1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hình tượng con người dưới đáy trong các sáng tác nguyễn công trứ và cao bá quát

48 879 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hình tượng con người dưới đáy trong các sáng tác Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát
Tác giả Trần Quốc Trung
Trường học Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Khoá luận tốt nghiệp
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 213 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy chúng tôi chọn đề tài tìm hiểu “ hình tợng con ngời dới đáyxã hội trong thơ văn của Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát” một phần nhằmthoả mãn điều kiện của bản thân, phần quan trọng t

Trang 1

Phần Thứ I: Mở Đầu

1 Lý do chọn đề tài:

Nguyễn Công Trứ (1778 - 1858) xuất hiện vào giai đoạn cuối của nềnvăn học phong kiến, Cao Bá Quát (1808 - 1885) là nhà thơ tiêu biểu cuối cùng

đặt ngòi bút chấm dứt nền văn học dới chế độ phong kiến

Ta thấy nghiên cứu Nguyễn Công Trứ ở ông có sự mâu thuẫn nhngnhìn chung, nói một cách khách quan rằng ông có những nét nổi bật đángkính trọng, đó là con ngời giầu khát vọng tốt đẹp có tấm lòng tha thiết yêu nớcthơng dân Với Cao Bá Quát ở ông ta thấy đợc sự thống nhất từ đầu đến cuối.Mặc dù cuộc đời gặp nhiều khó khăn, nhng ông luôn thể hiện mình là ngời cónhững phẩm chất vô cùng tốt đẹp, yêu nớc thơng dân là ngời trung thành với

sự nghiệp của mình, giàu lòng nhân ái

Nghiên cứu về “con ngời dới đáy xã hội trong thơ văn của Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát” là để hiểu hơn về hai tác giả này

Cho đến nay việc nghiên cứu thơ văn Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát

đã có nhiều công trình, nhiều tác giả cũng đã tìm hiểu, nhng ở các tác giả mỗingời thể hiện một cách khác nhau, tựu chung lại phần lớn nói về cuộc đời hoạt

động của Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát, ít chú ý đến bút pháp thể hiệncủa hai nhà văn này Cũng có rất nhiều tài liệu viết về hai con ngời này nhngcha có tài liệu nào viết về “ hình tợng con ngời dới đáy trong thơ văn NguyễnCông Trứ và Cao Bá Quát ” nh một vấn đề chuyên biệt Vì vậy chúng tôi chọn

đề tài này để nghiên cứu kỉ về hai ông nhằm đóng góp thêm cách nhìn mới mẻ

về Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát

Trong giai đoạn văn học trung đại Việt Nam thế kỷ XVIII -XIX nổi bậtlên rất nhiều tác giả lớn tiêu biểu nh: Nguyễn Du, Hồ Xuân Hơng, việc tìmhiểu về các tác giả này đã đợc các thế hệ đi trớc, đào sâu, khá kĩ và ở họ cónhững điểm thống nhất Nhng ở giai đoạn văn học nữa cuối thế kỷ XVIII nữa

đầu thế kỷ XIX còn có hai tác giả tiêu biểu, đánh dấu sự chấm dứt nền vănhọc dới chế độ phong kiến đó là Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát Cho đếnnay cũng đả có một số công trình của các nhà nghiên cứu đi sâu vào hai conngời này Vì vậy chúng tôi chọn đề tài tìm hiểu “ hình tợng con ngời dới đáyxã hội trong thơ văn của Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát” một phần nhằmthoả mãn điều kiện của bản thân, phần quan trọng thông đề tài này góp mộtcái nhìn mới về hai ông

Trang 2

Cho đến nay ở các trờng đại học, cao đẳng hay các Trờng THPT việcgiảng dạy thơ văn Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát nói chung đang còn ởkiểu “cỡi ngựa xem hoa” nội dung giảng dạy hai tác giả này đang còn sơ sài.Nhìn nhận về Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát trên phơng diện là một nhàchính trị hơn là một nhà văn Dần dần cũng thấy xuất hiện các bài viết, chuyênluận, sách nói về thơ văn Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát, nhng nhìn chungcha đợc đi sâu vào tìm hiểu kĩ, với đề tài “hình tợng con ngời dới đáy trongthơ văn Nguyễn Công Trứ - Cao Bá Quát” chúng tôi nhằm khẳng định thêm vềcách nhìn của hai ông đối với tầng lớp nghèo khổ.

"Nếu nh không hớng tới cái chắc chắn, thì mọi công trình đều mất hết

ý nghĩa, nhng nếu không bộc lộ những nhợc điểm không chắc chắn của mìnhthì nó sẽ mất đi sức hấp dẫn" (l.lanôni) Chính vì những điều nói trên chúngtôi cần phải nói thêm, việc tìm hiểu nghiên cứu của chúng tôi chắc chắn sẽbộc lộ những điểm hạn chế không tránh khỏi

2 Lịch sử vấn đề:

Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát đợc xem là hai tác giả lớn của nềnvăn học trung đại Việt Nam thơ văn của hai ông đã để lại ấn tợng rất sâu sắctrong lòng ngời đọc,ngời ta thờng nghĩ tới Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát vớimột nhân cách hiên ngang bất khuất Nguyễn Công Trứ - Cao Bá Quát đợcxem là những ngời đặt bút chấm dứt nền văn học dới chế độ phong kiến Từ tr-

ớc đến nay đã có khá nhiều các công trình đi vào nghiên cứu con ngời, cuộc

đời thơ văn của Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát Tuy nhiên nghiên cứuNguyễn Công Trứ- Cao Bá Quát cũng nh các tác giả trong văn học quá khứ,hiện nay còn một khó khăn lớn, do diều kiện lịch sử, khách quan, chủ quandẫn đến các tác phẩm mất mát nhiều khó có thể nhận định một cách toàn diện

đến những vấn đề liên quan tới tác phẩm, đó là cha kể việc “tam sao mất bản”.Dẫn đến nhận định sai về t tởng tác giả với tác phẩm của mình Trong khi đónghiên cứu thơ văn Nguyễn Công Trứ - Cao Bá Quát hầu hết các bài viết cáccông trình đều xoay quanh việc nghiên cứu Nguyễn Công Trứ - Cao Bá Quátvới cơng vị là một nhà chính trị hơn là một nhà văn

Với Nguyễn Công Trứ các nhà nghiên cứ chủ yếu xoay quanh cuộc đờilàm quan với việc thực hiện “chí nam nhi”, “triết lý cầu nhàn hởng lạc” gắnvới cá tính độc đáo

Với Cao Bá Quát hầu hết các công trình nghiên cứu, bài viết chú trọngvào thái độ của Cao Bá Quát với triều đại nhà Nguyễn hay đi sâu vào tìm hiểu

Trang 3

chí khí tâm huyết, nhân cách cứng cỏi của một nhà thơ có bản lĩnh Bên cạnh

đó những sáng tác về hình tợng con ngời dời đáy xã hội trong thơ văn NguyễnCông Trứ - Cao Bá Quát cũng đả đợc đề cập đến Tuy nhiên cha thực sự cócông trình nào nghiên cứu và so sánh “hình tợng con ngời dới đáy xã hội trongthơ văn Nguyễn Công Trứ - Cao Bá Quát” nh một vấn đề chuyên biệt Sau đâychúng tôi xin điểm qua một số ý kiến mà các tác giả đề cập trong các bàichuyên luận, nghiên cứu của mình

2.1 Đầu tiên phải kể đến cuốn “thơ văn Nguyễn Công Trứ” do các tác

giả Lê Thớc, Hoàng Ngọc Phách, Trơng Chính giới thiệu, hiệu đính chú thích,xuất bản năm 1958 Đợc xem là tài liệu đáng tin cậy về Nguyễn Công Trứ từtrớc đến nay.Trong công trình này các tác giả đề cập đến một vài nét sơ lợc vềtình cảnh khó khăn, nghèo khổ, còn lại chủ yếu là nhấn mạnh đến chí nam nhi

và sự cầu nhàn hởng lạc Hình tợng con ngời nghèo khổ dới đáy xã hội đợc đềcập gián tiếp thông qua cảnh nghèo và thế thái nhân tình

Nh vậy hình tợng con ngời dới đáy xã hội trong thơ văn Nguyễn CôngTrứ Cụ thể trong cuốn (Thơ văn Nguyễn Công Trứ) đã đợc các tác giả đề cập

đến Tuy còn rất sơ lợc và nhằm vào mục đích làm rõ hơn con ngời ông

2.2 Cuốn “Nguyễn Công Trứ thơ và đời” tác giả Chu Trọng Hiến nhà

xuất bản 1996 Tác giả đề cập đến một số bài thơ về cảnh nghèo với một số

đoạn trích để minh hoạ cho cuộc đời ông Tuy nhiên các bài viết của ông vẫncha đi vào tìm hiểu kĩ về cảnh nghèo một cách chuyên sâu

2.3 Trong cuốn giáo trình “văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ

XVIII đến hết thế kỷ XIX” -Nguyễn Lộc- nhà xuất bản giáo dục 1999 Tácgiả đã dành hẳn chơng X để viết về cuộc đời và thơ văn Nguyễn Công Trứ.Nguyễn Lộc đã chia thơ văn Nguyễn Công Trứ thành 3 đề tài chính (Chí namnhi, cuộc sống nghèo khổ và thế thái nhân tình, triết lí cầu nhàn hởng lạc).Hình tợng con ngời dới đáy xã hội đợc đề cập một cách gián tiếp qua đề tàicuộc sống nghèo khổ và thế thái nhân tình

2.4 Hay cuốn sách nói về ba tác giả “Phạm Thái, Nguyễn Công Trứ,

Cao Bá Quát” Trong đó tác giả Vũ Dơng Quỷ đã nêu lên đợc nội dung nghệthuật trong thơ văn Nguyễn Công Trứ và nhận định ba nội dung chính: (bài ca

về một lẽ sống hăm hở, tích cực thực hiện chí nam nhi, lý tởng anh hùng) Cáctài liệu nói về Nguyễn Công Trứ rất nhiều nhng cũng khẳng định rằng cha cótài liệu nào chuyên sâu vào hình tợng con ngời dới đáy xã hội, một cách nhìn

cụ thể toàn diện và hệ thống hơn

Trang 4

2.5 Một cuốn sách quan trọng nói về Cao Bá Quát “Thơ chữ Hán Cao

Bá Quát” đây là tài liệu quan trọng đáng tin cậy do nhóm các tác giả: VũKhiêu, Nguyễn Lãng Tứ, Nguyễn Trách, Hoàng Hữu Yên, Hoàng Tạo biênsoạn (Nhà xuất bản văn học 1976) Đây là quyển sách tuyển tập những bài thơchữ Hán đầy đủ nhất từ trớc đến nay Trong đó các bài thơ của Cao Bá Quát đ-

ợc chia thành các giai đoạn, có bài nêu rõ thời gian, trong đó có những bài đi

“thi hội”, trong khi “bị giam”, làm trong khi “xuất dơng hiệu lực” làm sau khi

đợc tha và bỏ vào Viện Hàn Lâm và những bài không biết rõ thời gian ởtrong cuốn sách này tập hợp những bài thơ còn lại nói nói về hình tợng conngời dới đáy xã hội

2.6.Trong cuốn giáo trình văn học Việt Nam giai đoạn nữa cuối thế kỷ

XVIII đến hết thế kỷ XIX - Nguyễn Lộc nhà xuất bản giáo dục 1999 NguyễnLộc đã giành hẳn chơng XI để viết về Cao Bá Quát, thơ văn của ông đợc chiathành bốn đề tài (Cao Bá Quát một nhà thơ có bản lĩnh, Cao Bá Quát chế độphong kiến triều Nguyễn, Cao Bá Quát một tâm hồn nhiều cảm thông yêumến, nghệ thuật thơ của Cao Bá Quát) Con ngời nghèo khổ dới đáy xã hộicũng có đề cập trong phần “Cao Bá Quát một tâm hồn nhiều cảm thông yêumến” Tuy nhiên còn sơ sài cha đi sâu vào hình tợng này nh một vấn đềchuyên biệt

2.7 Còn về Cao Bá Quát thì có một tài liệu nh, văn học Việt Nam nữa

cuối thế kỷ XVIII nữa đầu thế kỷ XIX do nhóm các tác giả Đặng Thanh Lê,Hoàng Hữu Yên, Phạm Luận, đã dành hẳn một chơng để nói về Cao Bá Quát,các tác giả cũng có đề cập đến hình tợng con ngời dới đáy xã hội nhng còn rất

ít chủ yếu xoay quanh đến một số nội dung chính nh, cái nhìn hiện thực sắcsảo, tâm hồn cao đẹp trong sáng

2.8 Bài viết “Tiếp cận nghệ thuật đối với hai chủ đề độc đáo trong thơ

Cao Bá Quát” Nguyễn Huệ Chi đã đa chúng ta đến với hình tợng con ngời

“d-ới đáy” trong thơ Cao Bá Quá qua ba loại ( những bài thơ nhìn nhận đối tợng ởkhía cạnh con ngời và số phận con ngời, những vấn đề xã hội ẩn hiện đằng sautấn bi kịch của con ngời khốn cùng, tấn bi kich dới đáy của chính bản thânnhà thơ): tạp chí văn học số 8-2003

2.9 Hay cuốn sách nói về ba tác giả Phạm Thái, Nguyễn Công Trứ, Cao

Bá Quát Trong đó tác giả Vũ Dơng Quỹ cũng đả nêu lên đợc nội dung nghệthuật trong thơ văn Nguyễn Công Trứ và Cao Bá Quát Cho đến nay cha thấyxuất hiện cuốn sách nào so sánh về hình tợng con ngời dới đáy xã hội trongthơ văn Nguyễn Công Trứ -Cao Bá Quát để có một cách nhìn cụ thể hơn

Trang 5

Tóm lại những ý kiến mà chúng tôi tập hợp trên đây có thể cha đầy đủ,nhng cũng thấy rằng những ý kiến trên đó nhìn chung cha đi vào nghiên cứumột cách rõ ràng cụ thể quy mô có hệ thống một cách sâu rộng về nội dung

“hình tợng con ngời dới đáy xã hội trong thơ văn Nguyễn Công Trứ- Cao BáQuát” Nhng dù sao các công trình đó cũng là một phần cơ sở, là những ý kiếnquý báu tạo tiền đề để giúp chúng tôi đi sâu tìm hiểu một cách toàn diện, trựctiếp cụ thể và có hệ thống hơn về đề tài này

3 Phạm vi, đối tợng nghiên cứu.

3.1 Phạm vi nghiên cứu.

Để làm rõ hình tợng con ngời dới đáy xã hội trong thơ văn NguyễnCông Trứ - Cao Bá Quát hiện nay chỉ su tầm hay có đợc ở Nguyễn Công Trứkhoảng 150 trong số hơn 1000 bài và phần lớn trong số các tác phẩm này biểuhiện rõ lên hai chủ đề “Chí nam nhi” và “Triết lý cầu nhàn hởng lạc” Nhng ở

đề tài này chúng tôi chỉ nghiên cứu sáng tác về “Hình tợng con ngời dới đáyxã hội” nhằm tập trung làm nỗi bật nội dung phản ánh nghệ thuật biểu hiệncủa đề tài này trong thơ văn Nguyễn Công Trứ

Còn với Cao Bá Quát cho đến nay thì con số 1353 bài thơ và 12 bài vănxuôi vẫn còn là một minh chứng cho thành tựu của Cao Bá Quát nhng con số

đó vẫn đang bị thất lạc còn 161 bài thơ và 3 bài văn xuôi Tuy nhiên trong đó

“Hình tợng con ngời dới đáy xã hội” đợc nói đến ở đây

Những tác gia trung đại hầu hết đều gắn với những giai thoại đó lànhững câu chuyện kể ngắn gọn về những tình tiết có thực hoặc đợc thêu dệtcủa những nhân vật nhiều ngời biết đến Nguyễn Công Trứ - Cao bá Quát vớinhững đặc điểm riêng nỗi bật của cá tính từng ngời đã trở thành những nhânvật có khá nhiều những giai thoại thú vị Để làm phong phú và đầy đủ hơn choluận văn chúng tôi xin bổ sung thêm một số giai thọai có liên quan đến nhữngvấn đề trong công trình này

Bên cạnh những nội dung, chủ đề, đề tài xuyên suốt trong văn học trung

đại: Thiên nhiên, tình yêu, quê hơng đất nớc, xã hội thì hình tợng con ngời

“d-ới đáy xã hội” cũng là một mảng đề tài xuất hiện khá phổ biến trong sáng táccủa các tác giả tiêu biểu nh: Nh Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, NguyễnKhuyến, Tú Xơng Để làm rõ hơn hình tợng con ngời dới đáy xã hội trong thơvăn Nguyễn Công Trứ - Cao Bá Quát chúng tôi trích dẫn một số sáng tác củacác tác gia lớn nhằm làm sáng rõ hơn cho đề tài nghiên cứu

3.2 Đối tợng nghiên cứu

Trang 6

Để đi vào nghiên cứu một vấn đề, một đề tài nào đó việc đầu tiên làphải xác định cho đợc đối tợng cụ thể mà mình cần hớng tới, cần đi sâu tìmhiểu Để giải quyết đề tài “Hình tợng con ngời dới đáy xã hội trong thơ vănNguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát”.Chúng tôi đi sâu vào khảo sát toàn bộ thơvăn của Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát cả về chữ hán lẫn chữ Nôm Đầu tiênphải nói đến thơ văn của Nguyễn Công Trứ đợc su tầm, tập hợp một cách tơng

đối chính xác và đáng tin cậy nhất là cuốn “Thơ văn Nguyễn Công Trứ” donhóm các tác giả Lê Thớc, Hoàng Ngọc Phách, Chơng Chính giới thiệu hiệu

đính chú thích nhà xuất bản Văn Hoá.(HN 1958) Đây là công trình su tầm vềthơ văn Nguyễn Công Trứ mà chúng tôi sẽ lấy làm đối tợng để nghiên cứu.Còn về Cao Bá Quát thành tựu chủ yếu của ông là thơ chữ Hán do đó ở đâychúng tôi lấy cuốn “Thơ chữ Hán Cao Bá Quát” do nhà xuất bản Văn Học

1976 do nhóm các tác giả Vũ Khiêu, Nguyễn Lãng Tứ, Nguyễn Trác, HoàngHữu Yên, Hoàng Tạo cho đến nay thì đây là cuốn sách đáng tin cậy nhất vềthơ Cao Bá Quát

Các phơng pháp, biện pháp đều đợc sử dụng một cách triệt để theo quan

điểm lịch sử và quan điểm biện chứng của chủ nghĩa Mác -Lê Nin trong việcnghiên cứu tác phẩm văn học trung đại Việt Nam

Trang 7

Phần II - Nội Dung

Ch ơng I:

Hình tợng con ngời dới đáy trong văn học Việt Nam giai

đoạn nữa cuối thế kỷ XVIII nữa đầu thế kỷ XIX

1.1 Giới thuyết về khái niệm.

Khi bàn về “hình tợng” sách lý luận văn học, nhóm các tác giả: PhơngLựu, Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, Lê Ngọc Trà, La Khắc Hoà, ThànhThế Thái Bình nxbgd - 2002, có viết ‘t duy hình tợng là đặc trng của t duynghệ thuật” Vì vậy t duy hình tợng đòi hỏi phải có một sự khái quát cao, nhngkhông làm mất đi cái cụ thể trực quan, sinh động, quá trình hình tợng hoá,

điển hình hoá khách quan theo quan điểm chủ quan của tác giả Hình tợng cóthể hiểu một cách nôm na là hình ảnh nào đó đợc trở đi trở lại nhiều lần, gây

ấn tợng mạnh, độc đáo đặc sắc, điển hình thì đợc gọi là hình tợng

ở văn học thế giới viết về hình tợng con ngời dới đáy xã hội có nhiềutác giả tiêu biểu nhng phải kể đến Goocki, hình tợng con ngời dới đáy xã hội

đợc ông miêu tả rất nhiều tầng lớp, con ngời khác nhau (con ngời nghèo khổbần cùng, con ngời thất cơ lỡ vận, ca nhi kỷ nữ, con ngời tha hoá )

Trong văn học Việt Nam nói chung, văn học trung đại Việt Nam nóiriêng hình tợng con ngời dới đáy không phải đề tài xa lạ Khai thác về đề tàinày có các tác giả tiêu biểu sau: Hồ Xuân Hơng, Nguyễn Du sau này cóNguyễn Khuyến, Trần Tế Xơng…Hình tHình tợng con ngời dới đáy xã hội trong thơvăn Nguyễn Công Trứ -Cao Bá Quát là những ngời dân nghèo đói, vất vả, khổcực, bần cùng bế tắc, tầng lớp ca nhi kỷ nữ họ không có địa vị xă hội Nhữnghình ảnh đó đã đợc Nguyễn Công Trứ -Cao Bá Quát đa vào trong sáng tác củamình một cách sinh động và cụ thể Đọc thơ văn Nguyễn Công Trứ -Cao BáQuát viết về đề tài này ta mới thấy đợc văn học đã bớt đi lòng thơng hại của kể

bề trên ban ơn xuống cho tầng lớp dới, thái độ hời hợt kinh bạc nhờng chổ cho

sự yêu thơng trân trọng, quan tâm Chính vì thế hình tợng con ngời dới đáy xãhội trong sáng tác của Nguyễn Công Trứ - Cao Bá Quát Đặc biệt làCao BáQuát có nhiều điểm mới mẽ tiến bộ trong cách thể hiện và nhìn nhận về tầnglớp này

1.2 Hình tợng con ngời dới đáy trong văn học Việt Nam giai đoạn nữa cuối thế kỷ XVIII nữa đầu thế kỷ XIX.

Trang 8

Một hiện tợng khá phổ biến trong văn học trung đại Việt Nam là những

đề tài, chủ đề, cảm hứng lớn thờng xuất hiện trong nhiều giai đoạn cũng nhtrong những sáng tác của các tác giả văn học Cùng một hiện thực khách quancác nhà văn, nhà thơ đều có những cảm nhận riêng về hiện tợng đó tuy nhiênnhững sự cảm nhận này có thể giống nhau hoặc khác nhau, hay chỉ tơng đồng

ở một vài điểm nào đó nhng đã tạo nên một mạch cảm hứng lớn, một đề tàixuyên suốt, một chủ đề chung cho cả thời kỳ văn học Chẳng hạn chúng ta đãtừng biết đến hai nguồn cảm hứng chủ đạo xuyên suốt trong văn học trung đại

là cảm hứng yêu nớc và cảm hứng nhân đạo.Trong xu thế đó “Hình tợng conngời dới đáy xã hội” nằm trong mạch cảm hứng đó, Chính vì vậy mà luôn đợcquan tâm nhìn nhận đánh giá trên nhiều khía cạnh và bình diện khác nhau

ở đề tài này chúng tôi không tham vọng có đủ khả năng thống kê hết mọibiểu hiện của hình tợng con ngời dới đáy xã hội trong văn học Việt Namtrung đại mà chỉ xin chỉ ra những biểu hiện đó, qua một số tác giả tiêu biểucủa giai đoạn văn học nữa cuối thế kỷ XVIII nữa đầu thế kỷ XIX Qua đó đểthấy đợc một điều rằng hình tợng con ngời dới đáy xã hội trong văn học luôn

là một đề tài quen thuộc đợc các nhà văn chúng ta quan tâm Đồng thời cũng

để khẳng định những sáng tác ở đề tài này của thơ văn Nguyễn Công Trứ Cao Bá Quát nằm trong mạch chung ấy

-Chúng ta phải khẳng định rằng giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầuthế kỷ XIX trong văn học Việt Nam, chủ nghĩa nhân đạo không phải xuất hiện

nh “yếu tố” hay “tính chất” mà nh một “trào lu” Văn học giai đoạn này đợcsáng tác chủ yếu bằng chữ Nôm bao gồm một số tác giả tiêu biểu nh: Nguyễn

Du, Hồ Xuân Hơng, Nguyễn Công Trứ, Ngô Thế Lân.v.v Có thể nói hầu nhtất cả những tác phẩm tiêu biểu của văn học chữ Nôm nửa cuối thế kỷ XVIII

đến hết thế kỷ XIX, tập trung đi sâu vào vấn đề con ngời, miêu tả con ngời vớitất cả các mặt của nó, nhận thức con ngời, đề cao con ngời đấu tranh với mọithế lực đen tối phản động của xã hội phong kiến để khẳng định giá trị chânchính của con ngời Tuy nhiên bên cạnh văn học chữ Nôm, văn học chữ Háncũng đã góp phần không nhỏ miêu tả đời sống con ngời Phạm Nguyễn Du,Ngô Thế Lân, Bùi Huy Bích, Nguyễn Thiếp, Nguyễn Du, Doãn Uẩn, Lý VănPhức, Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu

Trong các bài “Điếu ngã tử” (Điếu những ngời chết đói) hay trong bài

“Cảm dân c tán lạc” ( Cảm xúc thấy dân c bị lu tán) “Văn cùng dân mẫu tử

t-ơng thực hữu cảm” (Cảm xúc thấy dân đói mẹ con ăn thịt lẫn nhau), “Điếu

Trang 9

hành khất” (Thơng những ngời ăn xin), “Mẫn học giả lu tán” (Thơng nhữngngời học giả bị lu tán), “Kiến bị hình” (Thấy ngời bị hình phạt).

Trên đờng đi Phạm Nguyễn Du đã không thể làm ngơ đến những việc

sờ sờ trớc mắt, do đó ông phải đau xót mà lên tiếng, lên tiếng cho cái bất côngtàn ác đang đổ xuống đầu những tầng lớp dới đáy xã hội Ông đã cắt nghĩa đ-

ợc nguyên nhân xâu xa dẫn đến tình trạng dân đen bị đói khổ đó chính là thói

ăn chơi của các tên vua chúa nhà Nguyễn

“Bỉ vi Giáng Hơng hề, thi vi Ngọc Khánh

nhỉ tuấn nhỉ điêu hề, dân cao sở sung

Bỉ vi Triêu Dơng hề, thử vi Kim Hoa

nhĩ đan nhỉ khắc hề, dân cốt sở tùng(Đây là Giáng Hơng đó là Ngọc Khánh, mày xây mày chạm

chừ mỡ dân điền vào

Đây là Triêu Dơng, đó là Kim Hoa, mày sơn mày khắc

chừ xơng dân chất đầy)Trong khi đó thì Bùi Huy Bích, Nguyễn Thiếp, Phạm Quý Thích, LýVăn Phức, Doãn Uẩn, Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát Nói nhiều về cuộcsống trên tất cả các mặt của nhân dân miền bắc nơi nào cũng đói khổ, đói khổ

do chiến tranh tàn phá, do hạn hán mất mùa, do tệ cờng hào hoành hành trongthôn xóm

Phạm Quý thích có bài thơ “Phó kinh Bắc” (Đi sang kinh Bắc) đã phản

ánh khá rõ nét tình hình đời sống nhân dân vùng đồng bằng miền Bắc lúc ấy

“Hoang ốc mại vi tân

Khang tỉ cam nh di

Lại lai tróc nhân khứ ”

“Nhà bỏ hoang đem bán làm củi

Ăn tấm ăn cám coi ngọt nh đờng

Thế mà nha lệ còn đến bắt ngời đi”

(Phó kinh bắc)Cũng cần phải nói thêm rằng đặc điểm chung nhất trong sự tố cáo củavăn học giai đoạn nữa cuối thế kỷ XVIII nữa đầu thế kỷ XIX các nhà thơ nhàvăn lúc này không còn đứng trên lập trờng t tởng đạo đức phong kiến để tốcáo phê phán những hiện tợng phi đạo đức Mà chủ yếu đứng trên lập trờngnhân sinh để tố cáo tất cả những cái gì là phản nhân sinh, phản tiến hoá

Viết về những ngời dới đáy xã hội các nhà văn miêu tả trên rất nhiềubình diện, niềm vui, nổi buồn, họ là lớp ngời lao động nghèo khổ, tầng lớp ca

Trang 10

nhi kỷ nữ, tầng lớp ăn mày, tầng lớp nghèo khổ bị mất hết tài sản, ruộng đất,tầng lớp bần cùng Đặc biệt là tầng lớp phụ nữ.Có thể nói , ở thời đại nào ngờiphụ nữ cũng có nỗi khổ riêng của mình

Nguyễn Du đã khái quát số phận của ngời phụ nữ trong xã hội phongkiến xa nh một định mệnh không cỡng lại đợc

“Đau đớn thay phận đàn bàkiếp sinh ra thế biêt là tại đâu”

Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII nữa đầu thế kỷ XIX nói vềphụ nữ trớc tiên là nói đến cuộc đời đau khổ của họ Chúng ta bắt gặp khánhiều những hình ảnh bất hạnh những quảng đời đau khổ những lời thoá mạ

mà họ phải chịu Hình ảnh ngời phụ nữ đau khổ vì chồng đi chiến tranh trongbài “Chinh phụ ngâm”, “Cung oán ngâm” Trong thơ Hồ Xuân Hơng là nhữngngời làm lẽ, chửa hoang, muộn chồng, chồng chết Trong thơ Nguyễn Du làhình ảnh bốn mẹ con ngời ăn xin sắp chết đói, là cô hầu gái của em đã ba con

mà vẫn mặc tấm áo cũ trớc khi lấy chồng, là cô Tiểu Thanh ở Trung Quốc lấy

lẽ một ngời bị vợ cả đánh ghen và bắt đợc ở một ngôi nhà trên núi, buồn rồichết mới có 18 tuổi đời hay hình ảnh cô Kiều

“Đã cho lấy chữ hồng nhanLàm cho cho hại cho tàn cho cân”

Chẳng cái khổ nào giống cái khổ nào, tuy vậy khi nói đến nỗi khổ củangời phụ nữ các nhà thơ giai đoạn này và trớc nữa thờng tập trung vào nhữngngời ca nhi kỹ nữ Nói chung trong xã hội phong kiến ngời phụ nữ đều bị coithờng Nhng bị khinh bỉ và đau khổ hơn cả là những ngời phụ nữ làm nghề caxớng, mại dâm bán thân nuôi miệng Nguyễn Du đã hai lần thốt lên “Đau đớnthay phận đàn bà” thì một lần ông nói về ngời kỹ nữ, rồi Cô Cầm cũng là ca

kỹ, kỹ nữ cả Thúy Kiều nhân vật mà nhà thơng yêu mến nhất cũng là ngời

“Thanh lâu hai lợt thanh y hai lần ”

Phạm Đình Hổ trong bài “Cực cơ ca” thì viết về các cô gái hát triều Lê

“Phủng trang cựu lệ tuyên phi viện án phách tân truyền lại bộ caTang hải kỉ hồi kinh nhập mộngQuần thoa vô kế mạn tuỳ baBất tri liên thuỵ cung tiền NguyệtNiên khứ niên lai hiệu nhợc hà”

(Bng nữ trang trớc cửa cung bà Tuyên Phi

Trang 11

Cầm phách gõ nhịp ca sau vào hát ở trong bộ lạiDâu bể bao phen từng giật mình trong giấc mộngQuần thoa không có kế gì phải sống buông trôiChả biết mặt trăng trớc cung Liên Thuỵ

Từ bấy đến nay bóng sáng so với trớc thế nào)

Các nhà thơ nói đến nỗi khổ của ngời phụ nữ với tất cả sự xúc độnglòng, thơng cảm, xót thơng trân trọng gây những ấn tợng rất xâu sắc

Hình tợng con ngời dới đáy xã hội đợc các tác giả giai đoạn văn họcnữa cuối thế kỷ XVIII nữa đầu thế kỷ XIX miêu tả khá đầy đủ Tuy nhiênnhững biểu hiện đợc miêu tả trên các mặt khác nhau, tập trung lại, đó chính làxuất phát từ nỗi lòng thông cảm xót thơng của các tác giả

Trang 12

Ch ơng II:

Hình tợng con ngời dới đáy xã hội trong thơ văn

Nguyễn Công Trứ - Cao Bá Quát

2.1 Thống kê phân loại

2.1.1 Số lợng sáng về hình tợng con ngời dới đáy trong thơ văn Nguyễn

Công Trứ.

Nguyễn Công Trứ để lại một kho tàng thi văn chữ Nôm phong phú gồm

có đủ loại, có tài liệu đã ghi lại thơ văn Nguyễn Công Trứ có tới hơn 1000 bài.Tuy nhiên cho đến nay do điều kiện khách quan và chủ quan nên thơ văn củaNguyễn Công Trứ đã bị thất lạc đi nhiều Theo cuốn sách biên khảo của giáo

s Lê Thớc (Lê Thớc sự nghiệp và thi văn của Uy Viễn tớng công Nguyễn

Công Trứ Imprimerie Lê Văn Tân, 1928) Ghi nhận thơ văn Nguyễn Công

Trứ đã để lại nay chỉ còn

-1 bài phú (hàn nho phong vị phú)

-52 bài thơ luật

-63 bài hát nói

-21đôi cấu đối Nôm

-2 bản tuồng (tuồng tửu hội va Lý Phụng Công)

trong tổng số gần 150 tác phẩm mà ông để lại cho đời Nguyễn Công Trứ sángtác khá nhiều đề tài Trong đó sáng tác về hình tợng con ngời dới đáy xã hội

có 12 bài, ông tập trung đi sâu vào khai thác miêu tả hai tầng lớp chính: tầnglớp nghèo khổ bần cùng, tầng lớp ca nhi kỹ nữ

2.1.1.1 Sáng tác của Nguyễn Công Trứ về tầng lớp nghèo khổ bần cùng

Thơ văn của Nguyễn Công Trứ tập trung khá nhiều vấn đề, con ngờinhân sinh xã hội chế độ Trong tổng số gần 150 bài ông để lại, viết về hình t-ợng con ngời dới đáy xã hội, tầng lớp nghèo khổ bần cùng trực tiếp huặc giántiếp có 7 bài

-Thế tình đối với ngời nghèo

Trang 13

Thơ văn Nguyễn Công Trứ viết về hình tợng con ngời dới đáy xã hội đềcập tới nhiều tầng lớp bên cạnh tầng lớp nghèo khổ bần cùng ông còn dànhmột số bài cho tầng lớp ca nhi kỹ nữ Viết về đề tài này ông có 5 bài.

kỉ XIX, thơ văn Cao Bá Quát có cả chữ Nôm và chữ Hán Theo sự thống kêcủa các tài liệu để lại ông có tới 1353 bài thơ Nhng do thất lạc trong tập thơchữ Hán của Cao Bá Quát còn 156 thơ.Trong tổng số 156 bài thơ đó viết vềhình tợng con ngời dới đáy xã hội có tới 14 bài Trong đó ông tập trung sángtác vào hai tầng lớp: tầng lớp nghèo khổ bần cùng, tầng lớp ca nhi kỉ nữ.Ngoài

ra Cao Bá Quát còn dành một số bài thơ viết về bi kich của chính mình

2.1.2.1 Sáng tác của Cao Bá Quát về tầng lớp nghèo khổ bần cùng

Sáng tác của Cao Bá Quát về tầng lớp nghèo khổ bần cùng đợc ông táihiện lại một cách và đa dạng, phong phú mọi hạng ngời trong xã hội Đó làngời đi ở, ngời ăn mày, lao động nghèo khổ, ngời vác hòm Trong tổng số

156 bài thơ chữ Hán Viết về tầng lớp nghèo khổ bần cùng có tới 11 bài

-Đạo phùng ngã phu (Giữa dờng gặp ngời đói)

-Hàn dạ tức sự (Đêm lạnh tức sự)

-Hiểu lũng quán phu.(Ngời tát nớc trên đồng cao buổi sáng)

-Mộ kiều quy nữ.(Cô gái từ trên cầu trở về lúc buổi tối)

-Cái tử.(Ngời ăn xin)

2.1.2.2 Sáng tác của Cao Bá Quát về tầng lớp ca nhi kỹ nữ.

Trang 14

Trong văn học Việt Nam viết về phụ nữ đợc các nhà văn rất chú ý Sốngtrong xã hội phong kiến ngời phụ nữ bị khinh rẽ, áp bức nặng nề nhất Tuy vậynói đến nỗi khổ của ngời phụ nữ các nhà thơ thờng tập trung vào tầng lớp canhi kỹ nữ, Cao Bá Quát rất thành công khi sáng tác về tầng lớp ca nhi kỹ nữ.

Trong tổng số 156 bài thơ chữ Hán viết về tầng lớp ca nhi kỹ nữ có 3 bài -Du hội an phùng vị thành ca giả (Chơi phố Hội -An gặp ngời đào hátthành vị)

-Đằng châu ca giả phú nhi kí hữu sở dữ,th dĩ tạng chi (Ngời đào hát ở

Đăng - Châu tên là Phú Nhi muốn xin thơ, nhân viết tặng)

-Du mổ cố trạch dạ thính đàn tranh.(Chơi ở một nhà quen cũ đêmnghe gẩy đàn tranh)

2.1.2.3 Hình tợng con ngời dới đáy thông qua chính cuộc đời tác giả-Cao Bá Quát.

Cao Bá Quát viết về đề tài hình tợng con ngời dới xã hội rất thành công

Sở dĩ có đợc thành công ấy bởi chính ông là ngời của giai cấp nông dân nghèokhổ ở mặt nào đó có thể xếp cuộc sống, hoàn cảnh của Cao Bá Quát chính làngời nghèo khổ, dới đáy xã hội Viết về cuộc sống nghèo khổ của mình, ôngmiêu tả trong các bài thơ của mình một cách trực tiếp và gián tiếp Trong đó

có 2 bài ông miêu tả một cách trực tiếp cảnh khổ mà mình phải chịu:

-Trờng giang thiên (Vịnh cái gông dài)

- Đằng tiên ca (Bài ca cái roi song)

Nh vậy xét về phơng diện số lợng tác phẩm của Nguyễn Công Trứ vàCao Bá Quát viết về hình tợng con ngời dới đáy xã hội chúng ta thấy rằng Sovới Nguyễn Công Trứ viết về tầng lớp nghèo khổ bần cùng Cao Bá Quát là ng-

ời đi sâu tập trung sáng tác nhiều hơn ông có tới 11 bài thơ viết về tầng lớpnghèo khổ bần cùng, trong khi đó Nguyễn Công Trứ có 7 bài Tầng lớp ca nhi

kỹ nữ Nguyễn Công Trứ có nhiều tác phẩm hơn (5 bài) so với Cao Bá Quát (3bài),đây củng là điều dễ hiểu bởi nó gắn với quan niệm, t tởng hàng lạc của

ông

2.2 Phân tích hình tợng con ngời dới đáy xã hội trong thơ văn Nguyễn Công Trứ - Cao Bá Quát.

2.2.1 Hình tợng con ngời dới đáy xã hội trong thơ văn Nguyễn Công Trứ.

Trong lịch sử văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII nửa

đầu thế kỷ XIX thơ văn Nguyễn Công Trứ chiếm một vị trí khá đặc biệt.Nguyễn Công Trứ tên tục là Củng, tự là Tồn Chất hiệu là Ngộ Trai, biệt hiệu

Trang 15

là Hy Văn, sinh năm 1778 ngời làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh HàTĩnh, ông mất năm1858 Sinh ra và lớn lên khi triều đại phong kiến nhàNguyễn đang ở giai đoạn thịnh trị Ngời ta biết đến Nguyễn Công Trứ nh mộtnhà chính trị gia lỗi lạc, một nhà kinh tế tài ba và một tác gia lớn của nền vănhọc Việt nam trung đại.

Xét về thơ văn của Nguyễn Công Trứ, sáng tác của ông không quá lớn

về số lợng, ông không có văn tập, thi tập để lại nhng thơ văn ông lại chứa

đựng rất nhiều vấn đề quan trọng lí thú và phức tạp đã từng là nguồn gốc chonhiều ý kiến đánh giá nhận định phong phú và không thống nhất

Thơ văn Nguyễn Công Trứ bao gồm một nội dung khá phức tạp kết tinhmột trạng thái ý thức của thời đại Vừa ca tụng con ngời hoạt động, lại vừa catụng lối sống hởng lạc, cầu nhàn, vừa ca tụng Nho giáo lại vừa ca tụng Đạogiáo, vừa lạc quan tin tởng lại vừa bi quan thất vọng, vừa tự khẳng định mìnhlại vừa tự phủ định mình vv Nguyễn Công Trứ là một khối mâu thuẩn lớn

Nhìn tổng quát thơ văn của Nguyễn Công Trứ tập trung vào ba mảng đềtài lớn sau Những bài thơ xoay quanh “chí nam nhi”, “cảnh nghèo và thế tháinhân tình”, những bài thơ xoay quanh triết lý “cầu nhàn hởng lạc” Thông qua

ba mảng đề tài này đã thể hiện đợc t tởng, tâm t tình cảm Nguyễn Công Trứgửi gắm vào tác phẩm Tuy nhiên vấn đề ta nghiên cứu ở đây đó chính là hìnhtợng con ngời dới đáy xã hội trong thơ văn của Nguyễn Công Trứ

Hình tợng con ngời dới đáy xã hội trong thơ văn của Nguyễn Công Trứ

số lợng tác phẩm nói đến bộ phận này không nhiều nhng nó đợc miêu tả đầy

đủ mọi tầng lớp, mọi khía cạnh

Nguyễn Công Trứ đã miêu tả con ngời dới đáy xã hội thông qua cáctầng lớp sau

+ Tầng lớp ngời lao động nghèo khổ, bần cùng

ông” Quả vậy chừng ấy năm đối với ông thấm thía hơn ai hết cuộc sốngnghèo khổ của những ngời lao động chân chất Viết về đề tài ngời lao độngnghèo “Thơ văn ông viết về đề tài này rất thực, rất giản dị, dễ đi vào lòng ng-

Trang 16

ời” (1).Trong số gần 150 tác phẩm của Nguyễn Công Trứ mà chúng ta su tập

đợc từ trớc đến nay, chủ đề về những ngời lao động nghèo khổ đợc tác giả thểhiện qua một số thể loại, về thơ chữ Nôm, chữ Hán, nhng chủ yếu là bằng chữNôm

Có rất nhiều ý kiến khác nhau khi nói về thơ văn Nguyễn Công Trứ đốivới tầng lớp dới đáy xã hội Có ngời nói ông không hề quan tâm đến đời sốngnhân dân, nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn nói “sự thiếu vắng trong thơ vănNguyễn Công Trứ mảng đề tài về cuộc sống của nhân dân" (2) hay “Tại sao thơ

ông lại im lặng trớc nỗi khổ của ngời nông dân”.

Trong tạp trí văn học số 5 năm 1962 đã từng viết “Trớc sau NguyễnCông Trứ vẫn cha nhìn thấy nhân dân” (3).Một số tác giả trong tạp chí cònmạnh dạn lên tiếng rằng “Thơ văn Nguyễn Công Trứ không có bài nào tỏ raquan tâm đến nhân dân Chủ nghĩa anh hùng của ông lấy anh hùng làm cứucánh Ông muốn vẫy vùng trong bốn bể và xẻ núi lấp sông không phải vì nhândân vì đất nớc mà để làm nên “đấng anh hùng đâu đấy tỏ” Nguyễn Công Trứvì anh hùng mà muốn làm đấng anh hùng vậy” (4)

Cho đến bây giờ có rất nhiều ý kiến khác nhau khi đánh giá về thơ văncủa Nguyễn Công Trứ Khi ta nghiên cứu con ngời Nguyễn Công Trứ ở ông

có cái khác với những nhà thơ nhà văn khác đó là ta phải xét trên quan điểmlịch sử để nghiên cứu Nguyễn Công trứ không quan tâm đến nông dân thìnhững việc ông làm cho nhân dân nh khai hoang đó là gì, qua việc ông tâu sớlập ấp làng, tạo kỉ cơng đó không phải là cho dân sao Thơ văn của NguyễnCông Trứ viết về đề tài nông dân nghèo khổ bần cùng không ít Ngay cuộcsống nghèo khổ của Nguyễn Công Trứ của ông “công tử xác” cũng khiến choNguyễn Công Trứ là ngời của nông dân rồi, ông là ngời hiểu hơn ai hết nỗikhổ mà ngời dân phải chịu Có lẽ vì vậy mà ông nói ít thay vào đó là nhữngviệc làm cụ thể

Khi chứng kiến cảnh nghèo khổ khốn cùng của nhân dân ông làm bàithơ “Vịnh cảnh nghèo” ông cất lên tiếng nói xót xa thông cảm với cảnh ngộcủa ngời nghèo khó

“Chẳng phải rằng ngây chẳng phải đần Bởi vì nhà khó hoá bần thần”

(Vịnh cảnh nghèo)

1() Trần Nho Thìn (Nguyễn Công Trứ tác gia tác phẩm)

2() Hoàng Hữu Yên (Văn học việt nam nữa cuối XVIII - đầu XIX)

3() Tạp chí nghiên cứ văn học số 5

4() Tạp chí nghiên cứu lịch sử số 152/1973

Trang 17

Nhà thơ giải thích rất cụ thể rằng ở đây không phải là ngây đâu, cũngchẳng phải đần mà vì nghèo quá, nên mới ra nông nỗi này.

Ông dùng ngôn ngữ tởng nh xuồng sã mới đọc ta nhầm tởng nh khinh

bỉ coi thờng “Nghĩ phận thằng cùng phải biết thân” Nhng đó lại là cách dùng

từ rất sát rất đắt, bởi đó là khẩu ngữ mà xã hội phong kiến dành cho những

ng-ời nghèo khổ bần cùng Nhng ông cũng giải thích nh một giải pháp động viêntinh thần “Hết sui rồi lại may ấy mà” (Vịnh cảnh nghèo)

Nhiều lúc ngẫm nghĩ lại ông thấy cơ tạo đối với ngời dân lao độngnghèo khổ thật bất công Những ngời nghèo khổ đều bị khinh ghét “yêu vì đâu

đến đứa không nhà” nhng rồi ông vẫn động viên họ rằng không thể ở trongcảnh ngộ này mãi “vạch vôi lấy đó mãi ru mà”

Khi viết về những ngời nghèo khổ bần cùng, Nguyễn Công Trứ có cáchnhìn khác với mọi ngời, đó là cái nhìn lạc quan tin tởng vào ngày mai ông giảithích rất hồn nhiên bởi đó là “cái số”, “mệnh trời”

Nói về những ngời dân ông có nhiều bài thơ đề cập trực tiếp hoặc giántiếp “Thế tình đen bạc”, “Khuyên ngời đời”, “Vịnh nhân tình thế thái” Có bàithì ông nói đến nguyên nhân làm cho con ngời ta phải khổ, hay phê phán cáchnhìn của bộ phận phong kiến đối với tầng lớp nghèo khổ bần cùng này

Tuy nhiên nói đến cảnh nghèo khổ bần cùng, giọng văn của NguyễnCông Trứ, không bao hàm thuần tuý tiếng nói tố cáo nh chúng ta hay chờ đợi

từ những bài thơ “hiện thực phê phán” chiến tranh phong kiến phi nghĩa Dờng

nh đó chỉ là những lời động viên khuyên nhủ của một ông quan đối với nhữngthần dân của mình

Nói về những ngời lao động nghèo khổ bần cùng trong thơ văn củaNguyễn Công Trứ ta không thể không nói đến bài thơ “gánh gạo đa chồng”bài thơ đề cập một cách rõ nhất khía cạch của cuộc sống ngời dân thờng trongnhững cuộc hành binh dẹp loạn mà ông chứng kiến đợc Ông đã ví hình ảnhcon cò với ngời dân nghèo khổ bần cùng lặn lội kiếm ăn Nguyễn Công Trứ đãlấy từ chất liệu dân gian để sử dụng một cách linh hoạt khi nói về ngời dân

“Con cò lăn lội bờ sô

Gánh gạo đa chồng tiếng khóc nỉ non”

(Gánh gạo đa chồng) Trong văn học trung đại Việt Nam giai đoạn nữa cuối thế kỉ XVIII nữa

đầu thế kỉ XIX rất nhiều nhà văn nhà thơ quan tâm tới cuộc sống nghèo khổcủa ngời dân Nhng mỗi ngời đều có cách thể hiện tình cảm riêng của mìnhNguyễn Công Trứ cũng là một trờng hợp nh vậy

Trang 18

Bên cạnh những ngời lao động nghèo khổ bần cùng thơ văn của NguyễnCông Trứ còn đề cập tới một tầng lớp ngời dới đáy xã hội đó là tầng lớp ca nhi

kỹ nữ

2.2.1.2 Sáng tác của Nguyễn Công Trứ về tầng lớp ca nhi, kỹ nữ.

Bàn về tầng lớp ca nhi, kỹ nữ trong thơ Nguyễn Công Trứ ta cần phảixét thêm về chính con ngời của ông bởi vì “thơ văn là tiếng nói tâm hồn” do

đó cách sống, cách suy nghĩ chi phối rất lớn tới thơ văn Nguyễn Công Trứ cólối sống hởng lạc nỗi lên hẳn là thú chơi “hát ả đào”, đây là lối sống khá phổbiến trong giới trí thức nho sĩ quý tộc phong kiến Theo các t liệu để lại đã chothấy chỉ riêng gia đình Nguyễn Du từ ông anh cả Nguyễn Khản đến ngay cảNguyễn Du đều thích môn nghệ thuật này Với Nguyễn Công Trứ ông đã đẩylên thành một nghệ thuật hoàn chỉnh và trở thành niềm say mê hởng thụ thựcsự

Mặc dù Nguyễn Du và Nguyễn Công Trứ có chung một sở thích hát ả

đào Nhng khi viết về tầng lớp này ở hai ông có sự khác biệt rất lớn có thể nói

là khác hoàn toàn trong cách thể hiện Với Nguyễn Du ông thể hiện một tìnhcảm xót thơng yêu mến, trân trọng, thông cảm, chia sẻ với những nỗi khổ đaubất hạnh với những ngời làm nghề ca xớng, mại dâm “đau đớn thay phận đànbà” Sau Nguyễn Công Trứ cũng có Cao Bá Quát đã thể hiện tình cảm xót th-

ơng trân trọng đối với bộ phận ca nhi, kĩ nữ Còn đối với Nguyễn Công Trứcách nhìn nhận có khác, có một giai thoại kể về chuyện ông Trứ mê hát ả đào

mê luôn cô hát, vì mê cô đào mà ông lân la muốn làm ngời phục vụ cho côhát, một lần trên đờng đi diễn ông đã giả vờ để quên đồ ở nhà bắt ngời đi theo

về lấy, lúc này ở giữa cánh đồng vắng chỉ có mình Nguyễn Công Trứ và cô

đào ông đã buông lời chọc ghẹo cố ý “ởm ờ” nhng đã bị cô đào kháng lại Saunày lúc ông làm quan gặp lại ngời hát này ông đã lấy cô ta làm vợ Ngay câuchuyện này cũng cho ta thấy cách đánh giá nhìn nhận về tầng lớp ca nhi, kĩ nữ

có khác, ở tầng lớp này ông nhìn họ dới con mắt của một ngời hởng “lạc thú”.Trong bài “Tài tình” đã thể hiện rõ

“Có yến yến hờng hờng mới thú Khi dắc ý mắt đi mày lại

Đủ thiên thiên thập thập thêm nồng”

(Tài tình)

Và ông cho rằng chuyện này không nên cho rằng lạ “Thiên vạn khuyếnquân mạc quái”

Trang 19

Bài thơ “Bỡn cô đào già” là kết quả của một mối tình Nguyễn Công Trứvới cô đào tên là Hiệu Th.

“Liếc trông đáng giá mấy mời mơi

Đem lạng vàng mua lấy tiếng cời

Giăng xế nhng mà cung chẳng khuyết

Hoa tàn song nhị lại còn tơi”

(Bỡn cô đào già)

Nguyễn Công Trứ miêu tả vẻ đẹp bên trong của cô đào già, ông đã nhìnthấy đợc vẽ đẹp ấy Tuy nhiên ở bài thơ “Bỡn cô đào già”này chứng tỏ đợc cáithú say mê ả đào Ông Lê Thớc đã từng nói “Trong cái tình si đối với ả đàocủa chàng thanh niên Nguyễn Công Trứ có rất nhiều chất nhục dục len vàolàm động lực căn bản Còn những rợu ngọt, hát hay, thơ Nguyệt Lộ, “đàn nămcung réo rắt” “cờ đôi nớc rập rình” Tất cả những hơng vị, âm thanh nhữngkích thích ấy chỉ cốt làm cho “thêm nồng” cái thú “hờng hờng”, “yến yến”

Khi Nguyễn Công Trứ tiếp xúc với bài Tì Bà Hành của Bạch C Dị ông

đã cảm nhận đợc tâm tình của ngời gảy đàn ông đã vịnh bài thơ đó “Vịnh tìbà” Nguyễn Công Trứ tuy sống trong tâm thế hởng lạc Nhng nhiều khi ôngvẫn thấy đợc nỗi khổ của những ngời đàn bà này, ông hiểu đợc nguyên nhânkhiến cho họ rơi vào cảnh “hồng nhan bạc mệnh”

“Ai oán nhẽ bốn dây văng vẳng

Nh bất bình, nh khấp, nh tố, nh oán, nh van”

(Vịnh tì bà)

Viết về những ngời phụ nữ dới đáy xã hội tầng lớp ca nhi, kỹ nữ, NguyễnCông Trứ có một cái nhìn khác so với đại bộ phận các nhà văn nhà thơ thờiTrung Đại Cũng do nguyên nhân trong t tởng hành lạc của ông có nhièu điểmkhông tốt Trong việc hành lạc điều đáng phê phán nhất ở Nguyễn Công Trứ

là thái độ của ông đối với phụ nữ Trớc kia ông mang nặng t tuởng nho Giáo( khắt khe đối với phụ nữ ) Trong khi Nguyễn Du và đại bộ phận các nhà thơcùng thời đều ủng hộ Thuý Kiều thì trái lại Nguyễn Công Trứ lại có cái nhìnhoàn toàn khác trong bài “Vịnh Thuý Kiều”,ông lên án Thuý Kiều “Đoạn tr-ờng cho đang kiếp tà dâm”, ông coi những việc làm của Kiều là bình thờng

“nặng vì hiếu, nhẹ vì tình cũng phải” Nhng khi Kiều đã là gái lầu xanh rồi

“cánh hoa tàn đem bán chốn thanh lâu” ông lại phê phán giờ thì “còn gì làhiếu nữa”, mọi cái hy sinh của Kiều đều là vô nghĩa ? Ông dùng những từsuồng sã nặng nề đối với Kiều “Bớm chán ong chờng “Cái nhìn của NguyễnCông Trứ thật có vấn đề, ông nhìn Kiều nói riêng và phụ nữ nghèo khổ trong

Trang 20

giai đoạn này nói chung thật sai lệch Mặc dù ông có những lúc nhìn họ với

ánh mắt thông cảm xót thơng Nhng nhìn chung do hạn chế về lối sống đãkhiến cho t tởng của Nguyễn Công Trứ lệch lạc, hời hợt

Về sau đi vào hởng lạc, ông lại càng coi thờng những phụ nữ đó hơn.Nguyễn Công Trứ đã ví họ nh những bông hoa và ông rất ngạo mạn “Trămhoa cũng bẻ một cành” ( yêu hoa )

Chính vì những t tởng đó nên nó đã chi phối đến cách suy nghĩ củaNguyễn Công Trứ Trong suốt khoảng thời gian làm quan của mình NguyễnCông Trứ dờng nh không nhìn thấy đợc nỗi khổ của đại bộ phận con ngời “dới

đáy xã hội “, hay nói cụ thể hơn ông coi những ngời phụ nữ làm nghề ca kỹchỉ là phơng tiện công cụ để ông thực hiện cái thú hởng lạc “chơi hoa” của

ông

Mặc dù ông đã làm nhiều việc cho dân nh: lập hai huyện Tiền Hải vàKim Sơn, ngoài ra ông còn lập một số ngôi làng cho nhân dân, ông đã tâunhiều sớ đòi quyền lợi cho dân

Nhận định về t tởng cua Nguyễn Công Trứ có rất nhiều ý kiến khácnhau, thậm chí là không đồng tình với ông Nhng dù sao đi vào tìm hiểu thơvăn và t tởng của Nguyễn Công Trứ ta phải đặt nó trong bối cảnh xã hội địa vịcủa ông mà có cách nhìn sao cho hợp lý và thông cảm

2.2.2 Sáng tác của Cao Bá Quát về hình tợng con ngời dới đáy

Nghiên cứu thơ văn Cao Bá Quát cũng nh nghiên cứu nhiều tác giả kháctrong văn học quá khứ hiện nay còn vấp phải khá nhiều khó khăn Do nhiềuyếu tố khách quan chủ quan khiến cho tác phẩm mất mát nhiều khó mà có thểnhận định một cách toàn diện những yếu tố liên quan đến các bài thơ bài văn(ngày tháng, xuất sứ, hoàn cảnh ra đời) không xác định một cách rõ ràng dẫn

đến việc nhận định đánh giá t tởng thái độ của tác giả cũng gặp nhiều khókhăn đó là cha kể các yếu tố bên ngoài tác động vào các bài thơ bài văn, nhngời nọ lại chép lại của ngời kia “Râu ông nọ cắm cằm bà kia”, chép sai, chépsót v.v

Với Cao Bá Quát những thành tựu thơ văn của ông là rất lớn nhng dohoàn cảnh khách quan và chủ quan đa lại cho đến bây giờ không còn lại làbao, nhng với những gì ông để lại đã góp phần làm giầu thêm cho kho tàngvăn học nớc nhà và khẳng định vị trí của ông trên văn đàn văn học Việt Nam

2.2.2.1 Sáng tác của Cao Bá Quát về tầng lớp nghèo khổ, bần cùng

Trang 21

Viết về tầng lớp nghèo khổ bần cùng trong xã hội thơ Cao Bá Quátnhìn nhận đối tợng ở khía cạnh con ngời số phận, bi kịch của họ Khía cạnhnày mang tính nhân văn thâm thuý Vì đã nói đến hạng ngời “dới đáy” conmắt thông tục ít ai nhìn thấy sự ngang hàng giữa họ với mình Cao Bá Quát đãkhông rơi vào những hạn chế của thói tục Ông nhìn nhận những con ngời đóvới tình cảm trân trọng thơng yêu.

Trong bài “Các thí nông phu lạc tuế hành” Cao Bá Quát nh reo lên vớiniềm vui của ngời nông dân vào một năm gió thuận ma hoà, mùa màng tốt tơi,

có của ăn của để Hay tiếng hò reo của ngời chèo đò, tiếng hát của ngời giãgạo trong bài “thôn c vãn cảnh”

Tuy nhiên những hình ảnh đó là rất hiếm Trong phần lớn sáng tác của

ông thờng nói đến nỗi xúc động, cảm thơng chia xẻ lòng mình trớc nhữngcảnh đời cơ cực Cao Bá Quát vận dụng thủ pháp tự sự một cách linh hoạt vàsắc sảo bằng mấy nét vẽ lên nh tạc những con ngời bần cùng khốn khổ mà ông

đã bắt gặp trên đờng nay đây mai đó

Bài “Đạo phùng ngã phu” (giữa đờng gặp ngời đói) là hình ảnhmột ngời đói với dáng đi liêu xiêu, thất thểu quần áo rách tả tơi của một ôngthầy thuốc từ vùng quê lên kinh đô hành nghề kiếm sống

“Vũ vũ thuỳ gia tử

Y phá lạp bất hoànThúc tòng nam phơng lai Hớng ngã tiền đầu than

ông hết sức cảm thông thơng yêu họ Chính vì vậy ông khuyên thầy lang kia

“Mạn dã mạc sâu yết

Trang 22

Bao doanh phi tráng nhan”

(Thong thả chứ đừng nuốt vội

No vội quá không làm cho khoẻ ngời đâu)

Đó là những tình cảm của mình đối với những ngời nghèo khổ Ôngkhông phân biệt giữa mình với bộ phận những ngời dới đáy xã hội ở trong ôngtất cả đều bình đẳng nh nhau Ngay cả hình ảnh ngời đầy tớ của mình cũng đ-

ợc ông thơng yêu khi ông lấy chiếu đắp cho ngời đầy tớ khi thấy đêm lạnhtrong bài “Hàn dạ tức sự” (Đêm lạnh tức sự)

Cao bá quát dờng nh có mặt ở mọi nơi, thấu hiểu đợc mọi mỗi giantruân của con ngời Ông đã quan sát miêu tả ngời tát nớc trên đồng cao buổisớm (Hiểu lũng quán phu)

“Vụ lí song cao tấn thủ khiên Phúc hiêu, thần chiến, đoản xoa xuyên”

(Trong sơng mù tay lôi chiếc gầu đôi thoăn thoắtBụng đói môi run mình khoác chiếc áo tơi ngắn)Hay cảnh một cô gái nghèo trời rét nh cắt da, cắt thịt, vẫn phải bánchiếc áo trên ngời để mua tấm, cám về cho gia đình Trong bài “Mộ kiều quynữ” (Cô gái từ trên cầu trở về lúc buổi tối) “Phong lộ quá kiều hồn bất ác”(Trong sơng gió cô thản nhiên bớc qua cầu không biết rét)

Cao Bá Quát đã thấu hiểu đợc nỗi khổ mà những ngời nghèo phải chịu.Bài “Đại hàn”, đó là nỗi khổ không có áo mặc khi mùa rét tràn về Hay ôngnhìn trận ma dữ, nghĩ ngay đến những ngời dân họ phải chịu những cảnh mấtmùa lầm than, đói khổ trong bài “Đối vũ” (Nhìn ma)

Đối với những cậu bé nghèo khổ phải ở đợ làm tôi tớ cho ngời khác đợcCao bá quát miêu tả bằng bút phát thể hiện sự trân trọng nâng niu Trong bài

“Hàn dạ ngâm” Nhà thơ kể lại một đêm đông buốt giá, nhà thơ không ngủ

đ-ợc, gọi chú bé giúp việc dậy thắp đèn để ông chữa những câu thơ vừa mới làm.Chú bé rét quá không chịu dậy, cứ nằm rên h hử, nhà thơ vội vàng trở dậy lấychiếu đắp thêm cho chú

“Hàn cực bất năng miên Khởi cải tân thi cúChúc tận hoãn nô thiêmNô ngoạ thân ngâm cửuXuyết tịch khứ thông thôngKhớc bả nô nhi phú”

(Rét quá không ngủ đợc

Trang 23

Trở dậy chữa câu thơ mới làm

Đèn hết dầu gọi nhỏ xót thêmNhỏ cứ nằm lì rên rỉ

Vội vàng đi lấy chiếu

Đem đắp lên mình nhỏ)

(Hàn dạ ngâm - Bài ngâm đêm lạnh)Trong bài “Phụ tơng tử” (Ngời vác hòm), Cao Bá Quát chỉ cho chúng tathấy quá trình tha hoá đến bần cùng của bác nông dân Từ chỗ có mời mẫuruộng đến chỗ phải đi tha phơng cầu thực vì đói kém Nhng số phận của ngờinông dân không dừng lại ở đó nó còn đeo đuổi anh ta mãi khi trở về quê lại bị

đám chức dịch xúm vào bắt nộp thuế cho mời mẫu ruộng hoang mà ruộng thìkhông cầm cố hay không bán đợc Cùng đờng anh phải đi làm thuê nó đãkhiến cho anh từ con ngời tự do thành con ngời nô lệ) “Xuy cấu nhật giaotinh”(nhng hàng ngày cứ bị đánh mắng luôn)

Nhất là anh phải chứng kiến những điều ngang trái mà trớc kia anh chabao giờ nếm trải

“Đờng thợng xung phì cam Hạ tận xấu lộ tích”

(trên nhà của ngon vật lạ ê chềdới bếp ngời nào cũng gầy dơ xơng) (Phụ tơng tử)Dờng nh tác giả không dừng lại ở đó Ông đã miêu tả cuộc sống của ng-

ời nông dân nh không còn lối thoát, nợ thuế đã lâu ngày “tô trách nhật di cửu”trong khi đó tiền công làm mớn chẳng đợc bao nhiêu chẳng may trong khi dọntiệc rợu lỡ tay đánh vỡ cái bình bằng ngọc lu li của ông chủ

“Thuỳ gia vô chủ nhân khứ thử dục hà thích?”

(Có nhà nào mà không có ông chủ

Bỏ đây còn biết đi đâu)Bài thơ ngời vác hòm đã khắc hoạ đợc một biểu tợng rất đắt về sự “cùng

đờng” của một phân số nông dân trong xã hội Việt Nam đơng thời

Cao Bá Quát đã thể hiện tình cảm của mình bằng việc tự mình trực tiếpquan sát cảnh đời sống nhân dân nh thế nào Có hôm ông đi vào xóm nghèokhổ ngoài bãi Vào chợ Phúc - Lâm thấy ngay cảnh mọi ngời nhớn nhác chạy

đến và gọi nhau”

‘Nam đồng tơng khiếu cấp báo bôn”

Trang 24

(Nhanh! nhanh! có công sai về đấy)Tác giả hỏi nhỏ ông lão đứng gần xem sự thể, thì mới biết dân phải litán bởi nạn bắt phu bắt lính Quan huyện thì đánh đập dã man mùa màng thìthất bát, thuế má mỗi năm tăng lên Đời sống những ngời dân đã nghèo cònbần cùng hơn.

“Đông gia cỏ ngoa, tây gia tỷ

suyễn tứcvị phong thập nhất nhị”

(nhà xóm đông nằm đấy chịu đói, nhà xóm tây rời đi nơi khác

những ngời còn chút hơi tàn cha chết, mời phần chỉ có một hai )

Khi dân đói rét quá thì vua quan thờng tổ chức phát chẩn họ làm cáiviệc theo lệ thờng, mang tính phô trơng, ban ơn “lấy lộc” “trả cho dân từngthia cái mà họ cớp của dân từng thùng”.Cao Bá Quát đã chứng kiến cảnh phátchẩn, cảnh nheo nhóc bồng bế nhau đi nhận phát chẩn.Tình cảnh đó đập vàomắt ông khiến cho ông vô cùng bực bội “biết ai vẽ cảnh này cho vua xem”Cao thấy thẹn cho chính mình, cha đời nào mà vua lấy của dân, quan làmphiền dân nh đời này

“Văn đạo cật triêu tơng chẩn thí khả liên dị cảnh diệc huề phù”

(nghe nói sớm mai sắp có cuộc phát chẩn ngời ở nơi khác cũng bồng bế nhau đến, tình cảnh đáng thơng )

Do cuộc sống khổ cực bần cùng mà ngời ăn xin đầy rẫy khắp nơi cónhiều lý do khiến cho ngời dân phải rơi vào cảnh này, ngời vì không có tiền

đóng thuế phải đi trốn và đi ăn xin, có ngời do cớp mất ruộng đất tài sản màrơi vào cảnh này Nhìn chung cuộc sống của họ đã rơi vào bớc đờng cùngkhông lối thoát Trong bài “Cái tử” (Ngời ăn xin) Cái nhìn tinh tế của tác giả

đã nhận ra một thoáng tần ngần nơi ngời ăn mày, chứng tỏ anh ta còn có chút

tự trọng Nhng tự trọng cũng chẳng đợc, vì bộ dạng cổ quái tự nó đã tố cáoanh ta là ngời không còn đờng sống “y khiện song lạp phá”(lê cái áo bằng hai

mê nón rách chắp lại Chính cái bộ dạng cổ quái này khiến cho lũ trẻ chọcphá, tò mò, nhòm ngó Cao Bá Quát đã đứng ra bảo vệ ngời ăn mày

“Bất tài diệc nhân dã

Nhi nữ mạc khiêu du”

(Dù hèn nhng vẫn là ngờiCác em đừng nên trêu chọc)Khỏi phải nói, bút pháp tả thực của Cao Bá Quát là sự kế tục bút lựcnặng cân của Nguyễn Du “Thái Bình mại ca giả”(Ngời hát rong ở châu Thái

Ngày đăng: 18/12/2013, 20:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w