với các đếchế Trung Hoa.
Phần tiếp theo, vạch trần tội ác của giặc Minh, thừa cơ nhà Hồ khôngthu phục được lòng dân, đã đem quân tràn xuống cướp phá giang sơn ĐạiViệt Suốt 20 năm thống trị, bọn chúng đã gây không biết bao nhiêu tội ác
rùng rợn: dối trời lừa dân, đẩy muôn dân xuống vực thẳm, vơ vét của cải,
hoành hành ngang ngược, chém giết thoả thích, làm đảo điên mọi nề nếp cósẵn, khiến cho con người và loài vật, cây cỏ bị tàn hại nặng nề
Phần thứ ba, trình bày quá trình phát triển của nghĩa quân Lam Sơn từlúc ý chí cứu nước còn nung nấu trong tâm trí vị thủ lĩnh nghĩa quân, đếnnhững bước chuẩn bị của ông về mặt tinh thần, tư tưởng: nghiền ngẫm nhữngsách lược thao, xét nghiệm mọi cơ hưng phế Rồi những khó khăn chồng chất
và những thất bại nặng nề buổi đầu Tuy vậy, vẫn không có gì ngăn nổi xu thế
lớn lên của nghĩa quân về sau, nhờ biết gậy dựng lên làm cờ, tập hợp bốn
phương dân cày, phu tráng, rượu hòn cùng uống, trên dưới sĩ binh một dạ cha con, nhờ biết vận dụng sáng tạo và linh hoạt chiến lược mưu phạt tâm
công và kết hợp với mọi cách đánh tài tình của cha ông trong quá khứ và vềđường lối, biết giữ vững không rời ngọn cờ nhân nghĩa
Phần thứ tư, cũng là phần dài nhất, là những trận thắng oanh liệt củanghĩa quân ruổi dài từ Nam ra Bắc, song song với những thất bại làm kinhhoàng khiếp vía kẻ thù, cho đến tận lúc chỉ còn lại một nhúm quân giặc trongthành Đông Quan, đành phải cởi giáp hàng phục
Mấy câu kết ca ngợi bước biến đổi phi thường mà cuộc khởi nghĩa Lam
Sơn đã mang lại cho xã tắc: Kiền khôn bĩ mà lại thái, nhật nguyệt mờ mà lại
Trang 29trong Tác giả khẳng định dứt khoát đây là một chiến công có ý nghĩa tái tạo,
đổi đời, và góp phần giữ cho nhân dân ta nền thái bình muôn thưở.
Như vậy, Bình Ngô đại cáo đã ca ngợi những chiến công lừng lẫy của
nhân dân ta trong sự nghiệp giải phóng đất nước, nêu cao tinh thần nhân dâncao cả, lòng yêu chuộng hoà bình của dân tộc ta, dập tắt ngọn lửa chiến tranh,
mở con đường hoà hiếu, đưa lại nền thái bình muôn thưở Với ý nghĩa đó,
Bình Ngô đại cáo còn là bản tuyên ngôn nhân đạo và hoà bình của nhà nước
Đại Việt
1.2.1.3 Giá trị của Bình Ngô đại cáo
Bình Ngô đại cáo có giá trị về nhiều phương diện Đó thực sự là bản
tổng kết lịch sử, là bản Tuyên ngôn độc lập và là áng văn chương chính luậnxuất sắc
Trước hết là về giá trị tổng kết lịch sử Khởi nghĩa Lam Sơn là cuộcchiến tranh giải phóng dân tộc lâu dài, gian khổ, oanh liệt bậc nhất của nước
ta thời trung đại Đây chính là cơ sở thực tiễn quan trọng cho sự ra đời củavăn bản này Từ xưa, cáo là lời của vua hoặc người đứng đầu một cộng đồng
bố cáo với dân chúng về việc chinh phạt đã hoàn thành Bình Ngô đại cáo
cũng có chức năng này Tác phẩm thực sự là một văn bản tổng kết chiến tranh
và sự tổng kết ở đây thật là độc đáo Nguyễn Trãi đã dựng lại toàn bộ diễnbiến của cuộc chiến tranh từ nguyên nhân của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, từnhững ngày mới trỗi dậy, trải qua những gian truân thử thách mà lớn dần lên,
có thể được thế chủ động chiến lược, thế áp đảo quân thù và cuối cùng làgiành được thắng lợi trọn vẹn Tổng kết cuộc chiến tranh giải phóng, tác giảlong trọng khẳng định công lao của những người đã làm nên cuộc chiến tranhthần thánh ấy, đồng thời tuyên bố một giai đoạn lịch sử đen tối đã kết thúc,một vận hội mới đang mở ra cho đất nước và dân tộc:
Càn khôn bĩ mà lại thái
Nhật nguyệt đã mờ mà lại trong
Trang 30Bản đại cáo khái quát lịch sử lâu dài và oanh liệt của tổ quốc ta Trước
tiên Nguyễn Trãi trang trọng khẳng định nước ta là một nước văn hiến (Ngã
Đại Việt chi quốc, thực vi văn hiến chi bang); nước ta có cương vực lãnh thổ
biệt lập với Trung Hoa (Sơn xuyên chi phong vực ký thù – Núi sông bờ cõi đã riêng); phong tục nước ta cũng khác Trung Quốc (Nam bắc chi phong tục
diệc dị – Phong tục Bắc Nam cũng khác); nước ta còn có chính quyền riêng
thể hiện chủ quyền dân tộc, đăng đối với Trung Hoa Trên lãnh thổ độc lập và
có chủ quyền đó luôn có những thế hệ chủ nhân xứng đáng (Tuy cường nhược
thời hữu bất đồng, nhi hào kiệt thế vị thường phạp – Tuy mạnh yếu từng lúc
khác nhau, song hào kiệt đời nào cũng có)
Nguyễn Trãi đã bao quát một khoảng thời gian và không gian rộng lớn,gồm cả các yếu tố tự nhiên và xã hội nên đoạn văn có giá trị như một địnhnghĩa về quốc gia dân tộc Cống hiến này của Nguyễn Trãi không chỉ có ýnghĩa quốc gia mà còn là một cống hiến có ý nghĩa mang tầm quốc tế
Giá trị lịch sử của Bình Ngô đại cáo còn là ở chỗ đúc kết những chân lí
về người dân Trong xã hội chịu ảnh hưởng của ý thức hệ Nho giáo, vị thế củanhững người dân rất thấp kém Nhưng ở những tác phẩm của Nguyễn Trãi nói
chung và ở Bình Ngô đại cáo nói riêng, người dân có vị thế khác cho dù họ chỉ là những người làm nghề cày cấy (manh) và đi ở (lệ) Ông lên án tội ác
của kẻ thù không phải với vương triều hay cá nhân nào mà là đối với dân
Theo ông, chính manh, lệ là lực lượng quan trọng của cuộc kháng chiến
chống Minh Nguyễn Trãi ghi nhận một sự thật quan trọng là do đặc thù lịch
sử của một nước nông nghiệp, thường xuyên phải chống lại sự xâm lược vàđồng hoá của Phương Bắc nên người dân Việt Nam có vai trò to lớn với quốcgia, họ nuôi sống xã hội và là nguồn lực tiềm tàng để đi đánh giặc
Bình Ngô đại cáo còn đúc kết và biểu dương đường lối chiến tranh
thông minh, quả cảm, nhân nghĩa của ta
Trang 31Bình Ngô đại cáo còn có giá trị của bản Tuyên ngôn độc lập Thời
trung đại, thể cáo thích hợp nhất để thể hiện nội dung của một bản Tuyênngôn độc lập Từ xa xưa, ở Trung Quốc, cáo là văn bản ghi lời kể của đếvương bố cáo toàn thiên hạ về những sự kiện trọng đại Xét về nội dung và
hình thức, Bình Ngô đại cáo hoàn toàn xứng đáng là bản Tuyên ngôn độc lập
của nước Đại Việt anh hùng và văn hiến, vừa kế thừa được những tư tưởng,tình cảm cao đẹp của quá khứ, vừa tổng kết được những giá trị của thời đại
Bản đại cáo khẳng định Đại Việt có những yếu tố cơ bản của một quốcgia – dân tộc độc lập Nguyễn Trãi tuy chưa có điều kiện để ý niệm về quyền
tự do, bình đẳng của con người như hiện nay, nhưng đã ngầm nêu lên kháiniệm đó, bằng cách nêu lên nguyên lý xứng đáng tồn tại của dân tộc Đại Việt
ta như: có nền văn hiến lâu đời, có núi sông, bờ cõi (tức thổ địa) riêng biệt;cũng như có phong tục (tức tâm lý sinh sống) riêng biệt; có một nền độc lậplâu đời (tức lịch sử) trải qua các triều đại: Triệu, Đinh, Lý, Trần; làm hoàng
đế (tức làm chủ một quốc gia) ngang như các triều đại: Hán, Đường, Tống,Nguyên bên Trung Quốc và đời nào cũng vậy, tuy lúc lên lúc xuống, đều có
đủ anh hùng hào kiệt, để làm chủ vận mệnh của mình Khẳng định tính bất
khả xâm phạm của bờ cõi Đại Việt và văn hiến Đại Việt, rõ ràng là Bình Ngô
đại cáo đã khẳng định nền độc lập thiêng liêng của dân tộc của tổ quốc Nhận
thức của Nguyễn Trãi về quốc gia, dân tộc, từ thế kỷ XV đến nay còn làmnhiều người ngạc nhiên vì sự toàn diện, sâu sắc
Danh nghĩa phát ngôn trong bản đại cáo là của Lê Lợi, người đứng đầucủa cuộc khởi nghĩa đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân ta Khởinghĩa Lam Sơn từ chỗ mang tính chất tự phát ở một quy mô nhỏ, đã phát triểnthành cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc oanh liệt bậc nhất nước ta thờitrung đại Người lãnh đạo cao nhất của cuộc khởi nghĩa ấy là Lê Lợi, ngườigiờ đây đứng ở tầm cao chiến thắng, phát ngôn cho tư tưởng và tình cảm củamọi tầng lớp nhân dân
Trang 32Bình Ngô đại cáo ngoài ý nghĩa là bản Tuyên ngôn độc lập, còn là một
bản Tuyên ngôn nhân đạo và hoà bình Tác giả đã nói lên sự khoan hồng đại
độ của nhân dân ta : Đem đại nghĩa mà thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay
cường bạo Sự khoan hồng, đại độ của nhân dân ta biểu hiện sức mạnh vĩ đại
của chính nghĩa, phản ánh tư thế đứng trên đầu quân thù Với sức mạnh ấy,
với tư thế ấy, nhân dân ta đã tha mạng sống cho bọn tù binh khiếp sợ: Bắt
tướng giặc mang về, nó đã vẫy đuôi phục tội; Thể lòng trời bất sát, ta cũng
mở đường hiếu sinh Với sức mạnh ấy, với tư thế ấy nhân dân ta đã cho bọn
hàng binh nhút nhát được phép an toàn rút lui Mã Kỳ, Phương Chính cấp cho
năm trăm chiếc thuyền, ra đến biển chưa thôi trống ngực; Vương Thông, Mã Anh phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến Tàu còn đổ mồ hôi Sự khoan hồng
đại độ ấy xuất phát từ lòng nhân đạo cao cả mà cũng lại gắn với chính sách
yêu chuộng hoà bình Và Đại cáo Bình Ngô cũng dõng dạc tuyên bố rằng: Nó
đã sợ chết cầu hoà, ngỏ lòng thu phục; Ta muốn toàn quân là tốt, cả nước nghỉ ngơi.
Tóm lại, Đại cáo Bình Ngô là một bản Tuyên ngôn độc lập đồng thời là
một bản Tuyên ngôn nhân nghĩa, một bản cáo trạng tội ác, một bản tổng kếtchiến tranh, một áng anh hùng ca chiến thắng hào hùng của dân tộc ta thờitrung đại
Bình Ngô đại cáo có giá trị văn chương lớn Tác phẩm này từ bao đời
đã được coi như một áng thiên cổ hùng văn nói lên khí phách anh hùng vàtâm hồn cao đẹp của cả dân tộcViệt Nam
Sở dĩ tác phẩm được đánh giá cao như vậy vì chỉ cần trong mấy trangngắn gọn, bài cáo đã trình bày đầy đủ và có hệ thống cả lịch sử cuộc chiếnđấu gay go và chiến thắng vẻ vang của dân tộc ta trong suốt hơn 10 năm khởinghĩa Lam Sơn, gây được ở mỗi người chúng ta một phấn khởi mãnh liệt, một
tự hào chính đáng mà thời gian dài mấy thế kỷ không hề làm giảm sút Phẩm
Trang 33chất con người và dân tộc được Nguyễn Trãi khám phá và đề cao trong bài
Cáo Bình Ngô
Lí do nữa để Bình Ngô đại cáo trở thành áng hùng văn bởi vì trong khi
tổng kết cuộc chiến tranh cứu nước tác phẩm còn chứa đựng, cô đúc, truyềnđạt những tư tưởng quân sự, chính trị và triết lí vĩ đại của dân tộc ta Những
tư tưởng đó được hình thành từ trước, được phát triển khá hoàn chỉnh tronghơn 10 năm đánh Minh, mãi mãi có tác dụng hướng dẫn sự nghiệp bảo vệ vàxây dựng nước nhà
Tiến sĩ Phạm Tuấn Vũ trong cuốn Văn chính luận Việt Nam thời trung
đại cho rằng giá trị văn chương của Bình Ngô đại cáo còn được: “ thể hiện ở
một trình độ lập luận bậc thầy Giá trị trước hết của một tác phẩm chính luận
là nghệ thuật lập luận đưa đến cho người đọc những nhận thức sâu sắc vềnhững vấn đề có ý nghĩa lớn của đời sống xã hội và con người” [55,74] Cũng
theo tác giả Văn chính luận Việt Nam thời trung đại điều này phụ thuộc vào
nhiều yếu tố
Trước hết phải xuất phát từ chính nghĩa Theo người xưa, chính nghĩa
là thuận với lẽ trời (thường được gọi là thiên mệnh) và lòng người Bởi vậy
mở đầu bài cáo Nguyễn Trãi khẳng định ngắn gọn và hết sức cơ bản: Nhân
nghĩa chi cử, yếu tại an dân Nhân nghĩa là giá trị tạo nền tảng cho học thuyết
Nho giáo Giặc Minh sang xâm lược nước ta cũng nấp dưới chiêu bài nhânnghĩa Mệnh đề mở đầu đã khẳng định tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi, làtiêu chuẩn để định rõ trắng đen, phải trái Nó xé toang chiêu bài nhân nghĩagiả hiệu của giặc Minh Tư tưởng của Nguyễn Trãi là sự cách tân lớn so với
tư tưởng Nho giáo
Tiếp theo, Nguyễn Trãi triển khai lý lẽ một cách chặt chẽ Bằng nhữngchứng cớ khách quan, ông vạch rõ bộ mặt phản nhân nghĩa của giặc Minh
Chúng xâm lược một nước có chủ quyền, dối trời, lừa dân (khi thiên võng
dân), gây biết bao tội ác khiến thần và người đều căm giận, trời đất không
Trang 34dung tha (thần dân chi sở cộng phẫn, thiên địa chi sở bất dung) Tiếp đó
khẳng định cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi đứng đầu là sự thực hiệnnhân tâm và thiên lý nên càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng Quânthù càng điên cuồng dối trá, càng sa vào những thất bại thảm hại, cuối cùngphải rút khỏi nước ta
Nghệ thuật lập luận của Nguyễn Trãi rất tinh tường, ý trước chuẩn bịcho ý sau, ý sau khẳng định hay bác bỏ ý trước Điều này tạo nên sức thuyếtphục mạnh mẽ
Bản đại cáo còn biểu hiện những tư tưởng tình cảm lớn bằng ngôn ngữgiàu chất nghệ thuật Cốt lõi làm nên tác phẩm chính luận là lý lẽ và lập luận,còn hình tượng làm cho lý lẽ được tiếp nhận thuận lợi, tác phẩm được lĩnh hộivới sự hoà quyện giữa lý trí và tình cảm Chẳng hạn nói về sự thiếu thốn nhân
tài trong buổi đầu dấy nghiệp tác giả viết: Nhân tài thu diệp, tuấn kiệt thần
tinh Những hình ảnh này không chỉ diễn tả sự thiếu vắng các nhân vật xuất
chúng mà còn biểu hiện được lòng quý trọng mong chờ của Lê Lợi Hay là
khí thế của quân sĩ được diễn tả bằng hình ảnh: gươm mài đá đá núi cũng
mòn, voi uống nước nước sông phải cạn Thế bại vong của quân thù được so
với một tổ kiến ở khúc đê vỡ, càng làm hiển hiện sự tuyệt vọng vô phươngcứu vãn
Đến đây, có thể khẳng định rằng sáng tạo nên Bình Ngô đại cáo,
Nguyễn Trãi thật xứng đáng là nhà văn chính luận kiệt xuất của dân tộc ta
1.2.2 Hình tượng Lê Lợi
Là người có năng lực hồi tưởng tuyệt vời, Nguyễn Trãi có khả năng tái
hiện tất cả diễn biến của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn Trong bài Bình Ngô đại
cáo ta còn thấy tác giả tập trung khắc hoạ hình ảnh Lê Lợi mà chủ yếu là làm
nổi bật đời sống tâm lí của người anh hùng Hình tượng Bình Định Vương –
Lê Lợi hiện lên là một vị cứu tinh của dân tộc, vì nước vì dân mà đánh đuổigiặc Minh xâm lược, bảo vệ chủ quyền, bảo vệ độc lập dân tộc
Trang 351.2.2.1 Từ chàng trai áo vải trở thành lãnh tụ tối cao của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.
Lê Lợi sinh ngày 10/9/1385 (mùng 6 tháng 8 năm Ất Sửu) tại Lam Sơn(Kẻ Cham), nay thuộc huyện Thọ Xuân, Thanh Hoá, trong một gia đình đờiđời làm quân trưởng một phương Năm Lê Lợi 21 tuổi cũng là năm nhà Minhđem 80 vạn quân sang xâm lược nước Việt Cuộc kháng chiến chống quânMinh của vương triều Hồ thất bại, đất nước Đại Việt rơi vào ách thống trị tànbạo của giặc Minh Trước cảnh đất nước bị kẻ thù giày xéo, tàn phá, Lê Lợi
đã nung nấu một quyết tâm đánh đuổi chúng ra khỏi bờ cõi
Đầu năm 1416, tại núi rừng Lam Sơn Thanh Hoá, Lê Lợi cùng với 18người bạn thân thiết, đồng tâm cứu nước đã làm lễ thề đánh giặc giữ yên quêhương Đó là hội thề Lũng Nhai đã đi vào sử sách
Tin Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa, chiêu mộ hiền tài bay xa, thu hút cácanh hùng hào kiệt từ bốn phương kéo về Đất Lam Sơn trở thành nơi tụ nghĩa
ở đó có đủ các tầng lớp xã hội và thành phần dân tộc khác nhau, với nhữngđại biểu ưu tú như: Nguyễn Trãi, Nguyên Hãn, Nguyễn Chích, Nguyễn Xí, LêLai, Cầm Quý, Xa Khả Tham Sau một thời gian chuẩn bị chín muồi, đầunăm 1418, Lê Lợi xưng là Bình Định Vương, truyền hịch đi khắp nơi, kêu gọinhân dân đứng lên đánh giặc cứu nước Lê Lợi là linh hồn, là lãnh tụ tối caocủa cuộc khởi nghĩa ấy
Lúc Nguyễn Trãi viết Bình Ngô đại cáo, Lê Lợi đã lên ngôi hoàng đế
vương triều Lê Làm sao để có thể tái hiện lại hình tượng Lê Lợi của nhữngngày khởi nghĩa, vẫn là để ngợi ca nhưng không qúa mức thành xu nịnh? Cóthể nói Nguyễn Trãi đã dựng lại một cách đầy xúc cảm trữ tình hình ảnhngười lãnh tụ cuộc khởi nghĩa và qua Lê Lợi mà nói lên lòng căm thù quângiặc, nói đến những băn khoăn, đôi lúc có một chút gì như xao xuyến vềnhững ngày gian khổ, thất bại lúc ban đầu và đặc biệt nói đến chiến lược,chiến thuật của khởi nghĩa Trong việc thể hiện nhân vật trữ tình trung tâm
Trang 36của bài cáo, Nguyễn Trãi đã có sự đồng cảm cao độ, đã có sự hoá thân, nhậpthân vào Lê Lợi như thế, thể hiện nhân cách Lê Lợi, Nguyễn Trãi cũng thểhiện cả nhân cách, tâm huyết, chí hướng của mình Trong hình tượng Lê Lợi
có sự thống nhất giữa con người bình thường và lãnh tụ cuộc khởi nghĩa
Bình Ngô đại cáo mô tả thủ lĩnh Lam Sơn khởi nghĩa nhưng không phải chủ
yếu như một vị cứu tinh thay trời hành đạo mà chủ yếu như một người nôngdân áo vải bình thường chỉ phân biệt với những người dân khác ở chỗ biếtcăm thù giặc xâm lăng một cách sâu sắc nhất, biết thương yêu nhân dân mộtcách thiết tha nhất Hình tượng Lê Lợi hiện lên qua những lời tự thuật:
Ta đây:
Núi Lam Sơn dấy nghĩa Chốn hoang dã nương mình
tuy ngắn gọn nhưng cũng giúp chúng ta nắm được phần nào về lai lịch gốc
tích (núi Lam Sơn), nguồn gốc xuất thân bình thường (chốn hoang dã) đến cách xưng hô khiêm nhường (đại từ dư với nghĩa là tôi, ta) của người anh
hùng Lê Lợi Nhưng như đã nói, chàng trai áo vải ấy lại có lòng căm thù giặc
sâu sắc đến mức nguyện không đội trời chung (há đội trời chung, thề không
cùng sống); luôn nung nấu một lí tưởng hoài bão to lớn cứu nước cứu dân
thoát khỏi ách lầm than nô lệ (Tấm lòng cứu nước vẫn đăm đắm muốn tiến về
đông); đồng thời có nghị lực phi thường, ý chí sắt đá và quyết tâm cao để thực
hiện lí tưởng cao đẹp của mình (đau lòng nhức óc, quên ăn vì giận, những
trằn trọc trong cơn mộng mị, chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi) Qua sự tái hiện
chân thực hình tượng Lê Lợi – con người bình thường và người anh hùng, tácgiả đã phần nào nói lên tính chất nhân dân của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Đọc Bình Ngô đại cáo ta thấy nỗi lòng của người anh hùng Lam Sơn
rất giống nỗi lòng của Hưng Đạo Vương Trấn Quốc Tuấn – người anh hùngkháng Nguyên thưở trước: cũng niềm căm giận, uất hận trào sôi (Trần
Quốc Tuấn: ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa Lê Lợi: đau lòng nhức
Trang 37óc); cùng nung nấu chí lớn đến mức quên bản thân mình (Trần Quốc Tuấn: tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối Lê Lợi: nếm mật nằm gai, quên ăn vì giận); cũng một quyết tâm sắt đá (Trần Quốc Tuấn: dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ , Lê Lợi: những trằn trọc trong cơn mộng mị, chỉ băn khoăn một nỗi đồ hồi ).
Có thể nói, khi khắc hoạ hình tượng Lê Lợi, Nguyễn Trãi có sử dụng
điển tích nếm mật nằm gai nói về Việt Vương Câu Tiễn Nhưng người anh
hùng đất Lam Sơn hoàn toàn khác với người phục thù núi Cối Kê Lê Lợi làanh hùng kiểu Trần Quốc Tuấn tuy giữa hai người có những điểm khác nhau
do hoàn cảnh lịch sử cụ thể đem lại Song chính cảm hứng về truyền thốnganh hùng của dân tộc đã giúp Nguyễn Trãi khắc hoạ thành công hình tượngngười anh hùng Lê Lợi
Đoạn đầu của Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi đã thể hiện khá đầy đủ
tâm trí và hoài vọng của Lê Lợi chứng tỏ ông là con người thực sự nuôi chílớn Ông đã quyết tâm đem sức mình xoay đổi thế cục, cứu nạn nước, lậpcông to và đã dành một quá trình chuẩn bị cần thiết để chờ ngày hành động
Có lý tưởng để tôn thờ, có mục đích để theo đuổi nhưng muốn đạt được mụcđích ấy, không phải cứ việc lao theo ý định một cách chủ quan Ý định tốtchưa hẳn đã làm nên công trình tốt và càng không phải là đã hứa hẹn một kếtquả tốt Huống chi đây lại là công trình quốc gia đại sự, mất còn, sống chết cóthể do một người nhỏ nhặt, bất thường Lê Lợi không như những lãnh tụ khởinghĩa khác miễn là gây được tiếng vang, không thành công thì thành nhân,không đạt kết quả lớn lao thì cũng một lúc tung hoành để tỏ được tinh thầnhảo hán Câu văn:
Quên ăn vì giận, sách lược thao ghi chép đã tinh Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kỹ
cho thấy Lê Lợi vừa chú ý học hỏi binh pháp binh thư, vừa chú ý nghiên cứukinh nghiệm lịch sử Thực chất điều mà Lê Lợi nói rằng ông đã giấu mình nơi
Trang 38hoang dã, trằn trọc đêm ngày, nghiên cứu lược thao chính là một sự chuẩn bị
âm thầm mà trọng đại về mọi mặt để bước vào sự nghiệp cứu nước cứu dân.Nhờ công phu nghị lực của ông, nhờ sự ủng hộ của bạn bè đồng chí, của quầnchúng và của cả thế hệ, sự chuẩn bị đã đưa đến thành quả diệu kỳ Chàng thanhniên áo vải đất Lam Sơn – chủ trại Như Áng đã sớm trở thành một lãnh tụ khởinghĩa tài năng, một tổng chỉ huy lỗi lạc cho phong trào cứu nước
1.2.2.2 Nhà lãnh đạo tài ba – linh hồn của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn
Lê Lợi không chỉ là người nhen nhóm, tạo lập ra tổ chức khởi nghĩaLam Sơn mà ông còn là nhà lãnh đạo chiến lược kiệt xuất với hoài bão và bầunhiệt huyết yêu nước, mặc dù:
Vừa khi cờ nghĩa dấy lên Chính lúc quân thù đang thịnh Lại ngặt vì:
Tuấn kiệt như sao buổi sớm Nhân tài như lá mùa thu Việc bôn tẩu thiếu kẻ đỡ đần Nơi duy ác hiếm người bàn bạc
Lê Lợi cùng nghĩa quân phải vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ:thiếu nhân tài, thiếu quân, thiếu lương thực Giai đoạn này dài hơn sáu năm(từ 1418 đến 1424) Sáu năm trên mười năm để chuyển yếu thành mạnh,chuyển bại thành thắng Nếu như nhà Hồ kháng chiến với một quân đội kháhùng hậu, nhà hậu Trần dấy nghĩa với số quân sẵn có ở các tỉnh phía Nam thìLam Sơn nổi dậy từ không đến có, từ ít đến nhiều, từ yếu đến mạnh Lúc ấy(năm 1418) quân Minh đang ở trong thế ổn định; thế địch đang hăng, thế tacô; sức địch mạnh, sức ta yếu Để xây dựng lực lượng ở cái buổi ban đầu ấythật không dễ dàng gì Lê Lợi, trong một thời gian dài đã trải qua bao giannan vất vả, chạy ngược, chạy xuôi, thiếu người đỡ đần và bàn bạc Nghĩa
Trang 39quân nhiều lúc sa vào hoàn cảnh rất hiểm nghèo khiến vận mệnh của chủ soáicũng như của phong trào có lúc như treo trên sợi tóc:
Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần, Lúc Khôi huyện quân không một đội
Hoàn cảnh đó đối với Lê Lợi và Nguyễn Trãi là dịp để lửa thử vàng,gian nan thử sức Đó là dịp thức ngủ chẳng quên tìm ra kế sách diệt thù Nhờ
tấm lòng cứu nước, nhờ gắng chí khắc phục gian nan và nhất là nhờ manh lệ chi đồ tứ tập, nhờ phụ tử chi binh nhất tâm, cuộc khởi nghĩa đã dần vượt qua
những khó khăn buổi đầu để ngày một lớn mạnh hơn
Có thể thấy một nét đặc sắc trong đường lối chỉ đạo cuộc kháng chiếnchống Minh mà Lê Lợi thực hiện là dựa vào nhân dân để tiến hành chiếntranh giải phóng dân tộc Nhìn vào lực lượng nghĩa binh và bộ chỉ huy, tướnglĩnh của cuộc khởi nghĩa, có thể thấy rõ tính chất nhân dân rộng rãi của nó,một đặc điểm nổi bật không có ở các cuộc khởi nghĩa chống Minh trước đó
Lê Lợi cũng như Nguyễn Trãi đã biết coi dân vừa có sức mạnh đẩy thuyền,vừa có sức mạnh lật thuyền Đặt toàn bộ sự tin cậy vào nhân dân, đó là quanđiểm sáng suốt, tiến bộ của Lê Lợi ở thời đại của ông Nghĩa quân ngày mộtlớn mạnh, chính là vì Lê Lợi cùng các thủ lĩnh Lam Sơn đã tập hợp đượcnhân dân và sống với quân lính của mình với mối tình thân thiết ruột thịt nhưcha con, anh em:
Múa đầu gậy ngọn cờ phấp phới, ngóng vân nghê bốn cõi đan hồ,
Mở tiệc quân chén rượu ngọt ngào, khắp tướng sĩ một lòng phụ tử
Lê Lợi đã biết dựa vào sức mạnh của nhân dân, đoàn kết, tập trung mọilực lượng xã hội trong một tổ chức chiến đấu, rồi từ cuộc khởi nghĩa ở mộtđịa phương, lấy núi rừng làm căn cứ địa, phát triển sâu rộng thành cuộc chiếntranh giải phóng dân tộc trên quy mô toàn quốc Đây là một cống hiến to lớn
Trang 40về đường lối chiến tranh của Lê Lợi và bộ tham mưu của ông, để lại một kinhnghiệm lịch sử quý giá.
Yếu tố nữa làm nên thành công của khởi nghĩa Lam Sơn là sự mưu trí
và sáng tạo của Lê Lợi nói riêng và bộ tổng tham mưu nói chung Họ đã phảicân nhắc, tính toán lao tâm khổ tứ, quan sát kẻ thù, lấy xưa nghiệm nay,nghiền ngẫm sách thao lược để tìm vạch ra một cách đánh thích hợp nhất đốivới một nước nhỏ chống lại nước lớn, với số ít quân đánh được nhiều quân.Đồng thời lại phải làm sao để vừa chiến đấu lại vừa xây dựng lực lượng ngàymột hùng mạnh Nguyễn Trãi đã nêu rõ phương châm tác chiến mà Lê Lợi đãcho triển khai lúc bấy giờ:
Lấy yếu chống mạnh, thường đánh bất ngờ,
Lấy ít địch nhiều, hay dùng mai phục.
Vừa là nhà tổ chức và chỉ đạo chiến lược về chính trị, quân sự, Lê Lợivừa là vị tướng cầm quân mưu trí, quả quyết Ở giai đoạn đầu cuộc khởi nghĩa
ba lần ông cho xuất quân từ Lam Sơn, đánh địch ở miền thượng du, ba lần taphải rút về núi Chí Linh hiểm trở, dân ít và lương càng ít, bị kẻ địch truy kích,bao vây, bị dụ hàng nữa nhưng Lê Lợi không hề sờn lòng, nản chí:
Có lẽ trời muốn trao cho gánh nặng, bắt trải qua bách chiết thiên ma
Cho nên ta cố gắng gan bề, chấp hết cả nhất sinh thập tử
Lê Lợi và quân sĩ lui về Chí Linh là để đợi thời chờ dịp, để khôi phụclực lượng, chuẩn bị đợt xuất quân khác lớn hơn, mạnh hơn
Từ năm 1424, Lê Lợi và bộ tổng tham mưu xét thấy vùng thượng du xứThanh không đủ đất, dân ít, lại có thể bị quân Minh tấn công từ hai phía làĐông Đô và Tây Đô, nên đã bất ngờ chuyển hướng hoạt động, mở thượngđạo, vào xứ Nghệ đánh đâu thắng đó Chỉ trong một thời gian ngắn mà quânLam Sơn dưới sự chỉ huy tài tình của Lê Lợi đã giải phóng được một vùngrộng lớn nhiều của, nhiều dân từ xứ Thanh, xứ Nghệ vào tới đèo Hải Vân, chỉ