1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hình tượng người nông dân trong truyện ngắn của nam cao

58 8,5K 35
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hình tượng người nông dân trong truyện ngắn của Nam Cao
Tác giả Võ Đình Hiền
Người hướng dẫn Nguyễn Hữu Vinh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2004
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 153,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau cách mạng, khi các nhà văn cha kịp chuyển biến về t tởng để bắt kịp với thực tiễn, Nam Cao đã nhanh chóng chuyển mình và có những sáng tác xuất sắc, có ý nghĩa "mở đờng" cho nền văn

Trang 1

Trờng đại học vinh Khoa ngữ văn

Hình tợng ngời nông dân trong

truyện ngắn của Nam Cao

Khoá luận tốt nghiệp: 1999- 2004 Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Giáo viên hớng dẫn: Nguyễn Hữu Vinh

Sinh viên thực hiện: Võ Đình Hiền

Lớp: 40 E 5 - Văn

Vinh, 5/2004

Trang 2

Lời cảm ơn

Để hoàn thành đợc luận văn này, ngoài sự nỗ lực

cố gắng của bản thân, chúng tôi còn đ ợc sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo hớng dẫn Nguyễn Hữu Vinh và

sự góp ý chân tình của các thầy giáo, cô giáo trong khoa Ngữ văn, sự động viên khích lệ của bạn bè.

Nhân dịp hoàn thành luận văn này, chúng tôi xin bày tỏ tấm lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo h ớng dẫn cùng các thầy giáo, cô giáo trong khoa.

Vinh, tháng 5 2004

Võ Đình Hiền.

A- Phần mở đầu.

I- Lý do chọn đề tài:

Trang 3

Nam Cao là "Nhà văn hiện thực sâu sắc" Ngời đã kế tục trào lu vănhọc Hiện thực phê phán và đa lại cho dòng văn học này một sức sống mới,những giá trị, thành tựu to lớn về nhiều mặt Nam Cao là một tác giả truyệnngắn bậc thầy, một nhà nhân đạo chủ nghĩa lớn trong lịch sử văn học dântộc.

Nam Cao là một nhà văn có vai trò quan trọng trong lịch sử văn học

ở cả hai giai đoạn sáng tác trớc và sau cách mạng tháng Tám, nhà văn đều

có những cống hiến đặc biệt có ý nghĩa ở giai đoạn 1940 - 1945, trào lu vănhọc Hiện thực phê phán đi vào khủng hoảng Nam Cao đã xuất hiện và bằngnhững sáng tác của mình, ông đã "phục hng" và đem lại cho dòng văn họcnày một đỉnh cao mới Sau cách mạng, khi các nhà văn cha kịp chuyển biến

về t tởng để bắt kịp với thực tiễn, Nam Cao đã nhanh chóng chuyển mình và

có những sáng tác xuất sắc, có ý nghĩa "mở đờng" cho nền văn nghệ khángchiến nh "Đôi mắt", "Nỗi truân chuyên của khách má hồng"…

Vì vậy trong chơng trình văn học ở nhà trờng phổ thông, Nam Cao làmột tác giả quan trọng, có nhiều tác phẩm đợc đa vào chơng trình phổ thônggiảng dạy ở cả hai giai đoạn sáng tác, tác phẩm của nhà văn đều đợc chọngiảng, trớc cách mạng có "Chí Phèo", "Đời thừa" sau cách mạng có "Đôimắt" … Sáng tác của Nam Cao có giá trị nghệ thuật cao, có giá trị hiện thực

và nhân đạo sâu sắc, có nhiều đóng góp về phơng châm quan điểm sáng tác

Đặc biệt là tính chất hiện đại là một đặc điểm bao trùm lên sáng tác của nhàvăn Do đó, tác phẩm của Nam Cao là đề tài nghiên cứu phong phú và "hứahẹn nhiều khả năng hoán vị" (Phong Lê)

Nghiên cứu về tác phẩm của Nam Cao có thể đứng ở nhiều góc độ, ởmỗi góc độ khác nhau sẽ có những cách nhìn khác nhau Chúng tôi nhậnthấy việc tiếp cận tác phẩm Nam Cao từ góc độ cái nhìn từ thế giới nhân vậtngời nông dân trong truyện ngắn của Nam Cao, là một hớng có khả năng

Trang 4

độc đáo của ông so với các nhà văn Hiện thực phê phán cùng thời trên phơngdiện chủ nghĩa hiện thực.

Nam Cao viết nhiều nhng tập trung ở hai mảng đề tài chủ yếu là cuộcsống ngời nông dân và cuộc sống ngời trí thức tiểu t sản nghèo trong xã hộitrớc cách mạng tháng Tám ở mảng đề tài nào thì Nam Cao cũng đã đạt đợcnhững thành công rất lớn trong sáng tác của mình

Trong những sáng tác của Nam Cao trớc cách mạng thì giới phê bìnhcho rằng : ở đề tài viết về ngời nông dân, là đề tài thành công và đặc sắcnhất trong cuộc đời sáng tác của Nam Cao Trong những tác phẩm viết vềngời nông dân, Nam Cao đã thể hiện một tính nhân văn cao cả với một bútpháp hiện thực sâu sắc

Có những chủ đề Nam Cao và có những nhân vật Nam Cao Song điềuchúng tôi quan tâm trong luận văn này là tập trung hình tợng ngời nông dântrong truyện ngắn của Nam Cao Chúng tôi mong muốn sẽ khám phá sâuhơn trong thế giới nhân vật, những con ngời nông dân Việt Nam trong xãhội phong kiến nửa thực dân Và đồng thời qua đó sẽ khám phá sâu hơn thếgiới nghệ thuật của nhà văn, góp phần khẳng định những đóng góp độc đáocủa ông, cũng nh vị trí của ông trong nền văn học nớc nhà Là những ngờigiáo viên ở bậc THPT, chúng tôi, trong quá trình nghiên cứu sẽ đợc hiểu biếtsâu sắc hơn về tác phẩm của Nam Cao Do đó, quá trình giảng dạy về nhàvăn chắc chắn sẽ có kết quả tốt hơn

Đó là những lí do ra đời của luận văn này

Trang 5

II - Lịch sử vấn đề.

Nghiên cứu Nam Cao có thể kể từ 1941 với lời giới thiệu của Lê VănTrơng, nhng chỉ thực bắt đầu từ những năm sau cách mạng tháng Tám.Nhiều công trình nghiên cứu công phu, có tính khoa học cao đã đợc giớithiệu, có thể kể đến bài viết của Nguyễn Đình Thi, chuyên luận Nam Cao -nhà văn hiện thực xuất sắc của Hà Minh Đức, và hàng loạt bài viết các côngtrình nghiên cứu của các nhà văn, các học giả nổi tiếng nh Tô Hoài, Phong

Lê, Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Minh Châu … và nhiều bài viết của nhàgiáo, các sinh viên, học sinh đã và đang tiếp tục đợc giới thiệu trên các tạpchí, báo chí, các phơng tiện thông tin đại chúng

Vấn đề về hình tợng ngời nông dân trong sáng tác của Nam Cao cũng

đã đợc đề cập nhiều Có thể nói các tác giả khi đề cập đến Nam Cao khôngthể không nói đến thế giới nhân vật của ông, bởi đây là một đặc điểm nổi bậttrong sáng tác của Nam Cao, góp phần khẳng định những cống hiến của nhàvăn trên lĩnh vực chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa nhân đạo Tuy nhiên donhững mục đích nghiên cứu khác nhau, đối tợng khám phá và hớng tiếp tụckhông giống nhau, nên hầu hết các tác giả chỉ nhìn nhận ở một số vấn đề cụthể, cha nhìn thấy hay cha khám phá, phân tích hình tợng nhân vật trongmảng đề tài nông thôn một cách kỹ lỡng

Xã hội Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 là một xã hội phong kiến nửathực dân Ngời nông dân lúc bấy giờ phải sống trong bầu không khí ngộtngạt và bế tắc, họ phải chịu cuộc sống “một cổ ba tròng” Phản ánh vấn đềnày đã có rất nhiều tác giả, nhà văn nổi tiếng nh Ngô Tất Tố, Nguyễn CôngHoan, Vũ Trọng phụng và đặc biệt là Nam Cao ở mỗi nhà văn lại có phongcách nghệ thuật khác nhau Cũng khai thác ở hai mảng đề tài trên, đề tàinông dân và đề tài trí thức tiểu t sản, song ở sáng tác của Nam Cao bức tranhhiện thực không chỉ nghiêng về bình diện phản ánh., quan sát mà còn xâm

Trang 6

Trong sáng tác Nam Cao, những điều tởng nh không đâu vào đâu thờng lạitác động mạnh mẽ đến nhân cách con ngời "Nh tảng đá cứ đè trĩu lên lòngngời".

Hầu hết các nhà nghiên cứu có chung một nhận xét : Nam Cao tỏ ra

có sở trờng trong miêu tả tâm trạng quá trình diễn biến tâm lý phức tạp củanhân vật, làm nổi bật bi kịch đời thờng, bi kịch nhân cách, bi kịch tinh thầncuả con ngời và điều quan trọng hơn là vơn lên trên cái khung đề tài là vấn

đề kiếp ngời, thân phận con ngời vấn đề con ngời bị tha hoá, bị biến chất về

đạo đức và băng hoại về phẩm chất Nhà nghiên Hà Minh Đức đã nhận xét :

"Nhìn theo đề tài thì trong tác phẩm Nam Cao có sự phân chia giữa tác phẩmviết về ngời nông dân và tác phẩm viết về ngời trí thức tiểu t sản , nhng trongchiều sâu của vấn đề thì chỉ là một"

Trong công trình "Văn hoá văn nghệ 1900 - 1945", Hà Văn Đức khiviết về Nam Cao đã đề cập đến vấn đề nhân đạo của nhà văn đối với ngờinông dân nghèo, và nói đến sự phản ánh về sự phá sản bần cùng của ngờinông dân Nhà nghiên cứu đã phân tích về vấn đề con ngời và cuộc sống củathế giới nhân vật nông thôn dới xã hội cũ Nhng do tính chất là một giáotrình cho nên vấn đề cũng cha đợc khai thác nh một đối tợng nghiên cứu

độc lập

Tóm lại điểm lại lịch sử nghiên cứu về Nam Cao, chúng tôi thấy rằng,các công trình, các bài viết đã có những luận điểm quan trọng, khái quát vềhình tợng ngời nông dân trong truyện ngắn Nam Cao Đặc biệt một số côngtrình đã có những khám phá độc đáo, có sự phân tích sâu sắc và thuyết phục

ở một số khía cạnh đó là cơ sở cực kỳ quan trọng để chúng tôi tiến tới nghiêncứu đề tài này

Tuy nhiên, vì những lí do khác nhau, vấn đề hình tợng ngời nông dântrong sáng tác của Nam Cao cha đợc nghiên cứu với t cách là đối tợng có hệthống và cha đợc soi sáng về phơng diện lý luận, đặc biệt cha có những sựphân tích kỹ lỡng về thế giới nhân vật Đề tài về ngời nông dân của NamCao, cũng nh cha có sự khẳng định về những đóng góp to lớn của Nam Cao

Trang 7

khi viết về ngời nông dân trong xã hội cũ Đó là những điều mà chúng tôimuốn thực hiện trong luận văn này.

III - Nhiệm vụ và phơng pháp nghiên cứu.

Do tính chất là một luận văn cuối khoá cũng nh điều kiện thời gian vàkhả năng hạn chế của bản thân, chúng tôi xin đợc đặt ra nhiệm vụ nghiêncứu nh sau:

Trong sáng tác của Nam Cao trớc và sau cách mạng thì chủ yếu tậptrung ở hai mảng đề tài chính là cuộc sống của ngời nông dân và cuộc sốngcủa ngời tri thức tiểu t sản nghèo Song thế giới nhân vật trong sáng tác củaNam Cao khi viết về hai mảng đề tài này là hết sức phong phú và đa dạng

Có thể nói có những đề tài Nam Cao và có những nhân vật của Nam Cao

Đây là một đặc điểm có tính nổi bật Các sáng tác của ông có rất nhiều giátrị to lớn, nhng do điều kiện nh đã trình bày ở trên, chúng tôi chỉ tìm hiểu vềphơng diện hình tợng ngời nông dân trong truyện ngắn Nam Cao, đó là xemxét đặc điểm tính cách của nhân vật nông dân trong sáng tác của Nam Cao,cũng nh các biện pháp nghệ thuật khi Nam Cao xây dựng lên những nhân vật

ấy, trên cơ sở đối chiếu với lí luận xây dựng hình tợng nhân vật và rút ra cáckết luận cần thiết Từ đó góp phần khẳng định các giá trị trong sáng tác NamCao, cũng nh vị trí của ông trong lịch sử văn học nớc nhà

Để thực hiện nhiệm vụ trên, chúng tôi sử dụng các phơng phápnghiên cứu chủ yếu sau đây:

Vận dụng phơng pháp luận phân tích nhân vật trên cơ sở các thao tácquen thuộc của nghiên cứu khoa học nh so sánh, đối chiếu, phân tích, tổnghợp, khái quát Phơng pháp so sánh có hai phơng diện: So sánh Nam Caovới các nhà văn đơng thời ở trong nớc, đặc biệt là các nhà văn Hiện thực phêphán, và so sánh Nam Cao với một số nhà văn khác trên thế giới có cùng đềtài sáng tác, cùng hoàn cảnh xã hội Phơng pháp này đợc thực hiện khá rộngrãi và tự do, nhng chúng tôi cũng tránh sự tuỳ tiện để cho kết quả nghiên cứu

đợc khách quan

Trang 8

B- Phần nội dung

Chơng I

Quan niệm nghệ thuật về con ngời của nhà văn nhân vật trong tác phẩm văn học.

I- Quan niệm nghệ thuật về con ngời của nhà văn.

Văn học là nhân học, đối tợng chủ yếu của nó là con ngời, không thể

lý giải một hệ thống văn, thơ, mà bỏ qua con ngời đợc thể hiện trong đó.Không chỉ con ngời thực tế, mà còn là quan niệm về con ngời ấy một cáchthẩm mỹ và nghệ thuật, hay nói cách khác đó là quan niệm nghệ thuật vềcon ngời Vậy vấn đề quan niệm nghệ thuật về con ngời là gì ?

Vấn đề quan niệm nghệ thuật về con ngời thực chất là vấn đề tínhnăng động của nghệ thuật trong việc phản ánh hiện thực , lý giải con ngờibằng các phơng tiện nghệ thuật, là vấn đề giới hạn, phạm vi chiếm lĩnh đờisống của một hệ thống nghệ thuật là khả năng thâm nhập của nó vào cácmiền khác nhau của cuộc đời Quan niệm nghệ thuật về con ngời là cách cắtnghĩa, cách đánh giá, lý giải của nhà văn về phẩm chất số phận và tơng laicủa con ngời thông qua hệ thống hình thức nghệ thuật mà nhà văn sáng tạo

ra tác phẩm

Quan niệm nghệ thuật về con ngời cũng chịu ảnh hởng của quanniệm triết học, của tôn giáo, của pháp luật, của đạo đức về con ngời Nhngquan niệm nghệ thuật về con ngời là một giá trị độc đáo, không lặp lại cácquan niệm trên Nó khác với quan niệm triết học về con ngời ở chỗ, triết học

sử dụng t duy lôgíc để khám phá trìu tợng về con ngời còn nghệ thuật sửdụng t duy hình thợng để nói quan niệm về con ngời một cách cụ thể cảmtính thông qua hệ thống hình thức tác phẩm

Trang 9

Nói đến quan niệm nghệ thuật về con ngời trớc hết là sự sáng tạo chủquan của ngời nghệ sĩ khi phát hiện những mặt khác nhau trong thế giới conngời còn bị che lấp Ngay cả khi miêu tả con ngời giống hay không giống sovới đối tợng, nó cũng là sự phản ánh, khám phá về con ngời của nhà văn Nóphản ánh cấu trúc của nhân cách con ngời và các hình thức phức tạp tơngứng trong quan hệ con ngời là vũ trụ phức tạp và hết sức phong phú, bởi vìchính con ngời nhiều khi cũng không thể hiểu nổi cá nhân mình mà chỉ cónghệ thuật mới dám phát hiện ra tính ngời cha bị tiêu diệt hoàn toàn ở kẻ c-

ớp, hay những con ngời tha hoá biến chất Vì trong tình huống kia nó là ácquỷ Nhng trong tình huống này nó trở thành vị thánh cứu nhân, độ thế Nhàvăn muốn nêu quan niệm của mình về con ngời thì cần phải hiểu trong mộtcon ngời vừa có những điểm tiêu cực, nhng đồng thời vừa chứa những điểmtích cực, tuỳ theo tình huống của đời sống mà yếu tố này hay yếu tố kia nổilên chiếm u thế Vì vậy không nên đánh giá con ngời bằng những bản mẫu

về những giá trị cho trớc, cần phải khẳng định con ngời trong tình huống cụthể để lý giải và đánh giá nó Bởi vì con ngời là sản phẩm sáng tạo độc đáocủa nhà văn, nó là cách đánh giá, lý giải, cắt nghĩa của nhà văn, nó đợc biểuhiện bằng hình thức nghệ thuật

Bên cạnh đó quan niệm nghệ thuật về con ngời mang dấu ấn sáng tạocá tính nghệ sĩ gắn liền vơí cái nhìn của nghệ sĩ

Đối với Nguyễn Công Hoan mỗi con ngời là một diễn viên đóng tròtrong tấn trò đời "Đời là sân khấu hài kịch" Đây là kẻ làm trò thủy chung

"Oẵn tà Roằn", kia là kẻ làm trò thể dục "Tinh thần thể dục" … làm trò làtrạng thái không thật của con ngời Khi mọi ngời đều đóng trò thì ta có mộtxã hội giả dối, đánh mất bản chất thật của con ngời Bên cạnh đó NguyễnCông Hoan còn miêu tả con ngời vật hoá: “ngời ngựa, ngựa ngời”, ngời tranhcơm với chó, ngời biến thành cây thịt, bộ xơng

Trang 10

Còn Ngô Tất Tố lại quan niệm bản chất tốt đẹp của con ngời Đó lànhững phẩm chất không bị tha hoá, không tự thay đổi trớc sức ép tàn bạo củahoàn cảnh, hay đúng hơn, chúng bị đe doạ thay đổi, chứng tỏ rằng trong bứctranh hiện thực khắc nghiệt nhà văn vẫn giành một khung trời lãng mạn chocác nhân vật của mình.

Đến với Nam Cao thì ông tiếp thu quan niệm con ngời cảm giác ôngchấp nhận con ngời bị tha hoá Nhng ông thấy con ngời vẫn giữ đợc tính ng-

ời, tức là con ngời tự ý thức Mặt khác Nam Cao phản ánh hiện thực xã hộikhông phải ở cái bề nổi của bản chất xã hội, hay đấu tranh giai cấp nh NgôTất Tố, mà ông miêu tả phản ánh những cuộc đời cụ thể và đi sâu vào nộitâm đời sống của nhân vật

Ta thấy rằng quan niệm nghệ thuật về con ngời là cách cắt nghĩa, lýgiải về con ngời của nhà văn, nhng không phải bất cứ cách cắt nghĩa, lý giảinào về con ngời, cũng là cách cắt nghĩa có tính phổ quát, tột cùng mang ý vịtriết học, nó thể hiện cái giới hạn tối đa trong việc miêu tả con ngời Do đóngời ta có thể tiến hành so sánh các tác phẩm khác nhau trên thế giới, giớihạn tối đa đó mà hiểu đợc mức độ chiếm lĩnh đời sống của các hệ thốngnghệ thuật

Quan niệm nghệ thuật về con ngời luôn hớng tới con ngời trong mọichiều sâu của nó, cho nên đây là tiêu chuẩn để đánh giá, giá trị nhân văn củavăn học Ngời nghệ sĩ là ngời suy nghĩ về con ngời, cho con ngời, nêu ranhững t tởng mới để hiểu về con ngời, do đó càng khám phá nhiều quanniệm nghệ thuật về con ngời thì càng đi sâu vào thực chất sáng tạo của họ,càng đánh giá đúng thành tựu của họ

Trong lịch sử văn học, chẳng những con ngời với t cách là đối tợng thểhiện của văn học đổi thay, mà ngay quan niệm nghệ thuật về con ngời cũng

đổi thay, làm cho khả năng chiếm lĩnh của con ngời ngày càng sâu sắc,phong phú và tạo thành lịch sử của sự cảm nhận và miêu tả con ngời trong

Trang 11

văn học Nhng quan niệm nghệ thuật về con ngời không nhất thiết phải đợcnhà văn ý thức một cách rõ rệt Rất có thể nó thể hiện một cách vô thứctrong ý thức nhà văn khi miêu tả nhân vật Nhà văn chú ý vào nhân vật chứkhông nhất thiết chú ý đến quan niệm của chính mình Tuy nhiên nhà vănkhi ý thức sứ mệnh nghệ thuật của mình đã có ý thức sáng tạo ra quan niệmnghệ thuật mới.

II - Nhân vật trong tác phẩm văn học.

1- Khái niệm nhân vật.

Nhân vật là con ngời đợc nhà văn sáng tạo ra trong tác phẩm văn học

Nó có thể có tên, hoặc không có tên, nhng nó tham gia vào bộc lộ chủ đề,bộc lộ t tởng trong tác phẩm văn học

Trên đây là khái niệm mà ngời ta thờng dùng nhng thực chất kháiniệm nhân vật cần đợc hiểu rộng hơn Bởi vì ngoài việc con ngời là nhân vậttrong tác phẩm văn học nó còn đợc biểu hiện trên nhiều phơng diện khácnhau nh : Nhân vật trong tác phẩm có khi là những con vật, thần linh, maquái Những con vật đợc nhân hoá có tính cách cuộc sống nh con ngời, cókhi nhân vật chỉ là hiện tợng tự nhiên "Trăng vào cửa sổ đòi thơ" và có lúcnhân vật chỉ là một hiện tợng trong xã hội, ví nh : Đồng tiền là nhân vậtchính trong tác phẩm của Banzắc hay "Chiếc quan tài" là nhân vật chínhtrong truyện ngắn "Chiếc quan tài" của Nguyễn Công Hoan Hoặc "Thờigian" là nhân vật của truyện Sê khốp

2- Những biểu hiện của kiểu nhân vật trong tác phẩm văn học.

Con ngời là đối tợng chủ yếu của văn học Dù tác phẩm trữ tình, tự sự,kịch, dù trực tiếp hay gián tiếp thì văn học đều miêu tả con ngời một cáchtập trung Nhân vật văn học là những con ngời có tên hoặc không có tên ví

nh một "Mụ nào" trong truyện Kiều hay "Tiểu đồng" trong( Lục Vân Tiên )

có những tính cách địa vị nhất định, xuất hiện trong tác phẩm để thực hiện

Trang 12

hành động nhất định nhằm thể hiện những t tởng nhất định của tác giả đốivới nhân sinh Nhân vật văn học là do nhà văn h cấu ra, có nghĩa là do nhàvăn "bịa" ra Điều này chứng tỏ rằng: Nhân vật là một hiện tợng ớc lệ, vì thếkhi tìm hiểu hay phân tích, bình phẩm nhân vật trong tác phẩm , thì khôngnên đồng nhất nhân vật trong tác phẩm với con ngời ở ngoài cuộc đời Bởi sựmiêu tả con ngời trong văn học không bao giờ là sự sao chép, chụp ảnh vàtâm hồn nhà văn cũng không nh một tấm gơng cho sự vật phản chiếu vào, vảlại làm gì có nhân vật có sẵn để cho nhà văn sao chép Nhà văn sáng tạo ranhân vật, miêu tả nhân vật, và nhân vật bao giờ cũng hiện ra theo cách hìnhdung, cảm nhận của tác giả.

Nhà văn h cấu ra nhân vật là để khái quát và biểu hiện t tởng, thái độ

đối với cuộc sống, ca ngợi nhân vật là ca ngợi cuộc đời, xót xa cho nhân vật

là tìm hiểu t tởng tình cảm của tác giả đối với con ngời Do vậy nhân vật vănhọc là giới hạn giá trị con ngời của nhà văn bày tỏ một quan niệm về giá trị,một thái độ đánh giá đối với con ngời và cuộc sống

Nhân vật văn học thờng đợc biểu hiện trong văn học bằng phơng tiệnvăn học Chẳng hạn : Trong thơ trữ tình ta có nhân vật trữ tình, tức là con ng-

ời xuất hiện để bộc lộ nỗi niềm trớc cuộc sống, đó là con ngời mang hìnhthức vô danh, tự bộc lộ bằng cảm xúc, ý nghĩa cái nhìn bằng chính thế giớinội cảm Còn trong tác phẩm kịch thì nhân vật là con ngời bộc lộ qua hành

động và lời nói của chính mình., tự vạch mình hoặc biểu hiện mình ở thểloại tự sự nhân vật là con ngời đợc tác giả kể ra, tả ra, bằng lời kể, chính tácgiả dùng lời gọi tên nhân vật, gọi tên những hành động và trạng thái tâmhồn của nhân vật Nhng dù loại hình tợng nào thì nói một cách tổng quát,nhân vật văn học là con ngời đợc miêu tả trong văn học bằng các phơng tiệnvăn học

Bên cạnh đó nhân vật văn học cũng là phơng tiện để nhà văn khái quáthiện thực có nghĩa là trong tác phẩm nhà văn không trực tiếp khái quát cuộc

Trang 13

sống nh các nhà khoa học, nhà văn bao giờ cũng nói khách quan nhng phảithông qua cái cụ thể, cảm tính Bởi mục đích của nhà văn khi sáng tạo lànhằm khái quát hiện thực đời sống, khám phá đời sống và nhằm rút ra nhận

định trong đời sống Nhà văn phát biểu t tởng của mình về đời sống qua việc

kể lại số phận con ngời của cuộc sống Trong cuộc sống và xã hội thì conngời là một thế giới phong phú và đa dạng, mà nhân vật là con ngời đợcmiêu tả trong văn học bằng phơng tiện văn học, do đó nhân vật cũng đợc thểhiện hết sức đa dạng và phong phú, Tuỳ theo từng thể loại văn học mà biểuhiện nhân vật trong tác phẩm, nên nhân vật trong tác phẩm văn học mangdấu ấn cá tính và t tởng của nhà văn Bởi sáng tạo ra nhân vật là nhà vănnhằm sáng tạo ra tính cách tiêu biểu của thời đại, văn học của thời đại nàothì tái hiện tính cách thời đại ấy Nhân vật văn học nh là một hệ quả khi môtả, tái hiện cuộc sống của con ngời, tái hiện tính cách nhân vật thì nhà văntái hiện hoàn cảnh lịch sử, nhờ thế một bức tranh xã hội rộng lớn xuất hiệntrong tác phẩm

Trong tác phẩm văn học từ những góc độ khác nhau có thể chia nhânvật văn học thành nhiều loại khác nhau Dựa vào vị trí đối với nội dung cụthể, với cốt truyện của tác phẩm thì nhân vật văn học đợc chia thành: nhânvật chính, nhân vật phụ và nhân vật trung tâm Còn dựa vào đặc điểm củatính cách, việc truyền đạt lý tởng của nhà văn, nhân vật văn học đợc chiathành nhân vật chính diện và nhân vật phản diện Căn cứ vào cấu trúc hình t-ợng, thì nhân vật đợc chia thành nhân vật chức năng (hay mặt nạ), nhân vậtloại hình, nhân vật tính cách, nhân vật t tởng

Tóm lại : Nhân vật văn học dù đợc thể hiện ở hình tợng nào thì nói

một cách khái quát rằng:

Nhân vật văn học là con ngời đợc miêu tả trong văn học bằng phơngtiện văn học Nó vừa là phơng tiện khái quát hiện thực của nhà văn Thông

Trang 14

qua nhân vật thể hiện t tởng, quan niệm nghệ thuật và lý tởng thẩm mỹ củanhà văn về con ngời về cuộc sống.

III - Quan niệm nghệ thuật về con ngời của Nam Cao.

Dòng văn học hiện thực giai đoạn (1930 - 1945) là dòng văn học hiện

đại, do vậy con ngời trong văn học đợc nhìn nhận từ góc độ văn học hiện đại

và văn học đã có sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về con ngời Con ngời giờ

đây đợc nhìn nhận từ góc độ xã hội Nam Cao là nhà văn trong dòng văn họchiện thực phê phán hiện đại Con ngời trong tác phẩm của Nam Cao cũngthuộc phạm trù văn học hiện đại, nơi cá tính sáng tạo nhà văn đóng vai tròchủ đạo trong việc khắc hoạ con ngời, nơi con ngời cá nhân, số phận cá nhân

đợc chú trọng miêu tả Nam Cao phản ánh con ngời lao động và con ngời trithức nh các nhà văn hiện thực khác Nhng qua các tác phẩm của mình, NamCao đã có một cách nhìn mới mẻ, có chiều sâu và rất nhân bản về con ngời

và ông cũng nhìn con ngời từ nhiều góc độ

Trong quan niệm nghệ thuật về con ngời trong tác phẩm của NamCao, trớc hết đó là những con ngời tha hoá và con ngời có ý thức Cũng nh

Vũ Trọng Phụng thì Nam Cao nhận thấy quy luật tha hoá khá phổ biến lúcbấy giờ Do đó trong tác phẩm của Nam Cao có hàng loạt nhân vật tha hoá,

Đó là những nhân vật bắt đầu tha hoá nh : "Cu Lộ" hay "Trong đời thừa,hoặc "Trạch Văn Đoành" trong truyện "Đôi móng giò" còn dẫn sâu vào con

đờng tha hoá thì có Chí Phèo (Chí Phèo) hay Trơng Rự trong truyện (Nửa

đêm)

Bên cạnh con ngời tha hoá thì theo quan niệm của Nam Cao, con ngờiluôn có ý thức, trong những trang truyện Nam Cao phản ánh quá trình thahoá, nhng Nam Cao vẫn tin vào phần ý thức và lơng tâm của con ngời Dovậy khác với Vũ Trọng Phụng chỉ phản ánh quá trình tha hoá, còn Nam Caothì trong quá trình tha hoá có sự hồi sinh, từ chỗ tha hoá nhân vật có lòng

Trang 15

khát khao lơng thiện ở ngời nông dân, Nam Cao tin vào ý thức lơng tâm của

họ, kể cả khi họ bị đẩy vào con đờng tha hoá nh Chí Phèo

Con ngời trong tác phẩm Nam Cao dù ở phơng diện nào , là tri thứchay nông dân đều là con ngời có ý thức cuộc sống nh : Lão Hạc, Thứ, Hộ

Họ khát khao có một tri thức để đổi thay cuộc đời hay che chở cho những sốphận éo le trong xã hội Con ngời có vốn tri thức nên họ đã nhận ra đợc hiệnthực thối tha, họ không chấp nhận xã hội ấy Hộ, Thứ là những nhân vật hoáthân từ cuộc đời Nam Cao Đây cũng chính là cái mới của Nam Cao

Con Ngời tự nhục mạ, xúc phạm về nhân phẩm và con ngời nhân tính,con ngời luôn khát khao hớng tới sự cao đẹp của nhân phẩm và lơng tâm.Một nhà biện chứng ngời Nga Bunkin khi đề cập đến chủ nghĩa nhân đạo

ông nhấn mạnh hai phơng diện "Nhân đạo" là đòi hỏi đấu tranh là mongmuốn cho con ngời đợc thoả mãn nhu cầu lành mạnh ở trên cuộc sống trầnthế và nhân đạo là phát huy cao độ những năng lực vốn có Trong tác phẩmcủa mình Nam Cao đã đề cập cả hai phơng diện này Sự đòi hỏi rất cao nhthế, nên ông rất đau đớn trớc tình trạng con ngời bị lăng nhục, bị xúc phạmnhân phẩm đó là bà lão (Một bữa no) hay những thầy cô giáo trong tiểuthuyết “Sống mòn’’ Tất cả cũng vì đói nghèo mà những con ngời đó đã

Trang 16

không có một tri thức nhất định, hay con ngời đó không còn ý thức thì làmsao có sự thay đổi và ớc mơ nh vậy.

Đến với Lão Hạc trong truyện(Lão Hạc) thì Nam Cao đã đề cập đếnnhân cách của con ngời rất rõ nét ở hình tợng Lão Hạc, Lão Hạc là một bầnnông nghèo đói nhng vốn có lòng tự trọng, lại là ngời thuỷ chung, có tâmhồn cao thợng, một phẩm chất trong sáng và một tâm hồn ngay thẳng, trongsạch và đau đớn Chẳng hạn nh chi tiết Lão Hạc nói tới chuyện bán chó LãoHạc bán chó không phải vì mình mà sợ thiệt tiền của con Hay lão làm ra vẻ

kẻ gian để xin Binh Chức bả chó nhng là để tự sát, lão chọn cái chết để giữ

số tiền cho con bởi sau này còn có cới vợ, trớc lúc chết lão còn dành dụmmột số tiền lo ma chay để khỏi phải phiền đến bà con lối xóm Rồi lão chếtmột cách dữ dội mà ngời ngoài không ai hiểu gì Nam Cao đã khắc hoạ mộtcon ngời nội tâm sâu sắc, cao thợng bên trong một con ngời bề ngoài có vẻtầm thờng

Qua hai hình tợng Chí Phèo và Lão Hạc Nam Cao đã phát hiện rarằng, dù xã hội có mục nát, con ngời có nghèo đói bần cùng, bị tha hoá,thậm chí bị đẩy vào dới lớp đáy bùn nhơ của cuộc sống và xã hội, nhngnhân tính con ngời luôn nguyên vẹn Có thể nói đây là phần nhân tính cao

đẹp của những nhân vật của Nam Cao nh Lão Hạc, Chí Phèo, Điền, Hộ, Thứ

Đó là những nhân cách sáng ngời, đó là những phẩm chất tốt đẹp của conngời dù là nông dân hay là tầng lớp trí thức Dù xã hội đó có mục nát, có đầy

đoạ, chà đạp hay thậm chí cớp đi quyền làm ngời , quyền sống của họ thì ởtrong sâu thẳm tâm hồn họ, cái bản chất tốt đẹp mang tính chất truyền thốngcủa văn hoá bản sắc dân tộc đó vẫn mãi trờng tồn và bất diệt Phải chăng đóchính là chất "Vàng Ròng" của con ngời trong truyện ngắn Nam Cao, màkhông dễ gì chúng ta bắt gặp

Quan niệm con ngời với khát khao cống hiến, phát triển tài năng cũng

là một đặc điểm nổi bật của quan niệm nghệ thuật về con ngời của Nam Cao.Không chỉ đau đớn trớc tình trạng vì đời sống miếng cơm, manh áo làm chocon ngời bị thui chột đi tài năng, không đợc thoả mãn khao khát sáng tạo củamình nh Hộ trong "Đời thừa", Điền trong "Trăng sáng" hoặc Thứ trong tiểuthuyết "Sống mòn" Họ là những ngời tri thức có những khát khao, hoài bão

Trang 17

trong sự nghiệp văn chơng và đời sống Nhng họ đã phải chịu bi kịch sống

nh cuộc sống thừa hoặc đang chết dần, chết mòn đi

Trang 18

Chơng 2 Hình tợng ngời nông dân trongtruyện ngắn

của Nam Cao

I Ngời nông dân có cuộc sống khổ cực, đói rét, bị bóc lột tàn nhẫn

đến bần cùng.

Hình tợng ngời nông dân và cuộc sống của họ, là đề tài trung tâm vàcũng là nguồn cảm hứng chủ đạo trong dòng văn học hiện thực phê phángiai đoạn (1930 - 1945) Viết về đề tài này trong văn học Việt Nam đã cónhiều cây đại thụ văn xuôi nh : Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ TrọngPhụng Đặc biệt là Nam Cao một cây bút văn xuôi nổi tiếng trong dòng vănhọc hiện thực lúc bấy giờ

Mỗi nhà văn đều có một thế giới nhân vật riêng của mình Qua đó tahiểu đợc những quan điểm hay cách nhìn đời, nhìn ngời, phản ánh cuộc sốngtrên nhiều bình diện khác nhau Nam Cao một nhà văn hiện thực, một câybút sắc sảo trong văn học hiện thực lúc bấy giờ Truyện của Nam Cao tậptrung miêu tả ở hai đề tài chính: Ngời nông dân và ngời trí thức tiểu t sản.Nhng đó đều là những tác phẩm xuất sắc ở đề tài nông dân, Nam Cao đã đisâu phân tích tính cách ngời nông dân Việt Nam trớc cách mạng tháng Támnăm 1945

Lúc Nam Cao bớc vào con đờng văn học, cũng là lúc xã hội Việt Namchao đảo, ngột ngạt và bế tắc nhất, các giai cấp bị phân hoá dữ dội Đời sốngngời nông dân bị đe doạ hơn bao giờ hết Họ phải chịu ba tầng áp bức bóclột Địa chủ, t sản mại bản và thực dân Pháp Cuộc sống của ngời nông dânkhổ cực trăm bề, họ phải sống trong tình cảnh đói nghèo, vất vả bần cùng vềvật chất lẫn tinh thần Viết về ngời nông dân trong thời kỳ cùng quẫn, bế tắcnày, Nam Cao không dừng lại ở hiện tợng bề mặt, ông có gắng đi sâu vàobản chất của sự vật và bày tỏ thaí độ đồng cảm xót thơng với những số phận

Trang 19

lao khổ Nam Cao không nhìn ngời nghèo với con mắt khinh bỉ, giễu cợt

nh-ng cũnh-ng khônh-ng thi vị hoá, lý tởnh-ng họ Với tấm lònh-ng nhân đạo yêu thơnh-ng vàhiểu biết sâu sắc về con ngời, với vốn sống thôn quê phong phú đã giúp NamCao nhìn cuộc sống của ngời dân một cách sinh động Từ một vùng quê củamình, Nam Cao đã khái quát cả một thực trạng trong thời kỳ đen tối, NamCao đã tạo ra một không khí nông thôn rất đặc biệt của riêng ông

Ngời nông dân trong "Tắt Đèn" của Ngô Tất Tố phải sống trong bầukhông khí ngột ngạt của su cao thuế nặng Còn con ngời nông dân của NamCao lại sống trong một làng quê xơ xác nghèo Đó là những mái nhà tranhxơ xác, tiêu điều, rải rác ở những vùng đất rộng và cằn cỗi Đờng làng vắng

vẻ, thỉnh thoảng ngời ta bắt gặp những ngời ngời đàn bà đi mò cua bắt ốc,một vài đứa trẻ trần truồng bẩn thỉu , da vàng, bụng ỏng, ruồi bâu đầy ngời

và cứ đứng thơ thẩn ở các ngõ xóm Chợ búa xiêu điều xơ xác Họ phải sốngtrong một không gian làng quê hoang vắng đến mức ngời ta có thể ngơ ngáctrong ngôi đình hoang, hay cứ mỗi đêm đến ngời ta lại nghe văng vẳngnhững tiếng khóc tỉ tê, của ngời đàn bà đang giữa đêm thức dậy hờ chồng, hờcon (Nửa đêm) rất thảm thiết Các nhân vật nói nhỏ với nhau, giọng đều

đều, buồn bã nh tiếng cầu kinh Một bà mẹ ốm dai nói chuyện với những đứacon, hay một bà già đang tỷ tê bên đứa trẻ mồ côi Trong cuộc sống của làngquê hoang vắng ấy thỉnh thoảng ngời dân lại phải chứng kiến những tiếng

ầm ĩ hay một sự náo động của tiếng mõ thúc thuế, tiếng náo động kinh hãicủa những thằng cùng đinh liều lĩnh, tiếng quát tháo , chửi bới hốt hoảngcủa bọn cờng hào

Trong không gian hoang vắng nghèo nàn ấy , số phận của ngời nôngdân hết sức bi thảm, bất hạnh, gõ cửa từng nhà Nghèo đói đã làm tan nátnhững gia đình, ngời thì phải bỏ làng quê đi tha phơng cầu thực, kẻ phiêubạt giang hồ hay ra thành phố tìm đến trú ngụ trong những căn nhà ẩm thấptối tăm Nh mẹ con Hiền trong truyện "Ngời hàng xóm" Kẻ quẫn chí bỏ

Trang 20

làng đi làm đồn điền cao su, ngời thì phải gửi con nhỏ để vào rừng kiếm ăn,phải bán con gái cha đủ lớn để bớt phần ăn trong gia đình Cha bao giờ ngờinông dân lại bị đặt trog hoàn cảnh nh vậy "Dần" trong truyện "Ngời hàngxóm", một cô gái lớn lên trong cảnh nghèo khó Mời hai tuổi Dần phải đi ở.

Mẹ mất khi mới 15 tuổi, Dần phải quán xuyên mọi công việc trong nhà giúp

bố "Nhng ông giời hình nh không muốn bố con Dần ngóc đầu lên, Cuộcsống ngày một khó thêm, gạo kém thóc cao, ngô khoai cũng khó chuốc đợc

mà ăn" Cái đói cái nghèo buộc phải tính Bố Dần phải gửi hai em nhỏ, cònDần thì "Mày thì tao cho ngời ta cới" đám cới diễn ra âm thầm và lặng lẽ,

"Đêm tối ra đám cới mới ra đi Vẻn vẹn chỉ có sáu ngời, cả nhà trai với gái"

Bộ đồ trong đám cới của Dần là bộ đồ cũ kỹ, rách và đã có nhiều chỗ vá thậtto

"Dần không chịu mặc cái áo dài mà mẹ chồng đa cho, thành thử lại chính bà khoác cái áo ấy trên vai, Dần mặc cái áo ngày thờng Nghĩa là một cái quần cồng cộc xẩng và đáp những miếng vá thật to, một cái áo cánh bạc phếch và vá nhiều chỗ lắm, một bên rách quá đã xé toạc gần đến nách "[4 -112].

Cái nghèo cái đói nh bám chặt cuộc sống của ngời nông dân, họ cóchạy đến cùng trời cũng không thoát khỏi cái nghèo Biết bao số phận chết vì

đói, vì ốm đau không có tiền mua thuốc Anh "Đĩ chuột" trong truyện

"Nghèo" phải thắt cổ tự tử để bớt đi gánh nặng cho vợ con, cái chết thật làthảm thơng "Cái bộ xơng da bọc giãy dụa nh một con gà bị gãy Sau cùng

nó chỉ giật từng cái sợi dây thừng lủng lẳng [4-10]" Phúc trong "Điếu văn"

thì "ốm đau nằm chết khổ chết mỏ" trên giờng, hai đứa con anh "ẻo lẻ nhmột cái lá úa và buồn nh một tiếng thở dài ngồi ủ rũ nhìn anh bằng đôi mắtdại đi vì đói quá: "Anh chết sau khi đã vắt hết sức nuôi vợ, nuôi con Cái đói,cái nghèo, miếng cơm và manh áo đã làm những ngời cha đánh mất lơng tâmtrớc những đứa con thơ, nh nhân vật "Hắn" trong truyện "Trẻ con không đợc

Trang 21

ăn thịt chó" Hắn và mấy ngời bạn cứ thế mà đánh chén, mà dành nhau, hả

hê với những cốc rợu và thịt chó Trong lúc đó có biết đâu những đứa con thơthì "Nó lăn vào lòng mẹ, oằn oại vừa hủ hi kêu : Đói! Bu ơi ! Đói…" Rútcuộc đáp lại lời kêu than ấy là một sự thơng tâm đau xót xẩy ra "Ngời mẹ xịu ngay mặt xuống, trong mâm chỉ còn bát không - thằng cu khóc oà lên.

Nó lăn ra chân đạp nh một ngời dãy chết, tay cào xé mẹ Ngời mẹ đỏ mũi lên và mếu xệch đi rng rng khóc, cái Gái, cu nhớn, cu nhỏ cũng khóc theo"

[ 4 - 127]

Số phận của ngời nông dân trong nhiều truyện ngắn của Nam Cao đợc

đặt ở những thử thách khốc liệt của cảnh nghèo mà không ít nhân vật đã bịxô đẩy đến cái chết đau đớn Mỗi ngời mỗi hoàn cảnh nhng chung quy lại làcảnh nghèo Cái chết của họ mang ý nghĩa tố cáo xã hội sâu sắc Điểm đángquý của Nam Cao là cái nhìn nhân hậu, đầy cảm thông với ngời nông dâncác nhân vật của ông dù bị đày đoạ, chà đạp nhng vẫn giữ đợc nhân cách,phẩm chất của mình…

Truyện ngắn "Lão Hạc" của Nam Cao đã thể hiện sinh động tính cáchnhân vật qua nhận thức của ông giáo hàng xóm Ban đầu là tình cảm yêu th-

ơng quý trọng của ông giáo đối với bạn láng giềng "Lão Hạc ơi bây giờ thì tôi hiểu tại sao lão không muốn bán con chó vàng của lão.Lão chỉ còn mỗi mình nó để làm khuây Vợ lão chết rồi,con lão đi biền biệt Già rồi mà ngày cũng nh đêm,chỉ thui thủi một mình thì ai mà chả phải buồn" [2-

88] Vì thơng ngời con trai phẫn chí bỏ làng ra đi do nghèo thiếu không có

tiền cới vợ, vì nghèo đói, lão chấp nhận cuộc sống cô đơn, đói khổ đến cùngcực, lão cố nhịn ăn, nhịn mặc , làm thuê, làm mớn, dành tiền đợi con về cới

vợ, có nhà có đất sinh sống Lão nuôi con chó, kỷ vật của con trai lão để lại,tôn xng nó là cậu vàng với tất cả nỗi đắm say, khát khao cuộc sống cùng concháu, đợc làm cha, làm ông nh một ngời bình thờng khác Nhng cái nghèo

Trang 22

khát vọng chính đáng đó Lão bán đi cậu vàng dẫu biết rằng do đói nghèophải làm việc cực chẳng đã, nhng Lão Hạc vẫn day dứt “bảy mơi tuổi đầucha hề nói dối ai bao giờ nay phải lừa một con chó” Tự giết niềm vui nhonhỏ của mình nhng lại vì danh dự làm ngời đối diện với con vật, một loại

động vật xa nay đợc coi là có nghĩa nhất Lão Hạc phải trải qua một bi kịchnhân tính cao cả Cuộc đời buồn tủi, mòn mỏi trong đói nghèo, đến cả conchó mà lão quý nh con, nh cháu mà lão không nuôi nổi Thật chua xót biếtbao khi lão thốt lên: "Kiếp con chó là kiếp khổ thì ta hoá kiếp cho nó để nó làm kiếp ngời, may ra có sung sớng hơn một chút…kiếp ngời nh kiếp tôi chẳng hạn" [4-92] Không muốn ăn tiêu hao dần vào đồng tiền giành dụmcho con, lão buộc phải kết liễu đời mình bằng cái chết thật thảm khốc "Lão tru tréo bọt mép xùi ra, khắp ngời chốc chốc lại bị giật mạnh một cái, nẩy lên"c [4- 96] Lão chết Một mặt lão Hạc thấm thía cái kiếp sống vô nghĩa,sống thừa của đời mình Lão sống là sẽ ăn lẹm vào tiền của con Trớc lúc lãochết, lão còn lo chuyện trớc để khỏi phiều đến bà con lối xóm

Nh vậy lão Hạc đã chọn trung thành với tính cách của mình Lão đãxoá mình ra khỏi mảnh vờn để nó đợc tồn tại Lão xoá mình khỏi cuộc sốngcủa đứa con để cho nó niềm hy vọng gắn bó với cội nguồn Lão xoá mình rakhỏi cõi thế phiều trợt này để giữ gìn lẽ sống của chính mình Lão là nhânvật tập trung nhiều phẩm chất đẹp đến bất ngờ.Lão Hạc là ngời lơng thiện d-

ới ngòi bút tài hoa của Nam Cao Ta thấy rõ một ông lão nông dân quay quắttrong sự ràng buộc nghiệt ngã của đói nghèo và cô quạnh, thế mà tâm hồncủa lão cha hề bị cắt vụn, thế mà thể xác của lão cha bao giờ là bản năng.Ngợc lại trong tất cả những tính toán chi li tội nghiệp của lão là một sự vậtvã tinh thần dữ dội vật vã cho đến chết Nhng cuối cùng lão vẫn là ngời tự

do, tự do trong sự lựa chọn bi đát của mình Đó là điều bí mật sau cùng màNam Cao tìm thấy ở ngời nông dân nhìn con ngời từ phơng diện nh vậy tạocho Nam Cao những cái mới mẻ trong quan niệm về con ngời của ông, đồng

Trang 23

thời cũng là sự khẳng định lập trờng vì con ngời hay những bớc đi kiên định,không chệch hớng sa vào chủ nghĩa tự nhiên nh một số ngời đã nhận xét.

Viết về ngời nông dân, Nam Cao không chỉ tập trung miêu tả về cái

đói cái nghèo đã làm cho họ đói khổ rách rới mà ông còn phản ánh dới cáinghèo cái đói, mánh cơm manh áo đã đẩy biết bao nhân vật sống, trong tìnhtrạng bị lăng nhục, bị xúc phạm về nhân phẩm, bị đẩy vào tình trạng tha hoá,

lu manh hoá Những nhân vật tha hoá chiếm một tỷ lệ không nhỏ trong tácphẩm của ông Miêu tả con ngời trong qúa trình tha hoá trở thành hớng chủ

đạo của tác phẩm: Chí Phèo, T cách mõ, Nửa đêm

Trong"T cách mõ" cu Lộ một con ngời "hiền nh đất, cờ bạc không,

r-ợu chè không Anh chỉ chăm chăm chút chút làm để nuôi vợ, nuôi con"[

4-245]

Vậy mà sau một thời gian làm mõ, cu Lộ đã thay đổi, đã biến thànhthằng mõ chính tông Vì nghèo túng, lại bị mọi ngời xúm vào thuyết phục,bùi tai, Lộ nhận làm mõ Nhng khi thấy Lộ làm mõ "ngon ăn quá" mọi ngờisinh ra ngấm ngầm ghen với hắn, và hoà với nhau để làm nhục hắn Trớc sựhằn học, nhục mạ của những ngời xung quanh Lộ đâm ra hối hận bực tức,nhng "Sự việc đã trót rồi biết làm sao nữa" những khi bị khinh bỉ, bị mọi ng-

òi làm nhục, có khi Lộ cũng thấy xấu hồ với vợ con, định trả vờn không làmnữa, nhng lại tiếc Cứ thế mỗi lần bị xúc phạm, Lộ lại uất ức, lại thở dài, thởngắn nhng rồi lại tặc lỡi Càng bị xúc phạm thì hắn lại càng không biết nhục

Từ đó Lộ cứ ngày càng tiến dần từng bớc trợt dốc trên con đờng tha hoá, từchỗ "hắn đòi cỗ to, lúc ăn hắn lại còn đòi xin thêm xôi, thêm thịt, thêm cơm nữa Không đem lên cho hắn thì tự hắn xông vào chỗ làm cỗ mà xúc lấy [4 - 250]

Nhng chính trong cách đê tiện, tham lam ấy là tác giả kết luận "Hỡi ôi làm nhục ngời ta một cách rất diệu thì để khiến ngời sinh đê tiện"…[4-

Trang 24

Đó là triết lý không chỉ rút ra từ cuộc đời, từ con ngời cụ thể mà nócòn là ý nghĩa nhân văn cao cả, là một quan niệm nhân sinh rộng rãi Chínhhoàn cảnh sẽ trực tiếp chi phối và có khả năng lý giải về sự thay đổi và pháttriển của tính cách nhân vật

Điển hình cho nhân vật tha hoá là nhân vật Chí Phèo trong truyệnngắn cùng tên của Nam Cao Phải nói rằng, khác với các nhà văn hiện thựckhác, Nam Cao đã diễn tả đợc sức mạnh lạ thờng quá trình tha hoá của một

số quần chúng trong hoàn cảnh bị đè nén, áp bức, bóc lột của xã hội cũ.Nhân vật của Nam Cao thờng trải qua chuyển biến Nếu nh trong "T cáchmõ" Nam Cao viết “ Ng ời ta tởng nh ông trời đã cố ý sinh ra hắn nh thể để

mà làm mõ; Hắn có cái cốt cách củ một thằng mõ ngay từ kho còn ở trong bụng mẹ , và là mõ ngay từ ngày mới sinh…Không! Lộ sinh ra là con một

ông quan viên tử tế, hẳn hoi Và mới chỉ cách đât độ ba năm, hắn vẫn còn

đợc gọi là anh Cu Lộ.Anh Cu Lộ hiền nh đất" [4 -245]

Thì Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên lại chỉ biết chửi rủa, kêu làng,

vu vạ, cớp bóc, đâm chém Nhng có một thời hắn hiền nh đất Lý Kiến phảilấy làm "tội nghiệp" thấy hắn vừa bóp đùi cho bà ba, vừa run run" Chí Phèophá phách huỷ hoại xung quanh và tự huỷ hoại mình với những hành độngkhông tự giác nh bị sai khiến bởi một lực lợng vô hình Từ anh canh điềnkhoẻ mạnh hiền lành, nhút nhát và chăm chỉ làm ăn, cuộc đời nếu cứ bìnhlặng trôi đi thì Chí cũng sẽ sống nh moị ngời khác, nghèo túng nhng yênphận Khởi đầu là bà Ba và sau đó là Bá Kiến đã khép lại cuộc đời lơng thiệncủa Chí Phèo Một cơn ghen tuông mù quáng của Bá Kiến đã đa Chí Phèovào tù tội Sau bảy tám năm đi tù về, Chí Phèo trở nên khác hẳn biến đổi từdáng vẻ bên ngoài: "Hắn về làng lần này trông khác hẳn, mới đầu chẳng ai biết hắn là ai.Trông đặc nh thằng săng đá Cái đầu thì trọc lóc,cái răng cạo trắng hớn,cái mặt thì đen và rất cơng cơng, hai mắt thì gờm gờm trông gớm chết Hắn mặc quần nái đen với cái áo tây vàng Cái ngực phanh, đầy

Trang 25

những nét chạm trổ rồng phợng với một ông tớng cầm chùy.Cả hai cánh tay cũng thế Trông gớm chết"[4-12].

Nh vậy bằng cách làm nổi bật sự thay đổi giữ dội của tính cách ChíPhèo trớc và sau khi đi ở tù về, Nam Cao đã tố cáo sự huỷ hoại ghê gớm vềphẩm chất, nhân cách của con ngời do chế độ nhà tù gây nên Từ một conngời lơng thiện, nhẫn nhục, Chí đã trở thành một tên côn đồ hung dữ, mộttay anh chị ngang ngợc lúc nào cũng gây gỗ chửi bới "Giở toàn những giọng uống máu ngời không tanh" Tất cả những hành động đó biểu hiện phản ứng

gay gắt của một con ngời đã đi đến cùng đờng liều lĩnh

Miêu tả quá trình tha hoá của Chí Phèo do hoàn cảnh xã hội tạo nên,nhng mặt khác bằng đôi mắt sắc sảo và đầy tình nhân ái Nam Cao vẫn pháthiện trong tâm hồn cằn cỗi đó những nét đẹp đẽ lơng thiện đang còn sót lại.Cái sắc sảo của một nhà văn luôn tìm tòi quan sát đã giúp Nam Cao nhìnnhận ra vấn đề, phát hiện ra những con ngời nông dân bị biến chất Lòngnhân ái cảm thông cuả một tâm hồn nhân đạo đã gửi lại trên trang viết của

ông niềm tin về nhân phẩm của ngời nông dân Ta thấy rằng trong đáy sâutâm hồn của Chí Phèo, vẫn còn có những mầm mống tốt đẹp mà phũ phàngcủa xã hội cha đủ sức làm thui chột hết Cuộc gặp gỡ Thị Nở và bát cháohành ấm nóng tình ngời đã thức dậy những tình cảm, những khao khát xa kiacủa Chí Chí muốn làm ngời lơng thiện, Chí muốn hoà nhập vào xã hội xungquanh biết bao

Trong nỗi niềm khát khao ấy, Thị Nở đến với Chí Phèo nh một tiachớp đánh thức những lơng tri và tình cảm trong sáng của ngời nông dân.Nhng rồi tia chớp ấy vụt tắt, và đời Chí tất cả lại là một đếm tối mênh môngkhông lối thoát Những ớc mơ trở về làm ngời lơng thiện trong xã hội thựcdân nửa phong kiến không mở đờng cho Chí Phèo quay trở lại cuộc sốngbình thờng Ngay khi Chí khao khát, tỉnh táo nhất thì ớc mơ của Chí hiện ra

Trang 26

Từ bi kịch bị cự tuyệt làm ngời, Chí đã hành động mang tính cực đoan Chí

đã giết Bá Kiến và kết liễu đời mình một cách bi đát Hành động đó tất yếuphải xẩy ra, hợp với lô gíc của sự phát triển tính cách, tâm lý nhân vật ChíPhèo Tự hủy diệt đời mình để giải quyết sự bế tắc của đời mình, cái chết thêthảm đó của Chí Phèo là cả một sự phê phán gay gắt đối với chế độ xã hội

cũ, xã hội thực dân phong kiến đã chà đạp lên quyền sống của con ngời Họxuất thân là nông dân cùng khổ, cha gặp cách mạng, cha tìm thấy lối thoátcuộc đời, ngày càng bị dồn vào con đờng lu manh tội lỗi Nam Cao bị ám

ảnh bởi cái cảnh tợng cuộc sống vô lý, những con ngời bị tha hoá bị biếnchất Mỗi cuộc đời, mỗi nhân vật có một qúa trình tha hoá biến chất, do hoàncảnh xã hội tác động đa đẩy Vậy tại sao những nhân vật của Nam Cao lạitrở thành con ngời tha hoá, biến chất nh vậy? chính cái đói cái nghèo , cựcnhục, hà hiếp, vùi dập đã khiến con ngời nói năng suy nghĩ, hành động tráivới bản chất sâu kín của mình Đây cũng là điều mà Nam Cao tố cáo, phêphán chế độ đơng thời đã cớp đoạt nhân phẩm và quyền làm ngời lơng thiệncủa ngời nông dân Bên cạnh đó tác giả cũng thể hiện lòng cảm thông đầychất nhân văn cao cả Trong toàn bộ sáng tác của mình, Nam Cao đều nóilên sự cần thiết phải thay đổi xã hội cũ, xã hội đã gây ra bao cảnh thơng tâm,bao điều ngang trái Quần chúng lao khổ dù hiện ra dới màu sắc sáng sủahay u ám thì ý nghĩa khách quan của truyện ngắn Nam Cao vẫn là một:

"phải cứu lấy cuộc sống, phải bảo vệ con ngời…"

II Những ngời nông dân khát khao có một cuộc sống hạnh phúc, nhng hầu hết cuộc sống của họ đều rơi vào bi kịch.

Đã là con ngời bao giờ cũng có ớc mơ có một cuộc sống gia đình và

có một tình yêu hạnh phúc để rồi có những lúc đợc sởi ấm lòng mình Đó làchỗ dựa tinh thần, chốn bình yên cho tâm hồn sau những ngày làm việc mệtmỏi Ngời nông dân trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ phải chịu bao nhiêu

là khổ cực: sự bắt bớ đi lính, đi phu, sự chia lìa tình yêu và cái đói nghèo, lễ

Trang 27

giáo phong kiến luôn luôn hành hạ họ Nam Cao đã nắm bắt đợc hiện thựccuộc sống này để miêu tả nó.

Trong truyện "Chí Phèo", Chí Phèo trong cuộc sống của mình đã từngmơ ớc có một gia đình Chồng cuốc mớn cày thuê.Vợ dệt vải Chúng lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm" [4-38].

Đó là mơ ớc chính đáng Sau khi Chí đi tù về đã trở thành con quỹ dữ.Cuộc gặp gỡ thị Nở, bằng tình yêu chân chính của thị, bằng bát cháo hành

ấm nặng tình ngời đã thức dậy trong ngời Chí những mơ ớc để trở thành ngờilơng thiện, làm sống dậy trong con ngời tội nghiệp này khát khao làm ngời.Lâu lắm rồi anh nghe đợc tiếng chim ríu rít, tiếng chân ngời đi chợ về "Nhnghôm nay hắn mới nghe thấy".Lần đầu tiên trong đời hơn bốn mơi tuổi Chímới cảm nhận đợc cái cô đơn, cái buồn và sự chờ đợi Chí khát khao làm ng-

ời lơng thiện "Y muốn làm ngời lơng thiện biết bao" Nhng khát khao đó

không thực hiện đợc, bởi từ lâu mọi ngời đã coi Chí là con vật, một kẻ bỏ đi.Ngời ta không quan niệm một kẻ nh Chí Phèo lại có ớc mơ làm ngời "lơngthiện" Khát khao chính đáng ấy đã bị phủ nhận một cách phũ phàng Anhrơi vào bi kịch vô cùng đau xót, bi kịch bị cự tuyệt làm ngời Uất đến cực

điểm anh đã vùng dậy đâm chết kẻ thù và tự kết liễu cuộc đời."Anh chết giãydụa trên một vũng máu", cái chết mang tính chất bi kịch Một cái chết gâynên sự đồng cảm sâu sắc của ngời đọc vì đó là cái chết để khẳng định sựsống, khẳng định bản chất lơng thiện của con ngời

Trong tác phẩm "Dì Hảo", Dì Hảo mong có một ông chồng, dù đó làchồng hờ (nếu có thể nói nh vậy), mà đúng vậy "Ngời ấy không yêu gì Thật mà! ngời ấy chẳng yêu Dì Hảo đâu mà lại còn khinh dì nữa là khác nữa" [4-55]

Nhng ớc mơ có một tấm chồng và gia đình hạnh phúc, Dì Hảo đã chấp

Trang 28

quê để kiếm "mỗi ngày hai hào Dì ăn có năm xu, còn một hào hắn dùnguống rợu" Nhng trong tâm hồn Dì Hảo vẫn cảm thấy hạnh phúc và Dì Hảosung sớng lắm" Nhng cuộc đời thật trớ trêu, dờng nh ông trời và xã hội cũtrong thời đại thực dân nửa phong kiến cái đói, cái nghèo cứ đùa bỡn trớcnhững hạnh phúc, ớc ao của ngời dân lơng thiện Cái ớc ao, hạnh phúc, cáikhao khát một tổ ấm gia đình nó hiện ra thật mỏng manh mà chóng phai tàn,

nó cứ vùi dập bởi một thế lực vô hình trong cái làng quê nghèo nàn xơ xác

ấy Nếu trong "Một đám cới" " Nhng ông trời hình nh không muốn cho bố con Dần ngóc đầu lên Cuộc sống mỗi ngày một khó thêm Gạo kém, thóc cao Ngô, khoai cũng khó chuốc đợc mà ăn" [4-101]

Thì ở đây, Dì Hảo trong những ngày hạnh phúc ngắn ngủi ấy, cái hoạlại đến với gì Sự tàn ác của ông giời bắt dì đẻ một đứa con Nhng rồi "Đứa con chết, mà dì thì tê liệt Mỗi ngày là một ngày không có hai hào Ngời chồng muốn đó là cái lỗi của ngời vợ vô phúc ấy" [4-55]

Từ đây, Dì Hảo lại càng lâm vào cảnh nghèo đói và bị sự xỉ vả lăngnhục của ngời chồng vũ phu Hàng đêm gì đau đáu trong sự giàn dụa nớcmắt "Chao ôi ! Dì Hảo khóc Dì khóc nức lên, khóc nh ngời ta thổ, dì thổ

ra nớc mắt" [4-56]

Nhân vật Đức trong truyện "Nửa đêm" cũng có khát khao chính đáng

và mãnh liệt biết bao nhiêu về hạnh phúc và tổ ấm của gia đình." Có hôm nó lẩn thẩn ngồi bàn với bà những cách làm giàu Hắn sẽ cố giành dụm để có tiền thuê lấy một vài mẫu ruộng; thiếu gì ngời có ruộng muốn cho làm thuê? Chỉ cốt có một con bò; hắn sẽ làm ruộng nhà và nhận ngả ruộng cho ngời ta nữa Mấy chốc mà lên ngay Trời cho mạnh khoẻ ta bỏ một vài con lợn; bà cụ bây giờ già yếu rồi, vờn ruộng không làm đợc thì cứ quanh quẩn

ở nhà cố mà chăm lấy" [4-437]

Trang 29

Nhận đợc tình yêu, một sự cảm thông của Nhi, một con ngời xấu xínhng biết nhìn nhận Đức nh một con ngời - Đức một ngời đờ đẫn bỗng trởnên khác hẳn Đức nhanh nhẹn hẳn lên, hay tủm tỉm cời, hay trò chuyện, biết

lo xa tính toán và mu cầu hạnh phúc của gia đình

Nhng tình yêu và khát khao của Đức và Nhi, hai kẻ khốn cùng tủinhục ấy bị vùi dập phũ phàng bởi sự tàn nhẫn của ông Cửu Hoà, bởi thànhkiến, định kiến độc ác của những kẻ "ngứa mồm" Những quân "quân dôngdài" đã khiến họ phải chịu bao bao sự đày đoạ và tủi nhục Tình yêu bị li tán,khát khao hạnh phúc bị vỡ tan Nhi thì mất tích, Đức trở thành du côn tronglàng, phá phách nhà cửa và gây biết bao sự đau khổ, tủi nhục cho một ngời

bà gần nh trong cuộc đời còm cõi chỉ biết làm lụng nuôi con rồi nuôi cháu

Trong truyện "Làm tổ", Thai trở thành kẻ say rợu,say mê cờ bạc, bánmảnh vờn, trở thành kẻ làm thuê cuốc mớn Không có vợ con nhng tận trongsâu thẳm tâm hồn gã trai cờ bạc này vẫn khát khao "Thai nghĩ đến vợ, đến

đứa con nhỏ, đến những buổi tối cuả những mùa rét mớt, cái ổ rơm nóng ấm,

mẻ ngô rang thơm ngọt, tiếng trẻ em cời giòn" Trong con ngời này mongmuốn có một chốn đi về nh con chim có tổ "Cái khó bây giờ là làm sao có nhà" [4-324]

Vậy mà gia đình Thai phải rơi vào bi kịch của cái khó khăn giữa một

bên là gia đình,vợ chồng và một bên là nhà để ở

III Những phẩm chất tốt đẹp của ngời nông dân trong truyện ngắn Nam Cao

Khi xây dựng hình tợng ngời nông dân, Nam Cao không chỉ quan sát

ở bề ngoài,không miêu tả ở thái độ bề trên nhìn xuống, lạnh lùng, hời hợt mà

ông đã thấy đợc trong những con ngời chân chất,những bản tính hiền lành,cần cù … Vốn là bản chất của giai cấp nông dân

Hình tợng "Lão Hạc" trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao Trong

Ngày đăng: 18/12/2013, 20:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình tợng ngời nông dân trong - Hình tượng người nông dân trong truyện ngắn của nam cao
Hình t ợng ngời nông dân trong (Trang 1)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w