Điều đó không những giúp các em nắm vấn đề một cách chắc chắn và bền vững, bồi dưỡng phương pháp học tập và kỹ năng vận dụng tri thức, mà còn là dịp tốt để các em rèn luyện ý chí và năng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
VÕ THỊ MAI HỒNG
HÌNH THÀNH KỸ NĂNG TỰ HỌC CHO HỌC SINH HỆ TRUNG CẤP NGHỀ ĐIỆN
(THÔNG QUA DẠY HỌC CHƯƠNG “DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU”
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
VÕ THỊ MAI HỒNG
HÌNH THÀNH KỸ NĂNG TỰ HỌC CHO HỌC SINH HỆ TRUNG CẤP NGHỀ ĐIỆN
(THÔNG QUA DẠY HỌC CHƯƠNG “DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU”
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu
và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác.
Tác giả
Võ Thị Mai Hồng
LỜI CÁM ƠN
Trang 4Tôi chân thành cám ơn Ban Giám Hiệu, Khoa Sau Đại học, Khoa Vật Lý,
Tổ Phương pháp giảng dạy khoa Vật Lý Trường Đại học Vinh; Ban Giám Hiệu,Phòng Quản lý khoa học và Sau Đại học, Thư viện Trường Đại học Đồng Tháp
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn QuangLạc – người đã định hướng khoa học, tận tình hướng dẫn, hết lòng giúp đỡ tôi đểluận văn được hoàn thành đúng thời hạn
Tôi chân thành cám ơn Ban Giám Hiệu, các Thầy Cô Khoa Khoa học Cơbản & Sư phạm trường Cao đẳng nghề Đồng Tháp; Lãnh đạo và tập thể giảngviên Khoa Điện trường Cao đẳng nghề Đồng Tháp, Lãnh đạo Trung tâm dạy nghềHuyện Cao Lãnh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện luậnvăn
Cuối cùng, tôi bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình, bạn bè, đồng nghiệp
đã giúp đỡ, động viên tôi an tâm học tập và hoàn thành luận văn này
Trang 5Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỂN CỦA VIỆC HÌNH
THÀNH KỸ NĂNG TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRUNG CẤP NGHỀ 12
1.1 Cơ sở lý luận ……… 12
1.1.1 Hoạt động học và bản chất của hoạt động học……… 12
1.1.1.1 Hoạt động học……… 12
1.1.1.2 Bản chất của hoạt động học ……… 15
1.1.2 Khái niệm tự học, các hình thức tự học và quy trình tự học 16
1.1.2.1 Các quan niệm tự học ……… 16
1.1.2.2 Các hình thức tự học ……… 18
1.1.2.3 Quy trình tự học ……… 19
1.1.3 Tự học trong quá trình dạy học ở nhà trường ……… 21
1.1.4 Tự học – một trong những yếu tố quyết định chất lượng đào tạo… 22 1.1.5 Dạy – tự học ……… 24
1.1.5.1 Dạy – tự học cho học sinh ……… 24
1.1.5.2 Quy trình dạy – tự học ……… 25
1.1.6 Năng lực tự học của học sinh ……… 28
1.1.6.1 Khái niệm năng lực tự học của học sinh ……… 28
1.1.6.2 Các năng lực tự học, tự nghiên cứu cần bồi dưỡng cho học sinh 28 1.1.6.3 Kỹ năng, kỹ năng tự học……… 29
1.1.7 Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình tự học ……… 30
1.2 Cơ sở thực tiễn………. 31
1.2.1 Nhận thức về tự học của học sinh ở Trường Cao đẳng nghề Đồng Tháp 31 1.2.2 Thực trạng dạy và học vật lý phổ thông ở Trường Cao đẳng nghề Đồng Tháp ……… 32
1.2.3 Một số nguyên nhân cơ bản ……… 32
1.3 Kết luận chương 1……… 34
Chương 2: CÁC GIẢI PHÁP VÀ TIẾN TRÌNH HÌNH THÀNH KỸ NĂNG TỰ HỌC VÀ DẠY TỰ HỌC CHO HỌC SINH ……… 35
2.1 Nhiệm vụ dạy học bổ trợ kiến thức văn hóa nói chung, kiến thức Vật lý nói riêng cho học sinh nghề hệ 3 năm ……… 35
2.2 Yêu cầu đối với việc dạy học môn Vật lý cho học sinh Trung cấp nghề hệ 3 năm ……… 36
2.3 Đặc điểm của phần “Dòng điện xoay chiều” 36 2.4 Mục tiêu, nội dung và cấu trúc của chương “Dòng điện xoay chiều” 37 2.4.1 Mục tiêu theo chuẩn kiến thức, kỹ năng……… 37
2.4.2 Nội dung của chương “Dòng điện xoay chiều”……… 38
2.4.2.1 Những kiến thức cơ bản của dòng điện xoay chiều 38
2.4.2.2 Truyền tải điện năng và máy biến áp……… 38
2.4.2.3 Máy phát điện xoay chiều……… 39
Trang 62.4.2.4 Động cơ không đồng bộ ba pha……… 39
2.4.3 Cấu trúc lôgic của chương “Dòng điện xoay chiều”……… 40
2.5 Những giải pháp hình thành kỹ năng tự học cho học sinh Trung cấp nghề hệ 3 năm……… 40
2.5.1 Khái niệm kỹ năng……… 40
2.5.2 Quy trình hình thành kỹ năng, kỹ xảo……… 40
2.5.2.1 Quá trình hình thành kỹ năng……… 40
2.5.2.2 Quá trình hình thành kỹ xảo………. 41
2.5.3 Kỹ năng học tập……… 41
2.5.3.1 Kỹ năng học tập trên lớp……… 41
2.5.3.2 Kỹ năng học ở nhà……… 42
2.5.3.3 Kỹ năng ghi nhớ……… 42
2.5.3.4 Kỹ năng đọc sách………. 42
2.5.3.5 Kỹ năng chuẩn bị và làm bài kiểm tra………. 42
2.5.3.6 Kỹ năng thực hành……… 43
2.5.3.7 Kỹ năng giải tỏa stress………. 43
2.5.3 Kỹ năng phát hiện vấn đề……… 43
2.5.4 Kỹ năng giải quyết vấn đề……… 44
2.5.5 Những kỹ năng khác……… 44
2.5.5.1 Phải biết tu dưỡng, tự rèn luyện mình……… 44
2.5.5.2 Hãy nắm vững hai công cụ làm việc, học tập, nghiên cứu để đạt kết quả tốt nhất, đó là: Ngoại ngữ - chủ yếu là Tiếng anh và Tin học – sử dụng máy tính………
45 2.5.5.3 Chú trọng nguyên tắc liên môn, liên ngành………. 46
2.5.5.4 Tính kế hoạch và tính trọng tâm……… 46
2.5.5.5 Đừng dấu dốt, sĩ diện hảo Hãy khiêm tốn và trung thực; cái gì chưa biết thì phải hỏi, phải học……… 46
2.5.5.6 Luôn biết tự kiểm điểm và đánh giá mình……… 46
2.5.5.7 Biết phân phối thời gian, biết thăng bằng các hoạt động… 47 2.5.5.8 Hãy tự tin ở bản thân mình……… 47
2.6 Thực trạng dạy học Vật lý chương “Dòng điện xoay chiều” ở Trường Cao đẳng nghề Đồng Tháp……… 47
2.6.1 Về tài liệu học tập……… 47
2.6.2 Về thiết bị thí nghiệm……… 47
2.6.3 Về nhận thức và phương pháp giảng dạy của giáo viên…… 47
2.6.4 Về phía học sinh……… 48
2.7 Tổ chức hoạt động dạy một số bài học ở chương “Dòng điện xoay chiều” theo hướng dạy học hình thành kỹ năng tự học cho học sinh……….
48 2.7.1 Giáo án 1: Truyền tải điện năng – Máy biến áp……… 49
2.7.2 Giáo án 2: Máy phát điện xoay chiều……… 57
Trang 72.7.3 Giáo án 3: Giáo án thực hành……… 64
2.8 Kết luận chương 2……… 67
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM……… 69
3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm……… 69
3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm……… 69
3.3 Đối tượng thực nghiệm sư phạm……… 69
3.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm……… 70
3.5 Cách tiến hành thực nghiệm sư phạm……… 70
3.6 Kết quả thực nghiệm sư phạm……… 70
3.6.1 Đánh giá định lượng……… 70
3.6.2 Đánh giá định tính……… 71
3.6.2.1 Các thông số thống kê……… 71
3.6.2.2 Kiểm định thống kê……… 73
3.7 Kết luận chương 3……… 74
PHẦN KẾT LUẬN……… 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 77
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8Viết tắt Viết đầy đủ
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ
Trang 9Bảng 3.2 Bảng thống kê điểm số của hai bài kiểm tra 72Bảng 3.3 Bảng thống kê số HS đạt điểm từ Xi trở xuống 72Bảng 3.4 Bảng thống kê số % HS đạt điểm từ Xi trở xuống 72
Trang 10trị tốt vừa có trình độ chuyên môn giỏi, đủ năng lực cạnh tranh trong nền kinh tế thếgiới, trách nhiệm của nền giáo dục chúng ta là hết sức nặng nề Sản phẩm của ngànhgiáo dục thời kỳ này phải là những con người năng động, sáng tạo, chủ động tiếp cận
để nắm bắt những công nghệ tiên tiến trên thế giới và áp dụng vào nước ta, góp phầnnâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, đồng thời phát triển khoa học công nghệnước nhà vươn lên ngang tầm với khu vực và thế giới Trong báo cáo của Ban chấphành Trung ương Đảng khóa IX về các Văn kiện Đại hội X của Đảng do Tổng Bí thư
Nông Đức Mạnh trình bày ngày 18/4/2006 đã nhấn mạnh: “Về giáo dục và đào tạo, chúng ta phấn đấu để lĩnh vực này cùng với khoa học và công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu thông qua việc đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam Những biện pháp cụ thể là: đổi mới cơ cấu tổ chức, nội dung, phương pháp dạy học và học theo hướng
“chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa” Phát huy trí sáng tạo, khả năng vận dụng, thực hành của người học Đề cao trách nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội…”
[1] Thông báo kết luận số 242 – TB/TW ngày 15/04/2009 của bộ chính trị vềtiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII), phương hướng phát triển giáo
dục và đào tạo đến năm 2020 một lần nữa đã khẳng định “Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy và học, khắc phục cơ bản lối truyền thụ một chiều Phát huy phương pháp dạy học tích cực, sáng tạo, hợp tác; giảm thời gian giảng dạy lý thuyết, tăng thời gian
tự học, tự tìm hiểu cho học sinh, sinh viên; gắn bó chặt chẽ giữa lý thuyết và thực hành, đào tạo gắn với nghiên cứu khoa học, sản xuất và đời sống” [2].
- Trong hội thảo quốc gia về “Đổi mới phương pháp giảng dạy và đào tạo giáoviên vật lý” GS.TSKH Thái Duy Tuyên có đề cập đến sự cần thiết phải bồi dưỡng
năng lực tự học “Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh là điều rất quan trọng và cần thiết trong điều kiện hiện nay Thật vậy, thời gian tự học là lúc các em có điều kiện tự nghiền ngẫm vấn đề học tập theo một yêu cầu, phong cách riêng và với tốc độ thích hợp Điều đó không những giúp các em nắm vấn đề một cách chắc chắn và bền vững, bồi dưỡng phương pháp học tập và kỹ năng vận dụng tri thức, mà còn là dịp tốt
để các em rèn luyện ý chí và năng lực hoạt động sáng tạo là những điều mà không ai cung cấp được nếu các em không thông qua hoạt động bản thân, là những phẩm chất cần thiết cho sự phát triển và thành đạt lâu dài của mỗi con người.
Trong thời đại mà khoa học, kỹ thuật phát triển như hiện nay, nhà trường dù tốt đến mấy cũng không đáp ứng được nhu cầu đa dạng và đang phát triển của cuộc sống.
Vì vậy, chỉ có tự học, tự bồi dưỡng thì mỗi người mới có thể bù đắp cho mình những lỗ hổng về kiến thức để đáp ứng với yêu cầu của cuộc sống đang phát triển” [45]
- Môn vật lý đóng vai trò quan trọng trong việc bổ trợ kiến thức về mặt lýthuyết, đáp ứng nhu cầu học nghề cho học sinh (HS) đã tốt nghiệp THCS nhưngchưa tốt nghiệp THPT nói chung và cho HS nghề Điện nói riêng Trong đó,chương “Dòng điện xoay chiều” cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản nhấttrước khi bắt tay vào việc điều khiển, vận hành các loại máy điện như: máy biếnthế, động cơ không đồng bộ ba pha, máy phát điện xoay chiều một pha, ba pha…Qua đó, rèn luyện cho HS kỹ năng, kỹ xảo thực hành một cách có hiệu quả, đồngthời giúp HS hiểu và nắm vững bài học một cách sâu sắc hơn
Trang 11- Việc bồi dưỡng một HS giỏi để HS ngày càng giỏi hơn chẳng khác nào
“như gấm thêu thêm hoa” Với HS trung cấp nghề hệ 3 năm – là những HS có học
lực yếu hoặc cá biệt (trừ những trường hợp đặc biệt) thì việc uốn nắn để các em có
ý thức được mục đích, động cơ học tập đúng đắn và hình thành được kỹ năng tựhọc ở bộ môn vật lý nói riêng và các bộ môn thuộc chuyên ngành nói chung là mộtđiều hết sức khó khăn nhưng không phải vì sự khó khăn đó mà người giáo viên(GV) nản chí và dạy cho có lệ, cho xong việc
Với tâm huyết của một nhà giáo, với nhiệm vụ của một người GV dạy bổ trợ
kiến thức văn hóa, tôi nhận thấy năng lực tự học là một trong những phẩm chất quan trọng nhất mà nhà trường hiện đại cần trang bị cho HS, vì nó có ích không
chỉ khi các em còn ngồi trên ghế nhà trường mà cả khi đã bước vào cuộc sống Với
những lý do trên mà tôi chọn đề tài “HÌNH THÀNH KỸ NĂNG TỰ HỌC CHO HỌC SINH HỆ TRUNG CẤP NGHỀ ĐIỆN (THÔNG QUA DẠY HỌC CHƯƠNG “DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU” VẬT LÝ 12 CƠ BẢN).
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Vấn đề hướng dẫn HS cách tự học rất được các nhà giáo dục trong vàngoài nước quan tâm nghiên cứu Usinxki đã từng lưu ý: “Ngay cả trường hợpgiả thuyết rằng HS hiểu được ý nghĩa mà GV giải thích cho họ thì ý này cũngkhông bao giờ thâm nhập vào đầu óc họ một cách thật vững chắc và tự giác,không bao giờ trở thành vốn riêng biệt hoàn toàn của HS như khi họ tự tìmra…” Mặt khác, không phải HS nào cũng có khả năng tự học tốt và không phảikiến thức vật lý nào HS cũng có thể tự nắm bắt được Vì thế, trước hết phải dạy
tự học, rồi sau đó mới giao cho HS làm việc một mình
Ngoài ra, còn có các tác giả khác quan tâm đến vấn đề tự học của HS nhưmột số công trình:
- B P Exipop (1971), Hoạt động độc lập của học sinh trong quá trình dạy học;
- I F Kharlamop (1978), Phát huy tính tích cực của học sinh như thế nào;
- A V Muraviep (1978), Dạy học thế nào cho học sinh tự nắm kiến thức vật lý;
- M P Casin, Về công tác độc lập của cá nhân trong giờ học;
- M P Đôrôphêencô, Giáo dục kỹ xảo làm việc tự lập của học sinh;…
Ở trong nước cũng có một số tác giả quan tâm nhiều đến việc bồi dưỡngNLTH cho HS như Nguyễn Kỳ, Trần Bá Hoành, Đinh Quang Báo, NguyễnCảnh Toàn,… Các tác giả đã đưa ra những cơ sở lý luận về dạy học lấy HS làm
trung tâm Bên cạnh đó, PGS TS Lê Công Triêm với bài báo “Bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên đại học” đăng trên Tạp chí Giáo dục –
số 8 (7/2001) cũng đã đề cập tới vấn đề tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên đại
học; nhóm tác giả Lê Đình, Trần Huy Hoàng với đề tài cấp bộ “Cơ sở khoa học của việc bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên sư phạm ngành vật lý” đã trình bày khá rõ cơ sở lý luận của việc bồi dưỡng NLTH, tự nghiên
cứu cho học sinh, sinh viên
Gần đây cũng có một số luận văn thạc sĩ đề cập đến vấn đề này Điển hình như:
Trang 12- Võ Lê Phương Dung, Hình thành năng lực tự học vật lý cho học sinh trung học phổ thông thông qua việc sử dụng sách giáo khoa, Luận văn thạc sĩ
Giáo dục học, trường ĐHSP Huế 2005 [15] Tác giả đã chỉ ra được sự hìnhthành NLTH vật lý, vai trò của sách giáo khoa Đồng thời xây dựng được cơ sở
lý luận của việc hình thành NLTH vật lý cho học sinh thông qua việc sử dụngsách giáo khoa và đã đề ra được các biện pháp tổ chức sử dụng sách giáo khoanhằm hình thành NLTH vật lý cho HS
- Trần Văn Vậy, Tổ chức tình huống học tập và hướng dẫn học sinh tự học chiếm lĩnh kiến thức trong dạy học vật lý 8 trung học cơ sở, Luận văn thạc sĩ
Giáo dục học, trường ĐHSP Huế 2006 [46] Trong luận văn này, tác giả chủ yếudựa vào việc tổ chức các tình huống học tập, qua đó hướng dẫn HS tự lực chiếmlĩnh kiến thức vật lý
- Nguyễn Phú Đồng, Nghiên cứu sử dụng bài tập vật lý theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh trong dạy học phần “Dòng điện không đổi”, vật lý 11 trung học phổ thông, Luận văn thạc sĩ Giáo dục học, trường
ĐHSP Huế 2008 [17] Tác giả xây dựng được cơ sở lý luận của việc bồi dưỡngNLTH của HS thông qua BTVL; đề xuất được các biện pháp nâng cao hiệu quả
sử dụng BTVL và tiến trình dạy học theo hướng tăng cường sử dụng bài tập đểbồi dưỡng NLTH cho HS trong dạy học vật lý
- Lê Thuận Thái Trung Hiếu, Nghiên cứu vận dụng một số phương pháp nhằm nâng cao chất lượng học môn vật lý thông qua chương “Năng lượng” thuộc phần Cơ học vật lý đại cương cho sinh viên Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp, Luận văn thạc sĩ Giáo dục học, trường ĐH Vinh 2009 [24] Tác giả xây
dựng được cơ sở lý luận của việc bồi dưỡng NLTH của sinh viên Vận dụng tốtphương pháp tự học, mỗi sinh viên đều chủ động lập kế hoạch tự học, điều chỉnh
kế hoạch tự học, tự kiểm tra đánh giá kết quả tự học qua hoạt động thực hiện cácnhiệm vụ của GV giao cho: trả lời những câu hỏi, giải bài tập về nhà, đọc giáotrình Sinh viên tự lực nghiên cứu phát hiện vấn đề - phương pháp hỏi; vấn đềcần nghiên cứu, tự đặt câu hỏi – tự trả lời câu hỏi về nội dung kiến thức cũngnhư vận dụng kiến thức vào thực tiễn
- Nguyễn Hoàng Anh, Bồi dưỡng năng lực tự học của sinh viên trường Đại học Đồng Tháp trong quá trình dạy học vật lý đại cương thông qua chương
“Động lực học chất điểm”, Luận văn thạc sĩ Giáo dục học, Trường ĐH Vinh
2010 [5] Tác giả xây dựng được cơ sở lý luận của việc bồi dưỡng NLTH củasinh viên thông qua việc trả lời những câu hỏi, giải bài tập sau bài học và bài tập
tự học Sinh viên tự lực nghiên cứu, phát hiện vấn đề, giải quyết vấn đề cầnnghiên cứu, cũng như vận dụng các nội dung kiến thức vào giải thích các hiệntượng vật lý trong thực tiễn
- Nguyễn Tuấn Anh, Nghiên cứu vận dụng phương pháp dạy – tự học nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn vật lý ở trường trung học phổ thông (thông qua chương “Dòng điện xoay chiều”, vật lý 12 nâng cao), Luận văn thạc sĩ Giáo
dục học, trường ĐH Vinh 2010 [6] Tác giả xây dựng được cơ sở lý luận của việcbồi dưỡng NLTH của HS thông qua việc vận dụng phương pháp tự học cho mỗi
Trang 13HS chủ động lập kế hoạch tự học, điều chỉnh kế hoạch tự học, tự kiểm tra đánhgiá kết quả tự học qua hoạt động thực hiện các nhiệm vụ của giáo viên giao cho:trả lời những câu hỏi, giải bài tập về nhà, đọc sách giáo khoa HS tự lực, nghiêncứu phát hiện vấn đề - phương pháp hỏi, vấn đề cần nghiên cứu, tự đặt câu hỏi –
tự trả lời câu hỏi Những vấn đề về nội dung kiến thức cũng như vận dụng nhữngkiến thức phần dòng điện xoay chiều vào thực tiễn
Tuy nhiên, do xuất phát từ các mục đích khác nhau nên các công trình nghiêncứu trên chưa đi sâu vào việc tổ chức các hoạt động học tập nhằm nâng cao chấtlượng chiếm lĩnh tri thức và khả năng vận dụng kiến thức trong thực hành nghề.Trong đề tài của mình, tôi sẽ kế thừa những cơ sở lý luận của các công trìnhnghiên cứu trước đây, nhưng chú trọng hơn vào việc tổ chức các hoạt động họctập nhằm nâng cao chất lượng chiếm lĩnh tri thức cơ bản nhất và khả năng vậndụng kiến thức trong việc điều khiển, vận hành các loại máy điện như: máy biếnthế, động cơ không đồng bộ ba pha, máy phát điện xoay chiều một pha, ba pha…
3 Mục đích nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu đề xuất tiến trình hình thành kỹ năng tự học môn vật lý chohọc sinh Trung cấp nghề Điện hệ 3 năm ở Trường Cao đẳng Nghề Đồng Thápthông qua dạy học chương “Dòng điện xoay chiều” vật lý 12 cơ bản thuộcchương trình vật lý phổ thông, nhằm nâng cao chất lượng chiếm lĩnh tri thức vàkhả năng vận dụng kiến thức trong thực hành nghề
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài
+ Phương pháp dạy học vật lý cho hệ Trung cấp nghề
+ Hoạt động tự học của học sinh Trung cấp nghề trong bộ môn vật lý.+ Tổ chức hoạt động tự học cho học sinh theo chương trình, sách giáokhoa vật lý 12 chương trình cơ bản
Phạm vi nghiên cứu
+ Nghiên cứu dạy học chương “Dòng điện xoay chiều” lớp 12 chươngtrình cơ bản theo định hướng của đề tài cho học sinh khối nghề nói chung và nghềĐiện nói riêng
+ Tổ chức hoạt động tự học cho học sinh trung cấp nghề Điện hệ 3 năm ởTrường Cao đẳng nghề Đồng Tháp
5 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất các giải pháp hình thành kỹ năng tự học phù hợp với quy luậthoạt động và tiến hành vận dụng các giải pháp đó trong dạy học chương “Dòng điệnxoay chiều” một cách hợp lý sẽ góp phần nâng cao chất lượng chiếm lĩnh và khảnăng vận dụng kiến thức cho HS Trung cấp nghề Điện trong khi thực hành nghề
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu lý luận về tự học và các giải pháp hình thành kỹ năng tự học
Trang 14- Nghiên cứu nội dung sách giáo khoa lớp 12 chương trình cơ bản với trọngtâm là chương “Dòng điện xoay chiều”.
- Đề xuất và vận dụng một số giải pháp hình thành kỹ năng tự học vào dạyhọc chương “Dòng điện xoay chiều” theo sách giáo khoa vật lý 12 chương trình
cơ bản cho HS nghề Điện
7 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lý thuyết: đọc các tài liệu liên quan đến đề tài, lý luận dạy họcvật lý và dạy tự học, dạy học phát triển và các phương pháp dạy học ở Đại học,Cao đẳng và Trung cấp, sách giáo khoa lớp 12 cơ bản
- Nghiên cứu thực tiễn: điều tra việc giảng dạy vật lý ở các lớp trung cấpnghề Điện của Trường Cao đẳng Nghề Đồng Tháp về chương trình, nội dung,phương pháp dạy học Xây dựng tiến trình dạy học chương “Dòng điện xoaychiều” theo hướng hình thành kỹ năng tự học cho học sinh Trung cấp nghề Điện
ở Trường Cao đẳng nghề Đồng Tháp
- Thực nghiệm sư phạm: để đánh giá giả thuyết khoa học và hoàn thiện cácbiện pháp đã đề xuất
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính củaluận văn gồm có ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hình thành kỹ năng tự học cho
học sinh Trung cấp nghề
Chương 2: Các giải pháp và tiến trình hình thành kỹ năng tự học và dạy tự
học cho học sinh
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm.
9 Đóng góp của luận văn
- Về mặt lý luận: góp phần xây dựng cở sở lý luận cho việc hình thành kỹnăng tự học và dạy tự học cho học sinh
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC HÌNH THÀNH
KỸ NĂNG TỰ HỌC CHO HỌC SINH TRUNG CẤP NGHỀ
Trang 16- Học về bản chất là sự tiếp thu, xử lý thông tin chủ yếu bằng các thao táctrí tuệ dựa vào vốn sinh học và vốn tri thức đã đạt được của cá nhân, từ đó cóđược tri thức, kỹ năng, thái độ mới.
Hoạt động học là tác động của chủ thể đến đối tượng nhằm đạt được một mục tiêu nhất định.
Biển học không bờ Hoạt động học không có giới hạn Ta chỉ có thể liệt
kê và phân loại các hoạt động học thông thường sau:
Học cá nhân hay tự nghiên cứu: quan sát, đọc, viết, tự hỏi, nhớ, ghi chép….
Học bạn, học thầy hay học hợp tác: nghe giảng, học nhóm, mô phỏng, báo cáo,…
Học từ thông tin phản hồi hay tự kiểm tra, tự điều chỉnh: tự phê bình, tự
đánh giá, tự kiểm tra, phân tích, tổng hợp,…
Tuỳ theo nhu cầu, như nhu cầu làm chủ một công cụ hay nhu cầu giảiquyết một vấn đề phức hợp, hoạt động học có thể chuyển hoá thành hành độnghay thao tác nhận thức Bản thân hoạt động học cũng bao hàm cả hành động vàthao tác nhận thức
- Tâm lí học liên tưởng cho rằng: Hoạt động học thực chất là quá trình hình thành các liên tưởng, phát triển trí nhớ của người học Hoạt động học sẽ có hiệu
quả nếu người học có thể hình thành cho mình những mối liên hệ giữa các kháiniệm, quy luật, cách thức, để từ đó ghi nhớ và tái hiện tài liệu học tập tốt hơn
- Tâm lí học hành vi định nghĩa hoạt động học là quá trình hình thành
những hành vi mới, hay tạo nên những thay đổi trong hành vi để đáp ứng lại
những ảnh hưởng tác động từ bên ngoài Qua hoạt động học người học hình
thành mối liên hệ giữa kích thích và phản ứng trả lời, luyện tập để mối quan hệ
định, có mục đích và không là yếu tố bổ sung cho bất kỳ một hoạt động chủ đạo
nào khác Hoạt động học có chủ định có bốn đặc điểm cơ bản, đó là: có đối
tượng là tri thức, kỹ năng, kỹ xảo tương ứng, nhằm phát triển trí tuệ, năng lựcngười học, làm thay đổi bản thân người học; có tính chất tái tạo và nhằm tiếp thu
cả phương pháp chiếm lĩnh tri thức, được điều khiển một cách có ý thức Ngoài
ra, Vưgôtxki còn phân biệt việc học mang tính chất kinh nghiệm với việc học
Trang 17mang tính chất lý thuyết.Việc học mang tính chất kinh nghiệm dựa trên quátrình so sánh một số đối tượng khác nhau, tìm ra những đặc điểm chung có thểquan sát được và trên cơ sở đó xây dựng khái niệm chung về nhóm đối tượng.Như vậy, khái niệm được hình thành thông qua con đường đi từ cụ thể đến cáikhái quát Đây là hình thức học mang tính chất đặc trưng của trẻ trước khi đếntrường và cũng được sử dụng trong hệ thống nhà trường truyền thống Hình thứcnày có thể đạt hiệu quả cao, nếu người học thấy việc học hấp dẫn và thật sựmuốn học Điểm yếu nhất của hình thức học này là người học có thể hình thànhnhững khái niệm sai lệch Người học hình thành những khái niệm dựa trênnhững đặc điểm chung của các đối tượng, trong khi đó những đặc điểm chungnày chưa chắc đã là những đặc điểm chủ yếu làm cơ sở cho việc hình thành kháiniệm Đây là hình thức học ở mức độ phát triển thấp Người học thường sử dụng
hình thức học này khi không có hệ thống dạy học được tổ chức một cách phù hợp.
Hình thức học lý thuyết dựa trên việc cung cấp cho người học nhữngphương pháp chung và hoàn thiện để giải quyết một nhóm vấn đề nhất định.Những phương pháp này hướng người học đến những đặc điểm chủ yếu, chứkhông phải là những đặc điểm chung của mỗi nhóm Người học dần dần chiếmlĩnh và nội tâm hóa việc sử dụng những phương pháp đó thông qua những hoạtđộng được tổ chức một cách đặc biệt Đây là một quá trình đi từ khái quát đến
cụ thể Việc học này giúp hình thành những khái niệm khoa học Các nhà khoahọc Nga đã chứng minh rằng hình thức học này ít đòi hỏi luyện tập và nhớ mộtcách máy móc nên thường hấp dẫn người học, ít bị lỗi Ngoài ra, hình thức họcnày đưa đến sự chiếm lĩnh hoàn toàn, mức độ lưu giữ cao và tri thức được sử
dụng một cách rộng rãi và có ý thức Có thể nói, trường phái tâm lý học này thấy được rằng vai trò thúc đẩy sự phát triển nhận thức của dạy học phụ thuộc chủ yếu vào loại hoạt động học nào được tổ chức cho người học chứ không phải vào việc môn học nào được dạy trong nhà trường.
- Vận dụng lý thuyết hoạt động trong dạy học: Theo quan điểm tâm lí học
tư duy thì sự học là một sự phát triển về chất của cấu trúc hành động Cùng mộtbiểu hiện hành vi bên ngoài giống nhau nhưng chất lượng hiệu quả của sự học(mức độ lĩnh hội kiến thức cũng như đối với sự phát triển năng lực của HS) làkhác nhau, tùy thuộc vào cấu trúc của hành động học cụ thể, ở đây hành vi đượcxem như biểu hiện ra ngoài của kết quả hành động, còn cách thức để đạt tới kếtquả đó được xem như cấu trúc bên trong của hành động
Như vậy, sự học phải có quá trình hình thành và phát triển của các dạnghành động xác định, là sự thích ứng của chủ thể
Hoạt động của chủ thể tương ứng với động cơ thúc đẩy hoạt động đó Cáikhách quan ấy làm cho hoạt động có đối tượng và là cái hướng hoạt động (mụcđích) vào một kết quả nhất định Khi đó hoạt động của con người là hoạt độngcủa chủ thể có ý thức bao gồm một hệ thống các hành động tương ứng với cácđiều kiện và phương tiện hành động, cấu trúc của lý thuyết hoạt động được xâydựng theo sơ đồ sau:
Trang 18Sự hình thành các biểu tượng, khái niệm, kiến thức được xem là sự hìnhthành các hành động trí tuệ, là hình thức hành động ngôn ngữ trong
Hoạt động dạy học phát triển, theo Vưgôtxki cần phải tiến đến “vùng phát triển gần”.
Từ sự phân tích lý thuyết hoạt động và vận dụng nó vào trong dạy họcnhư nêu ở trên đều cần hiểu:
Học là hành động của chủ thể thích ứng với tình huống, qua đó chủ thểchiếm lĩnh tri thức, hình thành và phát triển nhân cách cá nhân Mỗi tri thức mớihọc được của người học là sản phẩm hoạt động xây dựng tri thức mới
Một trong những phương tiện quan trọng để GV định hướng hành độngnhận thức của HS là câu hỏi
- Định hướng hành động trong dạy học vật lý:
Nghiên cứu sự định hướng hành động nhận thức của HS trong dạy học, ta cóthể có ba mức độ định hướng được áp dụng trong quá trình dạy học cụ thể:
1 Hướng dẫn tái tạo là kiểu định hướng trong đó GV hướng HS vào việc
huy động, áp dụng những kiến thức, cách thức hoạt động dựa vào cái mà HS đãnắm được hoặc đã được GV chỉ ra một cách tường minh, HS có thể thực hiệnđược nhiệm vụ mà họ đảm nhận (tiến hành theo angôrit đã biết trước)
2 Định hướng tìm tòi Đó là kiểu định hướng trong đó GV không chỉ ra
cho HS một cách tường minh các kiến thức và cách thức hoạt động mà HS cần
áp dụng, ở đây GV chỉ đưa ra cho HS những gợi ý sao cho HS có thể tự tìm tòi,huy động hoặc xây dựng những kiến thức và cách thức hoạt động thích hợp đểgiải quyết nhiệm vụ mà họ đảm nhận, có nghĩa đòi hỏi HS tự xác nhận hànhđộng thích hợp trong tình huống không phải đã quen thuộc đối với họ
3 Định hướng khái quát chương trình hoá Đó là kiểu định hướng trong
đó GV gợi ý cho HS tương tự kiểu định hướng tìm tòi, nhưng giúp HS ý thứcđược đường lối khái quát của việc tìm tòi giải quyết vấn đề Sự định hướng được
Hoạt động
Hành động
Thao tácPhương tiện, điều kiện
Mục đíchĐộng cơ
Sơ đồ 1
Trang 19chương trình hoá theo các bước dự định hợp lý GV thực hiện từng bước hướngdẫn HS giải quyết nhiệm vụ.
- Sự định hướng ban đầu đòi hỏi HS tự lực tìm tòi giải quyết vấn đề đã đặt ra
- Nếu HS không đáp ứng được thì có sự trợ giúp tiếp theo của GV là sự pháttriển định hướng khái quát hóa ban đầu (gợi ý thêm, cụ thể hoá, chi tiết hóa thêmmột bước) để thu hẹp phạm vi mức độ phải tìm tòi giải quyết cho vừa sức của HS
- Nếu HS vẫn không đáp ứng được thì sự hướng dẫn của GV chuyểnsang kiểu định hướng tái tạo
* Trên cơ sở dựa vào ba mức độ (kiểu) định hướng nêu trên, GV cầnchuẩn bị hệ thống câu hỏi định hướng đặt ra cho HS, đó là điều kiện tốt nhất tổchức hoạt động tự học, tự nghiên cứu của HS
Việc học tập của HS là một loại hoạt động đặc thù của con người Nó có cấutrúc giống như hoạt động sản xuất lao động nói chung, bao gồm các thành tố cóquan hệ và tác động đến nhau Hoạt động nào cũng có đối tượng, thông thường cáchoạt động khác có đối tượng là một cá thể, hoạt động hướng vào làm biến đổi cáthể Đối tượng của hoạt động là tri thức, kỹ năng, kỹ xảo cần chiếm lĩnh Nội dungcủa đối tượng này không thể thay đổi sau khi bị chiếm lĩnh, nhưng nhờ sự chiếmlĩnh này mà các chức năng tâm lý của chủ thể mới được thay đổi và phát triển
Kết quả của việc học tập phụ thuộc chủ yếu vào hoạt động học của HS.Như vậy, nhiệm vụ chính của GV là tổ chức, hướng dẫn hoạt động học của HS đểthông qua hoạt động đó, HS lĩnh hội được nền văn hoá xã hội, tạo ra sự phát triểnnhững phẩm chất tâm lý, hình thành nhân cách của họ
Bản chất của hoạt động học là sự truyền kinh nghiệm xã hội loài ngườicho thế hệ đang lớn lên Điều này có đạt được hiệu quả hay không là do hoạtđộng nhận thức của HS quyết định Người thầy có tích cực đến đâu mà HSkhông nỗ lực thì việc dạy học cũng không có hiệu quả
Vì vậy, người thầy chỉ đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn, giúp đỡ nhằm
tăng cường hiệu quả của việc học Có thể nói: Người thầy giáo giỏi là người sớm phủ định hoạt động dạy.
Nhưng thực tế hiện nay người thầy làm việc quá nhiều, đưa ra quá nhiều thông tin trong quá trình dạy học Điều đó đưa các em vào thế bị động ghi nhớ,
Không tạo điều kiện cho các em độc lập suy nghĩ, sáng tạo Nếu như vậy thìtrong tư duy các em cũng như trong hành động sẽ trở thành xơ cứng và khó vào
Trang 20đời, đứng trước những vấn đề mới, các em sẽ hết sức bỡ ngỡ, bị động, lúng túng
và không đủ bản lĩnh để giải quyết vấn đề phức tạp trong cuộc sống
Vì vậy, một trong những hướng đổi mới quan trọng của PPDH là tăngcường tính tự học của học sinh Những hoạt động tự học không chỉ tổ chức khihọc tập ở nhà mà ngay cả trong giờ lên lớp
1.1.2 Khái niệm tự học, phương pháp tự học và các hình thức tự học
1.1.2.1 Các quan niệm về tự học
Về mặt lý luận cũng như thực tiễn, tự học là một hoạt động có ý nghĩaquan trọng trong việc tạo ra chất lượng và hiệu quả của quá trình đào tạo Hoạtđộng học tập của HS ở các trường phổ thông ngày nay được diễn ra hết sức mới
mẻ Sự hình thành xã hội thông tin trong nền kinh tế tri thức đang tạo điều kiệnnhưng đồng thời gây sức ép lớn đối với người học, đòi hỏi HS phải có sự thayđổi lớn trong việc định hướng, lựa chọn thông tin cũng như phương pháp tiếpcận, xử lý, lưu trữ thông tin Trong hoàn cảnh ấy, tri thức mà HS tiếp nhận đượcthông qua bài giảng của GV trên lớp trở nên ít ỏi HS đang có xu hướng vượtqua khỏi bài giảng trên lớp để tìm kiếm mở rộng, đào sâu tri thức từ nhiềunguồn khác nhau Chính vì vậy, tự học ở trường phổ thông cần phải được pháthuy và trở thành một tính chất đặc trưng trong dạy học Hình thành và phát triểnnăng lực tự học cho HS chính là khâu then chốt để tạo ra “nội lực” nhằm nângcao chất lượng và hiệu quả dạy học Tuy nhiên, trên thực tế khả năng tự học của
HS còn nhiều hạn chế Việc hình thành và phát triển năng lực tự học cho HS,việc dạy cho học sinh biết tự học trở thành một yêu cầu cấp bách, một nhiệm vụ
vô cùng quan trọng trong công tác đào tạo hiện nay ở trường THPT
Có nhiều quan niệm về tự học
- Theo Bolhuis và Garison, tự học tức là người học phải là người chủ cótrách nhiệm và tự quản lý việc học của mình Tự học tích hợp việc quản lý với
tự kiểm soát, đó chính là quá trình mà người học tự theo dõi, đánh giá và điềuchỉnh chiến lược nhận thức của mình
- Trong tự học, việc kiểm soát chuyển dần từ GV sang HS HS phải thểhiện tính độc lập cao trong việc đưa ra mục tiêu và quyết định nội dung họccũng như biện pháp để thực hiện được các nhiệm vụ học tập (Lyman, 1997;Morow, Sharkey & Firestone, 1993)
- Trong tự học, GV chỉ nâng đỡ HS bằng cách làm cho việc học trở nên “rõràng” GV đưa ra mô hình của chiến lược học tập và làm việc của HS, vì thế HS pháttriển được khả năng làm việc một mình (Bolhuis, 1996; Corno, 1992; Leal, 1993)
- Tuy nhiên, tự học lại có tính cộng tác cao Trong tự học, HS thườngcộng tác chặt chẽ với GV và với bạn học cùng lớp (Guithrie, Alao & Rinehart,1997; Temple & Rodeto, 1995)
- Tự học phát triển những lĩnh vực kiến thức nhất định cũng như khả năngchuyển kiến thức sang các hoàn cảnh mới Tự học là cầu nối giữa kiến thức ở
Trang 21nhà trường với các vấn đề thực tế của xã hội bằng cách xem xét người khác họcthế nào trong cuộc sống thường ngày (Bolhuis, 1996; Temple & Rodeto, 1995).
Ở Việt Nam một số nhà giáo dục đã đưa ra một số quan niệm về tự học như sau:
- Theo GS Nguyễn Cảnh Toàn thì tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sửdụng các năng lực trí tuệ và có khi cả cơ bắp cùng với các phẩm chất của mình,rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một lĩnhvực hiểu biết mới nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình
- Theo Nguyễn Kỳ (Trung tâm nghiên cứu và phát triển tự học) thì tự họcnghĩa là người học tích cực, chủ động, tự mình tìm ra tri thức bằng hành độngcủa mình, tự thể hiện mình và hợp tác với các bạn, học thầy và học mọi người
Tự học là tự đặt mình vào tình huống học tập, vào vị trí của người tự nghiêncứu, xử lý các tình huống, giải quyết các vấn đề đặt ra cho mình để nhận biếtvấn đề, thu thập xử lý thông tin cũ, xây dựng các giải pháp giải quyết vấn đề,thử nghiệm các giải pháp… Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học
- Tự học là hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân nhằm nắm vững hệthống tri thức và kĩ năng do chính HS tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp theohoặc không theo chương trình mà sách giáo khoa đã được quy định
- Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo vàkinh nghiệm lịch sử xã hội loài người nói chung và của chính bản thân người học
- Tự học là không ai bắt buộc mà tự mình tìm tòi học hỏi để hiểu biếtthêm, có thầy hay không ta không cần biết Người tự học hoàn toàn làm chủmình, muốn học môn nào tùy ý, muốn học lúc nào cũng được, đó mới là điềukiện quan trọng
- Tự học là tự tìm tòi, tự đặt câu hỏi, tự tìm hiểu để nắm được vấn đề, hiểu sâuhơn, thậm chí hiểu khác đi bằng cách sáng tạo, đi đến một đáp số, kết luận khác
- Tổng hợp những quan niệm trên, có thể rút ra những tính chất đặc trưng
cơ bản của tự học: Tự mình tổ chức xây dựng, kiểm tra, kiểm soát tiến trình học tập với ý thức trách nhiệm, tự quyết định trong việc lựa chọn mục tiêu học tập, lựa chọn các hoạt động học tập Chú ý đến cách học tập; bởi vì kiến thức kỹ năng có thể thay đổi theo tiến bộ khoa học kỹ thuật; tự lựa chọn các hình thức, phương pháp kiểm tra, đánh giá, tự học chuẩn bị cho việc học suốt đời.
Như vậy, có thể quan niệm về tự học “là người học tự quyết định việc lựa chọn mục tiêu học tập, nội dung học tập và các hình thức phương pháp kiểm tra, đánh giá thích hợp, từ đó tổ chức, xây dựng, kiểm tra, kiểm soát tiến trình học tập của cá nhân với ý thức trách nhiệm”
1.1.2.2 Các hình thức tự học
- Học giáp mặt với thầy: thầy trò giáp mặt nhau trên lớp, thầy truyền kiến
thức cho học trò và dẫn giải cả cách tư duy để đi đến kiến thức, giáo dục cho họcsinh những phẩm chất cần có để thắng các lực cản trong quá trình học Hiện naycách giáo dục phổ biến là thầy truyền thụ kiến thức, còn luyện tư duy và rèn phẩmchất thì rất coi nhẹ Cách học giáp mặt thầy có thuận lợi là khi nghe thầy giảng,
Trang 22HS có gì không hiểu thì có thể hỏi ngay để thầy giảng lại kỹ hơn Nói rộng hơn,khi thầy trò giáp mặt nhau thì toàn bộ nhân cách của thầy sẽ gây ảnh hưởng trựctiếp đến trò, nhiều khi chỉ bằng một ánh mắt, một nụ cười, một phong thái ungdung đĩnh đạc, nhưng mặt hạn chế của cách học này là: lớp thì đông nếu trongmột tiết học, có nhiều HS đặt câu hỏi để thầy trả lời thì rất mất thời gian Và lớpđông, trình độ HS chênh lệch, thầy rất khó dạy thế nào cho vừa sức từng học trò.
Đó là chưa nói sự “thuận lợi gần thầy” (cho phép hễ có gì khó thì hỏi thầy) có thểchuyển hoá thành khó khăn là HS dễ ỷ lại vào thầy, gặp vấn đề gì khó, HS ít chịuđộng não đến cùng mà sớm phản ánh lên thầy để thầy giải đáp
- Học với sách, không có thầy bên cạnh - tự học: học với sách tức là học
với ông thầy là tác giả của sách Nó kém cách học giáp mặt với thầy là nếukhông hiểu thì không có thầy bên cạnh mà hỏi Nhưng như vậy thì người họcphải cố động não mà hiểu và nếu cần, tra cứu thêm những sách có liên quan.Như vậy, có khi lâu nhưng bù lại, phải động não nhiều và quen dần với tácphong “làm việc độc lập với sách”; đó là một năng lực cần thiết cho mọi người
để có thể học suốt đời vì thật khó mà luôn luôn có thầy bên cạnh, còn sách thì có
dễ hơn, nếu cần có thể đến thư viện và ngày nay còn có sách điện tử, internet
Học với sách, không có thầy bên cạnh thường được hiểu là tự học: nhưnghiểu như vậy còn khá hẹp Ngay cả khi có thầy bên cạnh thì thầy cũng chỉ giảnggiải, uốn nắn, chứ thầy đâu có học hộ cho trò Dạy, dù sao, cũng chỉ là ngoại lựctác động đến trò Ngoại lực đó phải tạo được sự cộng hưởng của nội lực cố gắnghọc của trò Sự cố gắng học này mới đúng là tự học Hai người cùng học mộtthầy thì phần thầy giảng là như nhau đối với hai người, nhưng kết quả học tậpphụ thuộc vào sự cố gắng tự học của mỗi người bắt đầu ngay từ khi nghe giảng:người này có thể nghe thầy giảng một cách chăm chú, người kia nghe lơ đãngthế là phần tự học đã khác nhau Tự học, hiểu như vậy có thể xảy ra khi có thầy,
có sách; cả khi không có thầy, có sách; cả khi không có thầy không có sách,trong trường hợp này, người học vẫn có thể tích lũy thêm kinh nghiệm, thêmkiến thức nhờ cọ sát với thực tiễn
- Tự học hoàn toàn: Là hình thức tự học ở mức độ cao nhất, người học
không đến trường, không cần sự hướng dẫn của GV, người học tự lựa chọn mục
tiêu học tập, lựa chọn các hoạt động học tập và các hình thức phương pháp kiểm
tra, đánh giá, từ đó tổ chức, xây dựng, kiểm tra, kiểm soát tiến trình học tập của
cá nhân với ý thức trách nhiệm
- Tự học qua phương tiện truyền thông: Người học không tiếp xúc trực tiếp
với thầy mà chủ yếu nghe GV giảng giải qua phương tiện truyền thông
- Tự học có hướng dẫn qua tài liệu hướng dẫn: Người học trực tiếp làm
việc với tài liệu hướng dẫn Trong tài liệu trình bày mục tiêu, nội dung, phươngpháp xây dựng kiến thức, chỉ dẫn cách tra cứu tìm kiếm, bổ sung kiến thức
- Tự học trong một giai đoạn hay một khâu của quá trình học tập: Học bài và làm bài ở nhà theo nhiệm vụ học tập là việc thường xuyên của bất kỳ người học nào.
Trang 23- Tự học trong quá trình học tập ở trường có hướng dẫn của giáo viên – biến
quá trình tự học thành quá trình tự đào tạo hay nói cách khác là quá trình dạy – tự học
- Tự học làm bài tập ở nhà: Người học tự tìm kiếm những bài tập và
nghiên cứu tìm cách giải
Như vậy, hình thức và đối tượng tự học rất phong phú và đa dạng Đối vớimỗi con người trong suốt cuộc đời có lẽ qua các dạng tự học trên Trong luậnvăn chủ yếu đề cập đến hình thức tự học dưới sự hướng dẫn của thầy, nhằm phát
triển năng lực tự học cho HS trung cấp nghề hệ 3 năm ở trường Cao đẳng nghề
Đồng Tháp
1.1.2.3 Quy trình tự học
Từ quan niệm về tự học, có thể nói quá trình tự học là quá trình xuất phát
từ sự ham muốn, khát khao nhận thức, người học ấp ủ trong mình những dựđịnh, dựa vào những phương tiện nhận thức để tích lũy kinh nghiệm, tri thức vàhành động để đạt kết quả nhận thức Có thể quá trình tự học theo sơ đồ sau:
- HS xây dựng kế hoạch học tập: HS là người chủ động trong lựa chọncách học, thể hiện ở chỗ ngay từ khi bắt đầu học đã tiềm ẩn nhu cầu tất yếu phảihọc và trong suốt quá trình học tập, đảm bảo tự học thường xuyên, trách nhiệm
HS phải có động cơ học tập, hiểu được nhiệm vụ học tập Để học tập có hiệuquả, HS phải hoạch định tiến trình học tập, phải chọn đúng nội dung trọng tâm,sắp xếp thời gian hợp lý, dự định cách học có hiệu quả, lựa chọn tài liệu và cácphương tiện thiết bị cho việc học
- HS thực hiện kế hoạch học tập: Đây là giai đoạn hoạt động thực sự của
HS, quyết định sự thành công của việc học Giai đoạn này bao gồm các côngviệc: Làm việc với sách, tài liệu, nghe giảng, làm thí nghiệm, luyện tập xemina,
xử lý thông tin, giải quyết vấn đề… Ở giai đoạn này HS phải vận dụng nhữngnhóm kỹ năng học tập có thể có được để thực hiện tốt kế hoạch học tập
+ Kỹ năng về việc tiếp nhận tri thức: Ghi chép bài học, tóm tắt (hệ thốnghóa, tự liên hệ thông tin mới với thông tin đã học), xây dựng sơ đồ, phân loại, phântích, so sánh, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái quát hoá, tương tự, quy nạp – diễndịch và thay thế tức là tự tìm những thông tin khác để so sánh và dùng mới thay cũ
+ Những kỹ năng về cảm xúc và những kỹ năng về xã hội, hợp tác trongnhóm và lớp, đặt câu hỏi, tự trao đổi với bản thân mình, tự đánh giá, tập trung,
kỹ năng lựa chọn, tự tin…
+ Kỹ năng chuyển đổi tri thức: đó là các kỹ năng hoạch định, chú ý cóđịnh hướng, chú ý có chọn lọc, tự quản lý, tự đánh giá, phát hiện vấn đề, giảiquyết vấn đề, kỹ năng tự vận dụng cách học thích hợp…
Sơ đồ 2
HAM MUỐ N
ẤP Ủ
TÍCH LUỸ
MỤ
C TIÊ U HÀNH
ĐỘNG
Trang 24- Tự kiểm tra: Trong tự học, HS phải tự chủ động kiểm tra việc thực hiện
kế hoạch học tập Tự kiểm tra, đánh giá giúp HS tự ý thức về khả năng, củng cốvững chắc động cơ học tập cá nhân, tạo thêm hứng thú Việc tự kiểm tra, đánhgiá của HS cần có sự hỗ trợ của nhóm bạn học, của thầy, của phương tiện thiết
bị HS phải biết so sánh, đối chiếu các kết luận của bản thân với kết luận củathầy, của bạn, của tài liệu, biết phân tích, tổng hợp, thể chế hoá, biết kiểm tratính bền bỉ trong việc thực hiện kế hoạch tự học
- Hoạt động tự điều chỉnh: Là hoạt động rất quan trọng của tự học, HSphải suy nghĩ lại, phải tự sửa sai, phải biết bổ sung thêm cách học, bổ sung thêmkiến thức cần thiết, tìm kiếm thêm tài liệu, phải biết hệ thống hóa HS phải biếtrút kinh nghiệm về cách học, về cách phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề, cáchđánh giá, có thể lật ngược vấn đề để điều chỉnh…
- Có thể biểu diễn quy trình tự học theo sơ đồ sau:
Các giai đoạn nêu trên trong chu trình tự học không tách rời nhau mà đanxen nhau, liên hệ với nhau một cách biện chứng Quá trình tự học ở mỗi người
là một quá trình phủ định biện chứng liên tục, giải quyết các mâu thuẫn tạo nênquá trình biến đổi bên trong người học, là quá trình tích lũy tri thức để ngườihọc đi đến một trình độ cao hơn
1.1.3 Tự học trong quá trình dạy học ở nhà trường
Dân tộc ta vốn có truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo Cha ông ta
đã để lại cho chúng ta nhiều tư tưởng giáo dục cốt lõi là “lấy việc học làm gốc”ngang tầm với những tư tưởng giáo dục trong thế giới hiện đại như là “Học đểnên người”, “Học để hành, hành để học”, “Học một biết mười”, “ Đi một ngàyđàng, học một sàn khôn”, “Học thầy không tầy học bạn”…
Từ cách mạng tháng tám đến nay, với xuất phát điểm cực thấp, lại trải quamột thời gian dài chiến tranh ác liệt, đất nước bị bao vây, chia cắt, giáo dục ViệtNam có lúc đã từng là “niềm tự hào của dân tộc”, là “bông hoa của chế độ”, giáodục đã trưởng thành lên qua ba lần cải cách giáo dục, song cả ba lần đều tậptrung vào thay đổi mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục mà chưa đề cậptrực diện đến cải cách phương pháp giáo dục
Sơ đồ 3
THỰC HIỆN
NGƯỜI HỌC
TỰ KIỂM TRA
TỰ ĐIỀU CHỈNH LẬP KẾ HOẠCH
Trang 25Ngay từ những năm 60, đã xuất hiện mong muốn hiện đại hóa, tích cựchóa quá trình giáo dục: “Trong nhà trường, điều chủ yếu không phải là nhòi nhétcho học trò một mớ kiến thức hỗn độn, tuy rằng kiến thức là cần thiết Điều chủyếu là giáo dục cho học trò phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận,phương pháp diễn tả rồi đến phương pháp nghiên cứu, phương pháp học tập,phương pháp giải quyết vấn đề” Dạy học phải phát huy tích tích cực, chủ động,sáng tạo, tự học, tự rèn luyện của HS Thầy chủ đạo trò chủ động… Hoài bãokhoa học cao quí lúc bấy giờ là: “ Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đàotạo”, “Biến quá trình dạy học thành quá trình tự học”, tức là khéo kết hợp quátrình dạy của thầy với quá trình tự học của trò thành một quá trình thống nhấtbiện chứng: Quá trình dạy – tự học.
Mấy năm gần đây, quá trình dạy – tự học từ một hoài bảo khoa học đang trởthành một thực thể thực nghiệm, là kết quả nghiên cứu, ứng dụng, thử nghiệm củacông trình “ Ứng dụng các phương pháp dạy học tích cực, lấy người học làm trungtâm” Từ cơ sở sư phạm, các nhà nghiên cứu và thực nghiệm đã đi đến kết luận:thực chất của dạy – học tích cực lấy người học làm trung tâm là dạy – tự học
Quá trình dạy – tự học là kết quả của sự kết hợp truyền thống hiếu học, tựhọc và tư tưởng “lấy việc học làm gốc” của dân tộc với tư tưởng và thành tựucủa giáo dục thế giới hiện đại, đặc biệt là các học thuyết về việc học, về cácphương pháp giáo dục hiện đại lấy người học làm trung tâm
Những công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục – đào tạo đều
đã thống nhất một trong những tư tưởng cơ bản xuyên suốt của Người là tự học, tự
đào tạo Người cho rằng “học cốt lõi là tự học”, Người dạy: Muốn học suốt đời, làm việc suốt đời thì phải tự học, muốn tự học có kết quả thì phải có mục đích rõ ràng, lao động nghiêm túc, có các điều kiện cần thiết, tích cực luyện tập và thực hành.
- Trong lịch sử giáo dục, vấn đề tự học được quan tâm từ rất sớm Ý tưởngdạy học coi trọng người học, chú ý đến tự học đã có từ thời cổ đại, tùy theo từnggiai đoạn lịch sử và mức độ phát triển của xã hội mà ý tưởng này đã phát triển
và trở thành quan điểm dạy học tiến bộ ngày nay Phương tây cổ đại có phương
pháp giảng dạy của Socrate (Hy lạp,469-390TCN), Arixtốt (384-322 TCN) nhằm
mục đích phát hiện “chân lý” bằng cách đặt câu hỏi để người học tự tìm ra kếtluận Socrate gọi là “phép đỡ đẻ”, khẩu hiệu dạy học của ông là “anh phải tự biết
lấy anh” Khổng tử (479-355 TCN) ở phương Đông dạy theo đối tượng và kích
thích suy nghĩ của học sinh “Không tức giận vì muốn biết thì không gợi mở cho,không bực vì không rõ được thì bày vẽ cho Vật có 4 góc, bảo cho biết một góc
mà không suy ra 3 góc thì không dạy nữa” (Luận ngữ).
- Đến thời kỳ phục hưng ở Châu Âu, dạy học lấy người học làm trung tâm đãtrở thành một tư tưởng, có nhiều nhà giáo dục vĩ đại đã coi trọng tự học
Môngtenhơ (1533-1592) được coi là một trong những ông tổ của Châu Âu cho
rằng muốn dạy học có hiệu quả, không nên bắt buột trẻ em phải làm theo những
ý muốn chủ quan của thầy J.A Komenxki (1592-1670) kêu gọi người thầy phải
làm cho HS có hứng thú trong học tập, từ đó nỗ lực bản thân tự nắm vững tri
thức J.J Rousseau (1712-1778) yêu cầu người dạy cần hiểu rõ người học và
Trang 26quan tâm đến lợi ích của người học Ông nói: “Đừng cho trẻ em khoa học, mà phải để trẻ tự phát minh” A.Disterwerg (1780-1866):”Người thầy giáo tồi
truyền đạt chân lý, người thầy giáo giỏi dạy cách tìm ra chân lý” K.Đ.Usinxki
(1824-1873) cho rằng muốn dạy học tốt cần tìm hiểu tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh Fourrier (1772) rất coi trọng việc dạy học với thực tế J.Dewey (1859- 1852) chủ trương giáo dục phải dựa vào kinh nghiệm thực tế của trẻ Việc giảng
dạy phải kích thích được hứng thú, phải để trẻ độc lập tìm tòi, thầy giáo là người
tổ chức, người thiết kế, người cố vấn
- Đầu thế kỷ XX đề cao sự hoạt động tích cực của HS, khuyến khích học sinh
tự xếp thời gian học theo khả năng, tự học lấy cho mình, tự mình thấy tráchnhiệm trước việc học tập Trong dạy học đã tiến hành phân hóa, coi trọng cá thểhóa, họ chủ trương để cho trẻ hoàn toàn tự do, phát triển trong từng trẻ emnhững năng khiếu riêng biệt Những tâm lý này được được nhiều nhà Tâm lý,Giáo dục học đề cập đến như O.Decroly, C.Freinel, J Piagiet, B.F Skinner,…
- Những năm cuối thế kỷ XX giáo dục toàn cầu càng nhấn mạnh đến giáodục lấy HS làm trung tâm, coi trọng tự học, tự đào tạo Quan niệm mới về “Họctập suốt đời” sẽ giúp con người đáp ứng những yêu cầu thế giới thay đổi nhanhchóng Điều này thể hiện những đòi hỏi chẳng những có thật mà còn đang ngày
càng mãnh liệt “Không thể thỏa mãn những đòi hỏi đó được, nếu mỗi con người không học cách học” Học cách học chính là học cách tự học, tự đào tạo.
1.1.4 Tự học – một trong những yếu tố quyết định chất lượng đào tạo
Học là hoạt động làm biến đổi phát triển người học, tái tạo lại kiến thức củaloài người và tạo ra năng lực người mới, mà trước hết là năng lực hoạt động tựlực nhận thức Chất lượng đào tạo phụ thuộc chủ yếu vào năng lực tự học, tự lựchoạt động nhận thức của HS Con đường tối ưu nhất, có hiệu quả nhất để nângcao chất lượng đào tạo và đạt được mục tiêu giáo dục là: học bằng hoạt động tựhọc, tự nghiên cứu của HS, thông qua chính bằng hoạt động tự lực của HS màchiếm lĩnh kiến thức, hình thành năng lực và thái độ Bằng tự lực, tự nghiên cứuthì việc học tập là một quá trình xử lý kinh nghiệm trực tiếp của người học Các kĩnăng được tích lũy, các năng lực được hình thành không phải bằng nghi nhớ,luyện tập mà bằng những hoạt động và giao lưu do người học tự tiến hành và giúp
đỡ của GV để đáp ứng những lợi ích và nhu cầu của mình
Đối tượng của hoạt động học là tri thức và những kỹ năng, kỹ xảo tươngứng Cái đích mà hoạt động học hướng tới chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảothông qua sự tái tạo của cá nhân người học Các nhà tâm lý học đã chứng minhrằng năng lực của mỗi cá nhân được hình thành và phát triển chủ yếu trong quátrình hoạt động và giao lưu của mỗi con người Vì thế, muốn học có kết quả tốt,người học phải bằng chính ý thức tự giác và năng lực trí tuệ của bản thân mình
để tích cực tiến hành hoạt động học tập
Trong thực tế dạy học ở các trường phổ thông hiện nay, HS có hai trạng tháihọc tập: học tập thụ động và học tập chủ động Vì học tập là tự cải tiến chính mình,nên để có kết quả tốt người HS phải học tập một cách chủ động, tích cực
Trang 27Thực tiễn cho thấy, tùy theo quan điểm dạy học và tác động sư phạm,cách giảng dạy mà HS có thái độ phản ứng khác nhau.
Khi người HS xem mình là chủ thể được hình thành do tác động củanhững hứng thú và mục đích riêng của mỗi cá nhân thì họ say mê hoạt động tìmtòi các thông tin và tích cực vận dụng chúng, trong trường hợp này người họcmang tính sáng tạo nhưng có tính chất tự phát và thiếu hệ thống các tri thức Vớicác HS này, phương pháp giảng dạy là những phương pháp kích thích tính hamhiểu biết, tính ngạc nhiên, tính tò mò của HS
Trong trường hợp người HS thể hiện mình vừa là chủ thể vừa là khách thểcủa hoạt động học tập, họ tìm tòi thông tin một cách có định hướng Phươngpháp chủ thể là đặt ra các vấn đề, các nhiệm vụ, là thảo luận, tranh luận
Hoạt động học tập của HS là quá trình tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnhtri thức khoa học bằng hành động của chính mình hướng tới để đạt những mụcđích nhất định Vì vậy quá trình tổ chức dạy học phải làm cho hoạt động học của
HS thực sự chủ động trong học tập, mà cụ thể là tăng cường nhiều hơn quá trình
tự học của HS Hoạt động học tập của HS diễn ra trong điều kiện có kế hoạch, nộidung, chương trình đào tạo, mục tiêu, phương thức đào tạo, thời gian đào tạo đãđược xác định Trong hình thức dạy học tập trung người GV trực tiếp tổ chức vàhướng dẫn quá trình nhận thức của HS, còn HS đóng vai trò chủ thể nhận thức,tích cực huy động mọi phẩm chất tâm lý cá nhân của mình để tiến hành hoạt độnghọc tập cụ thể nhằm chiếm lĩnh kiến thức, hình thành kỹ năng và thái độ Nếu HSthụ động, không có sự vận động tích cực các thao tác tư duy của bản thân thìkhông thể chiếm lĩnh được tri thức khoa học và như vậy không thể hoàn thànhnhân cách được Một thực trạng hiện nay là trong quá trình dạy học, nhiều GVthường hay làm thay HS theo kiểu cầm tay chỉ việc: từ khâu xác định nhiệm vụnhận thức, trình bày nội dung tri thức, … đến các bước đi, các yêu cầu, kế hoạchhọc tập cụ thể Cách dạy học như vậy tất yếu dẫn đến tính ỷ lại của số đông HS,không phát huy được tính chủ động, sẽ không phát triển được năng lực tự học cho
HS Người GV cần có khả năng sử dụng bộ môn khoa học do mình đảm tráchnhư một công cụ hình thành nhân cách của HS; có khả năng hình thành tư duysáng tạo cho HS, hình thành ở HS kỹ năng khai thác độc lập tri thức mới và khảnăng vận dụng chúng trong điều kiện hoạt động mới (hình thành tự học ở HS)
Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Lê Khánh Bằng, Vũ Văn Tảo… đã nêu
rõ vai trò của tự học với tư cách là nội lực: Học về cơ bản là tự học nói đến tựhọc là nói đến nội lực của người học và ngoại lực của người học Nội lực củangười học bao gồm các yếu tố: một nền tảng học vấn nhất định, mục đích, động
cơ, nhu cầu học, ý chí, nghị lực học tập, cách học hiệu quả, khả năng vận dụngkiến thức, kỹ năng, tận dụng những thuận lợi, khó khăn để tự học tốt Ngoại lựccủa người học là toàn bộ các yếu tố của các cơ chế, môi trường, điều kiện,phương tiện,… có liên quan đến tự học Ngoại lực là quá trình những chuyển đổibên ngoài, nội lực là quá trình những chuyển đổi bên trong của người học, haiquá trình này thống nhất và đối lập nhau tạo nên sự phát triển của tự học Chất
Trang 28lượng đào tạo cao nhất khi dạy học – ngoại lực cộng hưởng với tự học – nội lực,
tạo ra năng lực tự học của người học.
1.1.5 Dạy – tự học
1.1.5.1 Dạy tự học cho học sinh
- Bản chất cốt lõi của hoạt động học là phải hình thành và phát triển tính tích cực trong hoạt động học của HS và rèn luyện cho HS có được những kỹ năng cơ bản của năng lực tự học, tự nghiên cứu, làm cho HS biết chiếm lĩnh “toàn bộ bộ máy của môn học, cấu trúc lôgic của môn học đó, các phương pháp đặc trưng của khoa học đó và biết ứng dụng những hiểu biết đó vào việc tiếp tục học tập
và lao động” Dạy thực chất là dạy – tự học.
- Theo Nguyễn Kỳ: thầy dạy để trò tự học, thầy dạy nhằm mục tiêu giúp cho
trò tự học, biết tự học suốt đời, có năng lực tự học sáng tạo Dạy và tự học có mối
quan hệ về mục tiêu giáo dục” “Thành công trong tự học là mục tiêu cuối cùng
của nhà giáo Tất cả vì năng lực tự học sáng tạo của học sinh thân yêu” “Thầy dạy như thế nào cho trò biết cách tự học và phát triển năng lực tự học, tác động
dạy bên ngoài của thầy vật chất hoá hoạt động tự học bên trong của trò; dạy và tựhọc có mối quan hệ về phương pháp dạy và tự học, về ngoại lực và nội lực”
- Dạy - tự học là một quá trình hoạt động có điều khiển ít nhất ở hai cấp độquản lý và thực hiện:
(1) Ở cấp độ quản lý có mối quan hệ điều khiển dọc giữa cấp trên (cơ quan
quản lý) và cấp dưới (người thực hiện) dựa trên các tiêu chuẩn chất lượng củangành Để đảm bảo dạy - tự học đạt yêu cầu chất lượng thì cấp quản lý phải tạo
đủ điều kiện cần thiết cho dạy tự học và phải theo dõi, kiểm tra đánh giá thườngxuyên qúa trình và kết quả của việc dạy học
(2) Ở cấp độ thực hiện có mối quan hệ điều khiển ngang giữa người dạy và
người học trên cơ sở hợp tác và bình đẳng, cùng đảm bảo chất lượng theo yêu cầu Trong thực tế ở cấp độ thực hiện luôn tồn tại mối quan hệ điều khiển dọcnhất định từ phía người dạy Ở trung cấp nghề hệ 3 năm do đặc điểm tâm lý,sinh lý độ tuổi của HS người GV cần linh hoạt để hướng dẫn HS Người GVđồng thời phải là người nghiên cứu, tìm tòi phát hiện, mở rộng và làm phong
phú sâu sắc hơn những tri thức khoa học của bộ môn mình giảng dạy Hoạt động dạy có hai chức năng trực tiếp thường xuyên tương tác với nhau, thâm
nhập vào nhau, sinh thành ra nhau, đó là truyền đạt thông tin dạy học và điều
khiển hoạt động học Chức năng điều khiển học là chức năng quan trọng của
quá trình dạy - tự học, thể hiện ở chỗ người GV phải định hướng, tổ chức giúp
HS tối ưu hoá quá trình tự lực chiếm lĩnh kiến thức, hình thành kỹ năng kỹ xảo, thông qua đó hình thành phát triển năng lực tự học, nghề nghiệp, hình thành và
phát triển nhân cách Nội dung việc định hướng bao gồm: định hướng mục tiêu,nội dung, cách học Nội dung công việc tổ chức, dẫn dắt của GV gồm: kế hoạchhành động, hệ thống hướng dẫn tài liệu tự học và các test tự kiểm tra, bài toán
nhận thức, hướng dẫn xemina, làm việc theo cá nhân, cặp, nhóm… với GV là cố
vấn, trọng tài để HS tự tổ chức nhằm giải quyết nhiệm vụ học tập
Trang 29Kết quả cuối cùng của quá trình đào tạo là kiến thức nghề nghiệp, phương
Thời một: nghiên cứu cá nhân
Theo hướng dẫn của thầy, HS tự đặt mình vào vị trí của một người tựnghiên cứu, tự tiến hành khám phá tìm ra các kiến thức “mới” hoặc các giảipháp mới bằng cách tự lực suy nghĩ xử lý các tình huống, giải quyết các vấn đềthầy đã đặt ra cho mình, theo trình tự các thao tác sau đây:
- Nhận biết vấn đề, phát hiện vấn đề
- Định hướng giải quyết vấn đề
- Thu thập thông tin
- Tái hiện kiến thức, khái niệm, công thức,… xây dựng các giải pháp giảiquyết, xử lý tình huống
- Thử nghiệm các giải pháp, kết quả
- Đưa ra kết luận
- Ghi lại kết quả và cách nghiên cứu
Sau thời một, HS đã tự mình tìm ra cách xử lý tình huống, vấn đề đượcthầy đặt ra và ghi lại trên phiếu (hay vở bài tập) kết quả tìm thấy được cùng vớicách xử lý của mình, bằng hành động của chính mình, HS đã tạo ra “sản phẩmgiáo dục ban đầu” hay “sản phẩm thô”, bao gồm cả kiến thức, chuẩn mực cuộcsống, cách học cách làm
Thời hai: hợp tác với bạn, học bạn
“Sản phẩm ban đầu” thật sự có giá trị và ý nghĩa đối với HS vì đó là kếtquả đạt được do hoạt động của bản thân HS, song dễ mang tính chủ quan, phiếndiện Để trở thành khách quan, khoa học hơn, sản phẩm đó phải thông qua sựđánh giá, phân tích, sàng lọc, bổ sung của cộng đồng các chủ thể, xã hội – lớphọc, tức là chủ thể HS phải hợp tác với các bạn, học bạn thông qua các hình thứctrao đổi cá nhân, thảo luận nhóm – lớp, các hoạt động tập thể Dù ở hình thứcnào, chủ thể không thụ động nghe bạn nói, nhìn bạn làm mà phải tích cực, chủđộng tự thể hiện mình theo trình tự các thao tác sau đây:
Trang 30- Tự đặt mình vào tình huống, đưa ra cách xử lý tình huống, giải quyết vấn đề.
- Tự thể hiện bằng văn bản, ghi lại kết quả xử lý của mình
- Tự trình bày, giới thiệu, bảo vệ đến cùng sản phẩm ban đầu của mình
- Tỏ rõ thái độ của mình trước chủ kiến của bạn: đúng – sai, hay – dở,tham gia tranh luận
- Tự ghi lại ý kiến của mình
- Khai thác những gì đã hợp tác với bạn, bổ sung, điều chỉnh sản phẩmban đầu của mình thành một sản phẩm tiến bộ hơn
Sau thời hai, chủ thể đã hợp tác với các bạn bằng cách tự thể hiện mình quacác thao tác trên và đã sử dụng tất cả những gì làm khách quan, khoa học của cácsản phẩm cá nhân của các bạn để hoàn thiện hơn sản phẩm ban đầu của mình
Song trong hoạt động thảo luận tập thể, thường xảy ra tình thế: cả lớp gặpphải những vấn đề nan giải, khó phân biệt đúng sai, khó đi đến kết luận khoahọc Giờ đây nhà giáo là người trọng tài khoa học kết luận cuộc thảo luận củalớp thành một bài học thật sự khoa học từ những gì học sinh đã tự mình tìm ra.Cho nên chủ thể HS phải học thầy và biết cách học thầy
Thời ba: hợp tác với thầy, học thầy, tự kiểm tra, tự điều chỉnh:
Thật ra HS đã học thầy từ thời một: thay thế cho bài giảng có sẵn, thầy đãđặt trò trước một hệ thống tình huống và định hướng cho trò tự mình xử lý tìnhhuống, trò phải nắm được và học theo những gì thầy đã hướng dẫn Ở thời hai,thầy là người tổ chức, đạo diễn cho tập thể lớp thảo luận, hoạt động tập trungvào mục tiêu tìm “cái chưa biết” của chủ thể giáo dục, trò không những họcđược kiến thức qua các hoạt động định hướng của thầy mà còn học được cách tổchức, đạo diễn cho tập thể lớp hoạt động Giờ đây ở thời ba, thầy lại là ngườitrọng tài kết luận về những gì cá nhân và tập thể lớp đã tự tìm ra thành bài họckhoa học Học thầy là học nội dung bài học thầy đã kết luận cùng với cách ứng
xử của thầy để đi đến kết luận
Trong lúc học thầy, HS cũng phải giữ vai trò chủ thể, chủ động… khôngthụ động nghe thầy kết luận, giảng giải mà tích cực học thầy và biết cách họcthầy, bằng hành động của chính mình, theo trình tự các thao tác sau:
- Tự lực xử lý tình huống, giải quyết vấn đề theo sự hướng dẫn của thầy
- Chủ động hỏi thầy và biết cách hỏi thầy về những gì mình có nhu cầu,nhất là cách học, cách làm
- Tự ghi lại chính xác ý kiến kết luận của thầy trong giờ thảo luận hayhoạt động của lớp
- Học cách ứng xử của thầy trước những tình huống gây cấn nổi lên trong quátrình hoạt động tập thể, cách phân tích, tổng hợp các ý kiến khác nhau để đi đến kết luận
- Dựa vào kết luận của thầy, tự kiểm tra, tự đánh giá, tự điều chỉnh sảnphẩm ban đầu của mình thành sản phẩm khoa học
Trang 31Cần tiến hành tự kiểm tra, tự điều chỉnh theo các thao tác sau đây:
+ So sánh, đối chiếu kết luận của thầy và ý kiến của các bạn với sản phẩmban đầu của mình: đúng – sai, hay – dở, đủ – thiếu…
+ Kiểm tra lý lẽ, tìm kiếm luận cứ, thâm nhập thực tiễn để có cơ sở chứngminh đúng hay sai
Thầy dạy thành trò tự học: tức là “biến quá trình dạy thành quá trình tựhọc”, “biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” Dạy và tự học là mộtquá trình thống nhất: đó là quá trình dạy - tự học
Dạy và tự học có nhiều mối quan hệ biện chứng, cần xác định mối quan
hệ nào là thuộc về bản chất và có tính quy luật
Trò tự học: năng lực tự học là nội lực phát triển bản thân người học
Thầy dạy: tác động dạy của thầy là ngoại lực đối với sự phát triển bảnthân người học Môi trường xã hội như cộng đồng lớp học, gia đình, xã hội …
có tác dụng người học cũng là ngoại lực
Mối quan hệ giữa dạy – tự học về bản chất là mối quan hệ giữa nội lực và ngoại lực.Theo quy luật phát triển của sự vật, ngoại lực dù là quan trọng đến đâu,lợi hại đến mấy cũng chỉ là nhân tố hỗ trợ, thúc đẩy, tạo điều kiện Nội lực mới
là nhân tố quyết định phát triển bản thân sự vật Sự phát triển đó đạt trình độ caonhất khi nội lực và ngoại lực cộng hưởng được với nhau
Áp dụng quy luật trên vào dạy – học vì sự phát triển của người học: tác động
“dạy” của thầy dù là quan trọng đến mức “không thầy đố mày làm nên” vẫn làngoại lực hỗ trợ, thúc đẩy, xúc tác, tạo điều kiện cho trò tự học, tự phát triển vàtrưởng thành Tác động của môi trường xã hội dù là quan trọng đến mức nguyêntắc: “giáo dục tay ba: nhà trường, gia đình và xã hội” hay là đến mức “học thầykhông tầy học bạn” vẫn là ngoại lực giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho người học
Năng lực tự học của trò dù là còn đang phát triển là nội lực quyết định sựphát triển bản thân người học Chất lượng giáo dục đạt trình độ cao nhất khi tácđộng dạy của thầy – ngoại lực cộng hưởng với năng lực tự học của trò – nội lực;nói một cách khác là kết hợp quá trình dạy với quá trình tự học làm cho dạycộng hưởng với tự học tạo ra chất lượng và hiệu quả cao
1.1.6 Năng lực tự học của học sinh
Trang 321.1.6.1 Khái niệm năng lực tự học của học sinh
NLTH là khả năng tự tìm tòi, nhận thức và vận dụng kiến thức vào tìnhhuống mới hoặc tuơng tự với chất luợng cao cảu người học
1.1.6.2 Các năng lực tự học, tự nghiên cứu cần bồi dưỡng cho học sinh
- Năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề
Năng lực này đòi hỏi HS phải nhận biết, hiểu, phân tích, tổng hợp, so sánh các
sự vật hiện tuợng đuợc tiếp xúc; phát hiện ra các khó khăn, mâu thuẫn, xung đột,các điểm chưa hoàn chỉnh cần giải quyết, bổ sung, các bế tắt, nghịch lý cần phảikhơi thông, khám phá, làm sáng tỏ… Đây là buớc khởi đầu của sự nhận thức cótính phê phán, đòi hỏi nỗ lực cao của trí tuệ Việc thuờng xuyên rèn luyện nănglực tạo cho HS thói quen hoạt động trí tuệ, luôn luôn tích cực khám phá, tìm tòi ởmọi nơi, mọi lúc, mọi truờng hợp và với nhiều đối tuợng khác nhau
- Năng lực giải quyết vấn đề
Năng lực giải quyết vấn đề bao gồm: khả năng xây dựng và trình bày giả thuyết;xác định cách thức giải quyết và lập kế hoạch giải quyết vấn đề; khảo sát các khíacạnh; thu thập và xử lý thông tin; đề xuất các giải pháp, kiến nghị các kết luận
- Năng lực xác định những kết luận đúng từ quá trình giải quyết vấn đềNăng lực này bao gồm các khả năng khẳng định hay bác bỏ các giả thuyết,hình thành kết quả và đề xuất vấn đề mới, hoặc áp dụng (nếu cần thiết)
- Năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn
Kết quả cuối cùng của việc học tập phải đuợc thể hiện ở chính ngay trong thực tiễncuộc sống hoặc là HS vận dụng kiến thức đã học để nhận thức, cải tạo thực tiễn, hoặctrên cơ sở kiến thức và phuơng pháp đã có nghiên cứu, khám phá, thu thập thêm kiếnthức mới Cả hai đều đòi hỏi nguời học phải có năng lực vận dụng kiến thức
- Năng lực đánh giá và tự đánh giá
Dạy học đề cao năng lực tự chủ của HS (hay dạy học tập trung vào nguời học)đòi hỏi phải tạo điều kiện, cơ hội và khuyến khích (thậm chí bắt buột) HS đánh giá
và tự đánh giá mình Nguời học phải biết chính xác mặt mạnh, mặt yếu, cái đúng,cái sai của mình, của việc mình làm, mới có thể tiếp tục vững buớc tiếp trên conđuờng học tập chủ động Không có khả năng đánh giá, nguời học khó có thể tự tintrong phát hiện, giải quyết vấn đề và áp dụng kiến thức đã học
Các năng lực trên vừa đan xen nhưng vừa tiếp nối nhau tạo nên NLTH ở HS.Các năng lực trên cũng chính là năng lực của nguời nghiên cứu khoa học Vìvậy, rèn luyện đuợc các năng lực đó, chính là HS đã đặt mình vào vị trí củangười nghiên cứu khoa học hay nói cách khác đó là sự rèn luyện năng lực tựhọc, tự nghiên cứu
1.1.6.3 Kỹ năng, kỹ năng tự học
Theo GS Phạm Hữu Tòng thì kỹ xảo là các hành động mà các hợp phần của
nó do luyện tập đã trở thành tự động hóa và kỹ năng là khả năng của con nguời
Trang 33thực hiện các hoạt động nhất định dựa trên việc sử dụng các kiến thức và kỹ xảo
đã có Kỹ năng dựa trên kiến thức, kỹ năng là kiến thức trong hành động
Theo Lê Đình và Trần Huy Hoàng thì kỹ năng là dạng năng lực làm, là khảnăng ứng dụng tri thức khoa học vào thực tiễn Kỹ năng chính là biểu hiện củanăng lực vì thế dựa vào kỹ năng có thể biết đuợc năng lực một cách cụ thể
Kỹ năng tự học là các khả năng nhận thức, vận dụng kiến thức vào việc giảiquyết các vấn đề đặt ra trong học tập cũng như trong cuộc sống
Hệ thống các kỹ năng tự học bao gồm:
- Kỹ năng xây dựng kế hoạch tự học
Việc xây dựng kế hoạch tự học bao gồm: việc lên danh mục các nội dung cần
tự học, khối luợng và yêu cầu cần đạt, các hoạt động cần phải tiến hành sảnphẩm cụ thể cần phải được tạo ra, thời gian dành cho mỗi nội dung và hoạtđộng Kế hoạch tự học phải đảm bảo tính khoa học, tính vừa sức và tính khả thi
- Kỹ năng lựa chọn tài liệu
Hiện nay lượng thông tin rất đa dạng, phong phú cả về thể loại lẫn chủng loại
và đuợc thể hiện với nhiều dạng như: viết, nghe – nhìn, internet… tài liệu trongnước, ngoài nước Để tự học có hiệu quả, người học cần phải rèn luyện chomình kỹ năng lựa chọn các tài liệu thích hợp sao cho đúng, đủ, hợp lý để nângcao chất lượng tự học, tự nghiên cứu của bản thân mình
- Kỹ năng lựa chọn hình thức tự học
Không phải lúc nào chuyện tự học cũng đuợc thực hiện một cách dễ dàng,thuận lợi Những khó khăn gặp phải trong tự học đòi hỏi người học cần phải có
sự hỗ trợ của bạn bè, thầy cô hoặc các chương trình trên ti-vi, máy tính… Vì thế,
kỹ năng lựa chọn hình thức tự học cũng rất cần thiết, nó giúp người học “gỡ rối”những vấn đề mà tự mình có thể không qua được
- Kỹ năng xử lý thông tin
Kỹ năng xử lý thông tin bao gồm hai kỹ năng kế tiếp nhau là kỹ năng hệ thốnghoá và kỹ năng phân tích, tổng hợp, khái quát hoá Khi kiến thức đuợc sắp xếptrong vỏ não một cách có hệ thống có cấu trúc sẽ giúp người học dễ nhớ dễ sử dụngkhi cần thiết Muốn vậy, người học phải thực hiện một loạt thao tác khác nhau như:tóm tắt, phân loại, xác lập các mối liên hệ, biểu diễn bằng sơ đồ logic…
Điều quan trọng trong quá trình tự học là cần biến tri thức chung của nhânloại thành tri thức riêng của người học Quá trình này đòi hỏi người học phảibiết phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hoá, khái quát hoá… Như vậy, kỹnăng xử lý thông tin liên quan mật thiết với các kỹ năng tư duy
- Kỹ năng vận dụng tri thức vào thực tiễn
Vận dụng tri thức vào thực tiễn bao gồm cả việc vận dụng kiến thức đã có đểgiải quyết các vấn đề thuộc về nhận thức và việc vận dụng kiến thức vào thựctiễn sản xuất trong đời sống, sinh hoạt hằng ngày như: làm bài tập, bài thực
Trang 34hành, bài thí nghiệm, viết báo cáo, xử lý tình huống, lắp đặt, sửa chữa, giảiquyết các vấn đề đơn giản, gần gũi trong cuộc sống.
- Kĩ năng trao đổi và phổ biến thông tin
Các kiến thức mà nguời học có được nếu trao đổi với bạn học hoặc các đốitượng có nhu cầu sẽ có tác dụng tích cực đối với việc lĩnh hội tri thức của bảnthân Có thể nói mỗi lần trao đổi, phổ biến những kiến thức mà mình có được làmỗi lần người học rèn luyện thêm kỹ năng truyền đạt (nói) và kỹ năng viết vănbản khoa học Do vậy, việc rèn luyện kỹ năng trao đổi và phổ biến thông tin liênquan đến việc rèn luyện các kỹ năng trình bày thông tin khoa học
- Kĩ năng tự kiểm tra đánh giá
Tự kiểm tra, đánh giá là một kỹ năng quan trọng trong tự học Chỉ khi qua tựkiểm tra, đánh giá thì người học mới biết được trình độ tự học của mình đạt đếnmức độ nào Từ đó, đề ra biện pháp điều chỉnh phương pháp tự học để đạt đượchiệu quả cao hơn Việc kiểm tra phải được tiến hành thường xuyên trong quátrình tự học bằng nhiều hình thức khác nhau qua hệ thống các câu hỏi và bài tậpnhận thức cụ thể Kỹ năng này đòi hỏi người học phải tự giác cao độ và phải biếtxây dựng các tiêu chí, lựa chọn công cụ kiểm tra, đánh giá phù hợp
1.1.7 Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình tự học
* Nhóm nhân tố bên trong:
- Năng lực tự học: Trong các nhân tố bên trong ảnh hưởng đến quá trình tự học, năng lực tự học của bản thân người học là quan trọng nhất, vì người học là
chủ thể chiếm lĩnh tri thức, chân lí bằng hành động của chính mình
- Động cơ, hứng thú học tập: Động cơ học tập quyết định kết quả học tập của HS.
- Phương pháp tự học: Để tự học mang lại hiệu quả cao đòi hỏi mỗi người
học phải có phương pháp tự học, tự nghiên cứu theo phương pháp của mình
* Nhóm nhân tố bên ngoài có ảnh hưởng rất lớn đến tự học, đó là:
- Phương pháp giảng dạy của GV: Quá trình dạy học ở trường THPT là đa số
GV vẫn dạy theo phương pháp truyền thống (thầy tóm tắt nội dung bài học trongsách giáo khoa (SGK), diễn giảng cho HS hiểu Sau đó, HS tái hiện lại kiến thức đãhọc) mà rất ít GV dạy cho HS cách học Chính với cách dạy này, HS thường cótính ỷ lại, đặc biệt là không phát huy được năng lực, sáng tạo của HS Nếu GV làmthay, ít khuyến khích HS làm việc độc lập, không đề ra yêu cầu cao cho HS thì dù
GV có tích cực đến đâu mà HS không nổ lực học thì dạy học không có kết quả
- Yêu cầu của xã hội, nhà trường: Xã hội hiện đại, cộng nghệ thông tin phát
triển cần phải có phương tiện, phương pháp giao lưu mới Đồng thời tri thức củaloài người đang tăng nhanh về khối lượng, đổi mới nhanh về chất lượng và nộidung Dù kéo dài thời gian học trong nhà trường bao nhiêu cũng chưa đủ để thíchứng với cuộc sống luôn thay đổi, mà phải biết cách học để tiếp tục tự học suốt đời
Trang 35- Cơ sở vật chất: Trong tự học, tự nghiên cứu điều quan trọng là phải có sách,
đồ dùng và trang thiết bị học tập cần thiết
- Thời gian: Trong quá trình dạy học, HS phải học nhiều môn, mỗi môn có vị
trí, tính chất, nội dung, khối lượng thông tin khác nhau Để học tốt HS cần phải
bố trí thời gian hợp lí
Hai nhóm nhân tố trên có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, hỗ trợ, bổsung cho nhau tạo điều kiện để tự học đạt kết quả cao
Tóm lại, HS muốn tự học tốt cần có những điều kiện sau:
- Phải được trang bị chuẩn kiến thức môn học, tin học làm cơ sở cho việchiểu biết, luyện tập, hoạt động theo đúng mục đích yêu cầu
- Phải được hướng dẫn phương pháp tự học.
- Có tài liệu phục vụ cho tự học.
- Có thời gian cho tự học.
- Có đủ sức khỏe cho tự học
- Có nhận thức đúng và quyết tâm trong học tập
Quá trình tự học của HS là một quá trình tự thân vận động, tự phát triển
thông qua việc giải quyết các mâu thuẫn bên trong, giữa một bên là nhu cầu hiểubiết ngày càng cao, khối lượng học tập ngày càng lớn, đáp ứng nhu cầu kiếnthức của thực tiễn nghề nghiệp,… với một bên là điều kiện hiện có và có nhiều
hạn chế về năng lực tự học Mâu thuẫn này luôn luôn tồn tại, liên tục xảy ra, liên tục được khắc phục để giải quyết bởi chính bản thân HS.
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Nhận thức về tự học của học sinh ở Trường Cao đẳng nghề Đồng Tháp
Để đánh giá nhận thức về tự học của HS nghề hệ 3 năm, tôi đã tiến hànhđiều tra và trao đổi với HS tại Trường Cao đẳng nghề Đồng Tháp và Trung tâmdạy nghề Huyện Cao Lãnh (lớp liên kết) Việc xử lý kết quả điều tra cho thấy:
- Đa số HS chưa xác định được động cơ học tập của bản thân Phần đông
HS hiểu chưa đúng về quan niệm tự học và không biết lập kế hoạch tự học
- Phần lớn HS ưu tiên dành thời gian cho việc học các môn chuyên ngànhcủa nghề, chưa chú tâm nhiều đến các môn bổ trợ văn hóa nói chung và môn vật
lý nói riêng vì học sinh nghề hệ 3 năm cho rằng học văn hóa chỉ là điều kiện nêncác em thường học theo kiểu đối phó
1.2.2 Thực trạng dạy và học vật lý phổ thông ở Trường Cao đẳng nghề Đồng Tháp
Đa số HS vào học ở trường dạy nghề là những HS gần như hổng kiếnthức cơ bản ở các môn văn hóa rất nhiều Do đó khi học các môn văn hóa bổ trợcho HS học ở hệ Trung cấp 3 năm thì gần như các HS đều rất “ngán” và khôngthích học Phần lớn HS không có sự chuẩn bị cho các giờ học vật lý trên lớp,nếu có thì sự chuẩn bị của HS cũng chỉ là học thuộc bài cũ, thuộc các công thức
Trang 36và áp dụng để giải các bài tập mà GV giao cho về nhà giải quyết từ tiết họctrước Có thể thấy sự chuẩn bị của HS trong các giờ vật lý chỉ theo thói quen làchuẩn bị để “đối phó” HS chưa thật sự chủ động tìm kiếm, phát hiện vấn đề cầngiải quyết và tự lực tìm hướng giải quyết.
Đối với các em HS nghề Điện công nghiệp thì môn Vật lý là một trong cácmôn rất quan trọng và cần thiết vì các kiến thức cơ bản đó liên quan rất nhiều đếncác môn thực hành chuyên ngành (ví dụ như: máy biến áp, động cơ điện…)
Thực tế GV chỉ dạy cho HS theo lối truyền thụ một chiều, áp đặt HS theokhuôn mẫu của các dạng bài tập có sẵn mà không chú ý đến việc hướng dẫn HS cáchsuy luận để tìm ra hướng giải và trình bày bài giải một cách đầy đủ và súc tích
Phần lớn GV dạy chủ yếu mang tính lý thuyết, các thí nghiệm thì chỉ phântích bằng phương pháp thuyết trình chứ không có mô hình cụ thể để chứng minhkết quả, từ đó HS không thấy được mối liên hệ giữa lý thuyết và thực hành Điềunày gây ảnh hưởng không nhỏ đến kỹ năng thực hành nghề của các em sau này
1.2.3 Một số nguyên nhân cơ bản
Để tìm hướng khắc phục các hạn chế, góp phần bồi dưỡng NLTH cho HSnhằm nâng cao chất lượng dạy học vật lý nói riêng và học nghề nói chung, theo tôi cầnxác định các nguyên nhân cơ bản dẫn đến thực trạng trên Các nguyên nhân đó là:
- Sự quá tải về chương trình, nội dung kiến thức của nhiều bài học
Phân phối chương trình và sách giáo khoa được áp dụng từ năm 2002 vàmãi đến 2010 mới được biên soạn, chỉnh sửa theo chương trình mới cho phù hợpvới tình hình thực tế Điều này gây rất nhiều khó khăn cho GV đứng lớp cũngnhư việc tìm tài liệu học tập của HS
Bên cạnh đó, ngoài việc học bổ trợ kiến thức văn hóa (gồm 4 môn: Văn,Toán, Lý, Hóa), các em còn phải học song song những môn cơ sở chuẩn bị cho việchọc các môn chuyên ngành vào học kỳ 4 ở năm 2 Thời gian học từ 6 đến 8 tiết trênngày từ thứ 2 đến thứ 7 GV thường phải “chạy đua” với thời gian để đảm bảo dạy
đủ nội dung bài học, còn HS thì bị đặt trong trạng thái quá tải, nhồi nhét kiến thức
Vì thế, việc tổ chức các hoạt động học tập tích cực của HS gặp nhiều khó khăn
- Ý thức tự học của học sinh chưa cao
Đối tượng người học chủ yếu là HS vừa tốt nghiệp trung học cơ sở, không
đủ điểm vào học công lập hay học dang dở các lớp 10, 11, 12 Với đối tượnghọc như thế thì năng lực của các em thuộc trung bình hay yếu, vì lẽ đó mà HSchưa xác được mục đích, động cơ học tập hoặc có phương pháp học tập chưađúng đắn Bên cạnh đó, việc học văn hóa mang tính chất bổ trợ (không tính vàođiểm trung bình học lực mà chỉ là điều kiện) nên gần như HS không quan tâmđến việc học mà chỉ học với tính chất đối phó Bản thân học sinh cũng đã “chán”học văn hóa vì đã mất căn bản và chọn con đường học nghề để lập nghiệp saunày Vì thế, việc hình thành tính tự học ở HS là điều hết sức khó khăn
Trang 37- Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của một bộ phận giáo viên còn nhiều hạn chế
Về GV giảng dạy hầu như không có GV cơ hữu tại trường, chủ yếu thỉnhgiảng GV tại các Trung tâm Giáo dục thường xuyên Thị xã Sa Đéc và Trungtâm Giáo dục thường xuyên Huyện Cao Lãnh Điều này dẫn đến việc khôngphát huy được trình độ chuyên môn và nghiệp vụ của người GV
Bên cạnh đó, để có thể vận dụng có hiệu quả các phương pháp dạy họctích cực, người GV cần hội đủ các điều kiện như am hiểu tường tận kiến thứcvật lý phổ thông, khả năng tổ chức linh hoạt, sáng tạo cộng với sự nhiệt tìnhtrong công tác giảng dạy Do còn nhiều hạn chế về trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ mà một bộ phận không nhỏ GV vẫn chưa thực sự đầu tư đúng mức cho côngtác dạy học của mình Chính điều đó đã ảnh hưởng đến chất lượng học tập của
HS và dẫn đến cả việc bồi dưỡng cho các em năng lực tự học, tự chiếm lĩnh kiếnthức một cách chủ động và tích cực
- Những tác động không tốt từ phía gia đình và xã hội đến việc học của HS
Các bậc phụ huynh khi thấy con mình không học tiếp văn hóa thì lại địnhhướng cho con học nghề để có thể tự thân lập nghiệp Chỉ cần tốt nghiệp THCS
và nộp hồ sơ vào trường thì khả năng trúng tuyển vào hệ 3 năm rất cao vì trườngchỉ xét tuyển mà không có quá trình thi tuyển đầu vào Bên cạnh đó, phần lớnphụ huynh không nhận thức được vì sao con mình không học tiếp văn hóa phổthông, không uốn nắn, rèn luyện cho con mình từ bỏ những thói quen xấu, hìnhthành những thói quen tốt để có thể tự học một cách tích cực và hiệu quả mà lạiphó mặt tất cả sự giáo dục cho nhà trường Chính sự quan tâm không đúng cáchcủa phần lớn phụ huynh đã làm cho sự phát triển trí tuệ của trẻ lệch hướng vàkhông như họ mong muốn
Mặt khác, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ và điều kiệnkinh tế của người dân được nâng lên là sự xuất hiện của các trò tiêu khiển phongphú, đa dạng Các trò chơi điện tử trực tuyến đang rất phổ biến đã lôi cuốn một
bộ phận không nhỏ HS vào những thú vui tốn nhiều công sức và thời gian.Chính vì thế mà quỹ thời gian dành cho học tập của HS trong ngày rất hạn chế.Ngay cả khi đang học tập, sự tập trung của HS vào việc lĩnh hội kiến thức haysuy luận để giải bài tập cũng bị suy giảm đáng kể do các em bị chi phối bởinhiều tác động bên ngoài nhà trường
- Cơ sở vật chất để đáp ứng nhu cầu học tập và nghiên cứu
Từ khi thành lập Trường dạy nghề Đồng Tháp, sau đó nâng cấp lênTrường Cao đẳng nghề Đồng Tháp thì việc đầu tư trang thiết bị để dạy bổ trợvăn hóa rất hạn chế GV gần như cung cấp kiến thức bằng cách mô tả bằng lời
và HS chấp nhận các kết luận khoa học nhưng lại không phải từ thực nghiệm mà
ra Điều này ảnh hưởng rất lớn đến việc lĩnh hội kiến thức của HS
1.3 Kết luận chương 1
Sau khi nghiên cứu cơ sở lí luận về tự học trong quá trình dạy học, tôi nhận thấy:
Trang 38- Tự học trong quá trình dạy học đã được nghiên cứu và vận dụng từ rất lâutheo lịch sử phát triển của nhà trường trên thế giới
- Tự học đóng vai trò quan trọng trong quá trình dạy học Đối với HS ởtrường phổ thông, tự học là động lực để giúp các em trao dồi thêm kiến thức vàlấp đầy những chỗ hổng trong lớp học
- Tự học gắn liền với hoạt động tư duy và hoạt động nhận thức độc lập, tựlực của người học
- Muốn tự học tốt phải biết các phương pháp tự học (phương pháp đọc,phương pháp ghi chép, cách đặt câu hỏi, cách trả lời câu hỏi,…); phương phápphát hiện vấn đề và phương pháp giải quyết vấn đề
- Để thực hiện tốt quá trình tự học người học phải biết: Lập kế hoạch –Thực hiện kế hoạch – Tự kiểm tra – Tự điều chỉnh, các hoạt động này được tiếnhành theo một chu trình kín
- Để giúp HS tự học tốt GV phải dạy học theo định hướng dạy – tự học.Vật lý là một bộ môn khoa học thực nghiệm, đa số các định luật đều đượcthiết lập và kiểm tra bằng thu thập, phân tích, so sánh số liệu thực nghiệm Chonên, cần phải có kỹ năng thực hành để biến lý thuyết thành thực tiễn theo phươngchâm giáo dục của Đảng “học đi đôi với hành” – “Lý luận gắn liền với thực tiễn”
Môn vật lý là một trong những môn học then chốt nhằm cung cấp cho HSnhững kiến thức và kỹ năng thực hành Trên cơ sở đó giúp HS phát triển nănglực nhận thức, năng lực vận dụng, hình thành thế giới quan khoa học và pháttriển nhân cách toàn diện Hơn nữa, vật lý là một bộ môn khoa học thực nghiệm,cho nên để dạy và học tốt không chỉ phải dạy và học giỏi lý thuyết mà đòi hỏiphải có kỹ năng thực hành cao
Kết quả điều tra khảo sát thực tiễn cho thấy mức độ tự học và vận dụngcác phương pháp tự học của HS trung cấp nghề hệ 3 năm ở trường Cao đẳngnghề Đồng Tháp chưa cao
CHƯƠNG 2 CÁC GIẢI PHÁP VÀ TIẾN TRÌNH HÌNH THÀNH
KỸ NĂNG TỰ HỌC VÀ DẠY TỰ HỌC CHO HỌC SINH
2.1 Nhiệm vụ dạy học bổ trợ kiến thức văn hóa nói chung, kiến thức Vật
lý nói riêng cho học sinh nghề hệ 3 năm
Trang 39Dạy bổ trợ kiến thức văn hóa cho học sinh nghề hệ 3 năm chỉ từ 4 đến 5môn từ lớp 10, lớp 11, lớp 12 và được chia theo hai nhóm nghề như sau:
Nhóm 1 (gồm các nghề: Điện công nghiệp, Kỹ thuật máy lạnh và điềuhòa không khí, Điện tử công nghiệp, Điện tử dân dụng, Công nghệ ô tô, Cắt gọt kimloại, Kỹ thuật sửa chữa và lắp ráp máy tính) học 4 môn: Văn – Tiếng Việt, Toán, Vật
Nếu điểm trung bình các cột kiểm tra định kỳ lớn hơn hay bằng 5 thì
HS được dự kiểm tra kết thúc môn
Nếu điểm trung bình các cột điểm định kỳ thấp hơn điểm 5 thì GV cho
HS làm một bài kiểm tra bổ sung Khi đó, điểm trung bình lớn hơn hay bằng 5 thì
HS được dự kiểm tra kết thúc môn, nếu nhỏ hơn 5 thì HS không đủ điều kiện dựkiểm tra kết thúc môn (nghĩa là cấm thi và phải học lại)
Điểm kiểm tra kết thúc môn được tính như sau:
Nếu điểm thi lần 1 đạt từ 5 trở lên thì HS hoàn thành môn học
Nếu điểm thi lần 1 nhỏ hơn 5 thì HS được quyền dự thi lần 2 Nếu điểmthi lần 2 đạt từ 5 trở lên thì HS hoàn thành môn học; nếu điểm thi lần 2 nhỏ hơn 5thì HS không hoàn thành môn học và phải học lại
Môn Vật lý có vai trò quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu củagiáo dục phổ thông nói chung và HS nghề hệ 3 năm nói riêng Việc giảng dạymôn Vật lý có nhiệm vụ cung cấp cho HS một hệ thống kiến thức vật lý cơ bản
ở trình độ phổ thông, bước đầu hình thành cho HS những kỹ năng và thói quenlàm việc khoa học; góp phần tạo ra ở họ các năng lực nhận thức, năng lực hànhđộng và các phẩm chất về nhân cách mà mục tiêu giáo dục đã đề ra; chuẩn bịcho HS tiếp tục tham gia lao động sản xuất, có thể thích ứng với sự phát triểncủa khoa học – kỹ thuật, học nghề, trung cấp chuyên nghiệp hoặc đại học
Môn Vật lý có những khả năng to lớn trong việc rèn luyện cho HS tư duylôgic và tư duy biện chứng, hình thành ở họ niềm tin về bản chất khoa học củacác hiện tượng tự nhiên cũng như khả năng nhận thức của con người, khả năngứng dụng khoa học để đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống
Ngoài ra, môn Vật lý có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ, qua lại với các mônhọc khác như Toán học, Hóa học, Sinh học…
2.2 Yêu cầu đối với việc dạy học môn vật lý cho học sinh Trung cấp nghề
hệ 3 năm
Chương trình bổ trợ kiến thức vật lý cho HS trung cấp nghề coi trọngnhững yêu cầu về rèn luyện và phát triển kỹ năng thực hành thực tế cho HS,
Trang 40hình thành cho HS thói quen vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống, lao độngsản xuất Vì vậy, phương pháp dạy học (PPDH) phải hướng tới việc phát huy vaitrò chủ động, khai thác kinh nghiệm của người học, coi trọng bồi dưỡng nănglực tự học, sử dụng các phương tiện dạy học và công nghệ thông tin để nâng caochất lượng hiệu quả dạy học.
Khi dạy mỗi bài hay mỗi chủ đề, GV cần xuất phát từ kinh nghiệm, vốnhiểu biết và đặc điểm nhận thức của mỗi HS để sử dụng, kết hợp sử dụng cácPPDH phù hợp nhằm tạo sự hứng thú, khơi dậy trí tò mò, ham khám phá,… củangười HS để đạt được mục tiêu giáo dục đối với mỗi bài học, mỗi chủ đề
2.3 Đặc điểm của phần “Dòng điện xoay chiều”
Kiến thức chương “Dòng điện xoay chiều” là một trong những phần kiếnthức trọng tâm của chương trình Vật lý 12, nó là sự kế thừa và kết hợp nhữngkiến thức cơ bản của “Dao động cơ học” và “Dòng điện không đổi”, vì thế khiếncho nó trở nên trừu tượng, khó hiểu đối với HS ngay từ lúc các em mới được tiếpcận Để tiếp thu tốt những kiến thức chương “Dòng điện xoay chiều” đòi hỏi HSphải có những hiểu biết cơ bản về dao động cơ học, đặc biệt là dao động điều hòa,bên cạnh đó HS cần ôn tập lại một số kiến thức liên quan đến dòng điện khôngđổi mà điển hình là cường độ dòng điện, điện áp và công suất,…
Trong chương trình Vật lý 12, phần “Dòng điện xoay chiều” được
mở đầu bằng việc trình bày nguyên tắc cơ bản để tạo ra dòng điện xoaychiều và giới thiệu những đại lượng đặc trưng của điện xoay chiều Đóchính là cơ sở để có thể khảo sát những đặc tính của dòng điện xoay chiềutrong các loại đoạn mạch ghép nối tiếp khác nhau Theo sau đó, công suấtcủa dòng điện xoay chiều lại được trình bày như là một phần bổ sung hoànchỉnh cho những lý thuyết cơ bản về điện xoay chiều Những kiến thức cơbản về máy phát điện xoay chiều, động cơ không đồng bộ, máy biến áp và
sự truyền tải điện năng được trình bày sau cùng nhằm nhấn mạnh vai tròquan trọng của các máy điện trong thực tế
Tuy kiến thức chương “Dòng điện xoay chiều” có tính trừu tượng caonhưng những gì liên quan đến điện xoay chiều là hết sức gần gũi, sát với
thực tế đời sống, do nó có nhiều ứng dụng trong khoa học – kỹ thuật và
mang lại những hỗ trợ tích cực cho cuộc sống Trong quá trình lên lớp, bêncạnh hoạt động định hướng HS tiếp thu tốt những kiến thức trọng tâm, cơbản về dòng điện xoay chiều, GV cần có biện pháp kích thích hứng thú họctập, tạo điều kiện để hình thành và phát triển kỹ năng tư duy, các năng lực(sáng tạo, hợp tác,…), phương pháp và kỹ thuật lao động khoa học ở HS,đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống trong hiện tại và tương lai
2.4 Mục tiêu, nội dung và cấu trúc của chương “Dòng điện xoay chiều” 2.4.1 Mục tiêu theo chuẩn kiến thức, kỹ năng
Mục tiêu dạy học chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lý 12 là giúp HS:
Về kiến thức: