1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hệ thống chợ ở thanh hóa từ đầu thế kỉ XIX đến năm 1945

94 441 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hệ thống chợ ở Thanh Hóa từ đầu thế kỷ XIX đến năm 1945
Tác giả Trần Thị Thu Hiền, Bùi Thị Thúy Châu
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Quang Hồng
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2007
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 264 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các hoàng đế nhàNguyễn có nhiều đặc ân cho quê hơng nh: Dành riêng một trờng thi, giảm thuế,miễn một phần lao dịch, trọng dụng quan lại… Vấn đề đặt ra là: Liệu kinh tế nóichung, kinh tế

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo

Trờng Đại học Vinh

- -Bùi thị thuý châu

Từ năm 2000 đến năm 2006

Luận văn thạc sĩ lịch sử

Bộ giáo dục và đào tạoTrờng Đại học Vinh - -

Trang 2

Vinh - 2007

Mục lục

Bộ giáo dục và đào tạo

Trờng Đại học Vinh - -

Trang 3

Mục lục

Trang

Chơng 3 Một vài đặc điểm của hệ thống chợ ở Thanh Hóa

từ thế kỷ XIX đến năm 1945 và ảnh hởng của chợ đối với

3.2 Chuyển biến của hệ thống chợ ở Thanh Hóa dới thời thuộc Pháp 70

Trang 4

3.2.1 Chuyển biến về số lợng và quy mô buôn bán trao đổi ở các chợ 70

3.2.3 Chợ và sự hình thành các trung tâm thơng mại 713.3 ảnh hởng của chợ đối với tình hình phát triển của tỉnh Thanh Hóa 723.3.1 ảnh hởng của chợ đối với kinh tế Thanh Hóa 723.3.2 ảnh hởng của chợ đến đời sống văn hóa, xã hội 733.3.3 Chợ với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở Thanh Hóa 82

Hà Năm 1831-1832 với cải cách của vua Minh Mạng, trấn Thanh Hoa đổithành tỉnh Thanh Hoá và là 1/16 tỉnh từ phủ Thừa Thiên ra Bắc Ra đời trong

điều kiện chế độ phong kiến Việt Nam đang trên con đờng suy yếu, nhàNguyễn cố duy trì chế độ quân chủ chuyên chế trung ơng tập quyền Nghiêncứu hệ thống chợ ở trấn Thanh Hoa - tỉnh Thanh Hoá từ năm 1802-1884 là góp

Trang 5

phần tìm hiểu về kinh tế hàng hoá trong điều kiện chế độ quân chủ chuyên chếtồn tại Đây là điều mà các nhà nghiên cứu Sử học trong và ngoài nớc rất quantâm, nhất là trong xu thế hiện nay việc đánh giá nhà Nguyễn đã và đang trởthành một vấn đề đáng quan tâm trong giới sử học.

Thanh Hoá là quê hơng của dòng họ Nguyễn Phúc Các hoàng đế nhàNguyễn có nhiều đặc ân cho quê hơng nh: Dành riêng một trờng thi, giảm thuế,miễn một phần lao dịch, trọng dụng quan lại… Vấn đề đặt ra là: Liệu kinh tế nóichung, kinh tế hàng hoá trao đổi ở hệ thống chợ nói riêng từ ven biển đến trung

du miền núi ở Thanh Hoá phát triển nh thế nào? Thông qua việc nghiên cứu về

hệ thống chợ ở chính quê tổ của dòng họ Nguyễn trong thời gian từ 1802-1884, đềtài hy vọng sẽ giúp chúng ta có cái nhìn khách quan, toàn diện về tình hình kinh tế,thơng mại ở các trấn - tỉnh thành thời Nguyễn

Từ 1884-1945 khi thực dân Pháp đặt chân lên nớc Việt Nam, chúng thựchiện ngay quá trình xâm lợc và bình định Việt Nam Vơng quốc Đại Nam củadòng họ Nguyễn trớc đây trở thành thuộc địa của Pháp Tỉnh Thanh Hoá vốn là

đất “quý hơng” của nhà Nguyễn nay trở thành 1 trong 12 tỉnh thuộc xứ Trung

Kỳ do thực dân Pháp cai trị Cùng với những chính sách cai trị về chính trị, xãhội thì kinh tế thuộc địa cũng ra đời ở cả Bắc, Trung, Nam Kỳ Hệ thống chợ ởnớc ta có nhiều thay đổi Qua nghiên cứu đề tài chỉ rõ những thay đổi của hệthống chợ ở tỉnh Thanh Hoá đang trong thời kỳ thuộc địa nửa phong kiến Điềunày góp phần đánh giá khách quan, chính xác về kinh tế Thanh Hoá nói riêng,kinh tế nớc ta nói chung thời Pháp thuộc Đây là điều mà các nhà sử học trong

và ngoài nớc đang rất quan tâm

Sự hình thành các tiểu vùng kinh tế và các chợ ở Thanh Hoá không chỉphản ánh nét riêng của các vùng kinh tế xứ Thanh mà còn cho thấy ảnh hởngcủa nó đến sự phát triển chung về kinh tế - xã hội - văn hoá của vùng đất này Nhìnnhận vấn đề thơng mại qua hệ thống các chợ của một tỉnh lớn nh Thanh Hoákhông chỉ là lịch sử phát triển kinh tế của một vùng đất mà còn có thể rút ra nhữngvấn đề văn hoá - xã hội sâu sắc giúp cho việc phát triển xã hội

Trang 6

2 Về mặt thực tiễn

Đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu về chợ ở Thanh Hoá một cách toàn diện

và vị trí, ảnh hởng của hệ thống chợ đối với đời sống kinh tế, chính trị, xã hội ởtrấn Thanh Hoa - tỉnh Thanh Hoá trong chế độ quân chủ xã hội thuộc địa nửaphong kiến Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần vào việc biên soạnlịch sử Thanh Hoá, lịch sử các huyện trong tỉnh

Đề tài tập hợp các t liệu để có một cái nhìn tổng quan về hệ thống chợ ởThanh Hoá thời kỳ 1802-1945

Thông qua việc nghiên cứu hệ thống chợ đề tài giúp cho các địa phơngnhận thức đúng vị trí, vai trò của chợ trong đời sống xã hội để từ đó giúp choviệc quy hoạch quản lý chợ có hiệu quả lớn, thiết thực giải quyết vấn đề bứcxúc hiện nay là mở chợ, quy hoạch và quản lý chợ

Đề tài còn góp phần giáo dục tinh thần yêu quê hơng, trân trọng nhữnggiá trị vật chất và tinh thần của cha ông cho thế hệ trẻ

Với ý nghĩa khoa học và thực tiễn trên, tôi đã mạnh dạn chọn “Hệ thốngchợ ở Thanh Hoá từ thế kỷ XIX đến năm 1945” là đề tài nghiên cứu cho luậnvăn tốt nghiệp thạc sỹ khoa học lịch sử của mình

II Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Chợ là biểu hiện của sự phát triển kinh tế, văn hoá trong nền kinh tế nôngnghiệp cổ truyền Thời phong kiến đã có rất nhiều các tài liệu có đề cập đếnchợ: Quốc sử quán triều Nguyễn khi biên soạn Đại Nam nhất thống chí phầntỉnh Thanh Hoá đã có thống kê một số chợ ở Thanh Hoá thế kỷ XIX ĐồngKhánh d địa chí, Thanh Hoá tỉnh chí (Vơng Duy Trinh) Đây là những tácphẩm lịch sử có giá trị thời phong kiến lu giữ lại toàn cảnh xã hội phong kiếnViệt Nam Tuy nhiên các tài liệu này mới chỉ đề cập một cách sơ lợc, thậm chímới chỉ nêu tên đợc một số chợ ở các địa phơng, chứ cha đề cập một cách cụthể và có hệ thống về chợ và những hoạt động của chợ ở Thanh Hoá nói riêng

và cả nớc nói chung trong lịch sử

Trang 7

* Thời Pháp thuộc: Có 3 tác phẩm rất có giá trị của ngời Pháp là: “

Thanh Hóa sử ký yếu lợc” của H Le Breton (Nguyễn Quý Toản dịch);“Ngờinông dân châu thổ Bắc kỳ” (Piese Gourou - Bản dịch NXB trẻ Tp HCM -2003);

“Le Thanh Hoa” của Ch Robequain (Bản dịch Xuân Lênh - 1929) Mặc dù cáctác phẩm này đã đề cập một cách khá kỹ một số chợ ở Bắc Bộ và Thanh Hoánhng cha đề cập hệ thống và đầy đủ về chợ ở Thanh Hoá từ miền núi đến miềnbiển

* Từ năm1945 đến nay:

Có nhiều nguồn tài liệu nghiên cứu liên quan và đề cập đến chợ.

Các tài liệu nghiên cứu của các nhà sử học Việt Nam tiêu biểu là nhà sửhọc Nguyễn Đức Nghinh với các bài: “Chợ làng ở đồng bằng Bắc Bộ”, “Mấynét phác thảo về chợ làng”, “Chợ làng - một nhân tố củng cố mối liên hệ dântộc” trong các tạp chí nghiên cứu lịch sử; Trần Thị Hoà với “Chợ làng trớc Cáchmạng Tháng Tám năm 1945 (Tạp chí dân tộc học số 2/1981); Các bài nghiên cứuhầu nh chỉ đề cập đến chợ chung và những vấn đề liên quan đến chợ chứ cha đề cậpriêng về hệ thống chợ ở Thanh Hoá hay một địa phơng cụ thể

Chợ quê, chợ huyện ở Thanh Hoá còn đợc đề cập trong một số tài liệu về lịch

sử địa phơng ở Thanh Hoá nh: Lịch sử Thanh Hoá, phác thảo lịch sử kinh tế ThanhHoá (Phạm Văn Đấu); lịch sử địa chí các huyện nh địa chí Đông Sơn, địa chí HàTrung, địa chí Thọ Xuân, địa chí Hoằng Hoá, địa chí Hậu Lộc

Rải rác trong các tập giới thiệu về đặc sản các miền xứ Thanh cũng có đềcập đến các chợ với cái nhìn văn hoá - xã hội hơn là về kinh tế, thơng mại

Nhìn chung, chợ là vấn đề đợc nhiều ngời quan tâm, các công trình kểtrên đã đề cập đến một số nội dung về chợ ở các huyện, xã Thanh Hoá trongkhoảng thời gian mà đề tài đề cập Nhng cho đến nay cha có một công trìnhchuyên khảo nghiên cứu về hệ thống chợ một cách toàn diện và có hệ thống.Chúng tôi rất trân trọng những kết quả của những ngời đi trớc và lấy đó làmnguồn t liệu để nghiên cứu đề tài này

III đối tợng và phạm vi nghiên cứu

Trang 8

1 Đối tợng nghiên cứu: Là hệ thống chợ ở Thanh Hoá (chợ làng, chợ

xã, chợ huyện, chợ tỉnh, chợ phủ) các huyện miền xuôi đến miền núi

2 Phạm vi nghiên cứu: Từ đầu thế kỷ XIX đến 1945.

IV Các nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu

1 Các nguồn t liệu

T liệu chợ trong các tài liệu th tịch có nói đến thơng mại và chợ ở ThanhHoá nh: Đại Nam nhất thống chí, Đồng Khánh d địa chí tài liệu từ các cuốnsách lịch sử tỉnh, lịch sử huyện, lịch sử các làng xã

Nguồn từ liệu điền dã do chúng tôi điều tra khảo sát thực tế tại các chợcủa các vùng Đây là nguồn t liệu chủ yếu của luận văn

đến sự phát triển kinh tế và văn hoá của địa phơng từ đầu thế kỷ XIX đến năm

1945 Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần đánh giá khách quan về kinh tếcủa nhà Nguyễn, kinh tế thời thuộc Pháp trên địa bàn Thanh Hoá

Luận văn cũng góp phần lý giải vì sao thế kỷ XIX ở Thanh Hoá, vẫnkhông có cơ hội hình thành các phố thị, cảng thị theo kiểu Châu Âu mà chỉ có

Trang 9

Luận văn đã góp phần tập hợp hệ thống t liệu để nghiên cứu, so sánhtham khảo cho các nghiên cứu biên soạn lịch sử địa phơng.

Kết quả nghiên cứu của luận văn còn góp phần giúp cho các nhà hoạch

định chính sách ở địa phơng tham khảo để xây dựng quy hoạch phát triển hệ thốngchợ ở các huyện, thành trên địa bàn cho phù hợp với kinh tế địa phơng

VI Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chơng:

Trang 10

ở vị trí cửa ngõ miền trung, địa đầu Bắc Bộ, Thanh Hoá mang tínhtrung gian giữa Bắc và Trung Bộ.

Vị trí địa lý của Thanh Hoá kéo dài từ miến núi cao phía Tây cho đếntận Biển Đông Đặc điểm này đã tạo nên sự phân hoá phức tạp các yếu tố tựnhiên cũng nh kinh tế, xã hội.Việc tiếp giáp với nhiều tỉnh, nhiều vùng giápThanh Hoá có điều kiện giao lu trong nớc và quốc tế bằng đờng bộ, đờngthuỷ, đờng hàng không tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế của tỉnh

1.1.1.2 Điều kiện tự nhiên

*Khí hậu: Thanh Hoá nằm trong miền khí hậu nhiệt đới gió mùa của

Đông Nam á, với mùa đông lạnh ít ma, có sơng giá, sơng muối, mùa hè nónglắm ma nhiều, có gió Tây khô nóng Khí hậu là một trong những yếu tố rấtquan trọng của hoàn cảnh tự nhiên luôn tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đếnmọi hoạt động của con ngời, của sinh vật và các hoạt động kinh tế

Khí hậu nhiệt đới gió mùa mang tính quyết định đến chu trình pháttriển của các loài động, thực vật tạo ra một môi trờng động thực vật nhiệt đới

đa dạng, phong phú Yếu tố khí hậu đã tác động đến đời sống kinh tế của conngời ảnh hởng đến sự phát triển kinh tế và xã hội

Khí hậu nhiệt đới gió mùa mang tính quyết định đến chu trình phát triểncủa các loài, tạo ra một môi trờng để cây lúa nớc sớm đợc thuần dỡng và trởthành loại cây trồng chủ đạo tạo nên nền kinh tế nông nghiệp điển hình của ViệtNam, Đông Nam á nói chung và Thanh Hóa nói riêng

Điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng lắm ma nhiều đặt ra nhiều thách thứctrong sản xuất nông nghiệp nh thiên tai, lũ lụt, hạn hán và cũng vì thế đã tạonên tâm lý, phong cách của con ngời xứ Thanh cần cù, tần tảo, chịu thơng,chịu khó, thích nghi và sáng tạo trong việc chinh phục thiên nhiên để tồn tại

và phát triển

* Sông ngòi: Thanh Hoá có mạng lới sông suối chằng chịt dày đặc, baogồm 5 hệ thống sông chính

Trang 11

Sông Hoạt chạy qua vùng Hà Sơn, Nga Sơn; sông Mã, sông Chu chảyqua vùng Thọ Xuân, Yên Định, Thiệu Hoá, sông Yên chảy qua vùng NhXuân, Tĩnh Gia, Nông Cống; sông Lạch Bạng chảy trong huyện Tĩnh Gia;vàsông Cầu Chày chảy qua Ngọc Lặc.

Sông Mã là hệ thống sông lớn nhất trong tỉnh, bắt nguồn từ độ cao1000m ở vùng Điện Biên Phủ, chảy vào Thanh Hoá từ Mờng Lát chảy quachâu lỵ huyện Quan Hoá,Vĩnh Lộc, Yên Định đến Làng Bông rồi chia làm 2nhánh đổ ra bể: ở cửa Sung và cửa Hới Đến Yên Vực có nhánh thứ ba nữachảy ra từ Lạch Triều gọi là Lạch Trờng Các cửa lạch là nơi ẩn nấp tốt chocác thuyền buôn, thuyền câu dọc bờ và đi biển Sông Mã cùng với hệ thốngsông ngòi Thanh Hoá chuyên chở phù sa bồi đắp nên vùng đồng bằng châuthổ rộng lớn, là hệ thống giao thông đờng thuỷ quan trọng nối liền các vùngtrong tỉnh và các tỉnh bạn, thúc đẩy sự giao lu và phát triển kinh tế

Nh vậy hệ thống sông ngòi có vai trò vô cùng quan trọng trong cuộcsống của c dân và sự phát triển kinh tế ở miền núi địa hình hiểm trở, gậpghềnh, việc vận chuyển lâm sản nh gỗ, nứa, tre, luồng đờng bộ rất khókhăn vì thế c dân miền núi đã biết lợi dụng các con sông, con suối để có thểvận chuyển lâm đặc sản xuống tiêu thụ ở đồng bằng Ngợc lại, c dân miềnxuôi lại đa vải, gạo, muối, đồ sành sứ lên miền núi trao đổi tạo nên hoạt độngtrao đổi hàng hoá giữa các vùng miền trong tỉnh thúc đẩy nội thơng và phát triển

* Địa hình, đất đai

ở vùng Thanh Hoá có đầy đủ các dạng địa hình: từ vùng núi cao đếnvùng đồi, vùng đồng bằng, vùng ven biển và hải đảo Cảnh quan môi trờngphong phú địa hình phức tạp đã tạo nên các tiểu vùng kinh tế đa dạng thờinguyên thuỷ đến thời hiện đại

Vùng đồi núi ở Thanh Hoá chiếm 3/4 diện tích của cả tỉnh đợc chialàm 3 bộ phận khác nhau: vùng đồi núi phía Bắc, vùng đồi núi phía Nam,vùng đồi núi phía Tây

Trang 12

Vùng đồi núi phía Tây, thợng lu dọc 2 bờ sông Mã là những ngọn núi

đá chênh vênh, vách dựng đứng cao trên dới 1000m Vùng này toàn là rừngrậm, có nhiều chỗ còn hoang vu nhng chứa nhiều tiềm năng Lâm sản ở nơi

đây rất nhiều và quý, nổi tiếng cả nớc nh cây quế “Quế ở tổng Trịnh Vạn loạitốt nhất phải mua bằng vàng” [13;775]; rồi củ nâu dùng để nhuộm vải, sanhân là vị thuốc rất quý, ngoài ra còn có hơn 600 loài cây thuốc mọc tự nhiêntrong những cánh rừng rậm Thanh Hóa Gỗ ở Thanh Hoá nổi tiếng khắp xứTrung Kỳ về chủng loại và chất lợng: quế, lim, sến, táu, pơmu Các loại gỗnày đều không bị mối mọt và đợc dùng nhiều trong sản xuất đồ gỗ Dới tánrừng già có nhiều loài động vật quý hiếm vừa cung cấp nguồn thực phẩm vừadùng làm thuốc, làm đồ trang sức Đây là những mặt hàng luôn tồn tại vàkhông ngừng tăng lên trong thị trờng nội huyện và thị trờng trong nớc

Từ vùng cao đồi núi thấp dần xuống, khi đến tiếp giáp với đồng bằngthì chỉ còn là những khu đồi cao khoảng 400m Vùng trung du này trải rộngbao gồm các phủ: Hà Trung, Thọ Xuân, Quảng Hoá; các huyện Yên Định,Thạch Thành, Cẩm Thuỷ; các châu Ngọc Lặc, Nh Xuân ở vùng này đất đaimàu mỡ nhng còn hoang hoá, lại có hệ thống sông ngòi phong phú nên cónhiều điều kiện để phát triển cây nông nghiệp, cây ăn quả và chăn nuôi giasúc Nơi đây sớm hình thành các làng cổ kinh tế nông nghiệp cổ đã phát triểntrên vùng đất này cùng với các nghề thủ công có liên quan đến sản xuất nôngnghiệp , thúc đẩy mạng lới hệ thống chợ ngày càng phát triển ở các làng xã -nơi trao đổi những mặt hàng rất phong phú dù chỉ là những sản phẩm mangtính chất thuần tuý, đơn giản trong gia đình nông dân khi họ cha dùng đến

Vùng đồi núi Thanh Hoá còn có trữ lợng lớn về nguyên vật liệu xâydựng nh các loại đá vôi, đá gramit, cao lanh, đất sét vùng núi cao hàmchứa nhiều khoáng sản có giá trị nh vàng, crôm, thiếc

Với sự dồi dào, phong phú, đa dạng về tài nguyên khoáng sản, trung dumiền núi Thanh Hoá không chỉ là khu vực trọng yếu về an ninh quốc phòng

Trang 13

mà còn có nhiều điều kiện để phát triển kinh tế đặc biệt là kinh tế công th ơngnghiệp.

Đồng bằng chiếm gần 1/3 diện tích tự nhiên của cả tỉnh Đây là đồngbằng rộng thứ 3 trong cả nớc sau đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sôngCửu Long Đồng bằng Thanh Hoá có đầy đủ tính chất của một đồng bằngchâu thổ do phù sa của hệ thống sông Mã bồi đắp trên một vịnh biển nông

Đất thấp, vùng trũng, nhiều đầm, phá, bầu Có nhiều loại đất khác nhau

nh đất mặn, đất cát ven biển, đất phù sa đợc bồi đắp hàng năm tạo cho

đồng bằng Thanh Hoá có một vẻ đẹp riêng.[17;12]

Với diện tích rộng lớn, bên cạnh u thế phát triển cây lơng thực, cây ănquả, trồng cói ở vùng ven biển và chăn nuôi gia súc, gia cầm, đồng bằng còn

có lợi thế để phát triển cây công nghiệp tiểu thủ công nghiệp, thơng nghiệp,dịch vụ Với những cánh đồng phì nhiêu Thanh Hoá là một vựa lúa lớn của

xứ Trung Kỳ

Vùng biển Thanh Hoá có diện tích 17.000-18.000 km2, gấp 1,6 diệntích đất liền Đờng bờ biển dài 120km có dạng cánh cung, bờ biển có nhiềukhối núi Tài nguyên phong phú với 193 loài thực vật phù du, trữ lợng tôm,cá, mực, moi rất lớn[39;32] Đây cũng chính là những mặt hàng quan trọng,chủ yếu và là nguyên liệu để chế tạo ra những nhu yếu phẩm cần thiết chocuộc sống con ngời.nguồn hải sản là cơ sở cho việc giao lu hải sản, lâm sảncác vùng

Địa hình đa dạng, đất đai màu mỡ, cây trồng phong phú, nhiều loạilâm sản, hải sản, trữ lợng khoáng sản lớn Thanh Hoá có điều kiện để pháttriển một nền kinh tế toàn diện Từ xa tới nay c dân các vùng miền đã khaithác các loại tài nguyên, khoáng sản, nông sản phẩm trao đổi giữa các vùngmiền trong tỉnh, trong vùng Và mặc dù bị các dãy núi án ngữ, nhng lại tiếpgiáp với nhiều tỉnh và nớc bạn Lào, rồi nh một ngăn kéo mở ra biển Đông,Thanh Hóa không chỉ tiến hành giao lu trao đổi buôn bán giữa các vùng,miền, tỉnh, làng trong tỉnh, các huyện mà còn phát triển thơng mại quốc tế

Trang 14

Tuy nhiên cũng nh hầu hết các tỉnh thành trong cả nớc, để phát triển nềnkinh tế hàng hoá gặp rất nhiều khó khăn: giao thông thuỷ - bộ còn hạn chế,dân c phân tán, cuộc sống còn nghèo khó, đơn giản, t tởng bị bó hẹp vì thếThanh Hoá thời này vẫn chỉ tồn tại một nền kinh tế tiểu nông tự cung tự cấp.

1.1.2 Điều kiện xã hội

Sau khi đánh bại nhà Tây Sơn, Nguyễn ánh lập ra vơng triều Nguyễn,lên ngôi hoàng đế, đặt niên hiệu là Gia Long Nếu tính từ Gia Long đến Bảo

Đại (vị vua cuối cùng) thì triều Nguyễn tồn tại 143 năm Trong gần một thế

kỷ rỡi, lịch sử Thanh Hoá chia làm 2 giai đoạn chính Giai đoạn đầu từ 1802

đến 1884 là thời kỳ xây dựng đất nớc, củng cố chế độ quân chủ TW tậpquyền Giai đoạn sau từ 1885 trở đi, Thanh Hoá phải chịu ách đô hộ của thựcdân Pháp Trong chơng trình này chúng tôi đề cập đến tình hình nội thơng ởThanh Hoá trong giai đoạn đầu của nhà Nguyễn còn tồn tại với t cách là Nhànớc quân chủ TW tập quyền, độc lập tự chủ thông qua hệ thống chợ ở ThanhHoá

*Đơn vị hành chính:

Trớc hết về mặt hành chính, đầu thời Nguyễn (1802) Thanh Hoá vẫn

có tên gọi là trấn Thanh Hoa với các khu vực hành chính cha có gì thay đổi

so với thời Lê Sau đó từ năm 1806 đến 1838 dới các triều vua Gia Long,Minh Mạng, Thiệu Trị thtì đã có một số thay đổi về mặt hành chính nh thêmmột số phủ huyện trong tỉnh Năm 1841, Thiệu Trị đã đổi tỉnh Thanh Hoathành tỉnh Thanh Hoá Và có thể nói cho đến thời Tự Đức (1848-1883) địadanh cũng nh vị trí địa lý của các phủ, huyện, châu của Thanh Hoá đã tơng

đối ổn định Toàn tỉnh có 5 phủ: Tống Sơn, Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hoá,

Mỹ Hoá.[48;226]

Phủ Thiệu Hoá gồm 3 huyện: Đông Sơn, Thuỵ Nguyên, Yên Định, phủQuảng Hoá gồm 4 huyện và 1 châu: Vĩnh Lộc, Thạch Thành, Quảng Địa,Cẩm Thuỷ, châu Quan Hoá

Trang 15

Phủ Thọ Xuân có 1 huyện và 2 châu: huyện Lôi Dơng, châu ThờngXuân và châu Lang Chánh.

Phủ Tĩnh Gia có 3 huyện: Ngọc Sơn, Quảng Xơng, Nông Cống

Thanh Hoá cũng nh các địa phơng khác trong cả nớc, vào thế kỷ XIX

có sự thay đổi ít nhiều về bộ máy quản lý và tên gọi các cơ quan, đặc biệt làgiữa hai thời điểm trớc và sau cải cách hành chính của Minh Mệnh tháng10/1931 Cấp trấn đứng đầu là trấn thủ hay đốc trấn Đứng đầu cấp tỉnh làquan tổng đốc Sau tổng đốc là bố chánh, án sát và lãnh binh Cấp phủ,huyện, châu: Quan đứng đầu phủ là tri phủ, đứng đầu huyện là tri huyện,

đứng đầu huyện là tri huyện, đứng đầu châu là tri châu Những huyện, châumiền núi thì đặt là thổ tri huyện, thổ tri châu

Dới cấp tỉnh là cấp phủ Một phủ bao gồm nhiều huyện Địa danh phủnày còn lu lại ở một số nơi với cái tên: chợ phủ Có thể xem chợ phủ là loạichợ vùng

Cấp tổng: Dù tổng không phải là một cơ quan độc lập nh huyện và xãnhng rất quan trọng trong hỗ trợ cho phủ huyện điều hành, quản lý xã thôn

Đứng đầu tổng là cai tổng, lý trởng, một trong những mắt xích không thểthiếu trong hệ thống quan lại ở địa phơng

* Quân đội: Thời Nguyễn có tổ chức chặt chẽ, trang bị vũ khí hiện đạihơn nhiều so với các triều đại trớc đó Đặc biệt Thanh Hóa còn là “quý hơng”của nhà Nguyễn Từ tỉnh lỵ, quý hơng, ngoài biển, ven biển, thợng du gầnbiên giới đều đợc xây thành đắp lũy bảo vệ đề phòng bên ngoài tấn công vào

địa phận của tỉnh Nh vậy, tuy đất nớc thống nhất nhng về hoạt động quân sựnhà Nguyễn vẫn một mặt có ý thức cao cảnh giác với những âm mu xâm lợccủa bên ngoài, mặt khác cũng thẳng tay đàn áp những cuộc nổi dậy từ bêntrong, tiễu trừ giặc biển cớp phá

* Dân c: Thanh Hoá là một vùng đất có lịch sử lâu đời Con ngời xuấthiện sớm và gắn bó liên tục với mảnh đất này Nhng mặt khác, do hoàn cảnh

tự nhiên thuận lợi, do những biến cố lịch sử, nhiều tộc ngời, nhóm ngời từ

Trang 16

những vùng đất khác nhau đã di c đến đây sinh sống với c dân bản địa baogồm các dân tộc: Việt, Mờng, Thái, Hơ Mông, Dao, Khơ Mú ở họ cónhững phong tục tập quán khác nhau rất phong phú, đa dạng nhng tất cả cùngthống nhất về địa bàn khai thác và sinh sống.

Ngời việt chiếm đa số trong dân c của cả tỉnh Địa bàn c trú cũng rộng

và mật độ đông đúc Họ sống thành làng và định c bền vững, tập trung chủyếu ở vùng đồng bằng, ven biển với nghề nông trồng lúa nớc, hoa màu vàchăn nuôi gia súc, gia cầm, khai thác thuỷ sản và làm muối Nổi tiếng với cáchoạt động thủ công, ngời Việt đã làm nên những đặc sản xứ Thanh: chè lamPhú Quảng, bánh gai Tứ Trụ các nghề thủ công truyền thống ngày càngphát triển với các mặt hàng đa dạng, phong phú nổi tiếng trong cả nớc nh đúc

đồng, làm đá, trồng dâu nuôi tằm dệt lụa Thủ công nghiệp phát triển tạo

điều kiện cho thơng nghiệp phát triển, hình thành mạng lới chợ dày đặc trongcác làng, xã, huyện, trong tỉnh để trao đổi sản phẩm thủ công giữa các làng,xã, huyện với nhau

ở miền núi Thanh Hoá là địa bàn c trú lâu đời của các dân tộc Thái,Mờng,Khơ Mú,Dao,Thổ trong đó ngời Thái, Mờng chiếm đa số và giữ vị tríquan trọng về kinh tế, xã hội và quốc phòng

Ngời Mờng cục mịch hơn ngời Kinh, có thái độ tự chủ, khá cơng quyết vàphụ thuộc vào ngời cầm đầu có quyền uy tuyệt đối Họ c trú trên địa bàn rất rộngthuộc các huyện Bá Thớc, Thờng Xuân, Nh Xuân, Ngọc Lặc, Thạch Thành NgờiMờng sống dựa vào ruộng rẫy, chăn nuôi trâu bò Bên cạnh đặc sản cơm Lam thìnét đặc sắc nhất trong văn hóa của ngời Mờng là văn hoá cồng chiêng Với địa bàn

c trú rộng, khá ổn định, nhiều sản vật miền núi và nông phẩm của c dân mình đãtạo ra quá trình trao đổi buôn bán rất nhộn nhịp với các dân tộc khác và với ngờiKinh dới xuôi

Ngời Thái từ miền Tây Bắc di c vào Thanh Hoá Lúc đầu họ tập trungchủ yếu ở huyện Quan Hoá rồi xuôi theo các dòng sông, cho đến khi gặp địabàn c trú thuận lợi (đất đai, rừng núi, sông ngòi ) họ dừng lại lập làng, lập

Trang 17

bản Dựa vào lợi thế tự nhiên của các thung lũng, bãi bồi ven sông, ngời Tháikhai khẩn xây dựng thành ruộng nớc, nhiều thửa tập trung thành cánh đồngkhá rộng Ngời Thái có chữ viết riêng và thờng ở nhà sàn Dáng đi của họmạnh mẽ và nhanh nhẹn hơn ngời Việt Văn hoá Thái phong phú đa dạng vàbền vững có nhiều nét tơng đồng với ngời Thái ở Tây Bắc, Đông Bắc, NamBắc thích giao lu, trao đổi.

Ngời Hơ Mông, di dân theo các đợt từ Nam Trung Quốc tới vùng núi caobiên giới Việt - Lào ở Quan Hoá Họ chiếm lĩnh các sờn núi cao bên trên cácthung lũng hẹp và sâu mà ngời Thái đã khai thác, chăn nuôi rất giỏi Ngời H’Mông

có tiếng nói và chữ viết riêng, có nhiều nét sinh hoạt văn hoá, phong tục tập quán

độc đáo, thích sống theo phơng thức du canh, du c Ngời Mông giỏi việc rèn sắt,nông cụ, chiến cụ Do c trú trên vùng núi cao họ có nhu cầu trao đổi với các dântộc khác: muối dầu, kim chỉ, vải vóc,đồ sắt

Ngời Dao từ miền Nam Trung Quốc đến các tỉnh Tuyên Quang, QuảngNinh rồi di c và vùng Cẩm Thuỷ, Ngọc Lặc (Thanh Hoá) Họ di c trên các s-

ờn núi thấp, trên các chòm, bản của ngời Mờng Ngời Dao có trình độ văn hoákhá cao, rất linh hoạt, nhiều lễ hội, lễ tục truyền thống độc đáo, dùng chữ Nho

để ghi chép nhng khi phát âm lại theo tiếng Dao Họ thờng làm các ngôi nhàdạng nửa sàn nửa đất, sống dựa vào nơng rẫy, làm giấy và nhuộm vải, trao đổihàng hoá trở thành nhu cầu tất yếu của họ

Ngời Thổ có nhiều nét gần với ngời Mờng và ngời Kinh, sống tập trung

ở Nh Xuân Ngời Thổ trồng nhiều xoan là loại cây có gỗ nhẹ, dễ làm, bền lạikhông mọt rồi chặt đa xuống xuôi bán cho dân làm nhà Trâu bò của họ rấtnhiều Phụ nữ Thổ rất khéo tay Sợi gai lấy về họ đem nhuộm rồi dệt thànhnhững hình vẽ đơn giản mà rất đẹp Vì thế ngoài gỗ, trâu bò, thì ngời Thổcòn có các mặt hàng thổ cẩm, sợi rất độc đáo và đặc sắc ở các chợ

Ngời Khơ Mú di c từ Sơn La vào Họ sống theo chòm không có chữviết riêng, nói theo nhóm ngôn ngữ Môn- Khơ Me

Trang 18

Bên cạnh các dân tộc ngời thiểu số đến từ các vùng miền khác nhau

đó, Thanh Hoá cũng tiếp cận các tỉnh kế cận một số lợng lớn di c Tổng Tuần

La (Tĩnh Gia) tiếp giáp với Nghệ An, phần lớn là các gia đình quê gốc ởhuyện Quỳnh Lu và Yên Thành Tổng Lạc Thiện ở phía Nam Nông Cốngtrong các hàng Luật Thông, Hoa thôn, Đồng phú và nhất là Bến Chuồng có1/3 dân gốc là ngời Nghệ An, từ giữa thế kỷ XIX, việc di c của ngời Bắc kỳkhá đông đúc, góp phần vào việc khai phá châu thổ ở hai bãi biển bùn lầyNga Sơn Thôn Cổ Định - Nông Cống, tổng Cao Xá - Yên Định Có rấtnhiều các gia đình quê gốc Hà Nam, Hng Yên, Hải Dơng, Nam Định, là thợgặt rồi định c luôn Năm 1887, Thanh Hoá có 60 Hoa Kiều làm các nghềkinh doanh và dịch vụ

Cho đến cuối thế kỷ XIX, c dân Thanh Hoá đã tơng đối ổn định Dân

số năm 1893 có khoảng 1.250.000 ngời Trên địa bàn toàn tỉnh đã có mặt hầuhết c dân nhng sự phân bố không đồng đều.Vùng đồng bằng đông dân, cónhiều nghề thủ công truyền thống tạo ra nhiều nguồn hàng hoá thúc đẩy sựtrao đổi hàng hoá Vùng núi, trung du mật độ dân c tha hơn đồng bằng và cácvùng dọc bờ sông lớn,kinh tế kém phát triển.Trong khi ở Hoằng Hoá nhiềuxã có mật độ dân c là 1.000 ngời/km2, thì ở Quan Hoá là 10 ngời Nh vậy,Thanh Hoá là một tỉnh có dân c tơng đối đông đúc bao gồm nhiều nhóm ngờikhác nhau Ngoài nhóm ngời Kinh động nhất còn tập hợp các nhóm ngờikhác, dân tộc khác.Việc hội tụ c dân thuộc nhiều dân tộc khác nhau, nhiềuvùng miền khác nhau mang theo nhiều đặc trng văn hóa khác nhau, kinh tế

đa dạng,chênh lệch nhau giữa các vùng,vấn đề giao lu buôn bán trao đổihàng hóa giữa các dân tộc là nhu cầu thiết yếu.Sự đa dạng về văn hoá-tộc ng-

ời là một trong những yếu tố tạo nên những nét riêng về văn hoá cho các chợ

ở các tiểu vùng kinh tế.Với góc nhìn xã hội học có thể thấy rằng sự phát triểnkhông đồng đều giữa các vùng miền là một trong những yếu tố tạo nên sựgiao lu trao đổi thông qua các hoạt động của chợ và nó cũng tạo ra đặc điểmriêng biệt của các chợ miền núi với các chợ miền xuôi, miền biển của Thanh

Trang 19

hóa, góp phần tạo nên bức tranh hoàn chỉnh về kinh tế nội thơng của tỉnhThanh hóa từ đầu thế kỷ XIX đến năm1945.

* Giao thông vận tải:

ở thế kỷ XIX, Thanh Hoá đợc nối với kinh đô Phú Xuân ở phía Nam

và kinh thành Thăng Long ở phía Bắc bằng hai tuyến đờng chính là đờng bộ

và đờng thuỷ Trong đó, trên tuyến đờng bộ từ trấn Thanh Hoá, nhà Nguyễncho xây dựng một tuyến nhà trạm: trạm Thanh Khoa, Thanh Xá, Thanh Thái,Thanh Sơn, Thanh Cao Các trạm này có khoảng cách tơng đối đều nhau, nốiThanh Hoá với các huyện phía Bắc và Nam Thanh Hoá, đồng thời nối tỉnhThanh Hoá với kinh đô Huế và Thăng Long bằng con đờng Thiên Lý (đờngThiên Lý thời Nguyễn gần với đờng số 1 ngày nay)

- Tuyến đờng bộ phục vụ chủ yếu cho các loại hình giao thông nh đi

bộ, ngựa, voi trong đó đi bộ là phổ biến

Ngoài tuyến đờng bộ Bắc Nam này, từ tỉnh lỵ Thanh Hoá đến cáchuyện khác còn các tuyến đờng bộ liên huyện nối liền các huyện đồng bằngvới các huyện miền núi.Đáng chú ý là các tuyến:

1- Thị xã Thanh Hoá qua Đông Sơn,Triệu Sơn,Thọ Xuân lên các huyệnmiền núi nh Ngọc Lặc,Lang Chánh,Bá Thớc,Quan Hoá,Quan Sơn và sangLào

2- Đờng từ thị xã Thanh Hoá qua Đông Sơn lên Thiệu Hoá,Yên

Định,Vĩnh Lộc,Thạch Thành và nối với Ninh Bình

3- Phía Tây là hệ thống đờng bộ nối thị xã Thanh Hoá với NhXuân,Nh Thanh

4- Phía đông là đờng nối liền thị xã Thanh Hoá với Hoằng Hoá và HậuLộc,và một con đờng từ thị xã qua Lai Thành xuống Sầm Sơn

5- Ra các tỉnh phía Bắc có các con đờng:

+ Từ tỉnh lỵ ra Nga Sơn, Phát Diệm, Nho Quan, Ninh Bình

+ Từ tỉnh lỵ lên Thạch Thành ra Nho Quan, Chung Đức, Hà Tây

+ Từ tỉnh lỵ lên Quan Hoá ra Hng Hoá hớng theo phía Tây sang Lào

Trang 20

- Đờng thuỷ: Thanh Hoá là tỉnh có nhiều sông Ngoài các con sôngnhỏ còn có 2 con sông lớn: Sông Mã và Sông Lơng (Sông Chu) Tất cả tạothành mạch máu giao thông liên huyện của phần lớn số huyện trong tỉnh.

Thanh Hoá có hệ thống giao thông đờng thuỷ khá rộng rãi và thuận lợi.Nếu tính từ chợ tỉnh (trung tâm thơng mại của Thanh Hoá) theo đờng sônghàng hoá có thể đến đợc hầu hết các nơi trong tỉnh

Theo sông Mã từ biển (cửa Hới) có thể qua các huyện của đồng bằng

nh Hoằng Hoá, Đông Sơn, Hậu Lộc, Thiệu Hoá, Yên Định, Vĩnh Lộc và cáchuyện miền núi nh Cẩm Thuỷ, Bá Thớc, Ngọc Lặc, Lang Chánh, Quan Hoá,Quan Sơn, Mờng Lát

Theo phụ lu của sông Mã nh sông Chu có thể tới các huyện phía Nam nh Thờng Xuân và sang tận Lào

Tây-Theo sông Bởi từ Vĩnh Lộc có thể lên Thạch Thành và các huyện miềnnúi Hoà Bình

Trớc khi hệ thống đờng bộ hình thành thì hệ thống giao thông đờngthuỷ có vai trò quyết định trong việc giao lu hàng hoá trong và ngoàitỉnh.Cho đến ngày nay đờng sông vẫn phát huy vai trò của nó.Các con sông

đã tạo nên những thị trấn, thị tứ, các trung tâm thơng mại và các chợ Đây làmột đặc điểm của chợ nói chung và chợ Thanh Hoá nói riêng:chợ ở ven sông

Nh vậy điều kiện tự nhiên, môi trờng, xã hội ở Thanh Hoá đã ảnh hởngrất lớn đến đời sống xã hội dẫn đến sự ra đời của các chợ.Và chính sự ra đờicủa các chợ cũng là yếu tố tác động ngợc trở lại với nền kinh tế và đời sốngxã hội

1.2 Hệ thống chợ Thanh Hoá từ 1802-1884

Trớc 1858, dới thời Hậu Lê, chỗ dựa cơ bản của chế độ quân chủ vẫn

là kinh tế nông nghiệp Nhà nớc nắm quyền sở hữu đại bộ phận ruộng đấttrong nớc (ruộng công các làng xã), trên cơ sở đó định ra các chính sách thuế

và địa tô Chính sách đó nhằm mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho Nhà

n-ớc Làng xã thời kỳ Hậu Lê cha vợt ra khuôn khổ của chế độ quân chủ Nó

Trang 21

vừa là tế bào của xã hội, vừa là một đơn vị kinh tế độc lập mang nặng tính tựcấp, tự túc dựa trên ngành chính là nông nghiệp trồng lúa nớc kết hợp vớinghề phụ gia đình Cũng trên cơ sở đó làng xã trở thành một đơn vị thơngnghiệp với hoạt động ở chợ làng khá tấp nập Đây là trung tâm trao đổi sảnphẩm nông nghiệp và thủ công nghiệp Tại đó, những ngời nông dân, thợ thủcông mua bán trao đổi trực tiếp với nhau hoặc cũng có khi thông qua conbuôn đóng vai trò trung gian Trong chợ, dựng quán tranh đơn sơ không cóphố xá với cửa hàng buôn bán thờng trực Lúc chợ phiên ngời mua bán đông

đúc tấp nập, tan chợ chỉ là những lều quán trơ trọi Phiên chợ cha nhiều nhngphiên chợ làng này không trùng với phiên chợ làng khác Chợ làng với thuếgóp phần tăng thêm thu nhập của Nhà nớc Nhng nhìn chung, chợ trớc 1858vẫn còn mang nặng tính trao đổi các sản phẩm thủ công nghiệp là chính củacác gia đình tiểu nông với nền kinh tế khép kín, tự túc, tự cấp Đến thờiNguyễn, đất nớc thống nhất, tiền tệ, dân tộc thống nhất tạo điều kiện chokinh tế phát triển Đặc biệt ở Thanh Hoá việc tổ chức, cai trị của nhà Nguyễncũng nh với dân số đông và phong phú nghề thủ công truyền thống, với đờnggiao thông đợc mở rộng, tu sửa đã góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển biểuhiện là các chợ mọc lên ngày càng nhiều, hàng hoá đa dạng, ngời mua bántấp nập trong những ngày chợ phiên Tuy nhiên hoạt động nội thơng ở ThanhHoá thời Nguyễn vẫn chỉ rất hạn chế trong bối cảnh chung của cả nớc

Thanh Hoá không chỉ là một trấn lớn, có vị trí địa lý quan trọng mà còn

là đất “quý hơng” (Gia Miêu),”quý huyện” (Tống Sơn) quê hơng của nhàNguyễn và cũng là đất phát tích của nhà Lê, nhà Trịnh nên đã đợc hởng nhiều

đặc ân và có những chính sách cai trị với những lệ riêng Tuy nhiên, tình hìnhkinh tế chính trị, xã hội ở trấn Thanh Hoa cũng không có sự khác biệt nhiều sovới các địa phơng khác trong cả nớc dới thời Nguyễn

Trong sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá nông thôn truyền thống,kinh tế thơng nghiệp ra đời nh là một hệ quả tất yếu từ sự tác động của haingành kinh tế nông nghiệp và thủ công nghiệp Nớc ta vốn là một nớc nông

Trang 22

nghiệp, tồn tại trên cơ sở của một nền văn minh nông nghiệp lúa nớc Do vậytrong khuôn khổ của nền văn minh ấy một mặt những quan hệ sản xuất t bản bịhạn chế đi rất nhiều, mặt khác lại sản sinh ra nhiều lớp ngời có khả năng sángtạo ra những sản phẩm thủ công có giá trị truyền thống.

Trên cơ sở văn minh nông nghiệp, gia đình tiểu nông hình thành vừa là

đơn vị sản xuất, vừa là đơn vị tiêu thụ sản phẩm do chính mình làm ra và chỉmột phần sản phẩm d thừa mới đợc đem ra bán - trao đổi ở chợ làng Trongcộng đồng làng xã nông thôn thì chợ là một hình thức thơng mại đóng vai tròquan trọng nhất

Qua các bộ chính sử, chúng ta biết đợc chợ ở Việt Nam xuất hiện từlâu đời Ngay từ thế kỷ XV, Lê Thánh Tông đã nói hễ có ngời là có chợ và đa

ra những quy định rất chặt chẽ về thể lệ họp chợ

Những xã cha có chợ thì đợc lập chợ mới, các phiên chợ phải lệchngày nhau để tránh tranh giành khách của nhau Nh vậy, chợ là một phơngtiện sinh hoạt không thể thiếu đợc của các cộng đồng c dân Chợ chủ yếu lànơi trao đổi các sản phẩm, hàng hoá Chợ thờng đợc mở những nơi đông ngờiqua lại, ở gần bến nớc, dới hàng cây cao râm mát, trên bến, dới thuyền Chợvì thế mà còn đợc gọi là chợ búa (búa: tiếng cổ nghĩa là bến)

Có nhiều loại chợ: chợ làng, chợ huyện và chợ tỉnh Chợ làng là trungtâm thơng mại của một làng và những làng lân cận Chợ huyện cũng thế khôngnhững chỉ là nơi trao đổi buôn bán của nhân dân trong huyện mà còn thu húthoạt động của thơng nhân các vùng lân cận Chợ tỉnh là chợ lớn nhất trong tỉnh,

đợc diễn ra tại trung tâm tỉnh lỵ Thanh Hoá Các chợ làng, chợ huyện hay chợtỉnh thì thờng lấy địa danh nơi mở chợ để đặt tên cho chợ

Mặc dù dới chế độ phong kiến kinh tế hàng hoá không phát triển nhng

do nhu cầu tự thân của việc giao lu văn hoá và nhu cầu của đời sống nên cácchợ vẫn tự giác hình thành

Trang 23

Theo “Tên làng xã Việt Nam”-Viện Nghiên cứu Hán-Nôm-Nhà Xuất bảnKhoa học Xã hội, 1981, trang 107 118: Thời Nguyễn Thanh Hóa gồm: 4phủ, 20 huyện, châu, cơ, 89 tổng, 1645 xã, thôn, động, sở.

Để tiện theo dõi chúng tôi xin lập bảng thống kê hệ thống phủ, huyện,tổng, châu, cơ ở Thanh Hoá thể kỷ XIX nh sau:

- Huyện Hoằng Hoá: 7 tổng, 161 xã, thôn , trang, xã

- Huyện Phong Lộc: 5 tổng, 91 xã, trang, sở

- Huyện Nga Sơn: 6 tổng, 100 xã, thôn, trang, sở, giáp

- Huyện Thuỵ Nguyên: 8 tổng, 85 xã, thôn, trang, giáp

- Huyện Đông Sơn: 6 tổng, 145 xã, thôn, trang, giáp

- Huyện Vĩnh Lộc: 7 tổng, 64 xã, thôn, trang, giáp

- Huyện Yên Định: 8 tổng, 104 xã, thôn, trang, giáp

- Huyện Lôi Dơng: 10 tổng, 139 xã, thôn, trang

- Huyện Cẩm Thuỷ: 7 tổng, 44 sách, thôn

03 Phủ Gia Tĩnh 3

- Huyện Ngọc Sơn: 4 tổng, 220 xã, thôn, trang,giáp

- Huyện Nông Cống: 9 tổng, 215 xã, thôn, trang,giáp

- Huyện Quảng Xơng: 4 tổng, 118 xã, thôn, trang,giáp

04 Phủ Thanh

Đô

5

- Tâm Châu: 2 động

- Phờng Thuỷ Cơ: 17 phờng

- Châu Quan Da: 10 động

- Huyện Thọ Xuân: 5 động, sách, thôn

Trang 24

- Châu Lang Chánh: 14 động, thôn.

Từ bảng thống kê cho thấy thời Nguyễn ở Thanh hoá gồm 4 phủ, 20 huyện,châu, cơ, 89 tổng, 1645 xã, thôn, động, sở; 33.230 nhân đinh [48 – 246] Sovới Nghệ An có 5 phủ, 5 phủ Kimi, 37 huyện thì Thanh hoá là một trong nhữngtrấn lớn trong vơng quốc Đại Nam nhng theo sự ghi chép của sách Đại Namnhất thống chí ở Thanh Hoá có những chợ sau đây:

- ở tỉnh lỵ Thanh Hoá có chợ tỉnh và chợ trâu bò

- Huyện Vĩnh Lộc có các chợ: Chợ Nhân Lộ, Kim Âu ở xã Kim Âu;chợ Biện (chợ Bồng) ở xã Biện xá

- Huyện Hậu Lộc có các chợ: chợ Du trờng ở xã Du Trờng, chợ Liên Cừ ởxã Liên Cừ; chợ An Giáo ở xã An Giáo, chợ Duy Tinh ở xã Duy Tinh

- Huyện Quảng Xơng có các chợ: Chợ Xuân Độ ở xã Xuân Độ, chợ Lý

ở xã Văn Trinh, chợ Sòng ở xã Thiền Xuyên, chợ Thung ở xã Giặc Thợng,chợ Lu Vệ ở xã Lu Vệ (còn gọi là chợ Voi vì ở trớc Núi Voi)

- Huyện Nông Cống có các chợ: Chợ Sen ở thôn Hà Sen; chợ DiễnNgoại ở xã Diễn Ngoại; chợ Cầu Quan huyện lỵ Nông Cống, chợ Thợng ởlàng Thợng xã Trung Chính

- Huyện Tống Sơn có các chợ: Chợ Tâm Quy ở xã Tâm Quy; chợ QuýHơng ở trang Gia Miêu, chợ Bái Đô ở xã Bái Đô, chợ Quang Lãng ở xãQuang Lãng (chợ huyện)

- Huyện Nga Sơn có các chợ: chợ Nhân Lý ở xã Nhân Lý, chợ Bạch Câu ởxã Bạch Câu, chợ Thiết Giáp ở xã Thiết Giáp, chợ Lao Lũng ở xã Lao Lũng

- Huyện Hoằng Hoá có các chợ: chợ Đồng Xá ở xã Đồng Xá, chợNghĩa Trang ở xã Nghĩa Trang, chợ Phú Vinh ở xã Phú Vinh, chợ HoằngNghĩa ở xã Hoằng Nghĩa, chợ Đại Phú ở xã Đại Phú, chợ Bút ở xã Bút Sơn,chợ Tuấn Mao ở xã Tuấn Mao

- Huyện Mỹ Hoá chỉ có 1 chợ Trịnh Sơn

Trang 25

- Huyện Thuỵ Nguyên có các chợ: Chợ Yên Lộ ở xã Yên Lộ; chợ PhúLai ở xã Phú Lai.

- Huyện Lôi Dơng có các chợ: chợ Thịnh Mỹ ở xã Thịnh Mỹ, chợ NamPhố ở xã Nam Phố

- Huyện Yên Định có các chợ: chợ Yên Định ở xã Yên Định, chợ Sét ở

đông nam bến đò Sét xã ái Thôn; chợ Bái Châu

- Huyện Đông Sơn có các chợ: Chợ Dơng xá ở Dơng xá, chợ Bố vệ ởthôn Kiều Đại xã Bố vệ

- Huyện Ngọc Sơn có các chợ: chợ Hải Uyên ở xã Hải Uyên, chợ VănTrai ở xã Văn Trai

- Châu Thờng Xuân có chợ Trịnh Vạn ở thôn Thờng Xuân, xã TrịnhVạn

Trên đây là hơn 40 chợ thuộc loại lớn, rải rác ở các huyện trong tỉnh.Còn một số huyện nh Cẩm Thuỷ, Quảng Hoá, Thạch Thành, Châu Quan Hoákhông thấy sử cũ thống kê các chợ Có lẽ đây là những chợ bé nên sử cũkhông ghi chép Hơn nữa, các huyện này là những huyện miền núi trong tỉnhnên hoạt động buôn bán không thờng xuyên nh ở các huyện miền xuôi vàmiền biển

Ngoài những chợ đã đợc nói trên, còn phải kể đến các quán Quáncũng là hình thức chợ, nhng đợc họp theo mặt phố, mặt đờng thế kỷ XIX,Thanh Hoá có các quán sau đây:

Bản Thuỷ ở xã Bản Thuỷ, Phú Điền ở xã Phú Điền thuộc huyện Vĩnh Lộc

Đông Lai ở xã Thọ Hạc, Đình Hơng ở xã Đình Hơng huyện Đông Sơn.Thổ khối ở xã Thổ Khối, Bỉm Sơn ở xã Bỉm Sơn, Thiên Tôn ở Quý h-

Trang 26

Vào thời Nguyễn, ở tỉnh lỵ Thanh Hoá có một chợ lớn nhất gọi là chợ

“Tỉnh” (Vì theo lệ xa, dẫu là chợ làng, chợ huyện, hay chợ tỉnh thì thờng lấytên địa danh nơi mở chợ để đặt tên cho chợ),”nằm ở địa phận Đông Sơn, ngoàicửa Đông Nam tỉnh thành”.Sau này vị chợ gần vờn Hoa của công viên nên gọi

là chợ Vờn Hoa và tên đó đợc giữ cho đến tận ngày nay

Chợ ở Trấn Tỉnh một tháng họp 6 phiên trong đó có 3 phiên chính họpvào các ngày 7, 17, 27; 3 phiên xép họp vào các ngày 2, 12, 22 (âm lịch).Vào những ngày phiên chợ, quang cảnh tỉnh lỵ náo nhiệt vô cùng Ngay từ

đêm hôm trớc, ngời và hàng hoá các loại từ các phủ huyện xa gần đã đổ vềtỉnh lỵ để tờ mờ sáng ngày hôm sau họp chợ Không phải chỉ có các mặthàng sản xuất tại chỗ, mà còn có các mặt hàng nổi tiếng của các địa phơngmang về nh chiếu Nga Sơn, lụa Thiệu Hoá, chum vại Đông sơn, nớc mắmQuảng Xơng, Tĩnh Gia lại còn lâm thổ sản từ các châu trên miền núi đợc

đa về theo đờng sông Đặc biệt trong các phiên chợ chính có buôn bán trâu

bò (có khu vực riêng ở gần Mật Sơn gọi là chợ Trâu bò) Đàn trâu bò ở tỉnhThanh Hoá rất đợc các lái buôn ngoài Bắc a chuộng, họ vào Thanh Hoá muatrâu bò rồi đa theo đờng bộ ra bán làm sức kéo hay trâu bò thịt cho các tỉnhmạn ngoài Mỗi năm chợ tỉnh buôn bán đến 1.000 con trâu, 9.000 con bò,

900 con bê Xung quanh chợ tỉnh ở tỉnh lỵ còn có nhiều địa phơng có thểxem nh là vệ tinh của chợ tỉnh một mặt tiêu thụ hàng hoá của chợ tỉnh, mặtkhác cung cấp một số mặt hàng truyền thống của các địa phơng cho chợ Tỉnh

nh chợ Lu Vệ (huyện Quảng Xơng), chợ Dơng Xá (chợ Giàng); chợ Bố Vệ(cầu Bố); chợ Kim Bôi (chợ Bôn) đều thuộc huyện Đông Sơn

Nh vậy, chợ Trấn Tỉnh là chợ lớn nhất trong tỉnh Thanh Hoá thời Nguyễn

Từ 1807 đến 1884 trờng thi Hơng Thanh Hoá đều đặn tổ chức các kỳ thitheo ân điển của nhà vua.ở các chợ làng ,chợ huyện ít khi hoặc không bán cácmặt hàng nh giấy,bút, mực nghiên nên các nhõi thờng phải đến chợ trấn tỉnh đểmua.Vì thế chợ còn là nơi các nho sĩ, trí thức gặp nhau trao đổi, bàn chuyện thi

cử học hành.Theo thống kê của Đại Nam nhất thống chí từ 1802 đến 1884

Trang 27

Thanh Hoá có 11 trờng học ở các phủ có 31 khoa thi Hơng, 310 thí sinh đỗ cửnhân hoặc tú tài So với 27 tỉnh trong số 31 tỉnh thành của cả nớc dự thi tổngcộng thi đỗ 3594 ngời thì Thanh Hoá xếp thứ 4 sau Hà Nội, Nghệ An và Nam

Định chiếm 8,62%.Về thi Hội trong 11 khoá thi thì số ngời đỗ là 17 trong đó có

9 tiến sĩ và 8 phó bảng,Thanh Hoá xếp thứ 8 trong 19 tỉnh thành có ngời thi đỗ.[39;729] Nh vậy chợ đã giúp nhiều thuận lợi cho họ trên con đờng công danhkhoa bảng

Nhng ngời đi chợ chính vẫn là các thơng nhân,thơng lái buôn bán hànghoá các loại.Ngoài ra còn có nông dân,thợ thủ công đến chợ bán các sảnphẩm thủ công và các sản phẩm gia đình làm ra mà không dùng đến.chợ tỉnh

là trung tâm buôn bán của cả tỉnh nên rất tấp nập, con em quan lại giàu cócũng thờng xuyên đợc đi chợ cùng bà hoặc mẹ Nh vậy chợ trấn tỉnh khôngchỉ là trung tâm buôn bán trao đổi hàng hoá mà còn là nơi gặp gỡ giao lu củacác tầng lốp trong xã hội

Ngoài ra, ở Thanh Hoá thời kỳ này còn có một hệ thống chợ huyện,chợ quê ngày một phát triển ở các huyện, các xã Hầu nh cứ cách vài làng,vài xã vài có một chợ quê Mạng lới chợ quê đã làm cho việc giao lu buônbán nhỏ thuận lợi nhng hầu nh vẫn mang tính chất thuần tuý đó là hàng đổihàng.Ngoài cây đa,bến nớc,mái đình thì chợ quê,chợ huyện,chợ phủ là mộtphần không thể thiếu của ngời dân Thanh Hoá trong cuộc sống Mạng lới chợquê này có sự hình thành, thời gian hình thành khác nhau và mang đặc điểmriêng của từng vùng miền trong tỉnh: chợ ở vùng miền núi, chợ ở vùng đồngbằng, chợ ở vùng ven biển, tuy nhiên vẫn nằm trong đặc điểm chung của sựphát triển kinh tế nội thơng của tỉnh Thanh Hoá nói riêng và vơng quốc ĐạiNam nói chung ở thế kỷ XIX

1.2.1 Chợ ở vùng miền núi

Miền núi Thanh Hoá có diện tích ớc tính khoảng 8000km2 với số dânkhoảng 1 triệu ngời Đất đai vùng này chiếm 3/4 diện tích toàn tỉnh dân c

Trang 28

chiếm 1/3, chủ yếu là các dân tộc ít ngời sinh sống: Mờng, Thái, Thổ, K.Mú,Dao [39;41].

Là một miền đất giàu có về tài nguyên thiên nhiên, khoáng vật nh mỏkẽm ở châu Nh Xuân, đồng ở Thờng Xuân Có lâm sản nhiều và quý: gỗ lim,vàng tâm, báng, giẻ, giổi, trầm, táu ngoài ra còn nhiều tre, nứa ở Nh Xuân,Lang Chánh, Quan Hoá, Thờng Xuân Tre nứa ở Thanh Hoá đợc ngời Mờng,ngời Thái dùng làm lũy rào quanh làng, làm nhà và còn dùng làm nong, nia,dần sàng, cần câu, gọng vó, gầu, phiên liếp, thừng chão, điếu hút thuốc, đồbát âm Quế có tiếng tố nhất tập trung ở Thờng Xuân, Lang Chánh, QuanHoá Quế ở đây rất thơm làm thuốc rất hay và bổ Cánh kiến ở Thờng Xuân

và Nh Xuân Củ nâu có nhiều ở Cẩm Thuỷ, Ngọc Lặc và Nh Xuân Trong

n-ơng rẫy của ngời Mờng còn có các thứ bông sợi tha và ngắn để dệt nên nhữngtấm vải sặc sỡ, đẹp mắt

Với những sản vật mà thiên nhiên ban tặng thì đây cũng chính lànhững mặt hàng thờng xuyên xuất hiện ở các chợ vùng cao Nó thúc đẩy hoạt

động buôn bán trao đổi hàng hoá ở các huyện, châu miền núi ngày càng sôinổi

Vì địa hình đặc điểm thiên nhiên có nét khác biệt so với các vùng đồngbằng ven biển trong tỉnh nên cuộc sống và hoạt động của c dân ở đây cũng cónét riêng biệt, độc đáo đặc biệt trong hoạt động trao đổi buôn bán hàng hoá.Trong các dân tộc thiểu số ở Thanh Hoá thì ngời Mờng chiếm số đông hơn cả

và cũng thể hiện rõ nét những biểu hiện về mọi mặt của cuộc sống bản làngvùng cao

Cuộc sống trong nhà của ngời Mờng là một cuộc sống êm ả dới bàntay sắp xếp của ngời phụ nữ Từ sáng tinh mơ, ngời phụ nữ Mờng đã trở dậy,xay thóc giã gạo ở dới sàn nhà và chuẩn bị bữa ăn cho ngời và gia súc Phụnữ Mờng có nhiệm vụ nuôi dạy con cái, se sợi dệt vải để may quần áo chomọi ngời trong gia đình Ngoài ra phụ nữ Mờng còn phải đi chợ Nam giớiMờng thì phải ra ruộng, lên nơng trồng ngô, bông và những thứ cây phụ

Trang 29

khác Họ còn là những tay săn lành nghề Họ còn phải vào rừng để lấy gỗ,tre, luồng về làm nhà, sửa nhà và bán lấy chút ít tiền Nếu là kỳ mục, họ cònphải có mặt với thổ lang trong mọi công việc, phải đi đi lại lại liên tục giữanhà mình với nhà thổ lang Và cuối cùng, ngời đàn ông Mờng cũng phải chợ.

Họ tới chợ bán một vài sản phẩm d thừa nh gà, hạt dẻ để kiếm ít tiền Khi

đàn ông đi chợ, các bà vợ hay đi theo Chợ là nơi lôi cuốn đàn ông Mờng vàcũng là nơi các cô gái trẻ yêu thích

Mỗi phiên chợ có đủ loại ngời Tuy nhiên chợ ở miền núi Ngọc Lặccòn tha thớt ngời hơn chợ miền xuôi Hàng hoá cũng rải rác nhng cũng rấtphong phú, đa dạng Ngời Thái đến chợ mua muối, gạo; Con còn có ngờiMán mang theo đồ thêu và đồ trang sức đến chợ để bán lấy tiền và mua cácmặt hàng khác phục vụ cho gia đình Những ngời dân miền núi này thờngmang tới chợ Phố Cống: ngô, cây thuốc, quả rừng và nhất là những tin tức vìchính họ là những du khách vĩ đại Với những món hàng đơn giản mà họ dễdàng kiếm đợc họ đã đem bán hoặc đổi các hàng hoá từ miền xuôi lên Vì đ-ờng sá xa xôi, phơng tiện giao thông còn thiếu thốn lạc hậu vì thế hàng hoámiền xuôi nh gạo, muối, cá đồ hải sản khô rất khan kiếm và trở lên quý và

đắt hơn rất nhiều Cũng vì thế họ đã đổi bằng hết những thứ họ đem đến chợ

và chỉ đem về rất ít hàng từ miền xuôi lên nhng đó là niềm vui của cả gia

đình

ở chợ miền núi này, ngời Kinh cũng lên tận đây để bán hàng Họ bàyhàng ngay trên mặt đất bên ngoài những lán tạm tha thớt trong chợ để bánhàng Họ tranh cãi nhau, lôi kéo khách mua gạo, đồ thủy tinh, các thứ dụng

cụ khác nhau, cá khô, tép khô, vải Trong những ngày này, ngời ta có thểmua thịt ở khắp chỗ trong chợ Chợ càng thêm sôi nổi Mặc dù chợ miền núiThanh Hoá này còn tha về phiên họp so với chợ miền xuôi nhng hoạt độngbuôn bán trao đổi diễn ra cũng rất nhộn nhịp Bởi c dân miền núi rất cầnmuối gạo, cá, đồ hải sản để phục vụ cho cuộc sống mà chỉ ở chợ mới có

Trang 30

Vì thế, hầu nh họ đã chuẩn bị từ những ngày trớc phiên chợ để có thể thựchiện trao đổi hàng hoá ở chợ.

Ngoài ra, vì miền núi Thanh Hoá đặc biệt là Lang Chánh, Ngọc Lặc,Thờng Xuân có nhiều đặc sản của rừng núi nên thơng nhân Hoa Kiều cũng

đã xuất hiện ở đây để mua những mặt hàng lâm sản nh: sừng voi, da hổ,báo tuy nhiên còn rất ít và tha

Chợ không chỉ đơn thuần là nơi đổi chác, mua bán các mặt hàng Chợ,nhất là ỏ vùng miền núi còn là nơi giao lu tình cảm, thăm hỏi bạn bè, ngờithân, thông báo tin tức, tình hình Ngày chợ là 1 ngày sinh hoạt kinh tế vàvăn hoá, ngày nông nhàn, nghỉ ngơi, giải trí, vui chơi Đến chợ miền núi,ngời ta có thể xem chọi gà, một trò chơi làm cháy túi nhng rất thú vị Tròchơi đợc mọi ngời a thích là trò đua nhau ném một quả vải qua 1 chiếc vòng

đặt trên chiếc sào cao giữa một bên là nam một bên là nữ Những lúc nh vậy,tiếng hát tiếng cời đùa rất vui vẻ làm náo nhiệt một góc chợ vùng cao mộtnhu cầu về nhàn rỗi tích cực với những ngời lao động nông nghiệp cần cù,quanh năm vất vả trên đồng ruộng, đồi nơng, thôn bản cần một sự thay đổikhông khí môi trờng Đặc biệt với chợ tết ở miền núi những khía cạnh đó,những nhu cầu đó càng đợc nhân lên gấp bội

Chợ miền núi còn là nơi hò hẹn trai gái, hội của những điệu múa, củatiếng hót họa my, của khèn sáo, của những điệu nhảy điêu luyện, những váy

áo, dù, nón, rực rỡ sắc màu của trai gái Mờng - Thái

Thời Nguyễn ở miền núi Thanh Hoá, địa hình còn hiểm trở, rừng thiêngnớc độc, làng bản còn rất tha thớt, cách xa nhau, dân c cũng cha nhiều mặc dùqua các di chỉ khảo cổ học cho thấy miền núi Thanh Hoá có con ngời sinh sống

từ lâu đời; Khi mà “miếng đất lá đa, ông trời bằng vảy ốc” nh kể chuyện xuốngmờng của ngời Thái Vì thế nên chợ ở miền núi còn ít nhng lại rất náo nhiệt,nhộn nhịp Trong hơn 40 chợ lớn, chủ yếu ở Thanh Hoá thời Nguyễn thì miềnnúi chỉ có khoảng 3 đến 4 chợ đợc sử sách ghi lại nh chợ Trịnh Vạn (xã TrịnhVạn, châu Thờng Xuân), chợ Phố Cống (Ngọc Lặc), chợ Kim (Thạch Thành);

Trang 31

chợ Quan Hoàng (Cẩm Thuỷ) còn lại các châu miền núi khác không thấy sửsách đề cập đến có lẽ là những chợ nhỏ Mặc dù đã hình thành một số chợ ở cácphố châu trên trên nhng ở miền núi việc trao đổi vẫn còn tồn tại hình thức muabán hàng đổi hàng là chủ yếu Nh vậy mặc dù chợ miền núi ít, nhỏ, họp theophiên rất tha nhng ảnh hởng rất lớn đối với đời sống kinh tế văn hoá của các dântộc ở đây Chợ miền núi là nơi trao đổi các loại hàng hoá, chủ yếu là hàng hoá

từ miền xuôi lên miền núi; là nơi tiêu thụ sản phẩm phong phú của miền núi;duy trì các hoạt động văn hoá đặc sắc và còn là nơi có các món ăn truyền thốngcủa ngời miền núi

1.2.2 Chợ ở vùng đồng bằng

Thời Nguyễn, đồng bằng Thanh Hoá rất rộng và dân c đông đúc gồmcác huyện; phủ: Phủ Hà Trung (gồm huyện Tống Sơn, Nga Sơn, Hoằng Hoá,

Mỹ Hoá, Hậu Lộc); phủ Thiệu Hoá (huyện Thuỵ Nguyên, Đông Sơn, Yên

Định); Phủ Gia Tĩnh (huyện Ngọc Sơn, Quảng Xơng, Nông Cống); phủQuảng Hoá (huyện Vĩnh Lộc, Vĩnh Tế, Thạch Thành) và các châu Quan Hoá,Cẩm Thuỷ, Ngọc Lặc, Thờng Xuân Nếu ở các Châu miền núi đơn vị hànhchính là thôn, bản thì ở miền xuôi (đồng bằng, ven biển) là làng xã

Làng cổ truyền không phải là một đơn vị dân c có tính chất hành chính mà

là một kết cấu có tính chất cộng đồng cao nh: cộng đồng lãnh thổ, cộng đồngkinh tế tự cấp, tự túc; cộng đồng với tâm lý, với phong tục, lệ làng riêng; cộng

đồng tín ngỡng nh thờ cúng những thành hoàng riêng của làng Làng là một đơn

vị dân c hợp thành trong quá trình khai thác đất đai để trồng trọt và sinh sống.Nét

đặc thù của đồng bằng là các làng nông nghiệp

Về tổ chức kinh tế: Làng truyền thống là một đơn vị tự quản, quản lý

và phân cấp công điền, công thổ cho các thành viên, mỗi làng có công quỹriêng Những làng có ngành nghề thủ công hay nghề truyền thống đợc giữ bímật riêng của mình

Mỗi làng đều đợc tổ chức một thị trờng mua bán đó là chợ làng Nhvậy, làng là một đơn vị có đầy đủ các yếu tố hoàn chỉnh của một cơ cấu xã

Trang 32

hội, có các hoạt động nông - công - thơng nghiệp - dịch vụ Cho đến thế kỷXIX, làng xã cha vợt ra khỏi khuôn khổ của chế độ quân chủ Nó vừa là tếbào của xã hội đồng thời vừa là một đơn vị kinh tế độc lập mang nặng tínhchất kinh tế tự cấp tự túc dựa trên ngành chính là nông nghiệp trồng lúa nớckết hợp với nghề phụ gia đình Cũng trên cơ sở đó làng xã trở thành một đơn

vị thơng nghiệp với hoạt động ở chợ làng khá tấp nập

Trên những nét tổng thể có thể nhận ra hai dạng chợ ở vùng đồngbằng: chợ quê (chợ làng),chợ huyện (chợ phủ) Sự phân biệt này không chỉ

do quy mô,thời gian họp chợ mà nhiều khi còn do các điều kiện kinh tế, xãhội khác

Chợ làng quy mô nhỏ,hàng hoá ít nhng họp đều đặn.Nó ra đời tựphát.Chợ làng là nơi trung tâm trao đổi sản phẩm nông nghiệp và thủ côngnghiệp Tại đó những ngời nông dân kiêm thợ thủ công thờng mua bán trao

đổi trực tiếp với nhau hoặc cũng có khi thông qua con buôn, đóng vai tròtrung gian Chợ làng thờng họp ở những nơi có vị trí thuận tiện, đất đai rộngrãi bằng phẳng ở đầu làng hay giữa làng; bên cạnh chùa hoặc đình, tiện đờng

đi lại, trên bến dới thuyền ở đó dựng lên những quán tranh đơn sơ, không cóphố xá với các cửa hàng buôn bán thờng trực Lúc chợ phiên ngời mua, ngờibán đông đúc tấp nập, tan chợ chỉ còn những lều quán trơ trọi Chợ phiên củalàng trong vùng thờng họp vào những ngày nhất định trong tháng, hoặc theongày chẵn, hay ngày lẻ Phiên chợ làng này không trùng với chợ làng kia Đó

là đặc điểm nổi bật của chợ làng Cũng nh ở Việt Nam nói chung thì ở ThanhHoá nói riêng chợ làng xuất hiện từ rất sớm Trong xóm làng thờng có chợ,

cứ hai ngày họp một phiên, hàng hoá trăm thứ bày la liệt Hễ cách 5 dặm thìdựng 1 ngôi nhà ba gian, bốn phía đặt chõng để họp chợ Theo đà phát triểncủa các làng xã, chợ làng cũng ngày càng phát triển Chợ làng đóng vai tròrất quan trọng trong sản xuất và lu thông trực tiếp đối với mỗi địa phơng

Chợ làng ở Thanh Hóa có nhiều nét tơng đồng với chợ làng ở các trấntỉnh thuộc khu vực Bắc Trung Bộ Chợ có thể họp vào lúc trời tờ mờ sáng

Trang 33

cũng có khi họp vào lúc chập tối, gọi là “chợ hôm”, “chợ chiều” Các chợtrong một tổng một huyện thờng họp vào thời gian khác nhau, lệch nhau, tạo

điều kiện cho c dân trong làng trong tổng đều có thể thu xếp mua bán trao

đổi hàng hóa Mặt khác, c dân trong làng có con gà, bó rau, ít cá tôm có thểbán đợc trong ngày Mỗi chợ làng có nhiều con đờng tắt, đờng ngang để cdân các làng trong một vùng có thể tranh thủ đi chợ và về nhà nhanh nhất

Hoạt động của chợ làng ngày càng đợc mở rộng Chợ phiên không chỉthu hút dân mấy tổng xung quanh mà do vị trí của nó chủ yếu do kinh tếhàng hoá phát triển dẫn tới nhiều chợ làng trở thành của một huyện và gọi làchợ huyện

Chợ huyện thờng phong phú hơn chợ làng,quy mô lớn nhng chợ cóphiên:phiên chính và phiên phụ Chợ huyện là nơi tụ họp buôn bán của “nămngời mời làng” chủ yếu là sản phẩm nông nghiệp, thóc lúa, lợn gà, rau quả

mà làng nào cũng có Các làng còn mang đến chợ huyện nhiều sản phẩm từnghề phụ gia đình Mỗi làng với nhiều loại sản phẩm riêng, biệt: Đồ mây tre,chiếu cói, gốm, hơng liệu, tơ lụa tạo nên một cảnh sắc vui mắt và thịnh v-ợng, hàng hoá chợ rất phong phú, đa dạng

Cùng với việc mở mang đất đai, sự phát triển kinh tế các chợ càngngày càng mọc lên nhiều hình thành chợ làng, chợ phủ Các chợ này đảmnhận chức năng là nơi trung tâm buôn bán hàng hoá có tính chất hạn chế ởtừng vùng hoặc trong phạm vi của một phủ hay vài làng xã lân cận Tuynhiên lúc đó còn có những luồng giao lu buôn bán giữa các miền với nhau,giữa tỉnh Thanh với các tỉnh láng giềng, lân cận

Đặc điểm chung dễ nhận thấy trong hệ thống chợ huyện, chợ phủ ởThanh Hóa thế kỷ XIX là nơi đặt chợ thờng gắn với lỵ sở của huyện của phủ.Chợ có diện tích từ 1 đến 2 mẫu đất đóng ở nơi thuận lợi giao thông thủybộ.Hàng hóa trong chợ đủ các lọai rất phong phú,ngời mua bán rất đông

Trang 34

Ngoài ra còn có “chợ làng nghề”là chợ tập trung bán sản phẩm của cáclàng nghề hoặc vật liệu của làng nghề nh chợ cói Nga Sơn, chợ Trà Đúc bán

đồ đồng ở Thiệu Hoá,chợ tơ tằm ở Thiệu Đô(Thiệu Hoá)

Nhộn nhịp, phát triển và tấp nập hệ thống chợ làng, chợ huyện, chợphủ ở Thanh Hoá thế kỷ XIX phải kế đến các chợ ở Đông Sơn và NôngCống Đây là 2 huyện có đặc điểm chung và riêng của vùng đồng bằngThanh Hoá Hơn nữa, đây là 2 huyện có nhiều ngành nghề thủ công truyềnthống và những sản vật tự nhiên phong phú, đã tạo ra sản phẩm thủ công đểthúc đẩy trao đổi buôn bán hàng hoá một cách sôi nổi

ở Đông Sơn nửa đầu thế kỷ XIX có các nghề thủ công không chỉ nổitiếng trong tỉnh mà còn có tiếng vang khắp cả nớc Đó là: nghề chế tác đá,làm gốm, đúc đồng, làm thừng, dệt tơ lụa, đan cót Ngoài ra, còn các nghềphụ khác nh nấu rợu, làm giấy, làm hơng

Tuy nhiên, kinh tế nông nghiệp vẫn có vị trí quan trọng trong kết cấukinh tế ở các làng nghề thủ công, nghề thủ công vẫn chỉ là nghề phụ, hỗ trợcho nông nghiệp là một bộ phận của nền kinh tế tiểu thủ nông nhng góp phầntích cực vào việc cải thiện đời sống nhân dân, phát triển nông nghiệp và th-

ơng mại

Nhờ có hệ thống đờng giao thông thuận lợi, ngay từ rất sớm, Đông Sơn

đã có điều kiện giao lu các vùng khác trong tỉnh và cả nớc Nằm ngay trungtâm của tỉnh Thanh Hoá lại là nơi định thành trì Đông Sơn sớm trở thành mộttrung tâm buôn bán quan trọng của xứ Thanh

Đến nửa đầu thế kỷ XIX, ở Đông Sơn đã hình thành nên 2 trung tâmbuôn bán lớn: trung tâm Cốc Hạ (các xã Đông Nam huyện Đông Sơn và nơi

có chợ tỉnh đóng); trung tâm Dơng Xá (nơi có thủ phủ Thiệu Hoá và chợ phủ

đóng)

Sự phát triển, dù là chậm chạp của kinh tế nông nghiệp và thủ côngnghiệp trong các làng xã chính là điều kiện thuận lợi thúc đẩy sự hình thànhmạng lới các chợ tơng đối dày đặc Cũng nh ở nhiều địa phơng khác trong cả

Trang 35

nớc, ở Đông Sơn chợ thờng xuất hiện ở những vùng kinh tế tơng đối pháttriển, dân c đông đúc, giao thông thuận tiện “ ở Đông Sơn nửa đầu thế kỷXIX còn có 27 chợ làng ở 27 xã thôn thuộc 6 tổng Nếu tính bình quân theodiện tích thì cứ 1.609 mẫu 7 sào (789ha =8 km2) có một chợ và tính bìnhquân theo số xã thôn thì cứ 4,5 xã có 1 chợ ” [9;215] Tuy nhiên, không phải

là cứ tổng nhiều xã là có nhiều chợ Mạng lới chợ làng ở Đông Sơn hìnhthành phụ thuộc chủ yếu vào yếu tố thuận lợi về đờng giao thông Nhữngtổng có nhiều đầu mối giao thông nhất là mật độ chợ cũng dày nhất Ví dụtổng Vân Quy gần sông, có giao thông thuận lợi thì cứ 2,5 xã có 1 chợ Ngợclại, tổng quan chiếu bị bao bọc bởi các xã thuộc các tổng trong huyện, không

có đầu nối với các huyện khác, không có sông thì 11,3 xã mới có 1 chợ.[17;25]

ở chợ tỉnh và chợ phủ hàng hoá rất phong phú, đặc biệt là các phiênchính Trong chợ làng hàng hoá chủ yếu là các sản phẩm phục vụ cuộc sốnghằng ngày Đặc biệt, ở các xã thôn có nghề thủ công, chợ làng thờng là nơi

để hàng thủ công nghiệp đi đến các gia đình, các xã thôn, các huyện lân cận

Nh chợ Chè chủ yếu là buôn bán đồ đồng; chợ Rỵ có nhiều thừng, chợ CốcHạ là nơi để trao đổi buôn bán đồ gốm: chum, vại, sành Chợ Giàng thì bánnhiều cót, chợ Vạc (Hồng Đô) có mặt hàng nhiễu, tơ tằm, chợ Vồm chủ yếubán nồi đất Các chợ ở Đông Sơn có những mặt hàng nổi tiếng riêng biệt nêndân gian đã đúc thành phơng ngôn:

- Ăn mít đi chợ Bôn, ăn tôm đi chợ Ghép

- Vải chợ Đừng, thừng chợ Rỵ

- Bánh đúc chợ Go, bánh tày to Quán Lào

- Chợ Rủn lắm củn (củi) nhiều than

Ngã năm Tuyên Hoá đồng hàn không lo

Ngoài đặc điểm về mặt hàng chợ là sự luân phiên của các phiên chợtheo chu kỳ phiên trong tháng Ngoài chợ phủ và chợ tỉnh thì các chợ làng th-ờng họp theo phiên chợ chính và phiên chợ xép Các phiên chợ này đợc sắp

Trang 36

xếp trong tháng theo 1 chu kỳ nhất định Sự khác biệt giữa phiên chợ chínhvới phiên chợ xép chính là số lợng và chủng loại hàng hoá; đặc biệt ở phiênchợ ngoài những mặt hàng thờng ngày thì có các mặt hàng thủ công truyềnthống và các loại gia súc và có giá trị nh trâu, bò, lợn Các phiên chợ lànggần nhau thì phải xếp phiên họp lệch nhau để ngày nào cũng có thể có chợphiên Các phiên chợ phủ kín các ngày trong tuần, trong tháng (theo âm lịch)tạo nên sự lu thông hàng hoá theo một vòng khép kín Sự phân chia các phiênchợ trong tháng của mạng lới chợ tạo điều kiện cho ngời dân quanh năm đợctrao đổi mua bán hàng hoá.

Đầu thế kỷ XIX, kinh tế thơng nghiệp trên địa bàn Đông Sơn đã tơng

đối phát triển Ngoài hệ thống chợ còn xuất hiện và tồn tại các quán Đó làquán Đông Lai (xã Thọ Hạc) và quán Định Hơng (ở xã Định Hơng) Đây là 2xã nằm ngay ở tỉnh thành Thanh Hoá Ngoài các mặt hàng phục vụ cuộc sống

nh nông sản, thực phẩm ở các quán còn có các cửa hàng ăn uống phục vụnhân dân trong vùng và phục vụ ngời đi lại trên con đờng thiên lý Bắc Nam

Huyện Nông Cống có mạng lới chợ búa dày đặc và nhiều chợ nổi tiếngtoàn tỉnh: Chợ Na, chợ Giắt, chợ Sim, chợ Đà, chợ Mốc, chợ Sen, chợ Dừa ngoài ra còn nhiều chợ nhỏ khác nữa

Chợ Nông Cống là “chợ quê”, chợ nông nghiệp ở các làng các vùngtrong khoảng cách 2-3 cây số thờng có 1 chợ, ngời dân có thể đi nhiều chợtrong 1 ngày [60;29]

Chợ ở Nông Cống tuy có mua bán song thực chất là trao đổi Bán mộtgánh nứa, 1 mớ gạo xong là mua ngay các thứ khác chứ ít khi cầm tiền vềnhà Việc bán hàng để tích lũy thành vốn riêng, giành tiền lại hầu nh rất ítxảy ra với ngời Nông Cống bản địa

Trong chợ quê Nông Cống ta có thể hình dung: ngời dân có mủng lúa,con gà hoặc đi rừng có củ nâu, gánh nứa, gánh củi hoặc xuống sông,xuống đồng bắt đợc mớ cá, mớ cua, mớ ốc đem ngay ra chợ mong bán đợcngay và dù đắt dù rẻ Bán xong, họ liền đi mua ngay các vật thiết dụng:

Trang 37

muối, mắm, dầu đèn, vải vóc, kim chỉ, quà bánh rồi về nhà Ngời nơi khác

đến buôn bán ở chợ thì mua hàng tạp hoá ở chợ tỉnh đem về bày bán ở chợ và

đổi các thứ nông sản, lâm sản Hoạt động chợ búa ở đây rất gọn nhẹ lấy trao

đổi làm chính và mỗi phiên chợ chỉ diễn ra trong một buổi (2-4 tiếng đồnghồ) ở đây, hầu nh không có chợ nào họp cả ngày Nhng do sự luân phiêngiữa phiên chợ này với phiên chợ kia trong huyện nên ngày nào cũng có chợ.Lại có những chợ họp trong chốc lát song ngày nào cũng họp để trao đổi nh

là thói quen hẹn gặp nhau ở địa điểm gọi là chợ Hàng hoá chợ ở đây rấtphong phú, đa dạng, ngời “ăn chợ”, đi chợ cũng tứ phơng có ngời dới vùngbiển lên, thị xã vào, cả ngời Nghệ Tĩnh ra, ngời Nam Định, Bắc Hà vào cácchợ lớn ở Nông Cống là chợ Thợng, chợ Cầu Quan, chợ Sen

Chợ Thợng thuộc làng Thanh Hà xã Trung Chính, trên bờ sông LãngGiang Sở dĩ chợ có tên là Chợ Thợng (chợ ở trên) có 2 lý do: Chợ trên bờsông hoặc cũng có thể là chợ ở phía trên (vì khi đó huyện lỵ Nông Cống ởcầu Quan Chợ Thợng là chợ lớn nhất huyện Nông Cống Chợ họp 1 tháng 9phiên: 3, 6, 9, 13, 16, 19, 23, 26, 29 (âm lịch) Đó là các phiên đại, ngoài racòn có chợ chiều

Ngày phiên đại, ngời nơi xa đến đây để trao đổi hàng hoá Cá mắmvùng xuôi Tĩnh Gia, Quảng Xơng đa lên: Vải vóc, bánh kẹo, đồ tạp hoá từthị xã đa vào Các thuyền lớn của Nghệ An cũng thờng lên tới đây, đậu ở bếnsông Lãng để “ăn chợ” với các hàng nh mật mía, chè lá, nồi đất, nớc mắm,muối trắng có khi đậu hàng nửa tháng để tiêu thụ hết hàng

Sản vật chính của địa phơng đem đến chợ Thợng là lúa gạo, gỗ, nứa,lâm sản Ngoài ra còn có các loại nh phên nứa, bồ nứa, than củi giắng,võng lác ở các làng đem đến bán chợ Thợng còn nổi tiếng có nhiều lơnbán

Một số làng sở tại hay ở gần chợ Thợng có nhiều gia đình làm nghềhàng xáo, bún bánh và đã xuất hiện bài về các gia đình chuyên bán một thứquà ở chợ Thợng:

Trang 38

Bánh xèo cố CánBánh rán cố BờngChè Lam bà MãiBánh Khách cô HoanLạc rang bà ĐộCau khô bà DThịt lợn ông KhuêBánh đúc ngô bà cố Cấn.

Chợ Cầu Quan cũng là một chợ lớn ở Nông Cống Chợ nằm trên làng

Bi Kiều xã Trung Chính Gọi là chợ Cầu Quan vì nó ở gần cầu Quan bắc trênsông Lãng Huyện lỵ Nông Cống xa có lúc ở đây nên còn gọi là chợ huyện.Gọi là chợ song đây chỉ giống nh phố nhỏ, là thị tứ cầu Quan xa Các lý dịch

ở các làng có việc phải lên huyện, ăn chực nằm chờ để hầu quan đều ở đây ănuống, nghỉ ngơi, có khi trọ lại Chợ họp lai rai cả ngày, không thành phiên,thờng buổi chiều đông hơn vì buổi sớm các chợ gần cầu Quan họp phiên,buổi chiều lại về chợ cầu Quan Đến nay, chợ phát triển thành trị trấn CầuQuan

Ngoài ra, Nông Cống còn có các chợ nh chợ Chuối, chợ Ban, chợ Mực,chợ Chuồng, chợ Tràu, chợ Chậm, chợ Gỗ, chợ Chay, chợ Ngẳn, chợ Nồn

Nơi phát tích của nhà Nguyễn chính là đất Tống Sơn (Hà Trung ngàynay) Vì là đất “qúy hơng” nên nhà Nguyễn đã có đặc ân cho Hà Trung nóiriêng và Thanh Hoá nói chung Nhng nhìn chung thì bức tranh kinh tế ở HàTrung so với các địa phơng khác trong tỉnh cũng không có gì khác Đặc biệt,

hệ thống chợ và hoạt động trong chợ ở Hà Trung thời Nguyễn cũng vẫn nằmtrong nền kinh tế “khép kín” của cả tỉnh, cả nớc dới thời kỳ phong kiến

Trong bối cảnh của nền “kinh tế khép kín” chi phối thì việc buôn bánphần lớn là bán những sản vật địa phơng để rồi mua hoặc đổi những thứ mà

địa phơng còn thiếu (nh dầu, muối, vải và các đồ nấu, đồ đựng bằng gốm,bằng đồng, bằng gang hoặc lơng thực nh lúa, ngô, khoai, sắn ) Việc mua

Trang 39

bán trao đổi này thờng diễn ra ở hệ thống chợ quê hoặc ở ngay bến sông nơithuyền bè tấp nập Hình thức mua bán vẫn mang nặng tính chất trao đổi làchính Ngời Hà Trung gọi kiểu mua bán này là “đi hàng” còn nếu là đi miềnnúi để mua bán đổi hàng gọi là “đổi mờng” Đây là hoạt động kinh tế mangsắc thái đặc trng, phổ biến của các làng xã cổ truyền Hà Trung Theo sách

“Đại Nam nhất thống chí” thì ở thời Nguyễn huyện Tống Sơn có 4 chợ lớnnổi tiếng trong tỉnh; đó là: Chợ Tâm Quy (xã Tâm Quy) chợ Quý Hơng (ởTrang gia Miêu); chợ Bái Đô (xã Bái Đô) chợ Quang Lãng (xã Quang Lãng).Ngoài những chợ lớn trên, ở huyện Tống Sơn có các quán: Quán Thổ Khối,quán Bỉm Sơn, quán Thiên Tôn Đó là 3 quán (3 tạm dịch) của triều đình đặt

ra trên bục đờng thiên lý Bắc - Nam để làm nhiệm vụ cung cấp và phục vụnhững thứ cần thiết cho khách bộ hành qua lại nh củi, lửa, dầu đèn, nớc uống

Chợ Tâm Quy là một trong 4 chợ nổi tiếng của huyện Tống Sơn Chợ

đợc mang tên làng Tâm Quy (xã Tâm Quy, tống Nam Bạn, huyện Tống Sơn)

Đây là một trong những chợ có sớm nhất ở Hà Trung và Thanh Hoá Theotruyền thuyết thì chợ có từ thời vua Lê Thánh Tông Mặc dù là chợ miền núirừng, song lại rất tiện đờng sông nớc nên chợ Tâm Quy vẫn rất đông ngời từcác huyện Thạch Thành, Vĩnh Lộc đến, từ Nga Sơn, Hậu Lộc lên để mua báncác hàng lâm sản thổ sản (gỗ, luồng, nứa, song, mây, giang, sậy ) và thóc,gạo, ngô, sắn cùng gia súc, gia cầm (trâu, bò , lợn, gà, ngỗng) Trong chợ,còn có cả lò rèn để đúc bán lỡi cày, cuốc, dao, liềm Có thời kỳ, chợ còn cócả hiệu kim hoàn bán vàng bạc và đồ trang sức Có thể nói chợ Tâm Quy làchợ điển hình về sự giao lu mua bán và ven biển trong tỉnh Vì vậy vốn từ xachợ Tâm Quy đã đi vào tâm thức của ngời gần xa nh một sự hò hẹn mong

Trang 40

việc mua bán và vận chuyển hàng hoá Trên bến sông xa, thuyền bè từ miềnnúi Thạch Thành đến vùng ven biển Hậu Lộc, Nga Sơn và các nơi đến ănhàng và bán hàng ở chợ Đô thật nhộn nhịp Hàng lâm sản (gỗ, luồng, nứa,mây ) từ đây đợc chuyển đi muôn nơi Mặc dù là chợ quê, chợ làng nhngchợ Đô lại rất đông ngời và lắm loại hàng hoá Về hàng lâm sản và nông sảnthì thứ nào cũng có Cảnh họp chợ và mua bán, trao đổi ở chợ thật sôi động.Trong chợ, từ trớc sân đình đến bến đò, chỗ bày bán luồng, gỗ, chỗ bày bánthóc, gạo, sắn, ngô, chỗ bán cá, mắm, chỗ có lò rèn, chỗ có thầy bói, rồihàng quà, hàng bánh, đến những chỗ bán vải, bán bông, quang giắng và khuvực trâu bò, lợn, gà chỗ nào cũng chật cứng hàng và ngời Các tốp namthanh nữ tú rủ nhau đi chợ từng tốp, từng tốp tiếng là để mua sắm nh ng là để

đi chơi chợ và xem chợ là chính Có thể nói chợ Đô ngày trớc không còn làmột chợ quê của một làng, xã mà đó chính là chợ lớn của cả huyện TốngSơn

Ngời đến chợ có cả ngời Kinh, ngời Mờng và ngời Hoa Kiều nữa Chợ

Đô họp 1 tháng 6 phiên, cứ 5 ngày 1 phiên: 3, 8, 13, 18, 23, 28

Ngày nay, chợ Đô không còn nhiều hàng lâm sản và tấp nập nh xa,

nh-ng cá mắm, ốc, cua, tôm, tép vẫn rất nhiều Một thánh-ng bây giờ họp 12 phiênnhững ngời đi chợ chủ yếu là ngời trong xã

Chợ Qúy Hơng (trang Gia Miêu, huyện Tống Sơn - nay là xã HàLong); sách Đại Nam nhất thống chí chép là: “chợ Quý Hơng”để nói đây làchợ ở làng Quý Hơng (quê nhà Nguyễn), còn ngời địa phơng quen gọi là chợBái Đền (hay chợ Đền) Đây cũng là một chợ lớn trong tỉnh, trong huyện nênthu hút rất đông ngời từ Ninh Bình vào rồi từ Thạch Thành xuống, Nga Sơn,Hậu Lộc, Hoằng Hóa lên Ngời dân tộc Mờng đi chợ này nh là đi chơi hội.Các mặt hàng đợc bán ở chợ này cũng khá phong phú nhng chủ yếu là lúa,ngô, khoai , sắn, mía, mật,trám, bùi, luồng, tre, củi, nhãn, vải, mít, dứa, tôm,cá, rau và các đồ dùng thiết yếu khác nh vải, muối, dầu đèn, chiếu chăn vàcác công cụ sản xuất

Ngày đăng: 18/12/2013, 20:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2003), Đất Việt Nam qua các đời, NXB Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất Việt Nam qua các đời
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB Thuận Hóa
Năm: 2003
2. Đào Duy Anh (1999), từ điển Hán - Việt, NXB VHTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: từ điển Hán - Việt
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB VHTT
Năm: 1999
3. Nguyễn Thế Anh (1970), kinh tế và xã hội Việt Nam dới các triều vua Nguyễn, NXB Lửa thiêng, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: kinh tế và xã hội Việt Nam dới các triềuvua Nguyễn
Tác giả: Nguyễn Thế Anh
Nhà XB: NXB Lửa thiêng
Năm: 1970
4. Nguyễn Thế Anh (1974), Việt Nam thời Pháp đô hộ, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam thời Pháp đô hộ
Tác giả: Nguyễn Thế Anh
Năm: 1974
5. Toan ánh (2003), Làng xóm Việt Nam, NXB thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng xóm Việt Nam
Tác giả: Toan ánh
Nhà XB: NXB thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2003
6. Đỗ Bang (1997), kinh tế thơng nghiệp Việt Nam dới triều Nguyễn, NXB ThuËn Hãa Sách, tạp chí
Tiêu đề: kinh tế thơng nghiệp Việt Nam dới triều Nguyễn
Tác giả: Đỗ Bang
Nhà XB: NXB ThuËn Hãa
Năm: 1997
8. Nguyễn Dơng Bình (1980), xung quanh một số vấn đề làng xã ngời Việt, dân tộc học Sách, tạp chí
Tiêu đề: xung quanh một số vấn đề làng xã ngêiViệt
Tác giả: Nguyễn Dơng Bình
Năm: 1980
9. Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá (2003), kỷ yếu Thanh Hoá thời kỳ 1802-1930, NXB Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: kỷ yếu ThanhHoá thời kỳ 1802-1930
Tác giả: Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá
Nhà XB: NXB Thanh Hoá
Năm: 2003
10. Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá (2001), nghề thủ công truyền thống Thanh Hoá, Tập 1 + 2 NXB Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: nghề thủcông truyền thống Thanh Hoá
Tác giả: Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá
Nhà XB: NXB Thanh Hoá
Năm: 2001
11. Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá (1998), niên biểu lịch sử Thanh Hoá, NXB Thanh Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: niên biểulịch sử Thanh Hoá
Tác giả: Ban nghiên cứu và biên soạn lịch sử Thanh Hoá
Nhà XB: NXB Thanh Hoá
Năm: 1998
12. Phan Huy Chú (1992), Lịch triều hiến chơng loại chí, NXB KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chơng loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1992
13. Chi hội khoa học lịch sử thành phố Thanh Hoá (2003), Thành Hạc xa và nay, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành Hạc xavà nay
Tác giả: Chi hội khoa học lịch sử thành phố Thanh Hoá
Năm: 2003
14.Phan Đại Doãn (1992), Làng Việt Nam - Một số vấn đề về KHXH, NXB KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng Việt Nam - Một số vấn đề về KHXH
Tác giả: Phan Đại Doãn
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1992
15. Phan Đại Doãn (1990), Nông thôn, nông dân Việt Nam thời cận đại, NXB KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông thôn, nông dân Việt Nam thời cận đại
Tác giả: Phan Đại Doãn
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1990
16. Nguyễn Mạnh Duân, Thanh Hoá tỉnh chí - Bản dịch Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh Hoá tỉnh chí
17. Bế Viết Đảng (2004), các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế, xã hội ở miền núi, Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinhtế, xã hội ở miền núi
Tác giả: Bế Viết Đảng
Năm: 2004
18. Phạm Văn Đấu (2004), Phác thảo lịch sử kinh tế Thanh Hoá (từ nguyên thủy đến 1945), KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phác thảo lịch sử kinh tế Thanh Hoá (từnguyên thủy đến 1945)
Tác giả: Phạm Văn Đấu
Năm: 2004
19. Mạc Đờng (1964), các dân tộc miền núi Bắc Trung Bộ - sự phân bố dân c và đặc trng văn hóa, KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), các dân tộc miền núi Bắc Trung Bộ - sự phân bốdân c và đặc trng văn hóa
Tác giả: Mạc Đờng
Năm: 1964
20. Diệp Đình Hoa (1990), Tìm hiểu làng Việt, NXB KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Tìm hiểu làng Việt
Tác giả: Diệp Đình Hoa
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1990
21. Trần Thị Hòa, chợ làng trớc cách mạng T 8 - 1945, Tạp chí NCLS Sách, tạp chí
Tiêu đề: chợ làng trớc cách mạng T 8 - 1945

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Để tiện theo dõi chúng tôi xin lập bảng thống kê hệ thống phủ, huyện, tổng, châu, cơ ở Thanh Hoá thể kỷ XIX nh sau: - Hệ thống chợ ở thanh hóa từ đầu thế kỉ XIX đến năm 1945
ti ện theo dõi chúng tôi xin lập bảng thống kê hệ thống phủ, huyện, tổng, châu, cơ ở Thanh Hoá thể kỷ XIX nh sau: (Trang 23)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w