1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hệ thống vần tiếng việt thế kỉ XVIII qua từ điển việt la của pierre pigneaux de béhaine luận văn tốt nghiệp đại học

67 634 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hệ thống vần tiếng việt thế kỷ xviii qua từ điển việt – la của pierre pigneaux de béhaine
Tác giả Trần Thị Nhái
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Hoài Nguyên
Trường học Đại học Vinh
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 867,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lí do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu Các nhà ngôn ngữ học hiện nay đều có chung quan điểm về vấn đềchia tách âm tiết tiếng Việt: âm tiết tiếng Việt được chia thành ba bộ phậnđộc lâp

Trang 1

Khoa ngữ văn

-Hệ thống vần tiếng việt thế kỷ xviii qua từ điển

việt – la của pierre pigneaux de béhaine

Khoá luận tốt nghiệp đại học

Chuyên Ngành: ngôn ngữ học

Giáo viên hớng dẫn: TS Nguyễn hoài nguyên Sinh viên thực hiện : trần thị nh ái Lớp : 48A - ngữ văn

Trang 2

Mục Lục

Mở đầu

1 Lí do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 3

5 Đóng góp của khóa luận 4

6 Bố cục khóa luận 4

Nội dung: Chương 1: Cơ sở lí thuyết của đề tài 1.1 Giới thiệu từ điển Việt - La của Pierre  Pigneaux de Béhaine 5

1.2 Các khuynh hướng miêu tả ngữ âm tiếng Việt 6

1.3 Cấu âm tiết và các đơn vị ngữ âm tiếng Việt 10

1.4 Vần và hệ thống vần tiếng Việt hiện đại 12

1.4.1 Vần 12

1.4.1.1 Khái niệm vần 12

1.4.1.2 Các tiểu hệ thống vần 12

1.4.2 Hệ thống vần tiếng Việt hiện đại 13

1.4.2.1 Hệ thống vần mở 13

1.4.2.2 Hệ thống vần nửa mở 13

1.4.2.3 Hệ thống vần khép 14

1.4.2.4 hệ thống vần nửa khép 15

1.4.3 Miêu tả hệ thống vần tiếng Việt hiện đại 17

1.5 Tiểu kết 20

Chương 2: Hệ thống vần tiếng Việt thế kỉ XVIII qua từ điển Việt – La 2.1 Số lượng 21

2.2 Miêu tả hệ thống vần tiếng Việt thế kỉ XVIII 21

Trang 3

2.2.1 Vần mở 21

2.2.2 Vần nửa mở 25

2.2.3 Vần khép 32

2.2.4 Vần nửa khép 40

2.2.5 Nhận xét chung 51

2.3 Tiểu kết 51

Chương 3: Diễn biến hệ thống vần tiếng Việt từ thế kỉ XVIII đến nay 3.1 Dẫn nhập 53

3.2 Các xu hướng biến đổi của hệ thống vần tiếng Việt từ thế kỉ XVIII đến nay 53

3.2.1 Quá trình nguyên âm đôi hoá 53

3.2.2 Quá trình hẹp hoá độ mở các nguyên âm cùng dòng 55

3.2.3 Quá trình chuyển đổi trường độ nguyên âm dài và nguyên âm ngắn 56

3.3 Tiểu kết 58

Kết luận 59

Tài liệu tham khảo 61

Trang 4

Lời cảm ơn

Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của T.SNguyễn Hoài Nguyên trong quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.Đồng thời qua đây, tôi cũng mong gửi lời cảm ơn đến bạn bè, người thân đãluôn ủng hộ và tạo điều kiện giúp đỡ trong thời gian qua

Do phạm vi nghiên cứu của đề tài và nhận thức còn nhiều hạn chế củasinh viên, nên khóa luận tốt nghiệp không tránh khỏi nhiều hạn chế và thiếusót Rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ bạn bè và thầy cô

Xin chân thành cảm ơn!

Vinh, ngày tháng năm 2011

Tác giả

Trần Thị Như Ái

Trang 5

mỞ ĐẦu

1 Lí do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu

Các nhà ngôn ngữ học hiện nay đều có chung quan điểm về vấn đềchia tách âm tiết tiếng Việt: âm tiết tiếng Việt được chia thành ba bộ phậnđộc lâp là thanh điệu, âm đầu và phần còn lại Bộ phận thứ ba mang âm sắcchủ yếu của âm tiết Nó là bộ phận đoạn tính duy nhất kết hợp với thanhđiệu tạo nên vần thơ, chúng ta gọi là phần vần Nếu như ở các ngôn ngữChâu Âu, nguyên âm và phụ âm làm thành hai hệ thống song hành thì ởtiếng Việt tương ứng với hai hệ thống ấy là phần âm đầu và vần Đây chính

là một đặc điểm ngữ âm tiếng Việt Mặc dù vậy, phần vần chưa bao giờ trởthành đối tượng của việc miêu tả với tư cách là một đơn vị ngữ âm cơ bảncủa tiếng Việt Nếu như âm đầu đã được các nhà Việt ngữ học tập trungnghiên cứu, miêu tả trong nhiều công trình ngữ âm tiếng Việt cả mặt đồngđại và lịch đại thì phần vần hầu như chưa được giới nghiên cứu quan tâmxúng đáng với tầm quan trọng của nó

Trong thực tiễn hoạt động ngôn từ của người Việt, rõ ràng phần vần làmột thực thể hiển nhiên và có chức năng quan trọng trong cấu trúc âm tiếttiếng Việt Các hoạt động ngôn từ của người Việt như cách đánh vần, tậpđọc, nói lái, chơi chữ, mô phỏng ngữ âm, hiệp vần trong thơ,…đều chứng tỏđiều đó Do vậy, đây là một vấn đề hết sức phức tạp vì nó động chạm đếnnhững lí thuyết cũng như thực tiễn của ngữ âm tiếng Việt Vấn đề này nếuđược giải quyết dù ở mức độ nào đó, dù xuất phát từ bình diện đồng đại haylịch đại sẽ rất lí thú và hết sức cần thiết Từ nhận thức đó, chúng tôi mạnh

dạn chọn đề tài Hệ thống vần tiếng Việt thế kỉ XVIII qua Từ điển Việt - La

Trang 6

của Pierre  Pigneaux de Béhaine làm đối tượng nghiên cứu cho khóa luận

tốt nghiệp của mình

2 Lịch sử vấn đề

Từ trước đến nay, trong các sách vở ngữ âm tiếng Việt, phần vầnđược nhắc đến như là yếu tố trung gian khi phân tích âm tiết tiếng Việt theohai bậc: bậc 1 gồm thanh điệu, âm đầu và phần vần; bậc 2 gồm âm đệm, âmchính và âm cuối Như vậy, phần vần chưa bao giờ được xem là đối tượngcủa việc miêu tả với tư cách là một đơn vị ngữ âm cơ bản của tiếng việt Tuynhiên, phần vần trên thực tế đã được một số nhà nghiên cứu đề cập đến trongnhững phạm vi nhất định Khi phân tích cơ chế của từ láy, các tác giả HoàngVăn Hành (1979, 1985), Phi Tuyết Hinh (1977, 1983, 1990), Hà QuangNăng (2003),…đã đề cập đến phần vần trong âm tiết tiếng Việt qua việcnghiên cứu các khuôn vần trong từ láy Tác giả Phi Tuyết Hinh (1990) còntìm hiểu giá trị biểu trưng của các khuôn vần trong sự tạo nghĩa cho từ láytiếng Việt Các tác giả như Võ Bình (1975, 1985), Lê Anh Hiền (1985), MaiNgọc Chừ (1986, 1989, 1991),… đã khảo sát vần thơ, xem xét vần thơ dướigóc độ ngôn ngữ học Nhà nghiên cứu Vương Lộc (1995) đã dành một

chương trong công trình chú giải cuốn "An Nam dịch ngữ" để bàn về hệ

thống vần tiếng Việt thế kỉ XV- XVI Tác giả Nguyễn Phương Trang (1996)

đã bước đầu tìm hiểu cách ghi các vần cái tiếng Việt trong "Sách sổ sang chép các việc" của Phiiphê Bỉnh Tác giả Hoàng Phê (1996) đã xác lập vần trong tiếng Việt hiện đại và xây dựng thành "Từ điển vần" Các công trình

trên, hoặc là khai thác một vài khía cạnh chức năng (biểu trưng ngữ âm củaphần vần trong từ láy, hiệp vần trong thơ,…) hoặc chỉ quan tâm cách ghi vầntiếng Việt ở một giai đoạn nhất định (tiếng Việt thế kỉ XV- XVI, thế kỉ XIX)qua tư liệu chữ viết, hoặc chỉ xác lập danh sách vần trong tiếng Việt hiện đại

Trang 7

bản của hệ thống ngữ âm tiếng Việt Cho đến thời điểm hiện tại chỉ có tácgiả Nguyễn Quang Hồng (1994) là người chủ trương xác lập hệ thống vầntiếng Việt và coi vần cái là đơn vị ngữ âm cơ bản của tiếng Việt Gần đây

nhất, tác giả Nguyễn Văn Lợi trong tạp chí Từ điển và bách khoa toàn thư,

số 5 (7), 9/2010 đã có bài viết "Phục nguyên hệ thống ngữ âm tiếng Việt thế

kỉ XVII" (trên cơ sở từ điển Việt - Bồ Đào Nha - Latin của Alexandre de Rhodes).

Từ góc độ lịch sử, các tác giả Nguyễn Tài cẩn (1995), Nguyễn NgọcSan (2003) đã nghiên cứu lai nguyên của vần tiếng Việt trong hiện đại, phụcdựng diện mạo của các vần tiếng Việt Như vậy, cho đến thời điểm này,chúng tôi nhận thấy chưa có tác giả nào đặt vấn đề nghiên cứu diễn biến của

hệ thống vần tiếng Việt từ thế kỉ XVIII đến nay Bởi vậy, trên cơ sở tư liệuchữ viết, chúng tôi tập trung xem xét sự biến đổi và phát triển của hệ thốngvần tiếng Việt từ thế kỉ XVIII đến nay

3 Đối tượng nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng ngiên cứu của khóa luận là hệ thống vần tiếng Việt trong sựbiến đổi và phát triển từ thế kỉ XVIII đến nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Khóa luận thực hiện những nhiệm vụ cụ thể như sau:

- Trên cơ sở nghiên cứu tư liệu, thống kê, phân loại, lập danh sách hệthống vần tiếng Việt thế kỉ XVIII

- Miêu tả hệ thống ngữ âm phần vần tiếng Việt thế kỉ XVIII

- Xem xét hệ thống vần tiếng Việt trong diễn trình lịch sử từ thế kỉXVIII đến nay

4 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

Trang 8

- Từ điển Việt - La của Pierre  Pigneaux de Béhaine.

- Từ điển vần của Hoàng phê (1996)

- Từ điển tiếng Việt do Hoàng phê chủ biên (2002)

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận tiến hành theo những phương pháp sau:

- Phương pháp thống kê ngôn ngữ học

- Phương pháp so sánh đối chiếu

- Ngoài ra khóa luận còn sử dụng một số thủ pháp như: phân tích,miêu tả, tổng hợp,…

5 Đóng góp của khóa luận

Dựa vào tư liệu trong cuốn Từ điển Việt - La, khóa luận cố gắng phác

họa, khôi phục lại hệ thống vần tiếng Việt thế kỉ XVIII Từ đó sẽ hình dungđược sự phát triển của ngữ âm phần vần tiếng Việt trong giai đoạn từ thế kỉXVIII đến nay Với đề tài này, khóa luận có thể góp phần vào việc nghiêncứu ngữ âm cũng như sự phát triển của lịch sử tiếng Việt Đồng thời, kết quảnghiên cứu của khóa luận cũng có thể làm tài liệu tham khảo hữu ích, phục

vụ cho việc giảng dạy ngữ âm và chữ viết tiếng Việt, làm tiền đề cho nhữngcông trình nghiên cứu về sau

6 Bố cục khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung khóa luận bao gồm 3chương:

Chương 1: Cơ sở lí thuyết của đề tài

Chương 2: Hệ thống vần tiếng Việt thế kỉ XVIII

Chương 3: Diễn biến của hệ thống vần tiếng việt thế kỉ XVIII đến

nay

Trang 9

Chương 1: Cơ sở lí thuyết của đề tài

1.1 Giới thiệu từ điển Việt - La của Pierre  Pigneaux de Béhaine

Từ điển Việt - La, hay còn gọi là Từ điển An nam - Latin ( Dictionarium Annamiticum - Latinum) là bộ từ điển viết tay do Pierre 

Pigneaux de Béhaine biên soạn

Giáo sĩ người Pháp Pierre  Pigneaux de Béhaine, giám mục Adran, tênphiên âm tiếng Việt là Bá Đa Lộc Bỉ Nhu (sinh năm 1741 tại Pháp – mấtnăm 1799 tại Sài Gòn, Việt Nam), còn được gọi là Đức Cha Cả Năm 1765,ông được thụ phong linh mục và sang Viễn Đông truyền giáo Khi đến ViệtNam, ông đã gặp và hết lòng giúp đỡ Nguyễn Ánh chống lại Nhà Tây Sơn,

kể cả việc thay mặt Nguyễn Ánh sang Paris cầu viện nước Pháp và ký Hiệpước Versailles Năm 1779, ông trở lại Việt Nam mang theo vũ khí, đạn dượccùng các chuyên viên quân sự người Pháp giúp Nguyễn Ánh tấn công quânTây Sơn Bên cạnh những hoạt động về chính trị, Bá Đa Lộc còn là tác giảcủa một số tác phẩm có giá trị lịch sử, đáng kể nhất là bộ Tự vị Việt La đượcbiên soạn tại Sài Gòn, với sự giúp đỡ của một số người Việt và giáo sĩ ngườiPháp, như nhà nho Trần Văn Học (Việt Nam), Mạn Hoè (người Pháp, tênManuel), Nguyễn Văn Chẩn (người Pháp, tên Dayot), Nguyễn Văn Thắng(người Pháp, tên Vannier), Gia Đô Bi (gốc Tây Ban Nha), Ma Nộ Y (ngườiTây Ban Nha) Sách khởi thảo từ tháng 9 năm 1772, đến tháng 6 năm 1773thì hoàn thành, đánh dấu chữ quốc ngữ được hoàn thiện

Bộ tự vị là một bản viết tay có 729 trang, khổ 24 x 34,5  cm, đóng bìa

da, được lưu trữ trong văn khố Hội truyền giáo nước ngoài Paris (Pháp) vớitên gọi Vocabularium Anamitico Latinum (Từ vựng An Nam - Latin thường

Trang 10

gọi là Tự vị Việt - La) Bộ Tự vị này chưa kịp in, ngỡ đã bị cháy mất trongmột trận hoả hoạn tại Chủng viện Cà Mau năm 1778, nhưng thực ra vẫn cònmột bản chép tay lưu tại Chủng viện Hội truyền giáo nước ngoài ở Paris Bộ

Tự vị Việt La đã được giáo sư Lê Ngọc Trụ giới thiệu từ năm 1961, nhưngmãi đến năm 1984 Viện Nghiên cứu Hán Nôm mới được tặng một bản chụp

bộ sách này

Bộ từ điển này ngoài phần nhập đề, gồm hai phần: phần tra chữ Nômtheo 214 bộ chữ Hán và phần từ điển Nôm - Quốc ngữ - Latin. Phần tra chữNôm dạy về cách đọc chữ Nôm theo bộ và số nét Phần thứ hai là tự điểntiếng Việt ghi theo lối viết Nôm và Quốc ngữ, sắp theo mẫu tự abc Số lượng

từ trong phần này là 4843 từ đơn và mấy chục ngàn từ kép Tất cả đều đượcghi và giải nghĩa bằng chữ Latin. Trong quyển từ điển này còn có cả trămcâu ca dao, tục ngữ cổ rất có giá trị

Từ điển Việt- La đã: " đánh dấu một giai đoạn chính yếu trong việc hình thành chữ quốc ngữ, kể từ những năm đầu thế kỉ 17 (1615–1621) cho tới 1651 với tác phẩm quan trọng của A de Rhodes Với Bỉ Nhu, đã hoàn chỉnh lối viết chữ quốc ngữ như chúng ta có ngày nay, trừ một vài chi tiết không đáng kể”(Từ vị Annam Latinh, Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên dịch

và giới thiệu, thành phố Hồ Chí Minh, 1999, trang 75) Từ điển của Pigneau Behaine ra đời đã làm cơ sở cho những cuốn từ điển tiếng Việt như "Nam Việt dương hiệp tự vị" (1838) của Taberd hay từ điển "Quốc âm tự vị" của Huình Tịnh Của (1895) và "Tự vị Việt Pháp" của Génibrel (1898) sau này,

và trở thành một tư liệu quí giá của tiếng Việt thế kỉ XVIII mà trước nhất là

về mặt ngữ âm

1.2 Các khuynh hướng miêu tả ngữ âm tiếng Việt

Từ trước đến nay đã có không ít công trình nghiên cứu về ngữ âm

Trang 11

hệ thống ngữ âm tiếng Việt Những xu hướng đó trước hết phản ánh nhữngquan niệm, cách nhìn nhận khác nhau (hoặc có phần khác nhau) giữa các tácgiả về các đơn vị ngữ âm cơ bản của tiếng Việt trong đó có vấn đề âm vị.Chính ở đây, trong cách làm việc của mình, các tác giả cho thấy một cáchtrực tiếp hay gián tiếp thái độ của họ đối với việc xác định đơn vị âm vị họctrong tiếng Việt Có thể kể ra các khuynh hướng miêu tả ngữ âm tiếng Việtsau đây:

1.2.1 Theo cách hình dung truyền thống của ngôn ngữ học châu Âu,cái hiển nhiên đối với nhà nghiên cứu là các âm vị (âm tố) nguyên âm vàphụ âm, tương ứng với các chữ cái a, b, c trên mặt giấy Chịu ảnh hưởngmạnh mẽ của phương pháp phân tích âm vị học vốn được áp dụng cho cácngôn ngữ châu Âu, một số tác giả đã hình dung về hệ thống ngữ âm tiếngViệt như bất kì một hệ thống ngôn ngữ nào thuộc loại hình ngôn ngữ châu

Âu Từ đó họ đi đến xác lập hệ thống nguyên âm và phụ âm tiếng Việt.Thậm chí âm đầu và âm cuối cũng qui vào một đơn vị thuộc hệ thống phụ

âm Đại diện tiêu biểu cho quan niệm này là hai tác giả Lê Văn Lí (1948) vàM.B.Emneau (1951) Kết quả của hướng miêu tả này cho thấy âm tiết tiếngViệt như một tổ hợp có các nguyên âm và phụ âm, trong đó nhất thiết phải

có một nguyên âm, còn âm điệu và thanh điệu không được tính đến

Theo Lê Văn Lí (1948) một kí hiệu thanh tính đơn trong tiếng Việt cóthể tồn tại bốn kiểu khác nhau: V, VC, CV, CVC (C: phụ âm, V: nguyênâm)

Tác giả M.B.Emeneau (1951) cũng có một quan điểm tương tự khiông đưa ra một lược đồ âm tiết là tổ hợp âm đơn bao gồm phụ âm + nguyên

âm + phụ âm Cho đến thập niên 60 của thế kỉ XX, chúng ta còn bắt gặpcách phân tích và mô tả hệ thống ngữ âm tiếng Việt theo kiểu như vậy ở tác

Trang 12

C1VC2, trong đó C1 là thủy âm (âm đầu), C2 là chung âm (âm cuối), còn V

là nguyên âm Như vậy rõ rang đối với lê Văn Lí, M.B.Emeneau, HoàngTuệ, cái nổi bật lên trong hệ thống ngữ âm tiếng Việt là nguyên âm và phụâm

1.2.2 Tiếp thu thành tựu của âm vận học trung hoa, tác giả NguyễnQuang Hồng (1994) khẳng định âm tiết tiếng Việt một mặt giữ chặt biên giớicủa mình trong ngữ lưu nhưng mặt khác lại khẳng định cấu trúc đoạn tínhcủa chỉnh thể âm tiết và có thể phân xuất từ âm tiết ra thành các đại lượngngữ âm khác nhau Dựa vào các cứ liệu cấu tạo như từ láy, nói lái, hiệp vầnthơ,…tác giả phân xuất hai đại lượng âm thanh trong thành phần cấu trúc âmtiết là âm đầu vần và vần cái và cùng với hai thành phần đoạn tính đó là haithành phần đóng vai trò như là cái khung âm điệu của âm tiết - hai đại lượng

âm thanh siêu đoạn tính là âm điệu và thanh điệu

Lược đồ âm tiết tiếng Việt của tác giả Nguyễn QuangHồng được hình dung như sau:

Thanh điệu

Âm điệu

Tác giả tiến hành tính đến số lượng các đơn vị âm thanh (âm vị), trong

đó âm đầu gồm 21 đơn vị, vần cái gồm 124 đơn vị, trong đó vần mở: 12, vầnnửa mở, nửa khép và khép: 112

1.2.3 Tiếp thu quan điểm của các nhà Đông phương học Xô Viết nhưE.Polivanov, A.A.Dragunov, E.N.Dragunova, M.V.Gordina,…, các nhà Việtngữ học đã không xây dựng hệ thống ngữ âm tiếng Việt thành hệ thốngnguyên âm và phụ âm, cũng không nhìn nhận như cách mô tả theo âm vận

Trang 13

đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối Công thức xác lập bốn thành tố này đượcgọi là Công thức của E.Polivanov Bởi lẽ, năm 1930, khi nghiên cứu ngữpháp tiếng Hán hiện đại, ông là người khởi xướng quan điểm không coi âm

vị tiếng Hán như trong các ngôn ngữ châu Âu Ông đề xuất thuật ngữSyllabeme (tiết vị) và mỗi Syllabeme có thể chia thành bốn thành tố Bởivậy khi nghiên cứu vấn đề âm vị trong tiếng Việt, M.V.Gordina (1976) cũngtán thành công thức E.Polivanov, chia âm tiết thành bốn thành tố Có thểnói, quan điểm bốn thành tố ảnh hưởng rất lớn đối với nhiều nhà ngữ họcViệt Nam và đã được thể hiện ở các giáo trình giảng dạy ở bậc đại học.Hướng nghiên cứu này đã phá vỡ cách hình dung lấy châu Âu làm trung tâm

và phần nào cho ta thấy diện mạo ngữ âm tiếng Việt là không thể đồng nhấtvới diện mạo ngữ âm các ngôn ngữ châu Âu Xu hướng phân tích và mô tảcác đơn vị ngữ âm tiếng Việt theo bốn thành tố duy tuy không còn phỏngtheo hệ hai hệ thống nguyên âm và phụ âm như các ngôn ngữ châu Âunhưng đồng thời cũng chưa thoát khỏi ấn tượng về các chữ cái Nhữngngười đi theo hướng phân tích âm tiết tiếng Việt thành bốn thành tố cũng cónhững cách nhìn khác nhau trong cấu trúc âm tiết tiếng Việt Các tác giảHoàng Văn Thung, Cù Đình Tú, Nguyễn Nguyên Trứ (1972) không hìnhdung cấu trúc từng bậc của âm tiết mà chỉ hình dung bốn thành tố như những

âm đoạn kế tiếp nhau theo trật tự tuyến tính Ngoài bốn thành tố đoạn tính,yếu tố đặc trưng độ cao (thanh điệu) chỉ gắn với phần vần của âm tiết Hầuhết các tác giả đều chỉ ra cấu trúc hai bậc của âm tiết nhưng các thành tốtrong bậc có sự khác nhau Theo Hoàng Thị Châu (1989), bốn thành tố được

tổ chức thành hai bậc, trong đó, bậc một gồm âm đầu, vần và thanh điệu: bậchai gồm nguyên âm và âm cuối Còn các tác giả Đoàn Thiện Thuật (1977),Hữu Quỳnh (1980), Hoàng Dũng và Vương Hữu Lễ (1994),…lại cho rằng

Trang 14

hai của âm tiết tiếng Việt, các tác giả lại tiến hành mô tả các đối hệ là thanhđiệu, âm đầu, âm đệm, âm chính và âm cuối; phân biệt các âm tiết theo từngđối hệ.

1.2.4 Đặt vấn đề có phải trong thứ tiếng nào âm vị được thực hiệntheo một âm tố không, tác giả Cao Xuân Hạo (1974, 1985) khẳng định: kíchthước của các đại lượng ngữ âm thể hiện âm vị có thẻ khác nhau tuỳu từngngôn ngữ và cái mà ta gọi là âm tố chỉ có được cương vị âm vị trong một sốngôn ngữ thuộc một loại hình nhất định mà thôi Tác giả cho rằng âm vị cóhai loại là đoản âm vị và trường âm vị Các ngôn ngữ đoản âm vị và cácngôn ngữ trường âm vị khác nhau một cách sâu sắc về cách tổ chức và cách

sử dụng chất liệu âm thanh Trong các ngôn ngữ châu Âu, âm vị có kíchthước âm tố (nguyên âm và phụ âm) là loại âm đoạn nhỏ nhất được phânxuất trong ngữ lưu dựa vào tiêu chí chức năng- chức năng tạo lập vỏ tiếngcho các kí hiệu ngôn ngữ (hình vị, từ) Trong tiếng Việt và các ngôn ngữthuộc loại hình đơn lập, âm vị có kích thước âm tiết và âm tiết mới là âmđoạn nhỏ nhất Trong ngữ lưu, chỉ có các âm tiết mới kế tiếp nhau theotuyến tính Chỉ trong âm tiết, các nét khu biệt mới được thực hiện đồng thờihay ít nhất là chỉ gần đồng thời Tóm lại, trong tiếng Việt, trong âm tiếtnguyên vẹn là đơn vị âm vị học cơ bản - âm vị Đơn vị âm vị học cơ bản này

sẽ được định nghĩa là đơn vị âm vị học đoạn tính nhỏ nhất không thể phânchia thành đơn vị kế tiếp nhỏ hơn, hay một tập hợp nét khu biệt được thựchiện đồng thời Thay vì một lí thuyết xoay quanh âm vị (âm tố), trong tiếngViệt sẽ là lí thuyết xoay quanh âm vị - âm tiết (Sysllabeme)

1.3 Cấu trúc âm tiết và các đơn vị ngữ âm tiếng Việt

Mỗi âm tiết tiếng Việt là một khối hoàn chỉnh trong phát âm Trênthực tế không ai phát âm tách nhỏ cái khối đó ra được trừ những người nói

Trang 15

nhưng không phải là một khối bất biến mà có cấu tạo lắp ghép Khối lắpghép ấy có thể tháo rời từng bộ phận của âm tiết này để hoán vị với bộ phậntương ứng của ở âm tiết khác.

Khác với các ngôn ngữ Ấn Âu, tiếng Việt là ngôn ngữ đơn tiết Việcnày có thể thấy rất rõ qua một chuỗi phát âm của người việt Chuỗi phát âm

có thể được chia ra thành những khúc đoạn nhỏ, lớn khác nhau Chính vì vậykhi định nghĩa âm tiết người ta thường định nghĩa một cách đơn giản: "Âmtiết là đơn vị phát âm nhỏ nhất, đơn vị tự nhiên nhất trong lời nói của conngười Mỗi âm tiết là một tiếng."

Mô hình âm tiết tiếng Việt không phải là một khối không thể chia cắt

mà là một cấu trúc Cấu trúc là cách tổ chức bên trong của một sự vật, làtổng thể những mối quan hệ giữa các yếu tố trong một chỉnh thể Cấu trúc

âm tiết tiếng Việt là một cấu trúc chặt chẽ ở dạng đầy đủ nhất gồm 5 thành

tố, mỗi thành tố có một chức năng riêng: âm đầu (có tác dụng khu biệt các

âm tiết), âm đệm (có tác dụng biến đổi âm sắc của âm tiết sau lúc mở đầu,khu biệt âm tiết), âm chính (mang âm sắc chủ đạo của âm tiết, là hạt nhâncủa âm tiết), âm cuối (có tác dụng kết thúc âm tiết, làm thay đổi âm sắc của

âm tiết và khu biệt âm tiết) và thanh điệu (có tác dụng khu biệt âm tiết vềcao độ); tối thiểu một âm tiết gồm 2 thành tố: âm chính và thanh điệu Cấutrúc âm tiết tiếng Việt là cấu trúc gồm 2 bậc: bậc 1 là bậc của các thành tốtrực tiếp tham gia cấu tạo nên âm tiết (âm đầu, vần và thanh điệu) ; bậc 2 làbậc của các thành tố tham gia cấu tạo nên phần vần (âm đệm, âm chính, âmcuối)

Chúng ta có thể hình dung cấu trúc âm tiết tiếng Việt qua mô hìnhsau:

Trang 16

1.4 Vần và hệ thống vần tiếng Việt hiện đại

1.4.1 Vần

1.4.1.1 Khái niệm vần

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đề cập đến phần vầnvới tư cách là một đơn vị trong cấu trúc âm tiết tiếng Việt (hai đơn vị còn lại

là thanh điệu và âm đầu), hoàn toàn khác với khái niệm phần vần trong thơ

ca Nói cụ thể hơn, phần vần được nghiên cứu ở đây dạng đầy đủ gồm bayếu tố: âm đệm, âm chính và âm cuối

1.4.1.2 Các tiểu hệ thống vần

Dựa vào những tiêu chí khác nhau chúng ta có thể phân loại vần thànhtừng tiểu loại (tiêu chí số lượng yếu tố tham gia cấu tạo vần, tiêu chí thanhđiệu,…) Dựa vào cách kết thúc, các vần được chia thành bốn loại: vần mở,vần nửa mở, vần nửa khép và vần khép

- Vần mở: là những vần kết thúc bằng cách giữ nguyên âm sắc củanguyên âm ở đỉnh âm tiết (không có âm cuối), ví dụ: e, ra, đê, cho, thu…

- Vần nửa mở: là những vần kết thúc bằng một bán nguyên âm /j / (i,y) và / w/ ( o, u), ví dụ: thu, có, tí, khuy,…

- Vần nửa khép: là những vần kết thúc bằng các phụ âm mũi (phụ âmvang) / m/ ( m), / n/ ( n), / / (nh), / η / (ng), ví dụ: năm, sang, tranh, chân,…

- Vần khép: là những vần kết thúc bằng các phụ âm tắc- điếc( phụ âmkhông vang) / p/ (p), / t / ( t), / c/ (ch), / k/ ( c), ví dụ: hấp, tấp, tát, trách,chức,…

Trang 17

1.4.2 Hệ thống vần tiếng Việt hiện đại

Trang 19

uâng

ăpuăp

Trang 20

êt ơt ôt

uêt

ătoăt

ach

Trang 21

ưa ươi ươu ươp ươt ươc ươm ươn ương

ôc

ưo

1.4.3 Miêu tả hệ thống vần tiếng Việt hiện đại

Từ trước đến nay, mô hình cấu trúc âm tiết tiếng Việt, một vấn đề hếtsức cơ bản cho mọi nghiên cứu về Việt ngữ học vẫn chưa đạt được sự thốngnhất giữa các nhà ngôn ngữ Sự không đồng thuận này dẫn đến một thựctrạng với mỗi quan điểm, cái tạm gọi là “âm đệm”, một thành phần của cấutrúc âm tiết tiếng Việt không tìm thấy một “chỗ đứng” ổn định của mình

Trang 22

trong các mô hình kể trên Thành phần âm đệm, có khi được xem như mộtđơn vị ngang hàng với âm chính, âm cuối trong vần, có khi lại được phântách ra khỏi cấu trúc chiết đoạn của âm tiết, trở thành một đơn vị siêu đoạnvới đầy đủ các tính chất của một thành tố mà phạm vi hoạt động của nó cóvùng chức năng lớn hơn một chiết đoạn.

Trong 159 vần tiếng Việt hiện đại, chỉ có 45 vần có âm đệm Trongcấu trúc âm tiết tiếng Việt, yếu tố âm đệm có nhiều cách kiến giải khácnhau Tác giả Lê Văn Lý (1948), Hoàng Tuệ, cho rằng âm đệm là hiện tượngtròn môi của phụ âm đầu, thuộc về âm đầu Hoàng Thị Châu (1989) cho rằng

âm đệm là yếu tố đoạn tính nhưng không thuộc về âm đầu, cũng khôngthuộc về phần vần, mà nằm ngang hang với âm đầu, vần và thanh điệu Tácgiả Nguyễn Quang Hồng (1980) không xem âm đệm là yếu tố đoạn tính màxem âm đệm là yếu tố siêu âm đoạn tính như thanh điệu Các tác giả CùĐình Tú, Hoàng Văn Thung, Nguyễn Nguyên Trứ (Giáo trình ngữ âm tiếngViệt hiện đại- 1972), Đoàn Thiện Thuật (1977, 2003), Hữu Quỳnh lại khẳngđịnh âm đệm là yếu tố thuộc phần vần (còn gọi là âm đầu vần) Đây là giảipháp được nhiều nhà ngữ pháp học chấp nhận Như đã trình bày ở trên,chúng tôi tiếp thu quan niệm xem âm đệm là yếu tố đoạn tính thuộc phầnvần trong cấu trúc âm tiết Nhưng qua thu thập và xử lý số liệu về hiệntượng biến đổi phần vần trong lịch sử chủ yếu được thể hiện ở nguyên âmđỉnh vần và có vài trường hợp thể hiện ở yếu tố kết vần Do vậy, khi miêu tảngữ âm phần vần chúng tôi chỉ miêu tả theo hai hướng: Từ phía đỉnh vần và

từ phái kết vần Những vần có âm đệm được miêu tả riêng

- Từ phía đỉnh vần:

Đỉnh vần có đặc trưng nguyên âm tính (do nguyên âm đảm nhiệm)nên được miêu tả ở đặc trưng ngữ âm cơ bản như sau:

Trang 23

+ Đặc trưng về hàng (dòng): Nghĩa là xét theo vị trí trước hay sau củalưỡi, các nguyên âm đỉnh vần qui thành hai hàng: nguyên âm hàng trước (i,

e, ê, ia, ya, yê,iê); và nguyên âm hàng sau (u, ư, ơ, â, a, ă, o, ô, oo, ươ, ưa,

ua, uô)

+ Đặc trưng về độ mở: nghĩa là độ mở của miệng, các nguyên âm đỉnhvần được qui về bốn độ mở: hẹp (i, ư, u); hơi hẹp (ê, ơ, ô); hơi rộng (e, o);rộng (a)

+ Đặc trưng về dáng môi: tức là tròn môi hay không tròn môi, cácnguyên âm đỉnh vần được qui về hai loại: tròn môi (oe, ô, o, ua); không trònmôi (i, ư, e, ê, a,…)

+ Đặc trưng về trường độ: nghĩa là trường độ dài hay ngắn, cácnguyên âm đỉnh vần được qui về hai loại: 9 nguyên âm dài (i, a, u, ư, ơ,…);

2 nguyên âm ngắn (ă, â)

+ Đặc trưng về thuần sắc và chuyển sắc: các nguyên âm đỉnh vầnđược qui thành hai loại: nguyên âm thuần sắc (a, i, u, o,…); nguyên âmchuyển sắc (ia, ua, ưa)

- Từ phía kết vần

Kết vần do các bán âm và phụ âm đảm nhiệm Kết vần là bán âm, dohai bán âm /-j/( i, y) và /-w/( o, u) đảm nhiệm được miêu tả theo các đặctrưng về hàng (trước), độ mở (hẹp), dáng môi (tròn môi/ không tròn môi)tương ứng với các nguyên âm (/-j/ < /i/, /-w/ < /u/)

Kết vần do phụ âm đảm nhiệm, các phụ âm kết vần được miêu tả theohai nhóm đặc trưng cơ bản:

+ Nhóm 1: Theo vị trí cấu âm: môi (-m, -p); đầu lưỡi (-n, -t); mặt lưỡi(- nh, -ch); cuốn lưỡi (- ng, -c)

+ Nhóm 2: Theo phương thức cấu âm: khép tắc mũi (m, n, nh,

Trang 24

-Giữa đỉnh vần và kết vần còn được xem xét theo phương thức kết âm(còn gọi là dạng tiếp hợp) chặt/ lỏng Kết âm chặt thể hiện ở nguyên âm đỉnhvần có trường độ ngắn còn kết âm lỏng thể hiện ở nguyên âm đỉnh vần cótrường độ dài.

Khi khảo sát và nhận xét diễn biến lịch sử của vần tiếng Việt từ thế kỉXVII đến nay thể hiện trên chữ viết, chúng tôi áp dụng cách miêu tả vần như

đã trình bày ở trên

1.5 Tiểu kết

Như vậy, trong tiếng Việt hiện đại, số lượng vần phong phú hơn nhiều

so với âm đầu (22 âm đầu) và thanh điệu (6 thanh điệu) Theo thống kê,tiếng Việt hiện đại có tất cả 159 vần, với 18 vần mở, 28 vần nửa mở, 59 vầnnửa khép, 56 vần khép Tuy nhiên, nếu như âm đầu được các nhà ngôn ngữhọc quan tâm nghiên cứu cả về mặt đồng đại lẫn lịch đại, thì phần vần lạichưa dành được vị trí xứng đáng như tầm quan trọng của nó Nghiên cứu hệthống vần tiếng Việt trong sự phát triển của nó chắc chắn sẽ mang lại nhiềuvấn đề lí thú, góp phần làm sáng tỏ những vấn đề thuộc về lí thuyết cũngnhư thực tiễn của tiếng Việt hiện đại, cung cấp những tư liệu lịch sử để lígiải và phục dựng diễn trình của tiếng Việt trong lịch sử

Trang 25

Chương 2: Hệ thống vần tiếng Việt thế kỉ XVIII

qua từ điển Việt - La2.1 Số lượng

Theo thống kê, chúng tôi xác lập được trong Từ điển Việt - La 141vần tương ứng với vần tiếng Việt hiện đại (159 vần) Từ điển Việt - La

không ghi nhận các vần ưm, uyn, êng, oong, ôông, uych, uyêc, uêch, uyp, ooc, ôôc như tiếng Việt hiện đại, nhưng lại có các vần như ơu, enh, uơn, êc, uia, uiêc.

2.2 Miêu tả hệ thống vần tiếng Việt thế kỉ XVIII

2.2.1 Vần mở

a Số liệu thống kê

Trên cơ sở nghiên cứu tư liệu đã có, chúng tôi đã thu thập và lập thành

bảng thống kê các vần mở được phản ánh trong Từ điển Việt- La gồm 18 vần

Trang 27

- Các vần là nguyên âm dòng trước, không tròn môi: i, ê, e

Dựa vào bảng thống kê trên, chúng ta có thể nhận thấy rằng, cách ghi

các vần trên trong Từ điển Việt - La là tương đối tập trung và thống nhất Cụ thể: vần i được phản ánh hoàn toàn giống với vần tiếng Việt hiện đại (vần i

có trong 93/93 từ)

Trang 28

Vần ê có 83/84 từ được ghi là ê, chiếm 98.8% Có 1 trường hợp êđược ghi thành i: giê ghi thành gi (chúa giê su - chúa gi su).

Vần e có 78/84 từ, chiếm 92.6% Có 1 trường hợp e được ghi là i: bẽ được ghi thành bĩ (bẽ bàng- bĩ bàng, bẽ mặt - bĩ mặt) Có 1 trường hợp e được ghi là en: vẻ được ghi thành vẻn (vẻ vang - vẻn vang) Có 2 trường hợp

e được ghi thành ê: đè ghi thành đề (đè nén - đề nén); mẹ ghi thành mệ (mẹ nuôi - mệ nuôi) Có 1 trường hợp e được ghi thành a: xe ghi thành xa (xe kéo

- xa kéo).

- Các vần là nguyên âm dòng sau, không tròn môi: a, ư, ơ

Các vần này được phản ánh trong Từ điển Việt - La hoàn toàn thống nhất với cách ghi như tiếng Việt hiện đại Cụ thể như sau: vần a có trong

103/103 từ

Vần ư có 59/61 từ được ghi là ư, chiếm 96.7% Có 1 trường hợp được ghi thành ê: thử ghi thành thể (giả thử - giả thể, xem thử - xem thể,…) Có 1 trường hợp ghi thành ơ: thư ghi thành thơ (thư sinh - thơ sinh, gửi thư - gửi thơ,…).

Vần ơ có 80/84 từ được ghi là ơ, chiếm 95.2% Có 1 trường hợp ghi thành ưa: thớ- thứa (thớ cây - thứa cây, thớ thịt - thứa thịt) Có 1 trường hợp

ơ được ghi thành ai: sợ ghi thành dái (quen sợ dạ, lạ sợ áo - quen dái dạ, lạ dái áo) Có 2 trường hợp ơ được ghi thành ư: cớ ghi thành cứ (bằng cớ - bằng cứ); giờ ghi thành chừ (bấy giờ - báy chừ).

- Các vần là nguyên âm dòng sau, tròn môi: u, ô, o

Các vần này được phản ánh trong Từ điển Việt- La tương đối tập trung

và thống nhất, cách ghi cơ bản là trùng khít với cách ghi tiếng Việt hiện đại

Vần o có 93/96 từ được ghi là o, chiếm 96.9% Có 3 trường hợp o ghi thành u: nho ghi thành nhu (nhà nho - nhà nhu, nho sinh - nhu sinh, rừng

Trang 29

nho - rừng nhu,…); phó ghi thành phú (phó thác - phú thác); ngọ ghi thành ngũ ( tiết đoan ngọ - tiết đoan ngũ).

Vần ô có 73/74 từ được ghi là ô, có 1 trường hợp ô được ghi thành a:

hồ ghi thành hả (hồ hởi - hả hởi)

- Các vần chuyển sắc: ia, ua, ưa, uia.

Các vần như ua, ươ đều được phản ánh hoàn toàn giống với tiếng Việt

hiện đại

Vần ia có 31/33 từ được ghi là ia, chiếm 93.9% Có 1 trường hợp được ghi thành ai: nghĩa ghi thành ngãi (nghĩa vua tôi - ngãi vua tôi, nghĩa anh em - ngãi anh em, ) Có 1 trường hợp ghi thành ê: kia ghi thành tê (nơi kia - nơi tê, người kia - người tê,…).

Vần ưa có 65/67 từ ghi là ưa, chiếm 97%, có 1 trường hợp được ghi thành ơ: tựa ghi thành tợ ( ví tựa- ví tợ, xem tựa- xem tợ) Có 1 trường hợp

ưa ghi thành ương: lừa ghi thành lường (lừa đảo- lường đảo).

Vần uya trong tiếng Việt hiện đại được ghi là uia có 1/1 từ: khuya ghi thành khiua (đêm khuya- đêm khuia, ban khuya - ban khuia,…)

2.2.2 Vần nửa mở

a Số liệu thống kê

Trên cơ sở nghiên cứu tư liệu đã có, chúng tôi đã thu thập và lập thành

bảng thống kê các vần nửa mở được phản ánh trong Từ điển Việt- La gồm 25

vần, trong đó có 15 vần nửa mở kết thúc bằng bán âm /-j/ ( i/ y) và 10 vầnnửa mở kết thúc bằng bán âm /-w/ ( o/ u):

Trang 31

Trong 15 vần nửa mở kết thúc bằng bán âm /- j/ ( i/ y) có 7 vần được

phản ánh hoàn toàn giống với tiếng Việt hiện đại, đó là các vần: oi, oai, oay, uôi, uây, uai, uay.

Vần ai có 98/103 từ được ghi là ai, chiếm 95.1% Có 2 trường hợp ai ghi thành ay: nài ghi thành này (nài nỉ- này nỉ); thai ghi thành thay (khoan thai- khoan thay) Có 2 trường hợp ai được ghi thành ơi: khải ghi thành khởi (khải hoàn - khởi hoàn); thái ghi thành thới (thái bình- thới bình) Có 1 trường hợp ai ghi thành âi: cai ghi thành câi (cai bần - câi bần).

Trang 32

Vần ây có 58/59 từ được ghi là ây, chiếm 98.3% Có 1 trường hợp ây được ghi thành ay: tẩy ghi thành tảy (thuốc tẩy - thuốc tảy, tẩy chữ - tảy chữ).

Vần ay có 82/89 từ được ghi là ay, chiếm 92.1% Có 3 trường hợp ay được ghi thành ây: mày ghi thành mầy (anh mày- anh mầy, cha mày- cha mầy); này ghi thành nầy (người này- người nầy, chốn này- chốn nầy,…); gáy ghi thành gấy (gà gáy - gà gấy) Có 3 trường hợp được ghi thành ai: hãy ghi thành hãi (hãy còn- hãi còn, hãy nói- hãi nói,…); dáy ghi thành dái (dơ dáy -

dơ dái); nảy ghi thành nải (nóng nảy- nóng nải) Có 1 trường hợp ay được ghi thành i: này ghi thành ni (người này- người ni, trong này- trong ni,…).

Vần ôi có 75/81 từ được ghi là ôi, chiếm 92.6 % Có 1 trường hợp ôi được ghi thành oi: sồi ghi thành sòi (cây sồi- cây sòi) Có 2 trường hợp ôi được ghi thành ui: tối ghi thanh túi (tối trời- túi trời, tối tăm- túi tăm,…); thối ghi thành thúi (thối tha thúi tha) Có 2 trường hợp ôi ghi thành uôi: nối ghi thành nuối (nối dõi nuối dõi); xôi ghi thành xuôi (xa xôi- xa xuôi)

Vần ơi có 58/62 từ được ghi là ơi, chiếm 93.5% Có 1 trường hợp ơi được ghi thành ai: giới ghi thành giái (hạ giới- hạ giái, thế giới- thế giái, kinh giới- kinh giái, bát giới - bát giái,…) Có 1 trường hợp ơi được ghi thành ôi: cởi ghi thành cổi (cởi áo- cổi áo) Có 1 trường hợp ơi được ghi thành i: thời ghi thành thì (thời tiết- thì tiết, kip thời- kịp thì, sinh thời- sinh thì,…) Có 1 trường hợp ơi được ghi thành ươi: bới ghi thành bươi (bới móc

- bươi móc).

Vần ui có 63/66 từ được ghi là ui, chiếm 95.5% Có 1 trường hợp ui được ghi thành ôi: dùi ghi thành giồi(dùi mài- giồi mài) Có 1 trường hợp ui được ghi thành âu: túi ghi thành bâu (túi áo- bâu áo) Có 1 trường hợp ui được ghi thành oi: ngủi ghi thành ngỏi (ngắn ngủi - ngắn ngỏi).

Trang 33

Vần uy có 20/22 từ được ghi là uy, chiếm 90.9% Có 1 trường hợp được ghi thành ung: hủy ghi thanh hủng (hủy hoại- hủng hoại) Có 1 trường hợp được ghi thành i: thủy ghi thành thỉ (thủy chung- thỉ chung, vô thủy vô chung - vô thỉ vô chung,…).

Vần ươi có 21/24 từ được ghi là ươi, chiếm 90.3% Có 3 trường hợp ươi được ghi thành ơi: cưỡi ghi thành cỡi (cưỡi ngựa- cỡi ngựa); rượi ghi thành rợi (mát rượi- mát rợi); rưởi được ghi thành rởi (rác rưởi- rác rởi).

Vần ưi có 2/4 từ được ghi là ưi, chiếm 50% Có 1 trường hợp ưi được ghi thành ươi: chửi ghi thành chưởi (chửi rủa- chưởi rủa, chửi bới- chưởi bới) Có 1 trường hợp được ghi thành ơi: gửi ghi thành gởi (gửi thư - gởi thơ)

Hiện nay một số từ như túi (tối), thúi (thối), ni (này), cổi (cởi), chưởi (chửi) là phương ngữ được dùng trong các vùng Nghệ Tĩnh.

- Bảng vần nửa mở có kết vần /-w/ (o, u):

Ngày đăng: 18/12/2013, 20:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Dựa vào bảng thống kờ trờn, chỳng ta cú thể nhận thấy rằng, cỏch ghi cỏc vần trờn trong Từ điển Việt - La  là tương đối tập trung và thống nhất - Hệ thống vần tiếng việt thế kỉ XVIII qua từ điển việt   la của pierre pigneaux de béhaine luận văn tốt nghiệp đại học
a vào bảng thống kờ trờn, chỳng ta cú thể nhận thấy rằng, cỏch ghi cỏc vần trờn trong Từ điển Việt - La là tương đối tập trung và thống nhất (Trang 26)
- Bảng vần nửa mở cú kết vần /-j/( i/ y): V - L - Hệ thống vần tiếng việt thế kỉ XVIII qua từ điển việt   la của pierre pigneaux de béhaine luận văn tốt nghiệp đại học
Bảng v ần nửa mở cú kết vần /-j/( i/ y): V - L (Trang 28)
- Bảng vần nửa mở cú kết vần /-w/ (o, u): V - L - Hệ thống vần tiếng việt thế kỉ XVIII qua từ điển việt   la của pierre pigneaux de béhaine luận văn tốt nghiệp đại học
Bảng v ần nửa mở cú kết vần /-w/ (o, u): V - L (Trang 31)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w