1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hình ảnh con vật trong tâm thức người việt qua thành ngữ, tục ngữ, ca dao

77 1,6K 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hình ảnh con vật trong tâm thức người Việt qua thành ngữ, tục ngữ, ca dao
Tác giả Lê Tài Hòe
Người hướng dẫn P.G.S - T.S. Nguyễn Nhã Bản
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2022
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 749 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm về bản sắcvăn hoá dân tộc thông qua ngôn ngữ là một hớng tiếp cận có hiệu quả hiện nay.Tìm hiểu hình ảnh con vật, "những đặc trng đập vào mắt " Phơ - Bách mà cácthế hệ ngời Việt quan

Trang 1

Mục lục

Trang

Lời cảm ơn

Mở đầu

1.Lý do chọn đề tài 4

2.Lịch sử vấn đề 5

3.Đối tợng, phạm vi t liệu, nhiệm vụ nghiên cứu 8

3.1 Đối tợng nghiên cứu 8

3.2 Phạmvi t liệu nghiên cứu 8

3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu 9

4 Phơng pháp nghiên cứu 9

5 Đóng góp của luận văn 9

6 Cấu trúc của luận văn 9

Chơng 1 Những cơ sở lý luận liên quan đến đề tài Tiểu dẫn 10

1 Nhìn lại một số nét về bản sắc văn hoá Việt Nam 11

2 Vai trò và vị thế của các con vật trong đời sống của ngời Việt 14

3 Mối quan hệ Ngôn ngữ - văn hoá nói chung và về hình ảnh các con vật nói riêng 16

3.1 Quan hệ giữa Ngôn ngữ - văn hoá 16

3.2 Hình ảnh các con vật trong mối quan hệ Ngôn ngữ - văn hoá 22

4 Về các khái niệm liên quan đến đề tài: Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh

-*** -Hình ảnh con vật Trong tâm thức ngời việt

Qua thành ngữ, tục ngữ, ca dao

Luận văn thạc sĩ ngữ văn Chuyên ngành: Lý luận Ngôn ngữ

Mã số: 50408

Ngời thực hiện : Lê Tài Hoè

Ngời hớng dẫn : P.G.S - T.S Nguyễn Nhã Bản

Vinh 2002

Trang 2

-t©m thøc, thµnh ng÷, tôc ng÷, ca dao 26

4.1 Kh¸i niÖm t©m thøc 26

4.2 Ph©n biÖt c¸c kh¸i niÖm: thµnh ng÷, tôc ng÷, ca dao 27

4.2.1 Ph©n biÖt thµnh ng÷ vµ tôc ng÷ 28

4.2.2 VÒ ca dao 30

TiÓu kÕt 31

Trang 3

Chơng 2

Bức tranh ngôn ngữ về hình ảnh con vật

trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao

1 Kết quả thống kê, khảo sát phần thành ngữ, tục ngữ, ca dao 34

1.1 Thành ngữ 34

1.2 Tục ngữ 40

1.3 Ca dao 55

1.4 Tổng hợp bức tranh chung 57

1.4.1 Tổng hợp số liệu khảo sát 57

1.4.2 So sánh đối chiếu thứ tự từ nhiều đến ít 57

1.4.3 Số con vật có mặt ở 3 đơn vị dẫn liệu có tần xuất cao 58

1.4.4 Độ chênh lệch giữa các con vật 58

1.4.5 Tổng hợp và phân loại các từ gọi tên con vật 60

2 Nhận xét sơ bộ về bức tranh ngôn ngữ xung quanh các con vật 61

2.1 Những nhận xét có tính định lợng 61

2.2 Vài nhận xét có tính định chất 61

Tiểu kết 64

Chơng 3 Tâm thức ngời Việt về hình ảnh các con vật Tiểu dẫn 65

1 Khả năng biểu đạt tâm thức của thành ngữ, tục ngữ, ca dao 66

2 Hình ảnh một số con vật in dấu sâu đậm trong tâm thức ngời Việt 70

2.1 Hình ảnh Rồng và Rắn trong tâm thức ngời Việt 70

2.1.1 Hình ảnh con Rồng trong tâm thức dân gian 71

2.1.2 Hình ảnh con Rắn trong tâm thức ngời Việt 74

2.2 Hình ảnh về con Chim và con cò 77

2.2.1 Về hình ảnh con chim 77

2.2.2 Hình ảnh con Cò trong tâm thức ngời Việt 80

2.3 Trâu và Hổ trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao 84

2.3.1 Hình ảnh con Trâu trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao 84

2.3.2 Phác hoạ vài nét về Hổ trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao 87

Tiểu kết 89

Kết luận 90

Tài liệu tham khảo 92

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài :

1.1 Việt nam - quá trình hình thành và phát triển đã hơn 4000 năm lịch sử, nhng nhìn nhận về phơng thức sản xuất cho đến nay vẫn là một nớc sản xuất nông nghiệp

Với nền sản xuất nhỏ mang tính tự cung, tự cấp, con ngời ở đây sống trong

sự lệ thuộc tự nhiên đồng thời cũng sống chan hoà, sống giữa thiên nhiên:

Trang 4

"Núi láng giềng, chim bầu bạn Mây khách khứa, Nguyệt anh tam ".

( Nguyễn Trãi)Con ngời ở Đông - Nam á nói chung, Việt nam nói riêng là c dân nôngnghiệp lúa nớc, gắn bó với cây cỏ sông suối, núi rừng và biển cả thuộc khu vựcnhiệt đới nóng, ẩm, gió mùa Những nhịp đập của tự nhiên từ trăng tròn trăngkhuyết, con nớc thuỷ triều, đến "Ngày xuân con én đa thoi ", rồi mùa hạ với hạnhán bão lụt, tiếp đến gió mùa đông bắc lạnh thấu xơng - đều có mối quan hệ nhânquả đối với cuộc sống con ngời, trớc hết là trong lĩnh vực sức khoẻ, trồng trọt,chăn nuôi, đánh bắt

Đời sống của c dân nông nghiệp chung quy lại là khai thác tự nhiên để phục

vụ cho những nhu cầu thiết yếu của con ngời nh ăn mặc, ở, đi lại và các nhu cầukhác của đời sống tinh thần Cây trồng và vật nuôi là hai mặt song đôi của quátrình sản xuất nông nghiệp ở Việt nam nói riêng và Đông Nam á nói chung Vìthế, nông nghiệp Việt nam, văn hoá Việt nam cho đến hôm nay vẫn là vấn đề "cơcấu cây- con", "cơ cấu mùa vụ","cơ cấu đất đai"để cho cây trồng và vật nuôi, đểcho thú nuôi và thú rừng cùng phát triển nhằm đạt đợc hiệu quả cao nhất về cácgiá trị kinh tế, văn hoá, xã hội

Do môi trờng tự nhiên, c dân nông nghiệp lúa nớc gắn bó với "cây", "con",nên các vật nuôi trong gia đình : gia cầm, gia súc nh trâu, bò, gà, chó, ngựa, dê, bồcâu Các con thú, con chim đợc thuần hoá, đến những con vật đã trở thành vậtthiêng trong tín ngỡng, tâm linh nh rồng, hổ, nghê, hạc, đã ăn sâu vào tâm thức-tduy của ngời Việt trở thành vấn đề đợc quan tâm, gần gũi và chiếm một vị thếquan trọng trong nhận thức và tình cảm của ngời Việt

1.2 "Hình ảnh con vật trong tâm thức ngời Việt qua thành ngữ, tục ngữ, cadao" là một đề tài nghiên cứu thuộc khu vực ngôn ngữ - văn hoá Tìm về bản sắcvăn hoá dân tộc thông qua ngôn ngữ là một hớng tiếp cận có hiệu quả hiện nay.Tìm hiểu hình ảnh con vật, "những đặc trng đập vào mắt "( Phơ - Bách) mà cácthế hệ ngời Việt quan niệm, nhìn nhận và gửi gắm tâm t tình cảm qua thành ngữ,tục ngữ, ca dao âu cũng là một cách tiếp cận với lối ứng xử văn hoá truyền thốngcủa ngời Việt đợc sâu sắc hơn, toàn diện hơn

Việt nam trong bối cảnh Đông Nam á, cũng là một nớc nông nghiệp điểnhình, nhng quá trình "chinh phục kẻ thù hai chân và kẻ thù bốn chân", quá trìnhthuần hoá chim, thú trở thành vật nuôi trong gia đình, quá trình đối mặt với thếgiới tự nhiên rất nhiều muông thú chắc sẽ có những dấu ấn khác biệt trong nhậnthức,trí tuệ, kinh nghiệm cũng nh quan hệ tình cảm đối với các con vật Cho nênngôn ngữ và văn hoá có những nét không đồng nhất là đơng nhiên Do đó, việctìm hiểu hình ảnh con vật trong tâm thức ngời Việt là một cơ hội để tìm về nhữngnét bản sắc văn hoá của dân tộc trong sự "ổn định - bền vững và giao lu - pháttriển"; trong bối cảnh "Toàn cầu hoá và vấn đề phát huy tiềm năng , bản lĩnh vănhoá dân tộc." (21, Huỳnh Khái Vinh, 2000)

1.3 Dấu ấn văn hoá trong ứng xử của ngời Việt trong quan hệ với các convật đợc để lại trên nhiều thành tố của văn hoá Việt mà ngôn ngữ chỉ là một thành

tố đợc coi là có t cách "đặc trng" nhất cho văn hoá dân tộc

Trang 5

Khi chúng ta đề cập đến vấn đề đặc trng t duy của dân tộc hay tâm thức ngờiViệt qua vốn từ vựng nói chung và qua kho tàng thành ngữ, tục ngữ, ca dao nóiriêng là ý muốn đặt mối quan hệ này trong mối quan hệ biện chứng giữa ngônngữ và t duy, trong đó ngôn ngữ đợc coi là "hiện thực trực tiếp của t tởng" Nóicách khác, trong vốn từ ngữ của mỗi ngôn ngữ, thành ngữ, tục ngữ, ca dao nóichung là nguồn t liệu phong phú không thể bỏ qua khi nghiên cứu các đặc trngvăn hoá và t duy ngôn ngữ.

Mọi ngời đều có thể tìm thấy trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao quan điểm vềcái đẹp, cái xấu, cái thiện, cái ác, cái đạo lí, cái phi đạo lí và những đặc tính gắnliền với kiểu tri nhận - đặc trng t duy, lối sống, tính cách của nền văn hoá dân tộc

Do đặc điểm này, từ lâu thành ngữ, tục ngữ, ca dao đã đợc các nhà nghiên cứu coi

là nguồn t liệu hấp dẫn và vô cùng phong phú khi tìm hiểu bản sắc văn hoá, tínhcách và lối sống của mỗi dân tộc

Tìm hiểu những giá trị văn hoá đợc kết tinh trong tâm thức ngời Việt về convật qua cách nhìn, cách nghĩ, cách cảm, cách ứng xử với con vật trong biểu đạt

có khi là hình ảnh, có khi là biểu tợng, nhng có lúc đã đạt đến một độ khái quátcao trở thành hình tợng nghệ thuật mà thành ngữ, tục ngữ, ca dao lại thành raphơng tiện

2 Lịch sử vấn đề :

2.1 Hình ảnh các con vật dới góc độ khảo cổ, kiến trúc, điêu khắc, mỹ thuật

đã xuất hiện mấy ngàn năm ở Việt nam

Dựa vào những cứ liệu của di chỉ Đồng Đậu (Vĩnh Phú),Tràng Kênh(HảiPhòng), ta biết đợc c dân văn hoá Phùng Nguyên đã tồn tại từ nửa đầu Thiên niên

kỷ thứ hai trớc Công nguyên "Ngời Phùng Nguyên đã biết chăn nuôi, ít ra là họ

đã biết nuôi chó, lợn, trâu, bò, gà Xơng răng chó, lợn, trâu, bò nhà đã tìm thấytrong một số di chỉ mộ táng Di chỉ xóm Rền (Vĩnh Phú) đã tìm thấy tợng đầu gàbằng đất nung"(tr 57, Lịch sử V.N tập 1.1983- Phan huy Lê, Trần Quốc Vợng,

Hà Văn Tấn, Lơng Ninh)

Trong bộ sách "Tìm về bản sắc văn hoá Việt nam "của tác giả Trần NgọcThêm (51,2001) đã dẫn ra rất nhiều bằng chứng của các lĩnh vực trên về hình ảnhcác con vật Cha phải là tất cả, nhng có thể nói, hầu nh các con vật quan trọngliên quan đến vật nuôi, vật thờ cúng của ngời Việt đều có tranh, tợng, hình vẽ,hình nặn Sau đây là hình ảnh một số con vật nh thế :

- Thứ chữ "khoa đẩu"(hình con nòng nọc bơi) của ngời Việt cổ trongnhững văn bản cổ ở vùng Mờng (Thanh Hoá )

- Hình Long Mã (rồng ngựa) đắp nổi ở chùa Tứ Hiếu (Huế )

- Hình chim trên các trống đồng (Yên Quan, Đông Sơn, Đông Hiếu, LàngVạc, Phú Phơng )

Trang 6

- Rồng - Hổ trên mộ cổ ở Bộc Dơng, Hà Nam

- Lái Trâu (tranh khắc gỗ đầu thế kỷ xx)

- Hình thuyền với cá sấu - rồng giao hoan trên thân thạp Đào Thịnh

- Lỡng thú giao phối, hình chim giao phối trên trống đồng Hoàng Hạ

- Lỡng cóc trên trống đồng Hữu Chung

- Rồng Việt Nam thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn

- Cá chép trông trăng (tranh Đông Hồ)

- Lý ng vọng nguyệt (tranh Hàng Trống )

- Đám cới chuột (tranh Đông hồ )

- Tiên cỡi hạc (Đền Hai Bà Trng -Vĩnh phúc )

- Lân chạm đá (bia Văn miếu, Hà nội )

- Phợng chạm gỗ (đình Đình Bảng, Bắc ninh )

- Cá hoá Rồng (chạm gỗ, đình Lỗ Hạnh, Hiệp Hoà, Bắc Giang )

- Phúc Thọ song toàn (dơi bay đứng )

- Cà Cuống ("Quế đỗ" - trên Cửu Đỉnh, Huế)

Với thời gian, tranh Đông Hồ đã mở rộng ra thế giới và hình ảnh của nhiềucon vật gần gũi với c dân nông nghiệp Việt nam đã đợc mọi ngời biết đến

2.2 Hình ảnh các con vật dới góc độ văn hoá - ngôn ngữ cũng xuất hiện rảirác trong báo và tạp chí chuyên ngành hơn nửa thế kỷ trở lại đây:

- “Con rắn trong tâm thức ngời Việt” (qua thành ngữ, tục ngữ) của TríSơn (54,2001)

- “Con trâu trong tâm thức ngời Việt” (qua tục ngữ ca dao) của PhạmVăn Thấu (46,1997)

- “Có gì vui quanh cái tên con hổ?” của Đào Thản (5, 2001)

- “Đặc điểm t duy liên tởng về thế giới động vật của ngời Việt ” củaNguyễn Thuý Khanh (42, 1997)

- “Thử lý giải thần thoại”(Cha Rồng-Mẹ Tiên) của Đặng Văn Lung(6,1999)

- “Mô hình thế giới trong tâm thức con ngời xứ Nghệ” của Nguyễn NhãBản (27,2001, trang 333)

- “Hình ảnh con trâu trong thành ngữ, tục ngữ và ca dao Việt Nam” của

Hà Quang Năng (Ngôn ngữ và Đời sống, số 1, 1997)

- “Nguyên lý Mẹ của nền văn hoá Việt Nam” của Trần Quốc Vợng(52,1996)

Trang 7

- “Rồng có thực hay huyền thoại?” của Hoàng Văn Khoán(Giáo dục Thời

đại, số Xuân Canh Thìn, 2000)

- “Con ngựa: biểu tợng văn hoá và ngôn ngữ” của Trần Quốc Vợng(Vănnghệ Xuân Canh Ngọ, 1990)

- “So sánh đặc trng văn hoá trong thành ngữ có yếu tố liên quan đến độngvật của Tiếng Việt với một số ngôn ngữ hệ Tày- Thái” của Đỗ QuangSơn (Hà nội, 1999)

- “Các con vật và một số đặc trng của chúng đợc cảm nhận từ góc độ dângian của Phạm Văn Quế” (49,1995)

- “ Hình ảnh con vật trong tâm thức ngời Việt qua thành ngữ - tục ngữ

- ca dao”, trên đề tài chúng tôi đang thực hiện với sự gợi ý h ớng dẫncủa PGS TS Nguyễn Nhã Bản

Có thể nói, nh tên gọi của đề tài, đây là một bớc khảo sát, hệ thống hoácũng nh khám phá tâm thức của ngời Việt về hình ảnh các con vật trên dẫnliệu ngôn ngữ ở diện rộng nhằm tìm hiểu, tiếp nhận những giá trị văn hoá củadân tộc

3 Đối tợng, phạm vi t liệu, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Đối tợng nghiên cứu:

- Hình ảnh các con vật trong nhận thức, tình cảm, trong cách nhìn, cách nghĩcủa ngời Việt đợc thể hiện bằng ngôn từ qua thành ngữ - tục ngữ - ca dao

- Các dấu hiệu có tính đặc trng cho bản sắc văn hoá của ngời Việt trongmối quan hệ với tự nhiên, với xã hội và con ngời mà hình ảnh con vậtvừa là đối tợng phản ánh, đối tợng biểu trng, đối tợng biểu cảm qua dẫnliệu đã giới hạn

3.2 Phạm vi t liệu nghiên cứu

- Dẫn liệu thành ngữ dựa vào “Thành ngữ tiếng Việt” của Nguyễn Lực -

3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu:

3.3.1 Vai trò và vị thế của các con vật trong đời sống của ngời Việt trên nềncảnh của một số nét bản sắc, tính cách của văn hoá Việt Nam

3.3.2 Về mối quan hệ: văn hoá ngôn ngữ nói chung và hình ảnh các con vậtnói riêng

Trang 8

3.3.3 Bức tranh ngôn ngữ thông qua số lợng, tần xuất và ý nghĩa của các từngữ nói về hình ảnh các con vật đợc biểu đạt qua thành ngữ, tục ngữ, cadao(ngời Việt).

3.3.4 Khái quát đặc trng tâm thức- bản sắc văn hoá của ngời Việt trong ứng

xử với con vật nói chung, và một số con vật đợc lựa chọn trên dẫn liệu đãhạn chế

4 Phơng pháp nghiên cứu:

- Phơng pháp tổng hợp, hệ thống hoá

- Phơng pháp thống kê, phân loại, phân tích, so sánh

- Phơng pháp phân tích từ vựng học, ngữ nghĩa các từ (Phân tích, phân loại từngữ theo những lớp, nhóm - trờng ngữ nghĩa ngôn ngữ - văn hoá)

- Phơng pháp so sánh đối chiếu (mức độ đơn giản)

- Phơng pháp khái quát - trừu tợng

5 Đóng góp của luận văn

- Hệ thống hoá, nhận thức lại vai trò, vị thế của các con vật trong nền vănhoá Việt Nam

- Khẳng định lại mối quan hệ ngôn ngữ - văn hoá

- Bớc đầu miêu tả đợc hệ thống các từ ngữ, hình ảnh về các con vật đợc thểhiện trên thành ngữ - tục ngữ - ca dao dể từ đó nhận diện đợc tâm thức củangời Việt về các con vật

6 Cấu trúc của luận văn.

Trừ các phần “Mở đầu”, “Kết luận”, “Tài liệu tham khảo” và “Phụ lục”, nộidung của luận văn gồm có 3 chơng:

Chơng I: Cơ sở lý luận.

Chơng II: Bức tranh ngôn ngữ - hình ảnh các con vật trên dẫn liệu thành

ngữ, tục ngữ, ca dao

Chơng III: Những đặc điểm văn hoá - ngôn ngữ hay tâm thức của ngời Việt

về hình ảnh các con vật (trên giới hạn dẫn liệu)

Trang 9

Trong cuộc sống thờng nhật, hình ảnh các con vật nói chung và những vậtnuôi nói riêng đã ăn sâu vào nhận thức, tình cảm, trí tuệ, tâm linh của ngời Việt.Nhiều con trong vô số các con vật sống gần gũi với con ngời hoặc trong môi tr-ờng tự nhiên núi rừng, biển cả, sông suối, đất đai đã để lại những dấu ấn khôngphai mờ trong tâm trí con ngời.

Các đặc điểm về hình dáng, tập tính tự nhiên, các đặc điểm phẩm chấtgiống loài có tác dụng tích cực hoặc tiêu cực, hoặc là những nét sóng đôi, củanhững đặc điểm, phẩm chất ấy đợc ngời Việt nhận thức, đúc kết, tích luỹ quanăm tháng, qua nhiều thế kỷ, thiên niên kỷ Những nhận thức và tình cảm ấy củacon ngời đối với con vật vừa có dấu vết của quan hệ giữa con ngời với tự nhiên,vừa có dấu vết của con ngời trong quan hệ xã hội; tất cả đều đợc phản ánh vàolời ăn tiếng nói hàng ngày, trong vốn từ vựng tiếng Việt và đặc biệt rõ nét trongkho tàng thành ngữ, tục ngữ, ca dao

Các yêu cầu về nội dung đợc đặt ra trong luận văn, đòi hỏi phải giải quyếtmột số vấn đề có tính chất thấu đáo về mặt lí luận Để làm rõ những luận điểmxuất phát của luận văn chúng tôi xin đi sâu giải quyết một số vấn đề sau:

- Những nét cơ bản về bản sắc của văn hoá Việt Nam

- Vai trò và vị thế của các con vật trong đời sống của ngời Việt

- Mối quan hệ ngôn ngữ - văn hoá nói chung và về hình ảnh các con vậtnói riêng

- Nhận diện và phân biệt các khái niệm: Tâm thức, thành ngữ, tục ngữ,

ca dao

Trang 10

1 Nhìn lại một số nét về bản sắc của văn hoá Việt Nam.

Văn hoá Việt Nam hình thành trên nền của văn hoá Nam á và Đông Nam

á(Lớp Văn hoá thứ nhất) Trải qua nhiều thế kỷ, nó đã phát triển trong sự giao lumật thiết với văn hoá khu vực, trớc hết là văn hoá Trung Hoa (Lớp văn hoá thứhai) Từ vài thế kỷ trở lại đây, nó đang chuyển mình dữ dội nhờ đi vào giao lungày càng chặt chẽ với văn hoá phơng Tây (Lớp văn hoá thứ ba) Dù trải qua hailần lột xác mạnh mẽ nh thế, văn hoá Việt Nam vẫn mang trong mình những nétbản sắc riêng, đó là sắc thái độc đáo mà không phải dân tộc nào cũng giữ đợc.Bản sắc đó, trớc hết đợc hình thành bởi môi trờng sống với ba đặc điểm cơbản nhất là:

Lớp "văn hoá bản địa", với cái nền Nam á và Đông Nam á(Đông Nam á

cổ đại) đã để lại cho văn hoá Việt Nam những đặc điểm quan trọng, nó đã tạonên sự tơng đồng với văn hoá các dân tộc Đông Nam á và sự khác biệt cơ bảnvới văn hoá Hán Những đặc điểm đó là:

a,Về đời sống vật chất: do nắng, nóng và ma, sông nớc nhiều nên động thựcvật có điều kiện phát triển, dẫn đến ngành kinh tế chủ đạo là nghề nông nghiệptrồng lúa nớc và chăn nuôi cùng các kỹ thuật canh tác nh cày bừa, gieo cấy Các loại thú nuôi nh trâu, bò, gà, lợn, chó, mèo, ngựa, dê Trong cơ cấu ăn thìcơ bản là cơm, rau và cá (thuỷ sản nói chung) Ngời Việt, nhìn chung, không cóthói quen ăn sữa và các sản phẩm từ sữa động vật, không có truyền thống chănnuôi đại gia súc lấy thịt, chăn nuôi chủ yếu gắn với trồng trọt và phục vụ trồngtrọt Môi trờng sông nớc đợc coi là một yếu tố đặc biệt quan trọng khi xem xét

về những vấn đề văn hoá và con ngời Việt Nam

Trong cách mặc, do khí hậu nóng bức nên ngời Việt a mặc các đồ thoángmát (váy, yếm, khố, quần lá tọa ) làm từ chất liệu thực vật (tơ tằm, đay, gai,bông) với đồ đội đầu cũng chuộng loại thoáng, mát (nón, mũ lá, mũ vải,cói ).Trong cách ở, việc chọn hớng nhà rất đợc quan tâm( thích hớng Nam vàthuật phong thuỷ) Còn đi lại thì chủ yếu là bằng đờng thuỷ

b, Một hệ quả quan trọng của văn minh lúa nớc là tính thời vụ cao và phảithờng xuyên khai khẩn đất đai mở rộng diện tích nên hình thành các giáp, phe,nậu, làng rất tự nhiên Việc cố kết cộng đồng còn do yêu cầu khách quan là phải

đối phó thờng xuyên với lũ lụt, địch hoạ Con ngời đoàn kết với nhau chặt chẽ,tạo ra ý thức tập thể, tôn ti xã hội đợc hình thành từ gia đình - họ - làng - nớc.Tính cộng đồng và tính tự trị chuyển hoá thành tinh thần đoàn kết toàn dân và ýthức độc lập dân tộc; nó dẫn tới lòng yêu nớc nồng nàn Tất cả những đặc điểmnày của văn hoá Việt biểu hiện rõ trên nhiều thành tố văn hoá xung quanh conNgời - chủ thể văn hoá Đồng thời những đặc điểm ấy phản ánh rõ trong văn học

Trang 11

dân gian về đề tài loài vật qua thành ngữ, tục ngữ, ca dao cho đến các loại truyện

- Quạ tắm thì ráo, sáo tắm thì ma

- Chuồn chuồn bay thấp thì ma, bay cao thì nắng, bay vừa thì râm

Trong những câu tục ngữ trên, ngời xa còn tìm ra không chỉ những mốiquan hệ giữa các hiện tợng thiên nhiên mà còn tổng hợp đợc cả những mốiquan hệ giã chúng với các hiện tợng trong đời sống thờng ngày và trong xãhội

Bằng chứng của lối t duy biện chứng là hệ thống triết lý âm - dơng mà biểuhiện cụ thể là lối sống quân bình, luôn hớng tới sự hài hoà - hài hoà âm dơngtrong bản thân mình (Đề phòng bệnh, chữa bệnh, sống lạc quan ), hài hoà âmdơng trong quan hệ với môi trờng tự nhiên (ăn, mặc, ở, ), hài hoà âm dơngtrong tổ chức cộng đồng và trong quan hệ với môi trờng xã hội

d, Do bản chất nông nghiệp nên sự hài hoà thiên về âm tính: trong tổ chứcgia đình thì coi trọng ngời phụ nữ, trong tổ chức xã hội thì xu thế a ổn định nổitrội hơn xu thế a phát triển Trong giao tiếp xã hội thì coi trọng tình cảm hơn lýtrí, tinh thần hơn vật chất, a sự tế nhị kín đáo hơn sự rành mạch, thô bạo ngay cả

đối với các con vật nuôi nh: trâu, bò, chó, mèo, gà, vịt Tâm lý ứng xử thì linhhoạt, mềm mại nh nớc Nói đầy đủ hơn, văn hoá Việt Nam chứa đựng sự kết hợp

kỳ diệu của các ổn định (âm) và cái linh hoạt ( dơng)

Mặt khác, do vị trí "ngã t đờng" cho nên văn hoá Việt Nam liên tục tồn tại

và phát triển trong sự giao lu, mà sự giao lu để lại nhiều dấu ấn đậm nét hơn cả

là giao lu với văn hoá Hán Đây là một cuộc giao lu hai chiều mà xét trong lịch

sử thì nó diễn ra không phải chỉ giữa Việt Nam với Trung Hoa, mà là giữa

Đông Nam á cổ đại (bao gồm cả phía Nam sông Dơng Tử) với Hoa (Hán) tộc

Trang 12

Cho tới nay, văn hoá Việt Nam đã trải qua ba lần chuyển mình, lột xác cơbản nhất: từ cơ chế "nông nghiệp - làng xã" thuần tuý bản địa, nó đã dung hợpvới văn hoá khu vực mà Trung Hoa với chế độ đẳng cấp phong kiến là chủ đạo,tạo nên một cơ chế "nông nghiệp phong kiến" làng xã Từ cái nền nông nghiệpphong kiến ấy, văn hoá Việt Nam đã hoà nhập vào dòng giao lu với phơng Tây(bớc đầu phát triển đô thị, giao thông, hình thành khoa học), rồi tiếp nhận cơ chế

"xã hội chủ nghĩa" và đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghiệp

Sự tích hợp và kế thừa liên tục làm cho văn hoá Việt Nam trở thành một sứcmạnh lớn lao, tập hợp đợc dân tộc thành một khối vững chắc biết ứng xử khéoléo với tự nhiên và luôn luôn chiến thắng những thế lực thù địch mạnh hơn mình

gấp bội Truyền thống là ổn Định, còn hiện tại là Phát Triển Sức mạnh văn hoá

hơn bốn nghìn năm đó cũng chính là động lực cho sự "phát triển" của xã hội ViệtNam ngày nay

Nghiên cứu đề tài "Hình ảnh các con vật trong tâm thức ngời Việt"( trêndẫn liệu thành ngữ, tục ngữ, ca dao), chính là một hớng đi "tìm về bản sắc vănhoá Việt Nam"(Trần Ngọc Thêm); tìm về tâm thức, đi vào tâm thức của một

cộng đồng, không ngoài mong muốn phát hiện ra những nét ổn định thuộc

truyền thống văn hoá của dân tộc, "thờng đợc biểu hiện ra ở nhiều mặt cụ thể nhphong tục, tập quán, tín ngỡng và nhiều lĩnh vực khác" (Vũ Ngọc Khánh, "Từ

điển văn hoá dân gian", NXB VHTT, Hà Nội, 2002, trang 469)

Nhìn lại "Những nét cơ bản về bản sắc của văn hoá Việt Nam" là một biểuhiện của phơng pháp nghiên cứu nhìn "diện" để hiểu "điểm", nhìn "toàn cảnh" để

thấy "cái chung" trớc khi đi vào cái riêng đó là: "Hình ảnh các con vật trong tâm thức ngời Việt".

2 Vai trò và vị thế của các con vật trong đời sống của ngời Việt:

Các con vật nói riêng, thế giới động vật nói chung có quan hệ lâu đời vớicon ngời Có thể nói, khi loài ngời xuất hiện trên trái đất thì kể từ đó, con ngời

đã đứng trớc tự nhiên, đất trời trong quan hệ với sinh giới nói chung và thế giớicác con vật nói riêng Quan hệ con ngời- con vật là quan hệ thiết thân trong máuthịt, bởi vì loài Ngời cũng ra đời từ một loài động vật bậc cao trong sự tiến hoá.Nhờ có lao động, và nhờ lao động liên tục mà bộ óc của loài vợn có sự pháttriển đột biến về chất cùng với sự phát triển của các giác quan, các chi, đã dầndần xuất hiện trên trái đất: những cá nhân, những quần thể, cộng đồng Ngời cổ

đại

Để tồn tại và phát triển, ngời cổ đại đã phải trải qua quá trình lao động hái

l-ợm, săn bắt, nghĩa là phải tìm thức ăn "mỗi thứ một tí" ngay trong môi trờng tựnhiên Với các công cụ thô sơ bằng gỗ, đá, ngời cổ đại phải khai thác tự nhiên để

có cái ăn và để duy trì sự tồn tại của mình, họ phải đối mặt với những con vật mà

ta gọi là thú dữ nh: Hổ, báo, gấu, s tử, chó sói, voi, lợn rừng, rắn, rết, cho đếnnhững con vật có vẻ hiền lành hơn nh: hơu, nai, chồn, cáo, ; những sinh vật bénhỏ nh: gà, vịt, chim, cho đến ong, kiến, ruồi, muỗi

Trong lịch sử tiến hoá của nhân loại nh ta biết, đến một thời điểm nhất định,con ngời bằng sự phát triển trí tuệ, kỹ năng lao động của mình, nhờ kinh nghiệm

Trang 13

tích luỹ đợc từ thực tiễn đã chuyển từ nền kinh tế nguyên thuỷ săn bắt, hái lợmnhờ trời, phụ thuộc hoàn toàn vào sự tự nhiên chuyển sang sản xuất nông nghiệp,trồng trọt, chăn nuôi một cách có ý thức Con ngời đã vận dụng những hiểu biếtban đầu của mình để đối mặt với thú rừng, rồi thuần dỡng chúng từ những convật hoang, thú hoang, thành vật nuôi, thú nuôi phục vụ cho đời sống của mình.Trong số này, với ngời Việt phải kể đến hệ thống các con vật gắn với đời sốngcủa c dân nông nghiệp lúa nớc nh:

- Trâu, bò, ngựa, dê, lợn, gà, vịt, chó, mèo

- Cá, tôm, cua, ốc, hến, lơn, chạch, ếch,

- Cò, cú, công, ác, ó, cuốc, vạc, sếu, khớu

- Gấu, hổ, sói, voi, cáo, khỉ,

- Kiến, ruồi, bọ ngựa, bọ chó, đom đóm, thiêu thân, rận, rệp, ve, châuchấu, bớm,

Nói đến vai trò và vị thế của các con vật đối với đời sống của con ngời, tathấy con ngời nhìn nhận con vật khá đa dạng và phức tạp Tuy vậy, có thể quy vềmấy vai trò nổi trội sau đây:

Thứ nhất là vai trò cân đối môi trờng sinh thái trong tự nhiên và xã hội.Nhiều con vật sinh sôi nảy nở (khác loài) đem cái ăn đến cho các con vật kháctheo quy luật "kiến ăn cá, cá ăn kiến", "Trời sinh voi trời sinh cỏ" Các con vậtcùng loài cũng "ăn nhau" để sống "Cá lớn nuốt cá bé"

Thứ hai, nhiều con vật đóng vai trò là "công cụ" cày, kéo để giúp con ngờitrong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp nh trâu, bò, ngựa, voi; Hoặc là làm bạnvới con ngời trong việc trông giữ nhà cửa, tài sản, cây trồng, vật nuôi, nh chó,mèo

Thứ ba, rất nhiều con vật đợc con ngời khai thác, chăm nuôi, phát triển đểntạo ra nguồn thực phẩm dồi dào phục vụ cái ăn cho chính con ngời và sản xuất,kinh doanh nhằm đem lại lợi nhuận, giá trị kinh tế cao cho xã hội nh: lợn, gà, bò,

dê, ngan, ngỗng, vịt, cá, chim,

Thứ t, một số con vật ngoài vai trò làm thức ăn, thực phẩm thì các sản phẩmcủa chúng nh: da, xơng, mật, dạ dày , đợc dùng để may quần áo, chế biến thànhnguồn thuốc chữa bệnh, bồi dỡng sức khoẻ cho con ngời nh: hơu, nai, rắn, khỉ,sấu, hổ, bò tót, rùa, nhím v.v

Thứ năm, ngoài các vai trò phục vụ đời sống cho con ngời nh đã nói, cáccon vật còn đợc con ngời thuần dỡng chăm nuôi để tạo gia cảnh, môi trờng vănhoá giải trí lành mạnh trong từng hộ gia đình hoặc các nơi công cộng nh côngviên, vờn thú, vờn quốc gia

Xét dới góc độ văn hoá tinh thần, nhiều con vật do có sự gắn bó đặc biệtvới con ngời qua nhiều năm tháng đã trở thành hình ảnh gần gũi, thân thiết in

đậm vào tâm trí con ngời Nhờ thế, một số con vật nh con trâu, con rắn, con hổ,con rùa, con dê, con khỉ, con mèo, con ngựa, , chim bồ câu, chim cú, con cò,

con cá, đã đi vào thế giới tinh thần của c dân nông nghiệp lúa nớc Việt Nam,

Trang 14

để rồi trở thành biểu tợng hoặc có ý nghĩa biểu tợng Qua nhận thức trí tuệ, tâm

hồn, đời sống tâm linh của ngời Việt, hình ảnh về một số con vật đã đợc gửi gắmngay trong biểu tợng này Trong hệ thống từ vựng, tên gọi con vật trong thànhngữ, tục ngữ, ca dao của ngời Việt về hình ảnh các con vật là khá phong phú, nó

đã góp phần thể hiện cái "đặc trng dân tộc" qua ngôn ngữ

Nhắc đến vai trò, vị thế của các con vật trong đời sống của ngời Việt với ýnghĩa là "bức tranh về thế giới khách quan" Bức tranh này đợc phản ánh vàonhận thức - t duy - ý thức trong bộ óc của con ngời và đợc "chiếu lại" trong bứctranh ngôn ngữ qua từ ngữ, hình ảnh, câu, chữ có trong thành ngữ, tục ngữ, cadao

3 Mối quan hệ Ngôn ngữ - Văn hoá nói chung và về hình ảnh các con vật nói riêng.

3.1 Quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá.

Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá đã đợc đề cập tới từ cuối thế kỷXIX, bắt đầu từ công trình của nhà ngôn ngữ học ngời Đức Wilhelm VonHumboldt Về sau, hàng loạt tác giả đã đề cập tới, xây dựng tơng đối hoàn chỉnh

về khung lý thuyết cho mối quan hệ phức tạp, nhng không kém phần hứng thúnày Ngời ta đã phân xuất ra hàng loạt đặc điểm của văn hoá và cách thức diễn

đạt văn hoá qua ngôn ngữ và bằng ngôn ngữ Dù bằng cách nào, khi lý giải mốiquan hệ này, nhất thiết phải đụng đến "bộ ba": Văn hoá - ngôn ngữ - t duy Qua

đó, chúng ta mới hiểu đợc "Bức tranh thế giới", "Mô hình thế giới", "Hình ảnhthế giới" của từng cộng đồng ngời và ngay trong từng vùng, từng khu vực củamỗi cộng đồng

Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phơng tiện giao tiếp cơ bản

và quan trọng nhất của các thành viên trong một cộng động ngời Ngôn ngữ

đồng thời cũng là phơng tiện phát triển t duy, truyền đạt, lu giữ truyền thống vănhoá - lịch sử từ thế hệ này sang thế hệ khác Những thông tin của ngôn ngữtruyền đạt không chỉ là những thông tin mang tính xã hội mà cả những thông tinphản ánh tâm t, nỗi niềm của từng cá nhân riêng lẻ Ngôn ngữ đã giúp con ngờibiểu đạt t duy, t tởng,"Không có t duy trần trụi thoát khỏi vỏ ngữ liệu"(Mác).Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và t duy đợc hiểu đầy đủ hơn khi đặt ngôn ngữ trongmối quan hệ với ý thức Đây cũng là mối quan hệ giữa các hình thức của t duy(khái niệm, phán đoán, suy lý) với các đơn vị ngôn ngữ ý thức, nh ta đã biết, làmột khái niệm có nội hàm và ngoại diên rộng hơn khái niệm t duy ở chỗ: trong ýthức, bên cạnh các quá trình nhận thức (nh cảm giác, tri giác, ký ức, tởng tợng, tduy) còn có các quá trình xúc cảm (tâm t, nỗi niềm) liên quan đến sự đánh giá,

đến các trạng thái ý chí của con ngời

Tất cả những gì ta thờng nói về các chức năng của ngôn ngữ trong mốiquan hệ với t duy, về nguyên tắc, đều có thể đợc dùng để nói đến trong mối quan

hệ với ý thức Cụ thể là những chức năng sau:

- Ngôn ngữ là hình thức tồn tại của t duy

- Ngôn ngữ là phơng tiện biểu đạt t duy

Trang 15

- Ngôn ngữ là điều kiện để con ngời thực hiện t duy.

Trong những chức năng này thì cần chú ý trớc nhất là chức năng làm hìnhthức và phơng tiện biểu đạt của ý thức và t duy Nói một cách khái quát thì ngônngữ ở đây hiện ra nh một hệ thống vật chất (các âm thanh) đợc con ngời sử dụng

để làm cái phần "thân xác" trực tiếp cho hình ảnh tinh thần về thế giới kháchquan Chính ngôn ngữ và nhờ có ngôn ngữ mà ý thức "tiềm tại" đã trở thành "thựctại"(Marx); ngợc lại, chính quan hệ với ý thức, ngôn ngữ đã không phải là mộthiện tợng thuần tuý vật chất mà là một hiện tợng "Vật chất - tinh thần"

Có thể hiểu t duy nh là hoạt động trí tuệ của con ngời Nh vậy, ngôn ngữcòn đảm nhiệm chức năng làm công cụ hoạt động trí tuệ Để thực hiện hoạt độngnày, con ngời phải có một tổng thể tri thức đạt đợc trong quá trình nhận thức thếgiới khách quan Ngôn ngữ chính là phơng tiện chủ yếu tàng trữ những tri thức

ấy và nhờ ngôn ngữ mà con ngời có thể truyền thụ tri thức từ đời này qua đờikhác, từ nơi này sang nơi khác, đến tận từng cá thể Không phải ngẫu nhiên màmột số nhà nghiên cứu gần đây nói đến những chức năng nh chức năng bảo tồncác kinh nghiệm lịch sử - xã hội, chức năng phản ánh những đặc thù văn hoá dântộc, v.v của ngôn ngữ

Đề tài "Hình ảnh các con vật trong tâm thức ngời Việt "(trên dẫn liệu thànhngữ, tục ngữ, ca dao) của chúng tôi cũng đi theo hớng căn cứ vào chức năng

"Bảo tồn các kinh nghiệm lịch sử - xã hội " ở trên Ngày nay, các nhà nghiêncứu đã nói về chức năng là công cụ t duy của ngôn ngữ bằng cách nói khái quáthơn về chức năng này: "Chức năng nhận thức", "Chức năng phản ánh" của ngônngữ

Trong mối quan hệ: ngôn ngữ - ý thức(t duy) - thực tại khách quan, các nhànghiên cứu đều hiểu cả hai chiều của các quan hệ này Trong đó, quan hệ ngônngữ - thực tại khách quan đợc xem xét khá thấu đáo

ý thức, nh ta đã biết là hình thức phản ánh tâm lý cao cấp về thế giới kháchquan: là hình ảnh chủ quan, hình ảnh tinh thần về thế giới đó; là "tồn tại đợcnhận thức" Nội dung của ý thức, xét cho cùng, là do thế giới khách quan quy

định

Ngôn ngữ đã có quan hệ với ý thức thì tất yếu phải có quan hệ với cái cộinguồn của ý thức là thực tại khách quan Và điều quan trọng ở đây là nh Marxtừng nhấn mạnh: "Không phải t tởng, không phải ngôn ngữ tự nó tạo ra một vơngquốc đặc biệt, mà chúng chỉ là sự thể hiện của thực tế cuộc sống"(K.Marx và F

Ănghen toàn tập, T.449)

Nh vậy, vấn đề ngôn ngữ và ý thức phải đợc đặt trong một vấn đề riêng lớnhơn, vào cái thế bộ ba: "Ngôn ngữ - ý thức (t duy) - thực tại khách quan", mộttrong những thể hiện của nó rất quen với chúng ta là: "Từ - khái niệm - sự vật".Hiểu thật đầy đủ, thì trong mối quan hệ giữa ngôn ngữ và thực tại khách quan,ngôn ngữ hiện ra nh một công cụ để "cấu trúc hoá", "mô hình hoá" thực tạikhách quan (ngôn ngữ trong mối quan hệ với văn hoá) Chẳng hạn cùng một hiệntợng thiên nhiên nh ánh sáng bảy màu, cùng một khả năng cảm thụ thị giác ởmỗi cộng đồng ngời, nhng khi phản ánh qua ngôn ngữ cụ thể (nguồn gốc, loại

Trang 16

hình), các từ biểu thị của từng tộc ngời về những màu ấy ít nhiều có khác nhau.

Điều này một mặt, cắt nghĩa bằng tính chất chủ động và có định hớng trong hoạt

động phản ánh của con ngời, mặt khác, bằng tính chất xã hội của ý thức: "ý thức

là sự phản ánh thực tại, dờng nh bị khúc xạ qua lăng kính của các ý nghĩa ngônngữ, của các khái niệm, đợc hình thành nhờ xã hội"(27,T65)

Nh vậy, để hiểu thấu đáo vấn đề ta phải xem xét đến mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá.

Nói về khái niệm văn hoá, giáo s Phạm Đức Dơng có nhận xét: "Nếu nh tahiểu văn hoá là tất cả những gì do con ngời sáng tạo ra trong quá trình ứng xửvới tự nhiên và xã hội thì mọi cái liên quan đến con ngời đều có mặt văn hoá của

nó Chả thế mà ngày nay chúng ta có tới mấy trăm định nghĩa về văn hoá, vàtrong khoa học nhân văn không có một khái niệm nào lại mơ hồ nh khái niệmvăn hoá "(51, T.4,5) Sau đây là một số định nghĩa và quan niệm về văn hoá đợcchúng tôi chú ý:

"Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con

ng-ời sáng tạo ra và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tơng tác giữacon ngời với môi trờng tự nhiên và xã hội của mình"(51, T.25)

"Văn hoá là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do conngời sáng tạo ra trong quá trình lịch sử"(20, T.1062)

"Văn hoá hôm nay có thể coi là một tổng thể những nét riêng biệt tinh thần

và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của mộtnhóm ngời trong xã hội"(Unexco)

"Dân tộc nào cũng có văn hoá, vì bất kỳ cái gì ta hình dung cũng có mặtvăn hoá, dù đó là cây cối, khí trời đến phong tục tập quán, cách tổ chức xã hội,các hoạt động sản xuất vật chất và tinh thần(trong đó có ngôn ngữ - L.T.H nhấnmạnh), các sản phẩm của hoạt động ấy "(28,T.114)

"Văn hoá là tất cả những gì do con ngời sáng tạo ra, khác hẳn hoàn toàn vớinhững gì do thiên nhiên cung cấp" "Một con ngời có văn hoá là con ngời hiểubiết, yêu thích sáng tạo và có nhân cách tốt đẹp (29, T.131)

Khi nhắc tới đặc điểm của một dân tộc thì không thể không nhắc tới vănhoá, có thể nói khác đi, chính văn hoá, là một bộ phận quan trọng hợp thành đặc

điểm dân tộc Còn ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu với chức năng quan trọngnhất của mình là phơng tiện giao tiếp, nó chính là chiếc cầu bắc qua giữa các dântộc có nền văn hoá khác nhau, mở rộng giao lu, trao đổi văn hoá giữa các cộng

đồng ngời Dù diễn đạt bằng cách nào, ngôn ngữ cũng là thành tố của văn hoá

-đúng ra là thành tố quan trọng của văn hoá, phơng tiện của văn hoá, làm tiền đề cho văn hoá phát triển.

Xét trong mối quan hệ ngôn ngữ - văn hoá - t duy, vài thập kỷ trở lại đây,các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều đến nội dung, ngữ nghĩa của ngôn ngữ Bứctranh ngữ nghĩa - văn hoá của từng cộng đồng ngời, tức là "mô hình thế giới",

"bức tranh thế giới", "sự phân cắt thế giới" đợc phân chia khác nhau giữa các dântộc và ngay trong cùng một cộng đồng ngời

Trang 17

Humboldt cho rằng: "Tinh thần dân tộc" sáng tạo ra ngôn ngữ Sự sáng tạonày đợc hiểu nh sự biểu hiện đồng thời suy nghĩ bằng ngôn từ và sáng tạo ngônngữ.

Giữa các dân tộc khác nhau tồn tại sự khác nhau rất lớn về trình độ văn hoá,xuất hiện khả năng giải thích trình độ văn hoá cao hay thấp bằng tính chất của tduy dân tộc, bằng tinh thần dân tộc Mỗi một loại ngôn ngữ phù hợp với một loạinhận thức hình thái của nó và tơng ứng với nó là một loại t duy ngôn ngữ "Mức

độ phát triển văn hoá dân tộc phụ thuộc vào t duy ngôn ngữ và cấu trúc ngônngữ"( 29, T.132)

Trong mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá cần chú ý luận điểm "Tính

t-ơng đối ngôn ngữ" của hai học giả Mỹ E Sapir - Wholf : "Tôi cũng không thể tinrằng, văn hoá và ngôn ngữ có quan hệ nhân quả với nhau theo bất kỳ cái nghĩa

đúng thật nào Văn hoá có thể định nghĩa là cái mà một xã hội làm và suy nghĩ Còn ngôn ngữ là một phơng pháp đặc biệt để t duy Tởng không cần nói rằng chỉ có nội dung của ngôn ngữ mới liên quan mật thiết đến văn hoá Trong ý

nghĩa là từ vựng của một ngôn ngữ phản ánh ít nhiều trung thành với cái nền văn

hoá mà ngôn ngữ đó phục vụ, thì một điều hoàn toàn đúng là lịch sử của ngôn ngữ và lịch sử của văn hoá chuyển động theo những đờng song song" (28,

T.103) Hoá ra, trong ngôn ngữ thế giới có hiện tợng cái có tác dụng và đẹp đẽtrong một ngôn ngữ này có thể bị coi là một thói xấu trong một ngôn ngữkhác." Tiếng Anh cho phép, thậm chí còn đòi hỏi một sự lỏng lẻo mà sự lỏnglẻo này có thể coi là vô vị trong tiếng Trung Quốc Và tiếng Trung Quốc vớinhững từ bất biến và trật tự chặt chẽ của nó, có một sự gọn ghẽ trong câu, một

sự đối ngẫu chỉnh tề, và một tính hàm súc kín đáo cao, thế là sâu sắc, quá "Toánhọc" đối với tiếng Anh" (28, T.103)

Nhà ngôn ngữ học này còn nói: "Quan niệm của mỗi dân tộc về thế giới đợckhúc xạ độc đáo trong bức tranh ngôn ngữ của mình Bức tranh ngôn ngữ ấy lại

có ảnh hởng trở lại đến sự tri giác đặc thù đối với hiện thực của những ngờithuộc cộng đồng văn hoá ngôn ngữ tơng ứng"(T.L.Đ.D)

Tóm lại, "Ngôn ngữ và văn hoá quan hệ khăng khít với nhau Quan hệ

đó vô cùng chặt chẽ tới mức ta không thể hiểu và đánh giá đúng đ ợc cái nàynếu không có kiến thức về cái kia và ngợc lại"(29, T.133)

P.G.S Nguyễn Nhã Bản nhận xét rằng: trong ngôn ngữ học thế giới có xu ớng khá phổ biến là nghiên cứu văn hoá tơng tự nh nghiên cứu ngôn ngữ (Văn hoá

h-đợc xem nh một tổng thể các hệ thống tín hiệu; Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu

đặc biệt và quan trọng nhất của loài ngời) Song ngôn ngữ vốn là thành tố độc lậpcủa văn hoá, chiếm vị trí đặc biệt của nền văn hoá dân tộc Nói cách khác, ngônngữ là một trong những thành tố đặc biệt nhất, rõ ràng nhất của bất kỳ nền vănhoá nào

Tóm lại, "Ngôn ngữ và văn hoá quan hệ khăng khít với nhau Quan hệ

đó vô cùng chặt chẽ tới mức ta không thể hiểu và đánh giá đúng đ ợc cái nàynếu không có kiến thức về cái kia và ngợc lại"(29, T.133)

Trang 18

Ngôn ngữ là chỗ lu giữ và thể hiện rất rõ đặc điểm của văn hoá - "Ngôn ngữcủa một dân tộc đã thực hiện chức năng đặc trng dân tộc"(A.G.Agaev) Ngoài ra,ngôn ngữ còn có vai trò quan trọng khác - nhân tố chính thống nhất và phân hoádân tộc Thế giới biểu tợng và thế giới thực tại đợc thể hiện thành những kiểu lựachọn riêng của mỗi cộng đồng và cá nhân so với cộng đồng và cá nhân khác Nétkhác biệt của tất cả các kiểu lựa chọn làm cho các nến văn hoá khác nhau là độkhúc xạ Tất cả mọi cái mà dân tộc này sáng tạo, hay tiếp thu đều có một độkhúc xạ riêng, có mặt ở mọi lĩnh vực và rất khác độ khúc xạ ở dân tộc khác.Chính ngôn ngữ đã hàm chứa trong mình nhiều điều bí ẩn khó giải thích, phảigiải thích bằng cách khác Ví nh, ngày trớc ở Việt Nam các thầy đồ Nho thờngdạy học trò: ngu (trâu), mã (ngựa), dơng (dê), khuyển (chó) ("Ngu" là con trâu,

"Mã" là con ngựa, ) Với tiếng Hán thì "Ngu" là con bò, nếu gọi tên con trâu(nh ngời Việt quan niệm) thì họ phải nói và viết là

("Thuỷ ngu" - ngu chịu nớc), còn gọi tên con bò (nh ngời Việt quanniệm) thì nói, viết là ("Hoàng ngu" - ngu màu vàng)

Các ngôn ngữ khác nhau có thể dùng các vỏ âm thanh khác nhau để địnhdanh một sự vật nào đó là chuyện bình thờng Ví nh các tiếng Nga, Anh chỉdùng vỏ âm thanh "Rix", "Rice" để diễn đạt hàng loạt khái niệm khác nhaucủa tiếng Việt xung quanh các sản phẩm của "lúa" nh : "lúa", "thóc", "cơm",

"nếp", "gạo", "cám", "trấu", "tấm" Còn trong nội dung ý thức ngôn ngữ củacác từ trong các ngôn ngữ khác nhau cùng nói về một sự vật đã gợi ra những ýnghĩa rất khác nhau, nhiều khi đối lập nhau "Con rồng" đợc ngời phơng Tây

so với ác quỷ, tội ác(nh rắn) Trong khi đó, ngời Việt và ngời phơng Đông nóichung lại coi(biểu tợng con rồng) là biểu tợng của quyền uy rực rỡ, tối thợng,cao đẹp

Có thể kể ra rất nhiều trờng hợp nữa về các đặc trng dân tộc trong ngônngữ, nh các từ xng hô, chào hỏi trong giao tiếp; sự phân cắt thời gian, khônggian; Trờng từ vựng chỉ màu sắc cũng nh kiểu lựa chọn biểu tợng,v.v khácnhau giữa các cộng đồng ngôn ngữ

3.2 Hình ảnh các con vật trong mối quan hệ Ngôn ngữ - Văn hoá.

Bàn về mối quan hệ Ngôn ngữ - Văn hoá, từ góc độ ngôn ngữ học, Giáo s

Lý Toàn Thắng cho biết: "Theo nhiều nhà nghiên cứu, mối quan hệ giữa văn hoá

và ngôn ngữ, nói một cách khái quát, bộc lộ ra trong ba phơng diện sau:

a Ngôn ngữ biểu hiện (express) hiện thực văn hoá

b Ngôn ngữ là hiện thân (embody) của hiện thực văn hoá

c Ngôn ngữ biểu trng (symbolize) hiện thực văn hoá

Bởi vậy, khi bàn đến bản sắc văn hoá Việt Nam, rõ ràng là không thể không

đề cập đến vấn đề ngôn ngữ, đến tiếng Việt và các ngôn ngữ dân tộc thiểu số anh

em khác."(26, T.99)

Trong những nghiên cứu ngôn ngữ học có liên quan đến vấn đề văn hoá, cóthể nhận thấy một điểm khá chung là: thông thờng vấn đề này không đợc khảosát "tay đôi" giữa ngôn ngữ và văn hoá, mà đợc đặt trong cái thế "bộ ba": Ngônngữ - Văn hoá - nhận thức (tựa nh ngôn ngữ - t duy - thực tại khách quan) Sau

Trang 19

đây là những căn cứ để đặt ra việc nghiên cứu văn hoá, ngôn ngữ, nhận thứctrong cái thế "bộ ba" đó:

1 Các ngôn ngữ tự nhiên đều có những cách thức riêng trong việc tổ chức

các tài liệu ngữ nghĩa

2 Trong ngữ nghĩa của mỗi ngôn ngữ (tự nhiên) đều có phản ánh một cách

thức cảm thụ và ý niệm hoá thế giới - một "cách nhìn", "cách nghĩ" về thế giớicủa ngời bản ngữ, ràng buộc mọi thành viên trong cộng đồng văn hoá - ngôn ngữ

đó, thờng đợc gọi là "mô hình thế giới", "bức tranh thế giới", "hình ảnh thế giới"hay "biểu tợng về thế giới"(ngây thơ, đời thờng)

3 Mỗi mô hình nh thế - ngoài cái chung, cái phổ quát - có cái riêng, cái

đặc thù, ứng với từng ngôn ngữ và phản ánh một cách tri giác, một cách nhận

thức về thế giới của dân tộc ấy(không giống với dân tộc khác), đợc gọi là cách nhìn thế giới.

Những luận điểm đợc coi là "căn cứ" ở trên chính là những tri thức tóm lợc

từ các lý thuyết ngôn ngữ của Humboldt, E Sapir và Whorf (các nhà ngôn ngữhọc của châu Âu và châu Mỹ) G.S Lý Toàn Thắng nêu lên: "Vấn đề là ở chỗcách thức giải thích vì sao có sự khác nhau trong cấu trúc ngữ nghĩa của cácngôn ngữ và cái gì giữ vai trò quyết định ở đây: t duy - nhận thức hay ngôn ngữ,văn hoá, điều kiện môi sinh?"(26, T.85)

Nói đến văn hoá - dù hiểu rộng hay hiểu hẹp - trong định nghĩa của nó baogiờ cũng chú trọng đến "nét riêng biệt" và về mặt tinh thần, mặt tâm lý giữa cácdân tộc Hay nói cách khác, đó là "lối nghĩ riêng", "cách t duy riêng" của dân tộc

đó về các sự vật, hiện tợng của thế giới xung quanh, của tự nhiên, của xã hội vàcon ngời ở đất nớc đó, lãnh thổ đó

Vậy thì ở đâu ta có thể tìm đợc những biểu hiện của lối nghĩ ấy, cách t

duy ấy? Chúng ta chỉ có thể tìm "đáp số" của các câu hỏi trên bằng cách thống kê, tìm hiểu mặt nội dung của ngôn ngữ vì chức năng của ngôn ngữ là

phơng tiện của t duy và giao tiếp, tổ chức xã hội, tàng trữ các giá trị của nềnvăn hoá dân tộc Các Mác đã từng khẳng định: "Hiện thực trực tiếp của t tởng

là ngôn ngữ"

Đi sâu thêm nữa thì đó trớc hết là ngữ nghĩa của các từ Nhà tâm lý họcngôn ngữ ngời Nga đã từng viết: "Nghĩa (của từ) đồng thời là ngôn ngữ và t duyvì nó là đơn vị của t duy = ngôn ngữ"(Vgotxki, 1997, T.99) Từ đây chúng ta cóthể khẳng định không thể nghiên cứu mối liên quan giữa bản sắc văn hoá vớingôn ngữ mà lại bỏ qua vấn đề nhận thức, vấn đề t duy của những ngời thuộccùng một cộng đồng văn hoá ngôn ngữ đang đợc xem xét

"Cách t duy", "phong cách t duy", "lối nghĩ" của một dân tộc đợc coi là mộtthuộc tính văn hoá và là nội dung chủ yếu của mọi giả thuyết nổi tiếng trongngôn ngữ học đã đợc nhắc đến ở trên; giả thuyết "về tính tơng đối của ngôn ngữ"

- nguyên lý E Sapir - Whorf Giả thuyết này thờng đợc diễn đạt theo hai biến thể

"mạnh", "yếu" trong đó, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ thừa nhận biến thểyếu(không cực đoan đến mức cho rằng ngôn ngữ quyết định tất cả): Ngôn ngữphản ánh những giới hạn và những ràng buộc về văn hoá đối với lối nghĩ của dân

Trang 20

tộc, thể hiện trong cái cách mà ngôn ngữ đó chia cắt hiện thực và phạm trù hoákinh nghiệm.

Qua bài giảng của mình cho học viên Cao học, bằng sơ đồ hình vẽ, giáo s

Lý Toàn Thắng đã mô tả ba bức tranh: "Bức tranh về thế giới khách quan", "Bứctranh ý niệm về thế giới ở trong đầu óc con ngời" và "Bức tranh ngôn ngữ" Baphạm trù(bức tranh) này có quan hệ biện chứng với nhau nhng không thể đồngnhất theo "cặp".Có thể hình dung về mối quan hệ của "ba thế giới" ở đây nh sau:

"thế giới khách quan"(thế giới vật chất của các sự vật, hiện tợng) khi đợc phản

ánh vào trong đầu óc con ngời, trở thành thế giới tinh thần - thế giới của các hình

ảnh, khái niệm, biểu tợng và bức tranh thế giới tinh thần đó đợc biểu đạt trongngôn ngữ thông qua ý nghĩa của các từ ngữ

Muốn nghiên cứu "Bức tranh ý niệm về thế giới" trong ý thức con ngời - tduy, nh vậy là phải khảo sát "Bức tranh ngôn ngữ về thế giới"(Ngôn ngữ tựnhiên) Khi làm công việc này, chúng ta sẽ thấy có "độ vênh" giữa các ngôn ngữ,tức là cái thực tại đợc phản ánh trong ý thức có bị "khúc xạ" qua lăng kính củacác ý nghĩa ngôn ngữ" (A.N.Leontev, 1965) Nhà ngôn ngữ học jackendoff đềnghị gọi cái thế giới đợc biểu đạt trong ngôn ngữ đó là "Thế giới đợc chiếu lại"

Và khi nghiên cứu "Bức tranh thế giới trong ngôn ngữ"(thế giới đợc chiếu lại)này phải tiến hành khảo sát những phạm vi ngữ nghĩa trong đó thể hiện:

- Cách chia cắt thế giới

Cách thức, phạm trù hoá kinh nghiệm của một cộng đồng văn hoá ngôn ngữ (một dân tộc cụ thể - L.T.H nhấn mạnh) Thông th ờng, đó là phạm vi

-nh chúng tôi đã nói ở trên: Sự tri -nhận không gian, thời gian; tri -nhận dân gian

về động vật; những từ chỉ các bộ phận cơ thể ngời; v.v (liên quan đến chủ thểtri nhận thế giới) Mặt khác, khi nghiên cứu nghĩa của từ, phải chú ý khảo sátcả ba phơng diện: từ vựng - ngữ nghĩa, nghĩa liên hội (dụng học) và ngữ âm(hình âm)

Từ nhận thức cụ thể về mối quan hệ Ngôn ngữ - Văn hoá cũng nh tơng

quan: ngôn ngữ - ý thức (t duy) - thực tại khách quan ở trên, ta trở về với "Hình

ảnh con vật trong tâm thức ngời Việt" (trên dẫn liệu thành ngữ, tục ngữ, ca dao)

để thấy rõ đợc "cách chia cắt thế giới động vật", "cách phạm trù hoá kinhnghiệm" của cộng đồng dân tộc Việt, cách phân loại dân gian về động vật cũng

nh "kiểu lựa chọn riêng", "độ khúc xạ", "điều bí ẩn" của ngời Việt trong ứng xửvới các con vật

P.G.S Nguyễn Nhã Bản cho rằng: "ở Việt Nam, có những con vật đã gắnchặt với cuộc sống của c dân văn hoá lúa nớc Điều này đợc phản ánh trong cácthành ngữ, tục ngữ: "Chim gà, cây cau, rau cải, nhân ngãi vợ, đầy tớ con", "Bắtcá hai tay", "Bìm bịp bắt gà trống thiến", "Cà cuống lộn ngợc", "Cà cuống chết

đến đít còn cay", "Cá chép hoá long"(rồng), "Cá bể chim lồng", "Cá chuối đắm

đuối vì con", "Cá lớn nuốt cá bé", "Cá nằm trốc thớt", "Cá nớc chim trời", "Chăntằm hái dâu cũng bồ nâu áo vải", "Chém rắn đuổi hơu", "Chim lồng cá chậu",

"Chim sa cá nhảy", "Chim đậu chẳng bắt, bắt chim bay", "Nuôi ong tay áo" (28, T.336)

Trang 21

Và trong ca dao của ngời Việt:

- " Con cò chết rũ trên cây

Bồ cu mở lịch xem ngày làm ma

Cà cuống uống rợu la đàBao nhiêu ếch nhái nhảy ra chia phầnChào mào thì đánh trống quânChim chích mặc quần đi đánh mõ rao"

- " Con mèo mày trèo cây cauHỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhàChú chuột đi chợ đờng xaMua mắm mua muối giỗ cha con mèo"

- " Con mèo đánh giặc đông tâyCon voi nằm bếp ỉa đầy nồi rang"

- " Vóc rồng thì để hầu vuaVải thô lụa xấu thì chừa cho dân"

- " Quả chua ai thấy chả thèm

Em cho chị mợn chồng em vài ngàyChồng em có phải trâu cày,

Mà cho chị mợn cả ngày lẫn đêm"

Thế giới động vật nói chung, các con vật nói riêng nằm trong "bức tranh vềthế giới khách quan" Còn "hình ảnh các con vật trong tâm thức ngời Việt" lạinằm trong "Bức tranh ý niệm về thế giới" ở trong đầu óc con ngời Đó là thế giớicủa các khái niệm, biểu tợng, hình ảnh về các sự vật, con vật có thực hoặc không

có thực ngoài đời Bên cạnh các con vật thực tạo nên hình ảnh thực qua hiểu biết,nhận thức của con ngời, còn có hình ảnh về các con vật có thể là không có thựcnhng đợc tởng tợng từ những con vật mẫu trở thành biểu tợng linh thiêng nh conRồng, con Giao long hoặc "S tử Hà Đông" trong tâm thức ngời Việt

Nh vậy, muốn tìm hiểu tâm thức ngời Việt về hình ảnh các con vật trên dẫnliệu ngôn ngữ (thành ngữ, tục ngữ, ca dao) phải khảo sát "bức tranh ngôn ngữ",bức tranh từ vựng - ngữ nghĩa xung quanh hình ảnh các con vật để qua đó pháthiện cho đợc "cách nhìn", "cách cảm", "cách nghĩ", hay nói cách khác là cách tduy của ngời Việt về các con vật

4 Về các khái niệm liên quan đến đề tài: tâm thức, thành ngữ, tục ngữ,

ca dao

4.1 Khái niệm Tâm thức

"Tâm thức" là một từ ghép Hán Việt đợc dùng để chỉ một khái niệm khátrừu tợng mà việc xác định nội hàm và ngoại diên của nó, cho đến nay cha thậtthống nhất Nhng việc dùng từ "tâm thức", sử dụng nội dung khái niệm tâmthức thì lại rất phổ biến trong giới nghiên cứu, nhất là trong vòng hai thập kỷtrở lại đây khi vấn đề "bản sắc văn hoá dân tộc" đợc dụng công nghiên cứu và

đề cao

Trang 22

Có thể kể tên một loạt bài nghiên cứu có dùng hai chữ "tâm thức" hoặc là

đụng đến nội hàm của khái niệm này "Con trâu trong tâm thức ngời Việt (quatục ngữ, ca dao)" của Phạm Văn Thấu (47 T.11); "Vua Hùng trong đời sống tâmlinh ngời Việt" của Vũ Ngọc Khánh (58, T.58); "Vấn đề tâm thức dân gian quamột số phim truyện Việt Nam" của Phan Bích Hà (48, T.68); "Tâm thức văn hoádân gian trong thơ Phan Bội Châu" của Nguyễn Đức Can (31, T.24); "Đi tìmphong cách t duy của ngời Việt" của Huyền Giang (22, T.85); "Con rắn trongtâm thức ngời Việt (qua thành ngữ, tục ngữ)" của Trí Sơn (55, T.29); Con hổtrong tâm thức ngời Việt

Trong loạt bài nghiên cứu tâm thức của ngời Việt về các sự kiện văn hoá ởtrên, chúng tôi nhận thấy "tâm thức" đợc các tác giả quan niệm là "lối t duy",

"cách t duy", "phong cách t duy" - từ tơng ứng của "tâm thức" trong tiếng Pháp

là "Mentalité", đợc Petit Rôbert định nghĩa là "Trạng thái tinh thần, những nănglực tâm lý hay đạo đức" - "Nhng tôi muốn hiểu khái niệm này một cách hẹp hơn

nh đã nói ở trên"(Huyền Giang, T.L.Đ.D) "Tâm thức" có liên quan đến "đặc

tr-ng t duy của dân tộc"(Trí Sơn, T.L.Đ.D) Đọc toàn bộ bài viết của của HuyềnGiang, chúng tôi nhận thấy tác giả nhìn nhận "tâm thức" nh là những thói quen

đờng mòn, hằng số, đặc tính trong t tởng, t duy, phong cách t duy của một cộng

đồng dân tộc

Với Vũ Ngọc Khánh, thì tâm thức đợc hiểu rộng hơn: bên cạnh yếu tố trítuệ, nhận thức, tri thức, kinh nghiệm, trải nghiệm còn có yếu tố tâm linh Ví nhviệc thờ các vua Hùng của ngời Việt Ông cho rằng: "Nói đến cuộc sống tâmlinh, chúng ta dễ dàng nghĩ đến những phần sâu lắng của con ngời, tiếp cận vớimột thế giới thiêng liêng, xa lạ nhng rất gần gũi, mơ hồ nhng rất cụ thể tạo chocon ngời một niềm tin huyền bí, thiêng liêng, tởng là siêu hình nhng vẫn thiếtthực trong cảm nhận"(Vũ Ngọc Khánh, T.L.Đ.D)

Xác định khái niệm tâm thức và tâm thức folklore, giáo s Vũ Ngọc Khánh

có nhận xét đánh giá: "Nói đến tâm thức folklore thờng là nói đến tâm thứcchung của dân tộc, tức là nói đến cộng đồng trên một môi trờng sinh sống trảiqua nhiều thử thách trong xã hội và thiên nhiên, nhiều ảnh hởng của giao lu qualại, nhiều kinh nghiệm ứng xử lâu đời Tất cả cùng phát triển, hoà hợp, lặp đi lặplại hoặc biến hoá thay đổi, với thời gian sẽ tạo nếp chung trong sinh hoạt tinhthần và vật chất của con ngời Những tầng văn hoá nổi tiếng hoặc chồng chất lênnhau tạo cho cả cộng đồng đó một dấu hiệu quen thuộc, có cảm tởng là ổn địnhtrong ý thức, trong tâm t và thờng xuyên đợc biểu hiện ra ở nhiều mặt cụ thể nhphong tục tập quán, tín ngỡng và nhiều lĩnh vực khác Nhận biết đợc những tínhcách dân tộc này so với dân tộc kia là căn cứ vào những biểu hiện ý thức vànhững ứng xử văn hoá này Nói tâm thức là nói cả ý thức (trong đó có t duy - LêTài Hoè nhấn mạnh), tâm t, tình cảm Tất cả những điểm ấy có thể quy vào mộtkhái niệm chung: tâm thức folklore dân tộc."(57, T.469)

Nói cho cùng thì tục ngữ, ca dao và ngay cả thành ngữ nữa cũng không nằmngoài phạm trù văn hoá dân gian (folklore) của dân tộc Tìm hiểu hình ảnh cáccon vật trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao, chúng ta sẽ có điều kiện nhận diện các

Trang 23

đặc trng t duy, phong cách t duy, ý thức, tâm t, tình cảm của ngời Việt - tức tâmthức folklore của tộc ngời Việt.

Cuối cùng, để chốt lại nội dung khái niệm tâm thức, chúng tôi xin đợc nêu

định nghĩa ngắn gọn, bao quát nhất của từ điển tiếng Việt: "Tâm thức(danh từ) làtình cảm và nhận thức" Ví dụ: "điều dần dần ăn sâu vào tâm thức trẻnhỏ"(20,2002, T.897)

Tâm thức của một dân tộc trớc các hiện tợng, sự kiện văn hoá, nh vậy là gắn liền với bản sắc văn hoá dân tộc trong thế vừa "ổn định" vừa "phát triển",

-đồng thời thể hiện rõ nhất qua tiếng mẹ đẻ - ngôn ngữ của dân tộc - thành tố vănhoá quan trọng nhất mang đặc trng t duy dân tộc

4.2 Phân biệt các khái niệm: thành ngữ, tục ngữ, ca dao

Đề tài "Hình ảnh các con vật trong tâm thức ngời Việt" đợc thực hiện trêndẫn liệu thành ngữ, tục ngữ, ca dao Với 3 đối tợng làm dẫn liệu ngôn ngữ này,trong thực tế sử dụng cũng nh trong nghiên cứu khoa học, ngời ta thờng đặt

thành ngữ bên cạnh tục ngữ, đặt tục ngữ bên cạnh ca dao để so sánh về các mặt:

nội dung, hình thức, chức năng của chúng

Nh mục đích của luận văn là tìm hiểu "Hình ảnh của các con vật trong tâmthức ngời Việt", việc nhận diện, phân biệt các khái niệm vừa đợc nói đến chỉ cótính chất làm rõ bản chất của các hình thức ngôn ngữ, văn chơng nh là các phơngtiện chuyển tải nội dung của "Tâm thức về con vật"

4.2.1 So sánh phân biệt: thành ngữ và tục ngữ

Đọc lại lịch sử vấn đề phân biệt thành ngữ và tục ngữ với những đóng gópcủa các nhà nghiên cứu văn học dân gian cũng nh các nhà nghiên cứu ngôn ngữ

từ Chu Xuân Diên, Đinh Gia Khánh, Lê Chí Quế cho đến Nguyễn Văn Mạnh,

Cù Đình Tú, Nguyễn Thiện Giáp, Đỗ Hữu Châu , chúng tôi nhận thấy có thểphân biệt thành ngữ và tục ngữ với những tiêu chí tổng hợp sau:

a, Về nội dung ý nghĩa

Nội dung của thành ngữ là nội dung của khái niệm ý nghĩa mà thành ngữbiểu thị là nghĩa bóng toát ra từ toàn bộ kết cấu chứ không phải suy ra từ ý nghĩacủa mỗi thành tố Ví nh thành ngữ: "ăn chó cả lông" biểu thị nghĩa: "Chê những

kẻ tham lam vơ vét tất cả, không bỏ thứ gì"(38, T.12); hoặc thành ngữ: "đứt đuôicon nòng nọc" ý nói: "chắc chắn là thế, không thể khác đợc" Rõ ràng thành ngữ

là những đơn vị có nghĩa "Hình tợng và gợi cảm"(Nguyễn Thiện Giáp, Vũ ĐứcNghiệu) đồng thời nó cũng mang "Tính biểu trng, tính dân tộc, tính hình tợng cụthể và tính biểu thái"(Đỗ Hữu Châu)

Nội dung của tục ngữ là nội dung của phán đoán Tục ngữ nêu lên một kinhnghiệm sâu sắc, một nhận định cụ thể, một phơng châm xử thế, một quan niệm,một kết luận Vì vậy, ý nghĩa của tục ngữ có thể suy ra từ ý nghĩa của các thành

tố Ví nh câu tục ngữ: "Muốn ăn cá, phải thả câu"(vừa có nghĩa đen vừa có nghĩabóng, đợc dùng theo nghĩa bóng) nêu một nhận định cụ thể: "Muốn đợc hởngquyền lợi thì phải tốn công sức"(38, T.208); hoặc câu tục ngữ: "Làm ruộngkhông trâu, làm giàu không thóc": "Nói lên tầm quan trọng của con trâu đối với

Trang 24

nhà nông, chẳng khác gì thóc là biểu hiện của sự giàu có ở nông thôn"(38,T.169).

b, Về chức năng

Thành ngữ có chức năng định danh (gọi tên một khái niệm, một hình ảnh,một trạng thái) và chỉ là một bộ phận cấu tạo nên câu Ví nh: "Chỉ buộc chânvoi" là một thành ngữ để "gọi tên" một việc làm vô bổ: "Việc làm cho phải phép,cho đúng thủ tục, chứ thực chất chẳng chắc chắn, chẳng ăn thua gì"(37, T.154).Thành ngữ trên khi sử dụng vào lời nói, trong câu, chỉ đợc coi nh một đơn vị từvựng, nh từ: "Nó che chắn kín nhẽ cả rổi, bầy giờ lập ban thanh tra thì có ănnhằm gì, chẳng qua là "chỉ buộc chân voi" mà thôi."(37, T.154)

Khác với thành ngữ, tục ngữ có chức năng thông báo(diễn đạt một ý trọnvẹn) Ví nh: "Còn gà trống, gà mái thì còn gà giò" diễn đạt trọn vẹn một ý: "còn

điều kiện cần thiết thì còn có thể phát triển"; hoặc: "Không có cá, lấy cua làmtrọng" diễn đạt ý: "Có thứ gì dùng thứ ấy, không đòi hỏi kén chọn"(38, T.161)

c, Về hình thức cấu tạo (ngữ pháp)

Thành ngữ có cấu tạo ngữ pháp của một cụm từ cố định (phân biệt với từghép, cụm từ tự do), có kết cấu bền vững, rất khó đảo tố

Trái lại, hầu hết tục ngữ có cấu tạo của một câu

Để chốt lại nội dung hai đơn vị thành ngữ và tục ngữ, chúng tôi xin đợc nêudẫn các định nghĩa trong từ điển chuyên ngành:

"Thành ngữ là cụm từ hay ngữ cố định, có tính nguyên khối về ngữ nghĩa,tạo thành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung khác tổng số ý nghĩa củacác thành tố cấu thành nó, tức là không có nghĩa đen và hoạt động nh một từriêng biệt ở trong câu"(36, T.271)

"Tục ngữ là một thể loại văn học dân gian mà chức năng chủ yếu là đúcrút kinh nghiệm, tri thức dới hình thức những câu nói ngắn gọn, súc tích, giàuvần điệu, hình ảnh, dễ nhớ, dễ truyền"(23, T.310)

Với thành ngữ, có thể nói thêm: nó là sản phẩm ngôn từ của nhân dân.Thành ngữ phản ánh nhiều yếu tố văn hoá dân gian đợc tích tụ lâu đời và đợcnhân dân sử dụng một cách thành thạo, nhuần nhuyễn trong lời ăn tiếng nói hàngngày Do vậy, trớc hết nó là đối tợng nghiên cứu của các nhà nghiên cứu văn họcdân gian ở phơng diện này, các nhà nghiên cứu mới chỉ chủ yếu xét trên cơ sởnội dung ngữ nghĩa thuần tuý mà ít đi sâu vào khai thác ở mặt cấu trúc ngôn ngữ.Dới góc độ ngôn ngữ học, sự nhận diện thành ngữ đợc đặt trong sự so sánh phânbiệt với các đơn vị thấp hơn nó nh từ đơn, từ ghép; với các đơn vị cùng bậc nhcung từ tự do và đợc xét trên nền của "cụm từ cố định" nói chung; thành ngữ lại

đợc so sánh với đơn vị ngôn ngữ ở bậc cao hơn là tục ngữ (câu)

Do có sự khác nhau về nội dung ý nghĩa, về chức năng, về hình thức cấu tạongữ pháp nên có thể nói khả năng biểu đạt tâm thức của mỗi loại về trí tuệ, tìnhcảm, tâm lí, tâm linh, trong thành ngữ và tục ngữ, có sự khác nhau rất nhiều

Sự khác nhau này sẽ đợc nói đến trong chơng II và chơng III của luận văn

4.2.2 Về "ca dao"

Trang 25

"Ca dao" còn gọi là "phong dao" Thuật ngữ ca dao đợc dùng với nhiềunghĩa rộng, hẹp khác nhau Theo nghĩa gốc thì "ca" là bài hát có khúc điệu, "dao"

là bài hát không có khúc điệu Ca dao là danh từ ghép chỉ chung toàn bộ nhữngbài hát lu hành phổ biến trong dân gian, có hoặc không có khúc điệu Trong trờnghợp này, ca dao đồng nghĩa với dân ca"(23, T 27)

Ca dao - dân ca Việt Nam vốn có lịch sử lâu đời và phát triển khắp các miền

đất nớc, do đó phần lời thơ của nó cũng vô cùng phong phú và đa dạng Các nhàchuyên môn phải chia ca dao truyền thống thành nhiều loại để nghiên cứu nh: cadao - dân ca lao động, ca dao - dân ca nghi lễ - phong tục và ca dao - dân ca sinhhoạt ( Đinh Gia Khánh) Hoặc là phân loại ca dao theo chủ đề, đề tài, quan hệ

nh quan hệ thiên nhiên, quan hệ xã hội (Vũ Ngọc Phan) Trong giới hạn của luậnvăn, chúng tôi chỉ đề cập đến những bài ca dao ( phần lời thơ) có liên quan đến

"Hình ảnh các con vật trong tâm thức ngời Việt" T liệu ca dao thuộc đề tài loàivật, hình ảnh các con vật cũng có đến hàng trăm đơn vị câu, bài ở đây, chúngtôi cha thể làm công việc thống kê, khảo sát đầy đủ các đơn vị ca dao loại này

nh thành ngữ và tục ngữ mà chỉ là nêu dẫn, phân tích một số lời ca có thể đợcxem nh là tiêu biểu nói về tâm thức của ngời Việt qua hình ảnh một số con vậttrong ca dao

Xét ca dao trong tơng quan với tục ngữ, các nhà nghiên cứu văn học dângian nh Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên, Võ Quang Nhơn, Lê Chí Quế đã xếptục ngữ vào bộ phận "Lời ăn tiếng nói của nhân dân", còn ca dao - dân ca thì đợcxếp vào "Các thể loại trữ tình dân gian"(8, T 838)

Trong diễn xớng dân gian cũng nh trong thực tế sử dụng, ngời ta thấy tụcngữ là những câu nói(vần vè) còn ca dao là những câu hát, bài ca Nếu nh tụcngữ thiên về lí trí, trí tuệ, đúc kết kinh nghiệm, triết lí, thì ca dao - dân ca thiên

về tình cảm, biểu hiện lòng ngời Ca dao, vì thế đợc coi là thơ ca dân gian đíchthực Ca dao - dân ca có bản chất chung là trữ tình nên đợc coi là điệu tâm hồncủa từng tộc ngời - dân tộc; ca dao in dấu rất rõ bản sắc quê hơng, dân tộc, do đó

có thể tìm ra chữ "tâm" trong từ tâm thức về bất cứ hiện tợng văn hoá nào của

đời sống dân tộc Mọi cảm nghĩ, cảm xúc trạng thái tinh thần, tâm hồn của dântộc đều in dấu trong ca dao - dân ca

Thế giới biểu tợng và thế giới thực tại đợc thể hiện thành những kiểu lựachọn của mỗi cộng đồng và cá nhân so với cộng đồng và cá nhân khác Nét khubiệt của tất cả các kiểu lựa chọn làm cho các nền văn hoá khác nhau là độ khúc

Trang 26

xạ qua ngôn ngữ của các dân tộc Ngôn ngữ gắn chặt với văn hoá trong quan hệbiện chứng của hai đối tợng này Các đặc trng văn hoá đợc bộc lộ quá rõ trongngôn ngữ dân tộc Và chính ngôn ngữ dân tộc đã hàm chứa trong mình nhiều

điều bí ẩn mà phải giải thích bằng một cách khác

Ngôn ngữ là phơng tiện chủ yếu và cũng là điều kiện để các thành tố kháccủa văn hoá nảy sinh, hoạt động và phát triển Đồng thời, chính ngôn ngữ làmột trong những thành tố đặc trng nhất của bất cứ nền văn hoá dân tộc nào Vìvậy đã có ý kiến cho rằng: ngôn ngữ của một dân tộc đã thực hiện "chức năng

đặc trng dân tộc", "Là tấm gơng thực sự của nền văn hoá dân tộc"(Nguyễn ĐứcTồn, Nghiên cứu đặc trng văn hoá dân tộc qua ngôn ngữ và t duy ngôn ngữ,1993)

Ngợc lại, văn hoá lại quy định những xu hớng, đối tợng phản ánh củangôn ngữ Vì vậy, trong ngôn ngữ dân tộc bên cạnh các đặc điểm chung phổquát toàn nhân loại còn có những yếu tố chỉ đặc trng cho nền văn hoá dân tộc

ấy Ví nh hình ảnh con trâu, từ "trâu" là biểu tợng riêng của ngời Việt Cònhình ảnh"chuột túi" (kăngguru) là biểu tợng cho đất nớc - dân tộc ôxtrâylia Đócũng là những khái niệm, kinh nghiệm lịch sử - văn hoá phù hợp với điều kiệnsống, phong tục tập quán, tâm lý, tâm linh dân tộc, v.v Từ đó, các nhà nghiêncứu đã đa ra nhận xét: "Từ của ngôn ngữ này không bao trùm từ của ngôn ngữkhác"

Tìm hiểu "Hình ảnh các con vật trong tâm thức ngời Việt" trên nền cảnhcủa các đặc trng văn hoá Việt Nam.Trở về với mối quan hệ ngôn ngữ - nhận thức

- văn hoá nói chung và về các con vật, thế giới động vật nói riêng; cũng nh việcxác định nội hàm của các khái niệm "tâm thức", "thành ngữ", "tục ngữ", "ca dao"chính là xây dựng những luận điểm xuất phát có căn cứ, cơ sở khoa học để tìm ra

"kiểu tri nhận" của ngời Việt, những đặc trng t duy của dân tộc đợc thể hiệntrong quan niệm, thái độ ứng xử với các con vật, một thành tố không nhỏ của vănhoá Việt Nam

Trang 27

Chơng II

Bức tranh ngôn ngữ về hình ảnh con vật

trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao

Trong chơng I, " Những cơ sở lý luận liên quan đến đề tài" của luận văn,

chúng tôi đã tiến hành hệ thống hoá và khẳng định lại mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hoá Mối quan hệ này nh nhiều nhà nghiên cứu đã có quan điểm chung là không xét theo đơn tuyến, "tay đôi" giữa " văn hoá - ngôn ngữ " mà xét

nó trong thế bộ ba : Ngôn ngữ - Văn hoá - Nhận thức Có thể hình dung mối

quan hệ trên nh là quan hệ ba bức tranh: Bức tranh về các sự vật, hiện tợng

trong thế giới khách quan; Bức tranh về ý niệm , biểu tợng trong đầu óc con ngời và Bức tranh thế giới đợc chiếu lại qua ngôn ngữ.

Hàng trăm con vật của thế giới khách quan, đang tác động trực tiếp haygián tiếp đến cuộc sống hàng ngày của con ngời Muốn tìm hiểu tâm thức ngờiViệt xung quanh hình ảnh con vật trên dẫn liệu thành ngữ, tục ngữ, ca dao, nhấtthiết ta phải khảo sát bức tranh ngôn ngữ "(thế giới đợc chiếu lại), qua từ vựng -

ngữ nghĩa xung quanh hình ảnh các con vật, để qua đó thấy đợc, hiểu đợc "cách nhìn", "cách cảm", "cách nghĩ", "cách t duy" hay nói một cách khác là nhận thức và tình cảm của ngời Việt về các con vật.

Với nguồn t liệu quá rộng: khoảng 330 đơn vị thành ngữ, gần 550 câu tụcngữ và hơn 1400 câu, bài ca dao; với khả năng có hạn và do yêu cầu khuôn khổ

của luận văn, bức tranh ngôn ngữ về hình ảnh các con vật, chúng tôi chỉ mới thống kê, khảo sát và miêu tả đợc ở hai loại đơn vị dẫn liệu là thành ngữ và tục ngữ Riêng ca dao (phần khảo sát, thống kê cha làm đợc thật đầy đủ và chính

xác) Quá trình phân tích chứng minh, chúng tôi sẽ đề cập đến ở mức độ lựachọn những câu, những bài tiêu biểu gắn với nhận thức, tình cảm, tâm linh vềmột số con vật gần gủi, thân thiết trong đời sống vật chất và tinh thần của tộc ng-

ời Việt

Sau đây là kết quả thống kê, khảo sát phần Thành ngữ, Tục ngữ, Ca dao của ngời Việt:

Trang 28

1 Kết quả thống kê, khảo sát phần Thành ngữ, Tục ngữ, Ca dao

lú; cá rán, cá giỏi;

nheo3, lăng, vợc

Cá - nớc2, cá-chim2,cá - chậu, cá - thớt,cá bể - chim trời2,Cá bể - chim rừng,cá - rọ, cá - canh; cá

tôm, cá cua, lăng vực; săn sắt - cá sộp;

-con rô - -con diếc, cá

mòi - cá chiên, đầucá - đầu tôm

33 8,0% ( 2 : 2 lần

xuấthiện)

2 Chó Chó đen, chó điếm,

chó cùng, chó ghẻ,chó liếm cối, chó cụp

đuôi, chó mặc váy;

yêu chó, thịt chó; ngu,dại

gà mái, gà mắc đẻ,

mẹ gà, trứng gà; gàquè, gà cắt tiết2

22 5,3% 5 lần

5 Voi Chết voi Voi - ngựa2

Voi - chóVoi - chấuVoi khoẻVoi - to

22 5,3%

6 Bò Thân bò, đầu bò,

bụng bò, dạ bò, hàmtrên, trắng răng; vẽ

Trang 29

cỡi, bò đá, lo bò, mất

bò, bò rống; ngu, dốt

Bò - nhà táng

7 Chuột Chuột chù2, chuột

ngày, chuột kẹp, chuộtlột, chuột chạy2; chuột

sa2 , chuột phải khói;

chuột to, chuột con,mặt chuột; chạy, trốn,nhăn, ớt, thì thụt, lờ đờ,hôi

Dơi - chuột3

Chuột - gạoChuột - mỡChuột - sào

18 4,3% 3 lần

8 Hổ Hùm12, hổ4, cọp2,

miệng hùm3, râu hùm,hang hùm, oai hùm;

tránh hùm, thả hổ, mắchổ; miệng cọp, hangcọp, cọp nó xơi; mọccánh, khoẻ, ăn, ác tinh(nh hùm4), đổ đó

Hùm - sứaHùm - thỏHùm - rắnHùm - cáoHùm - sóiCọp - thỏ3

Trâu - bò4

Trâu - ngựa

14 3,4%

10 Ngựa Ngựa non, mặt ngựa,

ruột ngựa, thay ngựa;

bất kham

Ngựa - đờng cũNgựa - tàu(CH)

12 3,0%

11 Vịt Con vịt, đầu vịt, trứng

vịt, máu vịt; vịt trứngchạy, thấp(nh vịt)

Vịt - sấmVịt - gà

12 3,0%

12 Chim Chim trời, chim rừng,

chim đậu, chim lồng,chim sổ lồng, chimchích2, chim chích lạc

Chim - trờiChim - rừngChim - đậuChim - sổ lồng

9 2,2%

14 Cua Cua gạch, cua cạp,

cua bò sàng, cua gãycàng

17 Kiến Kiến cỏ, kiến đốt, kiến

tha, kiến bò, tổ kiến

Kiến - nóiKiến tha - đầy tổKiến - bụng

6 1,5%

Trang 30

18 Lợn Lợn cỏ, lợn sề, lợn

lành lợn què; móngheo, mắt lợn luộc; ngu2

Lợn cỏ - gấu chóVoi - chó - lợn sề(đú, hộc)

Khẩu xà, nọc rắn

Rắn - gàKhẩu xà - tâm phật

6 1,5%

21 Ong Ong vỡ tổ, ong châm,

ong tay áo; lời ong,

điều ong

Bớm - ong

Ve - ong

6 1,5%

22 Ruồi Ruồi nhiều; xua ruồi,

khỏi ruồi, chết ruồi

Cò - cốc 2

Trang 31

35 Quạ

(ác,ó)

Ăc, ó; đen, lấc láo,kêu, trứng; đội lốtcông

Quạ - côngQuạ - lợn

42 Loan Loan chung, chia loan Loan - phợng2 2 nt

43 Tằm đầu tằm, tằm ăn rỗi Tằm - dâu

Tằm - ăn

Trang 32

79 Đom đóm Bắt nạt ma trơi đom đóm - ma trơi 1 nt

Trang 33

cổ cò, trâu tóc chóp,trâu cày, trâu đẻ,trâu thịt (các loạitrâu);

-Trâu mạnh, trâuhay; trâu lành, trâu

ác; trâu cời, trâukhóc; trâu gầy, trâungã, trâu hèn, trâuchậm4, trâu ngơ,trâu lấm; trâu quá

sá, trâu khát nớc,trâu nghiến hàm;

-Trâu buộc2, trâu

ăn2, trâu ta, trâu hoatai, trâu song;

- Lang đuôi (bán),lang trán (cày, nuôi)

-Đuôi trâu (nắm lạc), buộc trâu2;

-Thịt trâu, máutrâu, phèo trâu, cứttrâu, sừng, vó;

-Tậu trâu2 , muatrâu3, tiền trâu, mờitrâu, trăm trâu, chọitrâu, mất trâu, chếttrâu, thân trâu, kiếptrâu;

+ Mua trâu xem sừng+ Mua trâu xem vó+ Sừng trâu bạc+ giác trâu đen+ Mua trâu lựa nái+ Làm ruộng phải có

Trâu bò - làngTrâu - bò

75 11,4% 75 lần

xuất hiện

(làmgiàu)(làmgiàu)

Trang 34

trâu (L.g - vợ)+ Làm ruộng khôngtrâu (L.g- 1 thóc)+ Trâu chết để da+ Trâu chết mặc trâu+ Thân trâu, trâu lo+ Kiếp trâu ăn cỏ+ Trâu có đàn+ Trâu tìm cọc, ngutầm ngu

+ Cứt trâu hoá bùn+ Trâu đẻ tháng sáu;

chín đụn mời trâu;

trâu ta ăn cỏ đồng ta+ Nhà giàu tậu nghéhoa(L.T.L.V bé)

Trâu ta - đồng taNghé hoa - nhà giàuChín đụn - mời trâu

2 Gà - Con gà2, mẹ gà,

nuôi gà3, giống gà;

-Gà cỏ, gà di, gàgiống, gà cựa dài,

gà cựa ngắn, gà đen,

gà trống, gà mái;

-Gà gại ổ, gà cụctác, gà đẻ;

-Gà nhốn, gà chợ,

gà tháng bảy, gàVăn óu, gà LàngTrò;

- Gà non, gà tơ, gà

dò, gà béo, gà khôn,

gà cúp*, gà già, gàkhô, gà què, gà chết;

-đầu gà, cựa gà, thịt

gà2, máu gà, xơng

gà2, gan gà giò, cứtgà

(Các loại gà phân loạidựa vào giống gà, thế

hệ, sinh trởng, giớitính, giai đoạn đẻtrứng, mùa vụ, địa ph-

ơng )

 Từ ngữ cố định cótính chất thành ngữ:

-Thịt gà, cá chép, baba

(Kiêng

đối vớingờibệnh)

ao

Trang 35

một gà ba thóc

- Gà què ăn quẩncối xay; gà ngày gió

Lởn vởn nh gàthấy ngô

Gà - ngô

*:Nguyhiểm

-Nheo2, chép3, trôi2,trắm2, mè2, thia lia;

chim, thu, nhụ, đé;

bống, nhệch, thờnbơn, tép2 (từ đơn)

-Cá mè2, cá chép3,cá gáy, cá chuối, cá

đối, cá trê, cá vàng,cá rô8

-Nớc, vây(từ đơn)

- Thả cá, kiếm cá,mua cá;

- Con cá, tiếng cá, ăncá, kén cá2,đuôi cá,miệng cá, cứt cá;

 Cụm từ có tính chấtthành ngữ (trong tụcngữ) về cá:

(Từ ghép chính - phụ)

Cá - nớcCá - vây

67 10,2% 2.3, : số

lần xuấthiện

Trang 36

chim(đặc sản cá,ngon)

+Ăn cá lù đù; ăn chépmùa hè;

-Cá rô tháng hai; cá

không ăn muối(không ngon)

nớc; cá tham mồi; thứnhất thả cá

Cá - xơngCá - đầuCá - mang

4 Chó a, Từ gọi tên các loại

chó, các món ăn chếbiến từ chó, các hoạt

động

-Con chó, chóhuyền đề3, chó chùa2,chó làng, chó già, chógiữ2, chó khôn2, chódại2, chó gầy, chócùng

- Đuôi chó, hàmchó, dồi chó2, thịtchó2, nớc chó

-Đánh chó, bánchó, chơi chó, no chó

b, Ngữ cố định có tínhchất nh thành ngữ:

-Dại nh chó; chó

Chó - khônChó - làngChó - dạiChó - chùaChó - dữ

hồ

bểCá

Trang 37

ngày ma; kiếp chó

ăn dơ; mua chó xemchân;

-Chó chẳng chê chủnghèo

-Chó dữ mất lànggiềng

-Chó ba quanh mớinằm

c, Các con vật cóquan hệ gần gũi, thânthuộc hoặc là đối thủ:

Chó - gà8, chó - mèo3,

dê - chó, chó - trâu2,chó - khỉ

Chó - chân

Chó - chủChó - láng giềng

Chó - gàChó - mèoChó - dêChó - trâu

( 8 lầnxuấthiện)

-Bò cổ giải, bò mũmấn, bò gai sừng,

bò bạch nhiệt

-Máu bò2, dạ bò3 -

Nuôi bò, bắt bò,

đo bò, ba bò, mất

bò2, chết bò

b, Ngữ cố định có tínhchất nh thành ngữ:

- Thân bò bò liệu; bòchết mặc bò; bò chếtchẳng khỏi rơm; bòquè tháng sáu; dạ bòhay; dạ bò chịu; bò c-ời; thứ nhất thịt bò tái;

-Lợn thả, lợn nhà,

Lợn - ngờiLợn - gà

29 4,4%

Trang 38

lợn giò, lợn hạch,lợn lang, lợn đói2

b, Các từ ngữ khác:

chăn nuôi, các bộphận cơ thể

- Nuôi lợn5, bắt lợn,nuôi heo2, cỗ lòng,

đầu heo, má lợn,chuồng lợn

c, Ngữ có tính chất

nh thành ngữ:

- Heo Yên Dỡng; muaheo lựa nái; ăn cơmnằm; lông lợn hạch,

đách lợn lang, tám giò,

ăn cơm không, lợn nớcmạ, giàu nuôi lợn nái, vị

đầu heo, nuôi lợn lấy

mỡ, giàu nuôi lợn đực,khó nuôi lợn cái,chuồng lợn hớng Đông

Má lợn- đầu gà

Heo - gáiLợn - tằmLợn - bòLợn - cá

Lợn nái - bồ câu

Đầu heo - gộc chuốiChuồng lợn - thổcông

-Con voi, đợc voi,vẽvoi, tậu voi, tránh voi2,vác ngà voi, khoẻ nhvoi, dắt voi, voi ngà;

voi đú;

-Voi một ngà; voichéo ngà; vi búa; trờisinh voi, voi điếc; đấmchết voi; voi chết về già

Voi - gáiVoi - đức ôngVoi - đờngVoi - ngờiVoi - đàn bàVoi - ngựaVoi - súngVoi - bã míaVoi - bòVoi - châu chấu

-Thơng mèo, cổmèo

b, Ngữ có tính chấtthành ngữ:

-Mèo già hoá

cáo2 -

Mèo đến nhàthì khó

-Mèo tha miếngthị thì đói

Mèo - mỡMèo - ăn nhạtMèo - chuộtMèo - mèo

Mèo - cáoMèo - chóMèo - kễnh*

Mèo - thịtMèo - gái

17 2,6%

(* hổ)

Ngày đăng: 18/12/2013, 20:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1.1 Thành ngữ (từ ngữ, hình ảnh về các con vật) - Hình ảnh con vật trong tâm thức người việt qua thành ngữ, tục ngữ, ca dao
1.1 Thành ngữ (từ ngữ, hình ảnh về các con vật) (Trang 32)
1.2. Tụcngữ (từ ngữ, hình ảnh về các con vật) - Hình ảnh con vật trong tâm thức người việt qua thành ngữ, tục ngữ, ca dao
1.2. Tụcngữ (từ ngữ, hình ảnh về các con vật) (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w