1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hình ảnh loài vật và ý nghĩa biểu trưng của chúng trong thành ngữ ẩn dụ tiếng việt

67 1,5K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hình ảnh loài vật và ý nghĩa biểu trưng của chúng trong thành ngữ ẩn dụ tiếng Việt
Tác giả Đặng Thị An
Người hướng dẫn TS. Hoàng Trọng Canh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngôn Ngữ
Thể loại Khóa luận
Năm xuất bản 2005
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 242,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt ý nghĩa biểu trng đđ-ợc thể hiệnqua hệ thống hình ảnh về các con vật trong thành ngữ bằng phơng thức ẩn dụ có thể đem lại cho ta nhiều phát hiện mới mẻ, lí thú về cách sử dụnghì

Trang 1

Mục lục

Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học Vinh

Khoa ngữ văn

hình ảnh loài vật và ý nghĩa biểu trng của chúng

trong thành ngữ ẩn dụ tiếng Việt

khoá luận tốt nghiệp đại học

Trang 2

Lời nói đầu

2 Về thành ngữ ẩn dụ 13 2.1 khái niệm thành ngữ ẩn dụ 13 2.2 Cấu trúc thành ngữ ẩn dụ 14

3 Về một số trờng hợp trung gian 17

Chơng II Hình ảnh con vật trong thành ngữ ẩn dụ tiếng Việt 19

Chơng III Ngữ nghĩa của các thành ngữ ẩn dụ có tên gọi con vật

1 Một số nét nghĩa biểu trng cơ bản của thành ngữ ẩn dụ có

2 Những nét đặc điểm văn hoá ngôn ngữ qua các thành ngữ

Phụ lục

Trang 3

Lời nói đầu

Thành ngữ tiếng Việt là hiện tợng đặc sắc trong ngôn ngữ cũng nh trong lời ăn tiếng nói của nhân dân, là nơi tập trung cao nhất cách sử dụng hình ảnh của ngời Việt Trong phạm vi đề tài, khoá luận chủ yếu tập trung vào hình ảnh biểu trng của các thành ngữ ẩn dụ có tên gọi con vật.

Để hoàn thành khoá luận, em đã nhận đợc sự hớng dẫn tận tình chu

đáo và có phơng pháp, khoa học của thầy giáo - tiến sĩ Hoàng Trọng Canh

Em cũng đã nhận đợc sự giúp đỡ của các cô giáo, thâỳ giáo trong khoa ngữ văn - Đại học Vinh

Qua đây em xin đợc bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới các thầy giáo cô giáo và các bạn đã giúp em hoàn thành khoá luận này.

Vì những điều kiện khách quan và chủ quan có thê luận văn còn có những điểm thiếu sót nhất định Chúng tôi rất mong nhận đợc sự góp ý của các thầy cô và các bạn.

Vinh, 5 / 2005

Ngời thực hiện

Đặng Thị An

Trang 4

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài:

1.1 Thành ngữ tiếng Việt là hiện tợng hết sức quen thuộc trong lời

ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân, và cũng là đối tợng luôn đợc cácnhà nghiên cứu văn hoá dân gian cũng nh các nhà ngôn ngữ học quan tâmchú ý

Trong thành ngữ tiếng Việt bộ phận thành ngữ ẩn dụ chiếm một tỉ lệlớn Khi tìm hiểu về loại thành ngữ này chúng ta sẽ thấy đợc cách sử dụnghình ảnh theo lối so sánh ngầm đầy linh hoạt và lí thú Cũng ở đó chúng

ta thấy đợc cách nhìn nhận đánh giá sâu sắc về các hiện tợng cuộc sốngcủa con ngời Việt Nam; thấy đợc phần nào diện mạo của nền văn hoá có

bề dày ứng xử của ngời Việt, đặc biệt là trong cách giao tiếp sử dụng

ph-ơng tiện thành ngữ

1.2 ý nghĩa biểu trng của thành ngữ ẩn dụ là vấn đề phức tạp cần

đ-ợc tập trng nghiên cứu nhiều hơn Đặc biệt ý nghĩa biểu trng đđ-ợc thể hiệnqua hệ thống hình ảnh về các con vật trong thành ngữ bằng phơng thức ẩn

dụ có thể đem lại cho ta nhiều phát hiện mới mẻ, lí thú về cách sử dụnghình ảnh về nếp nghĩ nếp sống của từng cộng đồng ngời Đồng thời hình

ảnh con vật trong thành ngữ ẩn dụ cũng thể hiện những đặc trng riêngbiệt trong bức tranh chung về cách sử dụng các loại hình ảnh - một nétvăn hoá của dân tộc Việt

1.3 Thành ngữ ẩn dụ chứa hình ảnh về con vật là một trong những

nơi thể hiện sự phong phú linh hoạt cách sử dụng hình ảnh và cách giaotiếp sâu sắc giàu ý nghĩa biểu trng của ngời Việt.Vì vậy khi nghiên cứu vềloại thành ngữ này, chúng ta sẽ có thêm tri thức kinh nghiệm giao tiếptrong thực tiễn cuộc sống và trong quá trình thực tập nghiên cứu giảngdạy tiếng Việt

2 Lịch sử vấn đề.

Trang 5

Thành ngữ nói chung, thành ngữ ẩn dụ về hình ảnh các con vật nóiriêng, đặc biệt là về tính biểu trng của nó là vấn đề đợc nhiều nhà ngônngữ học và văn hoá học quan tâm Các nhà nghiên cứu Nguyễn ThiệnGiáp, Bùi Khắc Việt, Nguyễn Đức Tồn, Nguyễn Thuý Khanh, Phan VănQuế v.v Sớm có bài viết về đối tợng này.

Để nhận diện thành ngữ tiếng Việt các nhà nghiên cứu Việt ngữ họccũng nh văn học đã có những cố gắng nhằm xác định ranh giới giữa thànhngữ, tục ngữ và quán ngữ để đa ra một khái niệm về thành ngữ để đa rakhái niệm của mình Có thể thấy rõ điều này qua các bài viết đăng trên tạpchí ngôn ngữ của các tác giả Nguyễn Văn Mệnh [1987], Nguyễn ThiệnGiáp [1996] Đặc biệt về tính biểu trng của thành ngữ, tác giả Bùi KhắcViệt có bài viết trên tạp chí ngôn ngữ, số 1, năm 1978; ở bài viết này tácgiả đã xuất phát từ danh từ biểu trng trong ngôn ngữ học để đa ra cái nhìn

toàn diện về tính biểu trng của thành ngữ Tác giả viết: "Hình ảnh hoặc sự

vật, sự việc miêu tả trong thành ngữ là nhằm nói về những ý niệm khái quát hoá Nghĩa trong thành ngữ đợc cấu tạo bằng các phơng thức chuyển nghĩa nh so sánh, hoán dụ, ẩn dụ Tính biểu trng của hình ảnh, của sự việc miêu tả trong thành ngữ ở những mức độ khác nhau có liên quan đến các hiện tợng trong đời sống xã hội, trong lịch sử, phong tục tập quán của nhân dân" [35,tr.1- 6].

Đi sâu vào thành ngữ ẩn dụ, giáo s Hoàng Văn Hành đã nghiên cứu

về cấu trúc ngữ nghĩa của hai loại thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng và ẩn dụhoá phi đối xứng Những bài viết này giúp ngời đọc nhận diện rõ hơn vềthành ngữ ẩn dụ thông qua cấu trúc và ngữ nghĩa của nó Về vấn đề tínhbiểu trng của hình ảnh các con vật trong thành ngữ ẩn dụ chỉ là một vấn

đề nhỏ khi nghiên cứu về thành ngữ Tuy vậy, liên quan ít nhiều đến đề tàinày cũng đã có nhiều tác giả đi sâu vào một số khía cạnh của vấn đề này

Có thể thấy qua:

Trang 6

- Tác giả Nguyễn Thuý Khanh với bài: "Một vài nhận xét về thành

ngữ so sánh có tên gọi động vật", tạp chí ngôn ngữ (TCNN) - 4/1997.

- Tác giả Phan Văn Quế có bài: "Các con vật và một số đặc trng của

chúng đợc cảm nhận từ góc độ dân gian và khai thác để đa vào thành ngữ tiếng Việt" Tạp chí ngôn ngữ - 4/ 1995

Hoặc viết về hình ảnh con vật nói chung: "Đặc điểm t duy liên tởng

về thế giới động vật của ngời Việt - phẩm chất và chiến lợc" của Nguyễn

Thuý Khanh TCNN - 4/ 1997

- Tác giả Lê Tài Hoè rút ra từ luận văn cao học của mình vời bài viết

nhìn từ góc độ tri nhận - văn hoá: "Tìm hiểu tri nhận của ngời Vịêt về

hình ảnh con vật trên dẫn liệu thành ngữ, tục ngữ" [14]

Nhìn chung các bài viết trên, các tác giả đều cố gắng tìm hiểu về thếgiới hình ảnh các con vật qua các đơn vị thành ngữ để khái quát cách trinhận của ngời Việt về hiện thực khách quan và đặc trng văn hoá dân tộc.Với đề tài nghiên cứu này chúng tôi sẽ đi sâu vào vấn đề trên với ph-

ơng diện cụ thể là tìm hiểu giá trị biểu trng của hình ảnh các con vật trongmột phạm vi hẹp là thành ngữ ẩn dụ

3 Đối tợng và mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu.

3.1 Đối tợng nghiên cứu.

Đối tợng nghiên cứu của luận văn là tính biểu trng của hình ảnh cáccon vật trong thành ngữ ẩn dụ

Nh vậy đối tợng nghiên cứu của khoá luận là hình ảnh con vật trongthành ngữ ẩn dụ (phân biệt với thành ngữ so sánh và thành ngữ hoán dụ).Khi phận biệt các tiểu loại thành ngữ này chúng tôi đã dựa vào cách phânchia của tác giả Đinh Trọng Lạc [18] ông đã chia thành ngữ thành ba loại:

- Thành ngữ ẩn dụ

- Thành ngữ so sánh

- Thành ngữ hoán dụ [18, tr.37]

Trang 7

Vấn đề này nhiều tác giả đã đa ra nhiều cách phân chia dựa trênnhững căn cứ khác nhau.

Từ góc độ phong cách học, giáo s Cù Đình Tú căn cứ vào chứcnăng gọi tên để phân thành ngữ thành ba loại:

- Thành ngữ biểu thị sự vật: Con Hồng cháu Lạc.

Nh vậy, trong công trình của mình giáo s Hoàng Văn Hành đã chiathành ngữ thành hai loại: thành ngữ so sánh và thành ngữ ẩn dụ

Thành ngữ ẩn dụ là một bộ phận quan trọng trong thành ngữ nóichung và là đối tợng chứa nhiều vấn đề có thể nghiên cứu tìm hiểu

Trang 8

ở khóa luận này chúng tôi sẽ đi sâu vào nghiên cứu về một khíacạnh hình ảnh con vật trong thành ngữ ẩn dụ.

Để tiến hành khảo sát, nghiên cứu luận văn dựa vào nguồn t liệusau:

- Từ điển giải thích thành ngữ tiếng Việt, Nguyễn Nh ý (chủ

biên) NXB Giáo dục, 1998

- Từ điển thành ngữ tục ngữ tiếng Việt, Vũ Dung (chủ

3.2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu.

2.3.1 Khảo sát, phân loại các thành ngữ ẩn dụ theo tiêu chí hình

ảnh con vật Qua thế giới hình ảnh về các con vật trong thành ngữ ẩn dụ,

ta thấy đợc mối quan hệ giữa thực tại với sự lựa chọn phản ánh của ngônngữ

2.3.2 Phân tích giải thích ý nghĩa biểu trng thể hiện qua hình ảnh

các con vật trong thành ngữ ẩn dụ và bớc đầu lí giải về những cách sửdụng hình ảnh đó

3.2.3 ở một mức độ nhất định, qua sự tìm hiểu về cách sử dụng

hình ảnh ẩn dụ, kết luận chỉ ra những nét văn hoá của dân tộc, những thóiquen liên tởng trong t duy của ngời Việt

3.2.4 Cuối cùng, qua kết quả nghiên cứu, khoá luận con hớng tới

cung cấp t liệu cho những ngời quan tâm đến vấn đề này

4 Phơng pháp nghiên cứu.

Khoá luận sử dụng các phơng pháp chủ yếu sau:

4.1 Phơng pháp thống kê phân loại.

4.2 Phơng pháp phân tích tổng hợp.

Trang 9

4.3 Phơng pháp so sánh đối chiếu

5 Cấu trúc luận văn.

Ngoài phần mở đầu, phụ lục thống kê các thành ngữ có tên gọi convật và th mục tài liệu tham khảo, nội dung của khoá luận có các phần nhsau:

Nội dung: Chơng 1: Những vấn đề chung

Chơng 2: Giá trị biểu trng của hình ảnh con vật Chơng 3: Ngữ nghĩa của các thành ngữ ân dụ về tên gọi con vật và những nét văn hoá - ngôn ngữ Việt.

Kết luận.

Nội dung

Ch ơng I:

mổ xẻ đối tợng từ nhiều góc độ khác nhau nh về cấu trúc ngữ nghĩa, vềhình ảnh nhng tất cả đều xuất phát từ những quan niệm, cách hiểuchung cơ bản về đơn vị này Giữa các nhà nghiên cứu có nhiều quan niệm

Trang 10

khác nhau, nhng tác giả nào cũng nhằm đi đến xây dựng một khái niệm

về thành ngữ

Nguyễn Văn Mệnh khi định nghĩa về thành ngữ đã nhấn mạnh:

"Thành ngữ là đơn vị ngôn ngữ có sẵn, chúng là những ngữ có kết cấu

chặt chẽ và ổn định, mang một ý nghĩa nhất định, có chức năng định danh

và đợc tái hiện trong giao tế" [24, tr13]

Trong bài viết của mình, tác giả cũng đã chỉ ra những nét giốngnhau và khác nhau khi phân biệt hai đơn vị gần nhau là tục ngữ và thànhngữ Theo tác giả, thành ngữ và thành ngữ giống nhau ở chỗ chúng đều lànhững đơn vị có sẵn, cố định, giàu hình ảnh, giàu sắc thái biểu cảm và đ-

ợc tái hiện trong giao tế

Tuy vậy, giữa thành ngữ và tục ngữ có sự khác biệt rất rõ Về ýnghĩa, thành ngữ miêu tả một hình ảnh, một hành động, một tính chất haytrạng thái Còn tục ngữ đúc kết một kinh nghiệm, một quy luật, một chân

lí cuộc sống hoặc nêu lên một bài học ở đời

Ví dụ: Thành ngữ "Chở củi về rừng" nói về những việc làm, những

hành động không hợp lí là đem những thứ cung cấp cho nơi đã làm ra nóhoặc nơi đã có quá nhiều những thứ đó

Còn câu tục ngữ: "Kiến tha lâu cũng đầy tổ", qua hiện tợng đàn

kiến nhỏ bé tha mồi, nhân dân ta đã đúc rút một kinh nghiệm về lòng kiênnhẫn

Về cấu tạo ngữ pháp, thành ngữ có cấu trúc là một ngữ: danh từ,

động từ, tính từ, còn tục ngữ có cấp độ câu

Về chức năng, thành ngữ có chức năng định danh còn tục ngữ cóchức năng thông báo

Giáo s Nguyễn Thiện Giáp đã dẫn câu nói của M.Gorky về tục ngữ

để phân biệt với thành ngữ: tục ngữ là những kết cấu cố định "Diễn đạt

rất hoàn hảo toàn bộ kinh nghiệm đời sống, kinh nghiệm lịch sử xã hội

Trang 11

của nhân dân lao động" Còn thành ngữ là đơn vị định danh, là tên gọi

của một sự vật hiện tợng, là sự thể hiện của một khái niệm [7, tr.186]

Nh vậy, qua việc phân tích thành ngữ và tục ngữ, các tác giả đã

định hình đựơc một khái niệm về thành ngữ Giáo s Hoàng Văn Hành đã

đa ra một khái niệm bao chứa đợc các đặc điểm của thành ngữ: "Thành

ngữ là một loại tổ hợp từ cố định bền vững về hình thái - cấu trúc, hoàn chỉnh và bóng bẩy về ý nghĩa, đựơc sử dụng với những chức năng nh từ".

Từ những khái niệm thành ngữ mà các nhà ngôn ngữ học đa ra,chúng tôi tạm nêu lên một định nghĩa ngắn gọn để tiện cho quá trình khảosát nghiên cứu của đề tài Thành ngữ là cụm từ cố định có kết cấu vữngchắc mang ý nghĩa biểu trng, đợc sử dụng tơng đơng nh từ

1.2 Đặc trng của thành ngữ.

Thành ngữ có thể xem là nghệ thuật ăn nói của nhân dân Nó đựơccô đúc thành những đơn vị ngắn gọn, súc tích, bền vững, có hàm lợng ngữnghĩa cao, rất đa dạng phong phú về nghĩa Vì vậy thành ngữ đợc nhândân ta vận dụng thờng xuyên trong sinh hoạt hàng ngày Có thể khẳng

định những đặc trng của thành ngữ đã làm nên điều đó Khi nói đến đặctrng của thành ngữ các nhà ngôn ngữ học thờng nêu ra một số mặt cơ bản:

- Thành ngữ có tính hài hoà điệp đối

- Thành ngữ rất giàu hình ảnh

- Thành ngữ mang ý nghĩa khái quát biểu trng

Đặc trng thứ nhất thể hiện rõ nhất ở thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứnghay còn gọi là thành ngữ đan chéo bốn âm tiết Những thành ngữ nh:

"Buôn thúng bán mẹt", "Đầu chày đít thớt", "Miệng hùm hang rắn" ở

đây tính chất đối xứng đã tách thành ngữ thành hai vế tơng đồng hoặc đốilập về ý nghĩa Điều đó tạo nên tính hài hoà về âm thanh, vần điệu và rấthợp với phong cách khẩu ngữ của nhân dân

Về hình ảnh có ngời nói thành ngữ là hình ảnh, họ xem hình ảnh là

đặc trng bao trùm, là bản chất của thành ngữ Điều đó tất nhiên là không

Trang 12

thoả đáng vì có những thành ngữ không gợi nên một hình ảnh nào: "Ăn

rồi nói cha", "Bữa đực bữa cái" nhng nó vẫn đợc xem là một thành ngữ.

Tuy vậy, hình ảnh hay nói đúng hơn: tính hình tợng trong thànhngữ là một đặc trng nổi bật, rất đa dạng phong phú, thể hiện thói quen lối

nói a sử dụng hình ảnh của ngời Việt Từ những hình ảnh cụ thể: "Thẳng

nh kẻ chỉ", "Ruộng cả ao liền" cho đến những hình ảnh trừu tợng: :

"Chuột sa chĩnh gạo", "Đa rồng ra bể" Đa số các hình ảnh đều mang

tính khoa trơng: "Đãi cứt gà lấy tấm", "Mời voi không đợc bát nớc xáo".

Nét độc đáo nữa của hình ảnh là nó vừa có tính khách quan vừa cótính cá biệt Một hình ảnh trong thành ngữ đợc nhân dân ta vận dụng từcuộc sống, từ hiện thực khách quan nhng khi đi vào lời nói , nó mangnhững nét cá biệt về màu sắc ý nghĩa và sự bình giá khác nhau Chẳng

hạn: hình ảnh chó ở thành ngữ "Chó chui gầm chạn" biểu trng cho kể hèn

mọn phải nơng nhờ vào kẻ có thế lực dẫn đến mất hết chủ quyền, phải

chịu nhẫn nhục thu mình Cũng hình ảnh ấy trong thành ngữ: "Chó mái

chim mồi" lại chỉ những kẻ phản bội lại lợi ích chung Nh vậy hình ảnh có

một nhng ý nghĩa lại khác nhau tuỳ thuộc vào cách vận dụng kết hợp củangời nói

Nghĩa của thành ngữ là vấn đề còn nhiều quan điểm không thốngnhất Có ý kiến đồng nhất nghĩa với hình ảnh nh đã nêu, một số nhànghiên cứu lại quan niệm khác

Giáo s Nguyễn Thiện Giáp phát biểu: "Đối với thành ngữ cần phân

biệt hai phơng diện ý nghĩa: ý nghĩa từ nguyên là ý nghĩa hình thành từ nghĩa riêng của các thành tố theo quy tắc ngữ pháp và ý nghĩa thực tại ( ) căn cứ vào hình thái bên trong ngời ta có thể giải thích lí do ngữ nghĩa của các nghĩa thực tại" [7,tr.187]

Cũng trong công trình này, tác giả đã phủ nhận quan niệm mọi

thành ngữ đều mang tính biểu trng Ông nói: "Nếu quy tất cả vào ý nghĩa

biểu trng e rằng sẽ làm cho khái niệm này mất đi tính đặc thù của nó Có

Trang 13

lẽ chỉ nên chỉ nên coi những trờng hợp sử dụng có tính chất ớc lệ biểu vật của từ là có tính biểu trng" ở đây giáo s Nguyễn Thiện Giáp đã vận dụng

khái niệm biểu trng theo nghĩa hẹp, nghĩa biểu trng của từ

Lịch sử nghiên cứu về thành ngữ từ xa đến nay vẫn đồng nhất quan

điểm thành ngữ có hai nghĩa: nghĩa đen và nghĩa bóng còn gọi là nghĩa

khái quát, nghĩa biểu trng Nguyễn Đức Dân viết: "Nghĩa của thành ngữ

đợc hình thành qua sự biểu trng nghĩa của cụm từ" [4,tr.4- 11] Quan

điểm của Nguyễn Văn Mệnh: "ý nghĩa của thành ngữ không phải là con

số cộng giản đơn và trực tiếp ý nghĩa các thành tố nh ở trờng hợp các ngữ

tự do hoặc quán ngữ mà đợc hình thành trên cơ sở khái quát và tổng hợp

ý nghĩa biểu trng của các yếu tố" [24,tr.13] Tác giả Đỗ Hữu Châu xem

tính biểu trng là đặc điểm ngữ nghĩa số một của thành ngữ: "Ngữ cố định

lấy vật thực việc thực để biểu trng cho những đặc điểm, tính chất, hành

động, tình thế phổ biến khái quát ( ) Biểu trng là cơ chế tất yếu mà ngữ

cỗ định, mà từ vựng phải sử dụng để ghi nhận, diễn đạt những nội dung phức tạp hơn một khái niệm đơn" [1,tr.182] Tác giả Bùi Khắc Việt trong

bài "Về tính biểu trng của thành ngữ trong tiếng Việt" đã khẳng định: "Do

sự vật và hình ảnh có một số phẩm chất nào đó chung với điều nó biểu hiện nên biểu tuợng gợi cho ta một ý niệm về nội dung biểu hiện"

- Loại thứ hai: Thành ngữ biểu trng hoá bộ phận, trong đó một sốthành tố có nghĩa biểu trng rõ rệt, một số không có nghĩa biểu trng

Ví dụ: "Quyền rơm vạ đá", "Nợ nh chúa chổm".

Trang 14

Từ các bài viết của các tác giả trên ta có thể rút ra đợc một số kếtluận là mọi thành ngữ đều có tính biểu trng, nghĩa biểu trng của thành ngữ

đợc hình thành từ toàn bộ thành ngữ hoặc từ nghĩa biểu trng của từngthành tố

Vậy tính biểu trng là gì?

Từ điển tiếng Việt giải thích "biểu trng" là biểu hiện một cách tợng

trng và tiêu biểu nhất

Trong ngôn ngữ học, biểu trng (symbole) đợc dùng theo hai nghĩakhác nhau

- Là kí hiệu có tính võ đoán

- Là kí hiệu mà quan hệ với quy chiếu là có nguyên do

Quan niệm thứ hai đợc vận dụng phổ biến hơn "Nói đến giá trị biểu

trng của ngôn ngữ là nói đến cái gì không hoàn toàn võ đoán, nó là cái ý niệm, cái nội dung mà ngời bản ngữ có thể cảm biết đợc một cách trực giác qua hình thức ngữ âm của một đơn vị ngôn ngữ".[13,tr.59]

Hai tầng nghĩa đen và nghĩa bóng của thành ngữ đã tạo ra hai hớngtiếp cận của thành ngữ:

- Bình diện tiếp xúc trực tiếp trên câu chữ theo cách kết hợp từ, theocác hình ảnh đã đem lại giá trị miêu tả

Ví dụ: "Cha nóng nớc đã đỏ gọng" Nói về đặc điểm thực của loài

giáp xác là khi nhiệt độ lên cao thì lớp vỏ cứng bên ngoài của chúng sẽchuyển thành màu đỏ

Thành ngữ "Chó chui gầm chạn" Chó nằm dới gầm chạn, chỗ tối

tăm ẩm thấp

- Bình diện tiếp nhận: tiếp cận với ý nghĩa tàng ẩn đằng sau cauchữ, hình ảnh Đó chính là nghĩa bóng là giá trị biểu trng, là cái đích màngời nói hớng đến để ngời nghe lĩnh hội và đó là đặc trng bản chất củathành ngữ, là nét nổi bật để phân biệt thành ngữ với cụm từ tự do và thành

ngữ với từ Thành ngữ "Cha nóng nớc đã đỏ gọng" không chỉ nhằm hớng

Trang 15

đến ngời nghe về đặc điểm của loài cua khi đợc chế biến mà ẩn sau nó là

sự chỉ trích thái độ của con ngời trớc hoàn cảnh, cha gặp khó khăn thửthách mà đã bị tha hoá

Thành ngữ "Chó chui gầm chạn" không chỉ nói về t thế của con

chó mà muốn nói về thân phận của những ngời hèn mọn phải chấp nhậnmột cuộc sống lệ thuộc quẩn quanh ngột ngạt

Nh vậy nghĩ đen của thành ngữ đã là cơ sở để hiểu nghĩa bóng, đểthấy đợc tính biểu trng của mỗi thành ngữ Tính biểu trng ở đây đã trởthành những ý niệm khái quát hoá cho mỗi hình ảnh, sự vật, đợc mô tảtrong thành ngữ

Vì thế chúng ta có thể khẳng định nghĩa đen là cơ sở là phơng tiệnbiểu trng còn nghĩa bóng là nội dung biểu trng Chúng thống nhất vớinhau tạo nên tính dặc trng về nghĩa cho thành ngữ

2 Thành ngữ ẩn dụ.

2.1 Khái niệm.

Thành ngữ ẩn dụ đợc bắt nguồn từ phép ẩn dụ Phép ẩn dụ theo giáo

s Đinh Trọng Lạc là "Sự định danh thứ hai mang ý nghĩa hình tợng dựa

trên sự tơng đồng hay giống nhau giữa khác thể A đợc định danh và khách thể B có tên gọi chuyển sang cho A"[19,tr.37].

Trong hệ thống ngôn ngữ, ẩn dụ chính là phơng thức tạo nghĩa củathành ngữ ẩn dụ, nh phép so sánh với thành ngữ so sánh và phép hoán dụvới thành ngữ hoán dụ Vì vậy chúng ta có thể hiểu thành ngữ ẩn dụ là

"loại thành ngữ có nghĩa biểu trng hoá dới hình thức ẩn dụ".

2.2 Cấu trúc thành ngữ ẩn dụ.

Thành ngữ ẩn dụ đợc các nhà ngôn ngữ học chia thành hai loại Theo giáo s Đinh Trọng Lạc thì gọi là thành ngữ đơn và thành ngữkép [18]

Còn giáo s Hoàng Văn Hành thì gọi là thành ngữ ẩn dụ hoá đốixứng và thành ngữ ẩn dụ hoá phi đối xứng[12,tr48]

Trang 16

Với thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng, Giáo s Hoàng Văn Hành đã chỉ

ra đặc điểm chung là "Chúng đợc tách thành hai vế đối xứng nhau về ý và

lời thông qua một trục hài hoà về âm thanh, vần điệu" [8,tr.2]

Nếu nh ở thành ngữ so sánh có cấu trúc ổn định với mô hình A nh

B rất dễ nhận diện thì đối với thành ngữ ẩn dụ xét cấu trúc là phải xét mộtcách tổng hoà đặc trng ngữ pháp ngữ nghĩa

Thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng có hai trờng hợp:

Trờng hợp 1: Đối xứng bằng hai cặp từ đối ứng nhau theo quy tắc:các từ trong thành ngữ đối ứng nhau theo cặp thuộc cùng một trờng nghĩa.Trong cùng một trờng nghĩa có cả quan hệ gần nghĩa, đồng nghĩa hay gầnnghĩa

Ví dụ:

- Bán hùm buôn hổ

Cùng trờng, đồng nghĩa

- Đầu voi đuôi chuột

Cùng trờng, trái nghĩa

- Đầu cua tai nheo

Cùng trờng , gần nghĩa

Trờng hợp 2: Đối xứng giữa hai vế bằng hai cặp từ đối xứngnhau theo quy tắc: điệp ở yếu tố đầu và đối ở yếu tố sau:

Ví dụ:

- Đầu bò đầu b ớu

điệp Cùng trờng gần nghĩa

Trang 17

- Xui khôn xui dại.

Cùng trờng, trái nghĩa điệp

Vì hai vế của những thành ngữ đang xét là những kết cấu ngữ pháp

đồng dạng có những thuộc tính ngữ pháp giống nhau đợc liên kết với nhautheo nguyên tắc đẳng lập, vì chúng có vai trò ngang nhau Vì vậy nhữngthành ngữ này có khả năng đảo trật tự giữa các vế Ta thấy có hai kiểu đảotrật tự:

Kiểu thứ nhất: Đảo trật tự toàn khối giữa hai vế:

Bầm gan tím ruột/ Tím ruột bầm gan

Bán hùm buôn sói/ Buôn sói bán hùm

Kiểu thứ hai: Giữ nguyên khung kết cấu ngữ pháp của hai

vế mà chỉ hoán vị các thành tố đối ứng nhau theo từng cặp đợc đan chéogiữa hai vế:

Con ông cháu cha/ Con cha cháu ông Lòng chim dạ cá/ Dạ cá lòng chim/Lòng cá dạ chim

Loại thức hai của thành ngữ ẩn dụ là thành ngữ ẩn dụ hoá phi đốixứng Xét về mặt cấu trúc chúng không có tính đối xứng mà đợc cấu tạogiống hệt nh những kết cấu ngữ pháp bình thờng Loại thành ngữ này đợccấu tạo theo hai dạng phổ biến là: Những thành ngữ ẩn dụ có kết cấu ngữpháp là một trung tâm và những kết cấu ngữ pháp là hai trung tâm:

- Thành ngữ phi đối xứng có kết cấu ngữ pháp một trung tâm lànhững thành ngữ có dạng một danh ngữ:

- Công dã tràng.

- Cá mè một lứa.

- Mắt cú vọ.

Dạng cấu tạo một động ngữ:

Trang 18

- Chuột chạy cùng sào

Sơ qua về kết quả phân loại thành ngữ ẩn dụ theo kết cấu nh trên tacũng có thể hình dung cấu trúc của thành ngữ ẩn dụ đa dạng và phức tạphơn nhiều so với thành ngữ so sánh Trong phạm vi đề tài này, chúng tôichỉ nêu ra những mô hình cấu trúc mà không đi sâu vào xem xét ngữnghĩa ứng với mỗi dạng cấu trúc đó; nhiệm vụ chính bớc đầu của khoáluận, nh đã nói là phân nhóm tên gọi các con vật để xem xét ý nghĩa biểutrng của từng loại

3 Một số trờng hợp trung gian.

Cũng giống nh các loại đơn vị ngôn ngữ khác, hiện tợng trung gian

là một thực tế của ngôn ngữ Thành ngữ tiếng Việt cũng vậy, có những

đơn vị ít nhiều mang đặc điểm của tục ngữ, cho nên trong thực tế phânloại, có tác giả xếp chúng là thành ngữ, nhng có một số tác giả khác lạixem chúng là tục ngữ Ví dụ:

- Đầu xuôi đuôi lọt

- Tham thì thâm

- lắm sải không ai đóng cửa chùa

Trang 19

Giữa các tiểu loại trong thành ngữ cũng có hiện tợng trung gian.Chẳng hạn giữa thành ngữ ẩn dụ và so sánh, có những đơn vị, hiện naytrên các văn bản ghi lại có dọng, không có từ so sánh nhng ngời ta có thểthêm từ so sánh (nh) vào cấu trúc nhng về cơ bản nghĩa không thay đổi.Những thành ngữ sau đây, giáo s Nguyễn Thiện Giáp[7] cho là từ ngữ sosánh, nhng giáo s Hoàng Văn Hành lại xếp chúng vào loại thành ngữ ẩndụ:

Ngang cành bứa (Ngang nh cành bứa).

Thẳng ruột ngựa (Thẳng nh ruột ngựa).

Mênh mông bể sở (Mênh mông nh bể sở).

Gầy xác ve (Gầy nh xác ve).

Đanh đá cá cày (Đanh đá nh cá cày).

Lửng lơ con cá vàng (Lửng lơ nh con cá vàng).

Chúng tôi cho rằng cách xác định của giáo s Hoàng Văn Hành dễlàm cho ngời đọc chấp nhận hơn; và chúng tôi đi theo quan niệm này

Thực tế, khi so sánh nghĩa nếu ta dùng kết cấu ẩn dụ: "Bé hạt tiêu" thì tạo

nên liên tởng phong phú hơn, tính liên tởng cao hơn, đặc biệt sắc thái

nghĩa: "Bé nhng khôn" nói rõ Nếu đặt thành ngữ trong kết cấu so sánh

"Bé nh hạt tiêu" thì tính cụ thể, xác định "bé" nh cái gì lại nổi rõ, tính chất

"khôn ngoan" mờ nhạt khó liên tởng đến nghĩa này

Trang 20

Ch ơng II

Giá trị biểu trng của hình ảnh con vật

Trong giới hạn đề tài, chúng tôi đã xác định khoá luận này tiếnhành khảo sát đơn vị thành ngữ mang hình ảnh các con vật Qua việc phânloại tên gọi các con vật thành các nhóm, dựa theo tiêu chí khoa học vềphân loài, chúng ta đã có các nhóm thành ngữ ẩn dụ về hình ảnh các convật, gồm: nhóm cá, nhóm động vật hoang dã, nhóm gia súc, nhóm chim,nhóm lỡng thê, nhóm nhuyển thể, nhóm gặm nhấm, nhóm gia cầm, nhómgiáp xác, nhóm côn trùng Và một nhóm các con vật không dựa theo tiêuchí khoa học về phân loài là những hình ảnh về rồng và phợng, chúng tôigọi đó là nhóm động vật giả tởng Qua việc khảo sát, phân nhóm và đi sâuvào tìm hiểu từng thành ngữ cụ thể, chúng ta không thể thấy đựơc sựphong phú về việc sử dụng hình ảnh các con vật trong thành ngữ mà cònthấy đợc sự đa dạng trong khả năng biểu đạt, sự quan sát tinh tờng, sự trinhận tinh tế của nhân dân lao động đối với hiện thực khách quan Hơnnữa, mỗi nhóm thành ngữ chứa hình ảnh về một loài vật sẽ biểu trng chomột số những thuộc tính những đặc điểm riêng biệt đã đợc lựa chọn, phản

Trang 21

ánh từ duy của con ngời Đó là mục đích chính mà luận văn hớng tớitrong quá trình nghiên cứu.

1 Nhóm những thành ngữ về cá.

1.1 Hình ảnh về cá xuất hiện trong 90 thành ngữ, chiếm 14,4%

thành ngữ ẩn dụ về hình ảnh các con vật Trong số các thành ngữ có têngọi trỏ cá, ngoài tên gọi chung của loài ra, còn có tên gọi cụ thể, cá thể

cho từng loại, nh: cá chép, cá mè, cá đối, cá bống, cá rô, cá mòi, cá diếc,

cá lù đù, cá thờn bơn, lơn, chạch Cá xuất hiện với nghĩa chỉ món ăn

ngon mỗi loại mỗi mức độ khác nhau: "Đợc cá mòi đòi cá chiên";"Mèo

mù vớ cá rán"; "Cơm gà cá gỏi" Cá xuất hiện trong thành ngữ còn là thể

hiện sự quan sát tinh tờng về đặc điểm mỗi loài riêng biệt làm cơ sở cho

nghĩa biểu trng: "Thờn bơn chịu lép một bề"; "Vểnh râu trê"

1.2 Cá là loại động vật quen thuộc và trở thành nguồn thực phẩm

chính trong cuộc sống của ngời dân xứ sở chúng ta, một xứ sở lắm ao hồsông biển Vì vậy cá xuất hiện trong thành ngữ với đặc điểm định danhnổi bật nhất, phổ biến nhất là có liên quan đến đặc điểm môi trờng sống

Cá là loại động vật sống trong môi trờng nớc Trong 91 thành ngữ

về cá thì có đến 30 thành ngữ về cá có liên quan đến môi trờng sống của

Vì cá gắn liền với môi trờng nớc, chỉ sống đợc trong nớc cho nênhình ảnh cá và nớc thờng biểu trng cho sự thích nghi, cho điều kiện thuậnlợi quan hệ gắn bó mật thiết để con ngời phát triển:

Trang 22

Do vậy những thành ngữ về cá có là sự biểu trng cho những gì màcon ngời khó nắm bắt, khó xác định nh:

- Lòng dạ con ngời khó lờng:

Cá nằm trên cạn.

Cá nằm dới dao.

Cá nằm trên thớt.

Cá là động vật quen thuộc đối với cuộc sống của con ngời vì vậy

đặc điểm của nó rất dễ đợc quan sát để đa vào thành ngữ trở thành những

đơn vị giao tiếp quen thuộc đầy hình ảnh

2 Nhóm những thành ngữ về chim.

Có 74 thành ngữ về chim, chiếm 11,5% thành ngữ ẩn dụ tiếng Việt

về động vật Hình ảnh về chim ngoài sự xuất hiện với tên gọi chung, một

số thành ngữ còn có các tên riêng của mỗi loài: chim chích, bồ nông,

nhạn, diệc, quạ, chim sẻ, diều, cò, vạc, bìm bịp

Khảo sát thành ngữ về chim ta thấy có một bộ phận lớn nhữngthành ngữ có sự kết hợp giữa hai hình ảnh chim và cá tạo thành hai câu

vế đối xứng:

Chim lồng / cá chậu.

Chim nhảy / nhạn sa.

Trang 23

Điều đặc biệt là ở nhóm chim và nhóm cá có những nét tơng đồng

về môi trờng sống Chim và cá đều sống trong những không gian mà conngời khó vơn tới, khó kiểm soát Do vậy những thành ngữ kết hợp giữa

chim và cá thờng biểu trng cho khát vọng tự do của con ngời: Chim trời

cá bể Và khi tự do biến thành tù túng giam hãm thì đợc ví nh: Cá chậu chim lồng.

Ngoài những đặc điểm về môi trờng sống thì nhóm chim còn đợc

định danh bởi đặc điểm của quá trình kiếm ăn và đặc điểm màu sắc cơ

thể Nổi bật nhất trong nhóm chim là cú, quạ và cò.

Hình ảnh về cú và quạ trong thành ngữ ẩn dụ tiếng Việt vẫn có sự

đồng nhất với cách nhìn dân gian xa nay Theo quan niệm dân gian cú và

quạ tợng trng cho những kẻ bẩn thỉu xấu xí:

Quạ mổ diều tha.

Sẩy nạ quạ tha.

Là những kẻ giả dối kệch cỡm:

Quạ đội lốt công.

Cú đội lốt công.

Quạ già hót tiếng hoàng anh.

Bên cạnh cú và quạ là hình ảnh về cò Trong ca dao dân ca, con cò

là hình ảnh ẩn dụ thẩm mỹ có sức thuyết phục về ngời nông dân Việt Namvới những phẩm chất tốt đẹp nh siêng năng, cần cù, chụi khó, tần tảo, giàu

đức hi sinh Nhng hình ảnh con cò trong thành ngữ tiếng Việt lại khác

Trang 24

trong 12 thành ngữ ẩn dụ về cò thì lại là sự nhìn nhận, quan niệm khác về

cò Hình ảnh con cò trong thành ngữ là những là những kẻ vô dụng cơ

hội: Cốc mò cò xơi; Đục nớc béo cò, là những kẻ vô ơn: Nuôi cò cò mổ

mắt; rõ càng trong thành ngữ cái nhìn đối với hiện thực bao giờ cũng

sắc sảo và đời thờng hơn

3 Nhóm động vật hoang dã.

Nhóm động vật hoang dã bao gồm những con vật nh: voi, hổ, sói,cáo, khỉ, vợn, hơu

Thành ngữ về động vật hoang dã chiếm số lợng khá lớn, có 77thành ngữ, nhất là voi, tên gọi voi xuất hiện trong 33 thành ngữ

Hình ảnh về dã thú đợc thể hiện một cách sinh động đa dạng trongthành ngữ là vết tích của một cuộc sống chan hoà với thiên nhiên, củacông cuộc chinh phục tự nhiên của con ngời thời xa Đa số các thành ngữcủa nhóm này là thể hiện sự cảm nhận, cảm giác của con ngời trớc thếgiới động vật hoang dã Đó là hình ảnh con voi với sức vóc to lớn, đó làcon hổ dũng mãnh dữ tợn, là con sói tinh ranh xảo quyệt

Trong các con vật thuộc nhóm này đựơc gọi tên trong thành ngữ ẩn

dụ thì hình ảnh về voi trong thành ngữ là sự thể hiện sinh động nhất Voi ở

đây biểu trng cho sự to lớn Nếu nh trong thành ngữ so sánh, khối lợng

khổng lồ của nó đợc so sánh trực tiếp bởi những thành ngữ: To nh voi;

Khoẻ nh voi; To nh vâm, Khoẻ nh vâm, thì trong thành ngữ ẩn dụ, khối

l-ợng to lớn của nó đợc đối chiếu một cách tơng phản với các con vật khác

về sức mạnh, sự to lớn: Châu chấu đá voi; Muỗi đốt chân voi; Đầu voi

đuôi chuột, chân voi đạp miệng chim Vì nó to lớn vợt trội nên voi đợc

dùng để thể hiện những nhu cầu đòi hỏi mà mọi thứ khác điều không thể

đáp ứng, chẳng bõ bèn gì đối với nó: Đút chuối miệng voi; Đút mía cho

voi; Sáp đút miệng voi Những thức ăn bình thờng cho những sinh vật

bình thờng cũng trở nên vô nghĩa lí đối với voi Vì nó to lớn cho nên nócòn biểu trng cho những gì vợt quá cái bình thờng, những việc làm bình

Trang 25

thờng, những tác động đối với voi cũng trở nên vô lí,vô ích chẳng có tác

dụng gì: Hò voi bắn súng sậy; Lấy thúng úp voi; Thữa giấy vẽ voi; Trói

voi bỏ rọ; và khi nó mạnh mẽ to lớn vợt qúa cái bình thờng nh vậy thì

mọi thứ khác đều không thấm tháp gì so với nó cũng nh thuốc bệnh đối

với voi cũng chẳng thấm vào đâu: Voi uống thuốc gió Và tránh không

đ-ơng đầu với voi không phải là một sự hèn nhát, vì voi biểu trng cho kẻ

mạnh: Tránh voi chẳng xấu mặt nào.

Từ biểu trng cho sự to lớn về nhiều phơng diện, hình ảnh về voi còn

đợc chuyển sang dùng biểu trng cho địa vị cao sang: Lên voi xuống chó.

ở đây voi biểu trng cho địa vị cao sang còn chó biểu trng cho địa vị thấp

hèn "Thành ngữ: Lên voi xuống chó đã miêu tả một cách cô đọng nghịch

cảnh biểu trng cho sự thăng trầm của hoàn cảnh con ngời trong cuộcsống" [10,tr.203]

Biểu trng cho sự cao sang còn thiếu thành ngữ: Thiếu voi phải dùng

ngựa.

Trong nhóm dã thú hổ thờng biểu trng cho nguy hiểm và sức mạnh

oai hùm vô song Hổ đợc xem là chúa tể sơn lâm Bởi vậy có sự tơng

phản trong các thành ngữ: Miệng hùm gan thỏ; Miệng hùm gan sứa; Cáo

bầy không bằng cọp một Vì dùng mãng và dữ tợn cho nên con ngời rất

ngỡng mộ nhng cũng luôn lánh xa loài hổ Những việc đợc xem là qúa

nguy hiểm nh: Ngồi trên lng cọp; Vuốt râu hùm; Vào hang hùm Vì sức

mạng oai linh đó cho nên những kẻ ranh mãng hèn hạ thờng phải mợn oai

của nó: Cao mợn oai hùm, Cáo đội lốt cọp; Dựa hơi hùm vểng râu cáo.

Một con vật khác trong nhóm dã thú đợc dùng để biểu trng cho một

đặc điểm tính cách của một loại ngời đó là hình ảnh con cáo Trùng hợpvới quan niệm dân gian trong ca dao truyện cổ về con cáo, trong thành

ngữ tiếng Việt, cáo cũng vẫn biểu trng cho sự ranh mãnh xảo quyệt: Mèo

già hoá cáo; Cáo thành tinh; Bán gà cho cáo Cáo là biểu trng của sự

ranh mãnh nhng bất tài nên nó núp dới bóng kẻ khác: Cáo mợn oai hùm

Trang 26

Nhìn chung, nhóm những thành ngữ về dã thú mạng tính biểu trngkhá thống nhất nổi bật, trở thành những đơn vị giao tiếp phổ biến trongnhân dân.

4 Nhóm những thành ngữ về côn trùng.

Có 60 đơn vị thành ngữ có tên gọi về côn trùng Nhóm côn trùnggồm các loại: sâu, bọ, ruồi, muỗi, ong, ve, kiến, bớm, tằm, châu chấu,chuồn chuồn là những động vật bé nhỏ quen thuộc phổ biến đối với mộtnứơc nông nghiệp có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm nh nớc ta Chúng lànhững con vật tầm thờng, thờng gắn với cái nhìn bị chê bai, với sắc màu

bình giá âm tính Theo Phan Văn Quế, loài sâu bọ dới con mắt ngời Việt,

ngoài con tằm (có nơi gọi là ông tằm) nhất loạt đều xấu, bẩn, vô tích sự

và có hại [27, tr.59 - 64] Ta thấy trong 60 thành ngữ về côn trùng chỉ có

4 thành ngữ về con tằm là không mang nghĩa xấu nh: Héo hon ruột tằm,

Ruột tằm bối rối, Tơ chia rũ tằm, Rút ruột tơ tằm Những thành ngữ này

đều biểu trng cho nội tâm của con ngời Đó là nỗi buồn, sự bối rối bănkhoăn day dứt của tâm trạng hay ý chí quyết tâm để thực hiện công việc

Trong nhóm côn trùng, các con vật đợc dùng để biểu trng cho nhiều

đặc điểm, nhiều thuộc tính khác nhau Nhng tất cả đều nhằm nói lênnhững hạn chế của cuộc sống, những yếu kém, thấp kém đã đợc con ngời

khái quát một cách hình ảnh Chẳng hạn, hình ảnh ong và bớm trong

thành ngữ ẩn dụ dùng để biểu trng cho những sự nhìn nhận đánh giá hay

cho những mỗi quan hệ thiếu đứng đắn, thiếu trong sáng: Điều ong tiếng

ve, Ong qua bớm lại, Bớm chán ong chờng, Con ong cái kiến, Ong bớm

đãi đằng Chỉ duy nhất một hình ảnh Cánh bớm lửa đèn để ẩn dụ cho thân

phận ngời phụ nữ mong manh yếu đuối trớc cuộc đời đầy cạm bẫy vùidập Còn để biểu trng cho những thân phận hèn mọn, bất tài yếu đuối,

hình ảnh ruồi và muỗi xuất hiện trong nhiều thành ngữ: Muỗi đốt chân

voi, Muỗi đốt cột đình, Muỗi đốt sừng trâu, Phợng hoàng không màng tời muỗi, Trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết Xét trong nhóm những thành ngữ

Trang 27

có hình ảnh về loài côn trùng, chúng ta nhận thấy một cách chính xácnhất cách nhìn nhận đánh giá của nhân dân lao động về một loài động vậtkhông những không đem lại lợi ích gì cho cuộc sống mà còn phá hoạimùa màng, làm phiền hà đến sinh hoạt của con ngời Ta thấy chỉ toàn là

thái độ chê bai xem thờng: Rau nào sâu nấy, Cá vàng bụng bọ, Con sâu

làm rầu nồi canh.

5 Nhóm những thành ngữ về động vật giả tởng.

Trong thế giới các con vật xuất hiện trong thành ngữ tiếng việt cónhững con vật không có thực trong thực tế đó là con rồng và chim phợngchúng chỉ là huyển tởng trong tâm thức ngời Việt Hình ảnh động vật giảtởng sử dụng 21 thành ngữ Một số lợng không phải là lớn nhng nhìnchung tất cả những thành ngữ này đều là sự bình giá dơng tính, đều mangchiều hớng tốt đẹp, hàm ý trân trọng

Rồng và phợng trong hai thứ quý: long, ly, quy, phợng của dân

gian, là những con vật thiêng trong quan niệm của ngừơi xa Cũng vì vậy,

rồng - phợng của dân gian, là những con vật thiêng trong quan niệm của

ngời xa Cũng vì vậy, rồng và phợng trong thành ngữ biểu trng cho những gì tốt đẹp Nơi quyền quý cao sang thì là Gác phợng lầu rồng, Gác phợng

đài lân Món ăn ngon quý hiếm là Nem cồn chả phợng Hình dáng đờng

nét tơi đẹp: Rồng bay phợng múa Vận hội may mắn tốt đẹp để thẻ hiện tài năng: Rồng mây gặp hội, Đa rồng ra bể Vợ chồng đẹp đôi vừa ý: Phợng

đậu cành ngô

Là biểu trng của cái đẹp, cái cao sang, hình ảnh rồng, phợng còn

đ-ợc đặt tơng phản bên các con vật biểu trng cho sự tầm thờng, thấp hèn đểlàm nổi bật những tình huống, những quan hệ khác nhau: kẻ sang hèn lẫn

lộn: Phợng hoàng ăn lẫn với gà Bậc quý nhân xuất thân từ gia đình tầm thờng: Phợng hoàng đẻ trong tổ quạ Rồng biểu trng cho sự vinh hạnh.Cho nên , ngời cao quý đến thăm kẻ thấp hèn là: Rồng đến nhà tôm.

Ngời anh hùng bị sa cơ thất thế, bị kìm hãm bó buộc không có cơ hội để

Trang 28

phát triển tài năng là: Rồng lội ao tù Rồng cũng biểu trng cho sự đỗ đạt vinh hiển, thành công trong khoa cử: Cá chép hoá rồng, Cá gáy hoá rồng.

Bên cạnh đó chim phợng, chim loan còn biểu trng cho tình đôi lứa, tình vợ

chồng: Chia loan rẽ phợng, Phợng chạ loan chung.

Rõ ràng, rồng, phợng trong quan niệm của ngời Châu á nói chung

và ngời Việt Nam nói riêng là những con vật quý hiếm linh thiêng Hình

ảnh rồng và phợng trong thành ngữ tiếng Việt đã thể hiện rõ quan niệm,dấu ấn liên tởng đó Rồng và phợng trong thành ngữ đã thể hiện nét bảnsắc dân tộc sâu sắc và mang đậm màu sắc văn hoá phơng Đông

6 Nhóm thành ngữ về gia súc.

Nhóm thành ngữ về gia súc là tập hợp lốn nhất mà chúng tôi su tầm

đợc gồm 147 thành ngữ, chiếm 23,5% nhữn thành ngữ ẩn dụ về các convật Đặc biệt trong nhóm thành ngữ về gia súc, thnàh ngữ sử dụng hình

ảnh con chó xuất hiện nhiểu nhất (58 thành ngữ) Sở dĩ những thành ngữ

về vật nuôi xuất hiện nhiểu thờng đợc giải thích là vì những con vật đó đãgắn bó với cuộc sống của con ngời một cách thân thiết Vì vậy trong sinhhoạt hằng ngày, con ngời có điều kiện quan sát kĩ lỡng phản ánh nhữnghiểu biết đặc điểm đó vào trong đơn vị ngôn ngữ giao tiếp của mình

Đặc điểm nổi bật nhất trong nhóm thành ngữ sử dụng hình ảnh vềgia súc là sự xuất hiện với số lợng lớn của những thành ngữ về chó Chó làcon vật thân thiết gần gũi nhất với con ngời; đợc ở chung một nhà với ng-

ời, đợc mệnh danh là chú lính canh trung thành và có khi là ngời bạn tri kỉcủa con ngời Nhng trong thành ngữ tiếng Việt, hình ảnh về chú chó lạichỉ mang nhữn nét xấu, lại chỉ biểu trng cho những cái xấu xa Trớc hết

hình ảnh về chú chó đợc khai thác ở đặc tính bẩn: Chó chực máu giác,

Chó chực chồng chờ, Chó chê cứt nát Đặc tính hung dữ hay cắn ngời của

chó cũng đợc khai thác triệt để: Chó cùng dứt dậu, Chó cắn áo rách, Chó

cậy gần nhà, Chó dại cắn càn, Chó dại cùng đờng So sánh với thành ngữ

Nhật cùng sử dụng hình ảnh con chó chúng tôi thấy bên cạnh khái thác

Trang 29

nét tiêu cực thì đặc điểm xấu của chó, ngời Nhật vẫn còn đa vào thànhngữ những nét tích cực, đặc biệt là tính trung thành của chó với chủ và

đồng loại nh: Wamikkakarbasaune now wowa surenu (Chó nuôi có ba ngày, ba năn sau vẫn không quên ơn), Inuwainuwo kuwanai (Chó không

ăn thịt chó) Trong thành ngữ tiếng Việt đặc điểm trung thành của chócũng đợc vận dụng khác đi, đó chỉ là sự trung thành của kẻ làm tay sai, th-

ờng là cho giặc, là chó săn: Chó săn chim mồi, Chó mái chim mồi Và

trong thành ngữ tiếng Việt, chó vẫn bị xếp vào hạng thấp hèn, đang khinh.Khi ngời giao tiếp sử dụng những thành ngữ có hình ảnh về chó cũng chỉ

để tỏ thái độ khinh miệt xem thờng: Chó mặc váy lĩnh, Chó chui gầm

chạn, Chó ngồi bàn độc, Chó ngáp phải ruồi Mặc dù trong thực tế chó

không đến nỗi đáng ghét nh vậy, thậm chí nguợc lại chó là nguời bạnthân thiết của con ngời, nhng trong thành ngữ tiếng Việt, hình ảnh về chólại chỉ gợi lên những ấn tợng xấu

Trong thành ngữ có hình ảnh gia súc ngựa là hình ảnh biểu trngcho nhiều thuộc tính Ngựa trong quan niệm của ngời xa cũng là con vậtquý, là phơng tiện đi lại của giới quý tộc, vua chúa Vì vậy có những

thành ngữ về ngựa dùng để biểu trng cho sự cao sang vinh hiển: Tán che

ngựa cỡi, Lên xe xuống ngựa Nhng trong quan niệm của dân gian lại

cũng cho rằng ngựa cùng với trâu thờng biểu trng cho thân phận của ngờilao động thấp hèn, làm việc nặng nhọc, bị bóc lột đè đầu cỡi cổ và bị xem

thờng: Thân trâu ngựa, kiếp trâu ngựa Có khi trâu ngựa còn đợc dùng một tầng lớp ngời dới xã hội cũ Các thành ngữ thợc loại này nh :Thân

trâu ngựa, Cơng ngựa ách trâu Biểu trng cho thân phận hèn kém làm

thuê cho kẻ khác, bị bóc lột khổ sở, ngời Việt thờng sử dụng hình ảnh

Trâu, ngựa đi đôi với nhau.

Bên cạnh đó, hình ảnh về ngựa còn liên quan đến chiến trận, vìngày xa, trong chiến tranh ngời ta dùng ngựa để làm phơng tiện di

chuyển, ngời ta cỡi ngựa để đánh nhau Đó là những thành ngữ: Dặm

Trang 30

nghìn da ngựa, Da ngựa bọc thây, Đơn thơng độc mà, Đơi ngựa giữa ờng, Thiên binh vạn mã

thành ngữ: Chuột khôn có mèo hay, Mèo ra cửa chột xớng ca, Chuột gặm

chân mèo, Đem cá để miệng mèo, Mỡ để mịêng mèo, Mèo mù vớ cá rán, Cá treo mèo nhin đói Ngoài ra, trong thành ngữ tiếng Việt có hình ảnh

mèo, hình ảnh mèo còn biểu trng nét nghĩa về nhân cách con ngời không

tử tế, không đứng đắn, ranh mãnh, bịp bợm nhất là trong quan hệ trai gái:

Mèo mả gà đồng, Mèo đàng chó điếm, Mèo già hoá cáo Hoặc mèo thờng

đợc dùng để biểu thị năng lực, khả năng của con ngời trớc tình huống

hoàn cảnh: Mèo mẹ bắt chuột con, Mèo nhỏ bắt chuột nhỏ, Mèo mù vớ cá

rán.

Qua sự phân tích trên chúng ta thấy đợc sự đợc sự phong phú trongcách sử dụng hình ảnh mang ý nghĩa biểu trng về vật nuôi trong thành ngữtiếng Việt Sự phong phú ấy đợc giải thích bởi quan hệ gần gũi giữa conngời và vật nuôi ở một nớc nh nớc ta, một nớc từ xa có nền kinh tế nôngnghệp tự túc

7 Nhóm những thành ngữ về động vật lỡng thê.

Trang 31

Lỡng thê là loại động vật với những con vật: ếch, nhái, cóc, ễnh

-ơng, nòng nọc Sống đợc ở cả môi trờng nớc và cạn có xuất hiện trong 30

thành ngữ ẩn dụ

Đặc điểm đầu tiên của nhóm động vật này là hình ảnh của chúngthơng biểu trng cho sự nhỏ, yếu đuối, vô giá trị và xấu xí Vì vậy, hình

ảnh của ễnh ơng gợi ra cái thật vô lí: Bán bò tậu ễnh ơng, ễnh ơng nuốt

bò Và thật phản cảm khi Cóc đi guốc, khỉ đeo hoa, Cóc chết lại có minh tinh Cóc hay ếch đi vào thành ngữ của những kẻ không có tài năng mà

kiêu căng hợm hĩnh, ít hiểu biết, coi trời bằng vung Đó là những thành

ngữ: Cóc mọc lông nách, ếch mọc lông nách, Cóc ngồi đáy giếng, ếch

ngồi đáy giếng.

Hình ảnh cóc, ếch trong thành ngữ ẩn dụ phần lớn gắn chặt, logicvới quan niệm của dân gian Có thể, hình ảnh biểu trng cóc ếch trongnhững thành ngữ này là xuất phát từ câu chuyện cổ tích dân gian: "Có conếch sống lâu năm trong một giếng nớc nhỏ cùng vài con nhái cua, ốc.Hằng ngày nó cất tiếng kêu vang làm các con vật kia hoảng sợ ếch cứ t-ởng bầu trời trên đầu chỉ bằng một chiếc vung và nó oai nh một vị chúa tể.Một năm trời to, nớc giếng tràn bờ đa ếch ra ngoài Quen thói nghênhngang không thèm để ý đến xung quanh, ếch bị con trâu đi ngang quadẫm bẹp"

Từ đó, phải chăng nh thế mà còn có những thành ngữ mà hình ảnhcon ếch là sự biểu trng cho những kẻ lắm miệng, nói nhiều và chết vì cái

tật đó: ếch chết tại miệng, Cóc lại mở miệng.

Những thành ngữ có hình ảnh về cóc và ếch cũng có liên quan đếncâu chuyện cóc kiện trời để đòi ma Vì vậy hình ảnh cóc, ếch trong thành

ngữ còn có nghĩa biểu trng cho những kẻ gan góc, lì lợm: Gan cóc tía,

Gi-ơng mắt ếch, Và cho những ngời ở địa vị thấp kém lên tiếng kêu van

không có hiệu lực: Cóc kêu không thấu trời, Cóc vái trời.

Trang 32

ếch, nhái cũng là loài vật ít đợc ngời dân miền núi ít có thiện cảm.Những thành ngữ về ếch nhái của ngời Tày - Nùng thờng mang ý nghĩa

phê phán nặng nề và vẫn với đặc điểm là lắm lời, hợm hĩnh: Pác cốp khả

cốp (ếch chết tại miệng), Mặn cốp mặn khuýêt (hứa nh ếch nhái).

Đó là những nét văn hoá tơng đồng trong những cộng đồng ngờikhác nhau

8 Nhóm những thành ngữ có hình ảnh về bò sát.

Nhóm bò sát ở đây chúng ta chỉ nhận xét trong các loài: Rắn, ba ba

và cá sấu, gồm có: 16 thành ngữ có chứa các hình ảnh về con vật đó Đây

là một số lợng thành ngữ nhỏ nhng không có nghĩa là chhúng không cótiếng nói riêng, đặc biệt là những thành ngữ về rắn Trong 16 thành ngữ về

bò sát thì có đến 13 thành ngữ về rắn Nhìn chung những thành ngữ về rắnphần nhiều ý nghĩa của nó đợc khai thác từ đăch điểm nọc độc của rắn

Đặc điểm này đi vào thành ngữ biểu trng cho miệng lỡi hiểm ác, thâm địa

hiểm độc của con ngời, gồm những thành ngữ: Khẩu xà tâm phật, Khẩu

phật tâm xà, Nọc rắn miệng hùm.

Rắn là loại có nọc độc có thể làm chết ngời và các loài vật khác , do

đó sẽ rất nguy hiểm khi: Cõng rắn cắn gà nhà, Dẫn rắn vào hang Và khi tiêu diệt nó thì phải tiêu diệt triệt để: Đánh rắn dập đầu.

Xuất phát từ những đặc điểm bất lợi cho con ngời nói trên nên loài

rắn vẫn bị xem thờng, xếp vào hạng thấp hèn tơng phản với rồng: Đầu

rồng đuôi rắn.

9 Nhóm những thành ngữ về loài gặm nhấm.

Loài gậm nhấm xuất hiện trong 25 thành ngữ gồm có chuột, chuộtchù và thỏ Những thành ngữ về chuột trớc hết đợc đặt trong quan hệ vớimèo Chuột và mèo xa nay vẫn là hai thế lực đối địch không cân sức Mèoluôn là thế lục đe doạ đối với chuột Do đó, hành động nguy hiểm là:

Trang 33

Chuột gặm chân mèo, Tình thế nguy hiểm là khi: Chuột sa cũi mèo Và

những thành ngữ khác vè mèo và chuột: Mèo ra của chuột xớng ca, Chuột

khôn có mèo hay Ngoài ra chuột và chuột chù còn biểu trng cho sự nhỏ

bé, bẩn và xấu xí: Đầu voi đuôi chuột, Chuột chù lại có xạ hơng, Chuột

chù đeo đạc.

Trong ngóm thành ngữ về loài gặm nhấm chuột, thỏ thờng biểu

tr-ng cho tính nhát và yếu đuối Vì vậy trotr-ng thành tr-ngữ ẩn dụ, nó thơtr-ng đặctơng phản bên những con vật biểu trng cho sức mạnh nh hùm để tạo nênnhững thành ngữ về sự mâu thuẫn giữa hình thức bên ngoài và bản chất,

giữa bên ngoài và bên trong: Miệng cọp gan thỏ,Miệng hùm gan thỏ, Bán

thỏ buôn hùm.

10 Nhóm nhuyễn thể.

Chỉ có 6 thành ngữ về động vật này Nhìn chung đó là các con vậtnh: ốc, trai, hến, ngao, sò Nhìn chung nhóm này chiếm số lợng ít vàkhông có những hình ảnh mang tính biểu trng sâu sắc Chỉ có hai thành

ngữ về ốc đợc dân gian sử dụng là: ăn ốc nói mò, Kẻ ăn ốc ngời đổ vỏ ở

cả hai thành ngữ này ốc đều đợc khai thác ở khía cạnh là món ăn ở thành

ngữ thứ nhất ăn ốc nhìn qua tởng nó chỉ giữ chức năng cấu tạo hình thái

chứ không có chức năng biểu ý, mà gánh nặng ngữ nghĩa rơi vào phần sau

để ám chỉ những kẻ hay nói hú doạ, đoán chừng, nói những điều mà mình

không biết chắc chắn, nhng ăn ốc ở đây lại phải hiểu là việc mò ốc dới

n-ớc đục đợc hay không là ngẫu nhiên, không chắc chắn cho nên ốc biểu

tr-ng cho cái khôtr-ng căn cứ Còn thành tr-ngữ Kẻ ăn ốc tr-ngời đổ vỏ, ốc nói về

thành quả đợc hởng không ai biết một cách bật hợp pháp nên ngời khác

phải đổ vỏ phải gánh chịu hậu qủa Nh vậy, qua hai thành ngữ về con ốc

ta thấy tính biểu trng qua mối quan hệ giữa hình ảnh ốc và nét nghĩa đợc

Ngày đăng: 18/12/2013, 20:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình ảnh loài vật và ý nghĩa biểu trng của chúng  trong thành ngữ ẩn dụ tiếng Việt - Hình ảnh loài vật và ý nghĩa biểu trưng của chúng trong thành ngữ ẩn dụ tiếng việt
nh ảnh loài vật và ý nghĩa biểu trng của chúng trong thành ngữ ẩn dụ tiếng Việt (Trang 1)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w