1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hình tượng người phụ nữ trong cung oán ngâm khúc của nguyễn gia thiều và thơ nôm hồ xuân hương

98 4,3K 36

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hình tượng người phụ nữ trong Cung Oán Ngâm Khúc của Nguyễn Gia Thiều và Thơ Nôm Hồ Xuân Hương
Tác giả Phạm Thị Vân
Người hướng dẫn ThS. Thạch Kim Hương
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Văn học trung đại Việt Nam
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2009
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 306 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vấn đề hình tợng ngời phụ nữ trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều và Thơ Nôm Hồ Xuân Hơng đã đợc nghiên cứu nhiều song cho đến nay giới nghiên cứu thờng đứng trên quan điểm giai

Trang 1

Trờng đại học vinh Khoa ngữ văn

Trang 2

Trờng đại học vinhKhoa ngữ văn

Trang 3

Lời cảm ơn

Hoàn thành khóa luận này, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi đãnhận đợc sự giúp đỡ của các thầy cô giáo và những ngời thân

Tôi xin đợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đối với cô giáo

ThS.Thạch Kim Hơng - ngời đã trực tiếp hớng dẫn và giúp đỡ tận tình tôi

trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành khóa luận

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ bộ môn Văn họctrung đại, các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn, trờng Đại học Vinh đã tạomọi điều kiện về cơ sở vật chất cũng nh tận tình giúp đỡ chỉ bảo để tôi hoànthành tốt khóa luận này

Xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với gia đình, bạn bè, đã tạo điềukiện giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi về vật chất cũng nh tinh thần để tôi có

điều kiện học tập, nghiên cứu tốt

Do nguồn tài liệu thời gian hạn chế, bản thân mới bớc đầu nghiên cứumột đề tài khoa học, chắc chắn khóa luận này khó tránh khỏi những thiếu sót.Rất mong nhận đợc sự chỉ bảo góp ý của các thầy cô giáo và các bạn

Tôi xin chân thành cảm ơn !

Vinh, tháng 5 năm 2009.

Tác giả

Phạm Thị Vân

Trang 4

Mục Lục

Trang

Mở đầu 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu 7

5 Phơng pháp nghiên cứu 7

6 Cấu trúc của luận văn 7

Nội dung 8

Chơng 1 Ngời phụ nữ trong văn học trung đại Việt Nam 8

1.1 Ngời phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam 8

1.2 Ngời phụ nữ trong văn học Việt Nam trung đại 10

1.2.1 Ngời phụ nữ trong văn học Việt Nam từ thế kỷ X - hết thế kỷ XVII 10

1.2.2 Ngời phụ nữ trong văn học Việt Nam từ thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX 12

Chơng 2 Ngời phụ nữ trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều và Thơ Nôm Hồ Xuân Hơng - Những điểm tơng đồng 15

2.1 Đề cao vẻ đẹp của ngời phụ nữ 15

2.1.1 Ngợi ca vẻ đẹp bên ngoài 16

2.1.2 Ngợi ca vẻ đẹp bên trong 19

2.2 Sự cảm thông, bênh vực, bảo vệ ngời phụ nữ 23

2.3 Đời sống nội tâm 25

2.3.1 Tâm trạng cô đơn 28

2.3.2 Tâm trạng khát khao tình yêu và ái ân hạnh phúc 33

2.3.3 Nghệ thuật thể hiện đời sống nội tâm 37

Trang 5

Ch¬ng 3: Ngêi phô n÷ trong Cung o¸n ng©m khóc vµ Th¬ N«m Hå

Xu©n H¬ng - Nh÷ng ®iÓm kh¸c biÖt 41

3.1 KiÓu nh©n vËt phô n÷ 41

3.2 Mét sè biÖn ph¸p nghÖ thuËt thÓ hiÖn 48

3.2.1 ThÓ lo¹i 48

3.2.2 NghÖ thuËt miªu t¶ 53

3.2.3 Ng«n ng÷ 58

3.2.4 Giäng ®iÖu 64

KÕt luËn 67

Tµi liÖu tham kh¶o 70

Trang 6

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Ngời phụ nữ với ý nghĩa là một kiểu nhân vật đánh dấu bớc trởng

thành trong nhận thức về đời sống hiện thực và quá trình vận động phát triển tduy văn học chính là đối tợng quan trọng của nghiên cứu văn học trung đại.Trong xã hội phong kiến với Nho giáo là ý thức hệ chính thống, vốn xã hộinam quyền, so với đàn ông, phụ nữ phải chịu nhiều thua thiệt từ cuộc sống vậtchất đến tinh thần Trên thực tế, họ phải gánh vác nhiều trọng trách (sinh nở,nội trợ, lao động, gia đình) song địa vị gia đình và xã hội rất thấp kém, họ luôn

bị áp chế nặng nề còn đàn ông luôn đợc bênh vực Nhìn lại lịch sử văn họctrung đại có thể thấy: Ngời phụ nữ ít đợc chú ý tới Văn học từ thế kỷ X đếnthế kỷ XII, ngời phụ nữ rất hiếm khi xuất hiện, nếu có xuất hiện thì rất lu mờ(Thánh Tông di thảo, Truyền kỳ mạn lục) Viết về ngời phụ nữ chủ yếu là đểrăn sắc (Nguyễn Trãi, Trần Thái Tông) hoặc để giáo huấn đạo đức Nho gia

Đến thế kỷ XVIII cơ sở xã hội và văn hoá đã tạo điều kiện thuận lợi cho sựphát triển ý thức con ngời cá nhân trong văn học con ngời tự nhiên trần thế bắt

đầu đợc đề cao, vấn đề quyền sống của con ngời trở thành điểm mấu chốttrong nhận thức Chủ nghĩa nhân đạo của văn học từ thế kỷ XVIII đến thế kỷXIX có đặc điểm nổi bật là sự khẳng định quyền sống của ngời phụ nữ Tiếpcận vấn đề ngời phụ nữ là một cách nhìn thuận lợi đối với chủ nghĩa nhân đạocủa văn học giai đoạn này Đây là lý do thu hút ngời viết luận văn tìm đến đềtài ngời phụ nữ

1.2 Nghiên cứu về ngời phụ nữ trong văn học Việt Nam giai đoạn nửa

cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX chúng tôi chọn: Cung oán ngâm khúc Nguyễn Gia Thiều và Thơ Nôm Hồ Xuân Hơng bởi vì:

Cung oán ngâm khúc là tác phẩm có vị trí đặc biệt trong nền văn học trung

đại Việt Nam Cùng với bản dịch Chinh phụ ngâm - Đoàn Thị Điểm, Cung

oán ngâm khúc của Ôn Nh Hầu Nguyễn Gia Thiều đợc coi là hai hạt ngọc

trong tác phẩm văn học chữ Nôm thuộc dòng văn học cổ điển Việt Nam giai

đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX Hơn nữa tác phẩm là đứacon tinh thần của một Nho sĩ nam giới viết về nữ giới đều cho thấy sự thay đổi

trong cách nhìn về vấn đề ngời phụ nữ trong văn học bác học Thơ Nôm Hồ

Xuân Hơng là tiếng lòng của nữ sĩ khi viết về chính giới của mình Có thể nói

ngoài văn học dân gian, bà là nhà thơ đầu tiên trong lịch sử văn học dân tộc

đem đến cho văn học trung đại cái nhìn của văn hóa dân gian đối với vấn đề

về quyền sống, bản năng của ngời phụ nữ

Trang 7

Cũng viết về ngời phụ nữ nhng cách thể hiện của hai nhà thơ khác nhauNguyễn Gia Thiều nghiêng về văn học quý tộc, Hồ Xuân Hơng nghiêng vềvăn học dân gian So sánh hình tợng ngời phụ nữ, nhằm tìm hiểu sự phongphú, đa dạng trong cách nhìn, sự cảm thông và những giải pháp nghệ thuậtkhác nhau khi văn học đứng trớc nhiệm vụ mới: đa quyền sống, quyền hạnhphúc của ngời phụ nữ lên thành vấn đề chính cần phải đợc quan tâm.

1.3 Vấn đề hình tợng ngời phụ nữ trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn

Gia Thiều và Thơ Nôm Hồ Xuân Hơng đã đợc nghiên cứu nhiều song cho đến

nay giới nghiên cứu thờng đứng trên quan điểm giai cấp để nhìn nhận đánhgiá, khảo luận khúc ngâm, thờng nghiêng về khía cạnh số phận ngời cung nữvừa muốn tố cáo tính chất vô nhân đạo của chế độ cung nữ trong xã hội phongkiến, đó là ngời cung nữ bị ruồng bỏ, xem xét thơ Hồ Xuân Hơng chủ yếu ởphơng diện chống Nho giáo, đả kích vua quan, hiền nhân quân tử (dĩ nhiên ởgóc nhìn ấy các nhà nghiên cứu đã đem đến nhiều đóng góp nhng cha thật đầy

đủ và thỏa đáng) Việc phân tích ngời phụ nữ ở những điểm tơng đồng vàkhác biệt cha đợc chú ý đúng mức Đây là lý do quan trọng khiến ngời viết

luận văn nghiên cứu đề tài: Hình tợng ngời phụ nữ trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều và Thơ Nôm Hồ Xuân Hơng.

1.4 Trong những năm gần đây, ở trờng trung học phổ thông có không ít

tác phẩm trích giảng liên quan đến vấn đề ngời phụ nữ Do đó kết quả nghiêncứu của luận văn sẽ góp phần phục vụ cho công việc ý nghĩa thiết thực nàycũng chính là một trong những lý do chọn đề tài của ngời viết luận văn

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Một số ý kiến liên quan trực tiếp đến đề tài

- Trong bài viết: Hồ Xuân Hơng, Nguyễn Lộc đã nêu: "Hồ Xuân Hơng

th-ờng đợc coi là một trong những nhà thơ tiêu biểu cho trào lu nhân đạo chủnghĩa văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷXIX, trớc hết là vì sáng tạo của bà đã nêu bật lên những vấn đề riêng t, nhữngnỗi bất công của ngời phụ nữ phong kiến phải chịu đựng và tin tởng đấu tranh

để bảo vệ quyền lợi của ngời phụ nữ Nhà thơ cha nêu lên đợc tất cả những nỗikhổ mà chỉ nêu lên những nỗi khổ riêng có tính chất giới tính của họ… Bà ý Bà ýthức đợc rất rõ giá trị và vai trò của ngời phụ nữ: Họ đẹp ở đạo đức, đẹp ở conngời và tài năng cũng không kém gì đàn ông, chỉ vì trong xã hội phong kiếnkhông chấp nhận nên họ không phát huy đợc… Bà ý [14, 28]."

- Tác giả Lê Hồng Phong trong bài viết Nữ sĩ bình dân Hồ Xuân Hơng:

"Trong thơ Hồ Xuân Hơng, ngời phụ nữ đợc đề cao không phải là các nàngcông chúa, các tiểu th con quan nh trong các truyện Nôm mà trớc hết họ là ng-

Trang 8

ời phụ nữ bình thờng, những ngời phụ nữ lao động và đặc biệt là phụ nữ cùngkhổ… Bà ý Những tấm lòng trong trắng thanh cao… Bà ý.”[14, 127].

- Tác giả Phạm Thế Ngũ với bài viết Đặc sắc thơ Hồ Xuân Hơng đã nêu:

"Bà lớn tiếng đòi hỏi dân quyền, nhất là nữ quyền, quyền cho ngời đàn bà đợcvơn lên ngang hàng với đàn ông, quyền cho ngời đàn bà đợc chủ động trongviệc tìm khoái lạc sinh lý nh đàn ông” [14, 111]

- Còn tác giả Lê Trí Viễn trong bài viết Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hơng: "Hồ

Xuân Hơng nhận định một sự sống theo lẽ phải của tự nhiên Xuân Hơng xuấtphát từ sự sống gốc nguồn, sự sống là sự phối hợp âm dơng, là sự sinh sôi nảy

nở nên Xuân Hơng mới trở lại với hình ảnh cụ thể của sự giao hợp ấy” [14,346]

- Tác giả Trơng Xuân Tiếu trong cuốn: Tìm hiểu thế giới nghệ thuật Thơ

Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hơng đã phát hiện ra: "Đặc điểm nổi bật nhất ở

hình tợng ngời phụ nữ truyền tụng Hồ Xuân Hơng là vẻ đẹp trần thế, bao gồmcả vẻ đẻp trần thế, vẻ đẹp tình cảm" [17, 55]

- Hay trong bài viết: Thơ Hồ Xuân Hơng - Thiên tài huê nguyệt Trơng Tửu

đã viết: “Thơ Hồ Xuân Hơng, về ý thức cũng nh nghệ thuật là tiếng nói phảnphong của đa số ngời phụ nữ các tầng lớp bình dân nghèo trong xã hội Việt

Nam xa” [14, 48].

So với Hồ Xuân Hơng, Cung oán ngâm khúc có lịch sử nghiên cứu không

phong phú bằng Tuy nhiên nó cũng làm hao tổn không ít giấy mực của cácbậc thức giả Có nhiều ý kiến nhận xét, bình chú, nhiều bài viết công phu,nhiều công trình nghiên cứu tác phẩm

- Hoàng Ngọc Phách, Lê Thớc, Vũ Đình Liên (Bình luận, hiệu đính, chú

thích), Cung oán ngâm khúc, (Bộ giáo dục xuất bản, 1957), đã nêu lên đợc nội dung nhân đạo của tác phẩm, đó là: "Cung oán ngâm khúc đã diễn tả một cách

sâu sắc, mạnh mẽ những nỗi khổ của ngời cung nữ nói riêng và phụ nữ nóichung dới chế độ phong kiến, không những ở Việt Nam mà còn ở tất cả các n-

ớc, giam cầm hàng trăm ngời phụ nữ trong thâm cung để thỏa mãn tình dụccủa chúng, đã đợc tác phẩm phơi bày và gián tiếp tố cáo trong khúc ngâmnày"

- Dơng Quảng Hàm: Việt Nam văn học sử yếu, viết: “ …Tác giả làm ra lời

một cung phi có tài, có sắc đợc nhà vua yêu chuộng, nhng không bao lâu bịchán bỏ, than thở về số phận của mình Lời văn rõ là của bậc túc Nho uẩnkhúc… Bà ý lột tả hết nỗi đau khổ bực dọc của ngời đàn bà còn trẻ mà bị giam hãmtrong cảnh lẻ loi, lạnh lùng” [4, 226]

Trang 9

- PGS TS Nguyễn Hữu Sơn Trong bài viết: Nghệ thuật và những khái

quát triết lý trữ tình khẳng định: “Có thể nói rằng, thấp thoáng sau tiếng nói bi

kịch của ngời cung nữ là ý thức phản kháng, tố cáo chế độ cung nữ, mơ hồnghĩ về truyền thống, quyền đợc hởng hạnh phúc và ớc mong một cuộc đổithay” [15, 38]

ở giáo trình: Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ

XIX, Nguyễn Lộc tìm hiểu bút pháp nghệ thuật trong Cung oán ngâm khúc là

bút pháp có tính chất ớc lệ tợng trng đậm nét

Theo ông: “Trong tác phẩm tất cả đều mang màu sắc ớc lệ từ cách miêu tả

sắc đẹp, tài năng của ngời cung nữ, tâm trạng khao khát, day dứt của nàng,

đến cách miêu tả cách ăn chơi trong cung cấm không có gì là cụ thể xác thực,

mà đều đợc phóng đại, đợc mỹ hóa, đợc cách điệu” [8, 192]

ở bài viết: Thể loại ngâm và Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều

NI NiCuLin khẳng định “Ngâm tập trung vào việc miêu tả con ngời cá nhânriêng lẻ mà số phận của nó do bức tranh toàn cảnh xã hội rộng lớn đợc phản

ánh trong tác phẩm quy định” Và ông khẳng định “Tác phẩm trớc hết kể vềnhững tâm trạng đau buồn sầu não nhng trong đó nó cũng nói lên niềm vui,hạnh phúc, có cơn giận dữ và cũng có tia hy vọng” [20, 56]

2.2 Nhận xét

Trải qua một thời gian tìm hiểu, phát hiện những tài liệu có ý nghĩa phục

vụ cho đề tài, chúng tôi nhận thấy cha có công trình nghiên cứu công phu nào

về ngời phụ nữ trong sự so sánh hai tác phẩm Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều và Thơ Nôm Hồ Xuân Hơng, hai kiểu tác giả với những

biện pháp nghệ thuật khác nhau cùng tập trung thể hiện vấn đề quyền sốngcủa ngời phụ nữ, mà ngời ta chỉ đề cập đến: Cuộc đời, số phận, vẻ đẹp tâmhồn, hình thể, tiếng nói nội tâm Nh vậy! Vấn đề hình tợng ngời phụ nữ trong

Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều và Thơ Nôm Hồ Xuân Hơng cha

đợc giới nghiên cứu quan tâm đúng mức Điều này vừa là khó khăn vừa làthuận lợi cho chúng tôi trong quá trình hình thành luận văn Khó khăn vì sự

ít ỏi về tài liệu nên việc xác định hớng đi của đề tài quả thật không dễ dànggì, tài liệu ít chúng tôi khó có thể tham khảo các cách viết, các quan niệmcủa nhiều ngời để lựa chọn ý tởng hay Mặt khác chính vì sự khó khăn đóbuộc chúng tôi phải cố gắng để phát huy khả năng, năng lực sáng tạo củabản thân mình

Hình tợng ngời phụ nữ trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều

và Thơ Nôm Hồ Xuân Hơng cha đợc giới nghiên cứu nhìn nhận một cách độc

lập, mà mới đợc bàn lớt qua và đợc nhắc đến rải rác trong quá trình soi sángmục tiêu của họ ở các bài viết Do đó, ở chỗ này hay chỗ khác, các tác giả đã

Trang 10

nêu lên một số nhận xét, đánh giá liên quan đến vấn đề hình tợng ngời phụ nữ

trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều và Thơ Nôm Hồ Xuân

H-ơng, nhng nó cha đợc các tác giả nhìn nhận và giải quyết, đánh giá có hệ

thống, trực tiếp, toàn diện và triệt để

Nêu lên và đa ra một số nhận xét trên chúng tôi không mảy may nghĩ rằng(các tác giả: Nguyễn Lộc, Lê Trí Viễn, Dơng Quảng Hàm… Bà ý) và các tác giảkhác không thể làm đợc điều đó… Bà ý Đây không phải là nhợc điểm của các bàiviết Điều mà chúng tôi khẳng định đó là các tác giả không tự đặt cho mình

nghiên cứu nhìn nhận vấn đề hình tợng ngời phụ nữ Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều và Thơ Nôm Hồ Xuân Hơng, nh một vấn đề chuyên biệt.

Nhiệm vụ mà chúng tôi theo đuổi trong khóa luận này

Từ những gợi ý hết sức quý báu trong nhiều bài viết của các nhà nghiêncứu, chúng tôi muốn đợc tiếp tục nghiên cứu, trên cơ sở đó phát triển đề tàisâu rộng hơn, toàn diện hơn Quá trình nghiên cứu đề tài này chúng tôi mới

có dịp đi sâu tìm hiểu Với sự nỗ lực hết mình chúng tôi mong sao luận văn

sẽ góp phần không nhỏ để giúp ngời đọc có đợc cái nhìn khái quát, sâu sắc,thỏa đáng về hình tợng ngời phụ nữ ở điểm tơng đồng và khác biệt

Đây chỉ là luận văn tốt nghiệp của một sinh viên mới bắt đầu tìm tòi, thểnghiệm trên con đờng nghiên cứu khoa học Dù đã cố gắng nhng do năng lực

có hạn, vì vậy sẽ có những khiếm khuyết… Bà ý Rất mong đợc sự góp ý giúp đỡcủa các thầy cô giáo trong khoa và các bạn

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với đề tài Hình tợng ngời phụ nữ trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn

Gia Thiều và Thơ Nôm Hồ Xuân Hơng, chúng tôi đặt ra ba nhiệm vụ chủ yếu.

3.1 Khảo sát xác lập cái nhìn tổng quan về ngời phụ nữ trong xã hội

phong kiến và văn học trung đại Việt Nam để có một ngữ cảnh rộng cho sựphân tích

3.2 Chỉ ra sự cống hiến, đổi mới trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn

Gia Thiều và Thơ Nôm Hồ Xuân Hơng trong đề tài và cảm hứng về ngời phụ nữ

3.3 Những điểm giống nhau và khác nhau ở nội dung và nghệ thuật giữa

hai loại sáng tác về ngời phụ nữ

4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tợng nghiên cứu

4.1.1 Văn bản Cung oán ngâm khúc, Lê Văn Hòe (hiệu đính và chú giải),

Nxb Thế giới, Hà Nội, 2001

4.1.2 Thơ Hồ Xuân Hơng, Hoàng Xuân Hãn, Nxb Hội Nhà văn, 2000.

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trang 11

Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều và Thơ Nôm Hồ Xuân Hơng

đề cập đến nhiều vấn đề nhng do phạm vi của đề tài nên chúng tôi đi sâunghiên cứu hình tợng ngời phụ nữ cùng những biện pháp nghệ thuật mà tác giả

đã sử dụng để thể hiện nội dung đó

5 Phơng pháp nghiên cứu

Căn cứ vào đối tợng và nhiệm vụ của đề tài nh đã đợc trình bày ở trên,

ph-ơng pháp đợc chúng tôi sử dụng để giải quyết vấn đề bao gồm

Khảo sát thống kê

Phân tích, tổng hợp

So sánh, đối chiếu

Trong các phơng pháp trên, phơng pháp chủ yếu là so sánh để thấy đợc

điểm tơng đồng và khác biệt giữa Thơ Nôm Hồ Xuân Hơng và Cung oán ngâm

khúc của Nguyễn Gia Thiều khi cùng thể hiện về ngời phụ nữ.

6 Câu trúc của luận văn

Luận văn của chúng tôi gồm ba phần chính:

Phần 1: Mở đầu

Phần 2: Nội dung Có 3 chơng

Chơng 1: Ngời phụ nữ trong văn học trung đại Việt Nam

Chơng 2: Ngời phụ nữ trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều và

Ngời Phụ Nữ Trong Văn Học Việt Nam Trung Đại

1.1 Ngời phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam

Ngời phụ nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam phải chịu nhiều cực khổ vềvật chất lẫn tinh thần

Trên thực tế, ngời phụ nữ có vai trò rất quan trọng, họ đảm đang gánh vácviệc nhà, việc lao động… Bà ý Nhng lại không đợc coi trọng, họ không có quyềnquyết định Khi ở nhà phải tuân theo cha, lấy chồng là phải theo sự mai mối

sắp đặt của cha mẹ cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy Về nhà chồng phải theo

chồng phải kính trên nhờng dới, giữ mình cho khéo đừng trái ý chồng, ngay cảtên vợ cũng gọi theo tên chồng, chồng có thể bỏ vợ, vợ không đợc tự ý tuyệt

Trang 12

giao với chồng Nghĩa vụ của ngời vợ là phải thủy chung, phải phục tùng, phảisinh đợc con trai để nối dõi tông đờng nêu không phải cắn răng đi hỏi vợ lẽ

cho chồng Trong bài viết: Tống Nho với phụ nữ Phan Khôi cho rằng: “Cái

luật cấm cải giá là bất công, về đạo đức, cớp mất quyền lợi đàn bà mà không

bổ ích gì cho phong hóa, nên phế trừ đi là phải” [6, 35]

Lễ giáo, phong tục, luật pháp ở Việt Nam xa thì một mặt khuyến khíchchữ trinh, một mặt nghiêm trị tội dâm không ngoài mục đích buộc ngời phụnữ trinh tiết với chồng Nếu chồng chết mà tái giá thì không đợc hởng tài sảnhoa lợi của chồng để lại Ngợc lại các tiết phụ đợc ban thởng Đề cao sự thủtiết của ngời vợ chẳng qua là bóp nghẹt khát vọng tình yêu, hạnh phúc gia

đình của ngời phụ nữ Trong xã hội phong kiến không có sự bình quyền nênngời phụ nữ suốt đời phải chịu thiệt thòi Họ không đợc đi học, đi thi, làmquan, việc đình đám không đợc lui tới, ruộng đất công không có đất chia, ănuống cũng chỉ quanh quẩn nơi xó bếp Họ bị giới hạn về nhận thức chỉ biếtsống câm lặng tù túng Cho nên việc đề cao phụ nữ khuôn phép, hay lam haylàm, chịu thơng chịu khó, nhẫn nại… Bà ý Thực chất cũng là khuyến khích tìnhcảm chịu chấp nhận, tập cho họ thói quen chịu đựng theo t tởng Nho giáo quy

định

Trong hoạt động ngoài xã hội thời phong kiến cũng có một số tấm gơngtiêu biểu Đó là Thái hậu Dơng Vân Nga biết trao áo bào cho Lê Hoàn tronghoàn cảnh lịch sử đất nớc ngàn cân treo sợi tóc Là Nguyên phi ỷ Lan từngthay mặt vua Lý Thánh Tông (khi vua đi đánh chiếm thành) cai quản đất nớc đ-

ợc chu đáo Là công chúa Huyền Trân đợc gả cho vua Chiêm Thành để yênviệc nớc, phục vụ quan hệ ngoại giao Là bà Đô đốc Bùi Thị Xuân đi theophong trào Tây Sơn và cuối cùng bị chết trong tay nhà Nguyễn… Bà ý Nh thế lịch sử

đã ghi lại nhiều tên tuổi phụ nữ tham gia vào các hoạt động trong triều đình,nhiều khi tham gia với vai trò quan trọng Tuy nhiên họ là những tấm gơng tiêubiểu và gắn với tình hình, hoàn cảnh cụ thể của đất nớc Trong số họ cũng cónhững ngời phải chịu hi sinh theo bổn phận và trách nhiệm, đợc nhà vua giaophó gần với nh ép buộc để phục vụ mục đích cầu thân với các nớc

Còn lại đại bộ phận phụ nữ sống cuộc đời khổ nhục Đợc làm cung tần thìphải sống cuộc đời thê thiếp nên không có quyền tự do Thân phận cung nữtuy đợc đảm bảo về vật chất nhng hạnh phúc cá nhân đa phần thì bất hạnh chỉ

có số ít là chính phi, hoàng hậu ở nông thôn ngời phụ nữ phải sống trong

cảnh lệ làng phép nớc Với cuộc sống đầu tắt mặt tối, không tìm đợc lối thoát

đành bất lực kêu than Trong số họ một số ngời đã đi thi nhng chế độ phong

Trang 13

kiến không cho phép Vì thế dù họ có thông minh tài giỏi nhng không đợc xãhội coi trọng cất ra làm quan Vì vậy ngời phụ nữ có tài chỉ góp thêm cho đờimột số văn thơ.

Những điều trên đây cho thấy số phận ngời phụ nữ trong xã hội phongkiến Việt Nam chịu nhiều quy định ngặt nghèo của Nho giáo Họ không cóquyền đợc quyết định, lựa chọn cuộc sống riêng, không có quyền thi thố tàinăng với đời Tuy nhiên có một số phụ nữ tài năng, dũng cảm tham gia cầmquân hay sáng tác văn thơ những cũng là thiểu số bé nhỏ

1.2 Ngời phụ nữ trong văn học Việt Nam trung đại

1.2.1 Ngời phụ nữ trong văn học Việt Nam từ thế kỷ X - hết thế kỷ XVII

Trong văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XVII ngời phụ nữ ở vịtrí sáng tác không nhiều, chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay: Lê Thị Ngọc Kiều,

Lê Thị ỷ Lan, Ngô Chi Lan… Bà ý Về nhân vật trong tác phẩm: Văn học ViệtNam trong giai đoạn này rất ít viết về phụ nữ Trong văn học Lý - Trần cácnhân vật nữ xuất hiện là nhân vật trong lịch sử xa xa hoặc tồn tại trong các

truyện cổ tích, truyền thuyết rồi đợc ghi chép lại Việt điện u linh của Lý Tế

Xuyên có Nhị Trng phu nhân viết về chị em Trng Trắc, Trng Nhị đã khởinghĩa đánh quân Hán Một số truyện khác ngời phụ nữ chỉ xuất hiện thấpthoáng, ngắn gọn trong một vài đoạn: Ví nh Cảo Nơng, Mỵ Nơng, mẹ Đại V-

ơng, Lĩnh nam chính quái liệt truyện [11, 143-144] của Vũ Quỳnh có truyện

họ Hồng Bàng nói đến việc mẹ Âu Cơ sinh ra cái bọc trăm trứng để giải thíchnguồn gốc dân tộc Truyện cây cau kể về ngời con gái họ Lu tiết nghĩa.Truyện Nhất Dạ Trạch kể về công chúa Tiên Dung kết hôn cùng Chử Đồng

Tử Viết theo hình thức truyện kí có Nam Ông mộng lục của Hồ Nguyên

Trừng Theo Nguyễn Đăng Na trong cuốn: Văn xuôi tự sự Việt Nam thời

trung đại, Tập 1 NXB giáo dục Hà Nội viết: “Tác phẩm đầu tiên mở đờng cho

khuynh hớng viết về ngời thực, trong văn học xuôi tự sự Việt Nam thời trung

đại với hai mục đích: Một là biểu dơng các mẫu việc thiện của ngời xa, hai là

để cung cấp điều mới lạ cho ngời quân tử” [4, 137] Nhân vật phụ nữ trong tácphẩm mang đậm dấu ấn lịch sử xã hội thời Trần mà tác giả còn nhớ và ghichép lại

Nói chung trong văn học Lý - Trần, nhân vật ngời phụ nữ mang nhiều tínhchất kỳ ảo có phẩm chất của ngời tài năng dựng nớc và giữ nớc, ngời nêu gơng

theo đạo đức Nho giáo Tất cả nhìn chung thiên về đề cao phẩm chất đạo đức

phù hợp với Nho giáo

Bớc sang thế kỷ XV Nho giáo đã thắng thế Phật giáo, khoa cử ngày càngsùng kính Nho giáo và đào tạo đợc nhiều quan lại Nho sĩ, đội ngũ sáng tác chủyếu là nhà Nho Vì thế cách phản ánh về ngời phụ nữ đậm chất Nho giáo ĐợcNho giáo trang bị và đào luyện về nhiều mặt, nhng trong đó có quan niệm văn

Trang 14

học, các nhà Nho luôn bị quan niệm bởi chính đạo, cho nên nói thông thờngcũng là nói chữ, chuyện tâm tình cũng bằng đạo lý Nguyễn Trãi là ngời cóhọc vấn và đợc đào tạo chu đáo nơi cửa Khổng sân Trình, vì vậy sáng tác của

ông ít nói về ngời phụ nữ Là một nhà Nho có tâm hồn lãng mạn có cái nhìntình tứ nhng khi viết về ngời phụ nữ cơ bản ông vẫn đứng trên quan điểmtruyền thống Nho gia khuyên răn họ và xem hồng nhan là tai họa cho gia

đình Bài thơ Nôm Răn sắc thể hiện rõ cái nhìn mang tính chất nam quyền của

nhà thơ đối với sắc đẹp của phụ nữ Coi nữ sắc là tai họa

Sắc là giặc đam làm chi, Thuở trọng còn phòng có thuở suy.

Trụ mất quốc gia vì Đát Kỷ, Ngô lìa thiên hạ bởi Tây Thi

Sáng tác của Lê Thánh Tông về ngời phụ nữ cũng hớng theo Nho giáo,chịu đựng sự quy định của Nho giáo Trong Thánh Tông di thảo [11, 152 - 303]

có nhiều truyện tập trung viết về ngời phụ nữ: yêu nử Mai Châu, Hai gái

Thần, Duyên lạ nớc Hoa… Bà ý Nhìn chung các truyện viết về phụ nữ sử dụnghình thức kỳ ảo, màu sắc truyện kỳ với đủ thế giới thần tiên, ma quỷ Truyện

Duyên lạ nớc Hoa kể về chàng họ Chu trong mơ gặp nàng Mộng Trang rồi lấy

nhau sinh con Truyện Hai gái thần kể về nhà Nho già gặp hai cô gái, một là

cháu dâu Long Vơng, một là vợ sơn thần Đông Ngu Truyện nói lên tình nghĩathủy chung của ngời phụ nữ qua lời tự thuật của hai nhân vật hồn ma giả làmngời

Tác phẩm đề cập nhiều đến ngời phụ nữ nhiều nhất chính là Truyền Kỳ

mạn lục của Nguyễn Dữ Có tới 12/20 truyện đề cập đến cuộc đời số phận của

nữ giới Trong phần giới thiệu chung về Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung

đại nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Na đã nhận xét: “Nguyễn Dữ đã gửi cho

độc giả thời sau bức thông điệp”: ở thời đại ông không có ngời phụ nữ nàohạnh phúc cả cho dù họ sống theo kiểu nào Ngoan ngoãn thủy chung, làmtròn phận sự của ngời con, ngời vợ, ngời mẹ, nh Nhị Khanh (ngời nghĩa phụ ởKhoái Châu), Vũ Thị Thiết (Ngời con gái Nam Xơng)… Bà ý thì cái chết theonghĩa đen lẫn nghĩa bóng là chung cục mọi kiếp đàn bà [11, 26]

Do sự chi phối của hình tợng Nho giáo nhà văn đã xây dựng hình tợng

ng-ời phụ nữ với vẻ đẹp tam tòng tứ đức Nàng Vũ Nơng đẹp ngng-ời, đẹp nết, hiếu thảo, thùy mị, thủy chung Nàng Lê Khanh trong truyện cây gạo từng khao

khát một tình yêu có sự giao hòa xác thịt: Nghĩ đời ngời ta chẳng khác gì giấcchiêm bao Chi bằng trời cho sống ngày nào tìm lấy những thú vui kẻo mộtsớm mất đi sẻ thành ngời suối vàng dù có muốn tìm cuộc sống ái ân cũngkhông thể đợc nữa Nhng để diễn tả khát vọng ấy, ý nghĩa của con ngời tác giảphải mợn yếu tố kỳ ảo nh hồn ma, hồn hoa mang dáng dấp của con ngời Phải

Trang 15

mợn những nhân vật ma quỷ để triết lý về đời sống riêng t, về tình yêu namnữ.

Nh vậy vấn đề ngời phụ nữ trong văn học từ thế kỷ X - đến hết thế kỷXVII hiện lên dần rõ nét hơn, có tính đời sống hơn ban đầu họ thờng là nhânvật trong truyện cổ tích, truyền thuyết, đợc su tầm, biên soạn lại từ kho tàngvăn học dân gian Sau đó ngời phụ nữ gần với đời sống hiện thực hơn Nhiềunhân vật đợc giới thiệu nh là ma quỷ, yêu tinh, nhng cũng có suy nghĩ, hành

động, có đời sống tâm lý, có khát khao tình yêu say đắm nh con ngời thực

Đây chính là yếu tố tiền đề để phản ánh ngời phụ nữ trong đời sống văn học ởgiai đoạn sau

1.2.2 Ngời phụ nữ trong văn học Việt Nam từ thế kỷ XVIII đến hết thế

kỷ XIX

Bớc sang thế kỷ XVIII, lịch sử, xã hội và đời sống văn hóa ở Việt Nam cónhiều biến động Đó là cơ sở hiện thực đa sự xuất hiện trào lu nhân văn trongvăn học Yếu tố cơ bản của trào lu nhân văn là phát hiện ra con ngời, đề caocon ngời, khẳng định những giá trị chân chính của con ngời, nhất là vấn đềquyền sống, kể cả quyền sống bản năng việc đấu tranh chống lại thế lực đentối của xã hội Nho giáo có tính chất nam quyền, đòi quyền sống cho ngời phụnữ khó khăn và gay gắt hơn so với nam giới Đạo đức Nho giáo luôn bênh vựcnam quyền, ngời đàn ông tự do trong lĩnh vực tình yêu và gia đình, đàn ôngnăm thê bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ lấy một chồng Ngời phụ nữ đợc giáohuấn sao cho khinh miệt nhu cầu và quyền sống thân xác, xem thân xác là tộilỗi, xấu xa Vì vậy sự chống đối của họ khác với đàn ông là chống phong kiến

bằng sự thoát ra khỏi khuôn phép, phá vỡ những rào cản về đạo lý Cha mẹ đặt

đâu con ngồi đấy hay đôi khi giám mạnh dạn đi theo tiếng gọi của tình yêu,

dám bộc lộ thơng nhớ chồng, dám khẳng định quyền sống thân xác Trong cácthế kỷ trớc quyền sống của ngời phụ nữ cha đợc chú ý đến, không đợc bàn

đến, họ chịu nhiều thiệt thòi mà không biết giải bày cùng ai đành phải câmlặng Sang thế kỷ XVIII ngời phụ nữ đã bắt đầu trỗi dậy, họ tự viết về mình,

và đợc các văn nhân nam giới chú ý Họ là những con ngời trần thế, giữa cuộc

đời bình thờng Trớc hết họ xuất hiện thành một đội ngũ tác giả đông đảo vàtiêu biểu nh Đoàn Thị Điểm, Lê Ngọc Hân, Hồ Xuân Hơng, Nguyễn ThịHuynh,… Bà ý Điều đó chứng tỏ rằng họ đã biết đứng lên thay mặt cho nữ giới đòiquyền sống chính đáng Đồng thời họ chính thức đứng lên văn đàn với t cách lànhân vật trung tâm của trào lu nhân đạo chủ nghĩa Hầu hết các tác giả giai

đoạn này đều đề cập, miêu tả thể hiện hình tợng nhân vật nữ Các thể loại vănxuôi, thơ, ngâm khúc, truyện thơ, hát nói đều đợc sử dụng vào việc thể hiệnhình tợng ngời phụ nữ, góp phần tôn vinh ngời phụ nữ Vị trí của ngời phụ nữ đ-

ợc quan tâm, từ chỗ có hình bóng mờ nhạt trong văn học, lúc này cuộc đời, số

Trang 16

phận, vẻ đẹp nhan sắc, tài năng và quyền sống của họ đã đợc khắc họa sống

động Đó là ngời chinh phụ:

Cờ tiên rợu thánh ai đang,

Lu linh, Đế thích là phờng tri âm.

ma quỷ tiên nữ, mà trở thành con ngời trần thế Đáng chú ý nhất là việc miêutả thế giới nội tâm, tâm hồn phong phú Nỗi buồn đau, niềm khát khao tìnhyêu đôi lứa có sự hòa hợp tinh thần và thể xác, bây giờ họ không cam chịu mà

đi theo tiếng gọi của tình yêu, giám vợt qua lễ giáo phong kiến Ngời cung nữ

trong Cung oán ngâm khúc dám: Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra, dám

mạnh mẽ thẳng thắn cất lên tiếng nói đòi hỏi hạnh phúc ái ân lứa đôi:

Kìa điểu thú là loài vạn vật, Dẫu vô tri bắt phải đèo bòng,

Có âm dơng có vợ chồng, Dẫu từ thiên địa cũng vòng phu thê

Hồ Xuân Hơng: Chém cha cái kiếp lấy chồng chung.

Nàng Kiều - một ngời con gái: Xăm xăm băng lối vờn khuya một mình đến

với ngời yêu

Nh vậy thành tựu xuất sắc của Văn học giai đoạn từ thế kỷ XVIII - hết thế

kỷ XIX về một phơng diện nào đó là chủ nghĩa nhân đạo gắn liền với ngời phụnữ.Trong đời sống văn học xuất hiện một thế hệ nhà văn nữ có tâm hồn nhạycảm, có tài năng Trong tác phẩm văn học có những nhân vật ngời phụ nữ xuấthiện nhiều, họ là những con ngời có thực, có đời sống phong phú, có cá tínhmạnh mẽ

Tóm lại trong xã hội phong kiến vốn là xã hội nam quyền, ng ời phụ nữphải chịu đựng nhiều nỗi thống khổ Ngời ta trong đức hơn trọng sắc, nênngời phụ nữ nhất là phụ nữ tài sắc không đợc trân trọng Quyền sống của ng-

Trang 17

ời phụ nữ trong đó có cuộc sống tình yêu, cuộc sống hạnh phúc lứa đôi, cuộcsống thân xác bị xem nhẹ Phải đến thế kỷ XVIII hàng rào của lễ giáo phongkiến bị lung lay, Nho giáo suy tàn không còn thịnh hành nh trớc nữa, phongtrào nhân văn phát triển mạnh mẽ, nhu cầu đòi giải phóng tình cảm lên cao,vấn đề quyền sống con ngời mới đợc quan tâm Con ngời ở đây là con ngời

có quyền sống cả về đời sống tinh thần, tình cảm, cả về bản năng thân xác.Nhng trong xã hội phong kiến, đạo đức Nho giáo vốn đã bênh vực choquyền lợi của đàn ông, chỉ ngời phụ nữ bị đè nén không có quyền lợi gì tronggia đình cho đến ngoài xã hội, cho nên chiều sâu của chủ nghĩa nhân đạo trớchết là phải nói đến sự thay đổi trong quan niệm về quyền sống của ngời phụ

nữ Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều và Thơ Nôm Hồ Xuân Hơng

đợc chúng tôi nhìn nhận dới ánh sáng đó

Trang 18

Chơng 2

Ngời phụ nữ trong Cung oán ngâm khúc

Của Nguyễn Gia Thiều và Thơ Nôm Hồ Xuân Hơng

-những điểm tơng đồng

2.1 Đề cao, ngợi ca vẻ đẹp của ngời phụ nữ

Trong xã hội phong kiến ngời ta thờng nói đến mẫu ngời lý tởng là namnhi là thánh nhân quân tử, là những anh hùng, những nhà Nho giàu tâm huyết,muốn đem tài năng, khí phách của mình đền ơn vua, giúp nớc Hình tợng đó

đợc thể hiện nhiều từ văn học Lý - Trần, văn học Lê sơ, đến văn học thời nhàNguyễn sau này Những vấn đề về hình tợng ngời phụ nữ, trớc hết là ý thức vềtài năng và sắc đẹp chỉ mới xuất hiện trong văn học thời Lê mạt và thời nhàNguyễn Bởi trong xã hội phong kiến, ngời phụ nữ không đợc trọng thị,không đợc thi thố tài năng trí tuệ, và thực tế đối với ngời phụ nữ ngời ta

trọng đức hơn trọng sắc Bởi vậy nhà nghiên cứu Trần Nho Thìn đã viết: Đề

cao nết na đoan trang đảm đang chứ không đề cao sắc đẹp [21, 142] Ngời

phụ nữ họ sống bị ràng buộc bởi những t tởng lạc hậu khắc nghiệt của lễgiáo Đến thế kỷ XVIII, đặc biệt nữa thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, phongtrào nông dân bùng nổ nh vũ bão, Nho giáo lung lay, t tởng dân chủ thị dânphát triển xâm nhập vào mọi ngời Sự xuất hiện hình tợng ngời phụ nữ tronggiai đoạn này đợc coi là hình tợng thành công nhất, trở thành hình tợng trung

tâm của văn học Hình tợng ngời phụ nữ trong Thơ Nôm Hồ Xuân Hơng và

Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều là những ngời phụ nữ đầu tiên

trong văn học Việt Nam trung đại đợc đề cao, ngợi ca vẻ đẹp của mình Hình

tợng này đã khơi nguồn cho những vẻ đẹp trong Truyện Kiều (Nguyễn Du)

và Truyện Hoa Tiên (Nguyễn Huy Tự), Sơ kính tân trang (Phạm Thái)… Bà ý

Chuẩn mực để đánh giá vẻ đẹp của một con ngời là sự hài hòa giữa hìnhthức bên ngoài và nội dung phẩm chất bên trong với ngòi bút nhân đạo củamình Nguyễn Gia Thiều và Hồ Xuân Hơng đã ngợi ca vẻ đẹp ngời phụ nữ ởhai phơng diện đó

2.1.1 Ngợi ca vẻ đẹp bên ngoài

Trong xã hội phong kiến ngời phụ nữ đợc đề cao ở cái phẩm chất gọi làtiết hạnh, thủy chung, lễ nghi, phép tắc với quan niệm nh vậy nó đã ảnh h-ởng đến sáng tác văn học Tuy nhiên trong văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷXVIII - nửa đầu thế kỷ XIX, các nhà thơ lại có cách cảm, cách nghĩ và cách

đánh giá vẻ đẹp của ngời phụ nữ rất khác với văn học Việt Nam giai đoạn trớc,

đặc biệt là Nguyễn Gia Thiều và nữ sĩ Hồ Xuân Hơng viết một cách nhiệt tìnhsay sa về vẻ đẹp của ngời phụ nữ

Trang 19

Ngời cung nữ trong Cung oán ngâm khúc không chỉ khẳng định sắc đẹp

với dung nhan diễm lệ, đầy sức sống, đang ở độ tơi nguyên nh hoa mới nở mộtcách khiêm nhờng, mà mạnh dạn khoe sắc đến mức tự kiêu

Trộm nhớ thuở gây hình tạo hóa,

Vẻ phù dụng một đóa khoe tơi.

Nhụy hoa cha mỉm miệng cời, Gấm nàng Ban đã nhạt mùi thu dung.

Hay: Chìm đáy nớc cá lờ đờ lặn,

Sự ý thức về sắc đẹp của cung nữ có phần ngạo mạn, nàng tự đắc với vẻ

đẹp Nghiêng nớc, nghiêng thành khiến Cỏ cây cũng muốn nỗi tình mây ma,

Tây Thi mất vía Hằng Nga giật mình đó là những lời nhận xét bản thân, cũng

là tự khen mình hơn ngời Điều đó phải chăng với sự ngợi ca sắc đẹp của bảnthân ngời phụ nữ muốn khẳng định "cái tôi" của mình trong xã hội phongkiến, một xã hội chỉ coi trọng vai trò của đàn ông và nhấn chìm vị trí của ngờiphụ nữ xuống tận đáy sâu của xã hội Nhng ở đây ngời phụ nữ trong khúcngâm đã dõng dạc tuyên bố về sắc đẹp của mình:

Hơng trời đắm nguyệt say hoa, Tây Thi mất vía Hằng Nga giật mình

Khi đánh giá về sắc đẹp cung phi đã không ngần ngại so sánh mình vớicác mỹ nhân tuyệt sắc trong lịch sử, điều này chứng tỏ ý thức cá nhân sâu sắc,

nh chúng ta đã biết, trong chế độ xã hội phong kiến, quyền lợi cá nhân hòa tanvới quyền lợi cộng đồng, mỗi cá nhân không tự ý thức về mình không cóquyền tự khẳng định mình Cung phi đã phá tan quy luật chung đó bằng hành

động tự đánh giá sắc đẹp của mình điều này không phải là sự kiêu ngạo mà đó

là sự ý thức về bản thân, vì vậy nó đáng trọng, đáng quý

Thơ Nôm Hồ Xuân Hơng cũng viết một cách nhiệt tình say sa về vẻ đẹp

ngời phụ nữ, bà không tô son điểm phấn không uớc lệ tợng trng mà miêu tảphản ánh những gì họ vốn có Đó là vẻ đẹp đôi má hồng đầy xuân sắc:

Thớt dới sơng pha đợm má hồng

(Đá ông chồng bà chồng)

Trang 20

Với Thiếu nữ ngủ ngày, Hồ Xuân Hơng đã thực sự thành công trong việc sáng tác một bức tranh khỏa thân truyền thần sinh động về vẻ đẹp vật chất, vẻ

đẹp thân thể đầy sự khêu gợi, hấp dẫn giới tính ở phái đẹp.

Mùa hè hây hẩy gió nồm đông, Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng

Lợc trúc biếng cài trên mái tóc, Yếm đào trễ xuống dới nơng long.

Đôi gò Bồng Đảo sơng còn ngậm, Một lạch Đào Nguyên suối chửa thông.

Mùa hè hây hẩy gió nồm đông Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng

Đây là sự trong trắng ngây thơ, là sự hồn nhiên trọn vẹn và nh thể chính

nhà thơ đã gạt bỏ mọi thành kiến để từ đó khắc họa thành công bức tranh

khỏa thân nhân vật thiếu nữ với những đờng nét thanh tú.

Lợc trúc biếng cài trên mái tóc, Yếm đào trễ xuống dới nơng long.

Đôi gò Bồng Đảo sơng còn ngậm, Một lạch Đào Nguyên suối chửa thông.

(Thiếu nữ ngủ ngày)

Hồ Xuân Hơng miêu tả vẻ đẹp của ngời phụ nữ ở hoàn cảnh đợc ngời tachiêm ngỡng mà không hề hay biết Đó là vẻ đẹp và sự quyến rũ toát lên từhình thể thiếu nữ thanh tân không chịu sự bó buộc hữu hình hoặc vô hình nào

Ts Phạm Tuấn Vũ nhận xét: “Bản thân cái đẹp tự nhiên mà tạo hóa ban chonữ giới ở độ hoa niên là cái đẹp toàn mỹ không cần sự trang điểm nào”[24,128] nữ sĩ Hồ Xuân Hơng thể hiện vẻ đẹp một cách nâng niu, trân trọng

và luôn giữ cho mình một cặp mắt trong veo, nguyên vẹn để nhìn đời, nhìn

ng-ời thấy đợc mọi giá trị đẹp từ ngng-ời phụ nữ

Thông qua hình tợng xinh xắn, trắng tròn của chiếc bánh trôi nớc, HồXuân Hơng đã thể hiện nổi bật những dáng vẻ yêu kiều trên thể hình hoànhảo, tuyệt mỹ của ngời phụ nữ

Thân em vừa trắng lại vừa tròn

Trang 21

(Bánh trôi nơc)

Đề tranh tố nữ là những lời thơ ca ngợi sự thanh tân của cô gái.

Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình?

phơi phới của ngời thiếu nữ Hồng hồng má phấn đang ở độ tuổi dậy thì: Mời bảy

hay mời tám Đó là vẻ đẹp rất trần thế và hiện thực của con ngời.

2.1.2 Ngợi vẻ đẹp bên trong

Ca ngợi vẻ đẹp ngời phụ nữ Nguyễn Gia Thiều và Hồ Xuân Hơng khôngdừng lại ở hình thức bên ngoài mà quan trọng hơn là đi sâu phản ánh vẻ đẹptâm hồn bên trong Đó mới chính là giá trị đích thực và tiêu chuẩn cao nhấtcủa cái đẹp

Cung phi là ngời phụ nữ quý tộc ngoài sắc đẹp về hình thể thì nàng còn làmột con ngời đầy tài năng: hay thơ, vẽ giỏi, cờ cao, rợu không say, đàn giỏi,sáo tài, ca vũ tuyệt mỹ

Ngời cung nữ không chỉ tự hào mà còn tự kiêu về tài năng, nàng cho rằngthơ ca phải đàn anh trên thơ Lý Bạch, nét vẽ phải bậc chị Vơng Duy, cờ tiên r-

ợu thánh phải là bậc tri âm với Đế Thích, Lu Linh, tài đàn thì ngang T Mã

T-ơng Nh, tài sáo không kém Tiêu Sử Tác giả Nguyễn Quang Hải đã cho thấy

sự khoe tài của ngời cung nữ: “Cầm, kỳ, thi, họa đã thấy mình giỏi hơn cảnhững vị giỏi nhất trong thiên hạ từ cổ chí kim, ngời cung nữ còn thấy điệumúa của mình còn tuyệt vời đến mức làm cho các nàng tiên trên trời cũng phải

giải nghệ” [21, 77].

Chúng tôi thấy ngời cung nữ không chỉ khẳng định tài năng mà quá tự cao:

Dẫu mà tay múa miệng dang Thiên tiên cũng ngảng nghê thờng trong trăng

Tự ý thức đợc tài năng, sắc đẹp của mình nh thế ngời cung nữ nhận thức

đ-ợc giá trị đích thực của mình Vì vậy, nàng có quyền mơ ớc một cuộc tìnhduyên tốt đẹp, một ngời chồng danh giá, một cuộc sống vơng giã đảm bảoniềm vui hạnh phúc Xung quanh nàng bao nhiêu ngời quan tâm, để ý:

Làng cung kiếm rắp ranh bắn sẻ, Khách công hầu ngấp nghé mong sao.

Nhng không dễ gì nàng chấp nhận:

Hơng trời sá động trần ai,

Trang 22

Dẫu vàng nghìn lạng dễ cời một khi.

Có thể thấy ngời phụ nữ trong Cung oán ngâm khúc đã có sự vợt xa so với ngời phụ nữ trong văn học trớc đó, kể cả ngời chinh phụ trong Chinh phụ

ngâm khúc Đó là ngời phụ nữ với ý thức về con ngời cá nhân bộc lộ thẳng

Cha bao giờ trong văn học Việt Nam thời trung đại có ngời phụ nữ tự cao,

tự đại, tự kiêu đến thế Đẹp nh Kiều mà Nguyễn Du chỉ miêu tả:

Làn thu thủy, nét xuân sơn, Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.

Một hai nghiêng nớc, nghiêng thành, Sắc đành đòi một, tài đành hoạ hai.

(Truyện Kiều)Song vẻ đẹp của Kiều là lời của Nguyễn Du, còn ngời cung nữ và ngời phụ

nữ trong Thơ Nôm Hồ Xuân Hơng thì tác giả đã lùi sâu để nàng tự bộc bạch, tự khen mình, đây là hiện tợng độc đáo, mang ý thức cái Tôi cá nhân của con ngời

hiện đại Kể cả văn học cổ Trung Quốc khi miêu tả ngời đẹp cũng chỉ dám viết:

Nhất cổ khuynh nhân thành, táo cổ khuynh nhân quốc Phải chăng, do thân phận

ngời phụ nữ bị chèn ép quá lâu trong hàng nghìn năm lễ giáo phong kiến hà

khắc, để bây giờ tức nớc vỡ bờ một cách mạnh mẽ nh thế.

Trớc vẻ đẹp sắc nớc hơng trời và tài năng tuyệt vời ngời phụ nữ trong

Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều và Thơ Nôm Hồ Xuân Hơng còn

ý thức về phẩm chất rất cao và nghiêm túc

Tài sắc đã vang lừng trong nớc, Bớm ong càng xao xác ngoài hiên.

Với hai chữ "vang lừng" dùng để thẩm định tiếng tăm nàng là một ngời

đẹp đoan trang đức hạnh, phẩm hạnh của ngời cung phi không chỉ dừng lại ở

đó mà tiếp tục khẳng định:

Thâm khuê còn dấm mùi hơng khuynh thành,

Cung phi ý thức rất cao phẩm giá của bản thân, nàng nhìn nhận sự việc rấtsáng suốt Trớc nhan sắc lộng lẫy nh vậy, các quan khách quyền quý săn đón

để đợc nàng để ý tới Nhng không nàng khinh biệt lũ ngời đó và nàng biết trớctớc hầu của bọn ấy chẳng qua là dùng tiền để mua

Làng cung kiếm rắp ranh bắn sẻ Khách công hầu ngấp nghé mong sao

Trang 23

Dới ngòi bút giàu tình cảm yêu thơng quý trọng đề cao ngời phụ nữ, phẩmhạnh cung phi tiếp tục đợc miêu tả.

Dẫu vàng nghìn lạng dễ cời một khi

Nụ cời của giai nhân đẹp tơi quý báu vô cùng, ngời xa bỏ ra nghìn vàng

để mua lấy một nụ cời Ngời xa thờng lấy vàng ra để đánh giá vẻ đẹp và nết

na, nh chữ trinh đáng giá nghìn vàng Nụ cời của nàng còn quý gấp mấy vàngkia Tác giả tả lòng kiên trinh của mỹ nhân nhất quyết không giao động trớcdanh vọng thế lực hay tiền tài của của bọn ngời ngấp nghé

Đề cao phẩm chất ngời phụ nữ, Hồ Xuân Hơng ca ngợi sự hi sinh chịu

đựng, tấm lòng qủa cảm vợt qua mọi khó khăn thử thách để giữ vững giá trịtốt đẹp nhất của mình

Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn,

Mà em em vẫn giữu tấm lòng son.

(Bánh trôi nớc)

Hơn ai hết Hồ Xuân Hơng thấu hiểu nổi khắt khe, nghiệt ngã của cuộc đời

đối với ngời phụ nữ và có những lúc họ phó mặc cho số phận của mình cho

cuộc đời đa đẩy Dù có rắn nát, có đau khổ tủi cực nhng cái còn lại lớn nhất

và giá trị nhất mà nữ sĩ đã tìm thấy ở ngời phụ nữ đó chính là tấm lòng son.

Tấm lòng son là tấm lòng chung thủy, trong trắng, kiên trinh là phẩm hạnh

tuyệt vời của ngời phụ nữ Việt Nam

Nguyễn Gia Thiều còn đề cao phẩm chất của ngời cung phi ở sự khát khaomãnh liệt về tình yêu hạnh phúc lứa đôi tác giả đã không ngần ngại mô tả nhữngthèm khát ham muốn nhục dục rất tự nhiên, trần thế và hiện thực Đây cũng làmột biểu hiện của cảm hứng nhân văn trong thơ Nguyễn Gia Thiều

t tởng trong cách giao tiếp của cha ông ta nhng với cách nói bóng gió đó vẫngợi lên ý niệm "chuyện ấy" Trớc vẻ đẹp sắc nớc hơng trời của mỹ nhân, cỏcây dẫu có vô tri cũng nổi tình sắc dục huống gì đến con ngời - một cá thểsống động đầy ham muốn nhục dục Một vấn đề rất bức thiết vốn tồn tại trongmỗi cá nhân nhng ở trong văn học giai đoạn không nhắc tới Nguyễn GiaThiều đã hòa chung trong không khí cảm hứng nhân văn của thời đại mình để

Trang 24

góp lên một tiếng nói mạnh mẽ sâu sắc là khẳng định cái thèm khát ái ân củacon ngời - bản năng tồn tại của dục tình.

Đặc biệt Hồ Xuân Hơng thể hiện khao khát mãnh liệt về tình yêu hạnh phúc

Quả cau nho nhỏ miêng trầu hôi Này của Xuân Hơng đã quệt rồi

Có phải duyên nhau thì thắm lại

Đừng xanh nh lá, bạc nh vôi

(Mời trầu)Qua bài thơ là lời nhắn nhủ của Hồ Xuân Hơng về ớc mơ khát vọng mộttình yêu chung thủy son sắc, và miếng trầu nh là một sự đồng cảm của hai tráitim và của hai tâm hồn đồng điệu dù cho cuộc đời có khó khăn cách trở, lòngngời có bạc bẽo, dửng dng thì tấm lòng ấy vẫn ham muồn tình yêu ấy vẫn nảynở

Vẻ đẹp phẩm chất của ngời phụ nữ còn đợc thể hiện qua ý thức khẳng địnhbản ngã cá nhân của mình

Ví đây đổi phận làm trai đợc Thì sự anh hùng há bấy nhiêu

(Đề đền Sầm Nghi Đống)

Phẩm chất của ngời phụ nữ còn đợc Hồ Xuân Hơng đề cao ở đức tính cần

cù, chịu thơng chịu khó, chăm lo cuộc sống

Hỡi chị em ơi có biết không Một bên con khóc một bên chồng

Bố cu lổm ngổm bò trên bụng Thằng bé u ơ khóc dới hông Tât cả những là thu với vén

… Bà ý (Thân phận ngời đàn bà)

Với địa vị là một ngời phụ nữ Hồ Xuân Hơng ca ngợi phẩm chất: biết thuvén, sắp xếp công việc và bày tỏ lòng thơng yêu rất mực chân thành và sự cảmthông cho sự vất vả của họ

Nh vậy trong khi cả xã hội dị ứng với nhan sắc, tài năng của ngời phụ nữthì sáng tác của hai nhà thơ lại mở đờng cho sự ngợi ca khẳng định vẻ đẹp cảthể xác và tâm hồn của ngời phụ nữ bằng một thái độ nâng niu trân trọng Tàisắc, đáng ra phải đợc hởng cuộc sống hạnh phúc, nhng trái lại họ phải chịunhiều bất hạnh

2.2 Sự cảm thông, bênh vực, bảo vệ ngời phụ nữ

Ngời phụ nữ vừa là hiện thân của cái đẹp vừa là hiện thân của những nỗi bithơng Xã hội phong kiến đã chà đạp lên ngời phụ nữ, tớc đoạt ở họ mọi quyền

Trang 25

lợi, trong khi đó thiết chế pháp luật không bảo vệ nên họ phải nín chịu câmlặng Vì tham vọng chính trị, vì muốn thỏa mãn nhục dục, vì sự lạm dụng vôhạn quyền lực của nam giới nên kiếp hồng nhan phải chịu bao nỗi bất hạnh.

Họ không những bị áp bức về phơng diện giai cấp, mà còn bị áp bức về phơngdiện giới tính Không phải chỉ phụ nữ nghèo mới khổ mà nhiều khi ngời phụnữ xuất thân trong tầng lớp giàu vẫn khổ, họ không những khổ về vật chất màcon khổ nhục về tinh thần và tình cảm Nguyễn Du đã khái quát về số phậncủa ngời phụ nữ trong xã hội phong kiến nh một định mệnh không cỡng lại đ-ợc:

Đau đớn thay phận đàn bà, Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX nói về phụnữ thì trớc tiên nói đến cuộc đời đau khổ của họ Mang đặc điểm chung củavăn học giai đoạn này Nguyễn Gia Thiều và Hồ Xuân Hơng đã nói lên nỗi khổcủa họ để cảm thông chia sẻ:

Trong sáng tác của Nguyễn Gia Thiều và Thơ Nôm Hồ Xuân Hơng, ngời

phụ nữ không thuộc tầng lớp dới đáy của xã hội, vì thế nỗi giày vò không phảinhu cầu vật chất, không vì chuyện miếng cơm manh áo

Cung oán ngâm khúc là tiếng than, tiếng kêu than của ngời cung nữ luôn

thiết tha nguyện cầu hạnh phúc nhng lại sớm bị chôn vùi tuổi trẻ nơi cung

cấm Thông qua lời bộc bạch của nàng, Nguyễn Gia Thiều đã khắc họa khá rõnét một cuộc sống, một bối cảnh sống, đang tàn tạ, với một mùi hơng tịchmịch, bóng đèn thâm u Trong khung cảnh ấy, con ngời lẻ loi cô quạnh:

Một mình đứng tủi ngồi sầu,

Đã than với nguyệt lại sầu với hoa

Ngời cung nữ cay đắng, xót thơng cho số phận bạc bẽo của mình:

Hoa này bớm nỡ thờ ơ,

Trang 26

Nghĩ mình lại ngán cho mình, Cái hoa đã trót gieo cành biết sao.

Có lúc nàng thét lên: Muốn kêu một tiếng cho dài kẻo căm

Rõ ràng nỗi đau đớn của ngời cung tần không phải vì lý do kinh tế, khôngphải vì thiếu ăn, thiếu mặc

Đọc Thơ Nôm Hồ Xuân Hơng ta thấy bà nói đến trăm nghìn nỗi khổ của

ngời phụ nữ nhng không hề nói đến nỗi khổ vật chất Hồ Xuân Hơng hình nhchỉ muốn nói đến nỗi đau khổ riêng có tính chất giới tính của mình Viết về đềtài phụ nữ, nhà thơ thờng xoáy sâu vào các ngóc ngách éo le của cuộc đời đểnêu lên những bi kịch không kém phần chua chát, song bình thờng nó bị xóanhòa trong cuộc sống của chế độ lễ giáo Hồ Xuân Hơng viết về nỗi khổ của

ngời phụ nữ: Lấy chồng chung, Làm lẽ, Không chồng mà chửa.

Nếu nh tác giả dân gian viết về cuộc sống hiện thực của ngời phụ nữ bị ápbức bóc lột sức lao động đến tận cùng:

Lấy chồng làm lẽ khổ thay,

Đi cấy đi cày chị chẳng kể công.

Đến tối chị giữ lấy chồng, Chị cho manh chiếu nằm không nhà ngoài.

Đêm đêm chị gọi: Bớ hai, Trở dậy nấu cám thái khoai băm bèo”

Thì Hồ Xuân Hơng lại xoáy vào nỗi khổ về tình ái:

Năm thì mời họa chăng hay chớ, Một tháng đôi lần có cũng không.

Nhìn chung nỗi khổ của hai nhà thơ không bị chi phối bởi lý do kinh tế màvấn đề quan trọng khi viết về ngời phụ nữ của hai tác giả là nỗi đau tinh thần

là nỗi đau khó hóa giải nhất, nhà thơ đã bao lần khóc thơng cho những ngờiphụ nữ Thấu hiểu đợc điều đó sáng tác của hai nhà thơ đi sâu vào đời sốngnội tâm của ngời phụ nữ

2.3 Đời sống nội tâm

Nh chúng ta đã biết không phải chỉ đến giai đọan lịch sử nửa cuối thế kỷXVIII - nửa đầu thế kỷ XIX trong văn học mới xuất hiện đề tài ngời phụ nữ,

và vẻ đẹp nội tâm của ngời phụ nữ Trớc đó hình tợng ngời phụ nữ với nét đẹp

nội tâm cũng đã xuất hiện rải rác trong văn học Đó là cô Tấm ở hiền gặp

lành trong truyện cổ tích Tấm cám, đó là những ngời hi sinh vì gia đình, suốt

đời thờ chồng, hi sinh để giữ trinh tiết, trong truyện cổ tích Hòn vọng phu, trong truyện Ngời con gái Nam Xơng, và trong cả một số bài thơ của Lê Thánh

Tông

Trang 27

Nh vậy là khi nói về tâm hồn ngời phụ nữ trong một số tác phẩm văn họcgiai đoạn trớc, các tác giả ca ngợi họ theo những chuẩn mực đạo đức Nho

giáo: Tứ đức: Công dung ngôn hạnh, tam tòng Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng

phu, phu tử tòng tử Họ sống mà không hề nghĩ đến mình, hết lòng vì ngời

khác, sẵn sàng chịu đựng hoàn cảnh oái ăm mà không hề oán trách ai Ngời vợ

trong Hòn vọng phu đã ôm con chờ chồng cho đến khi hóa đá đứng sừng sững giữa trời theo năm tháng, ngời đàn bà Vũ Thị Thiết trong truyện Ngời con gái

Nam Xơng (Nguyễn Dữ) đã tìm đến con đờng tự vẫn vì bị chồng nghi ngờ có

thói trăng hoa, trai gái bất chính khi anh ta vắng nhà… Bà ý Những hình tợng ngờiphụ nữ đó là con ngời chức năng, nét đẹp về tâm hồn của họ là do xã hội đặtvào họ, họ có chức năng là ngời vợ chung thủy trong gia đình, ngời phụ nữtrung thành, nhún nhờng ngoài xã hội… Bà ý Họ xuất hiện trong văn học với vaitrò đợc ngời đời ca ngợi, hay nói chính xác hơn họ đợc đa vào văn học để làmgơng cho những ngời phụ nữ trong đời sống thực tế noi theo, và để lại tiếngthơm trên đời

Đến giai đoạn văn học nửa cuối thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX các tácphẩm liên tiếp phản ánh về nội tâm của ngời phụ nữ ở khía cạnh hoàn toànmới mẻ và khác biệt với trớc Nội tâm của ngời phụ nữ trong thơ ca lúc này làkhát vọng hạnh phúc lứa đôi và nỗi đau đớn xót xa trong cô đơn của kiếp

Hồng nhan bạc mệnh đó là tâm trạng ngời phụ nữ có chồng đi chinh chiến,

phải chịu một thân phận hẩm hiu, buồn đau, cô đơn lẻ bóng khi đang ở tuổi

hoa Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn (Đoàn Thị Điểm dịch)

Thuở trời đất nổi cơn gió bụi, Khách má hồng nhiều nổi truân chuyên

Xanh kia thăm thẳm tầng trên, Vì ai gây dựng cho nên nổi này.

Ngời phụ nữ ấy đã than thở thảm thiết thê lơng về khát khao hạnh phúc ái

Hay nàng Kiều trong Truyện Kiều, một con ngời tài sắc vẹn toàn nhng

phải chịu thân phận bất hạnh Tuy vậy tâm hồn nàng vẫn đợc Nguyễn Du

Trang 28

miêu tả rất đẹp Đó là một con ngời có hiếu, một ngời chung tình, và là mộtcon ngời luôn khao khát vơn lên đấu tranh cho quyền tự do hạnh phúc củamình, đấu tranh chống lại hoàn cảnh lễ giáo phong kiến… Bà ý

Hòa vào tiếng nói chung với các tác giả khi nói về tâm hồn ngời phụ nữ,giải bày ơc mơ, khát vọng, sự đau đớn… Bà ý Nguyễn Gia Thiều và Hồ Xuân Hơngcũng nói về vẻ đẹp tâm hồn của ngời phụ nữ, họ là con ngời có giác quan, códục vọng, có trí thức… Bà ý Và đặc biệt là có khát khao hạnh phúc một cách mãnhliệt

Thực chất, tâm sự của ngời chinh phụ xa chồng đó là sự gián tiếp bộc lộcảm xúc ngời phụ nữ của Đặng Trần Côn, hay vẻ đẹp tâm hồn của nàng Kiều

đó là do Nguyễn Du gửi gắm với nỗi đau đớn của mình về kiếp hồng nhan bạc

mệnh Ngời cung nữ trong sáng tác Nguyễn Gia Thiều và Thơ Nôm Hồ Xuân Hơng đã táo bạo, đi trớc thời đại Tâm hồn ngời phụ nữ trong thơ đã xuất hiện

phơng diện tự ý thức và tự biểu hiện, nó phản ánh rất rõ sự thức tỉnh ý thức cánhân của ngời phụ nữ bao gồm cả sự thừa nhận về mặt xã hội, cả về quyềnsống riêng t trở thành vấn đề then chốt, trong đó đáng chú ý nhất là việc thăm

dò, miêu tả thế giới nội tâm, tâm lý đa dạng phức tạp

Kìa điểu thú là loài vạn vật, Dẫu vô tri cũng bắt đèo bòng.

Có âm dơng, vợ chồng, Dẫu từ thiên địa cũng vòng phu thê

(Cung oán ngâm khúc)

Đá kia còn biết xuân già dặn, Chả trách ngời ta lúc trẻ trung (Đá ông chồng bà chồng)

Nguyễn Gia Thiều và Hồ Xuân Hơng đi sâu diễn tả cuộc sống nội tâm

ng-ời phụ nữ, diễn tả thế giới nội tâm phong phú, tâm trạng cô đơn, tâm trạng vềtình yêu, tâm trạng khao khát gia đình và ái ân hạnh phúc

2.3.1 Tâm trạng cô đơn

Tâm trạng cô đơn ngời phụ nữ trong sáng tác của hai nhà thơ không thấytâm trạng cô đơn của các nhà Nho ẩn dật Nếu nh các nhà Nho vì bất mãn vớihiện thực đen tối của xã hội, tìm đến với cuộc sống cô đơn ẩn dật thì ngời phụ

nữ ở đây cảm thấy cô đơn vì thiếu vắng tình yêu Đọc Cung oán ngâm khúc ta

thấy thấm thía nỗi cô đơn của một ngời cung nữ, con ngời về danh nghĩa thì

có chồng và chồng cha chết mà sống không khác gì một ngời vị vong, kẻ góa bụa Hồ Xuân Hơng viết về nỗi khổ, nỗi cô đơn của ngời phụ nữ lấy chồng

chung, hay nỗi khổ của ngời phụ nữ không chồng mà chửa Viết về đề tài ngời

phụ nữ, hai nhà thờng xoáy sâu vào các ngóc ngách éo le của cuộc đời để nêulên những bi kịch không kém phần chua chát, song bình thờng nó bị xóa nhòa

Trang 29

trong một cuộc sống vốn dĩ đã dập khuôn theo những chế ớc nặng nề của lễgiáo.

Nguyễn Gia Thiều đã đặt mình vào vị trí ngời cung nữ, khi bị vua ruồng

bỏ, hóa thân vào đó để lắng nghe và diễn tả nỗi niềm tinh tế sâu kín, khó nóibởi giáo điều khắt khe của xã hội bấy giờ Là một bậc nhà Nho uyên bác đợc

đào tạo nơi cửa Khổng sân Trình (dùi mài kinh sử, học hành thi cử, đỗ đạt,làm quan Ông thi đỗ làm quan giữ chức Tổng binh đông ti, đợc phong tớc hầu

- Ôn Nh Hầu), nhng tác giả không bị t tởng chính thống khi viết về nữ giới.Nhà thơ gác lại một bên những ràng buộc về bổn phận trách nhiệm đối với ng-

ời phụ nữ của Nho giáo khám phá thế giới cảm xúc bên trong của họ đợcnhững biến thái bên trong tâm hồn cung nữ bằng tất cả những rung động củatrái tim Tâm t của ngời cung nữ đợc tác giả diễn tả sinh động rất và chân thật

đem đến cho độc giả nhiều xúc động Tuy là một ngời khác giới nhng nhà thơ

tỏ ra thấu hiểu và cảm thông hết mực với nỗi niềm khát vọng rất ngời, rất trầnthế của ngời cung nữ

Đọc Thơ Nôm Hồ Xuân Hơng ta càng thấm thía nỗi buồn cô độc của ngời

phụ nữ Là nhà thơ phụ nữ viết về chính giới mình, bà đã để lại nhiều trang thơxúc động về tâm trạng cô đơn Những dự cảm của Hồ Xuân Hơng về một con

đờng tình duyên bấp bênh, không bền vững Xanh nh lá bạc nh vôi trong bài

Mời trầu đã trở thành hiện thực.

Có lẽ không ai quên đợc ngày đầu mới vào cung, ngời cung nữ vẫn còn rạorực bao nhiêu là thèm khát hạnh phúc lứa đôi đơng đến độ nồng nàn

Cái đêm hôm ấy đêm gì, Bóng dơng lồng bóng trà mi trập trùng

Cuộc sống tàn bạo trong cung cấm buổi đầu còn che đậy dới màu sắc lộnglẫy của chiếc kiệu hoa ngày cới Thực tế đó tạo cơ sở cho ngời cung nữ xâydựng rất nhiều mộng đẹp Nàng tởng vua chúa cũng là ngời tình thủy chung,

và tự hẹn với mình phải chung thủy để đáp lại tấm lòng sùng ái của bậc quânvơng sự chân thành ngây thơ của nàng có cái mà động riêng của nó

Chữ đồng lấy đấy làm ghi, Mựơn điều thất tịch mà thề bách niên

Trong chủ quan của ngời cung nữ, xu thế cuộc sống nh hứa hẹn một tơng

lai tốt đẹp Nàng mừng thầm cho duyên số mình cá nớc duyên may, và nghĩ càng lâu càng lắm điều hay.

Nhng rồi dần dà, ớc vọng của nàng sụp đổ trớc thực tế hiện nguyên hìnhtính chất xấu xa của nó Đấng quân vơng không phải kẻ chung tình mà là ph-

Trang 30

ơng vô sĩ Trớc kia nàng mơ ớc đắm đuối bao nhiêu, bây giờ lại trớ trêu, chuachát bấy nhiêu.

Ai ngờ bỗng mỗi năm một nhạt, Nguồn cơn kia chẳng tắt mà vơi.

Nàng không còn đợc nhà vua quan tâm bởi xung quanh nàng cũng biếtbao cung tần mĩ nữ khác:

Muôn hồng nghìn tía đua tơi, Chúa xuân nhìn hái một hai bông gần.

Vốn đã biết cái thân câu chõ, Cá no mồi cũng khó dử lên.

Ngán thay cái én ba nghìn, Một thân cù mộc biết chen cành nào?

Không chỉ ngời cung nữ trong cung mới thực sự cảm nhận đợc bậc chí tôn

là phờng vô sỉ Hồ Xuân Hơng cũng đã phát hiện ra vua trong xã hội phongkiến không phải là đấng chúa tể, là cái gì hoàn mỹ, tuyệt đối về tài trí cũng

nh về đạo đức mà đấng chúa tể ấy cũng nh mọi ngời bình thờng khác, còn có ngời thô tục hơn ngời bình thờng là đằng khác Trong bài Vịnh cái quạt Xuân Hơng đã vạch rõ cái thô tục ấy của bọn chúng Câu kết đột ngột Chúa dấu vua

yêu một cái này bất thình lình đã tớc bỏ đi cái vỏ Thiêng liêng cao quý bên ngoài, làm trơ cái bộ mặt hởng lạc, hủ hóa của đấng Con trời Hồ

Xuân Hơng không đặt vua chúa trên đây về tội chính trị, nàng cũng khôngvạch ra trực tiếp hành vi trụy lạc hũ hóa về sinh hoạt của bọn chúng Nhng aicũng thấy rằng nếu nh bọn phong thờng đề cao vua chúa, rằng vua yêu dânhơn yêu con, lúc nào cũng vì trăm họ mà lo nghĩ, thì ở đây Hồ Xuân Hơng

vạch ra là bọn vua chúa chỉ yêu một cái này thôi, nh vậy chẳng khác gì một lời

tố cáo

Trong cung cấm, nơi lầu son gác tía cung nữ phải sống trong cảnh cô đơn,

lẻ loi, ngày ngày nhìn thấy quân vơng - ngời cũng đã thề thốt với mình vuicuộc ái ân bên những ngời cung nữ khác Nỗi cô đơn giày vò tâm trí khiếnnàng luôn mong ngóng đợi chờ bóng xe vua Hết ngày rồi đến đêm, khi ngũcũng nh khi thức, khi đứng cũng nh khi ngồi cung nữ đều mong có một phépmàu nhiệm nào đó đem nhà vua quay trở lại bên nàng:

Lầu đãi nguyệt đứng ngồi dạ vũ, Gác thừa lơng thức ngủ thu phong

Chính trong hoàn cảnh này, con ngời phải thấm thía hơn nỗi đau khổ, cô

đơn của bản thân Nàng nhìn cảnh vật mà nhìn đâu cũng ẩn chứa sự chia ly.Căn phòng hạnh phúc chiếc gơng ngày nào soi bóng cặp uyên ơng, tất cả giờ

đây đều sự lẻ loi, đơn độc

Phòng tiêu lạnh ngắt nh đồng,

Trang 31

Gơng loan bẻ nửa, dải đồng xé đôi

Hay: Gối loan tuyết đóng, chăn cù giá đông.

Cảnh vật hiu hắt, vắng vẻ, buồn tẻ nh nhận thêm nỗi buồn, sự cô đơn trốngtrải trong lòng nàng cung nữ

Trong chùm thơ Tự tình thế giới nội tâm vô cùng sâu sắc của ngời phụ nữ

đợc hiện lên rất rõ Giữa đêm thanh khuya thanh vắng nghĩ lại thân phận long

đong chìm nổi, số kiếp hẩm hiu của mình và của bao phụ nữ nói chung thờng

nghĩ về mình Khi tỉnh rợu lúc tàn canh, giật mình mình lại thơng mình nhiều

hơn Truyện Kiều - Nguyễn Du bà luôn buông tiếng thở dài ngậm ngùi xót xa.

Chiếc bách buồn vì phận nổi nênh Giữa dòng ngao ngán nỗi lênh đênh.

Lng khoang tình nghĩa đờng lai láng Nửa mạn phong ba luống bập bềnh.

Cầm lái mặc ai lăm bến đỗ, Dong lèo thây kẻ sắp xuôi ghềnh.

ấy ai thăm ván cam lòng, Ngán nỗi ôm đàn những tấp tênh.

mình, xuân đi rồi, mình thì trơ trọi hồng nhan, trong lòng nhân vật trữ tình

dâng đầy nỗi oán hận, nỗi sầu thảm

Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom, Oán hận trông ra khắp mọi chòm.

Mõ thảm không khua mà cũng cốc, Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om?

Trớc nghe những tiếng thêm rầu rĩ, Sau giận vì duyên để mõm mòn, Tài tử văn nhân ai đó tá?

Thân này đâu đã chịu già ton!

(Tự tình II)

Gà gáy, canh tàn, đau đớn bao nhiêu khi nhìn lại đời mình, mọi điềukhông đợc nh ý nguyện, nhất là duyên tình lỡ làng lâm vào cảnh lạnh lùng đơnchiếc Đối mặt với không gian tĩnh mịch đêm khuya tiếng lòng Xuân Hơngvang lên nghe rõ mồn một, tuy đầy bực tức, oán trách, sầu tủi mà vẫn tin tởng

Trang 32

Ngời cung nữ cảm thầy mình đang chết mòn trong đau khổ, trong sự chờ

đợi, buồn thơng đến tuyệt vọng, nàng chỉ còn biết cách than thở cùng nguyệt,thổ lộ cùng hoa

Một mình đứng tủi, ngồi sầu,

Đã than với nguyệt, lại sầu với hoa

Hay: Hoa này bớm nỡ thờ ơ!

Để gầy bông thắm, để xơ nhụy vàng

Nỗi cô đơn, thất vọng quá lớn lòng ngời không thể chứa đựng nỗi khổ đãtràn qua ngoài, thấm vào cảnh vật, ngoài không gian, cảnh vật ở đây dờng nhcũng hiểu đợc tâm trạng cô đơn, sầu tủi của cung nữ nên lặng lẽ hơn và tịchmịch hơn… Bà ý Tất cả nh thấu hiểu nàng và không muốn khuấy động nàng Cảnhvật vô tri, vô giác đã trở thành một ngời bạn luôn có mặt bên cạnh nàng, ngờibạn lặng im nhng thấu hiểu tâm trạng nhi lòng của con ngời

Là một nhà thơ khác giới khi viết về phụ nữ nhng không ơ hờ lạnh nhạt,

ông thấu hiểu hết mọi ngõ ngách tâm t, ông nh nhìn thấy cả gan ruột của họ.Tất cả những chi tiết rất nhỏ nhng đều biểu hiện sâu sắc nổi cô đơn của nhânvật đều đợc nhà thơ chú ý

Nh vậy, thấu hiểu nỗi lòng của ngời phụ nữ Nguyễn Gia Thiều và HồXuân Hơng đã diễn tả sâu sắc tâm trạng cô đơn đến cực độ của họ, cô đơntrong sự khắc khoải da diết về tình yêu, về hạnh phúc, đem đến cho văn họctiếng nói Đề cao tình - đó là tấm lòng, sự đồng cảm sâu sắc của tác giả đốivới ngời phụ nữ

2.3.2 Tâm trạng khát khao tình yêu và ái ân hạnh phúc

Tâm trạng cô đơn của ngời phụ nữ trong sáng tác của hai nhà thơ là sự cô

đơn thiếu vắng tình yêu, nên khi đi vào đời sống nội tâm tác giả nhấn mạnhtâm trạng khát khao tình yêu và ái ân hạnh phúc Trong cô độc thiếu vắng ng-

ời đàn ông đợc tác giả biểu lộ ở khía cạnh tình ái, ái ân Xem ngời phụ nữ làmột thực thể riêng biệt cần phải đợc thỏa mãn cái quyền sống mà trớc hết làquyền mang tính tự nhiên, quyền bình đẳng với nam giới, Nguyễn Gia Thiều

đã diễn tả niềm khát khao chính đáng của ngời chinh phụ đó là khát khao cuộcsống nhục cảm Tình dục là một nhu cầu tự nhiên, là món quà vô giá mà tạohóa đã ban tặng cho muôn loài Đặt trong hoàn cảnh cá nhân, hạnh phúc theonghĩa thỏa mãn nhu cầu tình cảm cá nhân là chuyện lạ nó đã bị ghìm chặt,những điều hiển nhiên mà tạo hóa tặng cho con ngời thì hàng nghìn năm bị lễgiáo phong kiến cớp mất con ngời nhất là ngời phụ nữ phải chịu nhiều thiệtthòi hơn cả, thì tiếng nói đòi giải phóng cá nhân, đòi giải phóng tình cảm càngquyết liệt Trong xu thế vùng lên đòi hạnh phúc, ngời phụ nữ đợc nói tớinhiều Viết khúc ngâm nhà thơ đã diễn tả niềm khát khao thầm kín mà khôngkém phần da diết trong sâu thẳm nội tâm của ngời phụ nữ Có thể nói ngời

Ngày đăng: 18/12/2013, 20:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Xuân Diệu - Ba thi hào dân tộc Nguyễn Trãi - Nguyễn Du - Hồ Xuân H-ơng, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba thi hào dân tộc Nguyễn Trãi - Nguyễn Du - Hồ Xuân H-"ơng
Nhà XB: Nxb Thanh niên
2. Ngô Văn Đức - Ngâm khúc - Quá trình hình thành phát triển và đặc trng thể loại, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngâm khúc - Quá trình hình thành phát triển và đặc trng thể loại
Nhà XB: Nxb Thanh niên
3. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi - Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
4. Dơng Quảng Hàm - Văn học Việt Nam sử yếu, Nxb Hội Nhà văn, 2001 5. Lê Văn Hòe (hiệu đính, chú giải) - Cung oán ngâm khúc, in Nxb Thế giới,Hà Nội 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam sử yếu", Nxb Hội Nhà văn, 20015. Lê Văn Hòe (hiệu đính, chú giải) - "Cung oán ngâm khúc
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
6. Trần Đình Hợu - Nho giáo và Văn học Việt Nam trung cận đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo và Văn học Việt Nam trung cận đại
Nhà XB: Nxb Giáo dục
7. Đỗ Đức Hiểu - Thế giới Thơ Nôm Hồ Xuân Hơng, Tạp chí Văn học, số 5, 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới Thơ Nôm Hồ Xuân Hơng
8. Nguyễn Lộc - Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - đến hết thế kỷ XIX, Nxb Giáo dục, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ăn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII - đến hết thế kỷ XIX
Nhà XB: Nxb Giáo dục
9. Đoàn ánh Loan, Điển cố và nghệ thuật sử dụng điển cố, Nxb Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điển cố và nghệ thuật sử dụng điển cố
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
10. Mã Giang Lân, Hà Vinh - Hồ Xuân Hơng bà chúa thơ Nôm, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Xuân Hơng bà chúa thơ Nôm
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
11. Nguyễn Đăng Na - Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, Tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, Tập 1
Nhà XB: Nxb Giáo dục
12. Trần Nghĩa - Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam, Tập 1, Nxb Thế giới, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam, Tập 1
Nhà XB: Nxb Thế giới
13. Vũ Ngọc Phan - Tục ngữ ca dao dân ca , Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ ca dao dân ca
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
14. Nguyễn Hữu Sơn, Vũ Thanh (Tuyển chọn, giới thiệu) - Hồ Xuân Hơng về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Xuân Hơng về tác gia và tác phẩm
Nhà XB: Nxb Giáo dục
15. Nguyễn Hữu Sơn - Cung oán ngâm khúc, thời gian nghệ thuật và những khái triết lý trữ tình, Văn học (số 4 tr 69, 74) năm 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cung oán ngâm khúc, thời gian nghệ thuật và những khái triết lý trữ tình
16. Trần Đình Sử - Mấy vấn đề thi pháp văn học Việt Nam trung đại, Nxb Giáo dục, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề thi pháp văn học Việt Nam trung đại
Nhà XB: Nxb Giáo dục
17. Đào Thái Tôn - Hồ Xuân Hơng tiểu sử văn bản tiến trình huyền thoại dân gian hóa, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Xuân Hơng tiểu sử văn bản tiến trình huyền thoại dân gian hóa
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
18. Trơng Xuân Tiếu - Tìm hiểu thế giơi nghệ thuật Thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hơng, Nxb Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu thế giơi nghệ thuật Thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hơng
Nhà XB: Nxb Hà Nội
19. Trơng Xuân Tiếu, Thạch Kim Hơng - Bài giảng văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVII - nửa đầu thế kỷ XIX, Tủ sách trờng Đại Học Vinh, n¨m 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng văn học Việt Nam giai "đoạn nửa cuối thế kỷ XVII - nửa đầu thế kỷ XIX
20. NI. NiCuLin - Thể loại ngâm và Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, Tạp chí Văn học, số 3, 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cung oán ngâm khúc
21. Trần Thị Băng Thanh, Nguyễn Thúy Hoa - Ngời cung nữ của Nguyễn Gia Thiều, Tiếng khóc Nguyễn Gia Thiều - Tiếng khóc nhân loại, Sở Văn hóa Thông tin và Thể thao Hà Bắc xuất bản, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngời cung nữ của Nguyễn Gia Thiều, Tiếng khóc Nguyễn Gia Thiều - Tiếng khóc nhân loại

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình tợng ng ợng ng ời phụ nữ trong cung oán ngâm ời phụ nữ trong  cung oán ngâm khúc                             của nguyễn gia thiều và khóc                              của nguyễn gia thiều và - Hình tượng người phụ nữ trong cung oán ngâm khúc của nguyễn gia thiều và thơ nôm hồ xuân hương
Hình t ợng ng ợng ng ời phụ nữ trong cung oán ngâm ời phụ nữ trong cung oán ngâm khúc của nguyễn gia thiều và khóc của nguyễn gia thiều và (Trang 2)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w