1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hình tượng người lính trong tiểu thuyết của trung trung đỉnh luận văn thạc sĩ ngữ văn

121 1,8K 15
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hình tượng người lính trong tiểu thuyết của Trung Trung Đỉnh
Tác giả Hồ Thị Quỳnh Như
Người hướng dẫn TS. Lê Thị Hồ Quang
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2012
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phạm Thị Hồng Duyên với đề tài: Tiểu thuyết Trung Trung Đỉnh thời kì Đổi mới 2009 đã khảo sát thế giới nhân vật, kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu trong năm cuốn tiểu thuyết của Trung Trung

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

HỒ THỊ QUỲNH NHƯ

H×NH T¦îNG NG¦êI LÝNH TRONG TIÓU THUYÕT CñA TRUNG TRUNG §ØNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGHỆ AN - 2012

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

HỒ THỊ QUỲNH NHƯ

H×NH T¦îNG NG¦êI LÝNH TRONG TIÓU THUYÕT CñA TRUNG TRUNG §ØNH

Chuyên ngành : Văn học Việt Nam

Mã số : 60.22.34

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ THỊ HỒ QUANG

NGHỆ AN - 2012

Trang 4

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi văn bản khảo sát 6

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Đóng góp của luận văn 7

7 Cấu trúc luận văn 7

Chương 1 NHÌN CHUNG VỀ TIỂU THUYẾT TRUNG TRUNG ĐỈNH TRONG BỐI CẢNH TIỂU THUYẾT VIỆT NAM THỜI KÌ ĐỔI MỚI 8

1.1 Những tiền đề lịch sử - thẩm mĩ của sự đổi mới tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 8

1.1.1 Bối cảnh lịch sử - thẩm mĩ của văn học Việt Nam sau 1986 8

1.1.2 Khái quát về tiểu thuyết Việt Nam thời kì Đổi mới 12

1.2 Trung Trung Đỉnh - một cây bút tiểu thuyết nổi bật trong văn học Việt Nam sau 1986 15

1.2.1 Về cuộc đời, con người nhà văn Trung Trung Đỉnh 15

1.2.2 Về sự nghiệp sáng tác của nhà văn Trung Trung Đỉnh 17

1.3 Khái quát về hình tượng người lính trong tiểu thuyết của Trung Trung Đỉnh 20

1.3.1 Về hình tượng người lính trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại 20

1.3.2 Về hình tượng người lính trong tiểu thuyết của Trung Trung Đỉnh 30

Tiểu kết 32

Trang 5

2.1 Khái niệm cái nhìn nghệ thuật 33

2.2 Cái nhìn nghệ thuật đa chiều trong tiểu thuyết của Trung Trung Đỉnh .35

2.2.1 Cái nhìn về chiến tranh 35

2.2.2 Cái nhìn về đời sống nhân sinh, thế sự 39

2.3 Đặc điểm người lính qua cái nhìn nghệ thuật của Trung Trung Đỉnh .41

2.3.1 Hình tượng người lính thời chiến trận 41

2.3.2 Hình tượng người lính thời hậu chiến 56

Tiểu kết 65

Chương 3 NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG HÌNH TƯỢNG NGƯỜI LÍNH TRONG TIỂU THUYẾT CỦA TRUNG TRUNG ĐỈNH 67

3.1 Khắc họa nhân vật trong những tình huống tâm lý 67

3.1.1 Khái niệm tình huống 67

3.1.2 Một số tình huống khắc họa tâm lý nhân vật trong tiểu thuyết của Trung Trung Đỉnh 68

3.2 Khắc họa nhân vật từ nhiều điểm nhìn khác nhau 73

3.2.1 Điểm nhìn từ ngôi thứ nhất 74

3.2.2 Điểm nhìn từ ngôi thứ ba 78

3.2.3 Sự chi phối của điểm nhìn đến ngôn ngữ, giọng điệu trần thuật .81

3.2.4 Hiệu quả của việc phối hợp nhiều điểm nhìn khác nhau để khắc họa nhân vật người lính 90

3.3 Khắc họa nhân vật người lính trong những không gian đặc thù .92

3.3.1 Những không gian đặc thù trong tiểu thuyết của Trung Trung Đỉnh .92

Trang 6

3.3.2 Hiệu quả của việc sử dụng các bối cảnh không gian khác nhau

nhau để khắc họa nhân vật người lính 102

Tiểu kết 104

KẾT LUẬN 106

TÀI LIỆU THAM KHẢO 108

Trang 7

Nxb : Nhà xuất bản

Cách chú thích tài liệu trích dẫn: số thứ tự tài liệu đứng trước, số trang đứng

sau Ví dụ: [21; 49] nghĩa là số thứ tự của tài liệu trong mục Tài liệu tham

khảo là 21, nhận định trích dẫn nằm ở trang 49 của tài liệu này.

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Chiến tranh đã đi qua, đất nước Việt Nam đang hồi sinh và ngày

càng phát triển về mọi mặt Nhưng dấu ấn của một thời đau thương tàn khốc

do bom đạn của chiến tranh vẫn còn in đậm trong kí ức của mỗi người Đờisống xã hội thay đổi, thị hiếu bạn đọc thay đổi theo đòi hỏi người sáng tạophải đổi mới tư duy nghệ thuật Đặc biệt từ 1986, với đại hội Đảng lần thứ VI,đất nước ta đã bước vào thời kì đổi mới, cùng với sự chuyển biến khôngngừng trên tất cả các lĩnh vực Tự thân văn học cũng có những khám phá tìmtòi ở những tầng vỉa mới khi đi vào phản ánh hiện thực ngổn ngang, bề bộncủa cuộc sống Tuy nhiên, với nhiều nhà văn hôm nay, “chiến tranh vẫn làsiêu đề tài, người lính là siêu nhân vật, càng khám phá càng thấy những độrung không mòn nhẵn” Cảm hứng sáng tác về đề tài chiến tranh trong tiểuthuyết từ sau 1986 đã đem lại cho tiểu thuyết nói riêng và văn học thời kỳ nàymột diện mạo mới Đặc biệt trong cách nhìn nhận về hình tượng người lính đã

có những khám phá mới mẻ, sâu sắc Không còn là những viên ngọc lung linhkhông tỳ vết, với lí tưởng sống đơn nhất, họ được xem xét và khắc họa trongnhiều mối quan hệ, góc độ, do đó chân dung người lính hôm nay hiện lên giàutính nhân bản, chân thực và sắc nét

1.2 Trung Trung Đỉnh là gương mặt khá quen thuộc trên văn đàn Việt

Nam đương đại, là thành viên trong Hội Nhà văn Việt Nam Ông là thế hệ nhàvăn xuất hiện vào cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ và cũng là một trongnhững cây bút tiêu biểu của văn học Việt Nam thời kì Đổi mới Ông là nhàvăn mặc áo lính đã từng sống, chiến đấu và trải nghiệm những năm thángthấm đẫm đau thương nhưng vô cùng oanh liệt của toàn dân tộc Trung TrungĐỉnh đã viết về cuộc chiến tranh chống Mỹ của dân tộc với cảm quan củangười trong cuộc và một cây bút nhạy cảm Ông được bạn đọc biết đến với

Trang 9

năm tập truyện ngắn, năm cuốn tiểu thuyết Lạc rừng đạt giải A cuộc thi tiểu

thuyết của Hội Nhà văn Việt Nam (1998 - 2000) Năm 2007, Trung Trung

Đỉnh được nhận giải thưởng cấp Nhà nước Hai cuốn tiểu thuyết Ngõ lỗ thủng

và Tiễn biệt những ngày buồn của ông được chuyển thể thành phim truyện Việt Nam với tên gọi Ngõ lỗ thủng vừa được công chiếu và thu hút sự quan

tâm của người xem Đề tài chiến tranh - người lính là một trong ba mảng đềtài lớn của nhà văn Ông đã có những đóng góp đáng ghi nhận với văn xuôiđương đại nói chung và tiểu thuyết nói riêng Đó là những lí do khiến chúng

tôi quyết định lựa chọn nghiên cứu đề tài: Hình tượng người lính trong tiểu

thuyết của Trung Trung Đỉnh.

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Theo khảo sát của chúng tôi, tuy được giới nghiên cứu quan tâm chú

ý nhưng hiện vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu về hình tượng ngườilính trong tiểu thuyết của Trung Trung Đỉnh Hầu hết các bài viết chỉ dừnglại ở dạng giới thiệu, nhận xét sơ bộ về một tác phẩm cụ thể nào đó và nhân

đó đề cập đến vấn đề người lính như một hình tượng quan trọng trong tiểuthuyết của ông Sau đây chúng tôi sẽ điểm qua những công trình, bài viết

ảnh họ khôn nguôi Các nhân vật trong Tiễn biệt những ngày buồn được

khắc họa trong bối cảnh của một cuộc “hành hương” gian lao để đi tìm lại

chính mình” [68] Tác giả bài viết còn cho rằng Tiễn biệt những ngày buồn

xét trong chỉnh thể cấu trúc tác phẩm, là một cuộc thí nghiệm cách tân đángkhích lệ

Trang 10

Ngõ lỗ thủng xuất hiện gần như cùng thời điểm với Tiễn biệt những ngày buồn, nhưng phải đến khi hai cuốn tiểu thuyết này được chuyển thể

thành kịch bản phim truyền hình Ngõ lỗ thủng (đạo diễn Trần Quốc Trọng)

thì nó mới thực sự được nhiều người chú ý Tác phẩm chính là cái nhìn trựcdiện mổ xẻ vết thương bao cấp, một góc nhìn về quá khứ - thời điểm khókhăn nhất của đất nước Nó thể hiện một cái nhìn sâu sắc về thực trạng đờisống xã hội đương đại, về mối quan hệ giữa người với người Bản thân nhà

văn tâm sự: “Tôi viết Ngõ lỗ thủng và Tiễn biệt những ngày buồn là viết về

những con người một thời chỉ tin vào những tình cảm trong sáng Nói tiễnbiệt những ngày buồn nhưng thực chất là lưu giữ nó, gặm nhấm nó như mộtvết sẹo trong tâm hồn trong ký ức” [45]

Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên đã đưa ra nhận xét sắc sảo trong Lời

bạt của cuốn Trung Trung Đỉnh ba tiểu thuyết: Ngõ lỗ thủng, Ngược chiều cái

chết, Tiễn biệt những ngày buồn: “Đọc văn anh sẽ thấy anh có lối đi riêng của

mình không thời thượng, không ồn ào, lặng lẽ cày xới trên những điều mìnhcảm, mình nghĩ ” [67] Theo Phạm Xuân Nguyên, Trung Trung Đỉnh “đãkhơi được một độ sâu đáng kể của vấn đề nội dung tác phẩm một số lượngtrang không nhiều” Đồng thời tác giả đưa ra một chân dung mới về nhà văn:

“Ba tiểu thuyết cho tôi một diện mạo nhà văn nơi anh: Trung Trung Đỉnh người báo động Lỗ Thủng” Tác giả đi sâu vào phân tích thế giới nhân vậttrong ba cuốn tiểu thuyết và khẳng định thành công của nhà văn trong vai trò

-là người rung chuông báo động “lỗ thủng” Từ đó Phạm Xuân Nguyên khẳngđịnh vai trò, vị trí của Trung Trung Đỉnh và cắt nghĩa nguyên nhân “Vì cuộcsống hiện nay còn đồng vọng với những trang sách Vì trang sách còn nhiềuđiều gợi mở với người đọc Vì người đọc còn nhu cầu suy ngẫm với vănchương Như thế, đáng để đọc Trung Trung Đỉnh lắm chứ” [67]

Phương Trang trong bài viết Nhà văn Trung Trung Đỉnh “khổ sai” cùng

chữ nghĩa, đã nhận định: “Bước vào cuộc chiến tranh là một người lính cầm

Trang 11

súng đúng nghĩa, nhưng bước ra khỏi cuộc chiến Trung Trung Đỉnh đã là mộtnhà văn Chiến trường, sự sống, cái chết những mất mát và cả niềm hạnh phúc

đã tôi luyện ngòi bút của mình viết như một sự thôi thúc, một sự trả nợ nhữngtháng năm tuổi trẻ đã qua, và cũng có lúc viết để tiễn biệt ngày buồn” Văn củaông cũng luôn trĩu nặng những trăn trở về cuộc đời, về phận người và có sức

ám ảnh kì lạ Ham chơi nhưng khi ngồi vào bàn viết, đối diện với trang giấytrắng ông là một người lao động khổ sai, không khoan nhượng với chính mình

để những con chữ một ngày lấp lánh trong tâm trí người đọc” [101]

Trong bài giới thiệu, tiểu thuyết Lạc rừng với nhan đề: Lạc rừng cuốn

tiểu thuyết thành công của Trung Trung Đỉnh (Văn nghệ Quân đội, số 40),

nhà nghiên cứu Lưu Khánh Thơ khẳng định: “Trung Trung Đỉnh đã đạt đượcnhững thành công đáng khích lệ Anh tỏ ra là một cây bút phân tích tâm lýtinh tế và kín đáo, giản dị mà sâu sắc, không lên gân, không cường điệu.Điểm đáng chú ý nữa ở tác phẩm này là ngôn ngữ mang đậm màu sắc TâyNguyên tự nhiên, phóng khoáng và hiện đại Sự gắn bó máu thịt với vùng đấtTây Nguyên là nhân tố đầu tiên tạo nên sức cuốn hút trong những trang viếtcủa Trung Trung Đỉnh” [92] Tác giả Lưu Khánh Thơ cũng cho rằng: “Tiểu

thuyết Lạc rừng có cốt truyện khá giản dị” và “quá trình thay đổi trong nhận

thức và diễn biến tâm lí của nhân vật được tác giả miêu tả sâu sắc và khá hợplý” [92], vì vậy, “số phận của người lính hiện ra trần trụi, mong manh nhưng

cũng thật hơn và đời hơn” Theo Lưu Khánh Thơ, “những tác phẩm như Lạc

rừng đã góp phần cắt nghĩa và lí giải bao điều bí mật đã làm nên chiến thắng

của dân tộc Đó cũng là nhiệm vụ lâu dài của nền văn học viết về chiến tranh

và người lính” [92]

Trên báo Người Hà Nội nguyệt san số 5 tháng 5 năm 2000, Hoàng Hoa với bài viết Lạc rừng, giao thoa không cùng tần số, cho rằng Lạc rừng - sự

hội ngộ lạ lùng của văn hóa, đó là văn hóa của người Ba Nar, văn hóa của

người Kinh với văn hóa Phương Tây.[35]

Trang 12

Lạc rừng mà tìm được hướng đi là tiêu đề bài viết của Thanh Thảo về tác

phẩm Lạc rừng Tác giả đánh giá cao cách xây dựng tình huống truyện và giọng

điệu của tác phẩm “Sức mạnh và sức thuyết phục lớn của Lạc rừng là tác giả đãkhông hề giấu diếm con người thật của nhân vật chính xưng tôi” [82]

Dương Bình Nguyên cho rằng Sống khó hơn là chết không phải thành công cỡ Lạc rừng, cũng khác nhiều so với những tiểu thuyết của Trung Trung

Đỉnh Nhưng tiểu thuyết đi vào sự tinh giản, tưởng nhẹ mà rất buồn, tưởng giảnđơn mà không phải vậy Đó là sự trằn trọc về nhân tình thế thái của nhà văn.Dường như chính ông cũng đang phân vân về sự “lạc chốn thị thành” của mình

Ngoài ra, còn có một số bài báo của Thu Trang, Lê Thi, Trần Linh, Yến

Anh viết về tiểu thuyết Tiễn biệt những ngày buồn và tiểu thuyết Ngõ lỗ

thủng Những bài viết kể trên đều ghi nhận thành tựu về tiểu thuyết của Trung

hấp dẫn trước hết nhờ tình huống tâm lý đặc sắc này”[97]

Phạm Thị Hồng Duyên với đề tài: Tiểu thuyết Trung Trung Đỉnh thời

kì Đổi mới (2009) đã khảo sát thế giới nhân vật, kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu

trong năm cuốn tiểu thuyết của Trung Trung Đỉnh là: Ngõ lỗ thủng, Ngược

chiều cái chết, Tiễn biệt những ngày buồn, Lạc rừng, Sống khó hơn là chết.

Từ đó, tác giả đã đi đến kết luận: “Trung Trung Đỉnh để lại những tình cảmthâm trầm, kín đáo trong trang viết của mình” [13; 111]

Luận văn của Nguyễn Văn Thiện đi sâu tìm hiểu Đặc điểm tiểu thuyết

Lạc rừng của Trung Trung Đỉnh (2010) Theo tác giả này điều quyết định

Trang 13

thành công của tác phẩm Lạc rừng chính là nỗ lực khám phá chiến tranh theo

xu hướng phi sử thi Với Lạc rừng, Trung Trung Đỉnh muốn đi sâu khám phá

tâm hồn người lính kể cả hai phía, qua đó thể hiện một thái độ truy vấnnghiêm khắc đối với các bên tham chiến, đồng thời làm nổi bật vẻ đẹp tâmhồn Đất và Người Tây Nguyên

Có thể nói, một trong những cảm hứng nổi bật trong tiểu thuyết củaTrung Trung Đỉnh là chiến tranh và người lính Trung Trung Đỉnh đã đưa đếncho người đọc một quan niệm tích cực, một cái nhìn mới mẻ về số phận ngườilính trong và sau chiến tranh Nhưng nhìn chung, hầu hết các công trình, bàiviết về tiểu thuyết của Trung Trung Đỉnh mới chỉ đề cập tới một vài khía cạnhcủa vấn đề, chưa có một tác giả nào đi sâu nghiên cứu hình tượng người línhtrong tiểu thuyết của tác giả này

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi văn bản khảo sát

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là Hình tượng người lính trong

tiểu thuyết của Trung Trung Đỉnh.

3.2 Phạm vi văn bản khảo sát

Với luận văn này, chúng tôi đi sâu khảo sát những tiểu thuyết sau đây

của nhà văn Trung Trung Đỉnh: Lạc rừng (2010), Lính trận (2010), Sống khó

hơn là chết (2009), Tiễn biệt những ngày buồn (2010), Ngõ lỗ thủng (2010), Những người không chịu thiệt thòi (2011).

Ngoài ra chúng tôi còn tìm hiểu một số tiểu thuyết của Việt Nam trước

và sau năm 1986 về mảng đề tài này để có cái nhìn so sánh

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Với đề tài này, chúng tôi xác định các nhiệm vụ nghiên cứu:

- Tìm hiểu về tiểu thuyết Trung Trung Đỉnh trong dòng chảy văn họcthời kì Đổi mới

Trang 14

- Tìm hiểu đặc điểm hình tượng người lính qua cái nhìn nghệ thuật củaTrung Trung Đỉnh.

- Tìm hiểu nghệ thuật xây dựng hình tượng người lính trong tiểu thuyếtcủa Trung Trung Đỉnh thể hiện trên các phương diện: tổ chức tình huống,cách sử dụng điểm nhìn, cách mô tả không gian…

5 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đề tài, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp:

- Phương pháp khảo sát, phân loại

- Phương pháp so sánh, đối chiếu

- Phương pháp phân tích - bình giảng, tổng hợp văn học

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn đem lại một cái nhìn mang tính hệ thống và khá tập trung vềđặc điểm và nghệ thuật xây dựng hình tượng người lính của nhà văn TrungTrung Đỉnh, từ đó, cho thấy vị trí cũng như đóng góp nghệ thuật của tác giảnày đối với văn học Việt Nam đương đại từ một điểm nhìn cụ thể

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính củaluận văn được triển khai qua 3 chương:

Chương 1: Nhìn chung về tiểu thuyết của Trung Trung Đỉnh trong

bối cảnh tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ Đổi mới

Chương 2: Cái nhìn nghệ thuật về người lính trong tiểu thuyết của

Trung Trung Đỉnh

Chương 3: Nghệ thuật xây dựng hình tượng người lính trong tiểu

thuyết của Trung Trung Đỉnh

Trang 15

Chương 1

NHÌN CHUNG VỀ TIỂU THUYẾT TRUNG TRUNG ĐỈNH

TRONG BỐI CẢNH TIỂU THUYẾT VIỆT NAM THỜI KÌ ĐỔI MỚI

1.1 Những tiền đề lịch sử - thẩm mĩ của sự đổi mới tiểu thuyết Việt Nam sau 1986

1.1.1 Bối cảnh lịch sử - thẩm mĩ của văn học Việt Nam sau 1986

Với đại thắng mùa xuân năm 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng,

Tổ quốc thống nhất, một thời kỳ mới trong lịch sử dân tộc bắt đầu Tuy nhiên,

dù chiến tranh đã đi qua nhưng hậu quả nặng nề của nó vẫn còn đó, đặc biệt lànhững di chứng tinh thần không thể đo đếm, không dễ xóa bỏ Cùng vớinhững khó khăn phức tạp của thời kỳ hậu chiến, những sai lầm trong cơ chếquản lí quan liêu bao cấp, sự bao vây cấm vận về kinh tế và sự chống pháquyết liệt của những thế lực chống đối khiến cho sau chiến tranh, tình hìnhđất nước rơi vào một chặng khủng hoảng kinh tế - xã hội khá trầm trọng Phảisau 1986, cùng với Đại hội VI và chính sách “mở cửa” của Đảng, đấtnước thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, có nhiều điều kiện pháttriển Đây là thời kỳ cả dân tộc phát huy trí lực và vật lực để xây dựng đấtnước phồn vinh, thúc đẩy đời sống tinh thần, tiếp cận những giá trị nhânvăn để làm giàu cho chính tâm hồn con người Bên cạnh đó, những biếnđộng trong tình hình chính trị, kinh tế thế giới cũng tác động nhiều mặttới nước ta Hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp

đổ Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ phát triển như vũ bãolàm thay đổi nhanh chóng lực lượng sản xuất Thế giới trở thành một thịtrường tự do cạnh tranh quyết liệt Quá trình quốc tế hóa và khu vực hóa đangtrở thành xu thế mạnh mẽ tác động đến các mặt của đời sống quốc tế, vừa tạothời cơ lại vừa thách thức các nước, trong đó có Việt Nam

Trang 16

Đại hội lần thứ VI của Đảng đã xác định sự “sống còn” của đất nước làđổi mới và là sự đổi mới toàn diện, trong đó có đổi mới văn học nghệ thuật.

Nghị quyết 05 của Bộ chính trị Về công tác văn hóa văn nghệ cũng khẳng

định: “Đảng khuyến khích văn nghệ sĩ tìm tòi sáng tạo, khuyến khích và yêucầu có những thể nghiệm mạnh bạo và rộng rãi trong sáng tạo nghệ thuật vàphát triển các loại hình và thể loại nghệ thuật, các hình thức biểu hiện” [9;

15] Nhà văn Nguyễn Minh Châu với bài viết nổi tiếng Hãy đọc lời ai điếu

cho một giai đoạn văn nghệ minh họa thể hiện tinh thần đổi mới triệt để của

cả thế hệ nhà văn bước ra từ hai cuộc cách mạng Không phải ngẫu nhiên màchữ “cởi trói” được nêu trong buổi đầu của sự nghiệp đổi mới qua bài nóichuyện với nghệ sĩ vào năm 1987 của cố tổng bí thư Nguyễn Văn Linh Khiyêu cầu về tư duy sáng tạo và “cởi trói” được đặt ra thì sự đa dạng trong tìmkiếm cái mới trong tư tưởng và nghệ thuật sẽ là dấu hiệu bình thường của đờisống văn học Vai trò cao nhất của lao động nghệ thuật xuất phát từ chủ thểsáng tạo nghệ thuật

Đứng trước những đổi thay của hoàn cảnh lịch sử, cuộc sống mới được

mở ra nhiều chiều với sự đa dạng, cần một sự đáp ứng nhất định từ phía vănhọc nghệ thuật Yêu cầu của xã hội và sự tự đổi mới của bản thân nghệ thuật

đã cho chúng ta một diện mạo mới trong văn học đương đại Do sự tác độngcủa hoàn cảnh lịch sử xã hội, một tư duy thẩm mỹ mới đã hình thành Chínhđiều này tạo ra một sự thay đổi trong quan niệm về con người, quan niệm vềnghệ thuật

Trong văn học trước 1975, đặc biệt trước Đổi mới, hiện thực cuộcsống, nghệ thuật chủ yếu được nhìn nhận theo khuynh hướng sử thi và cảmhứng lãng mạn Chính điều này đã chi phối mọi hình thái ý thức xã hội, tất

cả đều nhằm phục vụ chính trị Hình tượng con người mới - con người sửthi gắn với dân tộc và giai cấp, con người xã hội chủ nghĩa - là con người

Trang 17

trung tâm của văn học Những người anh hùng như: anh Núp, chị Út Tịch,chị Sứ đều là những con người mà số phận của họ thuộc về cộng đồng.Những con người đó họ sẽ sống, chiến đấu và hi sinh vì cộng đồng Vẻ đẹpcủa những con người này chính là đại diện ưu tú cho vẻ đẹp Việt Namtrong chiến tranh.

Sau 1975, hòa bình được lặp lại nhưng dấu ấn của một thời đauthương tàn khốc do bom đạn của chiến tranh vẫn còn in đậm trong ký ức củamỗi người Đặc biệt những mất mát đau thương mà con người phải gánhchịu là quá lớn, dẫu biết rằng đó là quy luật chung bởi “chiến tranh đâu phảitrò đùa” Bước ra khỏi cuộc chiến con người trở về với cuộc sống đờithường Lúc này tư duy sử thi không còn phù hợp với yêu cầu của thời đại,tâm lý, thị hiếu của người đọc nữa mà nhường chỗ cho tư duy đời tư, thế sự.Khuynh hướng thế sự đời tư trở thành một khuynh hướng chủ đạo, chi phốimọi sự vận động của văn học Văn học trở nên gần gũi với con người hơntrong những suy tư, trăn trở của cuộc sống đời thường Văn học lúc này ítnói tới cái lớn lao cao cả của cuộc sống mà đi sâu vào từng ngõ ngách cuộcsống để phát hiện những vấn đề đang tồn tại, đặc biệt, đi sâu vào khám phábản chất người trong mỗi con người

Lúc này đây, tầng lớp văn nghệ sĩ cũng có nhiều thay đổi trong cáchnhìn cuộc sống, nhìn con người Chính điều này đã tác động đến cách viết củamỗi người nghệ sĩ Nhà văn Nguyễn Minh Châu quan niệm: “Văn học và cuộcsống là hai đường tròn đồng tâm mà tâm điểm của nó là con người” [10; 111]

Với vai trò dự báo của mình, văn học thời kỳ này được đặt giữa trungtâm của cuộc sống để kịp thời ghi lại những biến cố, sự kiện diễn ra trongđời sống, từ đó đánh giá hiện thực theo cách riêng bằng phương tiện nghệthuật ngôn từ Trong nền kinh tế thị trường, cuộc mưu sinh của con ngườicũng trở nên khó khăn hơn vì vậy cái tốt, cái xấu, cái ác cũng dễ bộc lộ hơn.Trong giai đoạn đất nước có chiến tranh, văn học luôn kịp thời phản ánh một

Trang 18

thời đại đau thương nhưng vô cùng oanh liệt của toàn dân tộc Tuy nhiêncảm hứng chính vẫn là ngợi ca tôn vinh chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ítnói đến những đau thương mất mát của con người, ít quan tâm đến đời sốngtinh thần của mỗi cá nhân Ấy là lúc cái tôi cá nhân nhường chỗ cho cáichung, cái cộng đồng Ở văn học sau 1986, văn học không những bám sáthiện thực, nhìn thẳng vào hiện thực mà còn phải cải tạo nó Văn học chuyển

từ “cuộc chiến đấu cho quyền sống của cả một dân tộc” sang một cuộc chiếnđấu mới, âm thầm mà quyết liệt không kém, đó là cuộc chiến đấu cho quyềnsống của từng cá nhân Văn học sau 1975 đặt trong mối quan hệ hiện thực đờisống thường nhật với tất cả sự phong phú, phức tạp, đa chiều và luôn vậnđộng Văn học lúc này trở thành “người bạn đường” chia sẻ mọi nguồn cơnđời thường với con người, sát cánh cùng con người trong đời sống, đi sâu vàomọi hang cùng ngõ hẻm để phát triển những tính cách, số phận và thức tỉnhnhững phần “người” trong mỗi con người Ở đó con người hiện lên phongphú, sinh động trong tính bản thể của nó Người ta thật có lý khi cho rằng vănhọc thời kỳ này “thật hơn, đời hơn” Những vận động chiều sâu của đời sốngvăn học, những trăn trở kiếm tìm âm thầm mà quyết liệt ở một số nhà vănmẫn cảm trước đòi hỏi của cuộc sống đã làm xuất hiện những tác phẩm chấtlượng, được công chúng đón nhận

Văn học cần nhìn thẳng vào sự thật, nhìn thẳng vào hiện thực Để làmđược điều đó, văn học dần chuyển từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết.Cùng với sự đổi mới trong tư duy nghệ thuật mới là sự xuất hiện một kiểu nhàvăn mới Tiêu biểu là Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Tạ DuyAnh, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà Những tác phẩm của họ bộc lộ

rõ những dấu hiệu vượt ra ngoài cảm hứng sử thi hoành tráng, tiến tới sự đadạng nhiều giọng điệu, gia tăng chất độc thoại, đối thoại, nhiều màu sắchuyền ảo Họ có cái nhìn tỉnh táo đầy suy tư, đầy trách nhiệm trước cuộc

Trang 19

sống Vị thế nhà văn cũng thay đổi, không còn là người rao giảng đạo đức, họgóp phần vào đời sống, đánh thức những khao khát, những trắc ẩn mà bấy lâu

bị che khuất

Nói tóm lại, bối cảnh lịch sử - thẩm mỹ của văn học Việt Nam sau 1986

có nhiều thay đổi dẫn đến sự thay đổi tư duy nghệ thuật Nó cũng là động lựcthúc đẩy công cuộc đổi mới toàn diện đất nước Sẽ không thể hiểu đượcnhững đặc điểm của nền văn học đổi mới nếu ta không đặt nó vào điều kiệnlịch sử - thẩm mỹ nói trên

1.1.2 Khái quát về tiểu thuyết Việt Nam thời kì Đổi mới

Nền văn học Việt Nam thời kỳ Đổi mới từ 1975 đến nay đã có nhữngchuyển biến đáng ghi nhận ở hầu hết các thể loại, trong đó có tiểu thuyết.Trong sự vận động chung của nền văn học, tiểu thuyết là một loại hình tự sự

cỡ lớn đã và đang nỗ lực chuyển mình Đổi mới nhằm đáp ứng yêu cầu củathời đại, của đời sống văn học và của đông đảo độc giả đương đại Không khídân chủ của môi trường sáng tạo đã giúp nhà văn ý thức sâu sắc hơn về tưcách nghệ sĩ nơi mình, vượt lên trên những quy định, khuôn khổ truyền thống

đã thành áp lực với ngòi bút của người viết lâu nay

Nếu trước 1975, tiểu thuyết nói riêng cũng như văn học nói chung chủyếu tập trung vào nhiệm vụ to lớn của cả dân tộc: giải phóng dân tộc, giảiphóng giai cấp cho nên văn học giai đoạn này mang đậm cảm hứng sử thi

Cửa sông, Dấu chân người lính (1972) của Nguyễn Minh Châu, Vùng trời

(1971) của Hữu Mai, Vào lửa (1966), Mặt trận trên cao của Nguyễn Đình Thi, Hòn đất (1966) của Anh Đức, Gia đình má bảy (1968), Mẫn và tôi (1978) của Phan Tứ, Đất quảng (1971) của Nguyễn Thành Trung… Những

tác phẩm này tập trung viết về đề tài chiến tranh, ngợi ca những con ngườianh hùng xả thân cho lý tưởng mà mình đã chọn Họ không có sự phức hợpcác trạng thái cảm xúc, tư tưởng, đạo đức, ranh giới giữa tốt và xấu, giữa

Trang 20

thiện và ác, giữa chính nghĩa và phi nghĩa được phân chia rõ ràng Ranh giới

đó là tâm lý, là quan niệm chung của toàn thể cộng đồng dân tộc trước nhữngtính cách, những số phận, những sự kiện lịch sử quy định Sau 1975, văn họcgần hơn với cuộc sống con người, văn học viết về con người, đi sâu vào cuộcsống thế sự đời tư với khuynh hướng đấu tranh phê phán xã hội, nhận thức lạiquá khứ với một cái nhìn khách quan, thành thực hơn

Có thể nói trong quá trình vận động và đổi mới tiểu thuyết Việt Nam sau

1975 bắt đầu khá sớm nhưng thầm lặng với những tín hiệu có tính dự báo

trong Miền Cháy (1977), Lửa từ những ngôi nhà (1977) của Nguyễn Minh Châu, Cha và Con và…(1979) của Nguyễn Khải, Đất trắng (Tập1-1979)…

Những tác phẩm này cho ta thấy ý thức khắc phục cái nhìn lý tưởng hóa một

chiều về hiện thực Trong tác phẩm Đất trắng, Nguyễn Trọng Oánh đã cho ta

thấy thời điểm khốc liệt nhất của chiến tranh nhất là khi con người dao động,biến chất, mất niềm tin Nguyễn Minh Châu đưa ra một dự cảm về một thời

hậu chiến nhiều phức tạp trong lòng người (Miền cháy), hay tình trạng những

người lính anh hùng nhưng gắn với chiến trận quá lâu đang trở thành người xa

lạ với văn hóa thời bình (Lửa từ những ngôi nhà).

Đến Mưa mùa hạ (1982) của Ma Văn Kháng, Đứng trước biển (1982),

Cù lao tràm (1985) của Nguyễn Mạnh Tuấn, Mùa lá rụng trong vườn (1985)

của Ma Văn Kháng…đã là minh chứng cho sự chuyển đổi tư duy sáng tạo vàquan niệm nghệ thuật của nhà văn Những tác phẩm kể trên là những khởiđộng đưa tới sự đổi mới triệt để và quyết tâm hơn trong cách nhìn hiện thực

và thi pháp thể loại Ở các tác phẩm này, bên cạnh cảm hứng cảm hứng ngợi

ca đã xuất hiện cảm hứng phê phán, nhận thức lại; góc độ quan sát, đánh giácon người dịch chuyển dần về phía đạo đức sinh hoạt Trong định hướng thế

sự, đời tư, nhiều chủ đề mới được nhấn mạnh: giáo dục gia đình, bản lĩnh cánhân, khả năng thích ứng thời thế…là những yếu tố có vai trò rất quan trọng

Trang 21

đối với quá trình hình thành giá trị của một con người cũng như số phận riêngcủa nó.

Vào thời điểm cao trào đổi mới 1986 và những năm tiếp theo, tiểu thuyết

đã thật sự bộc lộ những ưu thế của mình trên con đường dân chủ hóa nội dungnghệ thuật Với xu hướng nhìn thẳng vào sự thật, các nhà tiểu thuyết đã dấnthân vào hiện thực ở thời hiện tại, đang hình thành và chưa ổn định; ở chính

“tiêu điểm” của đời sống, xuất hiện những tác phẩm mang đậm tính nhân văn

như: Thời xa vắng (Lê Lựu), Đám cưới không có giấy giá thú, Ngược dòng

nước lũ (Ma Văn Kháng), Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), Chim én bay (Nguyễn

Trí Huân), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Bến không chồng (Dương Hướng), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường), Lạc rừng,

Tiễn biệt những ngày buồn (Trung Trung Đỉnh), Cuốn gia phả để lại (Đoàn

Lê), Cõi người rung chuông tận thế (Hồ Anh Thái), Cơ hội của chúa (Đỗ Việt Hà), Giàn thiêu (Võ Thị Hảo)…

Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ Đổi mới đã đứng trước nhu cầu đổi mới

tư duy tiểu thuyết Điều này chứng tỏ sự nghiêm khắc trong sáng tạo và tâmhuyết với thể loại của các tiểu thuyết gia đương đại Trên phương diện đềtài, tiểu thuyết thời kỳ Đổi mới đã tiếp cận và khai thác sâu hơn vào cái hiệnthực hàng ngày, cái đời thường của đời sống cá nhân Các nhà tiểu thuyết đãnhìn thẳng vào những bi kịch nhân sinh, mổ xẻ, phơi bày nó bằng cái nhìntrung thực, táo bạo Các đề tài truyền thống hay hiện đại đều được đưa vàotrường nhìn mới, hướng tới thân phận con người, thấm đẫm cảm hứng nhânvăn Nhìn từ góc độ thể loại, trong những năm đổi mới, tiểu thuyết đã cónhững tìm tòi, cách tân thể hiện ở các phương diện: cốt truyện, nhân vật,ngôn ngữ…

Tiểu thuyết ngoài khả năng tái hiện bức tranh toàn cảnh của đời sống

xã hội còn có khả năng đi sâu khám phá số phận con người Số phận con

Trang 22

người trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhà văn thể hiện cái nhìn dânchủ đối với sự phức tạp của tính người Tiểu thuyết Việt Nam từ sau đổimới không chỉ đi sâu vào thân phận con người mà còn đề cập tới khát vọngsống, về hạnh phúc cá nhân, về tình yêu lứa đôi Các nhà tiểu thuyết đã có

ý thức đi sâu vào thế giới nội tâm để khám phá chiều sâu tâm linh nhằmkhai thác đời sống nội tâm phong phú, phức tạp của con người Về hìnhthức ngôn ngữ trong tiểu thuyết thời kỳ Đổi mới là ngôn ngữ gần gũi vớiđời sống Ngôn ngữ tiểu thuyết mang những đặc trưng của thể loại: tínhvăn xuôi, tính tổng hợp và tính đa thanh Bên cạnh đối thoại, độc thoại nộitâm cũng đóng vai trò chủ yếu trong phương thức trần thuật của tiểu thuyếtthời kỳ Đổi mới

Nói tóm lại, tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ Đổi mới đã đạt được nhiềuthành tựu trong việc cách tân về nội dung và hình thức thể hiện của các nhàvăn Điều này đánh dấu một bước phát triển mới của văn học, khẳng định sựđổi mới tư duy, nhận thức, khả năng chiếm lĩnh, phản ánh và sáng tạo củangười nghệ sĩ

1.2 Trung Trung Đỉnh - một cây bút tiểu thuyết nổi bật trong văn học Việt Nam sau 1986

1.2.1 Về cuộc đời, con người nhà văn Trung Trung Đỉnh

Trung Trung Đỉnh là gương mặt khá quen thuộc trên văn đàn văn họcViệt Nam đương đại, là thành viên trong Hội Nhà văn Việt Nam Ông là thế

hệ nhà văn trưởng thành vào cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ Trung TrungĐỉnh là người con của quê hương Vĩnh Long - Vĩnh Bảo - Hải Phòng Tênthật là Phạm Trung Đỉnh nhưng vào những ngày đầu viết văn, tập đánh máy,ông đã đánh máy thành tên Trung Trung Đỉnh Sau này thấy cái tên nghecũng “giòn giã” và cũng là một kỷ niệm nên ông lấy luôn làm một bút danh.Sinh năm 1949, Trung Trung Đỉnh là nhà văn mặc áo lính đã từng sống, chiến

Trang 23

đấu và trải nghiệm những năm tháng thấm đẫm đau thương nhưng vô cùngoanh liệt của toàn dân tộc Ông nhập ngũ từ năm 17 tuổi, là bộ đội địa phươngnên sống và chiến đấu cùng đồng bào dân tộc Tây Nguyên Ông có rất nhiều

kỷ niệm với mảnh đất này Có thể nói toàn bộ tuổi trẻ của ông gắn liền vớiTây Nguyên, nơi đây chính là quê hương thứ hai của ông Vì vậy khi trởthành nhà báo, nhà văn, người đọc thấy trong báo, trong văn, Trung TrungĐỉnh còn ám ảnh nhiều lắm những ngày bom đạn ở Trường Sơn, TâyNguyên Hình ảnh những đồng đội, những người dân Ba Nar, Jrai cứ hiểnhiện trong từng trang viết của tác giả này

Trung Trung Đỉnh tốt nghiệp trường viết văn Nguyễn Du khóa 1, từnglàm biên tập cho tạp chí văn nghệ quân đội sau đó làm phó tổng biên tập Tuầnbáo văn nghệ rồi làm ở Nhà xuất bản Hội Nhà văn

Bước vào cuộc chiến tranh với tư cách là một người lính cầm súngđúng nghĩa, nhưng bước ra khỏi cuộc chiến, Trung Trung Đỉnh đã là một nhàvăn Chiến trường, sự sống, cái chết, những mất mát và cả niềm hạnh phúc đã

“tôi luyện” cho ngòi bút của ông Viết như một sự thôi thúc, một sự trả nợnhững tháng năm tuổi trẻ đã qua và viết cũng là để “tiễn biệt những ngàybuồn”, văn của ông luôn trĩu nặng những trăn trở về cuộc đời, về phận người

và có sức ám ảnh kỳ lạ “ham chơi nhưng khi ngồi vào bàn viết, đối diện vớinhững trang giấy trắng, ông là một người lao động khổ sai, không khoannhượng với chính mình để những con chữ một ngày lấp lánh trong tâm tríngười đọc” [101] Ông đã từng nhận xét về mình: tôi luôn có một cuốn sáchđang viết dở, một cuốn sách đang đọc dở và một việc sắp phải đi Ngoài tàivăn chương Trung Trung Đỉnh còn là một người nổi tiếng vì đi nhiều, sốngnhiều, và uống nhiều

Có thể nói, Trung Trung Đỉnh là một nhà văn- chiến sĩ chân chính, mộtngười lao động “khổ sai”, không khoan nhượng với chính mình để những conchữ ngày một lấp lánh trong tâm trí người đọc Chúng ta có thể nhận thấy

Trang 24

đằng sau nụ cười hiền hậu của Trung Trung Đỉnh, cũng là bao câu chuyện củalịch sử, của sự trải nghiệm và tình yêu cuộc sống mãnh liệt Những câuchuyện đó cần được hậu thế lắng nghe.

1.2.2 Về sự nghiệp sáng tác của nhà văn Trung Trung Đỉnh

Nhà văn Trung Trung Đỉnh trở nên khá quen thuộc trên văn đàn kể từmười năm trở lại đây Hầu hết những tác phẩm của ông đều viết bằng ký ức,

hư cấu từ ký ức Những ký ức về Tây Nguyên và cả ký ức tuổi thơ ở quêhương Chính những ký ức ấy đã đem lại cho ông một nguồn cảm hứng bấttận Nhưng Tây Nguyên vẫn là mảnh đất nhiều nghĩa nặng tình sâu, là nơinuôi dưỡng nhiều nguồn cảm hứng để sáng tác nhất Nguyên Ngọc đã từngnhận xét: “Đối với Trung Trung Đỉnh, Tây Nguyên là tất cả Là cuộc đờianh, là nỗi ám ảnh, là sự mê hoặc, là sự rơi chìm, nhấn chìm, trùm lên toàn

bộ cuộc đời anh, mê mẩn suốt đời, không cách gì rút ra, thoát ra được chođến chết Anh đã sáng tạo ra được một cách viết mới về Tây Nguyên, và do

đó đã khám phá cho ta một lần nữa cái thế giới Tây Nguyên khiêm nhường,lẫn khuất mà tuyệt đẹp ấy Trong nghệ thuật làm được một việc như vậy làlàm rất nhiều” [24; 10]

Với giọng văn thâm trầm, giàu triết lý, Trung Trung Đỉnh viết các tiểuthuyết và tập truyện ngắn bằng nỗi đau đớn của sự trải nghiệm và tình yêucuộc sống mãnh liệt Ông được bạn đọc biết đến với nhiều tác phẩm đã đượcxuất bản, gồm có:

Các tập truyện ngắn: Thung lũng Đá Hoa (1979), Người trong cuộc (1980), Đêm nguyệt thực (1982), Những người không chịu thiệt thòi (1982),

Bậc cao thủ (1994).

Tiểu thuyết: Ngược chiều cái chết (1985-1986), Tiễn biệt những ngày

buồn (1988), Ngõ lỗ thủng (1990), Lạc rừng (1998-1999), Sống khó hơn là chết (2007)

Trang 25

Trong đó có cuốn tiểu thuyết Lạc rừng đạt liền hai giải: một của Bộ

Quốc phòng và giải A cuộc thi tiểu thuyết của Hội Nhà văn Việt Nam (1998

-2000) Hai cuốn tiểu thuyết Ngõ lỗ thủng và Tiễn biệt những ngày buồn của

ông được Trung tâm sản xuất phim truyền hình - Đài truyền hình Việt Nam

chuyển thể thành phim Ngõ lỗ thủng (29 tập) đã công chiếu trên kênh VTV1

và nhận được sự hoan nghênh của công chúng Năm 2007 Trung Trung Đỉnh

là một trong số ít những nhà văn được vinh dự nhận Giải thưởng Nhà nước vềvăn học nghệ thuật

Trung Trung Đỉnh đưa lại cho người đọc những dư vị khá đặc biệt:

“đọc văn anh, ta càng thấy anh có lối đi riêng của mình: Không “thời thượngkhông ồn ào, lặng lẽ cày xới trên những điều mình cảm, mình nghĩ ” (PhạmXuân Nguyên) Chính vì vậy “chung quanh tác phẩm của anh chưa bao giờ có

sự tranh cãi ồn ào Những cái được và chưa được ở ngòi bút của anh tự thânđến với người đọc theo cách cảm nhận của mỗi người” [97] Viết tiểu thuyết

để thể hiện những trải nghiệm, nhà văn chân thành bày tỏ những suy nghĩ củamình, diễn đạt nhu cầu đổi mới như một nhu cầu tất yếu của văn học TrungTrung Đỉnh quan niệm “kinh nghiệm cuộc sống rất đáng quý, nhưng đôi khi

nó cũng rất có hại cho quá trình sáng tác Với tôi nếu viết hoàn toàn thời binhcũng không được, mà hoàn toàn viết về chiến tranh cũng không ổn” [25; 13]

“Ám ảnh trên những trang viết là sự trằn trọc về nhân tình thế thái Dườngnhư chính ông cũng đang phân vân về cảm giác lạc lõng chốn kinh thànhphồn hoa đô thị này Dường như sau bao năm tham gia chiến tranh ở vùngrừng, núi Tây Nguyên, nhà văn gốc Hải Phòng này “vẫn còn bỡ ngỡ, thấymình lạc lõng nên anh quay về với rừng núi, trở về với địa hạt chiến tranhquen thuộc của mình” [25; 13]

Đọc văn xuôi Trung Trung Đỉnh, người đọc được tiếp cận một mảnghiện thực lớn của cuộc sống phơi bày dưới ngòi bút sắc sảo Bên cạnh hình

Trang 26

tượng người lính trở về sau chiến tranh, là hình tượng những con ngườisống trong cơ chế mới với công cuộc mưu sinh những thành bại, được mấtbất trắc và đổ vỡ Và trên cái phông nền của cuộc sống hiện tại, quá khứchiến tranh được đan xen như những thước phim ký ức đủ để soi chiếunhiều góc cạnh trong tâm hồn nhân vật Hình tượng nhân vật này được biểuhiện sinh động qua những giằng xé, khắc khoải nội tâm, xung đột trong tưtưởng, nhận thức, tâm hồn và những bi kịch của nỗi đau mất mát, cô đơntrong thế giới tâm linh tiềm thức Trong cuộc hành trình giữa hai bờ hiệnthực và ký ức ấy, người viết có cơ hội nhìn nhận lại mình, nhận thức lạinhững giá trị của cuộc sống.

Không phải ngẫu nhiên mà Phạm Xuân Nguyên lại cho rằng Trung

Trung Đỉnh là người bạo động “lỗ thủng” Trong tác phẩm Ngõ lỗ thủng,

Sống khó hơn là chết, Trung Trung Đỉnh đã tập trung khám phá cõi cô đơn

rùng rợn của những con người ít nhiều mang lỗ thủng nhân cách TrungTrung Đỉnh muốn đi tìm một lời giải cho hiện tượng tha hóa của nhân cáchcon người trong hoàn cảnh cuộc sống mới Dưới ngòi bút nhà văn, thế giớinội tâm của nhân vật hiện lên vô cùng phong phú, từ tiềm thức, vô thức đến

sự biến chuyển của tư tưởng, nhận thức Trong thế giới nhân vật của ông,người đọc bắt gặp đầy đủ các thành phần: từ anh trí thức đến những lính giảingũ, người lao động bình thường Tất cả đang quay quắt trong cơ chế thịtrường, đối mặt với được mất, thành bại mỗi ngày Trong hoàn cảnh đó conngười mới bộc lộ hết con người thật của mình từ cái cao thượng đến cái thấphèn, cái thiện và cái ác, thiên thần và quỷ dữ mới được bộc lộ đúng bản chấtcủa nó

Có thể nói, sáng tác của Trung Trung Đỉnh đã động chạm đến hầu hếtnhững vấn đề còn nhức nhối trong xã hội hôm nay Qua đó, tác giả đặt ranhững vấn đề nhân cách con người trong một môi trường mới

Trang 27

1.3 Khái quát về hình tượng người lính trong tiểu thuyết của Trung Trung Đỉnh

1.3.1 Về hình tượng người lính trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại

Chiến tranh có lẽ là một đề tài lớn của văn chương nhân loại Riêng vớidân tộc Việt Nam, từ xa xưa đến nay, đã quen với chinh chiến khói lửa, chỉriêng ký ức của những người lính cũng đủ làm chất liệu cho những kho tiểuthuyết lớn Trong đó, hình tượng người lính đã trở thành hình tượng trung tâmxuyên suốt quá trình vận động của nền văn học Tuy nhiên, trong phạm vi củaluận văn, chúng tôi chỉ giới hạn sự khảo sát, mô tả một cách sơ giản và kháiquát nhất về hình tượng người lính trong văn học Việt Nam từ 1945 đến đầuthế kỷ XX Riêng giai đoạn 1945 – 1975, chúng tôi cũng giới hạn việc khảosát hình tượng người lính trong văn học Cách mạng chứ chưa có điều kiệnkhảo sát rộng hơn

1.3.1.1 Hình tượng người lính trong tiểu thuyết chống Pháp

Cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một bước ngoặt vĩ đại tronglịch sử dân tộc Nó đánh dấu một mốc son chói lọi mở ra một kỷ nguyên mới

- kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội Thắng lợi ấy cũng mở ra mộtthời đại mới cho văn học nghệ thuật

Trong văn học giai đoạn này, nhà văn đã phát hiện ra hình tượng nghệthuật quan trọng bậc nhất của văn học thời kì kháng chiến chống Pháp là conngười của quần chúng Hướng về quần chúng, phục vụ quần chúng là mụctiêu của văn nghệ kháng chiến Hàng loạt cây bút đi tiên phong như Tố Hữu,Nguyễn Đình Thi, Tô Hoài, Nam Cao Với quan niệm cháy bỏng là “sống đãrồi hãy viết”, những nhà văn - chiến sĩ luôn luôn có mặt ở mũi nhọn của cuộcsống, một nền văn nghệ thấm đẫm mồ hôi, máu và nước mắt Nhà văn trởthành người “thư ký trung thành của thời đại” theo sát từng chặng đường của

cách mạng bên cạnh các tiểu thuyết như Xung kích (Nguyễn Đình Thi), Con

Trang 28

Trâu (Nguyễn Văn Bổng) Văn học giai đoạn này cũng sôi nổi với các thể

loại như kịch, truyện ngắn, thơ

Tiểu thuyết viết về người lính giai đoạn này nhìn chung chưa có thành

tựu nổi bật Tiểu thuyết Con trâu (Nguyễn Văn Bổng) đi sâu khám phá trận

chiến sản xuất phía hậu phương của bà con nhân dân Quảng Nam với kẻ thùdành lại từng con trâu Cuộc chiến này không kém phần gay go quyết liệt,nhưng với một ý chí quyết tâm bền bỉ, người dân đã chiến thắng kẻ thù hungbạo Cuộc chiến không đơn thuần là quyền đòi hỏi sở hữu con trâu, mà còncho thấy được sức mạnh quật khởi của nhân dân, khẳng định sự quan trọngcủa mặt trận hậu phương đối với tuyền tuyến Sự thắng lợi đó là thành quảcủa cả một tập thể anh hùng, cùng đồng lòng chung sức, cùng hướng về tuyềntuyến để chiến đấu, bảo vệ sản xuất

Tiểu thuyết Xung kích (Nguyễn Đình Thi) lấy bối cảnh chiến tranh gay

go của quân và dân ta trên chiến trường Bình Trị Thiên, Vĩnh Yên Tác phẩm

là bức tranh thu nhỏ về cuộc kháng chiến âm thầm mà quyết liệt, nhưng khókhăn gian khổ và tràn đầy lạc quan tin tưởng của nhân dân du kích, tình quândân gắn bó sâu nặng Tác phẩm đã khái quát một giai đoạn lịch sử của dân tộcvới những sự kiện biến cố quan trọng

Tiểu thuyết thời kì này đã đem lại cho văn học một sức sống mới cáináo nức, sôi nổi, khí thế tưng bừng được gửi gắm qua hình tượng những conngười mới, con người làm chủ thời cuộc Lần đầu tiên trong lịch sử văn học,đông đảo quần chúng công nông binh chiếm một vị trí quan trọng trong tiểuthuyết Tiểu thuyết thời kì này đã thực sự chĩa mũi nhọn vào lực lượng thùđịch, góp phần động viên cổ vũ cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, khắc họahình tượng con người anh hùng trong sản xuất và trong chiến đấu Những vấn

đề nóng hổi của cuộc sống đã được các nhà văn kịp thời ghi lại và phản ánhmột cách chân thực Tuy nhiên tiểu thuyết trong thời kì đầu này không tránh

Trang 29

khỏi những hạn chế nhất định Văn học giai đoạn này chưa xem xét con ngườinhư một cá nhân mà nó khám phá và thể hiện con người ở phương diện tậpthể Văn học chỉ chú ý đến xây dựng con người đám đông, thiên về hành động

mà không chú ý nhiều đến nội tâm, tâm lí riêng biệt với những suy tư, dằnvặt, giằng xé nội tâm

Tiểu thuyết giai đoạn chống Pháp tuy còn nhiều hạn chế nhưng đã mở

ra một hướng tìm tòi mới trong việc tiếp cận và phản ánh đời sống xã hội lịch

sử Nó đặt nền móng vững chắc cho các tiểu thuyết viết về chiến tranh vàngười lính sau này

1.3.1.2 Hình tượng người lính trong tiểu thuyết chống Mỹ

Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, nhân dân ta bắt tay vào côngcuộc xây dựng đất nước, hàn gắn vết thương chiến tranh Miền Bắc tạm thờigiải phóng bắt tay vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhân dân Miền Nam vẫntiếp tục cuộc kháng chiến Văn học đứng trước yêu cầu đa dạng trong sự nhìnnhận về xu thế chung của xã hội Quan niệm về con người lúc này vẫn tiếptục về con người kháng chiến và phát triển trong điều kiện lịch sử mới trênnền tảng con người tập thể Nét đặc trưng cơ bản trong quan niệm con ngườithời kì này đó là con người thống nhất trong sự riêng chung

Viết về cuộc kháng chiến chống Pháp có những tác phẩm tiêu biểu như

Đất nước đứng lên - Nguyên Ngọc (1955), Trước giờ nổ súng (1955) - Lê

Khâm, Sống mãi với thủ đô - Nguyễn Huy Tưởng (1961), Cao điểm cuối

cùng (1961) - Hữu Mai Những sáng tác này đã làm sống lại hình ảnh cuộc

kháng chiến trường kì và anh dũng của toàn dân ở nhiều địa phương trênnhiều mặt trận, trong những hoàn cảnh đầy khó khăn, thách thức nghiệt ngã,những chiến công to lớn và cả sự hi sinh thầm lặng Tiểu thuyết thời kì này đãphần nào khắc phục được cái nhìn đơn giản, một chiều, công thức sơ lược sovới giai đoạn trước đó

Trang 30

Viết về cuộc chiến tranh chống Mỹ có các tiểu thuyết như: Cửa sông (1976), Dấu chân người lính (1972) - Nguyễn Minh Châu; Hòn Đất (1966) - Anh Đức; Vùng trời (1971) - Hữu Mai; Mẫn và tôi (1978) - Phan Tứ; Đất

Quảng (1971) - Nguyễn Thành Trung; Vỡ bờ (1962) - Nguyễn Đình Thi

Tiểu thuyết kháng chiến chống Mỹ đã mở rộng về dung lượng và khảnăng khái quát phạm vi phản ánh Tiểu thuyết vẫn chú ý đến nhân vật đámđông, tập thể nhưng hình tượng trung tâm là những cá nhân điển hình Chất

sử thi và cảm hứng lãng mạn kết tinh đậm đặc trong hình tượng người lính

Họ là những con người sử thi, con người đại diện cho đầy đủ tầm vóc ý chí,khát vọng của cộng đồng, dân tộc, đất nước Hoàn cảnh lịch sử đã tạo nênnhững người anh hùng trong cuộc sống Tiểu thuyết chống Mỹ đã tạo nên mộtthế giới hình tượng điển hình, phong phú mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi Đó làhình tượng đĩnh đạc của lớp cán bộ già dặn trưởng thành trong khói lửa của

hai cuộc kháng chiến, chính ủy Kinh (Dấu chân người lính), Tám Thân (Hòn

Đất) Họ có sự thâm trầm, trải nghiệm giàu kinh nghiệm trong chiến đấu, ý

chí sắt đá Họ là tấm gương sáng cho lớp trẻ noi theo Tiếp bước cha anh ta

những con người trẻ tuổi như: Lữ, Khuê (Dấu chân người lính), Mẫn (Mẫn và

tôi) cũng khẳng định được ý chí vững vàng, sự thông minh, nhanh nhẹn,

dũng cảm trong chiến đấu Đặc biệt tiểu thuyết giai đoạn này còn xây dựnghình tượng người phụ nữ điển hình Họ là những người vợ, người mẹ giỏi

việc nước đảng việc nhà như chị Sứ (Hòn Đất), Sâm (Mẫn và tôi)

Tuy nhiên tiểu thuyết chống Mỹ vẫn có những hạn chế nhất định Conngười trong văn học giai đoạn này được nhìn nhận đánh giá chủ yếu ở thái độchính trị, ở tư cách công dân Họ hiện ra với tư cách đại diện cho cộng đồnghơn là cá nhân, ít đề cập đến đời sống riêng tư cá nhân, khía cạnh đời tư ítđược chú ý tới Đây là những hạn chế mang tính tất yếu của thời đại

Nói tóm lại tiểu thuyết giai đoạn này đã tái hiện lại một cách chân thựcsinh động khí thế hào hùng của toàn dân tộc Nó thực sự trở thành nguồn

Trang 31

động viên cổ vũ tinh thần lớn lao cho toàn thể dân tộc trong cuộc khángchiến Tiểu thuyết giai đoạn chống Mỹ đã tạo nên mạch nguồn cảm hứng chogiai đoạn sau phát triển và hoàn thiện.

1.3.1.3 Hình tượng người lính trong tiểu thuyết từ 1975 - 1985

Sau chiến thắng vĩ đại mùa xuân năm 1975, lịch sử dân tộc đã bướcsang trang mới Khi tiếng súng đã lắng xuống thì cuộc sống thời bình lại mở

ra với muôn vàn biến động của đời thường Trước những thay đổi của lịch

sử dân tộc thì văn học cũng có những thay đổi để phù hợp với xu thế chungcủa thời đại Đề tài chiến tranh và người lính vẫn là nguồn cảm hứng lớn, làmảnh đất màu mỡ, đầy hứa hẹn cho các nhà văn khai thác Nhà văn NguyễnMinh Châu đã có nhiều trăn trở “chúng ta mới nói được một phần rất nhỏ sựtích của những người anh hùng vô danh ngoài mặt trận cũng như nhữngngười mẹ, người vợ ngoài hậu phương Rất nhiều cuộc đời của những conngười bình thường nhưng chứa đựng số phận của cả đất nước, chứa đựng cảmột bài học lớn về đương thời, đang cần ngòi bút của nhà văn soi rọi trêntrang giấy” [10; 124]

Văn học từ 1975-1985 viết về chiến tranh vẫn giữ nguyên cảm hứng sửthi khi viết về chiến tranh Tiểu thuyết ở giai đoạn này phải kể đến các tác

phẩm tiêu biểu như: Miền cháy (1977) - Nguyễn Minh Châu; Năm 75 họ đã

sống như thế (1978) - Nguyễn Trí Huân; Đất trắng (1979) - Nguyễn Trọng

Oánh; Sao đổi ngôi (1985) - Chu Văn Ở những tác phẩm này nhà văn vẫn

viết theo khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn Đó là những tác phẩmnhận thức lại thời kì chống Mỹ của chúng ta và vẻ đẹp anh hùng vĩ đại củanhững người lính trong kháng chiến chống Mỹ vẫn là vấn đề trọng tâm,nghiêng về ngợi ca, tôn vinh và khẳng định Tiểu thuyết giai đoạn này đã có

sự đổi mới về dung lượng phản ánh các cây bút đã thể hiện khả năng bao quát

vấn đề, tránh được cái nhìn đơn giản, sơ lược về cuộc chiến Đến Đất trắng

của Nguyễn Trọng Oánh ít nhiều bộc lộ những khuynh hướng, dấu hiệu ban

Trang 32

đầu của sự đổi mới Với Đất trắng người đọc có thể tìm thấy những suy nghĩ

mới về chiến tranh Đó là sự dữ dội trong cuộc chiến tranh giữa ta và địch,những thất bại nặng nề của ta, những vùng đất trắng hoang vu của sự chếtchóc tàn khốc Tất cả được phản ánh khá đậm nét và chân thật, tác giả không

né tránh phản ánh hiện thực và không thi vị hóa

Có thể nói, văn xuôi từ sau 1975 đến nay được đánh dấu bằng hai mốcthời gian Từ 1975 đến những năm 80 văn xuôi nghiêng về các sự kiện, baoquát hiện thực trên bình diện rộng, cảm hứng sử thi vẫn là mạch nguồn chủđạo, phải sau nhũng năm 80 mới có dấu hiệu của sự đổi mới

Với tiểu thuyết Sao đổi ngôi, Chu Văn đã đem đến cho người đọc

một sự cảm nhận mới về chiến tranh Tiểu thuyết này nêu lên những chủ đềmới đó là số phận cá nhân của những con người trước cuộc cuồng phongcủa lịch sử, trước những thử thách mới của cách mạng về cái thiện, cái ác

cái đẹp, cái xấu trong tình đời, tình người Sao đổi ngôi đã tái hiện lại cụ

thể, sinh động cuộc sống thời bình với bao biến động, khó khăn mà cuộcchiến để lại Tác giả không đặt nhân vật vào hoàn cảnh anh hùng mà đưa

họ tới những nẻo đường khác nhau của cuộc sống đời thường Bởi vậy hìnhảnh người chiến sĩ càng nổi bật, sinh động có sức thuyết phục rất lớn tronglòng bạn đọc

Nói tóm lại tiểu thuyết giai đoạn này vẫn nghiêng về cảm hứng sử thi,vào cuối giai đoạn này đã xuất hiện một số dấu hiệu chuyển biến, đổi mới,cách tân Điều này góp phần vào sự nghiệp phát triển tiểu thuyết sau này

1.3.1.4 Hình tượng người lính trong tiểu thuyết sau 1986

Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) đã tạo nên một luồng gió mới vào đờisống văn nghệ thuật mở ra thời kì đổi mới của văn học Việt Nam trên tinh thầnđổi mới tư duy và nhìn thẳng vào sự thật Xu hướng nhận thức lại hiện thực vớicảm hứng phê phán mạnh mẽ trên tinh thần nhân bản phát triển mạnh

Trang 33

Tiểu thuyết thời kỳ đổi mới đã thực sự có những đổi mới sâu sắc trêntất cả mọi phương diện Chiến tranh và người lính đã được khám phá ở nhữngtầng vỉa mới, chưa bao giờ con người và cuộc sống lại được soi rọi từ nhiềuchiều đến như vậy Người lính được nhìn nhận với những nét mới, họ khôngcòn vẻ đẹp nguyên phiến mà đã có sự xen lẫn giữa cao cả và thấp hèn, bóngtối và ánh sáng Thiên thần và quỷ dữ, rồng phượng và rắn rết Hình tượngngười lính được các nhà văn khám phá ở những bình diện mới, ở phương diệnđời tư, đời thường với những mối quan hệ đa chiều, phức tạp trong cuộc sống.Cảm hứng bi kịch được thể hiện một cách rõ nét Người lính hôm nay đượcnhìn nhận khám phá từ những nỗi đau mất mát không chỉ trong chiến tranh

mà cả sau chiến tranh Trở về thời hậu chiến, người lính cũng phải đối mặtvới nhiều khó khăn, thử thách và mất mát, gánh nặng quá khứ mãi mãi đènặng lên thân phận họ khiến họ mất đi khả năng sống của một người bìnhthường Người lính vốn quen với những chuẩn mực, ứng xử trong thời chiến,chưa thể và không thể thích ứng ngay với cái thực tại phức tạp, gai góc, nhiềucạm bẫy, với những con người tưởng quen thân mà đa đoan, đa sự Cuộc sốngmưu sinh, hành trình kiếm tìm tình yêu hạnh phúc quá đỗi mong manh vànhọc nhằn khiến cuộc sống của nhiều người trở nên bi kịch

Tiểu thuyết đánh dấu mốc cho khuynh hướng này đó là Thời xa vắng

của Lê Lựu Đây là một hiện tượng nổi bật của những năm 1986-1987 BảoNinh, Chu Lai viết những dòng tê tái, xót đắng về thân phận con người sauchiến tranh với những ám ảnh, giằng xé khắc khoải, về những năm tháng đãqua và cuộc sống hiện tại đầy nhọc nhằn nghiệt ngã Người lính hôm nayđược nhìn nhận, khám phá từ những nỗi đau, mất mát không chỉ trong chiếntranh Bởi chiến tranh đã kết thúc, không còn bom rơi, đạn nổ, không còn chếtchóc nhưng vẫn còn biết bao di chứng, bao nỗi đau vô hình và hữu hình đang

âm ĩ, nhức nhối trong từng số phận con người Rõ ràng sau ngày hòa bình

Trang 34

cuộc sống không hề bình lặng, đơn giản xuôi chiều, lấp lánh rực rỡ cờ hoa màphức tạp hơn nhiều so với những năm tháng chiến tranh khốc liệt Đúng nhưlời Nguyễn Khải nhận xét: “Chiến tranh ồn ào náo động mà lại có cái yêntĩnh, giản dị của nó Hòa bình yên tĩnh mà chứa chấp bao nhiêu sóng ngầm,bao gió xoáy bên trong” [61] Sự choáng ngợp, vầng hào quang của chiếnthắng đã chóng vánh mai một đi trên từng thân phận Người ta bắt đầu nhậnthức, chiêm nghiệm lại những giá trị đã đi qua và sự được - mất mà chiếntranh đem lại một cách đầy trăn trở, nhức nhối hơn Điều này được thể hiện rõ

trong các tiểu thuyết: Thân phận tình yêu (Bảo Ninh); Bến không chồng (Dương Hướng); Ăn mày dĩ vãng, Ba lần và một lần, Vòng tròn bội bạc (Chu Lai); Lạc rừng, Tiễn biệt những ngày buồn (Trung Trung Đỉnh).

Những vết thương của con người sau vầng hào quang chiến thắng được

các nhà văn nói đến khá nhiều Trong Thân phận tình yêu của Bảo Ninh

không có nhân vật nào tâm hồn còn nguyên lành sau những năm tháng máulửa Bị chấn thương nặng nhất có lẽ là Kiên và Phương Sau mười năm chiếntranh, Kiên thành một kẻ “cuồng dại và dị mọt” vết thương tâm hồn Kiênmang về từ cuộc chiến không ngừng rỉ máu Những cái chết của bạn bè, sựhủy hoại nhân tính, tình người mà Kiên từng chứng kiến luôn ám ảnh làm anh

mất khả năng sống bình thường, anh thành người đi ăn mày dĩ vãng Sau cuộc

chiến tranh ấy chẳng còn gì nữa cả trong đời anh, anh dường như chẳng cònmột kênh với mọi người Và cuối cùng Kiên bỏ đi lang thang với ký ức hùanhau thức dậy Còn Phương, ngày hòa bình trở lại thành một người đàn bàthác loạn Phương vẫn yêu Kiên mãnh liệt nhưng bản thân cô không thể tìm

thấy hạnh phúc nữa Tình yêu của họ bị chiến tranh dày vò, nó làm nên thân

phận của tình yêu Cả Kiên và Phương đều không thể sống như một người

bình thường Kiên chỉ sống bằng quá khứ, còn Phương “chết ngay khi đangsống” Vì những éo le trắc trở mà hoàn cảnh bất thường của cuộc sống gây

Trang 35

ra lại hụt hẫng, chóng mặt trước thực tại, những con người ấy không có sựbình yên trong tâm hồn.

Trong tiểu thuyết Bến không chồng nhà văn đã miêu tả nhân vật chính là

Nguyễn Vạn Trở về làng Đông trong hình ảnh là một vị anh hùng, nhưng đằngsau cái vẻ rạng rỡ ấy vẫn là một tính cách hằn in di chứng của chiến tranh.Nguyễn Vạn sống lặng lẽ, cô đơn, lấy sự lãnh đạm, khô khan, cứng nhắc để chedấu những niềm khao khát riêng tư Nếp sống thời chiến, lối tư duy thời chiếnngấm sâu vào Vạn biến anh thành một khối ý chí rắn đanh Ngay cả đến khithứ tình cảm quý giá nhất là tình yêu của những người phụ nữ như Nhân, nhưHạnh, Vạn cũng chối bỏ Trong chiến tranh những người anh hùng xả thân nhưVạn đáng quý biết bao Nhưng trở lại với cuộc sống thời bình, với muôn vàn sựphức tạp hỗn độn, Vạn không chỉ trở nên lạc lõng mà còn có khi trở thành nỗikhiếp sợ của dân làng Những tấm huy chương trên ngực, từng là niềm kiêuhãnh của Vạn, là sự ngưỡng mộ của dân làng Đông đã không giúp Vạn sốnghạnh phúc Con người ấy đã sống trong niềm kiêu hãnh và sự cô độc như côHạnh đã từng nhận xét “Một người không ai tốt bằng nhưng cũng không ai côđơn và khổ bằng” Nhưng đau đớn là ở chỗ, trong Vạn phần con người bảnnăng vẫn sống, vẫn thức dậy và nó làm cho Vạn khổ sở Vạn luôn bị vật lộngiằng co giữa lý trí và tình cảm, giữa lý tưởng và bản năng, giữa hành động vàsuy nghĩ, giữa ý thức giai cấp và tình người Một cuộc vật lộn âm thầm giaidẳng nhưng đầy quyết liệt Nhà văn đã nhìn thật sâu vào tâm tư của Vạn đểtruy tìm nguyên nhân của mọi khốn khổ trong cuộc đời Vạn Vạn tự tách mình

ra khỏi thế giới bình thường, khăng khăng làm một “thánh nhân” để rồi hằngđêm Vạn sống trong sự vật lộn đau đớn ê chề Vạn cứ cày xới cái quá khứ oaihùng để ngoảnh mặt quay lưng với bao điều tốt đẹp mà Vạn xứng đáng đượchưởng Vạn luôn mang trong mình một niềm tin thiêng liêng vào chuẩn mựcđạo đức đã lỗi thời Cuối cùng anh lâm vào bi kịch cuộc đời, một cái chết gâythương cảm, xót xa của dân làng

Trang 36

Tiểu thuyết Bến không chồng đã góp thêm màu sắc mới trong việc khắc

họa chân dung người lính Đó là gam màu trầm tối, xót xa nhưng chân thực và

ám ảnh Chiến tranh đi qua không phải là một giấc mơ mà là cơn ác mộng.Cơn ác mộng không ngủ yên trong lòng quá khứ mà là một di chứng hiện hữutrên những vết sẹo thể xác và tâm hồn, những vết sẹo không thể liền da

Ở Thân phận tình yêu của Bảo Ninh ta thấy những người lính từng đi qua

cuộc chiến tranh như Kiên không thể bứt phá khỏi hình ảnh đeo bám củachiến tranh Lý trí luôn đấu tranh lên tiếng phải kêu gọi mọi người hãy quên

đi nhưng chính Kiên phải bất lực thừa nhận “dĩ nhiên quên đi thật là khó Nóichung chẳng biết bao giờ lòng mình có thể nguôi nổi, trái tim có thể thoátkhỏi gọng kìm của bàn tay xiết chặt, của kinh nghiệm chiến tranh Những kỷniệm có thể là ác hại, có thể là êm đềm nhưng đều để lại những vết thương màtới nay một năm đã qua, hay mười năm, hai mươi năm về sau vẫn còn đau đaumãi ” [70; 46] Lẽ ra những người lính sau chiến tranh phải được hưởng mộtcuộc sống bình yên đàng hoàng với những phần đời còn lại nhưng trong thực

tế họ vẫn phải đi tìm việc làm, vẫn lao đao trong cuộc chiến mưu sinh Trong

Ăn mày dĩ vãng, Hai Hùng di cư vào Nam “để thực hiện hành vi ngang trái và

tội tình: đi tìm việc làm, đi tìm nơi trú ngụ chót cùng của cuộc đời” [48; 6].Những người lính nhỏ bé, lạc lõng trong guồng quay nghiệt ngã của cuộc đời

Đó chính là bi kịch chung, nỗi đau chung của những người lính thời hậu chiến

đã được các nhà văn phản ánh một cách chân thực

Như vậy, cùng xuất phát từ một điểm nhìn, từ một góc độ phản ánh

“các nhà văn đã tự đổi mới trong cách nghĩ, cách viết, nhất là khi cuộc chiến

đã chấm dứt, bối cảnh xã hội đã đổi khác Đã có một độ lùi, cần thiết cho nhàvăn nhìn lại một thời kỳ lăn lộn trong khói lửa Nhà văn đi đến tận cùng củahiện thực chiến tranh, đào xới sâu vào tính cách Việt Nam, tái hiện lại nhữngkhuôn mặt chiến tranh đúng như nó vốn có” [69; 115] Những trang tiểu

Trang 37

thuyết viết về chiến tranh giúp người đọc gần như tiếp cận gần hơn, rõ hơncuộc sống của con người sau chiến tranh Chiến tranh chưa thể là câu chuyệncủa ngày hôm qua, vẫn còn đó những đống hoang tàn, đổ nát, bao mất mátđau thương - những di chứng của chiến tranh Hậu quả mặt trái của cuộcchiến vẫn đeo bám, in dấu trên từng gương mặt, số phận, họ phải chấp nhậnnhững thực tế phũ phàng trong số phận Đó là những bi kịch đau đớn về vậtchất lẫn tinh thần, những vết thương lòng mà cuộc sống theo dòng chảy trôicũng khó có thể mất đi dấu vết Dưới ngòi bút hiện thực hơn, tỉnh táo hơn, cácnhà văn đã đem đến cho chúng ta một bức tranh toàn diện hơn về số phậnngười lính trong và sau chiến tranh

Có thể nói, với xu hướng nhận thức lại hiện thực, các tiểu thuyết thời kìnày đã đem lại cho bức tranh văn học một sắc màu đa dạng và đem đến chongười đọc một cái nhìn toàn diện, thấu đáo hơn về cuộc chiến tranh đã đi qua, vềđời sống thời hậu chiến, đặc biệt về hình tượng người lính giữa đời thường

1.3.2 Về hình tượng người lính trong tiểu thuyết của Trung Trung Đỉnh

Hơn nửa thế kỷ văn học Việt Nam hiện đại đã trôi qua, đề tài chiếntranh và người lính cách mạng vẫn là dòng chảy chủ đạo, là nguồn cảm hứngdồi dào, là vấn đề thu hút sự quan tâm chú ý của hầu hết các thế hệ nhà văn.Trung Trung Đỉnh là một nhà văn nhưng đồng thời cũng là một người línhđầy nhiệt huyết Ông đã viết về người chiến sĩ cánh mạng, về cuộc chiến tranhchống Mỹ của dân tộc với cảm quan của người trong cuộc, và với sự từng trảicủa bản thân, ông đi vào từng ngõ ngách trong tâm hồn người lính, miêu tảchiều sâu của tiến trình diễn biến tâm lý và tính cách của họ

Người lính trong tiểu thuyết của Trung Trung Đỉnh đã trở thành conngười đại diện cho giai cấp cho dân tộc, thời đại và kết tinh một cách chói lọinhững phẩm chất cao quý của cộng đồng Những khó khăn gian khổ, sự khốcliệt nghiệt ngã của cuộc sống chiến trường là môi trường rèn luyện thử thách

Trang 38

lòng dũng cảm sự bền gan, ý chí và bản lĩnh của mỗi người lính Họ sống vàchiến đấu vì mục đích lí tưởng cao đẹp là dành lấy hòa bình độc lập tự do

Đi trong khốc liệt của cuộc chiến, người lính cách mạng trong tiểuthuyết Trung Trung Đỉnh vẫn mang dáng vẻ lạc quan Tất cả họ “có một tưtưởng, và sự thể hiện tư tưởng ấy chỉ có một cách, một con đường, ấy làkhông sợ khó khăn gian khổ không quản ác liệt hi sinh” [24] Tuy nhiên, họkhông phải là một thánh nhân, họ là một con người bình thường với bao ướcvọng suy tư, trăn trở với những niềm vui nỗi buồn tốt xấu lẫn lộn Cái nhìnđầy tính nhân văn của nhà văn đã cho ta thấy được hình tượng người lính đầyđặn và người hơn Hình ảnh người lính hiện lên vẫn hồn nhiên, trẻ trung, lạcquan yêu đời là sức mạnh vô hình tiếp thêm nghị lực cho người lính để hoànthành nhiệm vụ, giúp họ vững tin đi hết những cách rừng bom đạn, làm giảm

đi sự khốc liệt của chiến trường

Bước ra khỏi cuộc chiến, những người lính trở về với cuộc sống đờithường nhưng những kí ức chiến tranh còn ám ảnh mãi Nếu như trong chiếntranh, những người lính phải đối mặt với những khó khăn, gian khổ, khốc liệt

để giành lấy sự sống, ranh giới giữa sống - chết rất mong manh nhưng trở vềvới thời bình, phải đối mặt với nền kinh tế thị thị trường thì vấn đề mưu sinhlại đặt ra bức thiết hơn bao giờ hết Họ phải đương đầu với một cuộc chiếncũng không kém phần quyết liệt Giữa cái ồn ào phức tạp của cuộc sống,người lính như bị nhạt nhòa đến nỗi người ta có cảm giác, sau trọng trách lịch

sử vinh quang đó, giờ đây họ có cảm giác như trở thành một đám đông ngơngác, lạc lõng, không thể bắt nhịp được với sự phát triển của thời đại

Có thể nói, hình tượng người lính trong tiểu thuyết sau 75 nói chung vàtiểu thuyết của Trung Trung Đỉnh nói riêng được nhìn nhận một cách đa chiềuhơn, phức tạp hơn, toàn diện hơn Vì vậy những trang viết của các nhà văn vềhình tượng người lính bao giờ cũng day dứt hơn, lắng đọng hơn

Trang 39

Tiểu kết

Bối cảnh lịch sử thẩm mỹ của văn học Việt Nam sau 1986 rất đặc biệt

và chịu chi phối mạnh mẽ của hiện thực cuộc sống, điều này đã dẫn đến sựthay đổi tư duy nghệ thuật Nền văn học Việt Nam thời kỳ Đổi mới đã cónhững chuyển biến đáng ghi nhận ở hầu hết các thể loại, trong đó có tiểuthuyết Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ Đổi mới đã đạt được nhiều thành tựutrong việc cách tân về nội dung và hình thức thể hiện Trong các nhà vănthuộc thế hệ tiên phong trong công cuộc Đổi mới phải kể đến Nguyễn MinhChâu, Nguyễn Khải, Lê Lựu…Họ đã đốt lên một tinh thần nhiệt huyết, dámnhìn thẳng vào quá khứ, bất chấp mọi rào cản

Trung Trung Đỉnh là một cây bút tiểu thuyết nổi bật trong văn họcViệt Nam thời kỳ Đổi mới Những trang viết lần hồi tìm về quá khứ củanhà văn đã để lại dư ba trong lòng bạn đọc, góp phần làm sinh động hơnbức tranh tiểu thuyết thời kỳ Đổi mới Một trong những cảm hứng nổi bậttrong tiểu thuyết của Trung Trung Đỉnh là chiến tranh và người lính Hìnhtượng người lính trong tiểu thuyết của Trung Trung Đỉnh được nhìn nhậntrong cái đa chiều phức tạp, toàn diện và đầy đủ vẻ gai góc, thô nhám của

nó Vấn đề này sẽ được chúng tôi tiếp tục triển khai ở những chương tiếptheo của luận văn

Trang 40

Chương 2

CÁI NHÌN NGHỆ THUẬT VỀ NGƯỜI LÍNH TRONG TIỂU THUYẾT CỦA TRUNG TRUNG ĐỈNH

2.1 Khái niệm cái nhìn nghệ thuật

Nói tới cái nhìn là ta nghĩ ra một hành động của con người mà ở đó taquan sát về thế giới xung quanh, trải nghiệm và rút ra chân lý sống cho mình.Cái nhìn nghệ thuật là một năng lực tinh thần đặc biệt của con người Nó cóthể thâm nhập vào sự vật, phát hiện những nét riêng mà vẫn ở ngoài sự vật,bảo lưu sự toàn vẹn thẩm mỹ của sự vật Do đó cái nhìn nghệ thuật được vậndụng muôn vẻ trong nghệ thuật Người nghệ sĩ, quan sát thế giới, thâm nhậpvào sự vật, phát hiện những nét riêng, nét độc đáo của sự vật, và từ đó bóctách những vấn đề của cuộc sống bằng sự suy luận, logic và trừu tượng Để cócái nhìn nghệ thuật người nghệ sĩ phải có khả năng lĩnh hội những thay đổinhững diễn biến của cuộc sống một cách nhạy bén và sâu sắc hơn, phải biếtlưu giữ những ấn tượng, thâm nhập qua những giới hạn bên ngoài của sự vật

mà cho đến thời điểm đó chưa ai biết đến

Cái nhìn nghệ thuật của người nghệ sĩ đối với cuộc sống vốn được hìnhthành và xuất phát từ sự trải nghiệm thực tế cuộc sống Trong những điều kiện

xã hội cụ thể đã làm cho những khái niệm về những gì nhà văn quan sát cóđược tính hệ thống và chính xác M.khrapchenco khẳng định: “Chân lý cuộcsống trong sáng tác nghệ thuật không tồn tại bên ngoài mà cái nhìn nghệ thuật

có tính cá nhân đối với thế giới vốn có ở từng nghệ sĩ thực thụ” [44] Cái nhìnđược thể hiện qua nhiều cấp độ quan sát, tri giác, cảm giác do đó nó có thểgiúp người nghệ sĩ phát hiện ra cái đẹp, cái xấu, cái bi, cái hài trong cuộc sống

Bản chất của nghệ thuật là sáng tạo và chính cái nhìn nghệ thuật củamỗi nhà văn là yếu tố làm nên sự sáng tạo đó Bằng những nhận thức rất riêng

Ngày đăng: 18/12/2013, 20:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tâm An (2008), “Sống khó hơn là chết”, http://www.thvl.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sống khó hơn là chết
Tác giả: Tâm An
Năm: 2008
2. Nguyễn Thị Anh (2009), Tiểu thuyết Trung Trung Đỉnh, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Trung Trung Đỉnh
Tác giả: Nguyễn Thị Anh
Năm: 2009
3. Vũ Tuấn Anh (1995), “Đổi mới văn học vì sự phát triển”, Tạp chí Văn học, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới văn học vì sự phát triển”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1995
4. Vũ Tuấn Anh (2001), Văn học Việt Nam hiện đại - Nhận định và thẩm định, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam hiện đại - Nhận định và thẩm định
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2001
5. Yến Anh (2009), “Ngõ lỗ thủng chuyện buồn quá khứ”, http://www.nld.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngõ lỗ thủng chuyện buồn quá khứ
Tác giả: Yến Anh
Năm: 2009
6. Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2003
7. M. Bakhtin (1998), Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
8. Vũ Bằng (1996), Khảo về tiểu thuyết, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo về tiểu thuyết
Tác giả: Vũ Bằng
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1996
9. Nguyễn Thị Bình (2007), Văn xuôi Việt Nam 1975-1995 những đổi mới cơ bản, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam 1975-1995 những đổi mới cơ bản
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
10. Nguyễn Minh Châu (2002), Trang giấy trước đèn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang giấy trước đèn
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2002
11. Đoàn Cầm Chi (2005), “Chiến tranh, tình yêu, tình dục trong văn học Việt Nam đương đại”, http://www.evan.express.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến tranh, tình yêu, tình dục trong văn học Việt Nam đương đại”
Tác giả: Đoàn Cầm Chi
Năm: 2005
12. Trần Linh Chi (2005), Tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 - 2000 bước phát triển về tư duy thể loại, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 - 2000 bước phát triển về tư duy thể loại
Tác giả: Trần Linh Chi
Năm: 2005
13. Phạm Thị Hồng Duyên (2009), Tiểu thuyết Trung Trung Đỉnh thời kỳ Đổi mới, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Trung Trung Đỉnh thời kỳ Đổi mới
Tác giả: Phạm Thị Hồng Duyên
Năm: 2009
14. Nguyễn Thị Xuân Dung (2004), “Dục vọng trong tiểu thuyết Việt Nam về chiến tranh từ 1986 - 1996”, http://www.evan.vnexpress.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dục vọng trong tiểu thuyết Việt Nam về chiến tranh từ 1986 - 1996”
Tác giả: Nguyễn Thị Xuân Dung
Năm: 2004
15. Đinh Xuân Dũng (2001), “Văn học Việt Nam về chiến tranh hai giai đoạn của sự phát triển”, Văn nghệ Quân đội, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam về chiến tranh hai giai đoạn của sự phát triển”
Tác giả: Đinh Xuân Dũng
Năm: 2001
16. Đặng Anh Đào (1999), “Tính chất hiện đại của tiểu thuyết”, Tạp chí Văn học, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính chất hiện đại của tiểu thuyết”
Tác giả: Đặng Anh Đào
Năm: 1999
17.Phan Cự Đệ (2000), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
18. Nguyễn Đăng Điệp (2003), Vọng từ con chữ, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vọng từ con chữ
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2003
19. Trung Trung Đỉnh (1987), “Suy nghĩ của người trong cuộc”, Văn nghệ Quân đội, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy nghĩ của người trong cuộc”, "Văn nghệ Quân đội
Tác giả: Trung Trung Đỉnh
Năm: 1987
46. Krishua kripalani (2004), Về những tiểu thuyết ngắn, http://www.evan.vnexpress.net Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

HìNH TƯợNG NGƯờI LíNH - Hình tượng người lính trong tiểu thuyết của trung trung đỉnh luận văn thạc sĩ ngữ văn
HìNH TƯợNG NGƯờI LíNH (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w