Với các lí do trên đây, ngời viết hy vọng qua luận văn có thể giúp ngời đọc xác lập một số đặc điểm cơ bản của văn học viết về chiến tranh sau năm 1986 trong sự đốisánh với văn học trớc
Trang 3Mở đầu 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Phạm vi nghiên cứu 6
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 Phơng pháp nghiên cứu 7
6 Cấu trúc luận văn 7
Chơng 1 Tổng quan về hình tợng ngời lính trong tiểu thuyết Việt Nam 8
1.1 Hình tợng ngời lính - một cái nhìn chung 8
1.2 Ngời lính trong tiểu thuyết trớc 1975 10
1.3 Ngời lính trong tiểu thuyết sau 1975 22
Chơng 2 Những khám phá mới về hình tợng ngời lính trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 31
2.1 Ngời lính với những mất mát trong chiến tranh 32
2.2 Ngời lính với những đau đớn, day dứt trong cuộc sống đời thờng 45
2.3 Thân phận ngời lính nữ đi qua chiến tranh 64
Chơng 3 Một số cách tân trong nghệ thuật xây dựng hình tợng ngời lính của tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 73
3.1 Không gian nghệ thuật 73
3.2 Thời gian nghệ thuật 84
3.3 Độc thoại nội tâm 88
3.4 Đổi mới về nghệ thuật trần thuật 92
Kết luận 96
Tài liệu tham khảo 98
Trang 4là chứng nhân của một quá trình lịch sử hết sức hào hùng Có thể nói mảngvăn học viết về đề tài chiến tranh và ngời lính cha bao giờ bị đứt đoạn và làdòng chảy chủ lu trong nền văn học nớc nhà.
1.2 Sau 1975 hoà bình đợc lặp lại, cuộc sống trở về với quy luật muônmặt đời thờng, con ngời lúc này phải đối mặt với nhiều biến động, những khókhăn, thử thách sau thời kì hậu chiến Điều này đã ảnh hởng không nhỏ đếnnhận thức của văn nghệ sỹ khi nhìn nhận hiện thực cuộc sống xã hội Đặc biệt
từ 1986, khi diễn ra đại hội VI, đất nớc ta đã bớc vào thời kì đổi mới Cùng với
sự chuyển biến không ngừng trên tất cả các lĩnh vực, tự thân văn học cũng cónhững khám phá tìm tòi ở những tầng vỉa mới khi đi vào phản ánh hiện thựcngổn ngang, bề bộn của cuộc sống một cách sống động, chân thực với đầy đủ
vẻ gai góc thô nhám của nó Cha bao giờ con ngời và đời sống lại đợc nhìnnhận từ nhiều góc độ, khía cạnh và soi rọi từ nhiều chiều nh thế Với nhà văn
“chiến tranh vẫn là siêu đề tài, ngời lính là siêu nhân vật, càng khám phá càngthấy những độ rung không mòn nhẵn” [16]
1.3 Sự vận động của cảm hứng sáng tác về đề tài chiến tranh trong tiểuthuyết từ sau 1986 đã đem lại cho tiểu thuyết nói riêng và văn học thời kì nàynói chung một diện mạo mới Đặc biệt trong cách nhìn nhận về hình tợng ngờilính đã có những khám phá mới mẽ Họ không còn là những viên ngọc lunglinh không có tỳ vết, không còn là lí tởng của một thời nh những trang viết tr-
ớc đây từng miêu tả, mà ngời lính đợc nhìn nhận với mọi vẻ thô nhám góccạnh chen lẫn giữa xấu - tốt, thiên thần - quỷ dữ, cao cả - thấp hèn với đầy đủ
sắc màu của nó Đây cũng là lí do thu hút chúng tôi đến với đề tài Hình t“ ợng ngời lính trong một số tiểu thuyết Việt Nam sau năm 1986” Với các lí do
trên đây, ngời viết hy vọng qua luận văn có thể giúp ngời đọc xác lập một số
đặc điểm cơ bản của văn học viết về chiến tranh sau năm 1986 trong sự đốisánh với văn học trớc đó, đa ra những kiến giải giúp ngời đọc phần nào hiểu
Trang 5về quy luật vận động nội tại của chiến tranh nói chung và vấn đề về chiếntranh nói riêng, từ đó khẳng định các giá trị nhân bản bền vững vốn là kết tinhcủa mảng văn học viết về chiến tranh trong những năm tháng hoà bình này.
Đó là những lí do khiến chúng tôi chọn đề tài hình tợng ngời lính trongmột số tiểu thuyết Việt Nam sau 1986
2 Lịch sử vấn đề
Sau chiến thắng vĩ đại mùa xuân 1975, lịch sử dân tộc đã khép lại quákhứ đau thơng hào hùng và bớc sang một trang mới, nhất là từ sau đại hội VIcủa đảng Có thể nói văn học Việt Nam sau năm 1975 nh một vờn hoa muônsắc, trong đó mảng đề tài viết về chiến tranh và ngời lính là một chùm hoa lấplánh sắc màu Hàng loạt các tiểu thuyết đã đợc hoài thai và khai sinh gặt hái
đợc những thành công thu hút sự quan tâm chú ý của độc giả và giới nghiêncứu phê bình Trớc hết là các ý kiến quan tâm đến thời sự văn học nói chungtrong đó ít nhiều đề cập đến lí luận và văn xuôi thời kỳ đổi mới của các tác giả
đi trớc nh: Trần Đình Sử, Phong Lê, Trơng Đăng Dung, Phạm Vĩnh C, Đỗ ĐứcHiểu, Lê Ngọc Trà, Trần Cơng, Bích Thu… Nhìn chung, các bài nghiên cứu Nhìn chung, các bài nghiên cứuphê bình đều thống nhất ý kiến cho rằng văn học viết về chiến tranh sau năm
75 đã có sự phong phú, đa dạng, táo bạo, chân thực Thay vì cách nhìn đơngiản, rạch ròi một chiều trớc kia là cách nhìn đa chiều, phức hợp về hiện thực
và số phận con ngời “Hành trình văn học ta mấy năm qua, từ cố gắng rút rakhỏi đề tài số phận chung của cộng đồng dân tộc đi đến hiện thực ngổn ngang,rồi tiếp tục đi sâu vào thế giới nội tâm trong từng con ngời thật là cuộc hành h-
ơng vô tận, cuộc kiếm tìm khó nhọc bên trong thế giới riêng của từng con
ng-ời Hành trình ấy không phải là một hành trình thu hẹp dần phạm vi của vănhọc, Văn học đang tiếp tục cận dần trở lại với những giá trị nhân văn chungcủa từng thời đại [38]
Với một độ lùi thời gian cần thiết, các nhà văn dờng nh đã có sự tĩnhtâm, chín chắn và công bằng để đánh giá, nhìn nhận lại cuộc chiến Hồ Phơngnhận thấy một trong những tìm tòi không mệt mỏi của tác phẩm viết về chiếntranh sau năm 1975, đặc biệt là trong thập kỷ 80 và 90 là “những vấn đề về sốphận con ngời đã đợc chú ý đào xới, khai thác một cách sâu sắc, chân thựchơn trớc” [49] Những bài nghiên cứ phê bình, trao đổi đi vào tác phẩm cụ thểcủa các nhà văn, nhà nghiên cứu: Lê Lựu, Ma Văn Kháng, Chu Lai, XuânThiều, Nguyễn Văn Hạnh, Phạm Hồ Thu… Nhìn chung, các bài nghiên cứu
Trang 6Ngoài các bài báo đợc đăng tải trên các tạp chí nh: Văn nghệ quân đội, Tạp chí Văn học, đáng chú ý phải nói đến các tham luận đợc trình bày trong
hội thảo “Năm mơi năm văn học Việt Nam sau cách mạng tháng tám” Dokhoa Ngữ văn - ĐHSP, Khoa Ngữ văn ĐH Tổng Hợp cùng trờng viết vănNguyễn Du và tạp chí văn học quân đội phối hợp tổ chức tại Hà Nội ngày3/6/1995 Tại đây có 44 báo cáo tham luận của các nhà văn, nhà phê bình, nhànghiên cứu văn học có tên tuổi nh: Chu Lai, Xuân Thiều, Đinh Xuân Dũng, LãNguyên, Nguyễn Văn Long, Vơng Trí Nhàn… Nhìn chung, các bài nghiên cứu đã bàn luận nhiều đến vấn đềcủa tiểu thuyết viết về chiến tranh sau 1975 ở cả phơng diện tích cực và tiêucực, nhng cơ bản vẫn đặc biệt lu tâm đến sự chuyển hớng cảm hứng sáng táccủa nhà văn
Năm 1990, tiểu thuyết Thân phận của tình yêu (Bảo Ninh) đợc trao giải
thởng Hội nhà văn đã dấy lên một làn sóng tranh luận với nhiều ý kiến khenchê khác nhau Tháng 8/1991 tuần báo văn nghệ tổ chức thảo luận về tiểu
thuyết Thân phận của tình yêu, với sự góp mặt của Trần Đình Sử, Nguyên
Ngọc, Vũ Quần Phơng, Chu Lai, Từ Sơn… Nhìn chung, các bài nghiên cứu và Thảo luận về tiểu thuyết đạt
giải Bến không chồng (Dơng Hớng) Giáo s Trần Đình Sử cho rằng Bảo Ninh
“đã lộn trái cuộc chiến tranh ra để ta đợc nhìn vào cái phía trong bị che khuất”[45] Có cùng quan điểm với Trần Đình Sử, nhà văn Nguyên Ngọc khẳng địnhtác phẩm “là sự nghiền ngẫm về chiến thắng, nó chỉ cho chúng ta biết rằngchúng ta đã làm nên chiến công vĩ đại thắng Mĩ với cái giá ghê gớm biếtchừng nào” [45] Đối lập với các ý kiến đồng tình ủng hộ Bảo Ninh - Từ Sơncho rằng: “âm hởng của tác phẩm còn đậm chất bi, âm hởng hùng còn bị chìmlấp đâu đó, cha tạo nên đầy đủ nét bi hùng của một thời đã qua” [45] VũQuần Phơng nhận thấy Bảo Ninh “đã đánh mất cái hào khí rất đẹp của nămtháng ấy, có thể nó ấu trĩ nhng nó có Có cảm giác tác giả có những điềukhông hài lòng nên có cái nhìn thiên kiến, có chỗ cực đoan” [45]
Tiểu thuyết chiến tranh của Chu Lai sau năm 1975 thực tế cũng gâynhiều tranh luận với những luồng ý kiến khác nhau, song chủ yếu vẫn là khen
ngợi Bùi Việt Thắng trong bài Một cách tái hiện chiến tranh đã nhận định
“viết về chiến tranh còn có ý nghĩa là viết về hậu quả của nó… Nhìn chung, các bài nghiên cứu Vòng tròn bộibạc của Chu Lai xoáy vào những vết thơng của chiến tranh trong lòng ngời vàcách thức của con ngời chữa trị những vết thơng đó” [56]
Trang 7Văn học viết về chiến tranh sau năm 1975 nói chung và tiểu thuyếtchiến tranh nói riêng đã thể hiện chân thực sâu sắc những trầm t, suy nghĩlắng đọng của nhà văn về sự đợc mất mà chiến tranh mang lại, cũng nh nổ lựckhám phá sâu hơn những mảng tối, góc khuất của hiện thực lâu nay vốn bịkhuất chìm đằng sau ánh hào quang của chiến thắng Xuân Thiều nhận định:
“sự quan tâm của phần lớn các nhà văn viết về chiến tranh và âm vang củachiến tranh, nghĩa là viết về số phận của con ngời thời kỳ hậu chiến dù chiếntranh đã đi qua vẫn để lại những dấu ấn khó quên, chiến tranh đã đa đẩy họ tớinhững nẻo bất ngờ, ở đó có thể có niềm vui, nỗi buồn, có tình thơng và lòngcăm thù, có lòng dũng cảm và tính đớn hèn, có lòng trung thành và nhữnggiây phút dao động” [69,140] Những nỗ lực đổi mới hớng tiếp cận hiện thựcchiến tranh đợc giới nghiên cứu phê bình đánh giá cao, song đồng thời cũng
chỉ ra nhiều nhợc điểm, hạn chế Lê Thành Nghị trong bài Tiểu thuyết viết về
chiến tranh, Mấy ý kiến góp bàn cho rắng nhiều tác giả đã có “những nỗ lực
quá đà” và “để khắc phục sự phiến diện, không phải trớc đây viết về anh hùngthì lúc này viết về phi anh hùng, trớc đây viết về cái tích cực, lúc này viết về cáitiêu cực… Nhìn chung, các bài nghiên cứu không nên cho rằng viết về cái tiêu cực mới là viết về sự thật, mới làdám viết sự thật” [40] Cũng một quan điểm nh vậy, Hồ Phơng nhận định nhiềutác giả hôm nay “không hề né tránh tất cả sự tàn khốc của chiến tranh Viết vềnhững nội dung tàn khốc ấy, các tác giả có ớc muốn qua đó có thể làm rõ hơn,sống động hơn sức chịu đựng, lòng hy sinh của con ngời, cũng nh làm cho cáigiá và ý nghĩa của chiến thắng đợc thấy rõ hơn… Nhìn chung, các bài nghiên cứu viết về sự tàn khốc của chiếntranh là điều cần phải làm, nhng viết nh thế nào để không làm mờ mất tính chấtcủa cuộc kháng chiến ấy, để cuối cùng ngời đọc có thể chỉ thấy toàn chuyệnchết chóc, ghê sợ và muốn chối bỏ” [43]
Sơ lợc qua một số ý kiến, nhận định trên đây của một số nhà nghiên cứuphê bình chúng tôi nhận thấy tiểu thuyết viết về chiến tranh sau 1975 đã thực
sự trở thành tâm điểm chú ý của công chúng, khuấy động đời sống văn họcvốn đang phẳng lặng Hầu hết các ý kiến đều đề cập đến phơng diện đổi mớicủa văn học chiến tranh sau 1975, đặc biệt là sự chuyển hớng cảm hứng sángtác đợc biểu hiện cụ thể qua cách nhìn về chiến tranh của nhà văn Nhiều ýkiến đánh giá cao vị trí của mảng văn học này Tuy nhiên bên cạnh những sự
đồng tình ủng hộ là những tiếng nói phê phán gay gắt quyết liệt Họ cho rằngcác nhà tiểu thuyết sau 1975 đã viết theo khuynh hớng bóp méo hiện thực, chỉ
Trang 8tập trung vào những mất mát đau thơng, bi kịch mà phủ nhận ý nghĩa lớn laocủa cuộc kháng chiến Có một sự khách quan, công bằng hơn, nhiều nhànghiên cứu phê bình vừa nhận thấy điểm mạnh đồng thời vừa nhận thấy điểmyếu của tiểu thuyết viết về chiến tranh.
Đặc biệt văn xuôi sau năm 1975 tập trung khai thác và tô đậm số phậnngời lính trong và sau chiến tranh, nhận xét về ngời lính đợc đặt ra với t cáchcon ngời là cá thể với tất cả chung riêng của xã hội Mô tả chiến tranh bằngcái nhìn ít nhiều mang màu sắc bi kịch, các nhà văn đã đem đến cho văn họcthời kỳ này âm hởng lặng lẽ, khắc khoải của nỗi buồn chiến tranh miên man.Niềm đau u ẩn đó không phải là cái h vô ảo ảnh mà đợc chạm khắc bằng hìnhkhối ngay trên thân phận bé nhỏ của con ngời
Tựu chung các tác giả đều khẳng định sự thay đổi, khởi sắc của tiểuthuyết sau thập kỷ 80, nhng mỗi công trình nghiên cứu, mỗi bài viết thờngmới đề cập đến một hoặc vài khía cạnh đổi mới nhất định chứ cha đi sâu phântích tìm hiểu và trình bày một cách có hệ thống Tuy nhiên tất cả các ý kiến đó
là những cơ sở đầu tiên, những gợi mở quan trọng để đề tài này tiếp tục công
việc nghiên cứu về hình tợng ngời lính trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986.
3 Phạm vi nghiên cứu
Với đề tài này ngời viết không có tham vọng nghiên cứu toàn bộ cáctiểu thuyết chiến tranh mà chỉ tập trung vào khảo sát một số tác phẩm sau
1986 Đó là những tác phẩm: Nớc mắt đỏ (Trần Huy Quang), Thân phận của
tình yêu (Bảo Ninh), ăn mày dĩ vãng, Bãi bờ hoang lạnh, Vòng tròn bội bạc,
Ba lần và một lần, Phố (Chu Lai), Bến không chồng (Dơng Hớng)
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Luận văn đa ra một cái nhìn bao quát, hệ thống về sự đổi mới củatiểu thuyết Việt Nam sau năm 1975 nói chung và tiểu thuyết sau năm 1986nói riêng
4.2 Luận văn chỉ ra sự đổi mới của tiểu thuyết sau 1986 trong việc thểhiện hình tợng ngời lính trên cả hai phơng diện nội dung và nghệ thuật Bớc
đầu lí giải những nguyên nhân của xã hội đời sống và cả những nguyên nhâncủa chính bản thân văn học đã tạo ra những đổi mới đó
4.3 Góp phần khẳng định vai trò đóng góp của mảng tiểu thuyết viết vềchiến tranh và ngời lính cách mạng đối với nền văn học nớc nhà
Trang 9Ch¬ng 2 Nh÷ng kh¸m ph¸ míi vÒ h×nh tîng ngêi lÝnh trong tiÓu
thuyÕt ViÖt Nam sau 1986.
Ch¬ng 3 Mét sè c¸ch t©n trong nghÖ thuËt x©y dùng h×nh tîng ngêi
lÝnh cña tiÓu thuyÕt ViÖt Nam sau 1986.
Trang 10Chơng 1Tổng quan về hình tợng ngời lính
trong tiểu thuyết Việt Nam
1.1 Hình tợng ngời lính - một cái nhìn chung
Trong suốt chiều dài lịch sử của toàn dân tộc, trải qua các cuộc chiếntranh, ngời lính đã trở thành hình tợng trung tâm xuyên suốt quá trình vận
động của nền văn học Hình tợng đẹp đẽ, chói ngời của họ đã đi vào lịch sử
nh một huyền thoại đẹp là niềm tự hào, ngỡng vọng của biết bao thế hệ Tuynhiên trớc cách mạng tháng 8 ngời lính hầu nh vắng bóng trong văn học Saucách mạng tháng 8, ngời lính trở thành “Con ngời đẹp nhất” họ đợc cả xã hội -
u ái, ngỡng mộ và là niềm tự hào tin yêu của toàn dân tộc
Ngời lính trở thành những con ngời đại diện cho giai cấp dân tộc, thời
đại và kết tinh một cách chói lọi những phẩm chất cao quý của cộng đồng.Những khó khăn, gian khổ, sự khốc liệt nghiệt ngã của cuộc sống chiến trờng
đã là môi trờng rèn luyện, thử thách lòng dũng cảm, sự bền gan, ý chí và bảnlĩnh của mỗi ngời lính Họ sống và chiến đấu vì một mục đích lí tởng cao đẹp
là giành lấy hoà bình độc lập tự do Sau mỗi trận đánh kẻ mất ngời còn, sựthấm thía về những hi sinh mất mát, vì thế cũng trở nên sâu sắc hơn, lắng
đọng hơn Ngời lính họ không phải là một thánh nhân, họ là một con ngờibình thờng với bao ớc vọng suy t, trăn trở với những niềm vui nỗi buồn tốt xấulẫn lộn nhau, cái nhìn đầy tính nhân văn đó sẽ cho ngời đọc thấy đợc hình t-ợng ngời lính đầy đặn và ngời hơn Hình ảnh ngời lính hiện lên lồng lộng,thênh thang giữa đất trời, vẫn cái cời hiền lành nh đất, vẫn hồn nhiên, trẻ trung
nh cỏ cây nắng gió Thời đánh pháp, chất lãng mạn chiếm vị thế độc tôn,chính sự lãng mạn của ngời lính đã làm mềm đi những cánh rừng bom đạn,làm giảm đi sự khốc liệt của chiến trờng, một vạt cây, một ngọn gió, một ánhtrăng đêm khuya, một giọt sơng rơi, một tiếng cời trong vắt của con gái, một
ánh mắt, cũng là nổi xao xuyến của biết bao chàng trai ra trận Đó là sứcmạnh vô hình tiếp thêm nghị lực cho ngời lính để hoàn thành nhiệm vụ, giúpcho họ vững tin đi hết những cánh rừng trận mạc Nếu không có một trữ lợnglãng mạn nhất định thì ngời lính không thể tồn tại Sự lãng mạn bay lên từcõi chết Chiến tranh là tàn khốc nhng chiến tranh cũng có những khoảnhkhắc ngọt ngào và thơ mộng xiết bao Đó là lãng mạn, cái lãng mạn năm xa
đã tạo nên đợc một Điện Biên Phủ chấn động hoàn cầu
Trang 11Nhng đến thời đánh Mỹ chất can tràng, chịu đựng hôm nay lại vạch đợcvào sử xanh một chiến dịch Hồ Chí Minh lừng lẫy Để rồi sau đó, suốt mộtkhoảng thời gian dài ảm đạm trong đám mây bao cấp, hình ảnh ngời lính dờng
nh lắng đi, lặn đi đâu mất Vầng hào quang của chiến thắng qua đi, gánh nặngcủa lịch sử đã hoàn thành, cuộc sống ngợp trong những lo toan bề bộn, chẳngthể cứ mãi ảo tởng sống trên những giá trị của ngày qua Giữa cái ồn ào, phồntạp của cuộc sống ngời lính nh bị nhoà tan đi, nhạt nhoà đến nỗi ngời ta có thểcảm giác rằng, sau trọng trách lịch sử đã đợc hoàn thành vinh quang, giờ đây
họ có vẻ trở thành một đám đông ngơ ngác, lạc lõng, không thể bắt kịp vớinhịp độ phát triển của xã hội Cuộc mu sinh vất vả và nhọc nhằn thời hậuchiến không đủ sự tĩnh lặng để cho ngời ta bứt ra những phút lặng cần thiết đểnhớ về nguồn cội Sự chênh chao của cõi sống, nỗi khốn khó của cuộc đời đãlàm mai một đi các giá trị, nhng phẩm chất ngời lính vẫn sáng ngời, không thểnhoà tan vào cỏ cây, nắng gió của cuộc đời Phẩm chất đã đợc chiết xuất, sànglọc từ trong nỗi đau, niềm tự hào, sức sống quật cờng, từ bao thăng trầm biếnthiên của lịch sử
Theo suốt chặng đờng đi của dân tộc các nhà văn cũng đã có sự trảinghiệm, thấm thía hơn về những đợc - mất mà ngời lính phải gánh chịu Vì thếhình ảnh ngời lính trở nên hoàn thiện dần hơn Trớc 1975 hình tợng ngời línhhiện lên với vẽ thi vị trữ tình, họ đẹp một cách lung linh Nhng văn học chính
là sự hoàn thiện, tiếp nối, lịch sử văn học bao giờ cũng tuân thủ theo quy tắccủa sự kế thừa và phát triển Điều đó tạo nên mạch chảy liên tục, logic chotiến trình phát triển hiện đại hoá nền văn học, những trang văn sau năm 1975ngời lính đợc nhìn nhận trong cách nhìn đa chiều phức hợp, toàn diện và đầy
đủ vẻ gai góc, thô nhám của nó Vì thế những trang viết sau này về ngời línhbao giờ cũng day dứt hơn, lắng đọng hơn Đó cũng chính là nhu cầu đổi mớitất yếu của tự thân văn học và lịch sử
Tiểu thuyết sau năm 1975 đã bổ sung một mảng hiện thực to lớn trong
đời sống văn học năm 1945-1975 trớc đây hầu nh bị bỏ quên Tiếp cận và đisâu tìm hiểu một số tiểu thuyết viết về ngời lính trớc và sau năm 1986 sẽ chochúng ta một cái nhìn toàn diện hơn về hình tợng ngời lính trong văn học ViệtNam
1.2 Ngời lính trong tiểu thuyết trớc 1975
1.2.1 Ngời lính trong tiểu thuyết chống Pháp (1945 - 1954)
Trang 12Cuộc cách mạng tháng 8 năm 1945 là một bớc ngoặt vĩ đại trong lịch sửdân tộc.Thành công của cách mạng tháng tám đánh dấu một mốc son chói lọi,
mở ra một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội.Thắng lợi ấy cũng mở ra một thời đại mới cho văn học nghệ thuật Cách mạngtháng tám và kháng chiến đã đem đến cho nhà văn một phát hiện lớn lao tức là
họ đã phát hiện ra đợc sức mạnh quật khởi của dân tộc và con ngời Việt Namhiện ra trong một vẻ đẹp mới lạ của đời sống cộng đồng “Mỗi ngời chúng takhông còn yếu ớt riêng rẽ Chúng ta đã tìm thấy bao trùm làng xóm, gia đìnhchúng ta một cái gì lớn lao chung ấy, ấy là dân tộc” (Nguyễn Đình Thi), cònHoài Thanh thì nhận thấy “Thực đẹp đẽ vô cùng cái quang cảnh của một dântộc vơn mình đến ánh sáng” “Tôi cảm thấy khắp nơi ở quanh tôi và trong lòngtôi một cuộc tái sinh mầu nhiệm”
Trong văn học ở vài năm đầu sau cách mạng đã kịp thời ghi lại sứcmạnh của “Cả dân tộc vơn mình tới ánh sáng”, nhà văn đã phát hiện ra hình t-ợng nghệ thuật quan trọng bậc nhất của văn học thời kỳ kháng chiến chốngpháp là con ngời của quần chúng, các nhà văn của chúng ta đã thấy đợc cuộc
đổi đời và sức mạnh của quần chúng Quần chúng đã làm nên biến cố cáchmạng và gánh cả cuộc kháng chiến trên vai Chính vì vậy cho nên hớng về đạichúng phục vụ đại chúng đã trở thành mục tiêu của văn nghệ kháng chiến, ýthức về nhân vật trung tâm của nền văn học mới là quần chúng đã nảy nở rấtsớm Phát hiện nghệ thuật này không chỉ quy định đề tài phơng hớng sáng tác
mà còn có thể xem là một hệ quy chiếu đã quy tụ và xác định các nguyên tắccủa mọi sự tìm tòi, thể hiện nghệ thuật trong văn học thời kỳ ấy Bối cảnh hiệnthực cuộc sống đã ơm mầm, tiếp sức cho đời sống văn học nói chung, và tiểuthuyết viết về chiến tranh nói riêng Hàng loạt các cây bút đại thụ tiên phong
nh Tố Hữu, Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi, Nam Cao, Nguyễn Tuân, NguyễnHuy Tởng Với một tâm niệm cháy bỏng “Sống đã rồi hãy viết” Họ là nhữngnhà văn tiếp nguồn cảm hứng cho văn học cách mạng sau những năm 1945
Họ vừa là những nhà văn nhng cũng là những ngời lính trực tiếp cầm súngchiến đấu xông pha nơi chiến trận Một thế hệ nhà văn “Vừa là chiến sĩ, vừa lànghệ sỹ luôn luôn có mặt ở mũi nhọn cuộc sống, những con ngời tiêu biểu chomột nền nghệ thuật còn tơi ròng sự sống, một nền nghệ thuật thấm đẫm mồhôi, máu và thuốc súng, một nền nghệ thuật chân chất” Nhà văn đã trở thành
“Ngời th kí trung thành của thời đại” theo sát từng chặng đờng của cách mạng
Trang 13bên cạnh các tiểu thuyết nh Xung kích (Nguyễn Đình Thi), Vùng mỏ (Huy Tâm), Con Trâu (Nguyễn văn Bổng), văn học thời kỳ này cũng sôi động với
các thể loại nh kịch, truyện ngắn, thơ đặc biệt là phải kể đến thơ
Trong một cái nhìn khách quan thì tiểu thuyết ở thời kỳ này cha có đợcthành tựu bề thế nh các thời kỳ sau Tiểu thuyết viết về ngời lính còn mỏng về
số lợng cũng nh dung lợng phản ánh Tiểu thuyết ở thời kỳ này giống nh bônghoa mới chúm chím nụ Điều đáng ghi nhận là những sáng tác đầu tay viết vềchiến tranh của thể loại này đã phần nào phác hoạ lại đợc không khí sôi độngcủa đời sống, những sự kiện trong dòng chảy cuộn xiết của lịch sử “Tôi cảmthấy rằng đây là lần đầu tiên nớc Việt Nam ta đốt đuốc đi đêm một cách vĩ
đại, huy hoàng Ngời tôi rùng mình không phải là vì sơng gió lạnh, nhng chínhvì đã sâu sắc xúc cảm cái sức mạnh phi thờng của quần chúng khi vùng dậy”
(Nguyễn Tuân) Tiểu thuyết Con trâu (Nguyễn Văn Bổng) đi sâu vào phản
ánh khám phá trận chiến sản xuất phía hậu phơng của bà con nhân dân QuảngNam với kẻ thù để giành lại từng con trâu Cuộc chiến này cũng không kémphần gay go quyết liệt,với một ý chí quyết tâm bền bỉ, ngời dân đã chiếnthắng đợc kẻ thù hung bạo Cuộc chiến này không đơn thuần là quyền đòi sởhữu con trâu, mà còn cho thấy đợc sức mạnh quật khởi của nhân dân, khẳng
định sự quan trọng của mặt trận hậu phơng đối với tiền tuyến.Sự thắng lợi đó
là thành quả của cả một tập thể anh hùng, cùng đồng lòng chung sức, cùng ớng về tiền tuyến để chiến đấu, bảo vệ sản xuất
h-Nếu Con trâu (Nguyễn Văn Bổng) lấy bối cảnh ở hậu phơng, thì Xung
kích (Nguyễn Đình Thi) lại lấy bối cảnh chiến đấu gay go của quân và dân ta
trên chiến trờng Bình Trị Thiên, Vĩnh Yên Tác phẩm là một bức tranh thu nhỏ
về cuộc kháng chiến âm thầm mà quyết liệt, những khó khăn gian khổ mà tràn
đầy lạc quan tin tởng của dân quân du kích, tình quân dân gắn bó sâu nặng
nh cá với nớc, cuộc chiến đấu giằng co quyết liệt của dân quân du kích vùng
địch hậu khu 3, của bộ đội vùng chủ lực biên giới bớc đầu đã giành đợc thắnglợi tác phẩm đã khái quát về một giai đoạn lịch sử của dân tộc với những sựkiện biến cố quan trọng
Cùng với các thể loại khác có thể nói, tiểu thuyết thời kỳ này đã đem lạicho văn học một sức sống mới cái náo nức, sôi nổi, khí thế tng bừng đợc gửigắm trong hình tợng những con ngời mới, con ngời làm chủ thời cuộc “Lần
đầu tiên trong lịch sử văn học, đông đảo quần chúng công nông binh chiếm
Trang 14một vị trí quan trọng trong tiểu thuyết - Những đám đông với những hành
động lẫy lừng, vẻ đẹp tinh thần của lý tởng yêu nớc và lòng căm thù giặc”[13] Và cũng là lần đầu tiên trong lịch sử văn học, các cây bút tiểu thuyếtkhẳng định đợc sự chín muồi của t tởng nhận thức cách mạng sáng tác trên cơ
sở thống nhất lý tởng hiện thực xã hội tiến bộ với lý tởng thẩm mỹ T tởng ấy
đợc nhà văn ngầm gửi vào các nhân vật tích cực, nhân vật chính diện nh đội
tr-ởng Na, anh liên lạc Luỹ (Xung kích), những dân quân du kích: chị Bai, anh Phận, Trợ, Chức (con trâu) Tiểu thuyết thời kỳ đã thực sự chỉa mũi nhọn vào
lực lợng thù địch, góp phần động viên cổ vũ cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại,khắc họa những hình tợng con ngời anh hùng trong sản xuất và trong chiến
đấu Những vấn đề nóng hổi của cuộc sống đã đợc các nhà văn kịp thời ghi lại
và phản ánh một cách chân thực Nh vậy trớc sự phức tạp của hiện thực xã hội.Với những biến cố lớn lao trong lịch sử, nền văn học mới ra đời, đã xây dựng
và tự phát triển trong ma bom bão đạn của chiến tranh Bản thân nó đã phảivật lộn với bao khó khăn thử thách để khẳng định vị trí của mình và trở thànhmột trong những nền văn học tiên phong chống chủ nghĩa đế quốc Tuy nhiênnhững tiểu thuyết trong thời kỳ đầu này không tránh khỏi đợc những hạn chế,quan niệm nghệ thuật về con ngời quần chúng, con ngời tập thể ở giai đoạnnày cha có sự xây dựng những tính cách riêng, nhân vật cha tách ra khỏi đám
đông mà hoà tan trong tập thể Nghĩa là văn học 45 - 54 cha xem xét con ngời
nh một cá nhân mà nó khám phá và thể hiện ở phơng diện con ngời tập thể
Đây không phải là sự trở lại với con ngời trong loại hình văn học dân gianhoặc là con ngời siêu cá thể trong văn học thời kỳ trung đại Quan niệm conngời tập thể ở đây mang tính đặc thù Khi con ngời đợc thức tỉnh về sức mạnhcủa cộng đồng và khi quần chúng nhân dân đợc tập hợp trong các tổ chức củamình
Khi quan niệm về con ngời tập thể các tác giả luôn đặt tập thể trong một
đám đông Khi xây dựng đám đông này ngời ta chú ý nhiều đến phơng diệnhành động mà ít chú ý đến thế giới nội tâm, ít chú ý đến những diễn biến phứctạp, những quá trình tâm lí riêng biệt Nhìn chung con ngời trong văn họckháng chiến ít có những dằn vặt, suy t, giằng xé nội tâm Họ thờng là nhữngcon ngời trong sáng dứt khoát toàn tâm vì sự nghiệp chung và hoà nhập vớinhững tình cảm riêng trong những tình cảm, tình nghĩa chung Các tác phẩmcũng mới chỉ chú trọng trong việc mô tả những diễn biến, sự kiện mà cha có
Trang 15đợc tầm khả năng khái quát cũng nh tầm nhận thức triết luận Những hạn chếnàycũng là những hạn chế mang tính quy định tất yếu của thời đại Bởi
“Những năm tháng sôi sục mãnh liệt đó, con ngời mới đã hiện ra nhng các ờng nét của tính cách vẫn còn đang phát triển, cha ổn định Nhà tiểu thuyết bịlôi cuốn bởi những thác ngời cuồn cuộn đi vào cách mạng nên cha đủ thờigian lắng lại để tìm hiểu sâu vận mệnh và đời sống bên trong của những conngời cụ thể” [13] Mặc dù còn mang những hạn chế ở tính công thức, sơ l ợc,minh hoạ, ở khả năng khái quát vấn đề cũng nh việc xây dựng điển hìnhnghệ thuật Nhng tiểu thuyết ở chặng đầu này đã tái hiện đợc quá khứ hàohùng, khí thế cách mạng cuồn cuộn của quân và dân, ca ngợi phẩm chất anhhùng của dân tộc Đó là nguồn động viên lớn lao để cả dân tộc có thêm sứcmạnh bớc vào cuộc kháng chiến trờng chinh gian khổ
đ-Văn xuôi giai đoạn 1945 - 1954 tuy cha kết tinh đợc nhiều tác phẩmxuất sắc nhng đã mở ra những hớng tìm tòi mới trong việc tiếp cận và phản
ánh đời sống xã hội lịch sử Tiểu thuyết thời kỳ chống pháp đã đặt ra nềnmóng vững chắc xây những viên gạch đầu tiên trong toà nhà đồ sộ, góp phầnvào việc hoàn thiện và phát triển của các tiểu thuyết sau này viết về chiếntranh và ngời lính cách mạng
1.2.2 Ngời lính trong tiểu thuyết chống Mỹ (1954 - 1975)
Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ 1954, nhân dân ta bắt tay vàocông cuộc xây dựng đất nớc, hàn gắn vết thơng chiến tranh Miền Bắc tạmthời có hoà bình, nhân dân miền Nam vẫn tiếp tục kháng chiến chống ách đô
hộ của thực dân pháp và đế quốc Mỹ Cuộc chiến đấu trên tất cả các mặt trậnvẫn diễn ra rất gay gắt, quyết liệt Văn học đứng trớc yêu cầu đa dạng trong sựnhìn nhận về xu thế chung của xã hội
Quan niệm về con ngời lúc này vẫn tiếp tục về con ngời kháng chiến vàphát triển trong điều kiện lịch sử mới trên nền tảng tập thể con ngời công dân
ở trung tâm của quan niệm con ngời trong văn học giai đoạn này là khái niệmcon ngời mới, con ngời mới đợc hình thành từ sau cách mạng tháng tám nhngthực sự đi vào trong văn học Việt Nam từ sau năm 1954, văn học những nămchống pháp mới chỉ dừng lại ở con ngời tập thể, chứ cha chú ý đến những tínhcách riêng Văn học những năm hoà bình đã chú ý đến các tính cách của cáccá nhân và rất coi trọng tính cách điển hình hoá Nhìn chung trong các tiểu
thuyết nh Vỡ bờ (Nguyễn Đình Thi), Đất nớc đứng lên (Nguyên Ngọc) Một
Trang 16chuyện chép ở bệnh viện (Bùi Đức ái) các nhân vật đã có dáng dấp riêng, một
bề dày về đời sống nội tâm Nét đặc trng cơ bản trong quan niệm con ngờithời kỳ này là đó là con ngời thống nhất trong sự riêng chung, đó là nhng conngời vừa mang những nét riêng lại vừa mang những nét chung Trong khángchiến hầu hết các nhà văn cha đặt vấn đề riêng của con ngời hoặc có nói đến
đời sống riêng thì cũng cụ thể hoá cái riêng thành cái chung của giai cấp, củacộng đồng hạnh phúc cá nhân, cuộc sống riêng t đợc xem nh là cái gì xa lạ,phù phiếm Một nữ thi sĩ đã nói lên tâm trạng chung ấy của con ngời ViệtNam sau cuộc cách mạng
Đẹp gì chăn gối trong khi cả
Dân tộc sôi lên chí quật cờng Hãy gác tình riêng mu việc lớn
Để đong máu giặc dội biên cơng
(Ngân Giang - Xuân chiến địa)Nay chiến tranh đã kết thúc, cuộc sống hoà bình đã trở lại con ngờikhông thể không quan tâm đến đời sống cá nhân, cuộc sống thờng nhật
Bớc vào cuộc kháng chiến chống Mỹ nền văn học mới đã trải qua 20năm xây dựng và trởng thành với định hớng rõ ràngvà đứng đắn, nên đã “nhậpcuộc” nhanh chóng với tinh thần “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiếnthắng” Quan niệm nghệ thuật về con ngời trong văn học chống Mỹ là sự tiếptục của quan niệm con ngời trong văn học 20 năm trớc đó Nhng đợc pháttriển tập trung vào một hớng lớn và đi tới đỉnh cao của nó là con ngời sửthi.Tiểu thuyết đã gặt hái đợc nhiều thành công các cây bút tiểu thuyết có điềukiện thâm nhập thực tế, len lỏi vào mọi ngõ ngách, tận cùng của chiều sâu vấn
đề để có những trang viết chân thực hơn, trải nghiệm và sâu sắc hơn Từ tiểuthuyết viết về công việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, những hạnchế, tiêu cực đang cản trở sự đi lên của xã hội thì đề tài chiến tranh cáchmạng vẫn là đề tài trọng tâm, gây nhiều cuốn hút và có nhiều bề dày thành tựuhơn cả Đề tài này đợc triển khai trên phơng diện, Đó là hiện thực lịch sử nóngbỏng của cuộc kháng chiến chống pháp vừa đi qua và những sự kiện biến
động không kém phần gay go, ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ đangdiễn ra
Viết về cuộc kháng chiến chống pháp, có những tác phẩm tiêu biểu nh
Đất nớcđứng lên - Nguyên Ngọc viết năm 1955, Một chuyện chép ở bệnh viện
Trang 17- Bùi Đức ái viết năm 1959, Trớc giờ nổ súng - Lê Khâm, Sống mãi với thủ đô
- Nguyễn Huy Tởng (1961), Cao điểm cuối cùng - Hữu Mai (1961) Những
sáng tác này đã làm sống lại hình ảnh cuộc kháng chiến trờng kỳ và anh dũngcủa toàn dân ở nhiều địa phơng trên nhiều mặt trận, trong những hoàn cảnh
đầy khó khăn, những thử thách nghiệt ngã, những chiến công to lớn và cả sự
hi sinh nhiều khi thầm lặng
Mở đầu tiểu thuyết đề tài chiến tranh giai đoạn này là phẩm Đất nớc
đứng lên (Nguyên Ngọc) Đây đợc xem là tác phẩm có giá trị của nền văn học
Việt Nam hiện đại, đợc trao giải nhất về tiểu thuyết trong giải thởng văn học
1954 - 1955 của Hội Văn nghệ Việt Nam Đất nớc đứng lên đã miêu tả thành
công con ngời anh hùng thời đại và cuộc đấu tranh ngoan cờng bất khuất củadân tộc Ba Na Đây là một tác phẩm văn học có ý nghĩa luận đề cho một luận
đề tác phẩm viết về ngời anh hùng thời đại Tác phẩm này ra đời đã cắm mộtcái mốc mới trên phơng hớng miêu tả ngời anh hùng dân tộc mà suốt quá trìnhnhững năm trớc đó nhiều nhà văn của chúng ta còn đang trên bớc đờng tìmtòi, mò mẫm
Đất nớc đứng lên nhằm thể hiện quá trình vận động và quá trình trởng
thành của dân tộc Ba Na nhân dân Tây Nguyên trong cuộc kháng chiến chốngPháp và tiêu biểu cho quá trình vận động, trởng thành là nhân vật anh hùngNúp Sự ra đời của tác phẩm đã phần nào khắc phục đợc những hạn chế mộtthời trong tiểu thuyết viết về chiến tranh ở thời kỳ trớc đó “Đây là một thiênanh hùng ca, ca ngợi cuộc chiến đấu anh dũng của đồng bào thợng nguồn TâyNguyên - xứ sở của chim Đrao, chim ng, của Đờn tơ- rng, đờn Giông Trong
đó nổi bật lên hình ảnh con ngời u tú của dân tộc Ba Na anh hùng Núp” (Đất
nớc đứng lên) Từ những nhận thức còn mông muội, lạc hậu, nhờ có ánh sáng
cách mạng dẫn đờng ngời Ba Na đã làm nên điều kì diệu, là đánh đuổi thựcdân Pháp, giành lại từng ngọn núi, con suối và cuộc sống tự do cho mình Đặcbiệt tác phẩm đã khắc họa một cách trọn vẹn hình tợng cá nhân điển hình, ng-
ời anh hùng cách mạng - anh hùng Núp Tác giả đã xây dựng nhân vật trong
sự kết hợp hài hoà, thống nhất giữa cái riêng và cái chung, một con ngời tiêubiểu cho sức mạnh quật khởi và linh hồn của dân tộc Ba Na Hình tợng điểnhình không ngừng ở hành động mà còn có sự lắng lại của cảm xúc, suy nghĩ,trăn trở Đó là một bớc tiến mới trong nghệ thuật xây dựng nhân vật
Trang 18Trớc giờ nổ súng Lê Khâm lại đi vào bối cảnh cuối năm 1952 ở chiến
tr-ờng Hạ Lào, khi đội quân tình nguyện Việt Nam sắp mở chiến dịch Tây Nam
Đơn vị CC3 đã bị phục kích và bị lạc vào rừng rậm Giờ đây kẻ thù của họkhông chỉ là hiện hữu cụ thể mà còn là kẻ thù vô hình, ngời chiến sĩ phải đấutranh, vật lộn với những khó khăn thiếu thốn, đói ăn, thiếu mặc, vắt rừng, thờitiết khắc nghiệt để vợt lên chiến thắng hoàn cảnh Cuộc sống kham khổ lại đặtngời lính vào những thử thách mới Chính sự khó khăn tởng chừng nh khôngthể vợt qua ấy càng làm cho phẩm chất kiên định của ngời lính toả sáng sứchấp dẫn, sự lôi cuốn của tiểu thuyết là đã tôn trọng dòng chảy của yếu tố hiệnthực Tác giả không hề né tránh những đau thơng, mất mát, mô tả sự đớn hènbạc nhợc đầu hàng của một số cá nhân
Nếu nh trớc giờ nổ súng lấy bối cảnh ở chiến trờng Hạ Lào thì Cao
điểm cuối cùng (Hữu Mai) lại lấy bối cảnh là những trận đánh cao điểm trên
giữa đồi A1 của bồ đội ta Cuộc đấu tranh giành giật, giằng co quyết liệt củacác chiến sĩ với kẻ thù để bảo vệ cao điểm, những hi sinh thầm lặng, cảnh sinhhoạt thiếu thốn, tinh thần lạc quan tin tởng của ngời lính thật cảm động Sự hisinh, chiến đấu quả cảm của họ đã làm nên chiến thắng Điện Biên lừng lẫy
Một chuyện chép ở bệnh viện (Đức ái) lại xoay quanh về cuộc đời chị
T Hậu, chiến tranh đã cớp đi những ngời thân, ngời chồng thơng yêu Từ nỗi
đau xé tím tái ruột gan ấy chị đã bản lĩnh đứng dậy, biến đau thơng thànhhành động Tác phẩm không chỉ nhìn nhận con ngời nh những nạn nhân màcòn là con ngời chiến đấu, vơn lên làm chủ hoàn cảnh.Thành công của tiểuthuyết thời kì này chính là việc tạo dựng hình tợng điển hình mang tính cá thểhoá Những trang viết không còn mô tả tập thể chung mà đang xoáy sâu vàotừng số phận con ngời cụ thể thờng đợc lấy nguyên mẫu từ cuộc sống (Anhhùng Núp, chị T Hậu) Các tiểu thuyết không chỉ dừng lại ở việc khắc hoạhình tợng điển hình mang tính cá thể mà còn tập trung phân tích, lí giải, cắtnghĩa quá trình vận động trởng thành của nhân vật Con ngời luôn đợc đặt
trong sự vật lộn, tự đấu tranh với hoàn cảnh để trởng thành: Nh Tuấn (Cao
điểm cuối cùng), tiểu thuyết thời kỳ này đã phần nào khắc phục đợc cái nhìn
giản đơn, một chiều, công thức, sơ lợc, thiên kiến chủ quan một thời trong tiểu
thuyết nh: Cửa sông (1976), Dấu chân ngời lính (1972) - Nguyễn Minh Châu;
Vùng trời (1971) Hữu Mai; Vào lửa 1966), Mặt trận trên cao (1976)
-Nguyễn Đình Thi; Hòn đất (1966)- Anh Đức; Gia đình má bảy (1968), Mẫn
Trang 19và tôi - Phan Tứ; Đất quảng (1971) - Nguyễn Thành Trung; Vỡ bờ - Nguyễn
Đình Thi
So với các tiểu thuyết trớc đó, thì tiểu thuyết kháng chiến chống Mỹthực sự có độ mở về dung lợng và khả năng khái quát phạm vi phản ánh, có rấtnhiều cuốn tiểu thuyết có dung lợng lớn với 2, 3 tập, khái quát cả một thời kì
lịch sử dân tộc với số lợng lớn các nhân vật nh trong Vỡ bờ, Dấu chân ngời
lính, Sóng ngầm Đó là những cuốn tiểu thuyết có khả năng khái quát toàn
cảnh Dấu chân ngời lính là cuộc chiến đấu ác liệt của các chiến sĩ trên mặt trận khe sanh, Rừng U Minh phác thảo bức tranh toàn cảnh của phong trào
Đồng Khởi, Cửa Sông là bức tranh của hậu phơng lớn Miền Bắc trong mối quan hệ với tiền tuyến, Hòn Đất phản ánh cuộc đấu tranh của nhân dân Hang
Hòn
Tiểu thuyết giai đoạn này vẫn chú ý đến nhân vật đám đông, tập thể,
nh-ng hình tợnh-ng trunh-ng tâm là nhữnh-ng cá nhân điển hình Cái lí tởnh-ng anh hùnh-ng phải
đợc khẳng định, soi rọi trong mối quan hệ hoàn cảnh, cộng đồng Chất sử thi
và cảm hứng lãng mạn kết tinh đậm đặc trong hình tợng ngời lính Họ lànhững con ngời sử thi, con ngời đại diện cho đầy đủ tầm vóc, ý chí, khát vọngcủa cộng đồng, dân tộc đất nớc
Dấu chân ngời lính đợc coi là một trong những tác phẩm cho văn xuôi
chống Mỹ Hình tợng ngời lính trở thành trung tâm và xuyên suốt chiều dàitác phẩm Vẻ đẹp của các thế hệ ngời lính đợc nhà văn thể hiện rất đậm nét.Chính uỷ Kinh là đại diện cho thế hệ cha anh, tham gia đánh pháp thời chínnăm xong, lại là một trong những ngời đặt dấu chân đầu tiên mở đờng mòn
Hồ Chí Minh Là một chỉ huy có tài, suốt đời hi sinh quyền lợi cá nhân, gia
đình cách mạng những ngời cha anh hùng nh Kinh, cũng có những đứa conanh hùng nh Lữ
Lớp cha trớc lớp con sau
Đã thành đồng chí chung câu quân hành
Lữ đã hi sinh dũng cảm trên đồi 475 bằng một hành động vô cùng dũngcảm: Anh gọi pháo của ta rót xuống đầu địch và cũng chính là trên cả đầumình Trong tác phẩm nhân vật Lữ đợc tác giả dành nhiều công phu xây dựnghơn cả, ở anh “chứa đựng cả niềm vui và nỗi buồn, cả hoài bão và lí tởng củacả một thế hệ trẻ tuổi” Cách sống, cách suy nghĩ về chiến đấu của Khuê, Cận,Lợng cùng thế hệ với Lữ rất giống nhau Nói nh Nguyễn Minh Châu họ đã
Trang 20“Từ giã gia đình, trờng học, từ giã một cuộc sống tơng lai đẹp đẽ hết sức bảo
đảm đã bắt đầu dựng cho họ, từ bỏ trái hạnh phúc đang ửng hồng trong vờnnhà để đi vào cuộc chiến đấu đầy vất vả, hy sinh khá là vô t, lạc quan tơi trẻ”
[6] Có thể nói, những ngời lính của 2 thế hệ trong “Dấu chân ngời lính” là
những viên ngọc, toả sáng đẹp một cách rực rỡ, không có tỳ vết Khó có thểtìm thấy một khiếm khuyết trong phẩm chất của họ
Hoàn cảnh đã tạo dựng nên những con ngời anh hùng trong cuộc sống.Tiểu thuyết chống Mỹ đã tạo nên một thế giới hình tợng điển hình, phong phúthuộc mọi tầng lớp, lứa tuổi Đó là hình tợng đĩnh đạc, chững chạc của lớp cán
bộ già dặn trởng thành qua khói lửa của hai cuộc chiến, chính uỷ Kinh (Dấu
chân ngời lính), Tám Thân (Hòn đất), Chín Nguyên (Gia đình má bảy) Họ có
đợc sự thâm trầm, trải nghiệm giàu kinh nghiệm trong chiến đấu, ý chí sắt đá,
kỷ luật nghiêm minh Họ là những tấm gơng sáng cho lớp trẻ noi theo Tiếp
b-ớc thế hệ cha anh, những con ngời trẻ tuổi nh: Lữ, Khuê (Dấu chân ngời lính), Quỳ, Đông, Tú (Vùng trời), Mẫn (Mẫn và tôi) cũng đã khẳng định đợc bản
lĩnh, ý chí vững vàng, sự thông minh nhanh nhẹn, dũng cảm trong chiến đấu
Đặc biệt tiểu thuyết chống Mỹ rất chú trọng trong việc xây dựng hình tợng
ng-ời phụ nữ điển hình, trởng thành trong chiến đấu Họ là những ngng-ời vợ, ngng-ời
mẹ đảm việc nớc, giỏi việc nhà, nh chị Sứ (Hòn đất), út Hảo, Sâm (Mẫn và
tôi), Kan Lịch (kan lịch) Việc khám phá khắc hoạ đời sống, thế giới bên
trong của hình tợng nhân vật điển hình trong tiểu thuyết chống Mỹ cũng đợcchú ý khai thác rất nhiều Nhà văn đã để cho nhân vật tự bộc lộ chính mình
Điều này góp phần tạo nên chiều sâu cho tác phẩm
Mặc dù đã có đợc chuyển biến tích cực trên mọi phơng diện nhng tiểuthuyết chống Mỹ giai đoạn này vẫn có những hạn chế nhất định Do lấy việctuyên truyền chính trị cổ vũ chiến đấu làm nhiệm vụ hàng đầu cho nền vănhọc giai đoạn này nói nhiều đến thuận lợi hơn là khó khăn, về chiến thắng hơn
là thất bại, nói về niềm vui nhiều hơn là nỗi buồn, nói đến cống hiến hi sinhnhiều hơn là hởng thụ Con ngời trong văn học giai đoạn này đợc nhìn nhận
đánh giá chủ yếu ở thái độ chính trị, ở t cách công dân Nhân vật văn học chủyếu đợc đặt trong mối quan hệ đời công hơn là đời t, quan hệ lịch sử hơn làquan hệ đời thờng Họ hiện ra với t cách là đại diện cho cộng đồng hơn là đạidiện cho cá nhân Ta thấy con ngời đời sống tâm linh, quan hệ họ hàng ít đợckhai thác, Chuyện tình yêu phải dè dặt, chuyện tình dục phải kiêng kị Nhà
Trang 21văn tuy có chú ý đi vào đời sống bên trong của nhân vật nhng đời sống bêntrong đó cha đợc phân tích một cách toàn diện Hệ thống nhân vật không có đ-
ợc cái gai góc, sâu sắc, thâm trầm
Trong tác phẩm viết về nhân vật anh hùng ta thấy ngời anh hùng có tâm
lí ít phức tạp Con ngời chỉ có tính giai cấp, tính nhân loại thì rất mờ nhạt Cáctiểu thuyết không đợc triển khai theo lôgic tính cách của nhân vật, nặng vềtính lịch sử sự kiện, chính vì bị cuốn vào dòng xoáy của lịch sử sự kiện, nêntiểu thuyết chiến tranh thời kỳ này không có điều kiện đi sâu vào con ngời cánhân, bỏ qua nét về đời t, đời thờng Vân mệnh dân tộc bao giờ cũng quantrọng hơn tất cả Đây cũng là hạn chế quy định bởi tính tất yếu của thời đại,cái thời đại mà “chỉ có sống, sống cái khách quan và kể lại Hãy khoan làmmột tấm sơn mài Hãy làm cho nhiều cái cho thật đúng, hệt, giản dị thành thật
và thực” (Trần Đăng) Suốt trong 20 năm ròng chống Mỹ, có thể nói tiểuthuyết đã tái hiện lại một cách chân thực sinh động khí thế hào hùng của toàndân tộc Những trang tiểu thuyết thời kì này thực sự đã trở thành nguồn độngviên, cổ vũ lớn lao cho toàn dân tộc trong cuộc trờng chinh khốc liệt chốnggiặc Mỹ Tiểu thuyết thời kỳ này đã tạo nên mạch nguồn cảm hứng cho mộtgia đoạn sáng tác tiếp theo phát triển, hoàn thiện hơn
1.3 Ngời lính trong tiểu thuyết sau 1975
1.3.1 Ngời lính trong tiểu thuyết từ 1975 - 1985
Sau chiến thắng vĩ đại mùa xuân năm 1975, lịch sử dân tộc đã bớc sangmột trang mới Khi tiếng bom, tiếng súng đã lắng xuống thì cuộc sống thờibình mở ra với vô số những biến động của đời thờng Trớc những thay đổi củalịch sử tự thân văn học cũng xuất hiện nhu cầu đợc đổi mới Đề tài chiến tranh
và ngời lính vẫn là nguồn cảm hứng lớn, là mảnh đất màu mỡ, đầy hứa hẹncho các nhà văn khai thác Nguyễn Minh Châu không khỏi trăn trở “Chúng tamới nói đợc một phần rất nhỏ sự tích của những ngời anh hùng vô danh ngoàimặt trận cũng nh của những ngời mẹ, ngời vợ ngoài hậu phơng Rất nhiềucuộc đời của những con ngời bình thờng nhng chứa đựng số phận của cả đất n-
ớc, chứa đựng cả một bài học lớn về đờng đời, đang cần ngòi bút của nhà vănsoi rọi trên trang giấy” [9] Thực ra nhu cầu đổi mới văn xuôi về đề tài chiếntranh và ngời lính có từ rất sớm Ngay từ năm 1971, Nguyễn Minh Châu đãnhận thấy “mấy năm qua cách làm việc của anh em viết văn chúng ta giống
nh cách làm việc của những phóng viên mặt trận Đôi khi chúng ta giống
Trang 22những ngời ra đi biển quá mải mê nhặt vỏ sò, san hô, nhét đầy bị mà quên cảkhung cảnh rộng lớn mênh mông của biển cả: Hãy để cho từng lớp sóng đại d-
ơng xô mình đi và hãy chiêm nghiệm, nghiền ngẫm dai dẳng trớc từng consóng bạc đầu ầy” [9]
Văn học từ năm 1975 - 1980 hầu nh vẫn nghiêng về mạch chảy truyềnthống, hầu hết các nhà văn chuyên viết về chiến tranh vẫn giữ nguyên cảmhứng sử thi khi viết về chiến tranh “giữa lúc niềm vui chiến thắng đang cònngất ngây, ngời ta có ảo tởng về mọi sự đều tốt đẹp, đều sáng láng, con ngờitừng tôi luyện trong chiến tranh sẽ trở nên hoàn hảo” [13] tiểu thuyết về chiếntranh ở giai đoạn này hình thành với hai khuynh hớng, hoặc là thái độ ngợi cahết mình hoặc là cái nhìn bi quan chỉ tập trung ở phần đau thơng mất mát
Đến những tiểu thuyết ở giai đoạn cuối vấn đề chiến tranh đợc nhìn nhậnkhách quan toàn diện, chân thực hơn Từ năm 1975 - 1980 trong vòng 5 năm
đây không phải là giai đoạn đợc mùa của tiểu thuyết, các tác phẩm tiêu biểu
phải kể đến nh: Rừng động (1975 - tập 1, 1972 - tập 2) - Mạc Phi; Nắng đồng
bằng (1977) - Chu Lai; Miền cháy (1977) - Nguyễn Minh Châu; Năm 75 họ
đã sống nh thế (1978) - Nguyễn Trí Huân; Đất Trắng (1979) - Nguyễn Trọng
Oánh; Tháng ba ở Tây Nguyên (Nguyễn Khải); Cửa gió - Xuân Đức; Sao đổi
ngôi (1985) - Chu Văn ở những tác phẩm này, các nhà văn vẫn viết theo
khuynh hớng sử thi và cảm hứng lãng mạn đó là những tác phẩm nhận thứclại thời kỳ chống Mỹ của chúng ta và vẻ đẹp anh hùng vĩ đại của những ngờilính trong kháng chiến chống Mỹ vẫn là vấn đề trọng tâm, vẫn nghiêng mạchngợi ca và khẳng định, nói nặng về chiến thắng của quân và dân ta cũng nh sựthất bại của kẻ thù Tình trạng văn học nớc ta thời kì này rất đáng buồn Nói
nh nhà văn Nguyên Ngọc: “Tình trạng nhà văn nớc ta những năm 1975 - 1980
đúng là tình trạng khôi hài” [38] nhng không đến nỗi bi quan
Các tiểu thuyết thời kỳ này hầu hết vẫn nghiêng về lịch sử sự kiện ở
tiểu thuyết Rừng động Mạc Phi đã mô tả xã hội Mờng vai - suối nàng nh một
hình ảnh khái quát thu nhỏ của một tỉnh miền núi Tây Bắc, đúng hơn là củatỉnh Lai Châu - một tỉnh “không có Cách mạng tháng 8”, vì xa sự chỉ đạo củatrung ơng, cơ sở đảng cha kịp xây dựng, một tỉnh có nhiều dân tộc nhất, nơigiặc pháp chọn làm trung tâm thực hiện chính sách chia để trị, lập xứ thái giảhiệu cực kì thâm độc Đồng thời mang đợc những nét đặc thù của một xã hộivùng cao biên giới, tiểu biểu cho 16 châu trong cái xứ thái tự trị của Đèo Văn
Trang 23Long vào trớc thời gian chiến dịch Điện Biên Phủ Để phản ánh những mâuthuẫn phức tạp và gay cấn trong xã hội, Mạc Phi đã dựng lên những cảnh đờitơng phản nhau Một bên là bà con lao động sống thành bản, thành phờng tuynghèo khổ nhng giàu lòng yêu nớc, một bên là cảnh sống hởng lạc, cũngnhững hành động tội ác, những thủ đoạn bóc lột tinh vi của bọn Phìa, Tạo điểnhình là bè lũ Phìa Sâu - Nàng Sam Tác giả đã rất thành công trong việc phântích những chuyển biến cách mạng sâu sắc của xã hội thái Tây Bắc, trớc vàngay sau khi chiến dịch Điện Biên Phủ, anh cũng tỏ ra rất sắc sảo, tinh tế khikhai thác, mổ xẻ tâm trạng của một loạt nhân vật với những cuộc đời, số phận
và tính cách khác nhau, đồng thời chỉ ra rằng những cuộc đời số phận và tínhcách ấy dù có khác nhau đến đâu nhng rốt cuộc vẫn xoay vần trong cơn lốccách mạng
Tiểu thuyết Cửa gió (Xuân Đức), lại viết về cuộc chiến đấu của nhân
dân, chủ yếu là lớp trẻ của miền đất Vĩnh Linh Tác giả đã tái hiện một quátrình chiến đấu khá chân thật trong sự ác liệt của nó: Những đoàn thuyền tiếp
tế Cồn Cỏ gặp địch, bao ngời hy sinh và mất tích, lễ truy điệu những ngời hysinh, những trận bom gây bao tổn thất, những ngôi nhà bị thiêu cháy cơ sởMiền Nam nghiêng ngã, phản bội,những trận đánh không thắng lợi và cuối tập
là trận đánh giải vây cho tiểu đoàn 47 Xuân Đức đã có một cái nhìn rất kháchquan khi viết về cuộc chiến: Chẳng hạn nh viết về cuộc tháo chạy của trung
đội trinh sát thuộc tiểu đoàn 47 Điều mà trớc đây ngời ta thờng có sự nétránh, anh miêu tả về mối quan hệ trớ trêu mà lại rất ngời giữa tên trởng đoànbình định và ngời yêu cha cới của một chiến sĩ vợt tuyến ra bắc rồi trở thành
tiểu đoàn trởng pháo cao xạ Trong tập 1 tiểu thuyết Cửa gió, Xuân Đức đã
không mắc những định kiến hình thức khi miêu tả kẻ thù, không biểu lộ mặt
nó nh quỷ, mà biết cách mô tả nó là một con ngời, và dù là một tên bản chấtphản động, nó vẫn là con ngời của cuộc đời thờng và sự phản bội của cô Hoankia, đã bị bà mẹ kịch liệt lên án thì cũng đợc tác giả soi sáng ở khía cạnh côcòn là một nạn nhân Cô đã có thể chờ đợi và chịu đựng 8 năm nhng đến phútchót cô đã gục ngã trớc sự ranh ma nham hiểm của kẻ thù Rõ ràng trong mốiquan hệ khá phức tạp giữa cô Hoan và tên Tá, giữa Hoan và ngời mẹ, cùng ng-
ời yêu cũ là một bi kịch đau xót do chiến tranh mang lại Viết tiểu thuyết Cửa
gió Xuân Đức muốn “tái hiện một đoạn sử Vĩnh Linh Thế nhng anh còn
muốn đặt đoạn sử ấy trong những năm tháng biến động dữ dội của đất nớc”
Trang 24Miền Cháy lại viết về những ngày cuối cùng của cuộc kháng chiến
chống Mỹ và cuộc sống của dân tộc những ngày đầu hoà bình Đó là nhữngcuộc chạy loạn của những tên cuồng phản, và công cuộc xây dựng cuộc sốngmới, khắc phục hàn gắn vết thơng chiến tranh
Nguyễn Trí Huân tái hiện đợc không khí chiến trận hào hùng của dân
tộc những năm đánh Mỹ trong tiểu thuyết Năm 75 họ đã sống nh thế”(1978)
nhng cũng ngay ở tác phẩm này dấu ấn của cảm hứng bi kịch đã xuất hiện.Nhân vật trong tiểu thuyết đợc mô tả trong cảnh ngộ éo le riêng, Mạc có nỗi
đau khổ trong hạnh phúc riêng t, khi chồng đang lăn lộn ở chiến trờng miềnNam thì ở nhà vợ “ngang nhiên đi lại với một ngời đàn ông khác, bất chấp dluận, bất chấp sự lên án của cơ quan bạn bè [18,181] Đối với Duật nỗi đau lại
đến từ phía ngời thân ra nhập hàng ngũ kẻ thù trở thành kẻ đối đầu bên kiachiến tuyến Bên cạnh việc quan tâm đến cảnh ngộ cá nhân, nhà văn đã táihiện đợc một hiện thực chiến tranh trong cái nhìn mới mẻ khi không ngầnngại, nhắc đến những hy sinh, thơng vong, chết chóc, thậm chí những thất bại
từ chính phía hàng ngũ cách mạng
Tiểu thuyết chiến tranh giai đoạn này đã có sự đổi mới về dung lợngphản ánh, các cây bút đã thể hiện đợc khả năng bao quát vấn đề, tránh đợc cáinhìn đơn giản, sơ lợc về cuộc chiến Tuy nhiên khuynh hớng sử thi và cảm
hứng lãng mạn vẫn là dòng chảy chủ đạo Đến Đất trắng của Nguyễn Trọng
Oánh ít nhiều đã bộc lộ những chuyển hớng, dấu hiệu ban đầu của sự đổi mới
Với Đất trắng ngời đọc có thể tìm thấy những suy nghĩ mới về chiến tranh.
Đó là sự dữ dội trong cuộc chiến tranh giữa ta và địch những thất bại nặng nềcủa ta, những vùng đất trắng hoang vu của sự chết chóc, tàn khốc Tất cả đợcthể hiện, phản ánh khá đậm nét và chân thật, tác giả không né tránh phản ánhcái đó, không thi vị hoá nó “Mô tả trực diện mặt khốc liệt của cuộc chiến
đấu” đó là lời nhận xét của nhà văn Thiếu Mai với bộ tiểu thuyết 2 tập của
Nguyễn Trọng Oánh Đất trắng miêu tả hoạt động của trung đoàn 16 sau khi
rút về hậu cứ đợt 1 thì đợc trở lại chiến trờng tham gia đợt 2 tổng công kích,
đ-ợc giao nhiệm vụ rất quan trọng là “đứng chân trên một địa bàn bé bằng bàntay” ở ven của ngõ tây bắc Sài Gòn, lọt thỏm giữa vòng vây địch Hàng ngàyhết trận thử thách này sang trận thử thách khác, bao giờ cũng súng lên đạnbồng buộc gọn sẵn sàng nổ súng hoặc chuyển quân không khí căng thẳng đếnngột ngạt Miêu tả những cảnh khốc liệt, dữ dội ấy tác giả muốn gián tiếp nêu
Trang 25bật phẩm chất anh hùng của cả dân tộc ta Tác giả miêu tả hiện thực cuộcchiến theo tuần tự sự kiện, cho nên chất lãng mạn không có, chất hiện thực trởnên đậm đặc.
Có thể nói, văn xuôi từ sau 1975 đến nay đợc đánh dấu bằng hai mốcthời gian Thời kỳ đầu từ 1975 đền những năm 80, văn xuôi vẫn trợt theo một
“quán tính” nghiêng về sự kiện, về sự bao quát hiện thực trong một bình diệnrộng, cảm hứng sử thi vẫn là mạch nguồn chủ đạo, phải từ thời điểm nhữngnăm 80 mới có một vài dấu hiệu khởi đầu của sự đổi mới
Với tiểu thuyết Sao đổi ngôi (Chu Văn) đã đem lại cho ngời đọc một cảm nhận chân thực về chiến tranh Ra đời vào năm 1985, Sao đổi ngôi của
Chu Văn thuộc vào số các tác phẩm viết về những năm cuối chiến tranh giảiphóng, đầu hoà bình Không khí khẩn trơng, náo nức của chiến dịch lớn, sựngỡ ngàng trớc cuộc sống hoà bình, những xao động của chiến tranh biên giớiTây Nam do bọn phản động Pôn Pốt gây ra Tiểu thuyết nêu lên những chủ đềmới đó là câu chuyện về số phận cá nhân của con ngời trớc trận cuồng phongcủa lịch sử trớc những thử thách mới của các mạng, về cái thiện ác, cái đẹp cái
xấu trong tình đời, tình ngời Sao đổi ngôi đã tái hiện khá cụ thể sinh động
cuộc sống thời bình với bao biến động, khó khăn mà cuộc chiến để lại Đờisống bình thờng với bao tính toán vụn vặt ớc mơ nhỏ nhoi có thể làm phainhạt bản chất cao đẹp của những ngời vừa hôm qua là anh hùng, những đồng
đội đã từng vào sinh ra tử, sát cánh bên nhau đến hôm nay lại có sự ghen ghét,
đố kị lẫn nhau Đời sống ở thành phố và nông thôn sau giải phóng dù chỉ đợcphác qua cũng đủ cho ta thấy đợc dòng chảy của đời có vẻ nh quanh co hơn tr-
ớc Bao nhiêu ngời lính trở về đang ngơ ngác, nhng họ phải đối mặt với không
ít những khó khăn, bất trắc do “trong đám cán bộ cơ sở của chúng ta có mộtbọn đã trở thành cờng hào mới dám làm mọi điều vô sỉ mà nó lại dựa vào danhnghĩa đảng, thế lực chính quyền [62,91] Đó là sự thăng trầm của số phận, sựbiến đổi của hoàn cảnh, mà ngời lính khi đối diện với nó, mặc dù là trớ trêu, lànghiệt ngã, nhng từ đó thực sự đã bật lên phẩm chất chói ngời của những nhâncách cao đẹp Nhân vật chính là những ngời chiến sĩ trên chiến trờng chống
Mỹ và sau đó, trong các vị trí khác nhau của đời sống hoà bình Nhà vănkhông miêu tả chiến công vang dội, không tái hiện các tấm gơng hi sinh, ôngtập trung thể hiện chuyện hàng ngày của đời lính trong chiến tranh cũng nhtrong hoà bình Miêu tả đời thờng của những ngời chiến sĩ, Chu Văn có dịp
Trang 26phơi bày biết bao hiện tợng tiêu cực trong đời sống xã hội Thành công và nétmới của Chu Văn khi xây dựng hình tợng ngời chiến sĩ là tác giả không chỉ
đặt nhân vật vào trong hoàn cảnh anh hùng, những bối cảnh hùng vĩ mà còn
đ-a họ tới những nẻo đờng khác nhđ-au, những éo le, gđ-ay cấn củđ-a đời thờng Dovậy hình ảnh ngời chiến sĩ càng nổi bật, sinh động, chân thực và có sức thuyếtphục
Dấu hiệu đổi mới của tiểu thuyết giai đoạn này còn đợc thể hiện ở yếu
tố ngôn ngữ, từ ngôn ngữ thuật tả sang ngôn ngữ triết luận, đa thanh, hình thức
đối thoại chuyển dần sang độc thoại nội tâm Từ năm 1975 - 1985, với khoảngthời gian 10 năm tiểu thuyết viết về chiến tranh cũng đã có những tác phẩmnổi bật nhng cha phải đã gặt hái đợc những thành tựu rc rỡ bề thế Tiểu thuyếtgiai đoạn này vẫn nghiêng về cảm hứng sử thi, vào cuối giai đoạn đã xuất hiệnnhững dấu hiệu chuyển biến, cách tân Điều đó đã góp phần vào sự phát triểncủa những tiểu thuyết sau này
1.3.2 Ngời lính trong tiểu thuyết từ năm 1986 trở đi
Sau năm 1975 và đặc biệt từ đại hội Đảng toàn quốc lần VI, sự đổi mớitrong văn học diễn ra sôi nổi và mạnh mẽ, đặc biệt là trong lĩnh vực văn xuôi.Thực ra nhu cầu đổi mới văn học đã xuất hiện từ khá sớm nhng để trở thànhmột trào lu, để đạt đợc thành tựu nh hiện nay phải bắt đầu từ đại hội toàn quốclần VI của Đảng Yêu cầu của thời đại, tính chất phức tạp của cuộc sống, sự
đa dạng của tính cách con ngời, thị yếu thẩm mĩ của công chúng, đòi hỏi vănhọc phải tìm tòi, thể hiện một cách đầy đủ và sinh động thực trạng đời sốngcủa xã hội, bổ sung những gì khiếm khuyết, mà văn học các giai đoạn trớc chalàm đợc để đổi mới hoàn thiện hơn Cha bao giờ con ngời và hiện thực đờisống lại đợc phản ánh, soi rọi từ nhiều chiều nh thế Trong văn xuôi t duy sửthi chuyển dần sang t duy tiểu thuyết, cảm hứng sáng tác chuyển từ ngợi ca, tựhào, khâm phục sang chiêm nghiệm lắng đọng suy t và bao trùm lên tất cả là
“Cảm hứng sự thật” về hiện thực con ngời Cái nhìn đơn giản rạch ròi, thiện
ác, bạn thù cũng dần đợc thay thế bằng cái nhìn đa chiều, phức hợp Văn học
về đề tài chiến tranh trong những năm chiến tranh ít nói về buồn, vui của cuộcsống thờng nhật, ít nói về những đau thơng, mất mát hi sinh trên chiến trờng,
ít quan tâm đến số phận của con ngời mà tập trung quan tâm đến số phận của
đất nớc Sau chiến tranh, mảng văn học viết về đề tài này mới có xu hớng viết
về sự thật của đời sống, viết về những khó khăn, ác liệt, những sai lầm vấp
Trang 27ngã, thiếu xót của ngời lính trong chiến tranh cũng nh trớc sự cám dỗ của cuộcsống đời thờng.
Đại hội VI của Đảng (1986) đã tạo nên một luồng gió mới thổi vào đờisống văn học nghệ thuật, mở ra thời kì đổi mới của văn học Việt Nam trongtinh thần đổi mới t duy và nhìn thẳng vào sự thật, vào thời điểm này khuynhhớng nhận thức lại hiện thực với cảm hứng phê phán mạnh mẽ trên tinh thầnnhân bản phát triển mạnh mẽ Cảm hứng trào lộng gần nh vắng bóng trongkhoảng thời gian 30 năm của văn học kháng chiến, nay xuất hiện trở lại và trởthành một trong những cảm hứng chủ đạo
Tiểu thuyết đánh dấu mốc cho khuynh hớng này là Thời xa vắng của Lê
Lựu Đây là một hiện tợng văn học nổi bật của những năm 1986 - 1987.Nguyễn Minh Châu tiếp tục đổi mới mình trong các quan niệm về hiện thực,
về chiến tranh, ông đợc xem là ngời mở đầu “tinh anh và tài ba” Bảo Ninh,Chu Lai viết những dòng tê tái, xót đắng về thân phận con ngời sau chiếntranh với những ám ảnh,giằng xé khắc khoải, về những năm tháng đã qua vàcuộc sống hiện tại đầy nhọc nhằn, nghiệt ngã Ngời lính hôm nay đợc nhìnnhận, khám phá từ những nỗi đau, mất mát không chỉ trong chiến tranh Bởichiến tranh dù đã kết thúc, không còn bom rơi, đạn nổ, không còn chết chócnhng vẫn còn biết bao di chứng, bao nỗi đau vô hình và hữu hình đang âm ĩ,nhức nhối trong từng số phận con ngời Ngời lính hôm nay đã đợc nhìn nhận,thể hiện là những con ngời bình thờng, có nỗi buồn, có niềm vui, có sự anhhùng và những cái tầm thờng Họ là con ngời của đời sống thực với những vấn
đề riêng t cá nhân, những vấn đề sâu thẳm, bí ẩn trong thế giới nội tâm, củavùng ý thức và cả vùng vô thức Rõ ràng là sau ngày hoà bình cuộc sốngkhông hề bình lặng, đơn giản xuôi chiều, lấp lánh rực rỡ cờ hoa mà phức tạp
và đa sự hơn nhiều so với những năm tháng chiến tranh khốc liệt, Đúng nh lờinhận xét của Nguyễn Khải “Chiến tranh ồn ào náo động mà lại có cái yêntĩnh, giản dị của nó Hoà bình yên tĩnh mà chứa chấp bao nhiêu sóng ngầm,bao nhiêu gió xoáy bên trong” Sự choáng ngợp, vầng hào quang của chiếnthắng đã chóng vánh mai một đi trên từng thân phận Ngời ta bắt đầu nhậnthức, chiêm nghiệm lại những giá trị đã đi qua và sự đợc - mất mà chiến tranh
đem lại một cách đầy trăn trở, nhức nhối hơn Toàn bộ quá trình tìm tòi, biến
đổi ấy đợc thể hiện trọn vẹn trong các tiểu thuyết tiêu biểu nh Thân phận của
tình yêu (Bảo Ninh), Ăn mày dĩ vãng, Vòng tròn bội bạc, Ba lần và một lần,
Trang 28Phố, Bãi bờ hoang lạnh, Cuộc đời dài lắm (Chu Lai), Chuyện làng cuội (Lê
Lựu), Nớc mắt đỏ (Trần Huy Quang), Bến không chồng (Dơng Hớng), Tiễn
biệt những ngày buồn (Trung Trung Đỉnh) Có thể nói, từ sau đại hội VI, là
thời kỳ mà văn học đợc mùa trên nhiều thể loại nhất là trong truyện ngắn vàtiểu thuyết Các tiểu thuyết thời kỳ này đã đem dến cho bức tranh văn họcmột sắc màu đa dạng và đem dến cho ngời đọc một cái nhìn toàn diện, thấu
đáo hơn về cuộc chiến tranh đi qua nhng d âm của nó thì vẫn còn lắng đọngmãi Chúng ta sẽ hiểu hơn về điều này khi đi vào tiếp cận, tập trung tìm hiểumột số tiểu thuyết sau 1986
Trang 29Chơng 2 Những khám phá mới về hình tợng ngời lính
trong tiểu thuyết việt nam sau 1986
Lịch sử dân tộc đã khép lại một chặng đờng đau thơng, dữ dội nhngcũng vô cùng hào hùng, vẻ vang của toàn dân tộc Cuộc sống hoà bình mở ravới vô số những biến động, quanh co Nó không hề đơn giản, xuôi chiều mà
đầy những ngổn ngang, bề bộn Chiến tranh đã đi qua nhng tổn thất, mất mátcủa nó thì không thể mai một đợc Vẫn còn đó những nỗi đau dai dẳng hiệnhữu trên hình hài từng con ngời, vẫn còn đó những nỗi đau vô hình âm thầm,lặng lẽ, giằng xé trong sâu thẳm cõi lòng Trở về với cuộc sống thời bình,không ít ngời lính trở nên lạc lõng, ngơ ngác với những đổi thay đến chóngmặt trớc cơn lốc ào ạt của kinh tế thị trờng Họ không thể hoà nhập với guồngquay hối hả của xã hội, không ít ngời đã tụt lại phía sau đứng lặng lẽ âm thầm
ở bên lề sự chảy trôi của cuộc sống Không ít ngời đã đánh mất đi chính bảnchất tốt đẹp của mình trong hành trình sinh tồn đầy vất vả, nhọc nhằn nhngcũng không kém phần nghiệt ngã Trớc nghịch cảnh thời hậu chiến các câybút hôm nay đã có hớng nghiên cứu, phân tích chiến tranh trong toàn bộ tính
đa dạng, phức tạp và khốc liệt của nó
Nhà văn không ngại cày xới, lách ngòi bút vào những tầng vỉa mới khinhìn nhận về chiến tranh và ngời lính trong một cái nhìn trầm tĩnh, kháchquan Nhân vật ngời lính hôm nay đợc thể hiện và khám phá theo những hớngmới ngày càng sâu sắc, phong phú đa dạng hơn
Nếu nh các tiểu thuyết trớc 1975 thờng nói về những lấp lánh của ánhhào quang với những chiến công vang dội, với những phẩm chất can tràng,anh hùng hay sự trởng thành, tiến bộ nhờ cuộc cách mạng mà ít đề cập đếnnhững nỗi buồn, đến hi sinh mất mát mà ngời lính phải chịu đựng thì đến tiểuthuyết thời kì đổi mới này lại bổ sung cho sự thiếu hụt, khuyết lệch ấy Ngờilính hôm nay đợc nhìn nhận, khám phá từ những nỗi đau, mất mát không chỉtrong chiến tranh mà cả sau chiến tranh Vì thế những trang viết có phần thâmtrầm, sâu sắc hơn
2.1 Ngời lính với những mất mát trong chiến tranh
Chiến tranh bao giờ cũng gắn liền với những nỗi mất mát, đau thơng, đó
là những khoảng lặng đau đớn nhất mà con ngời phải gánh chịu Nhng cái
Trang 30nhìn về những đợc - mất mà chiến tranh mang lại ở mỗi thời kỳ lại khác nhau.
Từ năm 1945 - 1975 do văn học nghiêng về mạch chảy sử thi nên thờng chỉnói về chiến công, ca ngợi những phẩm chất anh hùng của ngời lính Sự mấtmát, hy sinh, những tổn thất đợc nói đến nhng rất đẹp, rất nhẹ nhàng, nó chỉ
nh là một lớp nền để tôn lên vẻ đẹp hào hùng của ngời lính Ngời lính xuấthiện trong các trang văn, vần thơ nh là sự đại diện trọn vẹn cho đất nớc, cho l-
ơng tâm, khí phách của thời đại Họ đã tạc vào thế kỷ “Dáng đứng Việt Nam”
ngàn đời bất diệt
Anh ngã xuống trên đờng băng Tân Sơn Nhất Nhng anh vụt đứng lên tỳ trên xác trực thăng
Và anh chết trong khi đang đứng bắn Máu anh phun theo lửa đạn cầu vồng
(Dáng đứng Việt Nam - Lê Anh Xuân)Nhng từ sau năm 1975, với một độ lùi thời gian cần thiết, các cây búttiểu thuyết hôm nay đã có điều kiện nhìn nhận lại một cách khách quan vềnhững gì đã diễn ra Vì thế sự hy sinh, mất mát của ngời lính không còn đợcnhìn trong cái nhìn sử thi nh trớc Cảm hứng hiện thực đã khiến cho các nhàvăn mô tả cái chết của ngời lính thật đau đớn, thảm khốc Đây là một sự thật
mà trớc đây trong suốt một thời gian dài văn học của chúng ta đã từng nétránh ở nhiều tác phẩm, cảm hứng về nỗi buồn đã thành mạch chủ đạo Tínhchất bất thờng, khắc nghiệt của cuộc chiến trong văn học thời kỳ này khôngdừng lại ở những đau thơng, chết chóc, mà còn đợc khai phá sâu hơn, đề cập
đến sự chi phối nghiệt ngã của chiến tranh tới thân phận của con ngời, sự thahoá của ngời lính trớc sự tác động bởi môi trờng hoàn cảnh, sự mất mát niềmtin đối với cuộc chiến tranh Đây là những nỗ lực khám phá rất lớn của cáccây bút tiểu thuyết hôm nay
2.1.1 Ngời lính với những hy sinh đau đớn và thảm khốc
Đại hội VI (1986) của Đảng đã thật sự đánh dấu một bớc ngoặt cho sựchuyển mình của văn học Khi nhìn vào hiện thực khốc liệt của cuộc chiếntranh, trên cái bề mặt phẳng phiu và rực rỡ các chiến công ấy, còn biết baonhiêu mất mát, hy sinh mà ngời lính phải gánh chịu Các cây bút hôm nay đãkhông hề né tránh, mà đã mạnh dạn đa những phần hiện thực đau thơng lêntrang viết một cách khách quan nh nó vốn có, Chiến tranh giờ đây không còn
là những lấp lánh của ánh hào quang với những chiến công vang dội làm náo
Trang 31nức lòng ngời, mà nó còn là những mảnh đời, số phận bé nhỏ bị bộ máy tànbạo của chiến tranh nghiền nát cuốn đi.
Dới cái nhìn của Bảo Ninh trong Thân phận của tình yêu sự hy sinh của
ngời lính thật nghiệt ngã, nó không hề nhẹ nhàng giản đơn chút nào Tất cả đãtrở thành nổi ám ảnh khắc khoải trong lòng những ngời còn sống sót Trongkhông gian mênh mang, âm u của núi rừng đại ngàn, giữa những cơn ma ớt át,với tiếng kêu khắc khoải đơn lẻ của chim quy thảng thốt vọng về, biết baonhiêu sinh mạng ngời lính ra đi trong đớn đau, khốc liệt Cả một tiểu đoàn 27
bị bao vây tiêu diệt, mất hoàn toàn phiên hiệu “Một trận đánh ghê rợn, độc áctàn bạo Mùa khô ấy nắng to gió lớn, rừng bị ớt đẫm xăng đặc, cuồn cuộn lửaluyện ngục Tất cả bị Na Pan tróc khỏi công sự, hoá cuồng, không lính khôngquan gì nữa rùng rùng lao chạy trong lới đạn dày đặc, chết dúi ngã dụi vàobiển lửa Máu tung xối, chảy tóe, ồng ộc, nhoe nhoét Trên cái trảng hìnhthoi giữa truông, cái trảng mà nghe nói đến, ngày nay cỏ cây vẫn cha lại hồn
để mọc lên nổi, thân thể giập vỡ, tan bành, phùn phụt phì hơi nóng” [41,7].Ngời tiểu đoàn trởng trong phút giây cuối cùng đã không khỏi phút giâyhoảng loạn “Anh ta tự đọp vào đầu, óc phọt ra khỏi tai” [41,7] Sự nghiệt ngãcủa cuộc chiến đã khiến con ngời không thể trụ vững nữa, cái lằn ranh giữasống chết đã trở nên quá đỗi mong manh, eo hẹp và ngắn ngủi.Con ngời ấytrong phút cuối cùng đi vào cõi bất tử đã gào to “Thà chết không hàng Anh
em, thà chết ?” [41,7] Cái khí phách can tràng vẫn bừng sáng ở giây phútcuối cùng khiến ngời đọc xúc động vì sự ra đi vô cùng đau đớn và anh dũng
ấy Nơi đại ngàn thẳm sâu kia không còn là nơi sinh sôi phát triển của muônngàn cây lá, cái màu xanh dễ làm lắng dịu tâm hồn con ngời đã không cònnữa mà thay vào đó là “Bãi chiến trờng biến thành đầm lầy, mặt nớc màu nâuthẫm nỗi váng đỏ lòm, trên mặt nớc lềnh bềnh xác ngời xấp ngửa, xác muôngthú cháy thui, trơng sình trôi lẫn với cánh lá và thân cây to nhỏ bị mảnh pháobăm” [41,7]
Nhng rồi cùng với sự chảy trôi của thời gian, cùng với bao lo toan, bộn
bề của cuộc sống, ngời ta đã dễ dàng quên đi tất cả Sự ra đi của họ đã im lìmnhoà tan vào nắng gió cỏ cây của cuộc đời Cái tên tiểu đoàn 27 đã găm vàolòng Kiên một vết cứa nham nhở, không thôi lở loét rỉ máu, váng vất mộtniềm xót xa “Từ đó chẳng còn ai nhắc đến tiểu đoàn 27 nữa, mặc dù vô khốihồn ma ra đời trong trận bại vong ấy vẫn còn lang thang khắp các xó xỉnh, bụi
Trang 32bờ ven rừng, dọc suối cha chịu chầu trời” [41,8] Sự huỷ diệt của chiến tranhthật là ghê gớm, ngay cả loài cây cũng bị biến dạng, tìm khắp Tây Nguyêncũng không thể thấy ở đâu nh ở đây các loài măng dại nhuốm màu đỏ dễ sợ
đến vậy “Đỏ au nh những tảng thịt ròng ròng máu Còn đom đóm thì to kinhdị” [41,8] Từ vùng “Đất chết” này đã nảy sinh biết bao huyền thoại rùng rợn,những truyền thuyết man rợ, nguyên thuỷ nhất về cuộc chiến tranh vừa qua
Sự hy sinh diễn ra không chỉ đối với ngời lính mà còn đối với những ngời dân,chiến tranh, bệnh tật khủng khiếp và đói khổ triền miên đã biến họ thànhnhững linh hồn lở loét không manh áo che thân, không nơi bấu víu Căn bệnhhủi đã cớp đi cả làng Một câu chuyện mà vẫn còn nổi ám ảnh kinh hoàng đốivới Kiên sau này Một hôm Thịnh “con” đã mò tới một ngôi làng và giữa trotàn của ngôi làng cậu ta đã bắn chết một con vợn rất to, phải bốn ngời kéo ramới khiêng nỗi con thú về lán của đội trinh sát “Đến khi ngã nó ra, cạo sạch
đợc bộ lông, con vật hiện nguyên hình là một mụ đàn bà béo xệ, da súi lở nửaxám nửa trắng hếu, cặp mắt trợn ngợc” [41,9] Đó là một sự thật hết sức đaulòng, một câu chuyện đầy nỗi thơng tâm mà hậu quả do chiến tranh mang lại.Cuộc chiến quá khốc liệt, những ngời lính lần lợt ra đi “Vân chết cháy cùngvới chiếc T54 đầu đàn Thân xác ra tro nên chẳng cần huyệt mộ Còn Thanhchết ở cầu Bông và cũng bị thiêu trong quan tài thép cùng với tổ lái” [41,12].Giờ đây khi nhắm mắt dọi nhìn vào hồi ức Kiên không sao quên đợc hình ảnh
ba cô gái đã bị bọn thám báo hãm hiếm và giết chết Anh luôn bị ám ảnh bởicâu chuyện tình bi thảm và mông muội giữa các đồng đội của anh và ba cô gái
bị chiến tranh cầm tù giữa rừng sâu núi thẳm năm xa Hoà cô giao liên đã hysinh vào thủa tối tăm mù mịt năm 68, lu ảnh cuối cùng đọng lại trong tâm chíKiên là cảnh tợng đau thơng rùng rợn “Hoà gục ngã giữa trảng cỏ và đằng sau
là bọn Mỹ xô tới, vây xúm lại trần trùng trục, lông lá một bầy nh con đời ơiphì phò thở, giằng giật, nặng nề hộc rống lên” [41,49] Những cái chết đau
đớn, họ đã vĩnh viễn nằm xuống, vĩnh viễn yên lặng, có ngời tan biến vào hkhông, không để lại một dấu vết gì về sự tồn tại của mình trên cuộc đời “Họ bịgiết từng ngời một hoặc là hàng loạt, bị bắn gục tại chỗ hay bị thơng mất máuchết dần, cha kể tới bao nhiêu kiểu đoạ đầy khác, cha kể những cơn ác mộnghuỷ diệt tâm hồn và lột trần nhân tính” [41,97] Quang cảnh sau một trận đánhchỉ là “Những trận ma cẳng chân, bàn tay rơi lịch bịch lẹt bẹt xuống đồng cỏvoi bên bờ sông Sa Thầy, sờn đồi xáo thịt sau ba ngày huyết chiến nom y hệt
Trang 33nh một mái nhà lợp bằng thây ngời” [41,98] Kiên không thể quên đợc hìnhhài của một con ngời đang trớc mắt mình mà trong phút chốc bổng tan biến
“Vòng máu đặc sệt của Từ vọt tung toé vào mặt Kiên thay cho một tiếng thét,thay cho một lời giục giã” [41,221] Những con ngời đã từng vào sinh ra tử,chia nhau đủ mọi cảnh ngộ thăng trầm, thắng bại, hạnh phúc đau khổ, mất và
còn, họ đã dành trọn tuổi xuân lao lực cho cuộc kháng chiến Trong “Ăn mày
dĩ vãng” (Chu Lai) có những cái chết đầy tức tởi, trận đánh đột ấp trong đêm
do Hai Hùng chỉ huy đã thất bại, lực lợng hỗn hợp nhanh chóng bị xé nát, dồncục, tan rã, dát mỏng, kinh hoàng mạnh ai nấy chạy “Viên bị mìn Clây- mohất văng vào bụi chuối cách đó 3 m, mình mẩy nát tơm và không còn thở đợcnữa, nấm mồ của viên đợc đắp vội bên sông cảnh chiều mặt nớc màu chì.Rừng cây hiu hắt Đám cỏ lau bên kia sông hắt lên bầu trời xám đục một tiếngkêu bìm bịp đơn côi não nề” [24,39] Trớc cái chết của Viên, Hai Hùng chỉbiết hộc lên đau đớn và uất nghẹn, chôn vội nấm mồ trong xót xa, Hai Hùngcàng thấm thía sự tàn phá vô nhân tính của chiến tranh “19 bồng gạo đổi lấymột mạng ngời 19 tuổi, đau quá, vô nghĩa quá” [24,39]
Sự chết chóc đôi khi không phải đến từ tay kẻ thù bên kia chiến tuyến
mà lại đến từ sự sơ xuất của chính đồng đội mình Tiểu thuyết chiến tranh sau
1975 phát hiện ra tính chất bất thờng đầy bi kịch này đã nhận rõ vị thế nạnnhân khốn khổ, thân phận con sâu cái kiến bé nhỏ của con ngời trong chiếntranh Đây là một trong những khám phá mới, là sự thật mà các trang viết trớc
đây cha hề đề cập tới, một thực tế quá chua xót và đầy nghịch cảnh trớ trêu
“Từ cái bụng toang hoắc đỏ lòm của Bảo, một cái chuôi đạn B41 xanh lè, dàigần hai gang tay đang lòi ra theo một góc độ chênh chếch” [24,79], “Thủphạm chính là Tuấn, xạ thủ B41, đang ôm cứng lấy gốc cây, quỳ gục, mặtmày bạc phếch, mắt đổ tràm và toàn thân run bắn nh đang lên một cơn độngkinh dữ dội Trái đạn khổng lồ hình hoa chuối lúc nãy năm nghễu nghện ở đầunòng giờ không còn nữa” [24,80] Miêu tả thân phận con ngời chênh vênh trêncái vạch sinh tử mỏng manh ấy, các trang tiểu thuyết đã bộc lộ cái nhìn thấm
đẫm đau thơng về thân phận con ngời Trở về cùng đồng đội trong niềm vuithắng trận ngất ngây, nhng trong khoảnh khắc yên bình hiếm hoi ấy, giữatiếng cời tếu táo của đồng đội thì cái chết bất ngờ đến với Khiển khi trái tạc
đạn rút chốt bỏ quên trong túi áo đã để lại “Một vệt lõm hình học bằng miệngnón ở dới đất, cả ngời, cả bàn ghế đã biến đi nhanh và gọn nh vừa rồi chẳng có
Trang 34vật thể nào hiện diện cả” [24,105] Và ngay cả Khiển cho đến tận lúc chết vẫn
không kịp hiểu cái gì đang diễn ra với mình Oanh (Thân phận của tình yêu)
vừa quay lng đi phải hứng trọn một băng đạn từ khẩu súng của ngời phụ nữmình vừa tha mạng Tạo Voi choáng váng vì những thây ngời, dúi dụi đổxuống trớc mũi súng của mình Cái chết của Quảng dờng nh kéo dài hơn vớinhững vết thơng khủng khiếp “Mạng sờn lõm vào, tay lũng liểng, đùi tímngắt” Quảng tự giải thoát cho mình khỏi những cơn đau vật vã khi đa tay rútquả u-ét gài bên hông Kiên
Các cây bút thời kì này đã dũng cảm nói lên một sự thật, chính sự vôtrách nhiệm, tính nhu nhợc hàm nghĩa vị kỷ của ngời chỉ huy là nguyên nhân
dẫn đến cái chết thảm khốc cho biết bao ngời lính Năm Thành (Ba lần và một
lần) Vì chút kiêu hãnh, tự phụ cá nhân đã quyết định tung cả đại đội vào một
trận đánh mà cha trinh sát cụ thể sơ đồ toạ độ đóng quân của kẻ thù, kết quả làtrong chớp nhoáng đã dẫn đến cái chết của 30 sinh mạng con ngời “Ba chụcchàng trai khoẻ, u tú, niềm tự hào của cả cánh rừng, đã sống cùng bao nhiêunăm tháng, đã nếm đủ mọi vinh nhục, vui buồn và cha một ai có vợ, kể cả đại
đội trởng đẹp trai, tài hoa, vậy mà chỉ trong thoáng chốc, chỉ sau một đêm ngủdậy bổng dng chẳng còn một ai nữa” [25,53] Đòn tập kích manh động đã chỉ
điểm cho địch phản công trở lại rất dữ dội Cả cánh rừng trong phút chốc bị xérách rơi tả Những sinh linh trong rừng bổng chỉ còn là thân phận con sâu cáikiến “Máu trộn vào đất Mùi da thịt ngào vào mùi lá cây tanh nồng Tiếng rên
la quện dính vào tiếng pháo rít trên cao Bầu trời chao nghiêng Rung giật.Rung giật” [25,54] Lẫn trong cái tan hoang, tơi tả, ngập ngụa khói xanh khóivàng đó là những thân ngời hỗn độn “Một đống tạp nham gồm cả đất, cả lácây, hơi khói, cả xơng thịt con ngời ngào trộn với nhau đến không phân biệt ra
đâu với đâu Góc kia một khúc đầu, góc này một bộ ruột, góc này nữa lại mộttảng mông không hiểu của đàn ông hay đàn bà nhô lên trắng hếu và giắt hờtrên chạc cây đang ứa nhựa trên đầu, sao lại có thể thế dợc nhỉ, một mảngngực con gái vẫn còn trắng lắm, căng tròn, nh đang phập phồng hơi thở”[25,55] Mệnh lệnh cứng nhắc của Hai Hùng và bộ chỉ huy đã phải trả giábằng cái chết của hai ngời lính trong trận đột kích qua rào thép gai vào hang ổcủa kẻ thù đúng giữa đêm rằm sáng trăng Đó là góc khuất của hiện thực màsau ngày giải phóng các cây bút viết về chiến tranh có đủ bản lĩnh để nói lên.Các trang viết đã miêu tả tận cùng gian khổ, tận cùng chiến tích, tận cùng hy
Trang 35sinh Giữa cái lằn ranh mỏng tanh của sự sống và cái chết, để không làm ảnhhởng đến đồng đội, một lần bò vào hàng rào của địch, ngời lính đã “tự đấtnhét cỏ vào đầy cổ họng mình đến tắc thở để tiếng ho không bật ra nữa Khikéo đợc cậu ta ra ngoài thì mặt mày đã tím bầm, sng tấy, mồm miệng nhoenhoét những dãi dớt trộn máu, trộn đất” [24,186] Có những hy sinh âm thầm,lặng lẽ đến ngỡ ngàng nh vậy, ngời lính đã tự thắp sáng mình lên trong nhữnggiờ phút ngặt nghèo ấy Với thân phận bé nhỏ trong chiến tranh, cái chết đãtrở thành một điều gì đó nh lẽ thờng tình Nhận thức rõ điều đó, các cây bút đãdũng cảm nói lên một sự thật rằng: Không phải sự hy sinh nào cũng lấp lánh
ánh hào quang, những hy sinh chết chóc vốn đã trở thành lẽ thờng tình trongthời buổi chiến tranh nên sự ngã xuống của một con ngời cũng mang vẻ lặng
lẽ, nhạt nhoà dần theo thời gian Khi Can bỏ xác trên hẻm tò vò thì cũng là lúc
“Tên tuổi, hình hài một con ngời đã từng vào sinh ra tử không kém cạnh ai vàvốn hoàn toàn không phải đồ tồi đã đột ngột chìm nghỉm đi” [41,26] Để đánhlạc hớng bọn địch, Hoà đã một mình hy sinh nhng rồi sự hy sinh ấy cũng nhoàchìm vào cỏ cây, nắng gió, không ai còn nhớ tới nữa “Chẳng thấy ai hỏi gì anh
về Hoà cả Anh cũng chẳng kể, rồi cũng bẵng quên Có lẽ đức hy sinh, sựquên mình là một cái gì quá giản dị, dễ hiểu, dễ nhớ dễ quên” [41,236] Bikịch thời hậu chiến lặng lẽ nhng lại có cái ồn ào riêng của nó Chính vì vậynỗi buồn về kiếp ngời, về thân phận nhỏ nhoi, mỏng manh, yếu ớt của con ng-
ời mới càng thấm thía, xót xa
Tiểu thuyết sau 1975 với xu hớng viết về d âm của chiến tranh, đã tinh
tế nhận ra con ngời là nạn nhân với những bi kịch đau đớn Những tổn thất,mất mát có thể bù đắp, các vết thơng đã lành, đau khổ sẽ hoá thạch nhng nổibuồn về cuộc chiến tranh thì sẽ càng ngày càng thấm thía hơn đối với nhữngngời lính đã từng đi qua những năm tháng của chiến tranh
2.1.2 Ngời lính với sự hụt hẫng niềm tin
Những năm tháng chiến tranh ác liệt đã gây ra biết bao tổn thất, mấtmát, và một trong những mất mát lớn nhất là sự xói mòn niềm tin về thắng lợicủa cuộc chiến và phản ánh họ trong bi kịch này là một đóng góp hết sức mới
mẻ của tiểu thuyết sau 1986
Nếu nh trong văn xuôi giai đoạn 1945-1975 ngời lính là những nhâncách bất biến, là những ngời có vẻ đẹp tuyệt đối, hoàn hảo Sau 1975, với cáinhìn thực tế, khách quan, ngời lính không còn vẻ đẹp nguyên phiến mà đã có
Trang 36sự đồng hành giữa cái xấu và cái tốt, bóng tối và ánh sáng Nhà văn đặc biệt tỏ
ra chú ý đến sự biến đổi tính cách nh là một hệ quả tác động của ngoại cảnh.Hay nói cách khác ngời lính hôm nay không phải lúc nào cũng làm chủ vợtlên trên và chiến thắng mọi hoàn cảnh mà chịu mọi tác động sâu sắc của hoàncảnh Hiểu đợc tính chất bất thờng, khốc liệt của cuộc chiến và vị thế bé nhỏcủa con ngời, các nhà tiểu thuyết sau 1975 đã nhận ra những dấu hiệu tha hoá
do tác động của môi trờng sống từ ngay trong chiến tranh Đó là tâm lí hoangmang, dao động là sự hèn nhát, nhu nhợc là nổi bi quan chán nản vẫn tồn tại
trong hàng ngũ những ngời cầm súng Hai Hùng, Ba Thành, Tám Tính (Ăn
mày dĩ vãng), Năm Thành, Sáu Nguyện (Ba lần và một lần), Kiên, Can (Thân phận của tình yêu) đã bớc vào cuộc chiến với bao niềm say mê, háo hức Nh-
ng ngã đờng chiến tranh liên miên, chết chóc ngập tràn, tơng lai mờ mịt đãkhiến họ không khỏi những giây phút bấn loạn, hoang mang, nản lòng, nhụtchí “Hết trận thắng này đến trận thắng khác nhng đờng chiến tranh vẫn hunhút mịt mù, tuyệt vọng vô phơng” [41,17] Chân trời chết chóc vẫn mở ramênh mang vô tận, những nấm mồ bồ đội mọc lên, nhấp nhô bên bếp lửa đànghi ta bập bùng, quân lính thời 74 hát, lời ca khốc liệt làm ớn lạnh những đêmtrờng “Ôi chiến trận không bến bờ ngày mai hay hôm nay, hôm nay hayngày mai, nói đi số mệnh ơi, bao giờ tôi sẽ” [41,17] Lời bài hát vang vọngtrong những đêm ma, thật da diết, não nề, ngời lính đã ý thức đợc thân phậnnhỏ bé của mình Sống trong không gian xám xịt, bầu trời, núi non một màubạc phếch và nhoà chìm trong ma lớp sơng màu xám trắng màu tang tóc, conngời cảm nhận rõ sự thống khổ, buồn chán của mình “Khổ sở vì đói, vì sốt réttriền miên, thối hết cả máu vì áo quần bục nát tả tơi và vì những lở loét cùngngời nh phong hủi, cả trung đội chẳng còn ai ra hồn thằng trinh sát nữa Mặtmày ai nấy nh lên rêu ủ dột, yếm thế, đời sống mục ra” [41,18] Ngay cả khi
đợc cho đi học dài hạn ở trờng sĩ quan lục quân, vậy mà Kiên không hề cócảm xúc gì, dờng nh mọi thứ trong anh đã đông cứng, nghẽn lại, ý chí đã nhũn
ra Nếu nh vài năm trớc Kiên sẽ lấy làm hãnh diện vì hạnh vận của mình, nhnggiờ đây “Anh chỉ muốn đợc yên thân, chết một cách yên thân, yên với số phậncon sâu cái kiến của chiến tranh”[41,20] Nhiều ngời lính trong cuộc chiến đã
bị thực cảnh chiến tranh đầy ải tàn nhẫn làm cho sự suy sụp sâu sắc cả thể xáclẫn tinh thần Đối với Can sự khắc nghiệt, gian khổ cuộc sống chiến tranh,luôn cận kề với cái chết, sống lay lắt, mòn mỏi đã khiến Can muốn chạy trốn,
Trang 37muốn đào ngũ với một lí do “Đời tôi tàn rồi, nhng dù thế nào tôi cũng gặp lại
mẹ, phải nhìn thấy làng tôi” [41,24] Với Can dù cuộc chiến tranh có thắng lợihay thua, kết thúc mau hay kết thúc chậm thì cũng chẳng có nghĩa lí gì Anhkhông muốn trong khung cảnh tối tăm, ẩm ớt hoang rợn, không khí nh bng bít
đè nghẹt Nạn đào ngũ lan rộng khắp trung đoàn nó giống nh những cơn óimữa làm rỗng nhiều trung đội bởi họ đã quá ngao ngán, bế tắc và tuyệt vọng.Riêng Can thì có kết cục rất bi thảm, cha hề gặp đợc mẹ thì đã chết “Cái xác
lở loét, ốm o nh xác nhái bị dòng lũ xô tấp lên một bãi lau lầy lụa Mặt của cáixác chết quạ rỉa, miệng nhét đầy bùn và lá mục” [41,26] Công bằng mà xét,không phải Can không có cái lí tởng của mình Bởi một lẽ đơn giản, trớc khi làmột thánh nhân, là một anh hùng thì họ vẫn là một con ngời bình thờng với tấtcả những trăn trở ớc vọng riêng Điều này cho thấy hiện thực chiến tranh đã đ-
ợc tiếp cận bằng cái nhìn biện chứng, không chỉ thấy khả năng vợt lên trênhoàn cảnh của con ngời mà còn nhận ra sự bất lực của con ngời trớc sự chiphối nghiệt ngã của hoàn cảnh Khám phá sâu hơn những bất lực đó, tiểuthuyết chiến tranh giai đoạn này đã tạo nên tính bi kịch nh là một đặc điểmriêng của văn học sau 1975 Chặng đờng chiến tranh kéo dài hun hút với baonhiêu thảm cảnh kinh hoàng đã gieo vào tâm hồn con ngời bao nhiêu sự mệtmỏi, chán nản, niềm bi quan và cái nhìn tuyệt mù vô phơng vào ngày khải
hoàn chiến thắng Đối với Hai Hùng, Tuấn (Ăn mày dĩ vãng), cuộc chiến khốc
liệt này giúp họ nhận ra rằng nghĩa vụ của con ngời trớc trời đất là phải sốngchứ không phải là hi sinh nó Hành động đa tay, giơ chân ra hứng đạn để đợcchuyển về tuyến sau đợc Hai Hùng,Tuấn lí giải “Một cuộc đời tật nguyền,không vợ không con, không tơng lai, không niềm vui nỗi buồn, vô tri vô giácnhng còn ngàn lần hơn vĩnh viễn chui vào lòng đất câm lặng” [24,124] Ngờilính không thể thoát khỏi vòng kìm toả của những thiếu thốn mà chiến tranh
đa lại Hai Hùng khai trừ đảng một đồng chí gan dạ nhng đã tự tiện ăn hếtphần gạo quy định, nhng bản thân Hai Hùng lại là nạn nhân của cái đói, anh
đã từng mò sang lán trại thơng binh ăn trộm một hộp sữa “Không dao, khôngkéo, chỉ bằng hai hàm răng anh đã cạp thủng nắp hộp và nút một hơi đến tận
đáy” [24,126] Trớc sự nghiệt ngã của chiến tranh, Hai Hùng đã thú nhận trớc
Ba Sơng sự yếu đuối, hèn nhát của mình “Chiến tranh mờ mịt,bạn bè chết hếtlớp này đến lớp khác, ngày kết thúc đang còn nằm trong vô vọng, nhiều lúcanh muốn chạy khỏi nỗi nhọc nhằn khủng khiếp mà sức con ngời có hạn
Trang 38Anh chỉ đủ can đảm tử thơng tức là vẫn muốn giữ một chút hợp pháp, mộtchút thanh thản cho cái trò chơi man trá này Mất một chân, thấm chí hai chânnhng anh còn cả cuộc đời sau này” [24,124] Cuộc chiến tranh dặc dài, khốcliệt làm cho ngời lính sống trong sự chán nản, tuyệt vọng, hoảng loạn Lời HaiHùng nghe thật chua xót, thấm thía “Chiến tranh Nó là cái gì nếu khôngphải ngày nào cũng nhìn thấy ngời chết, ngày nào cũng chôn ngời chết mà vẫncha thấy đến lợt mình” [24,41] Cuộc chiến vẫn hun hút mịt mù, gianh giớigiữa sự sống và cái chết lại vô cùng mong manh điều đó làm con ngời khôngkhỏi những giây phút yếu mềm hết sức đáng thơng Tuấn chỉ muốn “Cối nótiện đứt 2 cánh tay để đợc cáng ra bắc trở về nhà Ăn mày, bơm xe, bớirác, trông kho làm gì cũng đợc miễn là đợc trở về, đợc sống Nhà em chết hếtrồi, còn lại mỗi mình em” [24,106] Cùng nỗi đoạ đầy thiếu thốn về vật chất,chiến tranh còn đầy ải con ngời trong nỗi thống khổ về tinh thần Chiến tranhliên miên, niềm tin vào tơng lai hao mòn dần đi theo năm tháng, tâm hồn conngời trở nên hoang phế, trống rỗng Chặng đờng chiến tranh mở ra mênhmang vô tận khiến cái nhìn về cuộc sống của con ngời trong cuộc có lúc dậylên một màu xám xịt, ảm đạm Sự bất lực và nhỏ bé của thân phận, của nỗiniềm riêng t Cổ máy bạo tàn của chiến tranh đã nghiền nát tất cả những tín
điều thiêng liêng, đẹp đẽ, dập tan mọi khát vọng, ớc mơ hoài bão của con ngờiném trả họ vào một thế giới bạt sầu vô cảm và tuyệt tự khủng khiếp nhất
Với Linh (Vòng tròn bội bạc) là những bế tắc, tuyệt vọng, những thất
vọng, chán nản đè nặng tởng chừng nh không thể sống nổi “Có lần tôi đã nghĩ
đến tự sát, tự thơng để chạy trốn khỏi gian khổ, khổ triền miên năm này quanăm khác thì nhiều khi hết chịu nổi Đêm nào cũng có ngời hi sinh, ngày nàocũng âm thầm chôn xác đồng đội, sơ sảy một chút là chết, chết mất xác”
[26,100] Với thi Hoài (Bãi bờ hoang lạnh) cũng là tâm trạng trống rỗng,
hoang phế, mất niềm tin “Cả tuổi trẻ đi suốt dọc trờng sơn rồi kế tiếp nhữngtrận đánh và những cơn sốt rét liên miên nhiều phen muốn tự thơng, muốn nổsúng vào đầu vì cha nhìn thấy ngày thắng lợi, vì bạn bè tức tởi chết đi hếtthằng này đến thằng khác, vì trăm ngàn những lí do ngớ ngẩn của chiến tranh.Tôi căm thù và ghê tởm nó” [27,75]
Còn đối với Hai Hùng, Tám Tính, Ba Thành, thì lí tởng, mục đích giảiphóng Miền Nam “đã lặn vào trong đâu đó trong sâu lắm rồi” ở đây tính bikịch không phải chỉ nằm ở những thơng vong, chết chóc mà còn nằm ở tình
Trang 39thế con ngời dờng nh đã bị chặt lìa hoàn toàn với thế giới bên ngoài, bị cắt lìakhỏi ngời thân, bị tớc đoạt đi những niềm hạnh phúc bé nhỏ, bình dị Cuộcsống đau buồn, niềm tin cứ hao hụt dần đi khiến con ngời phải dựng nênnhững hy vọng bằng ảo ảnh của khói hồng ma “Có thể nhờ khói hồng ma màquên mọi nông nỗi đời lính, quên đói khổ chết chóc, quên béng ngày mai”[41,14] Chính khói hồng ma đã đa họ đến với miền ảo giác xa lạ, mới mẻ,
đầy sự hởng thụ, ở đó không có chết chóc, không có thiếu thốn, không phảichứng kiến những cảnh đau lòng, không có mùi tử khí lành lạnh, ghê rợn.Với Kiên đó là khung trời Hà Nội đầy mơ mộng, là hàng phợng vĩ ven
hồ, là tiếng ve sầu kêu râm ran khi hoàng hôn xuống, là gió hồ lộng thổi,những con sóng vỗ mạn thuyền, đó là hình ảnh của Phơng trẻ trung xinh đẹp.Với Cừ thì là viễn cảnh về ngày sum họp đoàn tụ với gia đình, với Vĩnh thì chỉrặt mơ thấy đàn bà, với Tạo “voi” lại đặc biệt hay mơ sự “ăn uống” Đi sâuvào thế giới tâm hồn của con ngời, các cây bút viết về chiến tranh đã nhậnthấy tính chất nghiệt ngã của chiến tranh nghiền nát mọi khát vọng về tình yêuhạnh phúc Câu chuyện tình hoang dại giữa các đội viên phân đội trinh sát với
ba cô gái trong khu trại tăng gia của huyện đội 67 năm sâu dới cái thung lũng
âm u, hoang vắng Kiên biết tất cả, trong đầu anh nghĩ cần chấn chỉnh, ngănchặn hiện tợng vô kỉ luật quá quắt này, nhng với một trái tim đầy trắc ẩn, Kiênlại thông cảm, chia sẻ cho những ngời đồng đội của mình trớc tiếng gọi mansơ, hoang dã của tuổi thanh xuân Ngay chính bản thân Kiên, trong nhữnggiấc mơ đậm đặc cảm giác, nóng bỏng và ngọt lịm, từ cái miền không gian xaxanh sâu thẳm khuất chìm trong sơng mù ký ức, ngời con gái anh yêu lại hiệnlên lấp đầy cõi mộng mị, cái hình hài yêu dấu, mong manh mềm mại nh cánhhồng đã theo đuổi anh trong suốt những năm tháng chiến trờng, giúp anh vợtqua biết bao khó khăn gian khổ Để rồi giờ đây khi đối diện với thực tại, Kiênnhận ra bộ mặt gớm guốc của chiến tranh “Chao ôi, chiến tranh là cõi khôngnhà, không cửa lang thang khốn khổ và phiêu bạt vĩ đại, là cõi không đàn ông,không đàn bà, là thế giới bạt sầu vô cảm và tuyệt tự khủng khiếp của dònggiống con ngời” [41,33] Vì thế Kiên rất thông cảm,chia sẻ với những ngời
đồng đội của mình trớc tiếng gọi của tuổi thanh xuân theo anh họ đáng đợc ởng “Những giọt cuối cùng sót lại của hình ngời” [41,34] Vì biết đâu “Đểngày mai thì chẳng còn gì” [41,34] Những mối tình trong văn học chiến tranhsau 1975 trong tiểu thuyết bao giờ cũng mang đậm nỗi éo le,đau buồn Nếu
Trang 40h-nh các tiểu thuyết trớc 1975 miêu tả tìh-nh yêu mang màu sắc lãng mạn có thể
để vợt lên trên chết chóc để thắp sáng niềm tin, những năm năm 1975, tìnhyêu lại đợc miêu tả ở một góc độ khác hoàn toàn xuất phát từ bản năng tựnhiên của con ngời Tám Tính “Cứ thấy hơi hớng đàn bà, bất kể già trẻ lớn bé,miễn là có da có thịt là tâm hồn bấn loạn, mắt nhìn nh lồi ra, toàn thân cứngngắc nh bị thôi miên, nh bị hoá thạch [24,78] Trong thời buổi chiến tranh liênmiên tình yêu và hạnh phúc nh một điều gì đó rất xa xôi đối với con ngời, nh-
ng trớc những giây phút nghặt nghèo, hiểm nguy tình yêu lại đợc chắp cánhthăng hoa Trớc giờ khắc quyết định phải đối mặt với kẻ thù, Thu mới trao cảcuộc đời trinh trắng của mình cho Tuấn, Hai Hùng và Ba Sơng mới đi đến tậncùng khám phá của tình yêu, Tám Tính - Hai Hợi mới bùng nổ cơn khát thèm
tình cảm (Ăn mày dĩ vãng), sự hiến dâng của Thu với Dong (Nớc mắt đỏ)
trong một mối tình ngắn ngủi nhng đã trở thành nỗi ám ảnh suốt cuộc đời Thusau này đều xuất phát từ tâm lí hởng thụ gấp gáp đó Tiểu thuyết sau 1975
đã đề cập đến tâm lí hoang mang, dao động, sự chao đảo ngã lòng, sự đói khátcùng quẫn, mất niềm tin phơng hớng vào ngày mai Tuy nhiên, ở một góc độnào đó sự tha hoá, biến đổi, mất mát trong nhận thức này hoàn toàn có thểthông cảm và thể tất vì ngời lính họ là một con ngời bình thờng chứ khôngphải là một thánh nhân, họ cũng mỏng manh, chao đảo, yếu ớt tr ớc mọi va
đập của hoàn cảnh Sự xuất hiện của cảm hứng bi kịch trong những tác phẩmviết về chiến tranh là một sự bổ khuyết cho sự thiếu hụt của tiểu thuyết trớc1975
2.2 Ngời lính với những đau đớn, day dứt trong cuộc sống đời thờng
Sau 1975 chiến tranh kết thúc, đất nớc ngập tràn trong khúc ca khảihoàn Niềm vui sáng láng sau ngày chiến thắng rồi cũng đã đi qua, con ngờiphải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thử thách nghiệt ngã của thời kỳ hậuchiến Cuộc sống thời bình không hề giản đơn, bình lặng, xuôi chiều mà đầynhững phức tạp cấn đọng riêng của nó Những ngới lính trở về sau chiến tranh,mỗi ngời một hoàn cảnh, một số phận Sự ngỡ ngàng, hụt hẫng, chới vớikhông thể và không kịp thích nghi với cuộc sống bộn bề hôm nay và tâm líchung của hầu hết những ngời vừa đi qua những năm tháng dặc dài và khốcliệt của chiến tranh Họ luôn sống trong nỗi ám ảnh, những day dứt trăn trở vềquá khứ Những mảnh đời bị xé nhỏ, băm vằm, nghiền nát giữa bao toan tính,bon chen đầy cám dỗ của cuộc sống, có ngời tự thắp sáng mình lên, đứng trên