1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hình tượng người phụ nữ trong sử thi cổ đại qua hai nhân vật pênêlôp( ÔĐIXÊ) và SITA (RAMAYANA)

54 6,5K 27
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hình tượng người phụ nữ trong sử thi cổ đại qua hai nhân vật pênêlôp (ôđixê) và sita (Ramayana)
Tác giả Nguyễn Thị Lệ Hằng
Người hướng dẫn T.S. Nguyễn Văn Hạnh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Khoá luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2007
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 162,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Pênêlốp trong Ôđixê và Sita trong Ramayana là những nhân vật nữ lý tởng của thời đại sử thi.. Trong sử thi cổ đại, có hai hình tợng ngời phụ nữ lý tởng kếttinh vẻ đẹp của cộng đồng, của

Trang 1

Hình tợng ngời phụ nữ trong sử thi cổ đại qua hai nhân vật pênêlôp ( ôđixê ) và sita ( Ramayana )

KHoá luận tốt nghiệp đại học

ngành cử nhân khoa học ngữ văn

Ngời hớng dẫn: T.S Nguyễn Văn Hạnh

Ngời thực hiện : Nguyễn

Trang 2

Lời cảm ơn

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp chúng tôi đã nhận đợc sự hớng dẫn tận tình của thầy giáo TS Nguyễn Văn Hạnh Bên cạnh đó, chúng tôi còn nhận đợc sự góp ý chân thành của các thầy cô giáo trong tổ bộ môn văn học nớc ngoài, sự khích lệ, động viên của gia đình, bạn bè Nhân dịp này tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các thầy cô giáo, gia đình, bạn bè - những ngời đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này Mặc dù đã có nhiều cố gắng song không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì thế tôi rất mong nhận đợc sự cảm thông và góp ý của các thầy cô giáo và các bạn để khoá luận đợc hoàn chỉnh hơn.

Xin chân thành cảm ơn!

Ngời thực hiện

Nguyễn Thị Lệ Hằng

Trang 3

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Sử thi (còn gọi là Anh hùng ca) nghĩa là vừa có tính chất sử thi vừa

có tính chất thi (ca ngợi) Sử thi là thể loại tự sự dài thờng là thơ, đợc xuấthiện rất sớm trong lịch sử văn học của các dân tộc nhằm ca ngợi sự nghiệpanh hùng có tính toàn dân và có ý nghĩa trọng đại đối với dân tộc trong buổi

đầu của lịch sử Cơ sở xã hội của sử thi là xã hội thị tộc Thời kỳ này, conngời cá nhân, cá tính cha xuất hiện, chỉ có con ngời của chủ nghĩa tập thể,một chủ nghĩa tập thể vững chắc, nghiêm ngặt Đặc trng chủ yếu của sử thi

là biểu hiện ý thức cộng đồng của nhân dân, dân tộc đối với quá khứ vẻvang của mình Về điều này, Phơng Lựu viết: “Đặc điểm của nhân vật sử thi

là tầm cỡ dân tộc Cái đẹp của họ là vẻ đẹp dân tộc Cái giàu mạnh của họ

là giàu mạnh dân tộc, cá tính của họ cũng là của dân tộc” [6, tr.331] Những

tác phẩm lớn nh Iliat của Homere, Ramayana của ấn Độ đều đã thể hiện

một cách đầy đủ những đặc điểm trên đây của sử thi

Trong văn học nghệ thuật Hilạp từ nhiều thế kỷ nay, anh hùng caHômer đã trở thành nguồn đề tài vô tận cho các loại hình nghệ thuật khácnhau (truyện kể, thơ ca, vũ kịch, điêu khắc ), thậm chí cả ngôn ngữ giaotiếp hàng ngày Nói đến anh hùng ca Hômer là nói đến hai bản trờng ca

Iliat và Ôđixê gồm 12.110 câu thơ, đợc chia thành 24 khúc ca Bên cạnh đó,

sử thi Ramayana cũng là một cuốn sử thi vĩ đại của ấn Độ Ramayana gồm

24.000 Sloka (24.000 khổ thơ 2 câu), đợc chia thành 7 khúc ca lớn Bên

cạnh giá trị văn hoá, Ramayana còn chứa đựng nội dung t tởng, trở thành

thánh kinh của ngời ấn Độ

Tầm vóc và ảnh hởng của hai tác phẩm Ôđixê và Ramayana đã vợt ra

ngoài biên giới quốc gia, trở thành di sản tinh thần chung của nhân loại.Tìm hiểu thế giới nhân vật, đặc biệt là những nhân vật phụ nữ lý tởng nhPênêlốp, Sita có ý nghĩa hết sức lớn lao trên nhiều phơng diện Mỗi thời đại,mỗi dân tộc có một quan niệm khác nhau về cái đẹp nói chung và về vẻ đẹp

của ngời phụ nữ nói riêng Pênêlốp (trong Ôđixê) và Sita (trong Ramayana)

là những nhân vật nữ lý tởng của thời đại sử thi Họ kết tinh vẻ đẹp của

cộng đồng, của thời đại Mặt khác, Ôđixê và Ramayana là hai bộ sử thi

Trang 4

thuộc hai vùng văn hoá khác nhau Vì thế, nghiên cứu vẻ đẹp của hai hình ợng Pênêlốp và Sita có ý nghiã trên nhiều phơng diện Nó không chỉ giúpchúng ta nhận thức đợc vẻ đẹp của chính bản thân nhân vật, mà còn thấy đ-

ợc quan niệm thẩm mỹ của thời đại sử thi, và sự tơng đồng khác biệt về lý ởng thẩm mỹ giữa hai dân tộc ấn Độ và Hilạp

t-1.2 Từ nhiều năm nay, hai tác phẩm Ôđixê và Ramayana đã đợc giảng

dạy và học tập trong hệ thống nhà trờng Việt Nam Tuy nhiên, có một thực

tế là trong quá trình giảng dạy và học tập cả ngời dạy và ngời học đang gặpkhông ít khó khăn cả về t liệu và phơng pháp tiếp cận Một thực tế cho thấy,khi phân tích các nhân vật sử thi, ngời dạy và ngời học thờng ít quan tâm

đến thi pháp thể loại Hệ quả của nó là, phân tích một tác phẩm sử thi cũngkhông có nhiều khác biệt so với phân tích một truyện cổ thậm chí là mộttruyện ngắn hiện đại Từ nhận thức đó, qua việc tìm hiểu hai nhân vật nữ lýtởng Pênêlốp và Sita, chúng tôi hy vọng góp một phần nào đó vào việc tháo

gỡ khó khăn trên đây

2 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài

2.1 Nh tên đề tài đã xác định, mục đích của đề tài là tìm hiểu hình tợng

ngời phụ nữ trong Sử thi cổ đại qua hai nhân vật Pênêlốp và Sita Từ đó chothấy những điểm tơng đồng và khác biệt trong quan niệm của ngời phơng

Đông và phơng Tây về vẻ đẹp của ngời phụ nữ cổ đại

2.2 Với mục đích trên đây, đề tài có nhiệm vụ:

Thứ nhất, chỉ ra những tiền đề lịch sử - xã hội cho sự xuất hiện của hai

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tợng nghiên cứu của đề tài là vẻ đẹp lý tởng của ngời phụ nữ cổ

đại đợc kết tinh ở hai nhân vật Pênêlốp và Sita

Trang 5

3.2 Cho đến nay, hai tác phẩm này đã có những bản dịch khác nhau.

Do cha có điều kiện khảo sát trên nguyên tác, chúng tôi chọn các bản dịch

sau để khảo sát: Ôđixê, bản dịch của Phan Thị Miến, Nxb Văn học, H.1997; Ramayana, bản dịch của Phạm Thuỷ Ba, Nxb Văn học, H.1998

4 Phơng pháp nghiên cứu

Để giải quyết tốt những nhiệm vụ mà đề tài đã đặt ra, trong quá trìnhthực hiện đề tài, chúng tôi chủ yếu sử dụng phơng pháp khảo sát, thống kê,phân tích theo nguyên tắc loại hình, mà ở đây là thể loại sử thi cổ đại.Ngoài ra, để chỉ ra những nét tơng đồng, khác biệt ở hai nhân vật, trong quátrình phân tích, chúng tôi kết hợp sử dụng phơng pháp so sánh

5 Lịch sử vấn đề

5.1 Cho đến nay, Ôđixê và Ramayana đã có một lịch sử sinh thành và

phát triển trên dới 3000 năm và thuộc vào số không nhiều tác phẩm đạt đến

độ mẫu mực của thể loại Điều này góp phần lý giải vì sao nó lại thu hút sựchú ý của các nhà nghiên cứu Đông, Tây nhiều nh vậy Trong phạm vi quantâm của đề tài và giới hạn t liệu bao quát đợc, chúng tôi xin điểm lại một sốvấn đề nổi bật sau đây:

Ngay từ những năm đầu của thế kỷ XIX, sử thi Ramayana đã đợc dịch

và giới thiệu rộng rãi ở nhiều nớc châu Âu Trong những công trình nghiên

cứu về văn học ấn Độ, các học giả phơng Tây luôn giành cho Ramayana

một sự quan tâm đặc biệt Jean Herbert, một học giả phơng Tây nói về ảnh

hởng của Ramayana ở ấn Độ nh sau: “Tác phẩm ấy (tức Ramayana) cho

đến nay vẫn còn đợc truyền tụng sâu rộng đến mức độ không thể tởng tợng

đợc” Michelet cũng đã không tiếc lời ca ngợi Ramayana: “Hãy để cho tôi

hớng về châu á cao cả và phơng Đông thâm trầm trong phút giây Chínhnơi đây đã ra đời bài thơ vĩ đại này (tức Ramayana) nó bao la nh ấn Độ D-

ơng, tràn đầy ánh nắng mặt trời rực rỡ Đó là tác phẩm chan chứa những âm

điệu du dơng, toát ra từ bầu không khí yên lành và một tình yêu thơng vô

bờ bến trong một hoàn cảnh xã hội đầy sự mâu thuẫn và xung đột” (chuyển

dẫn Lu Đức Trung, Văn học ấn Độ, Nxb Giáo dục, H.2004).

Cũng nh Ramayana, Ôđixê đã đợc nhiều nhà nghiên cứu phơng Tây

quan tâm Tuy nhiên, cách đánh giá của các học giả phơng Tây đối với

Trang 6

Ôđixê có nhiều khác biệt, trớc hết là về nguồn gốc và thời đại ra đời của tác

phẩm Chẳng hạn, Maiflơ (Đức), Mises Breas (Pháp) xem thơ ca Hômer củathơ ca nguyên thuỷ Theo họ, thơ ca Hômer là “thơ ca của thời đại trởngthành chứ không phải thơ ca của thời kỳ thơ ấy” Cũng có một số học giả,nhà thơ nh Phônolông (Pháp), Gơt, Hecđê (Đức), Biêlinxki, Puskin (Nga)

đánh giá các sáng tác của Hômer Điểm gặp gỡ dễ thấy trong quan niệm

của các nhà nghiên cứu là khẳng định vai trò lớn của sử thi Ôđixê trong đời

sống tinh thần của ngời phơng Tây

5.2 ở Việt Nam việc giới thiệu hai bộ sử thi này muộn hơn rất nhiều so

với các nớc phơng Tây Năm 1964, trong cuốn Tìm hiểu thần thoại ấn Độ,

Cao Huy Đỉnh đã bớc đầu có những nhận định, giới thiệu về sử thi

Ramayana và những ảnh hởng to lớn nhiều mặt của nó trong đời sống tinh

thần ấn Độ Năm 1984, Lu Đức Trung đã hoàn thành cuốn Giáo trình văn

học ấn Độ, trong đó sử thi Ramayana là một trọng tâm Bắt đầu từ đây, văn

học ấn Độ nói chung, sử thi Ramayana nói riêng đợc đa vào giảng dạy tại

các trờng Đại học, Cao đẳng ở nớc ta Việc dịch thuật bộ sử thi này ở ViệtNam đợc bắt đầu từ thế kỷ XX và cho đến cuối thập niên 80 chúng ta mới

có đợc bộ sử thi Ramayana dịch trọn vẹn Đây là bản dịch có quy mô đầu

tiên ở nớc ta về một tác phẩm đồ sộ thời Cổ đại do Phạm Thuỷ Ba dịch(gồm 3 tập) Trong đó, lời giới thiệu của Phan Ngọc đã chú ý đến đặc trngcủa sử thi này Gần đây, các công trình nghiên cứu về bộ sử thi này đã tập

trung khai thác một số điểm nổi bật trong tác phẩm nh, Nghệ thuật xây

dựng hình tợng nhân vật trong sử thi Ramayana của Nguyễn Thị Mai Liên

đăng trên tạp chí Văn học, số 3, 1998 Công trình nghiên cứu gần đây nhấtcủa Phan Thu Hiền nghiên cứu vể sử thi ấn Độ Trong tập 1 viết về

Mahabharata, khi nêu đặc trng thi pháp của cuốn sử thi này, tác giả đồng

thời điểm qua những nét chính trong thi pháp của sử thi Ramayana

Cũng Ramayana, Ôđixê của Hômer cũng đợc phổ biến ở nớc ta khá

muộn Những năm gần cuối thế kỷ XX, nhà xuất bản ĐH&THCN mới cho

ra mắt độc giả tập chuyên luận của Nguyễn Văn Khoả: Anh hùng ca của

Hômer Gần đây, nhà xuất bản Văn học Hà Nội cho xuất bản cuốn Iliat và

Ôđixê do Phạm Thị Miến dịch từ bản tiếng Pháp Đây là bản dịch khá đầy

đủ Bản anh hùng ca này nhìn chung vẫn cha đợc nghiên cứu một cách thỏa

đáng Trong một số bài viết, có một số ngời đề cập đến tác phẩm này với

Trang 7

những lời nhận xét về quy mô và tầm vóc của nó Chẳng hạn, Lơng Duy

Trung trong cuốn Giáo trình văn học phơng Tây viết “Hômer là ngời mở

đầu cho thi ca Hy Lạp cổ đại và là ngời đầu tiên đa nghệ thuật của loại thơ

kể chuyện đến mức hoàn thiện với sự thành công của hai anh hùng ca nổi tiếng Iliat và Ôđixê” Hoàng Ngọc Hiến trong cuốn Năm bài giảng về thể

loại viết: “Cần phải phát huy đầy đủ sức mạnh văn hoá hồn nhiên và tơi trẻ

của anh hùng ca trong chơng trình giáo dục nhân văn cho thế hệ trẻ Vănhoá nhân bản của các dân tộc đều chịu ảnh hởng của văn minh Hy Lạpkhông thể thiếu đợc Iliat và Ôđixê”

Điểm lại một số công trình nghiên cứu về hai tác phẩm Ôđixê và

Ramayana, có thể thấy, phần lớn các công trình nghiêng về dịch thuật, giới

thiệu Trong một số bài viết hay trong các giáo trình, có một số ý kiến, nhậnxét đánh giá về một số phơng diện của tác phẩm Trong đó, dù trực tiếp haygián tiếp, ít hay nhiều cũng đều nhắc đến các nhân vật Sita, Pênêlốp Tuynhiên, việc đặt hai nhân vật này bên cạnh nhau qua một cái nhìn so sánhthcha có một công trình nào quan tâm Bởi vậy, đề tài nghiên cứu của chúngtôi vừa là sự tiếp nối, kế thừa vừa mang tính thể nghiệm một hớng đi mớitrong quá trình chiếm lĩnh các giá trị nghệ thuật đacự sắc của hai tác phẩm

vĩ đại này

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chơng:

Ch

ơng 1 Những tiền đề văn hoá - xã hội cho sự ra đời hình tợng ngời

phụ nữ lý tởng trong sử thi cổ đại

Trang 8

1.1 Thời đại sử thi trong văn học ấn Độ, Hy Lạp

Thời đại sử thi là thời đại bắt đầu chuyển từ công xã nguyên thuỷ sangchế độ chiếm hữu nô lệ Trong chế độ công xã nguyên thuỷ, không có sựbóc lột, sự thống trị, sự nô dịch giữa ngời này hay tập đoàn này với ngờikhác hay tập đoàn khác Sở dĩ nh vậy vì của cải thuộc sở hữu tập thể của thịtộc, bộ lạc, không ai nảy ra t tởng bóc lột ngời khác Trình độ sản xuất cònthấp kém, ngời ta phải lao động chật vật mới đủ ăn, không ai sản xuất đợccủa cải thừa để ngời khác có thể bóc lột đợc Bớc sang thời kỳ xuất hiện đồkim loại, do sản xuất đã tiến bộ hơn, năng suất lao động trong các ngànhcao hơn, lao động của mỗi ngời không những có thể đảm bảo đợc nhữngnhu cầu tối thiểu cho đời sống của bản thân và gia đình, mà còn có thể sảnxuất dôi hơn một ít nữa, có thể làm ra đợc một số sản phẩm thặng d Do đó

mà có thể nảy sinh hiện tợng ngời bóc lột ngời, tức khả năng chiếm đoạtsản phẩm thặng d do ngời khác làm ra Từ đó, ngời ta bắt đầu nghĩ ra cáchbóc lột sức lao động của những tù binh bị bắt trong chiến tranh, thuộc cácthị tộc, bộ lạc khác Trớc kia tù binh có thể đợc nhận làm con nuôi hoặc bị

ăn thịt, bị giết chết, nhng bây giờ họ đợc giữ lại thị tộc để lao động; họ đãbiến thành nô lệ của thị tộc Nh vậy là chế độ nô lệ xuất hiện Đó là hìnhthức áp bức, bóc lột đầu tiên giữa ngời với ngời, đồng thời đó cũng là mộtbớc tiến lớn của lịch sử, vì sự bóc lột lao động của nô lệ có tác dụng đẩymạnh tích luỹ của cải cần cho sự phát triển cao hơn của nền sản xuất xã hội.Chế độ chiếm hũ nô lệ ở giai đoạn đầu đã đợc phản ánh khá rõ trong sử thi

Ôđixê của đất nớc Hy Lạp ở giai đoạn này, bên cạnh nô lệ là tù binh còn

có những nô lệ đợc mua về Ông già Ơmê chăm lợn trong gia đình Uylixơ

đợc mua về từ nhỏ, còn nhũ mẫu Ơriclê đợc đổi với giá 20 con bò Đó làchế độ nô lệ gia trởng, lao động nô lệ mới chỉ sử dụng trong các gia đìnhtộc trởng (nh gia đình Uylixơ) và phần lớn số nô lệ là phụ nữ mà cụ thể làtrong nhà Uylixơ có đến hàng chục thị tỳ phục vụ công việc trong nhà Điều

này chứng tỏ xã hội Hômer phản ánh trong sử thi Ôđixê vẫn còn đang ở

buổi đầu của việc sử dụng sức lao động của nô lệ

Nh vậy, khi chế độ công xã nguyên thuỷ tan rã, loài ngời bớc sang mộthình thái xã hội mới đó là chế độ chiếm hữu nô lệ, cũng tức là từ xã hội dựa

Trang 9

trên chế độ công hữu sang xã hội dựa trên chế độ t hu về t liệu sản xuất.Thời đại sử thi là thời đại bắt đầu chuyển từ chế độ công xã nguyên thuỷsang chế độ chiếm hữu nô lệ Thời đại sử thi nằm ở giữa giai đoạn giao thờigiữa chế độ công xã nguyên thuỷ và chế độ chiếm hữu nô lệ nên nó là thời

đại đầy biến động và phức tạp Đây là thời kỳ có những biến động lớn mangtầm vóc lịch sử “Trong thời kỳ tan rã của chế độ công xã nguyên thuỷ,chiến tranh cớp bóc hay tự vệ thờng xuyên xẩy ra, đặc biệt là ở các vùngdân c đông đúc mà thiếu đất đai ở đây, mọi thành viên nam giới của thịtộc, bộ lạc đến tuổi trởng thành đều là chiến sỹ Ngời lãnh đạo thị tộc đồngthời là thủ lĩnh quân sự Các thủ lĩnh hay chỉ huy quân sự có uy tín rất lớn,nhng họ đều do Đại hội các chiến sỹ bầu lên và có thể bị bãi miễn nếu họ tỏ

ra không xứng đáng Mọi vấn đề lớn của thị tộc, bộ lạc đều phải đợc bànbạc và biểu quyết ở hội nghị các chiến sỹ một cách dân chủ” theo GS

Chiêm Tế, Lịch sử thế giới cổ đại, tập 1, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà

Nội, tr.58 Nh vậy, ở giai đoạn tan rã của chế độ công xã nguyên thuỷ và

b-ớc đầu hình thành chế độ chiếm hữu nô lệ, tính cộng đồng vẫn đợc duy trì.Thời đại sử thi là những thời đại của những cuộc chiến tranh xâm lợc giữacác thị tộc, bộ lạc xẩy ra thờng xuyên Chiến tranh xẩy ra đòi hỏi tất cả mọingời trong các thị tộc, bộ lạc đoàn kết với nhau để chiến đấu chống lại kẻthù Điều này tạo nên tính tập thể, tính cộng đồng Mỗi ngời tự ý thức mình

là thành viên của thị tộc, bộ lạc phải chiến đấu, hy sinh vì thị tộc, bộ lạc Aicũng có ý thức vì cộng đồng, đặt lợi ích của cộng đồng lên trên lợi ích củacá nhân bởi trong chiến tranh không có chỗ cho con ngời cá nhân mà tất cảmọi ngời cùng một mục đích, một chí hớng, chung một chiến hào Trong xãhội đầy biến động phức tạp nh thế, con ngời cố gắng vơn mình để sốngcùng với thời đại, theo kịp bớc đi của thời đại Và trong văn học, ngời ta đãxây dựng những nhân vật lịch sử tức là những nhân vật phản ánh một cáchchân thực cuộc sống trong thời đại đó Nhân vật trong văn học cũng cốgắng để theo kịp bớc đi của lịch sử, khẳng định lý tởng đẹp đẽ nhất củanhân dân, của dân tộc và của thời đại mình Đó là những nhân vật mangtầm vóc lịch sử - nhân vật sử thi

Thời đại sử thi nằm ở giai đoạn giao thời giữa chế độ công xã nguyênthuỷ và chế độ chiếm hữu nô lệ cũng có nghĩa là trong xã hội cũng bắt đầu

Trang 10

chênh lệch, cha có sự đối kháng giai cấp “Nhìn chung, lao động của ngời

tự do và lao động của ngời nô lệ cha có sự phân biệt sâu sắc Lao động cha

bị giai cấp thống trị coi là điều xấu xa, nhục nhã và cha phải là chỉ dànhriêng cho ngời nô lệ, ngời bị trị” [3, Tr.66 ] Điều này cũng đợc phản ánh

trong sử thi Ôđixê Laectơ- cha của Ulyxơ, là một ngời giàu có nhng ông

vẫn lao động, vẫn đào đất trồng cây “Ông cụ đang đào đất dới một gốc cây

Cụ mặc một chiếc áo bẩn thỉu, vá víu và tồi tàn; để khỏi bị sây sát, cụ bọcquanh ống chân một miếng da bò khâu lại khắp nơi; tay cụ đeo đôi tất chokhỏi bị gai đâm” [ 7, Tr.272 ] Thời kỳ này con ngời cá nhân đã xuất hiệnnhng còn bị con nời cộng động lấn át Nhìn chung, con ngời ở thời kì nàyvẫn là con ngời của chủ nghiã tập thể Con ngời muốn tồn tại thì phải tự đặtmình trong tổng hoà các mối quan hệ xã hội Những quyền lợi, lợi ích củacá nhân đều phải gắn vơi cộng đồng Những thắng lợi hay thất bại của cánhân không phải chỉ thuộc về cá nhân đó mà nó liên quan đến cả cộng

đồng Con ngời sống trong cộng đồng thì phải tuân thủ theo các quy tắc,quy định, sống theo chuẩn mực đạo đức mà cộng đồng đặt ra Có thể lấy

nhân vật Rama trong sử thi Ramayana của ấn Độ làm ví dụ Cơn ghen của

Rama sau khi đã cứu đợc Sita khỏi tay của quỷ vơng Ravana không phải làcơn ghen mang tính chất cá nhân Rama là một ngời xuất thân trong dòngdõi quý tộc, chàng phải hành xử theo đúng bổn phận, trách nhiệm củamình Bổn phận và trách nhiệm của chàng là bảo vệ danh dự và uy tín của

dòng họ cao quý Rama nói với Sita kẻ nào bị quân thù lăng nhục mà

không đem tài nghệ của mình ra để trả thù, kẻ đó là một gã tầm thờng Để trả thù cho sự lăng nhục, ta đã làm những gì mà một ngời cần phải làm, và trong những trờng hợp đó, ta đã tiêu diệt Ravana Phải biết chắc điều này, chẳng phải là vì nàng mà ta đã đạt tới chỗ kết thúc chiến tranh, với sự giúp đỡ của bạn bè ta Ta làm nh thế vì nhân phẩm của ta, để xoá bỏ vết ô nhục, vì uy tín và danh dự của dòng họ lừng lẫy tiếng tăm của ta Ta đã làm việc đó, chính là để chứng tỏ ta không phải thuộc vào một gia đình bình th - ờng kẻ nào sinh trởng trong một gia đình cao quý, lại có thể lấy về một ngời vợ đã từng sống trong nhà kẻ khác” [ 2, tập 3, khúc ca thứ th 6,

Tr.23 ] Rama đã hành xử theo đúng chuẩn mực đạo đức của cộng đồng Làmột nhân vật sử thi, Rama luôn bị ràng buộc bởi các quy định của cộng

đồng Rama chi có thể chấp nhận Sita khi Sita chứng minh đợc sự trong

Trang 11

trắng của mình Bởi Rama sinh trởng trong một gia đình cao quý mà theoquan niệm của cộng đồng, một ngời đàn ông có dòng dõi cao quý khôngthể lấy một ngời vợ đã sống trong gia đình kẻ khác.

Thời đại sử thi là thời đại của những biến động dữ dội mang tầm vóclịch sử, làm thay đổi xã hội, tác động sâu sắc làm vào quá trình phát triểncủa con ngời Cũng trong thời đại này, con ngời đã sáng tạo ra một thể loạivăn học mới để phản ánh không khí của thời đại mình đó là Anh hùng ca(hay còn gọi là Sử thi) Cảm hứng chủ đạo của anh hùng ca là ca ngợinhững vẻ đẹp, những chiến công của những ngời anh hùng Tuy nhiên,trong văn học nói chung, trong sử thi nói riêng không chỉ viết về hình tợngngời anh hùng lý tởng mà còn viết về hình tợng ngời phụ nữ lý tởng Họcũng mang âm hởng của thời đại Vẻ đẹp của những hình tợng phụ nữ này

là kết tinh quan niệm về vẻ đẹp của cộng đồng, của nhân dân trong một thời

kỳ nhất định Trong sử thi cổ đại, có hai hình tợng ngời phụ nữ lý tởng kếttinh vẻ đẹp của cộng đồng, của thời đại đó là hình tợng Pênêlốp trong

Ôđixê và hình tợng Sita trong Ramayana Trên thế giới có nhiều bộ Sử thi

nhng ngời ta vẫn thờng nhắc đến những bộ sử thi đồ sộ của Hy Lạp và ấn

Độ Nhắc đến văn học Hy Lạp, ngời ta nhớ ngay đến hai bản anh hùng ca

Iliat và Ôđixê Còn ở ấn Độ nổi tiếng nhất là hai bộ sử thi vĩ đại còn lu

truyền lại cho đến ngày nay là Mahabharata và Ramayana Hai bộ sử thi

Mahabharata và Ramayana rất đợc phổ biến ở ấn Độ Đã hơn 2000 năm

nay Mahabharata và Ramayana là nguồn cảm hứng vô tận của các nhà văn,

nhà thơ, nghệ sỹ ấn Độ

Vào khoảng 1000 năm trớc công nguyên, xã hội ấn Độ bớc vào thời kỳchiếm hữu nô lệ Đặc trng cơ bản của thời kỳ này là sự tan rã của chế độcông hữu và sự xuất hiện của chế độ t hữu Trên cơ sở đó các cuộc chiếntranh tơng tàn thờng xuyên xuất hiện để mở rộng bờ cõi, tranh giành của cải

và nô lệ Trong bối cảnh xã hội ấy, văn học ấn Độ cũng đã chuyển sangmột thời kỳ mới - thời kỳ sử thi Văn học là tấm gơng phản ánh hiện thựcnên khi hiện thực có những biến động, đổi thay thì văn học cũng phải thay

đổi để theo kịp bớc đi của lịch sử Giai đoạn giao thời giữa chế độ công xãnguyên thuỷ và chế độ chiếm hữu nô lệ là một thời kỳ hết sức phức tạp,chiến tranh thờng xuyên xẩy ra, xã hội có những biến động dữ dội Chính vì

Trang 12

thế, thể loại sử thi - một thể loại có quy mô đồ sộ, phản ánh đợc đầy đủ

những biến chuyển trong xã hội, đã ra đời Lơng Ninh trong cuốn Lịch sử

thế giới cổ đại, nhà xuất bản Giáo dục, Tr.92 đã viết: “Hai bộ Sử thi Mahabharata và Ramayana phản ánh tình hình Đông- Bắc ấn Độ trong

khoang 1000 năm đến 700 năm trớc công nguyên” Lịch sử của Đông - Bắc

ấn Độ giai đoạn này đợc phản ánh tơng đối đầy đủ trong hai bộ sử thi vĩ đại

Mahabharata và Ramayana

Mahabharata là một bộ sử thi dài 110.000 slôka Bộ sử thi này phản

ánh cuộc đấu tranh giữa hai bộ tộc thuỷ tổ của ngời Arya trong điều kiện xãhội đã phân hoá, nảy sinh t hữu, tranh giành của cải, đất đai, u thế chính trị

xã hội trong quá trình lập nhà nớc Sử thi Ramayana (những chiến tích của

hoàng tử Rama) dài 24000 slôka, cốt truyện đợc kết cấu chăt chẽ hơn sử thi

Mahabharata Nh vậy, cả Mahabharata và Ramayana đều mới phản ánh

một xã hội đang phân hoá, đứng trớc ngỡng cửa của xã hội có giai cấp và sựhình thành nhà nớc Cuộc xung đột giữa Rama và Ravana phải chăng lànhững đấu tranh trên con đờng phát triển giữa c dân nông nghiệp ở lu vựcsông Hằng với c dân săn bắn và hái lợm trong vùng núi Vinđia Nh thế,trong xã hội Arya mới có sự phân hoá bớc đầu, sự phân biệt cao thấp về tàisản và địa vị, nhng lại có sự phân biệt rõ ràng giữa cộng đồng Aryan với ng-

ời bản địa Dravidian

Cũng nh Mahabharata và Ramayana, hai bộ sử thi Iliat và Ôđixê phản

ánh hiện thực cuộc sống của xã hội Hy Lạp trong một giai đoạn nhất định

Iliat và Ôđixê tơng truyền là của Hômer Iliat là bản anh hùng ca chiến trận

gồm khoảng 15000 câu thơ, chia là 24 khúc ca, kể lại cuộc chiến tranh giữangời Hy Lạp và ngời Tơroa ở vùng Tiểu á Chính vị trí địa lý có ý nghĩachính trị và kinh tế quan trọng của thành bang Tơroa (còn gọi là thànhIliông), cũng nh sự giàu có, của cải vô vàn của nó khiến thành bang này trởthành cái đích tấn công của các chiến thuyền Akêen Đây là lý do lịch sử vàcuộc chiến tranh thành Tơroa là có thật Sự kiện này khi đi vào văn học cónhững h cấu bởi bản chất của nghệ thuật là sáng tạo Nguyên nhân của cuộc

chiến tranh thành Tơroa trong sử thi Iliat của Hômer đợc giải thích bằng

câu chuyện nàng Hêlen của Hy Lạp bị chàng Đông Juăng Parix của phơng

Đông quyến rũ Và cuộc chiến thành Tơroa đợc giải thích bằng quan điểm

Trang 13

tâm lý đạo đức của chế độ thị tộc, của cái “tập thể chúng ta” đối lập với

“tập thể chúng nó” Các bộ lạc Hy Lạp coi việc đa quân đi đánh Tơroa để

đòi lại nàng Hêlen và những của cải bị Parix cớp mất là việc làm hết sứcchính đáng phù hợp với việc bảo vệ danh dự, bảo vệ truyền thống đạo đức,lòng trung trực, quy tắc sinh hoạt của xã hội thị tộc ở thời đại sử thi - giai

đoạn giao thời giữa chế độ công xã nguyên thuỷ với chế độ chiếm hữu nô

lệ, chiến tranh giữa các thị tộc, bộ lạc xảy ra liên miên với nhiều lý do nh đề

mở rộng lãnh thổ, cớp bóc lãnh thổ và Iliat đã phản ánh đợc không khí của

thời đại đó Mặc dù nguyên nhân của chiến tranh mang màu sắc h cấu Với

Ôđixê thì khác, hiện thực mà bản trờng ca này phản ánh là một giai đoạn

muộn màng hơn của lịch sử Hy Lạp khi mà những cuộc chiến tranh cớp bóc

ở vùng biển Êgiê không còn nữa, và ngời Hy Lạp đã ổn định cuộc sống

đang có nhu cầu tìm hiểu thế giới xung quanh Nhu cầu ấy gắn liền với sựphát triển kinh tế, giao lu mẫu dịch, cải tiến công cụ sản xuất mở rộng đất

đai của xã hội đang trên đà phát triển rời bỏ ngôi nhà của chế độ thị tộc

b-ớc sang ngỡng cửa của thời đại văn minh Nhu cầu tìm hiểu của thế giới

xung quanh của ngời Hy Lạp đợc phản ánh trong sử thi Ôđixê qua những

cuộc phiêu lu của Uylixơ Miền biển phía Tây Địa Trung Hải - nơi hầu hếtnhững cuộc phiêu lu của Uylixơ đã diễn ra, là địa bàn mà ngời Hy Lạp

muốn mở rộng tầm mắt Xã hội Hy Lạp mà sử thi Ôđixê phản ánh đã phát triển hợn trong Iliat về cả hai mặt sản xuất và quan hệ sản xuất Trong sử thi Iliat, đồ đồng chiếm vị trí chủ chốt còn đến sử thi Ôđixê thì công cụ

bằng sắt đã đợc nhắc đến nhiều

Quan hệ xã hội Hy Lạp ở thời đại sử thi (bắt đầu chuyền từ công xãnguyên thuỷ sang chế độ chiếm hữu nô lệ) đợc phản ánh khá đầy đủ, rõ nét

trong sử thi Iliat và Ôđixê Qua hai bộ sử thi này, chúng ta cũng thấy đợc sự

chuyển biến trong quan hệ xã hội của xã hội Hy Lạp ở thời đại sử thi Trong

Iliat, xã hội bắt đầu có sự phân hoá giai cấp, đến Ôđixê, sự phân hoá giai

cấp này đợc thể hiện đầy đủ hơn Trong Ôđixê, của cải, nô lệ, đất đai của

nhà vua Ănglanôx xứ Phêaxi, những trại lớn, đầm bò, cung điện, những kẻ

hầu ngời hạ trong nhà Uylixơ đều đợc mô tả tỉ mỉ, chi tiết Trong Iliat,

quyền lực của cá nhân phần nào vẫn còn bị quyền lực của tập thể chi phối

Nhng trong Ôđixê, mối quan hệ xã hội không hoàn toàn nh vậy mà “quyền

Trang 14

lực ông chủ quyết định tất cả đối với tất cả cuộc sống đối với ngời nô lệ”

(theo Đặng Anh Đào, Văn học phơng Tây, Nxb Giáo dục, 2005, Tr.65) Thành công của Hômer là ở chỗ qua Iliat và Ôđixê dựng lên một bức

tranh hoàn chỉnh có tầm khái quát lớn về thời đại - đó là thời đại sử thi.Lịch sử Hy Lạp từ thế kỷ XI đến thế kỷ IX TCN thờng đợc gọi là thời kỳHômer, vì trạng thái sinh hoạt vật chất và tinh thần của ngời Hy Lạp trong

giai đoạn này đợc phản ánh rõ nét trong hai bộ mặt sử thi Iliat và Ôđixê của Hômer “Iliat và Ôđixê cho ta biết rằng xã hội Hy Lạp thời kỳ Hômer

không phải là sự tiếp nối của xã hội trớc đó, xã hội của thời kỳ Crét Myxen, xã hội Hy Lạp thời Hômer là xã hội thị tộc, bộ lạc ở giai đoạn mạtkỳ” [ 8 ,Ttr.165]

-Nh vậy, thời đại sử thi đã đợc phản ánh khá cụ thể trong các bộ sử thi ở

ấn Độ và Hy Lạp đợc phản ánh sinh động, đầy đủ trong các bộ sử thi vĩ đại

nh Mahabharata và Ramayana, Iliat và Ôđixê Văn học là tấm gơng phản

ánh lịch sử Ngợc lại, lịch sử cũng có tác động to lớn đối với văn học, lịch

sử thúc đẩy văn học phát triển Thời đại sử thi đầy biến động đã góp phầnthúc đẩy sự ra đời của một thể loại văn học mới nhằm phản ánh không khícủa thời đại, mang âm hởng thời đại đó là anh hùng ca Có một thời đại hàohùng, đầy biến động trong lịch sử thì cũng có một thời đại sử thi trong vănhọc

1.2 Vị trí, vai trò của ngời phụ nữ trong xã hội cổ đại

Vị trí của một ngời trong gia đình và xã hội phụ thuộc vào vai trò của

họ trong sản xuất Vị trí, vai trò của ngời phụ nữ trong xã hội thay đổi quatừng thời kỳ ở thời đại đồ đá, ngời phụ nữ có vai trò rất lớn trong gia đình.Trong chế độ công xã thị tộc mẫu hệ, con cái tính theo dòng mẹ Vì thế ng-

ời mẹ nói riêng, ngời phụ nữ nói chung rất có uy tín trong thị tộc Sở dĩ nhthế không phải chỉ vì ngời mẹ có uy tín đối với con cái, con cái chỉ biết mẹ,không biết cha mà chủ yếu vì vai trò kinh tế trọng yếu của ngời phụ nữtrong thị tộc Trong khi ngời đàn ông lo việc săn bắn, thì ngời phụ nữ chủyếu lo việc lợm hái, trồng trọt và chăn nuôi nguyên thuỷ, mà các công việc

ấy đem lại thức ăn thờng xuyên hơn cho thị tộc Ngoài ra, chính ngời phụ

Trang 15

nữ lại trông nom con cái, nhà cửa và quản lý kinh tế thị tộc, phân phối thức

ăn Vì thế chế độ mẫu hệ còn đợc gọi là chế độ mẫu quyền Trong chế độcông xã thị tộc mẫu hệ, quyền của ngời phụ nữ đợc biểu hiện trớc hết làquyền đợc phân công lao động trong gia đình và quyền đợc điều hànhnhững công việc chung của thị tộc Và vì thế, họ không những đợc bình

đẳng, đợc tôn trọng mà còn có thể đợc bầu làm tộc trởng, tù trởng Chế độmẫu hệ chỉ tồn tại trên cơ sở một trình độ phát triển kinh tế và xã hội cònthấp kém Hiện tợng sùng bái phụ nữ xuất hiện ở những bộ lạc nông nghiệpkhi việc trồng trọt nguyên thủy còn do phụ nữ đảm nhiệm Sự phát triển caohơn của nền sản xuất xã hội ở thời đại đồ đá kim loại đã đem lại nhữngchuyển biến mới trong xã hội và làm thay đổi địa vị của ngời phụ nữ Sựxuất hiện ngành nông nghiệp dùng cày, chăn nuôi gia súc và nghệ thủ công

đòi hỏi sức lực và kinh nghiệm sản xuất của ngời đàn ông Mặt khác, donăng suất lao động cao, sản phẩm do đàn ông làm ra không chỉ đủ ăn màcòn nuôi sống cả gia đình Địa vị kinh tế của ngời đàn ông trong gia đình đãdần dần đợc xác lập Việc đàn ông đảm nhiệm những công việc lao độngsản xuất chủ yếu, đàn bà giữ vai trò thứ yếu trong sản xuất làm thay đổiquan hệ trong gia đình, làm cho ngời phụ nữ lệ thuộc vào đàn ông Gia đìnhphụ hệ thay thế cho gia đình mẫu hệ Trong gia đình phụ hệ, ngời phụ nữ

đã có một ngời chồng nhất định và phải sống ở tại gia đình chồng, con cái

đã biết cha, do đó quan hệ họ hàng tính theo dòng cha Ănghen nói chế độmẫu quyền bị lật đổ là “sự thất bại lịch sử lớn của giới nữ” Nh vậy, vai trò,

vị trí của ngời phụ nữ trong gia đình, xã hội dần dần giảm xuống cùng với

sự giảm sút về vai trò kinh tế Bớc sang chế độ chiếm hữu nô lệ, vai trò củangời phụ nữ trong gia đình và trong xã hội ngày càng bị hạ thấp Lúc nàyngời phụ nữ hoàn toàn lệ thuộc vào ngời đàn ông và ngời đàn ông có quyềnlực tối cao đối với ngời phụ nữ “Quyền lực của ngời gia trởng hầu nhà là vôhạn Ví nh quyền đem bán vợ và con của mình cho ngời khác, quyền hìnhphạt, thậm chí đánh đập đến chết vợ con của mình [ 19, Tập 1, Tr.228 ].Theo quy định của pháp luật ấn Độ Cổ đại, địa vị xã hội của nô lệ, đặc biệt

là nô lệ nữ cũng tơng tự nh địa vị của ngời đàn bà đi lấy chống Nh vậynghĩa là, ngời phụ nữ thì lấy chồng có thân phận chẳng khác gì ngời nô lệ,hoàn toàn phụ thuộc vào chồng nh nô lệ phụ thuộc vào chủ

Trang 16

Chế độ mẫu quyền bắt đầu cùng với hậu kỳ thời đại đồ đá cũ và chấmdứt ở sơ kỳ và trung kỳ thời đại đồ đá mới (khoảng 6000 - 4000 năm TCN).

Đây là thời kỳ vai trò của ngời phụ nữ đặc biệt đợc đề cao Vai trò của ngờiphụ nữ giảm dần khi loài ngời bớc vào thời kỳ kim khí Khi xã hội công xãnguyên thuỷ tan rã, chế độ chiếm hữu nô lệ ra đời, ngời phụ nữ hầu nh đãmất vai trò của mình trong gia đình cũng nh trong xã hội Họ chỉ là nhữngngời lệ thuộc vào đàn ông Nh vậy ở thời kỳ này vai trò của ngời phụ nữ đã

giảm sút, phụ nữ phụ thuộc vào đàn ông Chính trong sử thi Ramayana cũng cho chúng ta thấy điều này “Một ngời phụ nữ không thể tự cứu vãn đợc

mình; ngời chồng là chỗ dựa chính của hắn ở trần thế và mai sau” [2, tập 1,

Tr.142 ] và “còn sống ngày nào ngời phụ nữ phải xem chồng là ngời chủ

duy nhất” [ 2, tập1, Tr.139 ] Trong gia đình, ngời vợ là phải phục tùng

chồng “ngời vợ phải không do dự và dốc tâm vào việc hầu hạ chồng ngay

dù ngời chống xấu tính” [ 2, tập 1, Tr.245 ] Hay sử thi Ôđixê của Hômer

phản ánh trạng thái sinh hoạt vật chất và tinh thần của ngời Hy Lạp từ thế

kỷ XI đến thế kỷ IX TCN Thời kỳ này, vai trò của ngời đàn ông đã đợc

khẳng định, phụ nữ chỉ đóng vai trò thứ yếu Trong sử thi Ôđixê, Têlêmac nói với mẹ: “Xin mẹ hãy trở về phòng, lo công việc của đàn bà, dệt vải và

kéo quay Mẹ hãy đốc thúc thị tìm làm lụng còn nói năng là việc của đàn

ông, trớc hết đó là việc của con, vì ở nhà này, chính con là chủ”[ 7,

Tr.161 ] Tuy nhiên, cần lu ý, là cùng với sự sụp đổ của chế độ mẫu hệ, vaitrò của ngời phụ nữ đã bị giảm sút chứ không phải hoàn toàn mất vai trò, vị

trí trong gia đình Nh đoạn trích ở trên trong sử thi Ôđixê, Têlêmac giục mẹ

đi lo “công việc của đàn bà” Đó là những việc trong nhà nh dệt vải, kéo

quay hay nấu nớng Có thể, bớc sang chế độ chiếm hữu nô lệ, ngời phụ nữkhông trực tiếp làm ra của cải vật chất nhng họ là những ngời lo toan việcgia đình, duy trì gia đình Ngời Việt Nam thờng nói: “của chồng công vợ”

và “đàn ông là nhà, đàn bà là cửa” Nhà không thể không có cửa cũng nhtrong gia đình không thể thiếu bàn tay ngời phụ nữ, ở thời đại nào cũng vậy

Từ khảo sát các cứ liệu lịch sử, chúng ta thấy vai trò của ngời phụ nữtrong xã hội cổ đại thay đổi qua các thời kỳ và vai trò của ngời phụ nữ ngàycàng giảm sút Còn trong văn học Cổ đại thì sao? Hình tợng ngời phụ nữvẫn chiếm vị trí quan trọng trong văn học cổ đại Trong văn học nói chung,

sử thi nói riêng đã xây dựng đợc những hình tợng ngời phụ nữ lý tởng nh

Trang 17

Pênêlốp trong Ôđixê và Sita trong Ramayana Họ là hình tợng ngời phụ nữ

lý tởng của thời đại sử thi

Khi nói về vị trí, vai trò của ngời phụ nữ trong xã hội cổ đại, chúng tacần có một cái nhìn vừa bao quát, vừa cụ thể Nh trên đã nói, trong xã hội

cổ đại càng về sau, vai trò, vị trí của ngời phụ nữ càng giảm Đó là đặc điểmchung, khái quát còn cụ thể thì trong xã hội cổ đại, vị trí của ngời phụ nữtrong gia đình, xã hội ở các quốc gia khác nhau là không giống nhau Trong

cuốn sách Lịch sử - nhìn ra thế giới của nhà xuất bản ĐHQG Hà Nội do

Thái Hoàng và Ngô Văn Tuyển biên khảo đã viết: “Trong thế giới cổ đại

4000 năm về trớc, Ai Cập là quốc gia mà ngời phụ nữ có địa vị tơng đốicao Không chỉ những phụ nữ cung đình quyền quý mà ngay cả những ngờiphụ nữ lao động bình thờng cũng đợc hởng những quyền lợi về kinh tế,pháp luật, giao tiếp xã hội nh nam giới Đó là điều mà không chỉ những ng-

ời phụ nữ Hy Lạp, La Mã thời bấy giờ khao khát, mà ngay cả thời này phụnữ nhiều nớc vẫn đang phải đấu tranh để giành lại Nh vậy, cùng một thời

đại nhng vị trí xã hội của ngời phụ nữ ở những quốc gia khác nhau là hoàntoàn khác nhau, phụ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể của từng quốc gia Đó làphụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế, quan niệm, t tởng, đạo

đức

Trang 18

1.3 Quan niệm thẩm mỹ về ngời phụ nữ trong thời đại sử thi

Nh đã trình bày, thời đại sử thi là thời đại đầy biến động, phức tạp,chiến tranh xảy ra liên miên giữa các thị tộc, bộ lạc Chiến tranh làm chomọi ngời trong cộng đồng phải đoàn kết với nhau tạo nên tính cộng đồng.Thời đại sử thi cái chung đợc đề cao, cái riêng chỉ đợc chấp nhận khi nóphù hợp với cái chung của cộng đồng Tơng tự nh vậy, quan niệm về cái

đẹp trong thời đại sử thi cũng mang tính cộng đồng Quan niệm về cái đẹp

là có tính lịch sử, mỗi thời đại, mỗi dân tộc có một quan niệm khác nhau vềcái đẹp Chẳng hạn, quan niệm về vẻ đẹp của ngời phụ nữ ở mỗi thời đại,mỗi dân tộc là khác nhau Quan niệm thẩm mỹ về ngời phụ nữ trong thời

đại sử thi có những nét độc đáo so với các thời đại khác Và cùng trong thời

đại sử thi, quan niệm về cái đẹp của ngời phụ nữ ở các quốc gia cũng khônggiống nhau

“Nếu thợng đế tạo ra phụ nữ trớc tiên thì ngời sẽ không tạo ra một loàinào nữa” (V Huygô) Phụ nữ là hoa của các loài hoa, đợc gọi là phái đẹp.Nhng một ngời phụ nữ nh thế nào thì đợc xem là đẹp? Quan niệm về vẻ đẹpcủa ngời phụ nữ mang tính lịch sử Mỗi thời đại, mỗi giai cấp, mỗi dân tộc

đều có một quan niệm riêng trong cách đánh giá vẻ đẹp của ngời phụ nữ.Chúng ta sẽ thấy rõ điều này khi tìm hiểu vẻ đẹp của hai hình tợng: Pênêlốp

và Sita Pênêlốp là hình tợng ngời phụ nữ lý tởng trong sử thi Ôđixê Còn Sita là hình tợng ngời phụ nữ lý tởng trong sử thi Ramayana Đây là hai

nhân vật của thời đại sử thi thuộc hai dân tộc, hai nền văn hoá khác nhau

Sử thi Ôđixê và Ramayana là hai tác phẩm tiêu biểu của hai nền văn hoá

Đông - Tây

Ngời phơng Đông vốn trọng tình, trọng tĩnh (coi trọng sự ổn định) Vănhoá phơng Đông là văn hoá cộng đồng Bởi vậy, con ngời sống là phải dựavào cộng đồng, phải tuân thủ các phép tắc của cộng đồng Ngời phơng

Đông rất coi trọng gia đình và đặc biệt coi trọng vai trò của ngời phụ nữtrong gia đình ở phơng Đông, một ngời phụ nữ đợc xem là đẹp ngoài phầnngoại hình còn phải hội tụ các phẩm chất: coi trọng gia đình, làm tròn bổnphận một ngời vợ, phải “tòng phu”, tuân thủ các chuẩn mực đạo đức củacộng đồng Tiêu chí đánh giá một ngời phụ nữ theo quan niệm của ngời ph-

Trang 19

ơng Đông là phải đặt ngời đó trong các mối quan hệ xã hội, trong môi trờng

mà ngời đó sinh sống Cũng nh vậy, một ngời phụ nữ đợc xem là đẹp, ngoài

vẻ đẹp hình thể còn phải biết ứng xứ, điều hoà các mối quan hệ trong môitrờng sống Ngời Việt Nam có câu:

Trai khôn kén vợ chợ Đông Gái khôn kén chồng giữa chốn ba quân

Ngời phụ nữ đợc xem là đức hạnh, theo quan niệm của ngời phơng

Đông, là ngời biết yêu chiều chồng, thơng con, trong sử thi Ramayana, Sita

đã nói rằng: “Đối với một ngời phụ nữ, chồng là vị thần cao nhất” [ 2, tập 1, Tr.159 ] Và “tôn sùng ngời chồng là đức hạnh cao nhất của một ngời vợ”

[ 2, tập 1, Tr.246 ]

Khác với phơng Đông, phơng Tây thờng trọng lý, trọng động, trọng sứcmạnh Quan niệm của ngời phơng Tây về gia đình và bổn phận của ngờiphụ nữ trong gia đình cũng không giống với ngời phơng Đông Họ đề caodân chủ và tôn trọng tự do cá nhân, cá tính của con ngời Bởi thế, với ngờiphơng Tây, một phụ nữ đợc xem là đẹp ngoài ngoại hình đẹp còn có các

phẩm chất nh tự chủ, năng động, thuỷ chung Trong sử thi Ôđixê, Pênêlốp là

hình tợng ngời phụ nữ lý tởng Nàng chung thuỷ chờ chồng hai mơi năm,phải đơng đầu với muôn vàn khó khăn, gian khổ Pênêlốp đã dùng mu đánhlừa bọn cầu hôn trong bốn năm Khi Uylixơ trở về, nàng đã gợi ra câuchuyện chiếc giờng để thử Uylixơ Pênêlốp là hiện thân của tình yêu chungthủy, son sắt ở nàng mang những nét đẹp tiểu biểu của ngời phụ nữ phơngTây cổ đại

Việc phân biệt quan niệm của phơng Đông và phơng Tây về vẻ đẹp củangời phụ nữ ở đây chỉ có tính tơng đối Bên cạnh những nét khác biệt còn

có rất nhiều điểm tơng đồng Nh R.Tagore đã cho rằng, sự khác biệt giữaphơng Đông và phơng Tây chỉ là trên bề mặt Ngoài những điểm rất riêngthì ngời phơng Đông và phơng Tây đều thống nhất cho rằng, một ngời phụnữ đẹp trớc tiên là phải có hình thể đẹp, phải có tình yêu chung thuỷ, sắcson, tâm hồn thánh thiện Pênêlốp và Sita là hai nhân vật lý tởng trong hai

bộ sử thi thuộc hai dân tộc, hai nền văn hoá khác nhau ở hai nhân vật này

Trang 20

có những nét đẹp khác nhau do quan niệm thẩm mỹ của hai dân tộc (HyLạp và ấn Độ) là khác nhau Nhng họ có một điểm chung đó là Pênêlốp vàSita đều là những nhân vật lý tởng của thời đại sử thi Vẻ đẹp của họ là sựkết tinh vẻ đẹp của ngời phụ nữ trong thời đại sử thi

Quan niệm thẩm mỹ bao giờ cũng mang tính lịch sử Mỗi thời kỳ lịch

sử có một chuẩn mực thẩm mỹ Quan niệm thẩm mỹ của thời đại nào cũngphụ thuộc vào hoàn cảnh xã hội nhất định Quan niệm của con ngời về cái

đẹp bao gồm nhiều mặt trong đó là lí do giải thích tính phong phú, đa dạngcủa cái đẹp trong tự nhiên, trong xã hội, trong nghệ thuật Tuy nhiên, quanniệm về cái đẹp bao giờ cũng mang tính tơng đối vì nó bị quy định, chi phốibởi yếu tố lịch sử - xã hội và bởi chủ quan của ngời đánh giá Trong xã hội

có giai cấp, mỗi giai cấp do xuất phát từ địa vị xã hội, lợi ích thực tiễn khácnhau nên sự phân định cái đẹp, cái xấu theo tiêu chuẩn không giống nhau

Có ngời cho rằng cái đẹp là cái có ích, cũng có ngời nói cái đẹp gắn với chủquan ngời đánh giá, lại có ngời quan niệm cái đẹp là cái hài hoà Điều nàythể hiện rất rõ ở cách đánh giá con ngời trong đời sống, và đợc nghệ thuậthoá trong các loại hình nghệ thuật nh kiến trúc, hội hoạ, âm nhạc, văn học Tóm lại, mỗi thời đại có một quan niệm khác nhau về cái đẹp nói chung

và về vẻ đẹp của ngời phụ nữ nói riêng Thời đại sử thi có quan niệm riêng

về vẻ đẹp của ngời phụ nữ ở thời đại sử thi, một ngời phụ nữ đợc xem là

đẹp khi họ hội tụ đợc những vẻ đẹp của cộng đồng Hình mẫu lý tởng vềngời phụ nữ trong thời đại sử thi là ngời có vẻ đẹp thánh thiện, tình yêutrong sáng, thuỷ chung Điều này đợc thể hiện tập trung ở hai hình tợngPênêlốp và Sita Vẻ đẹp trong tình yêu của ngời phụ nữ thời đại sử thi đợcthể hiện ở tình yêu thuỷ chung, sự trung thành tuyệt đối với ngời chồng.Một ngời phụ nữ có bổn phận phải ở bên chồng, chăm sóc chồng, chờ đợichồng những điều đó đợc xem là bộn phận cao quý nhất của một ngời phụ

nữ Trong tác phẩm Ramayana, hoàng hậu Kôxalya đã nói: “hầu hạ và

phụng sự chồng mình chắc chắn đó là bổn phận cao quý nhất của ngời phụ nữ” [ 2, tập1, Tr.138] Và cũng chính Rama, ngời anh hùng lý tởng của thời

đại sử thi đã nói: “đối với một ngời phụ nữ không có gì độc ác hơn là bỏ

chồng”[2, tập 1, Tr.138] và “còn sống ngày nào, ngời phụ nữ phải coi chồng là ngời chủ duy nhất” [2, tâp 1, Tr.139] Hình tợng nhân vật Sita đã

Trang 21

đợc xây dựng trên cơ sở quan niệm thẩm mỹ ấy Sita dành cho chồng cảtình yêu thơng, sự kính trọng, lòng sùng kính Nàng yêu chồng đắm saytrong cảnh yên bình và sâu sắc, chân thành hơn trong hoàn cảnh khó khăncơ cực Sita làm đúng bổn phận của một ngời vợ theo quan niệm của thời

đại sử thi Rama bị đi đày, Sita đã nói với chồng: “một khi anh đợc lệnh đi

đày trong rừng Đanđaka thì tức là em cũng đợc lệnh nh vậy” [2, tập 1,

Tr.142]

Cũng nh Sita, Pênêlốp là hình tợng ngời phụ nữ lý tởng theo quan niệmcủa ngời Hilạp cổ đại Nàng thuỷ chung đợi chờ chồng trong hai mơi năm,vuợt lên bao khó khăn, thử thách, giữ tròn đạo làm vợ Cuộc đấu tranh củaPênêlốp thực sự cam go Để giữ trọn tình yêu với chồng, làm tròn bổn phậncủa một ngời vợ, nàng không chỉ phải đấu tranh với bọn cầu hôn mà cònphải đấu tranh với chính bản thân mình Nàng là một phụ nữ có vẻ đẹp tuyệttrần từ ngoại hình đến tâm hồn

Vẻ đẹp của ngời phụ nữ thời đại sử thi luôn gắn với cộng đồng Một phụnữ đẹp là phải phù hợp với những quan niệm thẩm mỹ của cả cộng đồng

Họ luôn phải biết đấu tranh để chiến thắng những cám dỗ trong đời sống,biết bảo vệ danh dự của mình, và trên hết là của cộng đồng Vì danh dự,Sita đã nhảy vào lửa Pênêlốp không dễ dàng chấp nhận Uylixơ sau hai mơinăm xa cách bởi sợ bị lứa dối và bị xúc phạm về danh dự Có thể nói hành

sự theo bổn phận và danh dự là một trong những vẻ đẹp chuẩn mực của

ng-ời phụ nữ trong thng-ời đại sử thi Đây là chuẩn mực đạo đức của cộng đồng.Con ngời nói chung và các nhân vật trong sử thi cổ đại nói riêng không thể

đi chệch ra ngoài đờng ray này

Trang 22

Chơng 2

Pênêlốp và Sita - Những ngời phụ nữ lý tởng

của thời đại sử thi

2.1 Con ngời của chủ nghĩa tập thể

Trong sử thi cổ đại nói chung, trong sử thi Ôđixê và Ramayana nói

riêng, con ngời đợc xem xét, đánh giá và nhìn nhận từ góc độ con ngời tậpthể, không phải là con ngời cá nhân riêng lẻ Nhân vật đợc miêu tả trong sửthi là kiểu nhân vật của thời đại sử thi, bị quy định bởi tính chất của thời đạigắn liền với câu chuyện mà sử thi miêu tả Thời đại mà sử thi miêu tả là mộtthời kỳ đặc biệt, ở đó quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng còn rất khăngkhít, bền chặt Con ngời cá nhân còn lệ thuộc vào các quy ớc của cộng

đồng, mà ràng buộc lớn nhất đối với cá nhân chính là phải bảo vệ danh dựcộng đồng - lý tởng của nhân vật sử thi là lý tởng về cái chung, cái tập thể,luôn luôn tôn trọng và bảo vệ lợi ích của tập thể, cộng đồng Vẻ đẹp củacon ngời phải phù hợp với quan niệm của cộng đồng Một con ngời đợcxem là đẹp khi vẻ đẹp đó phù hợp với cái chung Khi nói con ngời của chủnghĩa tập thể là nói đến mối quan hệ giữa con ngời với cộng đồng, con ngời

bị chi phối, quy định bởi các quan niệm của cộng đồng Con ngời ở thời đại

sử thi là phải sống vì bổn phận và danh dự Bảo vệ danh đợc của bản thânchính là bảo vệ danh dự của dòng họ, của cộng đồng Nhân vật trong Sử thi

Cổ đại là con ngời của chủ nghĩa tập thể Phân tích hai nhân vật Pênêlốp vàSita chúng ta sẽ thấy rõ hơn điều đó

Trang 23

2.1.1 Nàng Sita

Nếu nh sử thi Ramayana đợc ngời ấn Độ xem là thánh kinh cứu vớt

linh hồn họ ra khỏi tội lỗi trong cuộc đời, thì, Sita – một trong hai nhân vậttrung tâm của tác phẩm đợc xem là hình mẫu lý tởng về ngời phụ nữ ấn Độ

cổ đại Vẻ đẹp của nhân vật Sita là sự kết tinh của vẻ đẹp cộng đồng Ngời

ấn Độ cổ đại xem một trong những vẻ đẹp đáng quý trọng nhất của ngời

phụ nữ đó là tình yêu đối với ngời chồng của mình Qua sử thi Ramayana,

ta thấy ngời ấn Độ cổ đại quan niệm rằng: “những ngời phụ nữ đức hạnh

coi chồng nh những thần linh sống cho dù ngời chồng hoàn thiện hay không” [ 2,tập 1, Tr.179 ] Đó là qua lời của đức vua Đaxaratha - một con

ngời đức hạnh Hoàng hậu Kôxalya đã răn dạy Sita rằng: “con gái của mẹ,

một ngời phụ nữ (tuy có thể đợc mọi ngời yêu mến) mà phạm thiếu sót không hầu hạ chồng trong nghịch ảnh sẽ bị coi là bất trinh” [ 2, tập 1,

Tr.158] Quan niệm của cộng đồng là nh vậy Một ngời phụ nữ đức hạnh làngời phải yêu thơng, tôn trọng, thờ phụng chồng dù trong cảnh giàu sanghay khó khăn, gian khổ Sita đã hội tụ những phẩm chất ấy Sita yêu chồngbằng tình yêu thành kính, không chỉ là tình yêu mà còn là sự tôn thờ KhiRama là một hoàng tử, sống trong nhung lụa, Sita hết mực yêu thơng, chămsóc chồng Lúc Rama bị đi đày, Sita sẵn sàng từ bỏ tất cả để đi theo chồngvào rừng sống cuộc sống ăn trái cây, uống nớc suối Bởi trong nàng thấmnhuần t tởng đạo đức của thời đại: một ngời phụ nữ là phải ở bên chồng lúchạnh phúc hay đau khổ, lúc sung sớng hay khó khăn nh lời của bà

Anuxuya, vợ của đạo sĩ Atri: “ngời phụ nữ nào mà thơng yêu chồng, dù ở

thành phố hay ở trong rừng, dù đợc chồng thơng yêu hay ghét bỏ sẽ đạt đợc cõi phúc tinh thần” [2, tập 1, Tr.245] Sita đã đáp lại bà Anuxuya rằng: “bà dạy tôi nh vậy thì cũng không có gì là lạ Tha bà tôn kính, tôi cũng biết rằng ngời chồng bao giờ là ngời mà vợ phải kính nể, ngời vợ phải không do

dự gì mà dối tâm vào việc hầu hạ chống dù ngời chồng xấu tính” [2, tập 1,

Tr.245] Sita hoàn toàn tuân thủ chuẩn mực đạo đức của cộng đồng Haynói đúng hơn, nàng là hiện thân của chuẩn mực đạo đức ấy Khi Rama bị đi

đày, nàng kiên quyết đi theo bởi nàng ý thức đợc bổn phận của ngời vợ là

phải thơng yêu, chăm lo cho chồng trong mọi hoàn cảnh “Nàng Gianaki

cũng hiến dâng chàng niềm trung trinh theo đúng bổn phận của ngời vợ”

Trang 24

[2, tập 1, Tr.92] Sita năn nỉ , van xin, khóc lóc, tìm mọi cách thuyết phục

chồng để cho nàng đi theo Sita nói với Rama: “một khi anh đã đợc lệnh đi

lu đày trong rừng Đanđaka, thì tức là em cũng đợc lệnh nh vậy” [2, tập 1,

Tr.142] Và Sita đã viện đến lời răn dạy của cha mẹ: “cha và mẹ đã khuyên

em đi theo chồng trong lúc thịnh đạt cũng nh trong nghịch cảnh” [2, tập

1Tr.142] Tuân thủ theo lời dạy của các bậc tiền bối cũng có nghĩa là Sita

đã tuân thủ những chuẩn mực, phép tắc của cộng đồng

Nh đã nói, ở thời đại sử thi, con ngời lệ thuộc vào các quy ớc của cộng

đồng, mà ràng buộc lớn nhất của cá nhân chính là phải bảo vệ danh dự củabản thân, cũng của dòng họ và cộng đồng Sita không những chỉ là một phụnữ biết “tòng phu” theo quan niệm của ngời phơng Đông nói chung và ngời

ấn Độ nói riêng mà nàng còn là ngời rất trọng danh dự Bị quỷ vơngRavana bắt đi, Sita không chịu khuất phục, vẫn một lòng hớng về Rama Đ-

ợc gặp lại Rama, Sita vô cùng vui sớng, thậm chí không cần trang điểm, bỏqua tục lệ tắm rửa vì muốn đợc nhanh chóng gặp chồng Nhng khi gặp

Rama, nghe những lời buộc tội của chàng thì “Gianaki đau đớn đến nghẹt

thở, nh một cây leo bị vòi voi quật nát Gianaki xấu hổ cho cái kiếp của nàng và nàng muốn tự chôn vùi với cả hình hài của nàng” [2, tập 3,

Tr.238] Đối với một phụ nữ cao quý, trọng danh dự nh Sita thì đây là một

sự xúc phạm quá lớn Tình huống này nằm ngoài mong đợi của Sita: nàng

bị kết tội và không ai khác ngoài Sita có thể biện minh cho mình Sita đã cốgắng chứng minh cho sự trong trắng của nàng Trớc tiên, Sita thuyết phục

Rama bằng lời nói: “cớ sao chàng lại dùng những lời lẽ gay gắt khó tả nh

vậy đối với thiếp” [2, tập3, Tr.238] Nàng khẩn thiết nói với Rama: “Thiếp

đâu phải là ngời nh chàng tởng? Thiếp có thể lấy t cách của thiếp ra mà thề, hãy tin vào danh dự của thiệp” [2, tập 3, Tr238] Tiếp đó, Sita phân

trần, bộc bạch suy nghĩa của mình trong hoàn cảnh “chết ngất đi” khi bị rời

vào tay Ravana Nếu thể xác có bị đụng chạm tới và đó là điều không thểtránh khỏi thì nàng vẫn dành trọn cho Rama trái tim và tâm hồn nàng Cao

hơn, Sita đã viện dẫn đến dòng họ của mình “Tên thiếp là Gianaki, bởi vì

có liên quan đến lễ tế sinh của Gianaka chứ không phải vì thiếp sinh ra trong gia đình đó; chỉ có Đất là mẹ của thiếp thôi Vì không có thể suy xét

đúng đắn, chàng đã không hiểu đợc bản chất của thiếp” [2, tập, Tr.239].

Nh vậy, dòng dõi của Sita không phải là ngời phàm tục, mà là dòng dõi của

Trang 25

thần linh So với dòng dõi của Rama thì sự xuất thân của Sita là bội phầndanh giá Sita cũng có ý thức bảo vệ danh dự của dòng dõi thần linh củamình Khi lời nói không thể thuyết phục đợc Rama, Sita đã hành độngquyết liệt để chứng minh cho sự trong trắng của mình, bảo vệ danh dự chobản thân và dòng họ

2.1.2 Nàng Pênêlốp

Nếu Sita là hình mẫu lý tởng của ngời phụ nữ ấn Độ cổ đại thì Pênêlốp

là hình mẫu lý tởng về ngời phụ nữ Hy Lạp cổ đại Pênêlốp là “bà vợ đoan

trang của Uylixơ” [7, Tr.239] Nhân vật Pênêlốp của Hômer là một phụ nữ

biết hành sự theo bổn phận và trách nhiệm, tuân thủ những chuẩn mực đạo

đức của cộng đồng Pênêlốp chung thuỷ đợi chồng hai mơi năm, ngày đêmngóng trông, mong đợi chồng trở về Khi nhũ mẫu Ơriclê lên báo cho nàng

đó Pênêlốp bình tĩnh suy nghĩ, không vội vàng, vồn vã bởi vì nàng “luôn lo

sợ có ngời đến đây, dùng lời đờng mật đánh lừa, vì đời chẳng thiếu gì ngời xảo quyệt, chỉ làm điều tai ác” [7, Tr.270] Nếu ngời hành khất ấy là

Uylixơ thực thì không sao; nếu không phải thì lúc đó danh dự của Pênêlốp

sẽ bị tổn thơng, điều mà một ngời Hy Lạp chân chính không thể nào chấpnhận Nh vậy, có thể thấy, lí do khiến Pênêlốp phải thận trọng trong mọiviệc là vì để bảo vệ danh dự Pênêlốp bảo vệ danh dự cho bản thân cũngchính là bảo vệ của gia đình và dòng họ Nàng không muốn mang tiếng làmột ngời vợ không chung tình, ngời con dâu không hiếu thảo Nàng dùng

kế “dệt tấm vải” không chỉ là để đối phó với bọn cầu hôn mà còn bởi “đó là

tấm vải liệm dành cho cụ Laectơ, khi nào cụ bị thần chết khắc nghiệt mang

đi Xin các vị đừng để một ngời đàn bà Acai nào đấy tức giận vì thấy một ngời giàu có nh cụ chết mà không đợc khâm liệm, rồi có thể đi nói xấu tôi với thiên hạ” [7, Tr.239]

Trang 26

Từ những phân tích trên đây, có thể thấy, ở thời đại sử thi, con ngời làcon ngời của cộng đồng, tập thể, bị chi phối bởi những quy định của cộng

đồng Không chỉ có những ngời anh hùng lý tởng nh Rama, Asin, mà những

mỹ nhân cũng phải luôn ý thức đợc điều đó Dù khác nhau trong hoàn cảnhsống, trong quan niệm đạo đức thẩm mỹ, nhng Pênêlốp và Sita đều không

đi lệch ra khỏi đờng ray đạo đức thẩm mỹ thời cổ đại Họ là nhân vật sử thi

- con ngời của cộng đồng, thời đại

2.2 Sự hài hoà giữa vẻ đẹp ngoại hình và tâm hồn thánh thiện

Thế giới sử thi là thế giới của những giá trị đã đợc kết tinh Nhân vật sửthi là sản phẩm của một kiểu t duy đặc biệt - t duy khoảng cách T duykhoảng cách quy định kiểu nhân vật sử thi Nếu nhân vật trong thần thoạichủ yếu là thần, còn nhân vật trong tiểu thuyết chủ yếu là con ngời thì nhânvật trong sử thi là gạch nối giữa thần linh và con ngời (nguồn gốc là thầnlinh, hành động và tính cách là con ngời) Nhân vật sử thi đợc xây dựng trêncơ sở là con ngời của quá khứ, đợc đẩy vào quá khứ tuyệt đối Do vậy, trongcái nhìn của tác giả, công chúng của sử thi, những nhân vật lý tởng nhPênêlốp và Sita là nhân vật toàn bích Họ đợc xây dựng thành hình mẫu lý t-ởng của ngời phụ nữ cổ đại, có sự thống nhất hài hoà giữa vẻ đẹp ngoại hình

và tâm hồn thánh thiện Về một phơng diện nào đó, điều này có nét tơng

đồng với cách xây dựng các nhân vật tuyến thiện trong truyện cổ tích

Pênêlốp trong Ôđixê và Sita trong Ramayana đều đợc xây dựng theo nguyên

tắc thẩm mỹ này

2.2.1 Hình tợng Pênêlốp

Pênêlốp, vợ của Uylixơ anh hùng, là một trang tuyệt thế giai nhân Tạo

hoá đã ban cho nàng một vẻ đẹp ít ai sánh kịp đó là “sắc đẹp mĩ miều, thân

hình thanh nhã” [7, Tr.238] Vẻ đẹp ấy khiến bao ngời ngỡng mộ và chính

bản thân Pênêlốp cũng ý thức đợc điều đó Pênêlốp cũng rất tự hào về vẻ

đẹp của mình Nàng hãnh diện nói rằng đó là “những gì làm cho tôi hơn

đ-ợc thiên hạ” [7, Tr.238] Chính điều này càng làm cho nàng đẹp hơn Nhng

sẽ là thiếu sót nếu chúng ta chỉ nói đến vẻ đẹp ngoại hình của Pênêlốp mà

Trang 27

không nói đến vẻ đẹp tâm hồn, trí tuệ của nàng Ngời ta nói vẻ đẹp bênngoài đánh vào đôi mắt, vẻ đẹp tâm hồn đánh vào trái tim Có lẽ đây chính

là lí do khiến Uylixơ luôn một lòng một dạ mong muốn trở về quê hơng để

đoàn tụ gia đình, gặp lại ngời vợ thân yêu Chính vẻ đẹp tâm hồn củaPênêlốp đã in dấu trong trái tim Uylixơ, giúp Uylixơ vợt qua mọi cám dỗ,một lòng một dạ chung thuỷ với nàng Uylixơ sống trong động của nữ thầnCalipxô xinh đẹp một thời gian dài nhng lòng chàng luôn mong ngóng đợc

trở về quê hơng, đoàn tụ gia đình Uylixơ nói với Calipxô: “Hỡi nữ thần oai

linh, xin nàng chớ giận Ta biết rõ về vóc dáng và sắc đẹp, Pênêlốp khôn ngoan không sao bì đợc với nàng, vợ tôi chỉ là một phụ nữ phàm trần, còn nàng, nàng là một vị thần bất tử, muôn đời trẻ mãi Tuy vậy ngày ngày tôi vẫn mong muốn và ao ớc đợc trở lại nhà, đợc thấy ngày về trên đất quê h-

ơng” [7,Tr.173] Tâm hồn thánh thiện của Pênêlốp đã níu giữ đợc tình yêu,

trái tim của Uylixơ Với một ngời phụ nữ, đây chính là điều đáng để tự hào.Lúc Uylixơ trở về quê hơng trong vai một ngời hành khất, đợc trò chuyệncùng Pênêlốp, chàng đã thốt ra những lời lẽ đẹp đẽ dành cho ngời vợ cao

quý của mình: “Hỡi bà vợ đoan trang của Uylixơ” [7, Tr.139] Hai chữ

tỏ rõ bản lĩnh của mình, nhờ bản lĩnh ấy mà Pênêlốp đối phó đợc với bọncầu hôn và chung thuỷ chờ chồng đợc hai mơi năm Sự thận trọng củaPênêlốp thể hiện rõ khi Uylixơ trở về trong vai ngời hành khất Trong lúcTêlêmac, nhũ mẫu Ơriclê vui mừng, vồn vã đón chào Uylixơ, thì Pênêlốp

vẫn bình tĩnh xét đoán mọi việc Nàng nói với nhũ mẫu: “Già hãy khoan hí

Ngày đăng: 18/12/2013, 20:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân, 150 thuật ngữ văn học, Nxb ĐHQG Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
2. Phạm Thuỷ Ba (dịch), Sử thi Ramayana (3 tập), Nxb Văn học, H.1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử thi Ramayana
Nhà XB: Nxb Văn học
3. Đặng Anh Đào, Hoàng Nhân, Lơng Duy Trung, Nguyễn Đức Nam, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Văn Chính, Phùng Văn Tử, Văn học phơng Tây, Nxb Giáo dục, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học phơng Tây
Nhà XB: Nxb Giáo dục
4. M.Baktin, Lý luận và thi pháp tiểu thuyết (Phạm Vĩnh C dịch), Trờng viết v¨n NguyÔn Du, H.1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
5. Lê Văn Dơng, Lê Đình Lục, Lê Hồng Vân, Mỹ học đại cơng, Nxb Giáo dôc, H.2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mỹ học đại cơng
Nhà XB: Nxb Giáo dôc
6. Phơng Lu, Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, H.2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
7. Phan Thị Miến (dịch), Iliat và Ôđixê, Nxb Văn học Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Iliat và Ôđixê
Nhà XB: Nxb Văn học Hà Nội
8. Lơng Ninh (chủ biên), Lịch sử thế giới cổ đại, Nxb Giáo dục, H.2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới cổ đại
Nhà XB: Nxb Giáo dục
9. Nguyễn Văn Hạnh, Bài giảng về văn học ấn Độ, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng về văn học ấn Độ
10.Nguyễn Văn Hạnh, Tiếp cận sử thi Ramayana từ những đặc trng thể loại, Văn học nớc ngoài, 2/1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận sử thi Ramayana từ những đặc trng thể loại
11.Nguyễn Văn Hạnh, Triết lý hoà hợp trong t tởng nghệ thuật R.Tagore 12.Những vấn đề văn học và ngôn ngữ học, NxbĐHQG Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết lý hoà hợp trong t tởng nghệ thuật R.Tagore
Nhà XB: NxbĐHQG Hà Nội
13.Lê Bá Hán, Từ điển thuật ngữ Văn học, Nxb KH&KT, H.1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ Văn học
Nhà XB: Nxb KH&KT
14.Phan Thu Hiên, Sử thi ấn Độ, Nxb Giáo dục, H.1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử thi ấn Độ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
15.Thái Hoàng, Ngô Văn Tuyển, Lịch sử nhìn ra thế giới, Nxb ĐHQG Hà Néi, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử nhìn ra thế giới
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Néi
16.N.Konrat, Phơng Đông và phơng Tây (Trình Bá Đồng dịch), Nxb Giáo dôc, H.1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phơng Đông và phơng Tây
Nhà XB: Nxb Giáo dôc
17.Nguyễn Văn Khoả, Anh hùng ca của Hômer, Nxb Văn học, H.2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anh hùng ca của Hômer
Nhà XB: Nxb Văn học
18.G.Pospelov, Dẫn luận nghiên cứu văn học, (Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân dịch), Nxb Giáo dục, H.1982 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận nghiên cứu văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
19.Trần Đình Sử, Lý luận văn học (tập 1), Nxb Giáo dục, H.1988 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
20.Chiêm Tế, Lịch sử thế giới cổ đại (tập 1), Nxb ĐHQG Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới cổ đại
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
21.Lu Đức Trung, Văn học ấn Độ, Nxb Giáo dục, H.1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học ấn Độ
Nhà XB: Nxb Giáo dục

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình tợng ngời phụ nữ trong sử thi cổ đại qua hai nhân vật pênêlôp ( ôđixê ) và sita ( Ramayana ) - Hình tượng người phụ nữ trong sử thi cổ đại qua hai nhân vật pênêlôp( ÔĐIXÊ) và SITA (RAMAYANA)
Hình t ợng ngời phụ nữ trong sử thi cổ đại qua hai nhân vật pênêlôp ( ôđixê ) và sita ( Ramayana ) (Trang 1)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w