Trong những sáng tác nghệ thuật của Sơn Nam, hình tượng người nông dân khẩn hoang Nam Bộ là một hình tượng trung tâm, xuyên suốt, kết tinh tưtưởng sáng tạo của nhà văn.. Tìm hiểu, lí giả
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINHKHOA NGỮ VĂN
NGUYỄN THỊ AN
h×nh tîng ngêi n«ng d©n khÈn hoangtrong h¬ng rõng cµ mau cña s¬n nam
Trang 2KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
h×nh tîng ngêi n«ng d©n khÈn hoangtrong h¬ng rõng cµ mau cña s¬n nam
CHUYÊN NGÀNH: LÍ LUẬN VĂN HỌC
GV hướng dẫn : TS PHAN HUY DŨNG
Vinh, tháng 5 năm 2010
Trang 3Sinh viên
NguyÔn ThÞ An
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài……… 1
2 Lịch sử vấn đề……… 2
3 Đối tượng nghiên cứu 10
Trang 44 Nhiệm vụ nghiên cứu 10
5 Phương pháp nghiên cứu 11
6 Đóng góp của khoá luận 11
7 Cấu trúc của khoá luận 11
Chương 1 Tổng quan về hình tượng người nông dân trong văn xuôi Nam Bộ….12 1.1 Hình tượng người nông dân trong văn xuôi Nam Bộ từ đầu thế kỉ đến 1945……… 12
1.2 Hình tượng người nông dân trong văn xuôi Nam Bộ từ 1945 đến nay……… 16
1.3 Người nông dân với tư cách là đối tượng thẩm mĩ đặc sắc trong sáng tác của Sơn Nam 22
Chương 2 Người nông dân khẩn hoang dưới cái nhìn nghệ thuật của Sơn Nam trong Hương rừng Cà Mau……….25
2.1 Những con người nghĩa khí 25
2.2 Những con người tha thiết với cội nguồn 40
2.3 Những con người sống hoà đồng với môi trường 52
Chương 3 Những đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng hình tượng người nông dân khẩn hoang trong Hương rừng CàMau……… …… 62
3.1 Đặt nhân vật vào bối cảnh hoang dã đầy thử thách 62
3.2 Chú ý khắc hoạ ngôn ngữ mang đậm tính vùng miền của nhân vật 71
3.3 Dùng ngôn ngữ tự nhiên dân dã để kể về nhân vật……… 81
KẾT LUẬN 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Sơn Nam (1926- 2008) là một nhà văn lớn trong văn học Nam Bộ, ông
đã để lại một sự nghiệp trước tác đồ sộ trên nhiều lĩnh vực: biên khảo, văn họcnghệ thuật… Với khoảng 20 tác phẩm biên khảo, Sơn Nam được tôn danh là nhà
“Nam Bộ học”, là “pho từ điển sống về Nam Bộ”, là “nhà phong tục học”…Nhưng Sơn Nam vẫn nổi tiếng hơn cả với những truyện và ký Sơn Nam đã bộhành trên mảnh đất Nam Bộ, nhặt những “bụi vàng” của cuộc đời làm nên nhữngtác phẩm mà hôm nay chúng ta không khỏi ngạc nhiên khi khám phá chúng
Trang 6Ngoài các tiểu thuyết như: Bà chúa Hòn, xóm Bàu Láng…, các truyện vừa như:
Hình bóng cũ, Chuyện tình một người thường dân, Ngôi nhà mặt tiền…, Sơn
Nam đặc biệt thành công ở thể loại truyện ngắn Các tập truyện ngắn như Hương
rừng Cà Mau, Biển cỏ miền Tây… đã ghi dấu phong cách nghệ thuật của ông
Tuy nhiên, cho đến nay, những nghiên cứu về Sơn Nam chưa thật xứng vớitầm vóc văn học của ông Đây là lí do đầu tiên thúc đẩy chúng tôi tìm tới SơnNam, hi vọng làm được một điều gì đó bài bản hơn, công phu hơn về sáng táccủa nhà văn Nam Bộ này
1.2 Trong những sáng tác nghệ thuật của Sơn Nam, hình tượng người nông
dân khẩn hoang Nam Bộ là một hình tượng trung tâm, xuyên suốt, kết tinh tưtưởng sáng tạo của nhà văn Có thể nói Nguyễn Đình Chiểu là người mở đường
cho hình tượng người nông dân Nam Bộ đi vào văn học, với Văn tế nghĩa sĩ Cần
Giuộc Tiếp truyền thống đó là những Hồ Biểu Chánh, Phi Vân, Đoàn Giỏi,
Nguyễn Thi, Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng, Trang Thế Hy, Bình Nguyên Lộc,Nguyễn Mạnh Tuấn, Nguyễn Ngọc Tư… và dĩ nhiên cả Sơn Nam nữa Với SơnNam, người nông dân Nam Bộ là cái đích theo đuổi suốt đời của ông, bởi vì họ
là nhân vật chính trong “cuộc khẩn hoang trường kì và tự lực” ở miền Nam NhưSơn Nam từng tâm sự, “tôi định hướng ngay từ buổi đầu đến với nghề viết: viết
về cuộc khẩn hoang miền Nam Cả đời tôi đi theo định hướng đó…” và “cuộckhẩn hoang miền Nam là một cuộc khẩn hoang đặc biệt (…) những người đikhẩn hoang là những người nông dân chất phác ít chữ” [29] Trung thành với tâmniệm của mình, trong sáng tác của Sơn Nam, người nông dân khẩn hoang luôntrở thành hình tượng trung tâm và nổi bật
Tuy nhiên, như đã trình bày, Sơn Nam chưa được nghiên cứu nhiều, và vìvậy, hình tượng người nông dân khẩn hoang trong sáng tác của Sơn Nam dườngnhư vẫn chưa được chú ý Tìm hiểu, lí giải hình tượng thẩm mĩ trung tâm này, ta
sẽ hiểu hơn về người nông dân Nam Bộ trong văn học nói chung và trong sángtác của Sơn Nam nói riêng, đồng thời thông cảm hơn với những nhọc nhằn củacha ông thời kì mở đất, càng thêm yêu hơn mảnh đất Nam Bộ như một phần ruột
Trang 7thịt của Tổ Quốc Qua tìm hiểu những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ Nam Bộ, ta
có thêm tình yêu đối với văn học Nam Bộ như một mảng hương sắc và dư vịriêng của văn học Việt Nam
1.3 Sơn Nam là tác giả có tác phẩm được đưa vào giảng dạy trong chương
trình Ngữ Văn THPT (Lớp 12) với truyện ngắn Bắt sấu rừng U Minh hạ Đây là truyện ngắn rút từ tập truyện Hương rừng Cà Mau, một trong những truyện ngắn
tiêu biểu, ở đó nổi bật lên hình tượng người nông dân đầy nghĩa khí trong côngcuộc khẩn hoang tạo lập và phát triển cuộc sống ở vùng đất Nam Bộ Chúng tôi,với việc đi sâu tìm hiểu, lí giải hình tượng nghệ thuật này khi khảo sát các truyện
ngắn tiêu biểu trong bộ sách Hương Rừng Cà Mau, hi vọng sẽ góp phần hữu ích
vào việc tiếp cận một tác phẩm cụ thể trong nhà trường
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Khái niệm “khẩn hoang” được chính Sơn Nam dùng trong một công
trình biên khảo nổi tiếng của ông, đó là cuốn Lịch sử khẩn hoang miền Nam.
Trong cuốn biên khảo đó, Sơn Nam có giải thích rằng, “khẩn hoang ở đồng bằngsông Cửu Long là cuộc vận động lớn, toàn diện về quân sự, kinh tế, văn hoá.”[31] Nghĩa là khái niệm khẩn hoang ở đây không chỉ hiểu theo nghĩa hẹp, là sựkhẩn đất, khai hoang, nó được hiểu rộng hơn Quán triệt điều đó chính là cơ sở đểchúng tôi dùng thuật ngữ này khi đi vào tìm hiểu hình tượng trung tâm trong sángtác nghệ thuật của Sơn Nam -hình tượng người nông dân khẩn hoang
2.2 Sơn Nam là nhà văn tắm mình suốt cuộc đời trong hương sắc Cà Mau,
trong miền sông nước Cửu Long Năm 1954, sau hiệp định Giơnevơ, Sơn Nam ởlại với mảnh đất quê nhà Nam Bộ chứ không tập kết ra Bắc Đó là một may mắnđối với văn học miền Nam Cả một cuộc đời gắn bó trên mảnh đất này, người conđất Nam Bộ ấy, lặng lẽ dùng văn chương, làm một công việc “thấm thía ngànnăm” [42] như Sơn Nam từng nói, đó là đưa Nam Bộ vào nghệ thuật
Những nghiên cứu về Sơn Nam chủ yếu xoay quanh các mặt như: tiểu sử, cátính, nhân cách nhà văn, quan niệm sống và viết của nhà văn, phong cách nghệ
Trang 8thuật của nhà văn,… Đặc biệt là việc nhấn mạnh chất Nam Bộ trong con người
và văn chương Sơn Nam
Theo tài liệu chúng tôi tìm được trên các trang báo điện tử, đã có khá nhiềubài viết về Sơn Nam được đăng tải, song nhìn chung chúng còn đầy tính tản mạn,không đi sâu vào những khía cạnh văn học cụ thể ở sáng tác của Sơn Nam.Những bài tiêu biểu, đáng chú ý nhất là:
1 Nhà văn Sơn Nam, nhà Nam bộ học (Huỳnh Công Tín)
2 Sơn Nam người của nhiều thời (N.A Đ)
3 Nhà văn, nhà nghiên cứu văn hóa Sơn Nam (M.T ghi)
4 Sơn Nam,Việt Nam (Đặng Tiến)
5 Sơn Nam, nhà văn, nhà khảo cứu văn hoá (Ngô Hà)
6 Vĩnh biệt nhà văn Sơn Nam (Chu Văn Sơn)
(…)
Nhìn nhận và khám phá một nhà văn dưới góc độ văn hoá là một xu hướngtiếp cận hợp lí, đầy triển vọng Trong sáng tác của mỗi nhà văn, vốn văn hoá củaanh ta sẽ thể hiện rõ trên trang viết Văn hoá của nhà văn chính là tiềm năng tạonên sự lịch lãm, tạo nên một chiều sâu trong sáng tác nghệ thuật của họ Cácnghiên cứu đều khẳng định rằng, chính sự am hiểu đời sống văn hoá Nam Bộgiúp Sơn Nam có những trang viết đậm đà, thấm thía về cuộc sống con người nơiđây Đọc Sơn Nam, độc giả thấy được những nét độc đáo của văn hoá Nam Bộ,xúc động cao đẹp trước tình người ấm áp trong cuộc khẩn hoang gian khổ… Tất
cả những điều này đều được lí giải một phần từ vốn văn hoá địa phương trongnghệ sĩ Sơn Nam
Văn hoá Nam Bộ trong sáng tác của Sơn Nam theo ông là gì? Chính SơnNam đã khẳng định “tôi vẫn cho rằng nông dân là ngưới sáng tạo ra văn hoá, mộtnền văn hoá truyền thống phong phú đa dạng” [17] Đó chính là nguồn văn hóagiàu sức sống nhất, bền bỉ âm thầm nhưng mãnh liệt Davin Hunt, một nhà sửhọc tâm niệm “cuộc sống hằng ngày của những người nông dân chính là văn hoá.Không có cuộc chiến tranh nào huỷ diệt được văn hoá Và văn hoá tồn tại trong
Trang 9chính mỗi con người bình dị nhất” Đó là lí do khiến Sơn Nam đi tìm văn hoátrong đời sống tâm hồn của những con người bình dị trong bối cảnh cuộc khẩnhoang miền Nam đầy thử thách Sức sống của tác phẩm Sơn Nam bén rễ từ đó Nhìn chung, những bài viết về về Sơn Nam đã đề cập đến nhiều khía cạnhxung quanh tác giả này như: cuộc đời, phong cách, vốn văn hoá, nhân cách, tácphẩm…tuy nhiên đang ở mức độ tư liệu, liệt kê, cảm thụ, chưa có một cái nhìncông phu và bài bản Chúng tôi, nghiên cứu Sơn Nam với tư cách là một nhà văn,người nghệ sĩ ngôn từ đã khắc chạm nên một hình tượng văn học lớn và độc đáo:hình tượng những người nông dân khẩn hoang Nam Bộ Và như đã nói những bàiviết, những hướng nghiên cứu trên là tư liệu cần thiết để chúng tôi có một cáinhìn toàn diện hơn khi nghiên cứu
2.3 Hương rừng Cà Mau là tập truyện ngắn xuất sắc nhất của Sơn Nam, và
như ông từng tâm sự, đó chính là sáng tạo tâm đắc nhất của ông [33] Tập truyệnđược viết trong khoảng thời gian từ năm 1954-1959, khi nhà văn từ chiến khu trở
về Sài Gòn, và được in vào năm 1962 do NXB Phù Sa ấn hành Tập truyện đượcviết ra từ “kí ức quê nhà mãi mãi không bao giờ phai nhạt” [55] trong tâm thứcSơn Nam Tập truyện ra đời trong lòng đô thị dưới chế độ Sài Gòn đang kiểmduyệt rất gắt gao, vì thế Sơn Nam đã dùng đề tài lịch sử “gợi lên trong lòng ngườihào khí của thời khai hoang, mở đất, chống Pháp” [17], để gửi gắm tư tưởng Lúc
đầu, tập truyện Hương rừng Cà Mau gồm 18 truyện ngắn, hiện nay, NXB Trẻ
TP HCM đã xuất bản bộ sách mang tên Hương rừng Cà Mau với 3 tập, tập hợp
những sáng tác truyện ngắn xuất sắc của Sơn Nam ra đời trong thời kì này (gồm
cả 18 truyện ngắn trong tập Hương rừng Cà Mau trước đó) Những truyện ngắn
này hầu hết lấy đề tài về cuộc khẩn hoang Nam Bộ những năm 1939- 1940, là sựthể hiện cô đọng lịch sử một miền đất bằng nghệ thuật Đây là phạm vi khảo sátcủa chúng tôi trong công trình này
Nhiều nghiên cứu về Hương rừng Cà Mau (18 truyện nói riêng và bộ sách
nói chung) đã được đăng rải rác trên các báo điện tử:
1 Tạ Tỵ, Sơn Nam hơi thở của miền Nam nước Việt
Trang 102 Trần Phỏng Diều, Hình tượng sông rạch trong truyện ngắn Sơn Nam
3 Đinh Từ Bích Thuý, Sơn Nam xuyên bờ: “Tình nghĩa giáo khoa thư”
4 Phan Hoàng, Mãi mãi sừng sững một ngọn núi của văn học phương Nam
5 Nguyễn Mạnh Trinh, Sơn Nam, “ông già Ba Tri” của đồng bằng Nam Bộ
6 Minh Nguyệt, Vùng đất Nam Bộ trong văn xuôi Sơn Nam
(…)
Đặc điểm chung của những bài viết trên về Hương rừng Cà Mau là ít đi sâu vào một vấn đề cụ thể nào Hầu hết những bài viết này đều lấy Hương rừng Cà
Mau như một đỉnh cao để đánh giá phong cách nghệ thuật của nhà văn Sơn Nam.
Bài nghiên cứu về Sơn Nam và Hương rừng Cà Mau của Tạ Tỵ (1970) đã đề cập
các vấn đề như hình tượng nhân vật trong truyện ngắn, giọng văn, cảm hứng hoài
cổ, tinh thần khẩn hoang trong các tác phẩm của Sơn Nam… Tuy nhiên bài viếtchỉ dừng lại ở những đánh giá ban đầu, chưa có hệ thống và sự lí giải thấu đáo
Bài viết của Nguyễn Mạnh Trinh đã đề cập phong vị độc đáo của Hương
rừng Cà Mau ở không gian hoài niệm, huyền thoại, phong vị cổ tích, nhân vật là
những “dị nhân” trong đời thường, đến cái tình người khẩn hoang trong câu hòcủa con Bảy đưa đò…
Có thể thấy rằng, bằng cách này hay cách khác, hai bài viết trên đã đề cậphình tượng những nhân vật khẩn hoang Nam Bộ “Sơn Nam dẫn dắt chúng ta quatác phẩm để tìm lại sức sống, một sức sống tiềm tàng, phong phú của những conngười coi nhẹ gian lao, cực khổ, khinh cái chết, trọng tiết tháo và giàu lòng nhân
từ trong buổi đầu đi tìm đất mới” [58]
Trần Phỏng Diều tiếp cận tác phẩm của Sơn Nam ở một vấn đề cụ thể, đó làkhông gian nghệ thuật trong truyện ngắn Sơn Nam - không gian sông rạch.Không gian sông rạch trở thành bối cảnh để con người khẩn hoang thể hiện sựứng xử của mình với tự nhiên Đây là một cách nhìn có cơ sở Theo tác giả, trongkhông gian đó, con người hoà mình với thiên nhiên, để am hiểu thiên nhiên, đểtồn tại, sinh nhai trong buổi đầu khai hoang đầy gian khó Bên cạnh không giansống, sông nước còn là không gian văn hoá, những điệu hò, những đêm hát bội,
Trang 11từ đó giúp ta hiểu thêm tâm hồn của cha ông trong những ngày đầu tìm đườngsống Mặc dù người viết chưa đi đến khái quát, không gian này chính là một bốicảnh được tạo ra nhằm khắc hoạ cuộc sống của những người dân khẩn hoangnhưng bài viết đã nhìn thấy không gian sinh tồn, không gian văn hoá vốn rất đặc
trưng trong Hương rừng Cà Mau Đây là một gợi ý cho chúng tôi khi đi vào khai
thác nghệ thuật xây dựng hình tượng độc đáo trong truyện ngắn Sơn Nam
Các bài viết khác có những cách tiếp cận riêng về Hương rừng Cà Mau dưới
các góc độ như văn hoá, ngôn ngữ …
Nhìn chung, các bài viết, dưới hình thức này hay hình thức khác đều có đềcập đến hình tượng những người dân khẩn hoang, một hình tượng trung tâmkhông thể không nói đến trong sáng tác của Sơn Nam Mặc dù hạn chế củanhững bài viết là đang ở dạng tản mạn, chưa tập trung xoáy sâu vào vấn đề cụ thểnào song đó là những tư liệu cần thiết Công trình của chúng tôi đi thẳng vào vấn
đề hình tượng người nông dân khẩn hoang trong Hương rừng Cà Mau, và cố
gắng xác lập một cái nhìn hệ thồng và bài bản hơn về hình tượng nghệ thuật này
2.4 Như chúng tôi đã trình bày ở trên, hình tượng người nông dân nói chung
và người nông dân Nam Bộ nói riêng trở thành một hình tượng nghệ thuật lớntrong văn học Người nông dân Nam Bộ trong văn học luôn mang trong mình vẻđẹp riêng, vẻ đẹp của những con người sống bên dòng phù sa của sông nước CửuLong Từ các sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Biểu Chánh, đến Phi Vân,Anh Đức, Nguyễn Thi, Nguyễn Quang Sáng, đến Bình Nguyên Lộc, Trang Thế
Hy, Sơn Nam… người nông dân Nam Bộ luôn trở thành một hình tượng thẫm
mĩ đầy cảm hứng
Vì lẽ đó, những nghiên cứu về hình tượng người nông dân Nam Bộ xuất
hiện khá nhiều Chẳng hạn Tính cách người nông dân Nam Bộ trong sáng tác Hồ
Biểu Chánh (Tạp chí khoa học ĐH Cần Thơ, 2009), Cái nhìn của Hồ Biểu Chánh về người nông dân Nam Bộ (Huỳnh Thị Lan Phương)… Ngoài ra những
nghiên cứu về Phi Vân, Trang Thế Hy…, đều hướng tới khám phá hình tượng
người nông dân Nam Bộ Trần Hữu Dũng trong bài viết Phi Vân – nhà văn đồng
Trang 12quê rặt ròng Nam Bộ đã nhìn thấy hình tượng người nông dân trong “cuộc vật
lộn quyết liệt và dũng cảm của họ với thiên nhiên”, nổi bật trong phóng sự Đồng
quê… Trần Hữu Tá trong bài viết Đọc Trang Thế Hy cũng đã chỉ ra một đặc
trưng của hình tượng người nông dân Nam Bộ trong văn ông, đó là những conngười thô mộc nhưng cương trực, thẳng ngay, nghĩa khí, “đang quay cuồng rỉmáu ngày ngày dưới tội ác của thế lực ngoại xâm”… Nguyễn Mạnh Trinh sosánh Bình Nguyên Lộc và Sơn Nam… Những bài viết về hình tượng người nôngdân Nam Bộ đã có những phát hiện đáng kể Nhưng cũng từ đó để thấy trongcảm nhận và tâm thức của từng nhà văn, con người hiện lên không giống nhau,người nông dân Nam Bộ sống dậy bằng những trải nghiệm và cách thể hiện riêngcủa mỗi nhà văn Đó cũng là lí do mà chúng tôi đi vào tiếp cận hình tượng thẩm
mĩ này trong sáng tác của Sơn Nam, mục đích nhận thức và lí giải những độc đáotrong cảm nhận và cách thể hiện của Sơn Nam về con người Nam Bộ
Trong bài viết của Tạ Tỵ, người viết có nói đến hình tượng những con ngườicủa quá khứ, của dĩ vãng mà chúng ta “viết tên họ trong cuộc đấu tranh của dântộc”, Sơn Nam đã đưa họ “sống lại trong văn chương”.Thực chất, họ là nhữngbậc tiền nhân trong cuộc đấu tranh giữ đất, mở đất, tạo dựng nên miền Nam ngàyhôm nay Bài viết tiếp cận những con người khẩn hoang trong tác phẩm của SơnNam từ những phẩm chất tính cách nổi bật của họ, đó là tình thương đồng loại
“trong cảnh sống cơ cực của bước đầu khai phá, những con người thương mếnnhau qua hoạn nạn, cùng cảm thông với nỗi cơ cực bần hàn”, những con ngườinhiều khi phải dùng luật sống để dành lấy miếng cơm manh áo, những người xa
xứ tha thiết với cố hương “Sơn Nam đã dùng văn chương để gửi gắm nỗi khắckhoải, nỗi nhớ quê cha đất mẹ”, những con người căm thù giặc Pháp, sống sòngphẳng ơn trả nghĩa đền… Đây là nghiên cứu vào loại đầu tiên về Sơn Nam, dướicách này hay cách khác, hình tượng con người trong tác phẩm Sơn Nam được Tạ
Tỵ tiếp cận đúng mạch chủ lưu đó là hình tượng những con người khẩn hoangNam Bộ Tuy nhiên hạn chế của bài viết là thiếu sự lí giải và hệ thống cần thiết,bài viết vì thế vẫn đang ở dạng tản mạn khi tiếp cận tác phẩm của Sơn Nam
Trang 13Những bài viết khác, từ những góc độ khác nhau đều hướng đến khám pháhình tượng con người trong sáng tác của Sơn Nam Huỳnh Công Tín, trong việctiếp cận Sơn Nam với tư cách nhà văn, nhà văn hoá Nam Bộ đã đưa ra một luậnđiểm hình tượng con người được khắc hoạ trong tác phẩm Sơn Nam Đó lànhững con người mộc mạc, bộc trực chân thành hào hiệp, những con người khẩnhoang hiên ngang đẹp đẽ Người viết đã đi vào ngôn ngữ của nhân vật để khámphá tính cách Nam Bộ “ngôn ngữ nhân vật trong truyện Sơn Nam là ngôn ngữthường nhật của người Nam Bộ, nó thể hiện tính cách và tâm lí ứng xử của ngườiNam Bộ”, đây cũng là một khám phá hợp lí, nhất là đối với nhân vật của SơnNam Một hướng tiếp cận khác đó là đi vào hình tượng không gian nghệ thuật -không gian sông nước - để khắc hoạ tính cách của nhân vật trong bài viết của tácgiả Trần Phỏng Diều (chúng tôi đã trình bày ở trên) Qua không gian đó, conngười khẩn hoang nổi bật lên với tâm thế sống và ứng xử với thiên nhiên, thểhiện bản lĩnh của con người trong những buổi đầu lập ấp khai hoang để sinhsống Mỗi bài viết tiếp cận ở những khía cạnh khác nhau, tuy chưa đầy đủ, nhưng
đó là những hướng đi mà chúng tôi có thể tham khảo và gợi ra những ý tưởng Bài viết của tác giả Phan Hoàng “Mãi mãi sừng sững một ngọn núi văn họcphương Nam” đã khẳng định Sơn Nam là nhà văn luôn hướng về người nôngdân, bởi vì đó là cách Sơn Nam “giữ gìn và bảo lưu văn hoá truyền thống” Điều
đó cho thấy, hình tượng người nông dân khẩn hoang trở thành một hình tượngnổi bật trong sáng tác của nhà văn Nam Bộ này Và trong bài phát biểu trả lời
phỏng vấn, Sơn Nam cũng đã khẳng định, “Hương rừng Cà Mau (…) gợi lên
trong lòng người hào khí thời khai hoang mở đất, chống Pháp”, điều này đượcthể hiện sinh động và cảm động trong hình tượng những người nông dân khẩnhoang
Gần đây nhất, bài viết của tác giả Phan Huy Dũng trích trong “Tác phẩm văn
học trong nhà trường, một góc nhìn, một cách đọc” với tựa đề : “Bắt sấu rừng U
Minh hạ - câu chuyện về những con người khẩn hoang giàu nghĩa khí” đã tập
trung đi sâu vào hình tượng trung tâm là những người nông dân khẩn hoang Nam
Trang 14Bộ Bài viết tuy chỉ dừng lại ở một truyện ngắn cụ thể nhưng với việc tiếp cậntrên văn bản tác phẩm và việc khai thác từ hình tượng thẩm mĩ trung tâm, bài viết
đã kết dính được chỉnh thể các yếu tố xung quanh tác phẩm, tạo nên một cái nhìnthuyết phục Bài viết đã gợi ra những ý tưởng và hướng đi cho chúng tôi khi khảo
sát tiếp cận hình tượng trên toàn bộ tập Hương rừng Cà Mau.
Điểm qua những bài viết có liên quan đến Sơn Nam, Hương rừng Cà Mau
và cụ thể hơn là hình tượng người nông dân khẩn hoang trong truyện ngắn củanhà văn Nam Bộ này, có những điều phát hiện, những điều chưa làm được Nhìnchung là thiếu sự kháo sát thực tế tác phẩm, thiếu cái nhìn toàn diện, chủ yếuđang ở dạng giới thiệu, tản mạn, bình tán… Tuy nhiên, đó cũng là những gợi ý,những tư liệu để chúng tôi có những cơ sở lí giải và tiếp cận, hi vọng bài bản,công phu hơn
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: hình tượng người nông dân khẩn hoang
trong bộ sách Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam.
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Trình bày cái nhìn bao quát về về hình tượng người nông dân trong vănxuôi Nam Bộ
- Phân tích những đặc điểm của hình tượng người nông dân khẩn hoang
Nam Bộ được nhận thức, thể hiện trong Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam.
- Tìm hiểu nghệ thuật xây dựng hình tượng người nông dân trong khẩn
hoang trong Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam.
5 Phương pháp nghiên cứu
Kết hợp các phương pháp như: phương pháp phân loại, phân tích, tổng hợp,phương pháp so sánh, phương pháp hệ thống…
Trang 156 Đóng góp của khoá luận
- Xác lập một cách nhìn toàn diện và có hệ thống về hình tượng người nôngdân khẩn hoang trong truyện ngắn Sơn Nam
- Góp một cách nhìn, một hướng tiếp cận những giá trị của các tác phẩmnghệ thuật của Sơn Nam, từ đó, đưa tác giả đến gần hơn với bạn đọc
7 Cấu trúc của khoá luận
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của
khoá luận văn được triển khai trong 3 chương:
Chương 1 Tổng quan về hình tượng người nông dân trong văn xuôi NamBộ
Chương 2 Người nông dân khẩn hoang dưới cái nhìn nghệ thuật của Sơn
Nam trong Hương rừng Cà Mau.
Chương 3 Những đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng hình tượng người nông
dân khẩn hoang ở Hương rừng Cà Mau.
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ HÌNH TƯỢNG NGƯỜI NÔNG DÂN
TRONG VĂN XUÔI NAM BỘ
Người nông dân Nam Bộ đã đi vào văn học trở thành những hình tượngnghệ thuật sinh động từ văn học dân gian, văn học trung đại Tuy nhiên trong giới
Trang 16hạn khảo sát văn xuôi hiện đại, chúng tôi chỉ điểm qua về hình tượng người nôngdân xuất hiện trong văn xuôi từ đầu thế kỉ XX.
1.1 Hình tượng người nông dân trong văn xuôi Nam Bộ từ đầu thế
kỉ XX- 1945
Văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX- 1945 là một giai đoạn văn học đặcbiệt gắn với những thành tựu của hiện đại hoá văn học, kế thừa những thành tựucủa văn học trung đại và chuyển giao sang một thời kì văn học mới gắn với thipháp mới, gọi là thi pháp hiện đại Đó là bước đi tất yếu đáp ứng nhu cầu xã hội
và thực tế văn học Văn học giai đoạn này đạt được nhiều thành tựu, hiện đại hoátrên nhiều phương diện trong đó phải kể đến sự hiện đại hoá thể loại Các thể loạivăn xuôi được xem là đột phá “ Trên văn đàn truyện ngắn và tiểu thuyết đã gây
ra một không khí nhộn nhịp” [11, 219] Đó là hai thể loại văn xuôi đóng vai trò lànhân vật chính trên văn đàn hiện đại
Tiếp nhận hiện thực mới sớm hơn, văn xuôi Nam Bộ mở đầu cho sự đổimới, hiện đại hoá thể loại Những tác phẩm văn xuôi quốc ngữ mở đầu, đánh dấu
sự ra đời của văn xuôi hiện đại đó là : Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi (Trương Vĩnh Kí), Thầy Lazaro Phiền (Nguyễn Trọng Quản) Đó là những bước đáng trân
trọng của văn xuôi Nam Bộ thời kỳ đầu Vượt qua sự khởi đầu non nớt, Hồ BiểuChánh đã lấp khoảng chân không của văn xuôi Nam Bộ bằng một loạt thành tựutrên các thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết… Và đến những năm 40, cùng sựxuất hiện của tác giả Phi Vân với thể loại phóng sự, văn xuôi Nam Bộ đã có sựphong phú nhất định về mặt thể loại
Người nông dân Nam Bộ đi vào văn học, được nhìn nhận với tư cách lànhững đối tượng thẩm mĩ trong văn học, bởi vậy, từ những con người xã hộibước vào nghệ thuật qua sự nhận thức của nhà văn, trở thành những hình tượngsinh động, chân thực, ám ảnh Trong sáng tác của Hồ Biểu Chánh, bên cạnh đềtài thành thị, ông còn được coi là “nhà văn của nông dân Nam Bộ” (Trần HữuTá)
Trang 17Đi vào tác phẩm của Hồ Biểu Chánh, người đọc thường bắt gặp cuộcsống của những người nông dân Nam Bộ nghèo khổ dưới sự bóc lột của thực dânphong kiến mà cụ thể là bọn nhà giàu ở nông thôn Tuy nhiên, từ trong cuộcsống nghèo khổ tủi nhục của người nông dân Nam Bộ, Hồ Biểu Chánh đã nhìnthấy vẻ đẹp tính cách tâm hồn của họ, của những con người trong cuộc sống đóluôn bằng mọi cách dành lấy sự sống.
Tính cách nổi bật của người nông dân Nam Bộ trong tác phẩm của HồBiểu Chánh đó là trọng nghĩa khinh tài Ông đã xây dựng thế giới những conngười Nam Bộ ngày nay phảng phất những Lục Vân Tiên “ kiến nghĩa bất vi vôdõng giả” Tính cách của người nông dân Nam Bộ hiện lên qua những nhân vật
như Lê Văn Đó (Ngọn cỏ gió đùa), Ba Thời (Cay đắng mùi đời), hưong sư Cu (Con nhà nghèo).… Họ vì nghĩa mà không màng lợi lộc không đòi hỏi đền đáp,
thậm chí chấp nhận những thiệt thòi sống hết mình vì nghĩa “qua rửa nhục cho
em mà qua ở tù thì qua vui lòng lắm” (Con nhà nghèo) Cái nghĩa của người
nông dân Nam Bộ trong sáng tác của Hồ Biểu Chánh không chỉ thể hiện đúngbản chất của con người miền Nam mà còn thể hiện rõ quan niệm của ông “nếusống vì nghĩa vì tình con người có thể làm được tất cả” (Vì nghĩa vì tình) Tinhthần đạo nghĩa trong tác phẩm của ông thoát khỏi khái niệm trừu tượng của Nhogiáo, đi vào đời sống của con người chân thực và cảm động Cái nghĩa ở đâykhông chỉ dừng lại trong mỗi con người mà ở Hồ Biểu Chánh bắt đầu hé lộ mộtphương diện mới, nghĩa với tất cả những gì gắn bó trong cuộc sống của họ
Người nông dân Nam Bộ trong sáng tác của Hồ Biểu Chánh còn đượckhắc hoạ thông qua lối sống còn đầy hoang dã chất phác trên sông nước kênhrạch với sự hoà hợp với thiên nhiên Từ cách sinh hoạt nói năng… đều đơn giảntựa như thủa con người mới bắt đầu bước ra cuộc sống Người ta sống bằng tìnhcảm thật tự nhiên ít toan tính, cần cù nhẫn nại mưu toan sự sống, dường như, nhàvăn đã “lọc họ ra khỏi những ảnh hưỏng xô bồ của cuộc sống mà văn hoáphương Tây đang ồ ạt tràn vào khiến con người bị choáng ngợp trước cái mới”[18] Qua giọng văn “trơn tuột như lời nói thường” [1, 107] Hồ Biểu Chánh đã
Trang 18thể hiện được cái giản dị, chân thật, tự nhiên trong đời sống của người nông dânNam Bộ.
Viết về người nông dân Nam Bộ, nhà văn Hồ Biểu Chánh thể hiện mộtcái nhìn thông cảm, yêu thương đối với cuộc sống nghèo khổ nhiều sự áp bức, vàtrân trọng những phẩm chất cao đẹp đáng quý của họ Bằng lối văn chương đạo
lý, nhà văn luôn tìm ra cho nhân vật yêu thương của mình một lối thoát “ở hiềngặp lành” Điều này đã giúp tác phẩm của ông gần với con người, gần với ngườinông dân “ hiền lành ít chữ ”, tạo nên sức hấp dẫn riêng cho người đọc Hìnhtượng người nông dân Nam Bộ và văn xuôi Hồ Biểu Chánh xứng đáng là thànhtựu lớn nhất của văn xuôi Nam Bộ nói riêng và văn học Việt Nam đầu thế kỷ
XX Với hình tượng nghệ thuật đó, Hồ Biểu Chánh được coi là “ nhà văn củangười nông dân Nam Bộ, của lòng mong muốn xác lập mặt bằng nhân ái chocuộc sống hàng ngày” [40] Hồ Biểu Chánh đứng ở vị trí tiếp sức cho truyềnthống văn xuôi Nam Bộ, “tránh bước vào thế chân không”, đặc biệt, tạo bướcchuyển tiếp đáng ghi nhận cho văn xuôi Nam Bộ ở thể loại tiểu thuyết
Có thể nói, sự xuất hiện của người nông dân Nam Bộ trong sáng tác của
Hồ Biểu Chánh là một cơ may đáng quý khi văn học Nam Bộ giai đoạn này ítthành tựu và người nông dân ít đi vào văn học Mãi đến những năm 40, ngườinông dân Nam Bộ mới thực sự một lần nữa bước vào văn học với các sáng tác
của nhà văn Phi Vân Qua các tác phẩm như Đồng quê, Dân quê, Tình quê, Cô
gái quê… cảnh sắc và con người Nam Bộ được hiện lên sắc nét, chân thực Hiện
thực cuộc sống Nam Bộ với những người “nông dân chất phác, cục mịch sốngvới tập tục cổ hủ, lạc hậu, cuộc sống cực nhọc tối tăm miệt Hậu Giang, rừng UMinh khiến người đọc chạnh lòng thương xót “[8] Ta thương xót trước cảnhsống “miên man”, “thui thủi với bóng tối” [8] của số phận những người nông dân
như Sáu Bội (Đồng quê) vì bị bóc lột bởi các thế lực phong kiến, ta càng tri ân
công lao của cha ông trong những ngày khai phá, dành giật sự sống cho hômnay Với thành công đặc biệt ở thể loại phóng sự, phóng sự tiểu thuyết, tác phẩmcủa Phi Vân đem lại một dấu hỏi khẩn thiết về số phận của những người nông
Trang 19dân, về “những vấn nạn lớn cần phải gấp rút giải quyết cho nông thôn miềnNam” [8] Bên cạnh đó, nhiều người còn đặt Phi Vân bên cạnh Tô Hoài để nhìnnhận những sáng tác hướng về phong tục của nhà văn Nam Bộ này Điều đó hoàntoàn có cơ sở, đến với tác phẩm của Phi Vân, ta còn có thêm hiểu biết về tậpquán, phong tục của người dân thôn quê bên hàng dừa nứoc âm u văng vẳnggiọng hò trầm bổng…
Mỗi nhà văn một cách nhìn và một thế giới nghệ thuật riêng, song nhìnchung, người nông dân Nam bộ trong văn xuôi trước 1945 hiện lên trong cuộcsống lam lũ, trong sự vật lộn sinh tồn, vẫn luôn toát lên vẻ đẹp rất riêng, rất Nam
Bộ Những người nghệ sĩ đó đã có công đưa vào văn học hình tượng những conngười nhỏ bé, thủa hoang sơ lạc hậu và tìm thấy vẻ đẹp, sức hấp dẫn riêng của
nó Thời gian này, ở văn xuôi miền Bắc ta nghe tiếng kêu thương đau đớn củaChí Phèo, không khí ngột ngạt căng thẳng của xã hội Việt Nam trước 1945 trongtác phẩm của Nam Cao, Ngô Tất Tố… Có thể thấy người nông dân trở thành mộthình tượng độc đáo và thành công của nhiều nhà văn miền Bắc Cũng có thể nóinhư thế với văn xuôi miền Nam Cũng trong bối cảnh chung của xã hội ViệtNam, tuy nhiên, theo một dòng chảy khác, Hồ Biểu Chánh đặt và giải quyết sốphận của người nông dân trong đạo lý dân gian “ở hiền gặp lành”, và Phi Vânhướng nhiều hơn về phong tục Đó cũng là một đặc thù của văn học miền Nam
1.2 Hình tượng người nông dân trong văn xuôi Nam Bộ từ 1945 đến nay
1.2.1 Giai đoạn 1945- 1975
Văn học Việt Nam 1945 – 1975 phát triển trong bối cảnh đất nước bị cắtchia Trong tiến trình văn học đặc biệt này, văn học miền Nam phát triển đa dạng
và phức tạp hơn Văn học miền Nam bao gồm hai bộ phận: văn học của các chiến
sĩ giải phóng, các nhà văn đồng thời là những chiến sĩ cách mạng chẳng hạn :Nguyễn Văn Bổng, Anh Đức, Nguyễn Thi, Đoàn Giỏi, Nguyễn Quang Sáng, …,
Trang 20thứ hai là dòng văn học trong lòng đô thị miền Nam với những tác giả nổi lênnhư: Bình Nguyên Lộc, Trang Thế Hy, Sơn Nam, …
Trong văn xuôi giải phóng, người nông dân được nhìn nhận là những anhhùng, vô danh, nhưng sục sôi tinh thần yêu nước và ý chí cách mạng Trần Hiếu
Minh trong tập bút ký nổi tiếng Cửu Long cuộn sóng đã mô tả hình ảnh những
người nông dân quật khởi, từ những đứa trẻ đến những người phụ nữ Nhà vănkhông chỉ xây dựng nên hình tượng người nông dân Nam Bộ bất khuất kiêncường, dũng cảm hy sinh, mà còn phản ánh mảng hiện thực rộng lớn, phức tạpcủa cuộc sống của họ dưới ách kìm kẹp của địch Trong thực tiễn ác liệt đó,những Chín Kiên, ông Sáu Già, má Tám, út Hảo… đã bộc lộ một lòng yêu nướcmãnh liệt Điều này được Nguyễn Văn Bổng khắc chạm trong hình tượng nghệ
thuật về người nông dân Nam Bộ qua tiểu thuyết Rừng U Minh Cũng hướng đến
đối tượng này, nhà văn Anh Đức đã đi sâu vào số phận của họ trong mối quan hệvới số phận đất nước những năm tháng cách mạng ác liệt Họ hiện lên với nhữngmất mát, đau khổ, nhưng điều toát lên ở họ lại là một tinh thần yêu nước, tận tuỵvới cách mạng Từ những người đầu tiên “đi khai phá rừng tràm đầy chim chócnày để sinh sống” [2, 317] như ông Tư - ông lão vườn chim, đến các thế hệ contrai, con dâu…, tất cả những người trong gia đình ông đều đi theo cách mạng.Nhà văn đã xây dựng nên một hình tượng nghệ thuật cảm động về người nôngdân Nam Bộ qua hình tượng ông lão vườn chim Trong không gian vườn chimđặc trưng đó, có một ông lão chở che cho cách mạng, một người cha chứng kiến
sự hi sinh của những đứa con ông, và một tấm lòng trong giấc mơ bình dị vàthanh thản Trong giấc mơ của người nông dân già này, hạnh phúc gia đình vàđất nước hoà quyện một cách cao đẹp, “người ta thấy hiện rõ những nét mặt
thanh thản đang cười” [2, 317] Không chỉ trong Giấc mơ của ông lão vườn chim,
nhiều tác phẩm khác của Anh Đức đã thể hiện sinh động người nông dân Nam
Bộ, đó là anh thợ lò Năm Căn, “hoà máu trên dòng kênh bình thường của sự
sống” (Bức thư Cà Mau), là người phụ nữ dũng cảm như chị Sứ, má Sáu, út
Quyên… yêu nước theo lối bộc trực thẳng thắn của người Nam Bộ Với nhà văn
Trang 21Nguyễn Thi, người nông dân trong kháng chiến đẹp như “cổ tích giữa đờithường” [2, 488] Người đọc cảm nhận được tinh thần “còn một cái lai quần cũng
đánh” (Người mẹ cầm súng) với hình ảnh chị Út miệng bỏm bẻm nhai trầu, mang
bầu vẫn đánh giặc giỏi, cảm nhận được truyền thống của gia đình chị em Việt,
Chiến qua cuốn sổ ghi thành tích đánh giặc (Những đứa con người trong gia
đình) Trong văn học kháng chiến, hoà trong nét chung của văn học dân tộc, văn
xuôi Nam Bộ thể hiện hình ảnh con người mang sức sống riêng, gần gũi với đờisống, chân chất, bộc trực và giản dị Họ là những con người giữa đời thườngđánh giặc, không là thánh Cũng hướng đến thể hiện người nông dân Nam Bộtrong cuộc kháng chiến oanh liệt, nhà văn Nguyễn Quang Sáng, theo một cáchriêng, phát hiện ở những người nông dân một tâm hồn sôi nổi, đầy chất nhân văn
Các nhân vật : anh Ba Hoành (Quán rượu người câm), anh Sáu, Thu (Chiếc lược
ngà)… là sự thể hiện đáng quý về con người nông dân chiến sĩ và chất đời
thường, về những mối quan hệ trong đời thường
Có thể nhận thấy rằng, văn xuôi 1945 - 1975 với đóng góp của các nhà vănchiến sĩ, người nông dân Nam Bộ được nhìn nhận dưới một tư cách mới - nhữngngười chiến sĩ, yêu nước theo lối riêng của con người Nam Bộ
Trong giai đoạn văn học này, văn học Nam Bộ còn có mảng văn xuôi sángtác trong lòng đô thị miền Nam Nhiều nhà văn không hướng vào đề tài chiếntranh cách mạng mà quay về với cội nguồn, phong tục, với cuộc sống sinh hoạtcủa người nông dân Nam Bộ trong sự hoà hợp với thiên nhiên…, từ đó kín đáothể hiện lòng yêu nước Đó là “một dòng riêng biệt vào những vùng đề tài chưađược khai phá trong văn học Việt Nam thời hậu thuộc địa: tìm kiếm và tái tạo cộinguồn văn hoá, căn cước dân tộc và đặc sắc ngôn ngữ” [23]
Bình Nguyên Lộc được xem là nhà văn có số lượng sáng tác nhiều trongvăn học đô thị miền Nam Người nông dân với tư cách là đối tượng nghệ thuậttrong sáng tác của Bình Nguyên Lộc hiện lên với tấm lòng tha thiết với quêhương nguồn cội Nhân vật là những con người sống ở thành phố nhưng không
quên nguồn gốc của mình, nhớ đất, nhớ mùi vị quê hương (Thèm mùi đất) Đây
Trang 22cũng là cảm hứng cao đẹp có ý nghĩa, nhất là trong hoàn cảnh sự xâm lấn củathực dân phương Tây và cuộc sống đô thị, dễ rơi vào sự vong bản Tấm lòng thathiết với nguồn cội trong sáng tác của Bình Nguyên Lộc không chỉ dừng lại đó,con người trong thế giới nghệ thuật của ông còn biểu tượng cho những thế hệ cha
ông đi mở đất khai phá miền Nam (Rừng mắm) Họ là “những thế hệ tiên phong
đã lao khổ mở đất khẩn hoang vùng đồng chua nước mặn để gây dựng sự sống”[52] Chính vì thấm thía cái công khẩn hoang gian khổ của người đi trước, ngườinông dân Nam Bộ hiện lên qua sáng tác của Bình Nguyên Lộc có một cách ứng
xử hoà hợp và nghĩa tình với thiên nhiên Tiếng rú tuyệt vọng đau đớn của người
đàn bà trong rừng chính là lời nhắc nhở con người hướng tới điều đó (Bà mọi
hú) Bên cạnh đó, nhà văn còn hướng đến khắc hoạ vẻ đẹp truyền thống của
người Nam Bộ, đó là tinh thần trọng nghĩa Cái nghĩa trở thành sợi dây liên hệnhững con người vốn xa xứ đến gắn bó tạo nên những không gian văn hoá trênsông nước kênh rạch Bình Nguyên Lộc khai thác hai không gian nổi bật, mộtkhông gian hoang dã, tự nhiên; một không gian đô thị sầm uất của thành phố SàiGòn, và phát hiện ra cái đẹp hài hoà trong con người Nam Bộ
Có thể nói rằng, trong văn xuôi đô thị miền Nam, hướng về đề tài cuộcsống của người nông dân Nam Bộ, Bình Nguyên Lộc viết về họ như một sự tri ânvới nguồn cội, gợi lại hồn dân tộc, với quê hương Hình tượng nghệ thuật ấy gópphần làm cho tác phẩm của Bình Nguyên Lộc đậm đà chất Nam Bộ
Nếu trong sáng tác của Bình Nguyên Lộc, người nông dân Nam Bộ chỉhiện lên trong kí ức thì trong sáng tác của Sơn Nam, người nông dân Nam Bộhiện lên với tất cả không gian sống và vẻ đẹp vốn có của họ Điều đặc biệt, nhàvăn Nam Bộ này không viết về con người thực tại, ông đi vào quá khứ của chaông thời khai hoang mở đất Bởi vậy, hình tượng người nông dân Nam Bộ đượckhám phá, nhận thức trong bối cảnh cuộc khẩn hoang miền Nam “trường kì và tựlực” Qua đó, Sơn Nam kín đáo thể hiện tấm lòng đối với đất nước
Với hình tượng người nông dân Nam Bộ, Sơn Nam đã có những sáng tạoriêng, độc đáo, ám ảnh Khi nói về hình tượng này trong sáng tác của các nhà văn
Trang 23ở đô thị miền Nam, không ít người đã so sánh sáng tác của Sơn Nam với TrangThế Hy Ở Trang Thế Hy con người người Nam Bộ hiện lên qua cái sâu lắng,trầm buồn, khắc khoải của người nghệ sĩ mang “một vẻ đẹp lặng lẽ” [37] Có thểgọi cái nhẩn nha, cà tửng, bộc trực của Sơn Nam và cái chỉn chu sâu lắng củaTrang Thế Hy là hai con người, hai phong cách trong hai thế giới nghệ thuật củahọ.
Người nông dân Nam Bộ trong sáng tác của Trang Thế Hy được đặt trongkhông gian rặt Nam Bộ với “những rặng tràm thưa, những cội vông đồng soibóng”, họ hiện lên “đen đúa, lôi thôi, thô cộc nhưng trung thực, thẳng ngay,nghĩa khí” [43] Đặt nhân vật của mình trong cuộc sống “quay cuồng, rỉ máu” dotội ác của ngoại xâm, nhà văn đã tái hiện đầy cảm động và xót xa trước những
thân phận bi đát của con người trước dục vọng và bom đạn kẻ thù (Nắng đẹp
miền quê ngoại, Áo lụa giồng,…) Khi viết về những người nông dân bình
thường, những số phận nhỏ bé, Trang Thế Hy gửi gắm những tiếng lòng sâu sắc
mà thấm thía, kêu gọi lương thiện như một đạo lý sống ở đời Ông quan niệm đạo
lý sống của con người Nam Bộ chính là “điểm tựa đáng tin cậy” đối với người
nghệ sĩ, “là nỗi đau khổ lớn nhất của một số đông thầm lặng” (Tiếng khóc và
tiếng hát) Bởi vậy, Trang Thế Hy được gọi là nhà văn “nâng đỡ số phận con
người” [37], và người nông dân Nam Bộ đôn hậu nghèo khó với cuộc đời đầynhững ngã rẽ, ngược lại cũng nâng đỡ cho nghệ thuật của ông Có lẽ vì thế khácvới Sơn Nam, Trang Thế Hy đi sâu vào tâm lý, những bí ẩn trong tâm hồn conngười hơn là khắc họa tính cách Tác phẩm của ông vì thế, mang lại sức hấp dẫnriêng, thấm thía, lắng đọng
Văn xuôi Nam Bộ 1945-1975 vận động trong bối cảnh hiện thực đặc biệt,nhiều khi mang tính tuyên truyền, tuy nhiên nhiều tác giả đã thoát khỏi sự khôcứng khi xây dựng hình tượng con người đặc biệt là hình tượng người nông dânNam Bộ, sáng tác của các nhà văn hướng tới thân phận cuộc sống con người,nhất là những nhà văn “nằm vùng” Có thể nói, họ đã góp cho văn xuôi Nam Bộmột mảng hiện thực mới trong cái ngổn ngang tàn khốc của chiến tranh Và hình
Trang 24tượng người nông dân Nam Bộ chính là một sự tiếp tục kế thừa mạch chảy khôngcùng của văn học Nam Bộ từ Nguyễn Đình Chiểu đến nay.
1.2.2 Từ 1975 đến nay
Sau 1975, cùng với sự thay đổi của bối cảnh hiện thực: đất nước hoà bìnhthống nhất, văn học trở về đúng với thiên chức nghệ thuật của nó, hướng đến tiếpcận mọi ngóc ngách của đời sống Văn xuôi Nam Bộ vận động trong mạch chung
đó Nhiều nhà văn mới xuất hiện với nhiều tác phẩm xuất sắc, đổi mới, kéo gầnđời sống, khám phá hiện thực nhiều góc tối sáng
Người nông dân Nam Bộ trong cuộc đời mới, đi vào văn học vẫn vớinhững nét riêng khó lẫn Người ta biết đến Nguyễn Mạnh Tuấn, Lê Văn Thảo,Phạm Trung Khâu, Hồ Tĩnh Tâm,…và gần đây nhất người được đánh giá là mộtcây bút triển vọng của văn học thế kỉ XXI đó là Nguyễn Ngọc Tư Điều đáng chú
ý là người nông dân Nam Bộ trở thành một nguồn cảm hứng “khắc khoải”, “bấttận” trong sáng tác của chị
Hình tượng này hiện lên trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, với cáinghèo khổ, chân chất với những ước mơ cuộc sống hết sức bình dị, đôi khi tộinghiệp, nghiệt ngã Khai thác cuộc sống người nông dân trong xã hội hiện đại,chị đã nhìn thấy ở miền nông thôn Nam Bộ, cụ thể là mảnh đất U Minh cuối trờivới bao nhiêu mảnh đời, số phận bi đát, hoang dại dường như xa lạ với cuộc sốngcủa không gian đô thị Sài Gòn Con người trong thế giới truyện ngắn của chị điqua những địa danh thân thương, đặc trưng của Nam Bộ: Vàm Mắm, Xóm KinhCụt, gò Cây Quao…, với những cái tên chân chất: Hai, Ba, Tư, Chín, Tư Nhớ,Năm Nhỏ…Cuộc sống của họ phụ thuộc vào thiên nhiên, nhiều khi quên cả tiếngngười, quên cả cuộc sống loài người Những người nông dân trong truyện ngắncủa Nguyễn Ngọc Tư gợi lại những nỗi đau âm ỉ dữ dội về thân phận của nhữngkiếp sống nay đây mai đó Trên “Cánh đồng bất tận”, người đọc chạnh lòng xót
xa cho những khát vọng đầy nhân bản của những người nông dân như Điền,
Trang 25Nương, và trong cuộc sống xa loài người đó, những ước mơ tàn lụi, bản năng conngười không thể trở về Dưới cái nhìn của Nguyễn Ngọc Tư, cuộc sống củangười nông dân Nam Bộ với nỗi buồn khắc khoải mênh mang, như một dấu hỏiráo riết về thân phận con người Qua trang văn của chị, cuộc sống của nhữngngười nông dân nơi đây hiện lên với đầy đủ mọi góc nhìn, vì thế sức ám ảnh lớn.
Nhìn trong văn xuôi Nam Bộ ngày nay, Nguyễn Ngọc Tư trở thành hiệntượng nổi bật Bằng tài năng của mình, chị đã mang lại cho văn xuôi Nam Bộmột sức sống, một sinh lực mới để tiếp tục dòng chảy của vùng văn học này.Nhất là, nữ nhà văn này đã kế tục được những nét độc đáo trong việc xây dựnghình tượng người nông dân Nam Bộ, một hình tượng nghệ thuật lớn
1.3 Người nông dân với tư cách là đối tượng thẩm mỹ đặc sắc trong sáng tác của Sơn Nam
Sơn Nam trở về Sài Gòn sau hiệp định Giơnevơ và “bén duyên” với mảnhđất Nam Bộ quê hương ông Ông trở thành “pho từ điển sống” về Nam Bộ,những hiểu biết về Nam Bộ đã giúp ông có một hiện thực vững chắc để xây dựngthế giới nghệ thuật và soi sáng nó trong những tác phẩm văn học Sáng tác dưới
“chế độ Sài Gòn”, các sáng tác của Sơn Nam không đi vào đề tài cuộc chiếntranh ác liệt của dân tộc như các nhà văn giải phóng Ông hướng đến nhiều đề tài,với nhiều môn loại: biên khảo, truyện dài, truyện vừa, truyện ngắn, hồi kí Biênkhảo của ông thể hiện sự am hiểu chi tiết, sâu sắc về lịch sử, văn hoá Nam Bộ,
đất đai… Nam Bộ, nổi bật như: Lịch sử khẩn hoang miền Nam, Nói về miền
Nam, Cá tính miền Nam và thuần phong mỹ tục Việt Nam…Các truyện dài,
truyện vừa: Bà chúa Hòn, Xóm Bàu Láng, Hình bóng cũ… Đặc biệt, trong lĩnh vực truyện ngắn, Sơn Nam được biết đến với tập truyện Hương rừng Cà Mau.
Đó là một sự nghiệp sáng tác khá đồ sộ, độc đáo, phong phú
Sáng tác của Sơn Nam đụng đến nhiều vấn đề, đề tài: đề tài lịch sử, đất đai,văn hoá, con người Nam Bộ… Và ở đề tài nào, Sơn Nam cũng có những sáng tác
có giá trị Đặc biệt, đề tài chính và chủ lưu trong sáng tác của người nghệ sĩ Nam
Trang 26Bộ này chính là đề tài về người nông dân Nam Bộ Như ông từng tâm niệm “tôiđịnh hướng ngay từ đầu đến với nghề, viết về cuộc khẩn hoang miền Nam” [29]
và nhân vật chính trong cuộc khẩn hoang “hiền lành” đó là “những người nôngdân chất phác, ít chữ” [29] Hơn nữa, tìm hiểu về con người phương Nam, tậptrung trong hình ảnh người nông dân Nam Bộ, mà ở Sơn Nam đó là những conngười khẩn hoang
Xem người nông dân là đối tượng thẩm mĩ trung tâm, Sơn Nam hướng đếnxây dựng hình tượng người nông dân Nam Bộ và bền bỉ theo đuổi đề tài này.Không chỉ trong các công trình biên khảo, mà còn thể hiện sinh động trong các
sáng tác nghệ thuật của ông Từ các tập truyện ngắn như Hương rừng Cà mau,
Biển cỏ miền Tây… đến các tập truyện vừa, truyện dài, hình tượng người nông
dân Nam Bộ trở đi trở lại, đầy tâm huyết trong sáng tác của Sơn Nam Sáng táctrong sự kiểm duyệt gắt gao của chính quyền Sài Gòn, tìm về với đề tài ngườinông dân khẩn hoang Nam Bộ đó là cách Sơn Nam gửi gắm những tình cảm sâu
xa với đất nước “Sơn Nam từ chối thực tại bằng cách một mình lững thững đisâu vào dĩ vãng” [58], đó là một cách nói, nhưng nhìn chung, Sơn Nam đã chọncho mình một đề tài và tận tuỵ với nó, đề tài về cuộc khẩn hoang trong quá khứcủa cha ông, như một hành động tiếp lửa qua các thế hệ
Hương rừng Cà Mau là tập truyện ngắn xuất sắc của Sơn Nam như chúng
tôi đã giới thiệu Trong tập truyện này, ông đã xây dựng hình tượng nghệ thuật vềngười nông dân Nam Bộ, độc đáo, ám ảnh, qua đó, Sơn Nam thể hiện tấm lòngcủa người con người Nam Bộ với bậc tiền nhân mở đất Bình Nguyên Lộc từ gócnhìn của con người thị thành để gợi nhớ về quê hương, nguồn cội, về con ngườikhẩn hoang, Trang Thế Hy “nhặt nhạnh” những số phận con người đầy nhữngngã rẽ quanh co, để rồi thao thức nâng đỡ Sơn Nam, bằng một con đường riêng,ông đi vào đời sống của những người nông dân Nam Bộ thửa khẩn hoang vớinhững mối quan hệ Từ đó, nhà văn khắc họa con người với những vẻ đẹp củatinh thần nghĩa khí, của lòng tha thiết với nguồn cội và một cuộc sống hoà đồngvới môi trường sinh tồn của họ Đó cũng chính là cảm hứng bao trùm trong tập
Trang 27truyện ngắn nổi tiếng này, như lời tựa Sơn Nam viết Bài thơ giản dị xúc động,khái quát vẻ đẹp của hình tượng trung tâm - hình tượng người nông dân Nam Bộ:
Trong khói sóng mênh mông
Có bóng người vô danh
….
Với câu: Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả.
Những đặc sắc về hình tượng người nông dân khẩn hoang Nam Bộ trong
tập truyện ngắn Hương rừng Cà Mau, chúng tôi sẽ trình bày ở những chương tiếp
theo
Chương 2 NGƯỜI NÔNG DÂN KHẨN HOANG DƯỚI CÁI NHÌN
Trang 28NGHỆ THUẬT CỦA SƠN NAM TRONG HƯƠNG RỪNG CÀ MAU
2.1 Những con người nghĩa khí
2.1.1 Nghĩa khí là một phẩm chất nổi bật của người nông dân Nam Bộ, đặc
biệt là người nông dân khẩn hoang “Nghĩa” ở đây là tình nghĩa, đạo nghĩa, thểhiện trong sự ứng xử với con người, với cuộc sống xung quanh “Khí” chỉ tâmthế sống của con người vì cái nghĩa mà có dũng khí, khí phách Bởi vậy, nguồcgốc cao đẹp của “khí” chính là xuất phát từ cái nghĩa, vì nghĩa mà hành động.Chính Sơn Nam nhấn mạnh, “điệu nghệ là do chữ đạo nghĩa” [49], vì nghĩa màcon người hành động một cách điệu nghệ Người nông dân Nam Bộ trong những
ngày khẩn hoang lập ấp sinh sống được khắc hoạ trong Hương rừng Cà Mau
mang trong mình sự kết hợp của những phẩm chất đáng quý này
2.1.2 Đạo nghĩa là cái nghĩa thuỷ chung [49], lòng nhân ái Điều này không
chỉ đặt trong mối quan hệ con người với nhau, cái nghĩa còn được thể hiện trongquan hệ với cuộc sống xung quanh họ, nhiều khi gồm cả những con người vậtkhó thương, thù địch với loài người
Trong quan hệ giữa những con người với nhau, cái nghĩa biểu hiện giản dị,phong phú như cuộc sống thường ngày, vậy mà đem lại nhiều dư vị cảm độngcho người trong cuộc và cả người đọc
Sơn Nam nhìn thấy trong cuộc sống buổi đầu của con người Nam Bộ, cáinghĩa đơn sơ, chất phác giữa những con người trong quan hệ làng xóm Qua câu
chuyện nhẹ nhàng dường như không có những điểm nhấn, Bốn cái ngu đọng lại
cuối cùng là cái nghĩa cử cao đẹp của ông Hai Kiểm Ông Hai Kiểm lãnh phải lấythú tiêu khiển “không làm hại ai” [32, 107] làm một hành động đầy trách nhiệm,vun vén hạnh phúc cho cặp vợ chồng trẻ hàng xóm Tư Hưng Người đọc tò mòtheo câu chuyện của ông già trong truyện, cuối cùng chưng hửng vì hoá ra đó chỉ
là cái cớ để nhẹ nhàng, hài hước ông nhắc nhở vợ chồng hàng xóm Cái nghĩalàm cho con người phục, làm con người muốn sống tốt “Cháu phục mấy ông giàxưa quá trời” [32, 107], câu nói của Tư Hưng thể hiện con người biết nghĩa,
Trang 29trước một ông già Nam Bộ giàu nghĩa Cái nghĩa trở thành tiêu chí ứng xử giữanhững con người với nhau trong quan hệ xóm làng, nhất là đối với những conngười xa xứ đến Nam Bộ khai hoang, tạo lập cuộc sống, điều này càng có ýnghĩa Xóm làng gần gũi trở thành bạn đồng cam cộng khổ, cùng nhau vượt quanhững thử thách dữ dội của môi trường sống để sinh tồn, và từ đó nảy sinh tìnhngười nhân hậu thuỷ chung Đặt trong mạch chung của truyền thống tinh thầndân tộc Việt Nam, đất nước trong cuộc sinh tồn phải đối mặt với nhiều kẻ thù, thếquần tụ làng xóm, rộng hơn là nhân dân trở thành mạch sống quý báu cho dântộc Phải chăng đó cũng là mạch biểu tượng mà Sơn Nam muốn hướng đến? “Điểm cao quý nhất trong tác phẩm của Sơn Nam vẫn là tình thương đồngloại” [58] Từ cái nghĩa xóm làng đến cái nghĩa đồng loại, người nông dân Nam
Bộ thoát ra khỏi quan niệm làng, hướng tấm lòng cưu mang đến với tất cả conngười trong hoạn nạn Bởi họ hiểu, đó cũng là tình cảnh của những con người xa
xứ với nhau Trong không gian mêng mông là nước của những ngày lụt lội,người nông dân Nam Bộ nghèo khổ “linh đinh bèo nước biết về đâu?” [34, 11]ngay cả cái chết cũng không an lòng Hình ảnh cha con người lão Bích trên chiếcxuồng lênh đênh chờ nước giựt, và người cha sắp hấp hối mà “bờ bến ở tận chântrời” [34, 13] đem lại mối thương cảm xót xa trong người đọc (Một cuộc biển
dâu) Trong cuộc “biển dâu” đó, tình thương đồng loại trong hoạn nạn đã cứu hai
cha con lão Bích: ông bà Hai Tích đã lo việc chôn cất cho lão Bích, cha thằngKìm Mặc dù, cái chết cũng long đong như “bãi bể nương dâu”, không có đất yênnghỉ, nhưng không chỉ dừng lại “suy nghĩ cho phận làm người” [34, 19], SơnNam còn muốn khắc chạm trong lòng người đọc hình ảnh những con người nôngdân nhân hậu, giàu tình nghĩa Nhiều khi, vì cái tình nghĩa đồng loại mà conngười phải từ bỏ tất cả khi thấy mình có lỗi với cái nghĩa Thầy Hai Rắn từ bỏnghề gắn bó, là niềm kiêu hãnh của thầy, là kế sinh nhai- nghề làm thuốc ngừa
rắn, và thậm chí cả đứa con trai của lão ra đi (Cây huê xà) “Giọt nước mắt bỗng
dưng tuôn xuống” [32, 197] trước cái chết của cha con Lài vì cây huê xà khôngbiết có thực hay không của thầy bắt nguồn sâu xa từ cái nghĩa nhân bản nhất, đó
Trang 30là tình đồng loại Người nông dân Nam bộ Nam Bộ những ngày đầu tìm kiếm sựsống, sinh nhai nhiều khi vì sinh tồn có thể đố kị nhau, dùng mánh khoé, luậtsống để làm hại nhau và phải nhận lấy hậu quả vì đi trái với cái nghĩa Điều màSơn Nam luôn luôn tin tưởng và kí thác vào nhân vật của mình chính là lối sốngđạo nghĩa Đi trái với điều đó, luật nhân quả, dường như không bao dung: kẻ nàolàm trái sẽ không gặp may Tuy nhiên, tấm lòng của thầy Hai Rắn chính là một
sự bao dung đối với những toan tính của con người Sơn Nam giải quyết hài hoàđược điều này chính là nhờ ông đã vin vào truyền thống dân tộc, tinh thần
“thương nòi”
Trong bối cảnh xã hội thực dân, những lối sống mới, những cám dỗ củacuộc sống thị dân nhưng như Sơn Nam nói “tôi không bi quan bởi tôi nghĩ bảnchất Nam Bộ không bao giờ mất đi” [30] Có lẽ, vì vậy, Sơn Nam đã đi vào khaithác những tình cảm tự nhiên của con người, cụ thể là tình yêu Sơn Nam hướngđến khai thác phương diện này dường như là sự minh chứng cho niềm tin củaông vào tình người trước cám dỗ của cuộc sống thị thành Người nông dân Nam
Bộ trong cuộc sống ở mảnh đất Cà Mau hun hút đầy chướng khí, tình yêu dườngnhư không giữ chân được họ Chàng trai vu vơ với “một tấm lòng” hẹn ước giờ
“như con nhạn bay xa” [32, 243] để cô Bảy năm nào thành dì Bảy (Con Bảy đưa
đò), tình yêu nảy nở với Hoàng Mai, với hương rừng Cà Mau không níu giữ được
Tư Lập (Hương rừng)…Tuy nhiên, điều đọng lại trong tác phẩm cũng như hình
tượng mà Sơn Nam xây dựng đã có một sợi dây gắn kết chúng lại Đó là tình yêu
tự nhiên, tấm lòng nhân hậu thuỷ chung của con người Con Bảy đưa đò vớigiọng hò “bay bổng của con cò, con vạc như hơi gió xao động cả dòng sông”[32, 236] mang cái tình đối với người quân tử Dù chàng trai đó không trở về,nhưng “một tấm lòng” đã trở thành niềm tin để cô gái chờ đợi, xem đó như lờikết giao duyên nợ Lối ứng xử của người con gái trong tác phẩm là lấy cái nghĩa
để sống, bởi vậy, dù trở thành “ở goá”, nhân vật không đem lại cho người đọccảm giác bi kịch, và dường như điều Sơn Nam nói đến không phải là bi kịch tìnhyêu Cái mà ông hướng đến chính là “một tấm lòng” sống ở đời Tấm lòng sống
Trang 31của con Bảy không chỉ làm giọng hát của nó thêm trầm bổng, mà gửi vào cả mónthịt luộc ai cũng tấm tắc khen ngon Cuộc gặp gỡ đêm trăng trên dòng sông và
“một tấm lòng” không phải là bi kịch cho con người, ngược lại nó giúp con ngườisống tốt, sống vì cái tình, cái nghĩa Tư Lập cũng vậy, nhân vật không đi ra được
“ma lực quyến rũ” [33, 263] của “hương rừng” mà sâu xa là cái tình nghĩa toả ratrên mảnh đất Cà Mau đầy chướng khí, hiểm nguy Tư Lập quay trở lại, đó là mộthành động mà như ông hương giáo nhận xét “trở về lần này, Tư Lập cũng đã tỏ
ra có nghĩa” [33, 281] Sơn Nam đã khai thác hình tượng người nông dân Nam
Bộ trong sự sự níu kéo giữa cái nghĩa và toan tính thực dụng Cuối cùng tình cảm
tự nhiên trong sâu thẳm con người luôn lay thức kéo con người trở về hành độngtheo cái nghĩa Câu nói của ông hương giáo khẳng định nghĩa là tiêu chí sống củangười Nam Bộ trong những ngày khẩn hoang, nghĩa kéo con người trở về tìnhcảm nhân bản, và cũng nhờ đó, con người có thể bao dung cho nhau, chia sẻnhững khó khăn chốn hương rừng “lá úa”, “than vãn niềm biệt li vô cớ” [33,267]
Đi vào tình cảm tự nhiên của con người, Sơn Nam đã thể hiện niềm tin vàocốt cách của con người Nam Bộ trước mọi thứ thách, cám dỗ của cuộc sống.Niềm tin đó chính là sự khẳng định tinh thần đạo nghĩa trong quan hệ con ngườivới nhau những ngày khẩn hoang gian khổ của người nông dân Nam Bộ Điềunày cũng phù hợp với quan niệm của Sơn Nam về văn chương “văn chươngkhông đơn thuần thể hiện tình yêu nam nữ, văn chương phải giúp người ta gợinhớ, khắc sâu về con người và cuộc sống.”[42]
Tinh thần đạo nghĩa của các nhân vật trong Hương rừng Cà Mau không
dừng lại trong mối quan hệ con người với con người Cái nghĩa còn được toát lêntrong mối quan hệ với công việc, với cuộc sống xung quanh của những con ngườikhẩn hoang Nam Bộ Khi cuộc sống của họ là sự đấu tranh không ngừng với mọithứ xung quanh để sinh tồn
Trong cuộc sống gắn bó với thiên nhiên, với nông nghiệp, cái nghĩa nảy sinhvới người nông dân ngay cả đối với công việc của họ - công việc đồng áng
Trang 32Trong môi trường sông nước, nhất là thủa khẩn hoang ruộng đất còn nhiều cỏdại, lại ngập sâu dưới nước, vì vậy việc phát cỏ hết sức nặng nhọc Thầy Quýtxuất hiện với “đạo phát cỏ” công chỉ một “con gà cúng tiên tổ”, dân làng hết sứcvui mừng Nhưng thầy bỗng biến mất sau vài bữa công và để lại ruộng đồng đangngập cỏ, họ đang chờ thầy phát để cấy hái Một cuộc họp quan trong mở ra xử tộithầy Quýt Nhưng, sau lời kể của thằng Liệu - đứa được cử đi học nghề phát cỏ,những câu chuyện thầy để lại đã làm họ “thương nhớ một cách lạ lùng” [33, 98].Câu chuyện về đất nước Mông Cổ là phép phát cỏ mà thầy muốn truyền lại chodân làng Khi Mông Cổ chiếm được Tàu, lo ăn no mặc ấm, “gân cốt không dẻodai, họ bị Châu Hồng Võ đánh bại Phép phát cỏ như vậy đó Khị xưa người dânphá rừng mở nước, họ làm lụng suốt ngày quên ăn cơm, cứ mỗi cây phảng nặngmột yến.” [33, 97] Bài học mà thầy Quýt để lại cho người dân chính là cái đạonghĩa đối với nghề nông, hướng con người “ráng sức giữ lấy nghề nông” [33, 98]không nên làm biếng Những năm lúa sụt giá, người nông dân “trù chí lắm mớicầm nổi cây phảng… Họ đâm ra thương nhớ bao nhiêu lời thầy nói” [33, 98]
(Đóng gông ông thầy Quýt) “Làm ruộng là đạo , khuyến nông tức là cách giữ
đạo làm nông” [22] Cái đạo nghĩa ở đây được Sơn Nam nói đến đó là đạo nghĩavới nghề nông nghiệp, phẩm chất rất cần thiết đối vói người nông dân, khôngnhững thế, đó là hành động tri ân, tiếp bước công lao những người đi trước “phárừng mở nước” Từ đạo nghĩa đối với nghề nông, qua câu chuyện của thầy Quýt,
nó nhắc nhở con người luôn biết khổ luyện trong mọi hoàn cảnh, lúc nghèo hènkhi lẫn no ấm, để giữ cho mình cái đạo đối với nghề, không bị suy đồi Ý nghĩasâu xa đó là cái đạo của người dân đối với đất nước, cả lúc thịnh trị lẫn lâm nguy
Ta nghe trong lời “hối lỗi” của thầy Quýt tiếng lòng của nhà văn đối với cộinguồn, với bậc tiền nhân mở đất, với đất nước
Cái đạo với nông nghiệp với người nông dân khẩn hoang còn thể hiện trongnghĩa tình với người bạn nghề của mình là con trâu Trong không gian tứ bề lànước, “lượn sóng chạy dài tiếp lưng tròi”, người nông dân phải vượt “đường dàithăm thẳm, lội nước băng rừng” [34, 39] để “len trâu” tìm kiếm thức ăn cho con
Trang 33vật Cái nghĩa đối với con trâu của người nông dân như là một hành động biết ơn,một hành động xuất phát từ cái đạo đối với con vật, sau đó là cái đạo với nghềnông Trong lời nói của chú Tư, tấm lòng của người nông dân hiện lên giản dị,thật thà đến cảm động “trâu giúp mình tạo ra hột lúa; bù lại, mình không kiếm đủ
cỏ cho nó ăn no Như vậy là mình bất nhân” [34, 40] Có thể thấy, đạo nghĩa củangười nông dân “hiền lành, ít chữ” đó là tình thương yêu đối với tất cả những gìgắn bó trong cuộc sống của họ, nhiều khi tưởng như thật nhỏ bé, vặt vãnh, nhưng
đó mới chính là cuộc sống Ta vẫn ngỡ như trong cuộc “bộ hành” của mình,người nghệ sĩ già Nam Bộ đã lắng nghe, chắp nhặt vào sâu cuộc sống của ngườinông dân để tìm thấy mối chân cảm giản dị trong cuộc sống khẩn hoang củangười nông dân Nam Bộ
Cuộc sống của người nông dân Nam Bộ những ngày khai hoang mở đất đó
là những cuộc vật lộn, đấu tranh, lam lũ để tạo lập mảnh đất sống, tạo lập quêhương thứ hai gắn bó với họ Và như Sơn Nam nói, cuộc khẩn hoang miền Nam
là “trường kì và tự lực” Trong sự nghiệp đó của người nông dân Nam Bộ, họphải đương đầu với nhiều lực lượng thù địch, mà thiên nhiên dữ dằn là thù địchchủ yếu của họ Cái thủa hoang dã, ghê rợn “dưới sông sấu lội, trên rừng cọptha”, “con người và cá sấu tranh giành nhau từng tấc đất [14], cuộc chiến với thú
dữ là thử thách dữ dội nhất Tuy nhiên, với người nông dân khẩn hoang, saunhững cuộc chiến đấu sống còn với chúng, điều đọng lại trong tâm tư của nhữngcon người nơi đây lại là một tấm lòng đạo nghĩa với những con vật khó thương.Hình ảnh cha con người nông dân Tư Đức trong cuộc chiến thiếu chết với consấu ở “sông Gành Hào”, xuất phát từ đạo lí “của ông bà”, Tư Đức chỉ giết mộtcon, “giết một con là đủ, giết hết mình có tội với trời đất” [34, 201], và xin cholập một cái miễu lá thờ đầu sấu Hành động đó của nhân vật là một lối ứng xửđẹp của con người dẫu trong vất vả, cực nhọc và sống chết với chúng, nó xuấtphát từ cái nghĩa đối với những sinh linh sống trong trời đất Sơn Nam tin vào đờisông tâm linh “tôi ngày càng tin vào giá trị và sự cần thiết của văn hoá tâm linhđối với đời sống con người” [30], và cái gọi là tâm linh đó của Sơn Nam bắt
Trang 34nguồn từ đạo nghĩa, từ văn hoá của nhân dân, có lẽ vì thế mà có sức sống bền bỉtrong tác phẩm Ứng xử của con người khẩn hoang với loài thú giữ, với lực lượngthù địch, khiến cho kẻ thù- tên kiểm lâm Tây, cảm động, ngạc nhiên, thán phục
“người An Nam giỏi quá, hiền quá”[34, 201], “dè đâu người đốn củi lậu có tài cóđức biết thương người, thương cuộc đời đến mức ấy” [34, 202] Vẻ đẹp tinh thầnđạo nghĩa của người nông dân Nam Bộ là cội nguồn sức mạnh của nhân dânkhiến cho kẻ thù phải nể phục, chấp nhận thất bại Ông kiểm lâm Tây “đôi mắt
mơ mơ màng màng như sám hối trong những giây phút sự hiểu lầm chồng chấttrong ống suốt mấy chục năm qua” [34, 203] Đó là cái nhìn đầy tin tưởng vàphát hiện của Sơn Nam về vẻ đẹp của người nông dân Nam Bộ nói riêng mà vẻđẹp của nhân dân Việt Nam nói chung, vẻ đẹp tinh thần đạo nghĩa tạo nên sứcmạnh, động lực chiến thắng kẻ thù lớn mạnh trong cuộc kháng chiến với cườngquốc xâm lược Mĩ Ta hiểu điều đó trong câu nói đầy khẳng khái của nhân vật
“vì đất nước chớ đâu phải vì danh lợi” [34, 201] Như vậy, từ cái nghĩa đối vớiloài vật thù địch, Sơn Nam đã gửi vào nhân vật của mình truyền thống tinh thầncao đẹp, đó là nghĩa với kẻ thù Cái nhìn nghệ thuật của Sơn Nam đã khái quátchuẩn xác phẩm chất cao đẹp của con người Nam Bộ trong cuộc đấu tranh giànhgiật sự sống, bởi vậy, ý nghĩa biểu tượng và sức ám ảnh của nó có chiều sâu hiệnthực
Cái tình đối với thiên nhiên không chỉ bắt nguồn từ đời sống tâm linh dângian, từ nghĩa tình với những sinh linh, nhiều khi còn bởi vì người nông dân Nam
Bộ tìm thấy cái nghĩa ở những loài vật khó thương đó Cứ “tháng chạp chim về”,con chim sói già nua trở về đúng độ bên sân chim cũ “nó có nghĩa lắm, bỏ sânchim không đành” [34, 208] Ông lão nông dân Nam Bộ với hai thứ tóc trên đầunhận ra khi loài người đến khai thác sân chim để kiếm kế sinh nhai, loài chimchiến đấu bảo vệ đàn con, chúng “kêu la… khi trở về không gặp đàn con nghevang dội cả góc rừng”, chúng “trở về Biển Hồ với niềm oán hận thề không baogiờ trở lại đất Kiên Giang này nữa” Ông Tư chứng kiến cài tình cao đẹp của loàichim, nhưng ông ngạc nhiên hơn khi ngoài cái tình mẫu tử đầy bản năng ấy, loài
Trang 35chim vẫn vị tha bao dung với con người, hàng năm trở về sân cũ nhớ tiếc, nhưnhớ mảnh đất từng sinh sống của nó, nhớ cội nguồn Hình ảnh con chim sói giàbên ông lão với những “hung bạo của thời xuân xanh” đi khai hoang mở đấtmang một ý nghĩa biểu tượng sâu xa Họ “không còn oán thù Biển im lặng saucơn giông tố Đây là Bá Nha, Tử Kì cảm thông cho nhau” [34, 215] Điều đọnglại có phải dừng ở sự tri âm giữa hai tấm lòng của những người xa xứ đầy ânnghĩa với nguồn cội, có lẽ hình tượng đã mở ra những ý nghĩa sâu xa hơn Nếukhẩn hoang là một cuộc chiến giành giật sự sống với thiên nhiên của con người,thì cuối cùng cả hai đều có những vết thương, họ tìm về tha thứ và bao dung “imlặng sau cơn giông tố”, sự đồng cảm của họ chính là ở những vết thương đó SơnNam không chỉ thầm thía “cái tình người khẩn hoang” - khẩn hoang nhưng đầy
ân nghĩa với thiên nhiên, mà cái nhìn đầy nhân bản của Sơn Nam về chiến tranh
ẩn đằng sau hình tượng Sáng tác lúc cuộc chiến tranh chống Mĩ đang diễn ra ácliệt ở miền Nam, Sơn Nam dùng cái xưa để thể hiện tấm lòng vời hiện thực cuộcchiến tranh của đất nước Cái nhìn của Sơn Nam vượt xa hiện thực đó, ông nhìnthấy những gì chiến tranh để lại và tin vào tấm lòng bao dung của con người sẽxoá những thù hận Hình tượng nghệ thuật về người nông dân trong cuộc khẩnhoang Nam Bộ, bởi vậy, đem lại nhiều dư vị trong lòng người đọc
Khai thác vẻ đẹp tinh thần đạo nghĩa của người nông dân Nam Bộ, Sơn Namgửi gắm hi vọng về sự gìn giữ vẻ đẹp tinh thần của con người Nam Bộ trong xãhội hiện tại Hướng về quá khứ khẩn hoang đầy ân nghĩa của cha ông là cách SơnNam nói vói con người hôm nay điều đó, phải biết giữ lấy “tư cách conngười”(chữ của Sơn Nam) mà cha ông luôn gìn giữ trong những ngày tạo lậpcuộc sống, đó là giữ gìn và tri ân nguồn cội
Cũng qua khám phá vẻ đẹp hình tượng nghệ thuật về người nông dân Nam
Bộ, Sơn Nam kín đáo thể hiện tình yêu nước, nói đến những con người khẩnhoang đạo nghĩa, Sơn Nam hướng đến ngợi ca những con người Việt Nam trongcuộc kháng chiến Đặc biệt, đó là cách Sơn Nam thể hiện lòng yêu nước theoquan niệm của ông “yêu nước là yêu cây cỏ sản vật con người lao động quê xứ
Trang 36mình, nói chung là yêu văn hoá thổ nhưỡng xứ mình, giữ nước là giữ cái đó”[23].
2.1.2 Như chúng tôi đã giới thuyết chung, phẩm chất đạo nghĩa của người
nông dân Nam Bộ qua hình tượng nghệ thuật trong Hương rừng Cà Mau được
khắc họa chủ yếu thông qua hành động Sơn Nam ít chú ý đến việc khắc hoạ nộitâm phức tạp, ông đi vào những hành động dũng cảm, khí phách, ngang tàngcương trực thẳng ngay của nhân vật Đó là những hành động vì nghĩa
Trong cuộc khẩn hoang miền Nam, con người đoàn kết cùng nhau khai phátạo lập cuộc sống mới, cùng nhau sinh tồn, từ đó ở họ nảy sinh tình nghĩa caođẹp Cái nghĩa đó kết hợp hài hoà trong cái “khí”, sự cương trực, dũng cảm,chống chọi lại mọi thế lực thù địch Nhiều khi phải đổ máu, nước mắt trong cuộcchiến với cái hoang dã dữ dằn của thiên nhiên, cái hiểm nguy của lòng người,nhưng điều toát lên ở họ là một bản lĩnh sống vì nghĩa Trong việc chống lại “conheo khịt” phá hoại mùa màng của dân làng, “người bị nổ ruột, người thì bị tétđùi”, ông Năm Tự cùng sự giúp sức của ông Hai Cháy quyết chiến, thừa sốngthiếu chết, đến phút cuối cùng họ vẫn không bỏ cuộc Sau chiến thắng con heokhịt hung dữ, “ông Năm Tự nằm mê man tại nhà, cơm ăn không trôi phải nuốtcháo cầm hơi” Dù vây, ông vẫn tỉnh queo, háo hức “non nửa tạ hả, sướng quá”[32, 260] Ở nhân vật này, tinh thần dũng cảm cộng với “cái máu” hành động trởthành nhiệt huyết sống Đó là những cuộc chiến đấu đầy hiểm nguy của conngười để bảo vệ xóm làng những ngày khẩn hoang đầy thú dữ, trong cái hiểmnguy đó, tâm thế sống của người nông dân Nam Bộ vẫn ngang tàng, dũng cảmtrong cái chất phác, đời thường
Sơn Nam miêu tả nhiều cuộc đương đầu của người nông dân với thú dữ, quamỗi lần như vậy, điều đọng lại trong lòng người đọc không chỉ là cái dữ dằn củathiên nhiên, mà nổi bật vẫn là hình tượng những con người chủ động dành lấy sựsống, dũng cảm thẳng ngay vì đạo nghĩa mà không màng danh lợi.Ông Năm Hênquyết tâm giết con sấu đã ăn thịt cặp vợ chồng trong đám cưới vì cái nghĩa vớicon người và cái nghĩa với nghề, mặc sự dị nghị của thiên hạ vì trên người cô dâu
Trang 37mang hai lạng vàng (Con sấu cuối cùng) Nhiều ngày vật lộn với bầy sấu, ông đã
khẳng định thẳng thắn hành động vô tư của mình “bác giải nghệ rồi, cháu tưởngbác vì tham hai lạng vàng nên liều mạng cưới lên lưng con sấu hả?” [33, 21] Câunói bộc trực đã toát lên tâm thế sống của con người nông dân Nam Bộ, dù cuộcsống chỉ “trong căn chòi che tạm” [33, 13] nhưng vẫn hết mình vì nghĩa rồi ra đi
“im lặng, với hai bàn tay không trong bóng tối” [33, 22], không màng ơn huệ,
danh lợi Đó còn là ông Năm Hên với tài nghệ “bắt sấu bằng hai tay không” (Bắt
sấu rừng U Minh Hạ) và bài hát ảo não rùng rợn giải oan cho những cô hồn bị
sấu ở Sông Gành Hào trước sự thiết đãi của ông kiểm lâm Tây, vẫn giữ được
“khí phách ngang tàng” trước sự “quyến rũ” danh lợi theo ông kiểm lâm Tây: “vìđất nước chớ đâu phải vì danh lợi Sách có chữ: “kiến nghĩa bất vi vô dõng giả”[29,201]
Phẩm chất dũng cảm nghĩa khí không chỉ trong đối mặt với thiên nhiên dữdằn, cuộc khẩn hoang không chỉ khai hoang mở đất, khẩn hoang là toàn diện trênmọi mặt Thống nhất quan điểm này, hình tượng người nông dân Nam Bộ trongcuộc khẩn hoang còn được nhìn nhận trong các mối quan hệ cộng làng xóm, cộngđồng, bởi vậy vẻ đẹp ngang tàng, khí phách cũng như thông minh, tài trí của
người nông dân khẩn hoang được khắc hoạ trong một khía cạnh mới Trong Đại
Trang 38chiến với thầy Chà, hình ảnh nhân vật ông Chòi Mui nghèo khó trong căn nhà mà
“giọt mưa kiêu hãnh chui vào”, không có chỗ nào khô ráo, vẫn lạc quan ca hátđầy thông cảm cho phận mình: “cái phận tui nghèo, chọc ghẹo tui chi” Điềuđáng quý là trong tình cảnh đó, ông sẵn sàng, tức giận, tham gia cuộc “đại chiếnvới thầy Chà” khi biết tin có người lạ mặt vào “làm bại hoại luân thường, muốnđục khoét xóm” [28,53] Bằng mưu kế thông minh của ông, xóm làng đã đuổiđược thầy Chà, họ đi tìm tính danh người có công để hậu tạ nhưng người ta thấyông Chòi Mui không hề bận tâm, vẫn gật gù theo câu hát “cái phận tui nghèo,chọc ghẹo tui chi” Ta gặp trong hình tượng ông già Nam Bộ này phảng phất tâmthế sống của những ông ngư, ông tiều ngày trước qua cái nhìn của cụ Đồ Chiểu,
họ là những con người làm việc nghĩa như một lẽ sống, không màng người đờiphải biết đến Cái nghĩa làng xóm, danh dự, cuộc sống của làng xóm chính làđộng lực giúp họ hành động khí phách, thông minh Đổi lại, người nông dân Nam
Bộ trong làng xóm họ kính trọng, biết ơn những người như ông Chòi Mui Trongxóm, khi có Tây đến, họ cử người tài, có học ra đối đáp để bảo vệ danh dự choxóm làng “cháu biết chút đỉnh tiếng Tây thay mặt dân làng ăn nói cho Tây nóngán dân mình” [27,214] Ý nghĩa của nó không dừng lại ở phạm vì xóm làng, đó
là hành động dùng người tài giỏi để bảo vệ danh dự, cuộc sống cho nhân dân, đất
nước (Chuyện năm xưa) Những nhân vật đó tiêu biểu cho phẩm chất nghĩa khí
của người nông dân khẩn hoang Nam Bộ
2.1.3 Khai thác vẻ đẹp tinh thần nghĩa khí hình tượng nghệ thuật người
nông dân khẩn hoang Nam Bộ trong Hương rừng Cà Mau, Sơn Nam đã có sự
nhận diện chuẩn xác về con người Nam Bộ
Tinh thần nghĩa khí là phẩm chất truyền thống của con người nơi đây Tuynhiên, từ vẻ đẹp con người xã hội đến hình tượng nghệ thuật là một khoảng cách.Khoảng cách đó quyết định bởi cái nhìn nghệ thuật của nhà văn, bởi tài năng, tâmhuyết và đặc biệt là cách thức thể hiện hình tượng của mỗi nhà văn khác nhau.Trước Sơn Nam, Hồ Biểu Chánh xây dựng những con người Nam Bộ nghĩa khínhưng nghĩa khí của họ thể hiện trong lối ứng xử đạo lí, ít nhiều mang tính thuyết
Trang 39giáo Người nông dân Nam Bộ nghĩa khí chống lại bọn nhà giàu, các thế lựcphong kiến, chống lại bất công Các nhân vật của ông ít nhiều chịu ảnh hưởngcủa lối ứng xử Nho giáo, tuy nhiên màu sắc Nam Bộ khá sắc nét Cùng thời vớiSơn Nam, Bình Nguyên Lộc cũng khai thác đề tài con người Nam Bộ trong mốiquan hệ với tự nhiên trong buổi đầu vùng đất mới ở Nam Bộ Trong con ngườiNam Bộ ở sáng tác của ông, cũng có nghĩa tình như một sợi dây liên hệ họ ở bất
cứ đẳng cấp nào trong xã hội Tuy nhiên, con người Nam Bộ trong cảm quan củaBình Nguyên Lộc họ hiện lên nghĩa tình trong mối quan hệ máu thịt, gia đìnhhơn là quan hệ làng xã Nhân vật của ông, bởi vậy, trong cảnh ngộ nào luôn mơước có một gia đinh hạnh phúc Riêng Sơn Nam, thể hiện vẻ đẹp nghĩa khí củacon người Nam Bộ, đi vào thế giới nghệ thuật riêng của mình, Sơn Nam khámphá người nông dân Nam Bộ thời kì khẩn hoang, bởi vậy, vẻ đẹp tinh thần nghĩakhí của con người Nam Bộ nổi bật đó là nghĩa khí trong quan hệ làng xóm củanhững con người vốn xa xứ đến miền Nam tạo lập cuộc sống mới Và trước cái
dữ dằn, khắc nghiệt của những ngày khẩn hoang con người phải đối mặt, cộngvới nỗi niềm xa xứ, họ cần nghĩa tình làng xóm để cùng nhau vượt qua Có thểnói đây là một cái nhìn hiện đại của Sơn Nam, đối với một nước nông nghiệpngười ta coi trong quan hệ gia đình huyết thống Hơn thế, đặt nhân vật trong cuộckhẩn hoang miền Nam, giữa những người xa xứ, ngoài cái nghĩa tình xóm làng,
họ còn mang cái tình đồng loại, cái tình của những người khẩn hoang với nhau.Đặc biệt, trong thế phải đối mặt với thiên nhiên, ở người nông dân khẩn hoangNam Bộ còn toát lên cái tình đối với thiên nhiên, với môi trường sinh tồn của họ.Điều này ở tác phẩm của Hồ Biểu Chánh có nói đến, tuy nhiên, như chúng tôi đãnói ở chương 1, đó chỉ là những phát hiện đầu tiên trong phẩm chất nghĩa khí củacon người Nam Bộ Trong những mối quan hệ đó, Sơn Nam gắn vào bối cảnhlịch sử hiện tại để sâu xa, kín đáo gửi gắm tấm lòng của mình với đất nước
Như vậy, có thể nói rằng, nhận thức về phẩm chất nghĩa khí của con ngườiNam Bộ, đặt trong một không gian nghệ thuật đặc trưng, không gian khẩn hoang,Sơn Nam đã có những phát hiện mới về những biểu hiện trong các quan hệ đời
Trang 40sống của họ: quan hệ làng xóm, quan hệ đồng loại, quan hệ với thiên nhiên, cảtrong quan hệ với giặc ngoại xâm.Vì vậy, hình tượng được xây dựng trong cáinhìn nhiều chiều, sinh động, đặc trưng và gợi những ám ảnh trong lòng ngườiđọc Xây dựng hình tượng người nông dân Nam Bộ nghĩa khí vì thế, là sự tiếpnối và sáng tạo của Sơn Nam đối với văn xuôi Nam Bộ.
Đi vào hình tượng nghệ thuật nổi bật - hình tượng người nông dân khẩn
hoang Nam Bộ - trong Hương rừng Cà Mau, chúng tôi vừa có những phân tích
và so sánh một phẩm chất nổi bật của hình tượng đó là tinh thần nghĩa khí Vậy
sự thành công, độc đáo của Sơn Nam trong xây dựng vẻ đẹp này của hình tượngđược lí giải như thế nào? Theo chúng tôi, căn cứ vào nguồn gốc xã hội của hìnhtượng, kết hợp với sự am hiểu, tâm huyết của nhà văn về hình tượng cũng nhưquan niệm của nhà văn về con người, đặc biệt là sức sống thực tế của hình tượng
trong Hương rừng Cà Mau, đó là những cơ sở lí giải thuyết phục cho việc nhà
văn đi vào khám phá vẻ đẹp nghĩa khí của người nông dân khẩn hoang Nam Bộ.Trước hết, phải khẳng định rằng, khắc hoạ vẻ đẹp tinh thần nghĩa khí củangười nông dân Nam Bộ là một cái nhìn nghệ thuật chuẩn xác của Sơn Nam Để
có được điều này, Sơn Nam không đơn giản chỉ tiếp thu truyền thống văn họcNam Bộ, ông phải có một sự từng trải, am hiểu nhất định Sơn Nam được coi là
“pho từ điển sống về Nam Bộ”, những hiểu biết về con người và cuộc sống Nam
Bộ được Sơn Nam thể hiện trong các công trình biên khảo nổi tiếng của ông.Như chúng tôi đã trình bày ở các phần trước, ở thể loại nào, Sơn Nam vẫn luôntheo suốt đề tài về người nông dân khẩn hoang Nam Bộ Qua các công trình biênkhảo, phẩm chất nghĩa khí của con người Nam Bộ là phẩm chất xã hội nổi bật màSơn Nam nhận thấy Ông đã nắm bắt rất sâu và soi sáng vào nghệ thuật, nhất là
thể loại truyện ngắn mà chúng tôi đang khảo sát tập truyện Hương rừng Cà Mau.
Ông tâm sự “muốn viết văn tốt cần phải khảo cứu,…tôi tiếp cận và thâm nhậpthực tế cuộc sống của người dân Nam Bộ.” [54] Từ phẩm chất xã hội đưa vàonghệ thuật là cả một quá trình nhận thức, tổ chức nghệ thuật của nhà văn để tạonên hình tượng văn học Bởi vậy ấn tượng đem lại của con người xã hội và hình