Mặt khác kỹ năng chỉ có thể đợc hình thành khi biết cách hành độngtheo những phơng thức hành động, thực hành luyện tập các em có điều kiệnvận dụng tri thức lý thuyết vào hoạt động lời nó
Trang 1Khoa Ng÷ V¨n -oOo -
NguyÔn thÞ quúnh giang
HÖ thèng bµi tËp tõ ng÷, ng÷ ph¸p trong s¸ch
gi¸o khoa ng÷ v¨n thpt thÝ ®iÓm
(Ban khoa häc x· héi vµ nh©n v¨n bé 2) – bé 2)
Gi¸o viªn híng dÉn:
Hå thÞ thanh mai
vinh, th¸ng 05 – 2006
Trang 2mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Thực hành là một khâu quan trọng trong quá trình dạy học nói chung
và dạy học Tiếng Việt nói riêng ở nhà trờng phổ thông Học sinh phát biểuhoặc học thuộc lòng các khái niệm, định nghĩa, các phơng thúc sử dụng từ,
điều đó cha chứng tỏ các em đã nắm vững đợc kiến thức càng cha có cơ sởnào thể hiện năng lực ngôn ngữ của mình Luyện tập thực hành đóng vai tròquyết định trong việc nắm tri thức và hình thành kỹ năng từ vựng ở học sinh
Luyện tập thực hành trong môn Tiếng Việt không chỉ giúp học sinhnắm vững khắc sâu tri thức lý thuyết mà còn hình thành ở học sinh những kỹnăng, kỹ xảo tơng ứng Hơn nữa, việc luyện tập thực hành còn giúp học sinh
Nguyễn thị quỳnh giang
Trang 3thờng xuyên rèn luyện các thao tác t duy, phát triển đợc năng lực trí tuệ, cókhả năng xử lý tốt các tình huống ngôn ngữ bắt gặp trong hoạt động giaotiếp
Mặt khác kỹ năng chỉ có thể đợc hình thành khi biết cách hành độngtheo những phơng thức hành động, thực hành luyện tập các em có điều kiệnvận dụng tri thức lý thuyết vào hoạt động lời nói của mình, nâng cao trình độtiếng mẹ đẻ từ tự phát lên tự giác, có điều kiện để sử dụng từ ngữ đạt hiệuquả, hiểu và đánh giá đợc hiệu quả thẩm mỹ của từ ngữ trong ngôn bản Để
có thể luyện tập, khâu quan trọng nhất là hệ thống bài tập thực hành, nănglực và phơng pháp tổ chức thực hành cho học sinh của ngời giáo viên
Vì thế, luyện tập thực hành là một trong những hoạt động đợc hết sứccoi trọng trong dạy học Tiếng Việt Thậm chí có ngời cho rằng: dạy họcTiếng Việt chủ yếu là dạy bằng luyện tập và qua luyện tập; nếu có dạy lýthuyết thì việc kiểm tra kết quả học tập không phải là ở việc đọc thuộc lòngnhững lý thuyết đó mà là ở việc luyện tập, ở chính ngay kết quả của việcluyện tập ấy ý kiến nh vậy theo chúng tôi là hoàn toàn có cơ sở và xác đáng
Tuy nhiên, vấn đề dạy luyện tập thực hành nh thế nào thì cha đợc quantâm nghiên cứu nhiều; nhất là với chơng trình Ngữ văn tích hợp - một chơngtrình mới chỉ đợc dạy thí điểm ở một số tỉnh Hơn nữa, với giáo viên, việcdạy thực hành Tiếng Việt là một công việc không phải là đơn giản Một phần
do kinh nghiệm giảng dạy phần nào còn bị hạn chế, mặt khác do tài liệu ớng dẫn cha có nhiều và thiếu tính cụ thể
h-Từ tầm quan trọng của nội dung dạy học và thực trạng dạy học TiếngViệt ở trờng phổ thông cũng nh tình hình nghiên cứu, chúng tôi thấy cầnquan tâm tìm hiểu vấn đề dạy thực hành Tiếng Việt ở trờng phổ thông nhằmgiúp giáo viên phổ thông có thêm tài liệu tham khảo để dạy tốt phân môn
này Chính vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Hệ thống bài tập từ ngữ, ngữ pháp trong sách giáo khoa Ngữ văn THPT thí điểm (Ban khoa học xã hội và nhân văn - Bộ 2)".
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Kể từ khi sự nghiệp giáo dục đợc đổi mới, ở nớc ta đã xuất hiện nhiềubài viết khoa học quan tâm tới vấn đề dạy và học tốt Tiếng Việt:
1 Giáo s Trơng Dĩnh với mục “ Hớng dẫn giải bài tập Tiếng Việt”(Sách giải bài tập Tiếng Việt 11 - Ban khoa học xã hội) đã nghiên cứu bài tậpTiếng Việt với t cách là một “bài toán” Ông cho rằng: “Cũng nh mọi bàitoán cấu trúc bài tập gồm hai yếu tố: Dữ kiện ( điều đã cho) và kết luận (điều
Trang 4cần tìm)” Sau đó tác giả đi vào nghiên cứu dữ kiện, kết luận của bài toánTiếng Việt Thực ra nghiên cứu các yếu tố trên cũng là để giáo s đi vào vấn
đề “Phân loại bài tập Tiếng Việt, tìm quy trình giải” Và để phù hợp với việcphân loại ở sách giáo khoa, ông chia ra hai loại bài tập lớn:
- Bài tập ôn tập lý thuyết
- Bài tập vận dụng lý thuyết
Nhìn chung cách chia này khá bao quát và ôm gọn đợc tổng thể bài tậpsách giáo khoa song giáo s không có ý đi vào nghiên cứu các kiểu bài tập này
mà mục đích chủ yếu của ông là tìm tòi quy trình giải cho bài tập Tiếng Việt.Quy trình giải mà ông đa ra với các kiểu bài tập khác nhau khá phù hợp với
đặc điểm của bài tập Tiếng Việt 11 ban khoa học xã hội
2 Giáo s Phan Thiều với bài viết “Về vấn đề bài tập trong việc dạytiếng” (Trong cuốn “ Về phơng pháp dạy Tiếng Việt của Trờng Đại học sphạm Vinh”) đã nêu ra các kiểu bài tập tiêu biểu:
- Bài tập liên tởng
- Bài tập ngữ đoạn
Đây là một phát hiện mới mẻ so với thời đó Vào những năm trớc đâyvấn đề dạy Tiếng Việt cha đợc quan tâm vì thế có thể coi đây là một côngtrình quan trọng đầu tiên so với thời điểm đó ( Những năm trớc 1980)
3 Giáo s Lê Phơng Nga trong cuốn “Phơng pháp dạy học Tiếng Việt”(Giáo trình dùng trong các trờng s phạm đào tạo giáo viên tiểu học) cũngphát hiện những bài tập đợc sử dụng ở tiểu học đó là:
- Bài tập điền từ
- Bài tập tạo từ
- Bài tập tạo ngữ
- Bài tập đặt câu
- Bài tập viết đoạn văn
- Bài tập chữa lỗi dùng từTuy cha nghiên cứu kỹ về các đặc trng của những kiểu bài tập nàysong sự phát hiện đó đã có tác dụng lớn đối với giáo viên và học sinh trớc khibớc vào giải các bài tập
4 Nhóm tác giả: Lê A - Nguyễn Quang Ninh - Bùi Minh Toán (Trongcuốn “ Phơng pháp dạy học Tiếng Việt”) cũng rất quan tâm tới vấn đề này.Cuốn sách nêu ra một số kiểu bài tập từ ngữ, ngữ pháp, cụ thể:
- Một số kiểu bài tập từ ngữ thờng gặp:
1 Bài tập nhận diện
2 Bài tập tái hiện
Trang 53 Bài tập phân loại quy loại
4 Bài tập phân tích vai trò đặc điểm và hiệu quả biểu đạt củacác hiện tợng từ vựng trong văn bản
5 Bài tập điền từ và thay thế từ
6 Bài tập đặt câu, đoạn văn với những hiện tợng từ vựng đợchọc
Các nhà nghiên cứu đã đa ra nhiều cách phân loại khác nhau với cáctiêu chí khác nhau Với hớng đi đó các tác giả đã chứng tỏ đợc vai trò củaviệc phân loại bài tập và ít nhiều quan tâm đến hớng giải cho các loại bài tậpnày
Tuy nhiên, đây là các công tình nghiên cứu với sách giáo khoa cũ, cònvới sách giáo khoa Ngữ văn thí điểm thì vấn đề này cha đợc nghiên cứu Điềunày đợc lý giải bởi rất nhiều lý do khác nhau:
Trớc tiên cần phải thấy rằng chơng trình sách giáo khoa Ngữ văn tíchhợp còn quá mới, thể hiện ở chỗ nó mới chỉ đợc dạy thí điểm ở một số huyệncủa một số tỉnh trong cả nớc, đến năm học 2006 - 2007 mới đợc đa vào giảngdạy chính thức Bởi vậy cha có công trình nghiên cứu nào đi sâu vào vấn đề
hệ thống bài tập từ ngữ, ngữ pháp trong sách giáo khoa Ngữ văn tích hợp
Xung quanh vấn đề chơng trình Ngữ văn tích hợp đã có một số bàiviết, tuy nhiên các tác giả chỉ quan tâm đến những vấn đề có tính chất vĩ mô,còn những vấn đề cụ thể trong chơng trình lại cha đợc nghiên cứu
Vì đây là một chơng trình mới nên các tác giả cha có điều kiện và thờigian để thâm nhập, để đi sâu nghiên cứu tìm hiểu những vấn đề cụ thể củachơng trình và sách giáo khoa mới Nhng trớc yêu cầu cấp bách của thực tiễndạy học chúng tôi vẫn chọn đề tài này để nghiên cứu tìm hiểu Mong rằng,công trình của chúng tôi sẽ cung cấp một phần tài liệu cho giáo viên thamkhảo trong công tác giảng dạy chơng trình Ngữ văn tích hợp sắp tới
Trang 63 Phạm vi - mục đích của đề tài
Tìm hiểu về hệ thống bài tập từ ngữ, ngữ pháp là một đề tài khá rộng.Vì năng lực và thời gian có hạn, hơn nữa đây là một vấn đề mới mẻ nên côngtrình của chúng tôi chắc chắn cha thể phát hiện đợc tất cả những đặc trng của
hệ thống bài tập
3.1 Đề tài này sẽ tiến hành khảo sát, thống kê, phân loại hệ thống bàitập thực hành trong sách giáo khoa Ngữ văn 10, 11, 12 bộ 2 - Ban khoa họcxã hội và nhân văn Đây sẽ là ban đợc dạy nhiều ở trung học phổ thông Qua
đó có cách nhìn đầy đủ nhất, khoa học nhất về những kiến thức cần trình bàytrong bài dạy
3.2 Trên cơ sở kế thừa, học hỏi các tác giả đi trớc chúng tôi sẽ đi sâutìm hiểu đặc điểm cũng nh quy trình giải từng loại bài tập
3.3 Đề xuất một số phơng pháp giảng dạy những tiết thực hành TiếngViệt góp phần giúp các giáo viên phổ thông có thêm tài liệu tham khảo phục
vụ công tác giảng dạy tốt hơn
Hơn nữa, chúng tôi mong rằng những đề xuất của luận văn khi đa vàothực tiễn giảng dạy sẽ phát huy hiệu quả và kích thích hứng thú học tập chohọc sinh
Trong đề tài chúng tôi dùng phơng pháp này để đối chiếu chơng trìnhthực hành Tiếng Việt ở sách giáo khoa ngữ văn trung học phổ thông bộ 1 và
bộ 2 Từ đó có cái nhìn toàn diện, đầy đủ về đặc điểm cũng nh hệ thống bàitập ở mỗi bộ
4.3 Phơng pháp phân tích tổng hợp
Trang 7Thao tác phân tích tổng hợp là bớc cao nhất, bớc cuối cùng của quátrình phân tích cần hớng tới mục đích này Đây là phơng pháp đợc sử dụngchủ yếu trong khoá luận ở đề tài này từ những t liệu đã đợc khảo sát chúngtôi tiến hành phân tích đặc điểm tìm quy trình giải cho bài tập Từ đó tổnghợp lại những vấn đề quan trọng rút ra những nhận xét cơ bản nhất về nó
5 Bố cục khoá luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của
khoá luận đợc triển khai ở ba chơng:
Chơng 1: Về quan điểm thực hành trong dạy học Tiếng Việt
Chơng 2: Đặc điểm hệ thống bài tập từ ngữ, ngữ pháp trong sách giáo
khoa Ngữ văn THPT thí điểm (Ban Khoa học xã hội và nhân văn - Bộ 2)
Chơng 3: Tổ chức làm bài tập từ ngữ, ngữ pháp.
Trang 8Chơng 1
về Quan điểm thực hành trong dạy học Tiếng Việt
1 1 Về khái niệm phơng pháp dạy học
Phơng pháp là hệ thống các cách sử dụng để tiến hành một hoạt độngnào đó (theo Từ điển Tiếng Việt, 2002) Cho đến nay trong khoa học giáodục và lý luận dạy học bộ môn cha có một định nghĩa và cách giải thích hoàntoàn thống nhất về thuật ngữ phơng pháp dạy học Có quan niệm cho rằng
“Phơng pháp dạy học là cách thức làm việc giữa thầy giáo và học sinh nhờ đó
mà học sinh nắm vững đợc kiến thức kỹ năng, kỹ xảo, hình thành thế giớiquan và phát triển năng lực” (Kairov I.A – Bách khoa toàn th s phạm)
Lại có ngời coi “Phơng pháp dạy học là một trong những hình thức kếthợp hoạt động của giáo viên và học sinh hớng vào việc đạt một mục đích nào
đó” ( Kirinxki D.M, Pô-Lô-Xin V.X - Phơng pháp dạy học)
Có thể nói một cách khái quát nhất phơng pháp dạy học là hệ thốngcác hành động liên tiếp của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức vàthực hành cho học sinh giúp các em lĩnh hội đợc các nội dung giáo dục
Nói đến phơng pháp dạy học không chỉ nói đến vấn đề dạy cái gì màquan trọng hơn là trả lời câu hỏi: Dạy nh thế nào? Rõ ràng chú trọng đến ph-
ơng pháp dạy học phải nhìn ở cả hai mặt: nội dung kiến thức đa vào giảngdạy và cách thức hoạt động của giáo viên – học sinh Trớc đây ngời ta chỉquan tâm đến nội dung thứ nhất Hiện nay khi yêu cầu về đổi mới phơngpháp đợc đặt ra thì nội dung thứ hai mới đợc đề cập đến nh một vấn đề bứcxúc của giáo dục Trong đó giáo dục học có nhiệm vụ nghiên cứu và đề xuất
hệ thống phơng pháp dạy học nói chung Từng bộ môn lại vận dụng hệ thống
Trang 9vậy, trong nội dung giáo dục, nhà trờng hết sức coi trọng việc đào tạo về mặtngôn ngữ, xem đó là một điều kiện không thể thiếu đợc bảo đảm thành côngtrong thục hiện sứ mệnh trọng đại của mình
Ngày nay, môn Tiếng Việt ở trờng phổ thông nớc ta nổi lên thành mộtmôn trọng yếu theo các em suốt cả 12 năm từ tiểu học cho đến trung học cơ
sở, trung học phổ thông Thậm chí lên đến Đại học, ngời sinh viên Việt Namvẫn còn gặp môn Tiếng Việt thực hành ở những bớc đầu của giai đoạn Đạihọc đại cơng
Nội dung dạy và học Tiếng Việt ở trờng phổ thông đợc cấu tạo thànhhai phần lớn là lý thuyết và thực hành Trong đó, thực hành là khâu quantrọng nhất Thực hành ngôn ngữ đặt ra yêu cầu luyện cho học sinh sử dụngngôn ngữ trong thực tiễn giao tiếp, hình thành ở các em các kỹ năng ngônngữ gồm nghe, nói, đọc, viết Vì vậy, thực hành ngôn ngữ không phải là trithức lý luận mà là hoạt động thực tiễn Trong hoạt động này, học sinh sửdụng ngôn ngữ để đạt đợc mục đích cụ thể Muốn đạt đợc những mục đích
đó chúng ta phải có biện pháp cho học sinh tập luyện qua một hệ thống bàitập đợc xây dựng một cách hợp lý khoa học
1.3 Nghiên cứu tìm hiểu hệ thống bài tập Tiếng Việt là một công việcmang tính thiết thực không những cho giáo viên mà cho cả học sinh Nó cóvai trò hết sức quan trọng nhằm củng cố, khắc sâu tri thức lý thuyết và rènluyện hình thành kỹ năng ngôn ngữ cho học sinh Hơn nữa thời gian dànhcho thực hành chiếm khoảng 1/3 đến 1/2 lợng thời gian trong một tiết học.Ngoài ra còn có các tiết thực hành ròng, trớc đây gọi là giờ luyện tập Thờigian dạy thực hành lớn hơn hẳn thời gian dạy lý thuyết Điều đó đã chứng tỏvai trò quan trọng của phần bài tập thực hành trong dạy học Tiếng Việt
Thực chất của quá trình tổ chức, hớng dẫn học sinh làm bài tập là thựchành Mỗi bài tập là một dạng, một mẫu hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ,giúp cho việc thực hành đạt hiệu quả Vì vậy nghiên cứu tìm hiểu hệ thốngbài tập trở thành một yêu cầu quan trọng trong việc dạy tiếng
- Đối với học sinh, học Tiếng Việt nhất thiết phải làm bài tập, đây làmột vấn đề hiển nhiên Mục đích học Tiếng Việt trong nhà trờng là để có mộ
số vốn kiến thức và kỹ năng về Tiếng Việt nhằm sử dụng vào việc học tậpcác môn học khác và việc giao tiếp trong đời sống ở lớp, học sinh đợc tiếpthu các khái niệm, định nghĩa, các phơng thức sử dụng từ, nhng thực tế đókhông hề dẫn ta đến kết luận rằng các em đã nắm đợc tri thức hay đã thể hiện
đợc năng lực ngôn ngữ của mình Bởi vậy kiến thức về Tiếng Việt phải biếnthành kỹ năng thì mới có thể ứng dụng đựơc Và luyện tập thực hành đóng
Trang 10vai trò quyết định trong việc nắm tri thức và hình thành kỹ năng từ vựng ởhọc sinh Vì vậy bài tập Tiếng Việt có tác dụng nâng cao hiểu biết, hìnhthành kỹ năng, đồng thời cũng rèn luyện t duy tái hiện và t duy sáng tạo.Làm bài tập sau mỗi bài học là để bớc đầu hình thành các kỹ năng và thểhiện đợc trình độ t duy của học sinh
- Với giáo viên gảng dạy bộ môn này, thông qua hệ thống bài tập giáoviên hớng dẫn, tổ chức quá trình làm bài tập cho học sinh Bài tập là điềuchứng minh cho những tri thức lý thuyết mà giáo viên cung cấp cho học sinh.Giáo viên phải biến hệ thống bài tập thành một hoạt động sinh động để từ đókích thích hứng thú học tập của học sinh Từ việc làm bài tập, vừa củng cố,khắc sâu thêm tri thức lý thuyết cho các em, vừa khơi gợi t duy sáng tạo, tínhtích cực chủ động trong quá trình thực hành luyện tập của các em Qua việcgiải bài tập, các kỹ năng ngôn ngữ của các em cũng đợc hình thành Thựchiện tốt việc thực hành luyện tập, giáo viên sẽ có cách nhìn tổng quát, toàndiện về hiệu quả giờ dạy của mình, từ đó rút kinh nghiệm và có những sữa
đôỉ
Việc tìm hiểu nghiên cứu hệ thống bài tập là một hoạt động thực hành
- thực hành có ý thức, có vai trò quan trọng trong dạy học tiếng đối với cảgiáo viên và học sinh
1.4 Hiện nay, trong dạy học tiếng ngời ta đề cao quan điểm giao tiếp,coi trọng thực hành Dạy học theo quan điểm giao tiếp là xu hớng phổ biếntrong các tài liệu dạy tiếng mẹ đẻ cũng nh dạy ngoại ngữ ở các nớc tiên tiếnhiện nay Khác với xu hớng dạy học theo cấu trúc, nó có tác dụng rõ rệt trongviệc hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng ngôn ngữ Sáchgiáo khoa Tiếng Việt lấy nguyên tắc giao tiếp làm định hớng cơ bản để thựchiện một cách nhanh nhất và vững chắc nhất mục tiêu của chơng trình dạyhọc mới
Ngoài ra, chơng trình ngữ văn tích hợp còn tiến hành dạy học theoquan điểm tích hợp Tích hợp đợc hiểu là tổng hợp trong một đơn vị học,thậm chí một tiết học hay một bài tập nhiều mảng kiến thức và kỹ năng liênquan với nhau nhằm tăng cờng hiệu quả giáo dục và tiết kiệm thời gian họctập cho học sinh Có thể thực hiện tích hợp theo chiều dọc và chiều ngang
+ Tích hợp theo chiều ngang là tích hợp kiến thức Tiếng Việt với cácmảng kiến thức về văn học, thiên nhiên, con ngời và xã hội theo nguyên tắc
đồng quy Theo quan điểm này, các phân môn khác (Văn học, Làm văn) trớc
đây ít gắn bó với nhau, nay đợc tập hợp lại xung quanh “trục” chủ điểm và
Trang 11các bài học, các nhiệm vụ cung cấp kiến thức và rèn luyện kỹ năng cũng gắn
bó chặt chẽ với nhau hơn trớc
+ Tích hợp theo chiều dọc nghĩa là tích hợp ở một đơn vị kiến thức và
kỹ năng mới với những kiến thức và kỹ năng đã học trớc đó theo nguyên tắc
đồng tâm Cụ thể: kiến thức và kỹ năng của lớp trên, bậc học trên bao hàmkiến thức và kỹ năng của lớp học dới, bậc học dới nhng cao hơn và sâu hơn
Đây là giải pháp củng cố và dần dần nâng cao kiến thức, ký năng của họcsinh, để các kiến thực và kỹ năng ấy thực sụ là của mỗi ngời học, góp phầnhình thành ở các em những phẩm chất mới của nhân cách
Dạy học Tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp và quan điểm tích hợp thực chất là đều mang tính thực hành, lấy việc thực hành làm trung tâm Từbậc tiểu học, học sinh đã đợc học Tiếng Việt theo hớng thực hành, và chơngtrình dành hẳn cấp học trung học phổ thông để dạy thực hành ở tiểu họcphần từ ngữ và ngữ pháp không tách rời nhau gọi là phần luyện từ và câu.Với các cấp học trên cũng vậy, thực ra giữa phần từ ngữ và ngữ pháp có quan
-hệ gắn chặt với nhau Tuy nhiên nếu quan sát kỹ vẫn thấy có tiết dành cho từngữ, và có tiết dành cho ngữ pháp riêng Song hai phần từ ngữ và ngữ pháp
đều có một mục đích cơ bản nhất là rèn luyện kỹ năng và bên cạnh đó làcủng cố khắc sâu tri thức lý thuyết cho học sinh Đây là hai vấn đề cần đợctiến hành song song với nhau Muốn đạt đợc điều đó phải thông qua thựchành; vì vậy cần đàu t thời gian nhiều cho thực hành
1.5 Giáo dục ngôn ngữ phải mang tính thục hành nghĩa là phải bồi ỡng cho học sinh kỹ năng nói, viết, nghe, đọc Phơng châm này có lẽ không
d-ai phản đối Tuy nhiên sự nhận thức về phơng châm này không phải đã hoàntoàn nhất trí Đặc biệt việc thực hành nó một cách hiệu quả không phải làchuyện dễ dàng Nói, nghe đọc, viết là sự sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp
Mà sự sử dụng ngôn ngữ thì tuỳ thuộc vào tri thức ngôn ngữ, nói một cáchkhác muốn sử dụng ngôn ngữ thì trớc hết phải có tri thức về ngôn ngữ Trithức ngôn ngữ, nh chúng ta đã biết, là kết quả của một quá trình “nội tâmhoá” bằng những con đờng khác nhau: con đờng tự nhiên, trực giác từ thuở
ấu thơ và con đờng giáo dục trong trờng học mà mỗi con đờng đều có chỗmạnh và chỗ yếu của nó Trớc đây ngời ta thờng nghĩ tri thức ngôn ngữ chỉ lànhững hiểu biết của con ngời về các đơn vị và các quy tắc thuộc các bìnhdiện của ngôn ngữ nh ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp v.v Nhng về sau ngời tamới ý thức đợc rằng tri thức ngôn ngữ không phải chỉ có thế mà còn bao gồmcả nhận thức của con ngời về sự sử dụng ngôn ngũ trong giao tiếp Không cótri thức về sự sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp thì các kỹ năng nói, viết,
Trang 12nghe, đọc khó có thể thành công đợc ở đây cần phải phân biệt tri thức về sự
sử dụng ngôn ngữ với sự sử dụng ngôn ngữ Tri thức về sự sử dụng ngôn ngữthuộc phạm trù nhận thức còn sự sử dụng ngôn ngữ là hành vi hoạt động giaotiếp của con ngời Hai hiện tợng này tuy gắn bó với nhau nhng không phải làmột
Tri thức ngôn ngữ là cơ sở của sử dụng ngôn ngữ và ngợc lại, sự sửdụng ngôn ngữ cũng có tác động trở lại đối với tri thức ngôn ngữ Sự sử dụngngôn ngữ biến tri thức ngôn ngữ từ trạng thái tĩnh sang trạng thái động Sự sửdụng ngôn ngữ khiến cho tri thức ngôn ngữ đợc củng cố Đặc biệt sử dụngcàng nhiều càng làm cho sự sử dụng trở nên thành thạo, tức là hình thành vànâng cao đợc kỹ năng ngôn ngữ Kỹ năng ngôn ngữ chính là trình độ sử dụngtri thức ngôn ngữ trong các tình huống cụ thể Điều này cũng giồng nh conngời muốn biết bơi phải nhảy xuống nớc mà luyện tập Tức là muốn nắmvững kiến thức thì phải thông qua quá trình thực hành
Con ngời thủ đắc ngôn ngữ trong nhiều môi trờng khác nhau: môi ờng gia đình giữ vai trò là bà mẹ, môi trờng học đờng mà quan trọng là thầygiáo và môi trờng xã hội mà vai trò quan trọng là bạn bè, đồng nghiệp ở môitrờng gia đình và môi trờng xã hội việc học tập ngôn ngữ luôn gắn chặt vớithực hành ngôn ngữ, học luôn đi đôi với hành Một em bé học đợc từ “nớc”
tr-và khi khát nớc em gọi “nớc!” đó là thực hành, học đợc từ “ông” em sẽ gọi
đ-ợc “ông!”, đó cũng là thực hành Cứ thế dần dần qua học tập và thực hành
đến lúc lên 5 lên 6 trẻ đã có đợc một vốn liếng ngôn ngữ tơng đối khá ở môitrờng hoạt động xã hội con ngời do nhu cầu hoạt động giao tiếp họ tự nguyệntìm cách nâng cao trình độ ngôn ngữ của mình bằng cách học tập qua tiếpxúc với bạn bè, đồng nghiêp, và cả qua sách vở, cho nên ở môi trờng này việchọc tập ngôn ngữ và thực hành ngôn ngữ càng luôn luôn gắn bó với nhau
Nh vậy ở môi trờng gia đình và môi trờng hoạt động xã hội, sự thống nhất, sựgắn bó giữa việc học tập ngôn ngữ và thực hành ngôn ngữ là tự nhiên, là tấtyếu ở môi trờng học đờng cũng vậy, cần phải kết hợp chặt chẽ giữa việccung cấp, truyền thụ tri thức lý thuyết ngôn ngữ và rèn luyện kỹ năng ngônngữ song vẫn giành u tiên cho việc thực hành Xét từ giác độ thực hành việctruyền thụ kiến thức về cấu trúc bên trong của ngôn ngữ cũng rất cần thiết.Bởi vì môn Tiếng Việt cũng là một môn học truyền thụ những kiến thức khoahọc cơ bản về đối tợng trong đó có kiến thức về cấu trúc bên trong của đối t-ợng Và bởi lẽ những quy tắc cấu trúc bên trong của ngôn ngữ là cái cần phảituân theo khi thực hành Trớc đây đã có nhiều bài viết và gần đây cũng cóngời viết về lỗi của học sinh khi nói, khi viết trong đó có nhiều lỗi do không
Trang 13nắm đợc cấu trúc câu nh câu thiếu chủ ngữ, thiếu vị ngữ v.v Nếu khôngtruyền thụ kiến thức về cấu trúc bên trong của ngôn ngữ thì giáo viên sẽ làm
nh thế nào khi hớng dẫn sửa chữa các lỗi nh thế này
Nếu nh lấy thực hành làm mục tiêu duy nhất thì có lẽ có khá nhiềumôn học sẽ trở thành không cần thiết Nh môn Hoá học chẳng hạn : khônghiểu môn Hoá học ở bậc phổ thông đã giúp ích gì cho ta trong đời sống thực
tế Ta vẫn dùng nớc để uống, để tắm giặt, để tới cây mà chẳng cần biết nớc
đ-ợc cấu tạo theo công thức H2O Đối với những ngời trong ngành hoá dợc hayngành hoá thực phẩm thì kiến thức hoá học là không thể thiếu đợc nhng đốivới bản thân tôi và nhiều ngời khác thì ý nghĩa thực hành chẳng đáng là baonhiêu ấy vậy mà tôi phải học môn hoá học ở bậc phổ thông hết năm nàysang năm khác, từ hoá vô cơ đến hoá hữu cơ, phải vật lộn với nhiều côngthức hóa học “lằng nhằng” và những bài toán hoá học hóc búa Đối với môntoán cũng vậy Quả thật trong đời sống thực tế , tôi chỉ dùng bốn phép tínhcộng, trừ , nhân, chia, còn lại tất cả các kiến thức toán học khác ở bậc phổthông tôi đều không dùng đến Mặc dù vậy, ở bậc giáo dục phổ thông, ở tấtcả các nớc trên thể giới, môn hoá học, môn toán vẫn tồn tại với một dung l-ợng kiến thức không phải là nhỏ Điều này tởng nh là vô lý nhng nghĩ cho kỹcũng có cái lý của nó, kiến thức của tất cả các môn học ở bậc phổ thôngchung đúc lại tạo nên một năng lực nhận thức cơ bản, một trình độ văn hoácơ bản để con ngời ứng xử có hiệu quả đối với tự nhiên và xã hội
Nếu mục đích giáo dục là truyền thụ cho học sinh các tri thức thuộccác lĩnh vực khoa học khác nhau thì nội dung giáo dục chính là hệ thống kiếnthức khoa học của các lĩnh vực đó từ thấp đến cao Trong hệ thống kiến thực
đó, theo lý thuyết hệ thống hiện đại thì kiến thức về cấu trúc chiếm một địa
vị quan trọng Cha hiểu cấu trúc bên trong của sự vật tức là cha hiểu sâu sắc
đợc về sự vật Cho nên môn Tiếng Việt cũng vậy nhất thiết phải dạy về cấutrúc bên trong của Tiếng Việt Việc truyền thụ kiến thức có thế có nhiềucách, đó là cả một nghệ thuật, tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố trong giảng dạy.Song dù dùng cách nào đi nữa yêu cầu cuối cùng là phải làm cho học sinhhình thành các khái niệm, các quy tắc một cách minh xác chứ không phải là
để nó “tiềm ẩn, lấp lánh ở phía sau” Tiềm ẩn, lấp lánh ở phía sau là đặc điểmcủa thủ đắc ngôn ngữ một cách tự nhiên, trực quan, kinh nghiệm Nhiệm vụcủa giáo dục ngôn ngữ là phải biến nhận thức tiềm ẩn đó thành nhận thức lýtính, nhận thức khoa học dới dạng các khái niệm, các phán đoán và suy lý.Muốn vậy phải gắn vào hoạt động thực tiễn của học sinh nghĩa là phải để họcsinh vận dụng các tri thức đó biến nó thành kỹ năng kỹ xảo của mình
Trang 141.6 Chơng trình Tiếng Việt hiện nay coi trọng thực hành ngôn ngữ,xem dạng thực hành là chủ yếu Song cũng phải thấy rằng chúng ta khôngnên cực đoan xem trọng thực hành, tuyệt đối hóa vai trò của thực hành Lýthuyết ngôn ngữ và thực hành ngôn ngữ có quan hệ chặt chẽ với nhau Lýthuyết soi sáng đờng đi cho thực hành, thực hành cung cấp t liệu để minhhọa, chứng minh đồng thời cũng là môi trờng để ứng dụng, đa lý thuyết vàothực tiễn giao tiếp sinh động Điều này tuân theo đúng lý thuyết giáo dục của
Đảng ta: học đi đôi với hành, lý thuyết gắn với thực tiễn
Trẻ em trớc tuổi tiểu học tiếp nhận ngôn ngữ chỉ bằng con đờng thựchành, bằng cách bắt chớc trực tiếp ở tuổi này, do trình độ t duy cha pháttriển toàn diện, vốn liếng ngôn ngữ cũng còn eo hẹp cho nên không thể nào
tổ chức học lý thuyết ngôn ngữ đợc Nhng trong việc dạy từ bậc tiểu học trở
đi, để thực hiện chơng trình dạy tiếng mẹ đẻ, chúng ta phải biết kết hợp lýthuyết và thực hành, giúp học sinh biết vận dụng lý luận ngôn ngữ đã họcvào hoạt động nói viết tự nhiên Một sự ứng dụng thích đáng sẽ làm cho thựchành đạt kết quả cao hơn, đồng thời giúp việc tiếp nhận lý thuyết đợc sâu sắchơn
Học tiếng trong nhà trờng khác với học tiếng tự nhiên Cách học tựnhiên gọi là cách học vô thức (hoặc tự nhiên, tự phát) Cách học vô thức làcon đờng duy nhất mà trẻ phải đi trong quá trình học tiếng mẹ đẻ Cách họcnày, khi lớn lên con ngời vẫn tiếp tục vận dụng, vận dụng cho đến cuối đời.Tuy nhiên những thông tin về ngôn ngữ cụ thể là nhiều Nắm đợc nhữngthông tin đó càng đầy đủ thì sử dụng càng tốt, càng có hiệu quả hơn Họctheo kiểu vô thức, tự nhiên không thể nào đạt tới những thông tin, những trithức đó đợc Muốn có hiểu biết kỹ lỡng, phải dựa vào thầy, vào tra cứu sách
vở để huy động trí tuệ, ý thức của mình vào công cuộc chiếm lĩnh ngôn ngữ.Cách học nh vậy gọi là cách học hữu thức (hoặc có ý thức) Cách học này đ-
ợc tiến hành trong nhà trờng phổ thông Theo cách học này việc dạy tiếng mẹ
đẻ bắt đầu từ dạy lý thuyết Nếu không có lý thuyết thì thực hành chỉ mangtính tự phát Lý thuyết là cơ sở lý luận cho thựic hành
Chẳng hạn: việc học sinh sử dụng dấu câu một cách thành thạo, tựnhiên - đó là do học sinh đã nắm vững quy tắc Tuy nhiên, nếu nh không dạy
lý thuyết về dấu câu thì khi học sinh mắc lỗi sử dụng sai dấu câu thì căn cứvào cái gì để giáo viên sửa cho học sinh đợc Bởi vậy, nhất thiết phải dạy lýthuyết về dấu câu Dấu câu là kí hiệu chữ viết để biểu thị ngữ điệu khác nhau.Nhng ngữ điệu này lại biểu thị những quan hệ ngữ pháp khác nhau và nhữngmục đích nói khác nhau
Trang 15Cụ thể: Ví dụ:
+ Dấu chấm (.) là dấu đặt cuối câu kể, đồng thời đánh dấu sự kết thúcmột đoạn văn
" Em sợ lắm Giá băng tràn mọi nẻo
Trời đầy trăng lạnh lẽo suốt xơng da."
+ Dấu chấm hỏi (?) dùng đặt cuối câu hỏi
" Em là ai? Cô gái hay nàng tiên?
Em có tuổi hay không có tuổi?"
+ Dấu chấm than (!) dùng đặt cuối câu cảm hay câu cầu khiến
" Để hồn ta phảng phất đợc gần ngơi,Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi!"
( Nhớ rừng - Thế Lữ)+ Dấu phẩy (,) dùng để tách các bộ phận cùng loại với nhau, tách các
bộ phận phụ với nòng cốt câu hay tách các vế câu ghép
" Thơ xa yêu cảnh thiên nhiên đẹpMây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông."
+ Dấu chấm phẩy (;) là dấu dùng đặt giữa các vế đẳng lập hoặc các bộphận đẳng lập với nhau
" Trong tù không rợu cũng không hoa,Cảnh đẹp đem nay, khó hững hờ;
Ngời ngắm trăng soi ngoài cửa sổ,Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ"
(Ngắm trăng - Hồ Chí Minh)+ Dấu hai chấm (:) dùng để báo hiệu lời tiếp theo là lời nói trực tiếpcủa ngời khác đợc dẫn lại hoặc báo hiệu lời tiếp theo là lời giải thích, thuyếtminh
" Bốn bề ánh nhạc: biển pha lê;
Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề "
(Nguyệt cầm - Xuân Diệu)+ Dấu gạch ngang (-) dùng để đặt trớc câu hội thoại, đặt trớc bộ phậnliệt kê, dùng để tách phần giải thích với các bộ phận khác của câu hoặcdùng để đặt giữa các con số, tên riêng để chỉ sự liên kết
" Vì, mỗi lần rung hơi anh đắm thổi
Em lắng nghe lời trúc - hỡi Tây Thi"
( Khúc tiêu thiều- Huy Thông)+ Dấu ngoặc đơn ( ) là dấu dùng để chỉ ra nguồn gốc trích dẫn, chỉ ralời giải thích
Trang 16" Cô bé nhà bên (có ai ngờ) cũng vào du kích"
+ Dấu ngoặc kép (" ") dùng để báo hiệu lời trích dẫn trực tiếp hoặc
đánh dấu tên gọi một tác phẩm, báo hiệu những từ trong ngoặc kép phảihiểu theo nghĩa khác với nghĩa vốn có của nó hoặc hiểu theo nghĩa ngợc lại,mỉa mai
" Và tâm t có một điều rất thíchKhông nói ra vì sợ bớt say sa! ”
- "Chàng ơi! chàng ơi, sự lạ đêm qua!
Mùa xuân tới, mà không ai biết cả "
( Ra đời - Hàn Mặc Tử)+ Dấu chấm lửng ( ) dùng để biểu thị lời nói bị đứt quãng vì xúc độnghay ghi lại chỗ kéo dài của âm thanh hoặc chỉ ra rằng ngời nói cha nói hết
" Hôm nay, trời nhẹ lên cao,Tôi buồn, không hiểu vì sao tôi buồn "
(Chiều - Xuân Diệu)
Em nghe họ nói mong manhHình nh họ biết chúng mình với nhau
(Lẳng lơ - Nguyễn Bính)Phải nắm vững lý thuyết về đặc điểm cũng nh cách sử dụng cụ thể đốivới mỗi loại dấu câu thì mới có thê vận dụng thành thạo vào việc viết vănbản Việc dạy lý thuết cho học sinh giúp các em tránh đợc các lỗi về quy tắcngữ pháp thờng gặp Mặt khác, để tránh tình trạng dạy những tri thức lýthuyết quá sâu xa với học sinh, ngời làm chơng trình phải chọn những lýthuyết có tác dụng hớng dẫn trực tiếp hoạt động thực hành
Lý thuyết và thực hành là hai khâu quan trọng của quá trình dạy họcnói chung và dạy học Tiếng Việt nói riêng Trên nền tảng, trên phông kiếnthức mà hình thành kỹ năng ngôn ngữ cho học sinh Thực hành là khâu quantrong, là mục đích hớng tới của việc dạy học tiếng, tuy nhiên nó phải bắtnguồn từ lý thuyết, dựa trên lý thuyết Chỉ có lý thuyết mới tạo cơ sở cho quátrình thực hàn đợc bền vững Tuy nhiên, tính thực hành vẫn đợc thể hiện rất
rõ trong chơng trình và sách giáo khoa dạy học Tiếng Việt ở phổ thông
1.7 Thực hành là một quá trình giải mã nội dung cơ bản của dạy thựchành là tổ chức cho học sinh làm bài tập Muốn dạy thực hành tốt ngời giáoviên cần phải nắm vững trớc hết là hệ thống bài tập và sau đó là các bớc thựchành trên lớp cùng với năng lực và phơng pháp tổ chức thực hành
Chơng trình tích hợp hiện nay, việc dạy phân môn tiếng Việt chủ yếuthông qua hệ thống bài tập - điều đó phản ánh rõ tính thực hành Qua cách
Trang 17làm việc với bài tập, học sinh thể hiện tính tích cực chủ động của mình trongviệc khám phá, vận dụng tri thức lý thuyết, biến lý thuyết thành thực tiễn Từ
đó giúp việc dạy học Tiếng Việt đạt hiệu quả cao
Trang 18Chơng 2
đặc điểm Hệ thống bài tập từ ngữ, ngữ pháp
trong sách giáo khoa Ngữ văn THPT thí điểm
(ban khoa học xã hội và nhân văn - bộ 2)
2.1 Tiêu chí phân loại
Phân loại là công việc đầu tiên của mọi nghiên cứu Đây là phơng phápduy nhất để có thể tiếp cận và tìm hiểu, phân tích kĩ càng vấn đề cần nghiêncứu Muốn tìm hiểu, nghiên cứu hệ thống bài tập cần tiến hành phân chúngthành các loại các kiểu bài tập cụ thể, để từ đó thấy đợc đặc điểm riêng củamỗi kiểu loại Điều này giúp ích cho cả giáo viên và học sinh trong quá trìnhdạy học Tiếng Việt
Hơn nữa việc phân loại bài tập còn giúp chúng ta có cách nhìn hệthống, logic về các loại bài tập để có định hớng về cách giải cho phù hợp Saukhi hình thành tri thức lý thuyết, giáo viên phải phân loại đợc hệ thống bàitập, nắm đợc mục đích, nội dung, đặc điểm của từng kiểu loại làm cơ sở hớngdẫn học sinh quy trình giải cụ thể các bài tập đó
Hiện nay, ngời ta phân loại hệ thống bài tập dựa trên nhiều tiêu chíkhác nhau Các nhà nghiên cứu cha có sự thống nhất về một tiêu chí cụ thểnào Mỗi ngời lấy một tiêu chí nào đó làm chuẩn để phân loại, do đó tồn tạinhiều cách phân loại khác nhau Vì thế ở mỗi góc độ, ta nhìn bài tập ở mộtkhía cạnh khác nhau Cùng một bài tập nhng theo cách phân loại này thì nóthuộc loại này, còn theo cách phân loại khác thì thuộc loại khác
Có ngời thì dùng một tiêu chí nhất định dể phân loại, song trên thực tế
có thể dựa trên một hoặc một số tiêu chí để phân loại bài tập
Một thực tế cho thấy, trong việc dạy học Tiếng Việt trớc đây cũng nhhiện nay, giáo viên cha sử dụng phơng pháp dạy học này vào việc dạy thựchành Điều này do nhiều nguyên nhân, nhng vấn đề cha thống nhất trong tiêuchí phân loại bài tập Tiếng Việt là một nguyên nhân quan trọng
Với chơng trình Ngữ văn tích hợp - một chơng trình mới - thì đây làvấn đề cha ai nghiên cứu Vì thế cũng cha định hớng đợc một tiêu chí thốngnhất
2.2 Hệ thống bài tập từ ngữ, ngữ pháp
ở đề tài này, sau khi thống kê hệ thống bài tập trong sách giáo khoa,chúng tôi mạnh dạn đa ra tiêu chí phân loại của mình Đó là sự kết hợp 2 tiêu
Trang 19chí cơ bản là dựa vào yêu cầu và mục đích của bài tập Đây là tiêu chí dễnhận diện và phổ biến nhất Theo đó, có 7 kiểu loại bài tập sau:
+ Bài tập nhận diện
+ Bài tập chuyển đổi
+ Bài tập tạo lập lời nói
+ Bài tập quy loại, phân loại
+ Bài tập phân tích vai trò, đặc điểm, hiệu quả biểu đạt
+ Phần trình bày yêu cầu
rõ ràng, nổi tiếng)
{Bài tập 2 - bài Từ Hán Việt - Ngữ văn 10, trang 63}
2 Ngoài tục ngữ, thành ngữ, thì câu đối, thơ Đờng luật, văn biền ngẫucũng thờng dùng từ đồng nghĩa và từ trái nghĩa, tạo thành các cặp đối xứng
a Hãy xác định các cặp từ đồng nghĩa hay trái nghĩa trong các câu sau
b Phân tích giá trị của việc dùng các cặp từ đó
- Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muồn tới ăn gan; ngày xem ốngkhói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ
- Nào đợi ai đòi ai hỏi, phen này xin ra sức đọan kình; chẳng thèm trốnngợc trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ
- Kẻ đâm ngang, ngời chém dọc, làm cho mã tà ma ní hồn kinh; ngời
hè trớc, kẻ ó sau, trối kệ tàu sắt tàu đồng pháo nổ
Trang 20(Nguyễn Đình Chiểu, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc){Bài tập 7 - bài Dùng từ đồng nghĩa, trái nghĩa - Ngữ văn 11, tập 1,
trang 72}
3 Trong bài thơ "Viếng lăng Bác" của Viễn Phơng có câu:
Ngày ngày dòng ngời đi trong thơng nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mơi chín mùa xuân
a Hãy kể ra những từ đồng nghĩa với mỗi từ: dòng, kết, tràng, dâng.
b Có thể thay thế mỗi từ dòng, kết, tràng, dâng bằng những từ nào
đồng nghĩa? Hãy giải thích lý do thay thế đợc/ không thay thế đợc
{Bài tập 4 - bài Dùng từ đồng nghĩa, trái nghĩa - Ngữ văn11, tập 1,
trang 72}
Bên cạnh các cách diễn đạt trên đồng thời có thể kết hợp thêm các yêucầu khác nh: giải thích, lý giải, so sánh, bình luận, các hiện tợng từ ngữ,ngữ pháp
Chẳng hạn:
Tìm và phân tích giá trị của các từ trái nghĩa trong các câu sau:
a Bán anh em xa mua láng giềng gần
+ Bài tập đơn thuần có tính chất nhận diện
+ Bài tập có tính chất tổng hợp vừa nhận diện vừa phân tích, bình giátác dụng của các hiện tợng từ ngữ, ngữ pháp trong ngữ liệu cho trớc
Loại bài tập này nhằm rèn luyện kĩ năng phân tích bình giá ngôn ngữtác phẩm văn học Đây là dạng bài tập tơng đối khó Có thể trong ngữ liệucho sẵn của bài tập, các tri thức lý thuyết đợc biểu hiện trong nhiều dạng,nhiều vẻ Học sinh cần phải dựa vào những đặc trng cơ bản của các tri thức
đó, có thể bỏ qua những biểu hiện chi tiết, để nhận diện và phân tích
2.2.1.2 Đây là loại bài tập yêu cầu thấp nhất nhằm làm học sinh nhớlại tri thức đã học Bài tập nhận diện hình thành cho học sinh trí óc tìm tòikhám phá ngôn ngữ, hấp dẫn lôi cuốn các em vào khoa học ngôn ngữ mộtcách chủ động Chuẩn bị cho học sinh t duy minh mẫn và có vốn ngôn ngữphong phú, đa dạng trong cuộc sống
Trang 21Loại bài tập này có mục đích làm sáng tỏ và củng cố, phát triển trithức mà học sinh đã đợc tiếp thu từ bài học lý thuyết, giúp học sinh khắc sâuhơn kiến thức lý thuyết.
Bài tập này yêu cầu học sinh tái hiện, nhớ lại những tri thức đã đợchọc, đồng thời vận dụng những tri thức phân tích, lý giải, bình luận các hiệntợng ngôn ngữ Bài tập nhận diện nhằm rèn luyện t duy trực quan và rènluyện kĩ năng cho học sinh
2.2.1.3 Với loại bài tập này, khi làm thực hành, giáo viên cần hớngdẫn học sinh thực hiện các bớc sau:
Bớc 1: Tái hiện lại tri thức cũ (căn cứ vào các đặc trng của khái niệm)Bớc 2: Vận dụng vào ngữ liệu của bài tập để xác định đối tợng cầnnhận diện, phân tích (cần tiến hành phân tích ngữ liệu và yêu cầu của đề)
Bớc 3: Thực hiện nhận diện
Bớc 4: Phân tích đối tợng tìm đợc để xác định đặc điểm của nó, xem
nó có đáp ứng đợc đặc trng của khái niệm lý thuyết không
Chứng minh kết quả nhận diện Từ đó có thể củng cố thêm khái niệm
Ví dụ 1:
Xác định khởi ngữ trong các câu sau và phân tích đặc điểm của khởingữ về các mặt:
- Vị trí của khởi ngữ trong câu
- Dấu hiệu về quảng ngắt (dấu phẩy) hoặc h từ (từ "thì" là khởi ngữ)
- Tác dụng của khởi ngữ đối với việc thể hiện đề tài của câu, đối với sựliên kết ý với câu đi trớc, sự nhấn mạnh ý, sự đối lập ý,
a Tôi mong đồng bào ai cũng tập thể dục Tự tôi, ngày nào tôi cũngtập
(Hồ Chí Minh, Lời kêu gọi toàn dân tập thể dục)
b Chỗ đứng chính của văn nghệ là ở tình yêu ghét, niềm vui buồn,
ý đẹp xấu trong đời sống thiên nhiên và đời sống xã hội của chúng ta Cảmgiác, tình tự, đời sống cảm xúc, ấy là chiến khu chính của văn nghệ Tôn-xtôi nói vắn tắt: Nghệ thuật là tiếng nói của tình cảm
( Nguyễn Đình Thi, Tuyển tập, tập III, NXB Văn học, Hà nội, 1997){Bài tập 2 - bài Sử dụng một số kiểu câu trong văn bản - Ngữ văn 12,
tập 1, trang 113 -114}
Đây là loại bài tập nhận diện phân tích, yêu cầu học sinh nhận diện,củng cố và nâng cao kiến thức về kiểu câu khởi ngữ Bên cạnh đó, phải biếtphân tích và lĩnh hội tác dụng của kiểu câu này trong văn bản để có thể sửdụng nó thích hợp trong khi nói và viết
Trang 22Có thể tiến hành giải bài tập này nh sau:
Giáo viên gợi dẫn để học sinh nhớ lại khái niệm khởi ngữ Khởi ngữ làthành phần câu nêu lên đề tài của câu, là điểm xuất phát của điều thông báotrong câu
Đặc điểm của khởi ngữ:
+ Khởi ngữ luôn luôn dứng đầu câu
+ Khởi ngữ tách biệt với phần còn lại của câu bằng từ "thì", hoặc từ
"là", hoặc quãng ngắt (dấu phẩy)
+ Trớc khởi ngữ có thể có h từ: còn, về, đối với,
- Vận dụng vào ngữ liệu đã cho, xác dịnh khởi ngữ cùng các yêu cầukhác của đề
a Câu thứ 2 có khởi ngữ: Tự tôi
- Vị trí : đứng ở đầu câu, trớc chủ ngữ
- Có quảng ngắt (dấu phẩy) sau khởi ngữ
- Tác dụng của khởi ngữ: nêu một đề tài có quan hệ liên tớng với điều
đã nói trong câu trớc, có tác dụng đối lập ý với câu trớc (đồng bào/ tôi) do đócũng có tác dụng nhấn mạnh ý và liên kết ý
b Câu thứ 2 có khởi ngữ : cảm giác, tình tự , đời sống cảm xúc
- Vị trí: đứng ở đầu câu, trớc chủ ngữ ( ấy)
- Có quãng ngắt (dấu phẩy) sau khởi ngữ
- Tác dụng của khởi ngữ: nêu một đề tài có quan hệ với điều đã nói
trong câu trớc (thể hiện thông tin đã biết từ câu trớc): tình yêu ghét, niềm vui buồn, ý đẹp xấu (câu trớc) - cảm giác, tình tự, đời sống cảm xúc (khởi ngữ ở
câu sau)
- Những khởi ngữ đã đợc xác định ở trên dều mang đầy đủ những đặc
điểm cơ bản của khởi ngữ
Trong bài tập nhận diện phân tích có loại có thể đầu bài không nêukhái niệm mà yêu cầu phân tích ngữ liệu rồi quy về các phạm trù khái niệm
Đó là loại bài tập phân tích
Ví dụ:
1 Đầu xanh có tội tình gì?
Má hồng đến quá nửa thì cha thôi
(Nguyễn Du)
2 áo chàm đa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay
(Tố Hữu)
3 Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
Trang 23Một ngời chín nhớ mời mong một ngời
(Nguyễn Bính)
4 Các anh về mái ấm nhà vui
Tiếng hát câu cời
Rộn ràng xóm nhỏ
(Hoàng Trung Thông)Câu hỏi:
a Hãy chỉ ra các hoán dụ tu từ trong những câu thơ trên
b Câu thơ ở ví dụ 1 nói đến nỗi đau xót của một nhân vật trong TruyệnKiều khi bị rơi vào lầu xanh 1 lần nữa, vậy "đầu xanh", "má hồng" ở đây chỉnhân vật nào?
c Hoán dụ tu từ có những nét gì khác với ẩn dụ tu từ?
Phát biểu định nghĩa hoán dụ tu từ
{Bài tập 1- bài Phép hoán dụ và phép tợng trng - Ngữ văn 11, tập 2,
trang 73}
ở loại bài tập phân tích thì quy trình lại bắt đầu từ khâu phân tích ngữliệu, tìm ra những đặc điểm của nó rồi đối chiếu với khái niệm ngữ pháp đểxác định bản chất và quy loại cho nó
- Thao tác khái quát , dựa vào tính chất, đặc điểm của mỗi loại
+ Hoán dụ tu từ khác với ẩn dụ tu từ ở chỗ: ẩn dụ là sự chuyển nghĩadựa theo quan hệ tơng đồng, còn hoán dụ tu từ là sự chuyển nghĩa dựa theomối quan hệ tơng cận
Từ đó đi đến định nghĩa hoán dụ tu từ là biện pháp chuyển nghĩa lâmthời cho từ dựa theo mối quan hệ tơng cận( gần nhau) của các đối tợng mà từgọi tên
2.2.2 Bài tập chuyển đổi
Số lợng bài: 4, chiếm tỷ lệ 3.5 %
Trang 242.2.2.1 Đây là loại bài tập cũng cho trớc một ngữ liệu có sẵn, nhngyêu cầu chuyển đổi ngữ liệu về một phơng diện nào đó: về thành phần cấutạo, về trật tự sắp xếp, về kiểu cấu tạo,
Bài tập chuyển đổi thờng gồm 2 phần:
+ Phần trình bày yêu cầu
- Phần in đậm nằm ở vị trí nào trong câu?
- Nó có cấu tạo nh thế nào (là danh từ, động từ, là cụm động từ, cụmtính từ )?
- Chuyển phần in đậm về sau chủ ngữ và nhận xét sự khác nhau vàgiông nhau về cấu tạo, về nội dung của các câu trớc khi chuyển và sau khichuyển
Thị nghĩ bụng: hãy dừng yêu để hỏi cô thị đã
Thấy thị hỏi, bà già kia bật cời Bà tởng cháu bà nói đùa
(Nam Cao - Chí Phèo){Bài tập 1- bài Sử dụng một số kiểu câu trong văn bản - Ngữ văn 12,
tập 1, trang 112}
2 Hãy thay thế thành ngữ trong những câu sau bằng các từ ngữ thôngthờng, tơng đơng về nghĩa Nhận xét về sự khác biệt và hiệu quả của 2 cáchdiễn đạt
a, Này các cậu, đừng có ma cũ bắt nạt ma mới Cậu ấy vừa mới chân ớtchân ráo đến, mình phải tìm cách giúp đỡ chứ
b, Họ không đi tham quan, không đi thực tế kiểu cỡi ngựa xem hoa
mà đi chiến đấu thực sự, đi làm nhiệm vụ của những chiến sĩ bình thờng
{Bài tập 5 - bài Dùng thành ngữ, điển cố - Ngữ văn 11, tập 1, trang
101}
2.2.2.2 Loại bài tập này có mục đích củng cố khắc sâu tri thức lýthuyết về khái niệm và quy tắc ngữ pháp Đồng thời nó còn góp phần rènluyện năng lực tạo lập các sản phẩm mới cho học sinh Bài tập chuyển đổicũng nhằm rèn luyện t duy sáng tạo cho học sinh
Giáo viên có thể sử dụng kiểu bài tập này cho học sinh thực hành vớinhững nội dung nh: mở rộng câu, rút gọn câu, ghép câu, tách câu, đổi trật tự
Trang 25các thành phần câu hoặc vế câu ghép, chuyển đổi giữa các câu bị động vàchủ động, câu khẳng định và câu phủ định, các câu có mục đích nói khácnhau, thay thế các phơng tiện liên kết câu, chuyển đổi kết cấu của đoạn,
Bởi vai trò quan trọng nh vậy, kiểu bài tập này không thể thiếu trongkhâu luyện tập thực hành
2.2.2.3 Thực hiện bài tập này cần tuân theo các bớc sau:
Bớc 1: Tái hiện lại tri thức cũ
Bớc 2: Nắm vững yêu cầu của đề bài và hiểu rõ ngữ liệu đã cho (cầntiến hành phân tích ngữ liệu và yêu cầu của đề)
Bớc 3: Thực hiện đúng các yêu cầu chuyển đổi của đề bài cùng các
điều kiện giới hạn (nếu có)
Bớc 4: Kiểm tra lại sản phẩm mới theo yêu cầu luyện tập và theo cácchuẩn mực ngôn ngữ, đồng thời so sánh ngữ liệu đã cho với sản phẩm mới đểthấy sự giống nhau, khác nhau và giá trị của chúng
Ví dụ 1:
Hãy đọc đoạn trích và thực hiện các yêu cầu sau:
- Xác định câu chủ động trong đọan trích
- Chuyển câu chủ động sang câu bị động và nhận xét về sự liên kết ý ở
đoạn văn đã thay thế đó:
Hắn chỉ thấy nhục, chứ yêu đơng gì Không, hắn cha đợc một ngời
đàn bà nào yêu cả, vì thế mà bát cháo hành của Thị Nở làm hắn suy nghĩnhiều Hắn có thể tìm bạn đợc, sao lại chỉ gây kẻ thù?
( Nam Cao, Chí Phèo){Bài tập 1- bài Sử dụng một số kiểu câu trong văn bản - Ngữ văn 12,
tập 1, trang 112}
Đây là loại bài tập rèn luyện kĩ năng sử dụng kiểu câu bị động Vì vậycần chú ý tới tác dụng, điều kiện và mục đích sử dụng của kiểu câu này.Những vấn đề này đều gắn với ngữ cảnh, với văn bản hay với hoàn cảnh giaotiếp chung Vì vậy ở mỗi bài tập, mỗi câu đều đợc đặt trong cả đoạn, khôngphải ở dạng tách rời, biệt lập
Với bài tập trên có thể tiến hành giải nh sau:
- Tái hiện lại kiến thức lý thuyết về câu chủ động và câu bị động
- Xác định của kiểu câu bị động trong đoạn trích:
"Hắn cha đợc ngời đàn bà nào yêu cả"
Mô hình chung của kiểu câu bị động là:
Đối tợng của hành động - động từ bị động (bị, đợc, phải) - chủ thể củahành động - hành động
Trang 26- Chuyển sang câu chủ động: " Cha một ngời đàn bà nào yêu hắn cả"Mô hình chung của câu chủ động: chủ thể hành động - hành động - đốitợng của hành động.
- Thay câu chủ động vào ; đoạn trích sẽ là:
" Hắn thấy nhục, chứ yêu đơng gì Không, cha một ngời đàn bà nàoyêu hắn cả, vì thế mà bát cháo hành của Thị Nở làm hắn suy nghĩ nhiều Hắn
có thể tìm đợc bạn, sao lại chỉ gây thù?"
Nhận xét: Câu không sai nhng không nối tiếp ý và hớng triển khai ýcủa câu đi trớc Câu đi trớc trong đoạn trích đang nói về "hắn", chọn " hắn"làm đề tài Vì thế câu tiếp theo nên tiếp tục chọn "hắn" làm đề Muốn thế cầnviết câu theo kiểu câu bị động Còn ở vị trí đó, nếu viết câu chủ động thìkhông tiếp tục đề tài" về hắn" đợc mà đột ngột chuyển sang nói về " một ngời
đàn bà nào"
Nh thế, trong sự chuyển đổi cần phân tích chính xác ngữ liệu đã cho
và tạo lập ngữ liệu mới sao cho thỏa mãn yêu cầu của bài tập, đồng thời đảmbảo đợc tính chuẩn mực, trong sáng Bài tập chuyển đổi có khi yêu cầuchuyển đổi nhằm mục đích phủ định cái ngữ liệu ban đầu hoặc có khi nhắmphủ định chính cái chuyển đổi để khẳng định ngữ liệu ban đầu đó nhằm mục
đích làm sáng tỏ tác dụng của các kiểu cấu trúc ngữ pháp
Vì thế bài tập chuyển đổi nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa loại bài tậpnhận diện - phân tích và loại bài tập tạo lập lời nói
2.2.3 Bài tập tạo lập lời nói
Số lợng: 24, chiếm tỷ lệ 21%
2.2.3.1 Bên cạnh việc soạn thêm bài tập chuyển đổi giáo viên cũngcần bổ sung kiểu bài tập tạo lập lời nói để hệ thống bài tập thực hành của họcsinh không đơn điệu
Đây là loại bài tập yêu cầu học sinh tự mình tạo ra (nói hoặc viết) sảnphẩm ngôn ngữ theo một yêu cầu nào đó, trên cơ sở kiến thức vừa học Chonên bài tập tạo lập có khả năng củng cố tri thức lý thuyết và cao hơn là pháthuy năng lực t duy sáng tạo của các em Việc thực hiện những bài tập nàygần với những hoạt động nói viết hằng ngày của học sinh nhng vẫn ở dạngluyện tập theo yêu cầu ở chơng trình dạy học Tiếng Việt, có thể luyện tậptạo lập câu hoặc tạo lập văn bản
Các bài tập tạo lập có thể có một vài mức độ và yêu cầu khác nhau:
a Tạo lập theo mẫu: Bài tập yêu cầu học sinh tạo lập sản phẩm theomẫu Mẫu ở đây là một ngữ liệu cho trớc hoặc một mô hình khái quát Khi
Trang 27thực hiện loại bài tập này cần phân tích để nắm vững và hiểu thấu mẫu đãcho, vận dụng kiến thức lý luận và vật liệu ngôn ngữ để tạo ra sản phẩm theomẫu Sau đó cần kiểm tra sản phẩm xem có tơng ứng với mẫu không.
Ví dụ 1:
Tìm các từ có nghĩa gốc chỉ bộ phận cơ thể ngời có khả năng chuyểnnghĩa để chỉ cả con ngời Hãy đặt câu với mỗi từ đó
Mẫu: Tay - đó là một tay bóng bàn cừ khôi ở trờng tôi
{Bài tập 8- bài Chuyển nghĩa từ- Ngữ văn 11, tập 1, trang 58}
Ví dụ 2:
Hãy viết một đoận văn ngắn (từ 5- 7 câu) về chủ đề phòng chống matúy trong trờng học, trong đó có những câu thuộc kiểu câu ghép theo các môhình:
a C1-V1, rồi C2-V2
b C1- V1 hay(hoặc) C2-V2
c C1- V1 nhng (song, mà) C1-V2
d Nếu (hễ, giá) C1-V1 thì C2-V2
e Vì (bởi, tại, do) C1-V1 nên C2-V2
g Để C1-V1, C2-V2
h Tuy (dầu, mặc dầu, dù, dẫu) C1-V1, nhng C2-V2
i Không những (không chỉ) C1-V1, mà còn C2-V2
{Bài tập 5 - bài Câu đơn và câu ghép - Ngữ văn 10, tập 1, trang 86}
b Tạo lập tiếp sản phẩm theo những yêu cầu nhất định:
Loại bài tập này cho sẵn một phần của sản phẩm và yêu cầu học sinhtạo lập tiếp theo yêu cầu về kêt cấu, về quan hệ ý nghĩa, về hớng triển khai,
về liên kết Nó tơng tự loại bài tập điền từ vào chỗ trống, hoặc bài tập viếttiếp câu văn mà học sinh đã học ở các lớp dới
Thực hiện loại bài tập này, giáo viên cần hớng dẫn học sinh phân tích
để nắm vững phần sản phẩm đã có và yêu cầu của bài tập, rồi tiến hành tạolập tiếp trên cơ sở định hớng đó, sao cho thỏa mãn yêu cầu trên và tạo ra sảnphẩm thích hợp về quan hệ ý nghĩa, về liên kết ngữ pháp
Trang 28c Câu ghép có quan hệ nhợng bộ phối hợp quan hệ tơng phản(tuy nhng) trong đó vế chỉ sự nhợng bộ đi sau Mô hình: C-V tuy (dầu, dù,mặc dù) C-V.
c Tạo lập sản phẩm chỉ dựa vào những yêu cầu nhất định:
Loại bài tập này không có mẫu, cũng không có bộ phận nào cho trớc,
mà chỉ có những yêu cầu về một số phơng diện nào đó của sản phẩm: vềquan hệ ngữ pháp, về phơng tiện ngữ pháp, về quan hệ ý nghĩa, về hoàn cảnh
sử dụng, về phong cách chức năng, Có thể có nhiều mức độ yêu cầu: từ ít
đến nhiều, từ đơn giản đến phức tạp Cho nên việc tạo lập sản phẩm phải luônluôn chú ý để đáp ứng đợc các yêu cầu này Việc đáp ứng các yêu cầu cũng
là quá trình rèn luyện các năng lực ngôn ngữ về các phơng diện đó Giáo viêncần hớng dẫn học sinh hiểu và nắm vững yêu cầu, rồi tiến hành các thao táctạo lập đáp ứng các yêu cầu
Ví dụ: Bài tập ở nhà:
a Tìm 3 ví dụ về ẩn dụ tu từ ở những bài văn anh (chị) đã biết
b Viết 1 đoạn văn có ẩn dụ tu từ
c Làm 1 câu thơ có ẩn dụ tu từ
{Bài tập 3 - bài Các biện pháp tu từ so sánh, ẩn dụ - Ngữ văn 10, tập 1,
trang 155}
2.2.3.2 Bài tập tạo lập là loại bài tập dựa trên cơ sở lý thuyết đã học từ
đó vận dụng vào từng ngữ cảnh để sử dụng thành thạo kiến thức đã học, ápdụng vào thực tiễn đời sống Do đó nó có mục đích đầu tiên là củng cố trithức lý thuyết Đây cũng là cách để kiểm tra lợng kiến thức của học sinh nh-
ng nó không cụ thể, rõ ràng đợc và dễ nhận biết lý thuyết nh ở bài tập nhậndiện Mà nó đòi hỏi một cách cao hơn, tức là qua quá trình t duy sáng tạo,vận dụng lý thuyết vào thực tế Quá trình ấy là quá trình học lý thuyết mộtcách gián tiếp
Bài tập tạo lập có mục đích cao hơn đó là rèn luyện cho học sinhnhững kỹ năng nhất định đó là t duy sáng tạo Nh vậy ở kiểu bài tập tạo lập
đã nâng cao trình độ t duy của học sinh lên một mức cao hơn, đòi hỏi họcsinh không những chỉ nắm vững tri thức lý thuyết mà còn sử dụng thành thạo
lý thuyết Hơn nữa cần phải có tính sáng tạo cao khi áp dụng lý thuyết vàotừng bài tập Bài tập tạo lập nhằm tạo ra sản phẩm mới - do đó đây là loại bàitập thể hiện rõ năng lực của học sinh
2.2.3.3 Tùy theo từng mức đọ và yêu cầu khác nhau của bài tập mà cónhững cách giải tơng ứng, song nhìn chung loại bài tập tạo lập, khi giải cóthể tuân theo các bớc sau:
Trang 29Bớc 1: Tái hiện lại tri thức có liên quan
Bớc 2: Phân tích yêu cầu của bài tập và phân tích mẫu hoặc ngữ liệucho sẵn (nếu có) để nắm vững các yêu cầu này cùng đặc điểm của mẫu (hayngữ liệu) đã cho
Bớc 3: Tiến hành các thao tác tạo lập sản phẩm sao cho đáp ứng đúng
và đủ các yêu cầu của bài tập
Bớc 4: Kiểm tra lại sản phẩm theo các yêu cầu và đối chiếu với mẫu(nếu có) xem nó có đảm bảo đợc tính trong sáng, chuẩn mực của các lời nóikhông Tiến hành sửa chữa, điều chỉnh sản phẩm nếu có sai sót
Ví dụ: Từ "chạy "trong Tiếng Việt là một từ nhiều nghĩa Hãy đặt câuvới mỗi nghĩa sau đây của từ "chạy":
- Tự dời chỗ bằng chân trên mặt đất (trên mặt nền) với tốc độ nhanh
- Chuyển chỗ một vật khác một cách khẩn trơng, gấp gáp (nhanh)
- (Máy móc) tự di chuyển hoặc tự vận động với tốc độ nhanh
- Tìm kiếm ngời hay vật cần thiết một cách khẩn trơng, gấp gáp(nhanh)
- Trốn tránh ngời hay vật nguy hiểm một cách khẩn trơng (nhanh).{Bài tập 7- bài Chuyển nghĩa từ - Ngữ văn 11, tập 1, trang 58}
Đây là loại bài tập yêu cầu tạo lập sản phẩm mới Giáo viên phải hớngdẫn để học sinh nhớ lại và hệ thống hóa những kiến thức có liên quan đó làkiến thức về sự chuyển nghĩa, về từ nhiều nghĩa mà các em đã đợc học ởTHCS
Tính nhiều nghĩa của từ là kết qủa của quá trình chuyển nghĩa Quátrình chuyển nghĩa đợc thực hiện theo hai phơng thức cơ bản là ẩn dụ và hoán
dụ Đồng thời sự chuyển nghĩa gắn với quá trình chuyển tên gọi từ đối tợngnày sang đối tợng khác khi ngời nói cho rằng giữa các đối tọng có mối quan
hệ nào đó: quan hệ tơng đồng (ẩn dụ), quan hệ tơng cận (hoán dụ)
- ứng với mỗi nghĩa của từ " chạy" cần đặt 1 câu phù hợp
Chú ý nghĩa của từ "chạy" trong câu cần phù hợp, nghĩa là vừa có nétnghĩa chung của từ "chạy" (hoạt động nhanh) lại vừa mang nét nghĩa riêngcủa từng hoàn cảnh sử dụng
Chẳng hạn:
- Tôi chạy vào nhà
- Trời sắp ma, cần chạy thóc vào nhà
- Chiếc xe này chạy tốt lắm
- Nhà có ngời ốm nặng, cần chạy thầy, chạy thuốc
Trang 30- Nguyễn Đình Chiểu đã viết những bài thơ tả cảnh chạy giặc của đồngbào ta
Sau khi đặt câu xong cần đối chiếu với ngữ liệu cho trớc xem có phùhợp không
Ví dụ 2: Dùng một số tiếng gốc Hán sau (đợc dùng nh từ đơn âm) để
đặt câu: vơng, tớng, nhân, nghĩa, nam, nữ, phơng
{Bài tập 1 - bài Từ Hán Việt - Ngữ văn 10, tập 2, trang 63}
Đây là loại bài tập cho trớc ngữ liệu, yêu cầu sử dụng ngữ liệu đó đểtạo lập sản phẩm mới
Có thể đặt các câu với mỗi từ cho trớc
- Vơng nghe lời tâu bày, lấy làm hài lòng, bèn cho xuất quân
- Làm tớng cần coi trọng nhân, nghĩa
- ăn ở sao cho có nhân, có nghĩa, còn để phúc cho con cháu đời sau
- Không phân biệt nam, nữ, già, trẻ, ai nấy đều một lòng quyết tâm
đánh giặc bảo vệ đất nớc
- Bốn phơng tám hớng, xung quanh đều là núi cao, rừng thẳm, khe sâu,nơi đây quả thực rất kín đáo, an toàn
2.2.4 Bài tập lựa chọn
Số lợng: 7, chiếm tỷ lệ 6.2%
2.2.4.1 Đây là loại bài tập đặt ra một tình huống ngôn ngữ cho họcsinh Tình huống ấy có thể có từ 2 hay nhiều phơng án giải quyết khác nhau,yêu cầu học sinh lựa chọn phơng án tối u
Bài tập này cũng có cấu tạo 2 phần: phần trình bày yêu cầu và phầntrình bày ngữ liệu Ngữ liệu đa ra có thể đều đúng nhng yêu cầu học sinhphải lựa chọn ngữ liệu phù hợp nhất với yêu cầu hoặc có thể có ngữ liệu sai,yêu cầu học sinh phải phát hiện ra
Còn phần nêu yêu cầu có thể diễn đạt bằng các dấu hiệu từ ngữ nh:hãy lựa chọn, hay, hoặc,
Ví dụ 1: Lựa chọn từ ngữ thích hợp cho trong ngoặc đơn để dùng vàonhững vị trí bỏ trống trong các câu sau
a) “Nhật kí trong tù / /một tấm lòng nhớ n” ớc.
(phản ánh, thể hiện, bộc lộ, biểu hiện, biểu lộ, canh cánh)
b) Anh ấy không / / gì đến việc này.
(dính dáng, dính dấp, quan hệ, liên hệ, liên luỵ, liên can, can dự)
c) Việt Nam muốn làm / / với tất cả các nớc trên thế giới.
(bầu bạn, bạn hữu, bạn bè)
Trang 31(BT5 - Bài dùng từ đồng nghĩa, trái nghĩa - Ngữ văn 11 - tập 1 - Tr 72)
Ví dụ 2: Trong đoạn văn sau đây thành phần nghĩa phản ánh sự việchiện tợng hay thành phần nghĩa biểu hiện thái độ, tình cảm của ngời nói làthành phần nghĩa chủ đạo trong câu?
Rồi vừa xốc Chí Phèo, cụ vừa phàn nàn:
- Khổ quá, giá có tôi ở nhà thì đâu đến nỗi Ta nói chuyện với nhau,thế nào cũng xong Ngời lớn cả, chỉ một câu chuyện với nhau là đủ Chỉ tạithằng Lý Cờng nóng tính; không nghĩ trớc, nghĩ sau Ai chứ anh với nó còn
có họ kia đấy
( Nam Cao - Chí Phèo){Bài tập1 - bài Nghĩa của câu- Ngữ văn 12- tập 1- trang 160}2.2.4.2 Trên cơ sở kiến thức lý thuyết đã đợc học việc đa ra loại bàitập này nhằm rèn luyện kỹ năng nắm bắt thông tin một cách nhanh nhạy, sắcbén Sau đó hình thành cho học sinh t duy sắc sảo trớc mọi tình huống ngônngữ đặt ra Từ đó nhằm tạo cho học sinh ý thức để lựa chọn ngôn ngữ, cáchdiễn đạt thích hợp trong nói và viết hàng ngày
Bài tập này đợc ra dới dạng tình huống, đặt học sinh vào một tìnhhuống ngôn ngữ nào đó buộc học sinh phải lựa chọn Để có thể lựa chọn đợc
đúng đắn và tối u, học sinh nhất thiết phải có vốn kiến thức vững vàng, bởivậy lọai bài tập này cũng nhằm củng cố, khắc sâu tri thức lý thuyết, giúp họcsinh rèn luyện t duy tái hiện
Song việc đa ra loại bài tập này yêu cầu học sinh sự nhanh nhạy do đó
nó rèn luyện đợc t duy sáng tạo và khả năng vận dụng Việc lựa chọn cũngkhông phải dễ dàng, học sinh phải đa ra sự lựa chọn tối u nhất vừa phù hợpvới đặc điểm ngữ pháp vừa phù hợp với nội dung, ý nghĩa thông báo của cáchiện tuợng ngôn ngữ
2.2.4.3 Việc giải loại bài tập này cũng cần tuân theo trình tự:
Bớc 1: Tái hiện, nhớ lại kiến thức cũ có liên quan
Bớc 2: Phân tích yêu cầu của đề và ngữ liệu cho trớc
Bớc 3: Tiến hành thao tác lựa chọn
Bớc 4: Kiểm tra lại sản phẩm , đối chiếu với yêu cầu của đề