1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hành động cầu khiến trong thơ tình (khảo sát dựa trên cứ liệu tuyển tập thơ tình việt nam thế kỷ XX)

136 1,1K 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hành động cầu khiến trong thơ tình
Tác giả Trần Anh Thư
Người hướng dẫn Ts. Lê Đình Tường
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lý luận ngôn ngữ
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2006
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 136
Dung lượng 616,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Và chưa có một công trình nàothực sự đi vào nghiên cứu về cả biểu hiện hình thức lẫn cấu trúc nội dung ngữnghĩa của hành động cầu khiến trong thơ nói chung, trong thơ tình nói riêngchủ y

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH



TRẦN ANH THƯ

HÀNH ĐỘNG CẦU KHIẾN

TRONG THƠ TÌNH

(Khảo sát dựa trên cứ liệu Tuyển tập Thơ tình Việt Nam thế kỷ XX)

Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ

Mã số: 602201

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

Ts Lê Đình Tường

Vinh, tháng 12/2006

Trang 2

Vinh, ngày 25/11/2006

Luận văn được hoàn thành ngoài nỗ lực của bản thân tác giả, còn nhờ sự giúp đỡ hết sức nhiệt tình, khoa học của thầy giáo hướng dẫn - Tiến sĩ Lê Đình Tường cùng các thầy giáo, cô giáo tổ giảng dạy bộ môn Ngôn ngữ, khoa Sau đại học; sự động viên giúp đỡ của bạn bè, người thân Tác giả xin có lời cảm

ơn chân thành và sâu sắc đến các thầy, các cô, gia đình và bạn bè!

Luận văn chắc chắn còn một số vấn đề thiếu sót Kính mong được mọi người quan tâm, chỉ bảo để khi có điều kiện, tác giả sẽ hoàn thiện đề tài này ở bậc cao hơn

Trần Anh Thư

Mục lục

Trang 3

Chương I: TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN

2 Cầu khiến và hành động cầu khiến trong tiếng Việt 9

3 Đơn vị nghiên cứu hành động cầu khiến trong thơ tình 18

Chương 2: ĐẶC TRƯNG VỀ HÌNH THỨC BIỂU HIỆN

CỦA HÀNH ĐỘNG CẦU KHIẾN TRONG THƠ TÌNH 27

1 Cầu khiến trực tiếp bằng các phương tiện từ vựng 30 1.1 Các động từ ngôn hành cầu khiến: cầu, xin, van, ước… 31

1.1.2 Các động từ ngôn hành cầu, xin, van, ước… trong thơ tình 32

1.2.1 Vai trò của các động từ mong, muốn trong việc biểu thị ý nghĩa cầu

1.2.2 Các động từ trạng thái mong, muốn trong thơ tình 38

2 Cầu khiến trực tiếp bằng các phương tiện ngữ pháp 41

2.1.1 Vai trò của các vị từ tình thái hãy, đừng, chớ trong hành động cầu

2.1.2 Các vị từ tình thái hãy, đừng, chớ trong thơ tình 43 2.2 Các tiểu từ tình thái: thôi, nhé, đi, chứ, nào, với… 46 2.3 Các kiểu cấu trúc của hành động cầu khiến trong thơ tình 51

2.4 Phương tiện ngữ điệu cầu khiến trong thơ tình 58 2.4.1 Vai trò của ngữ điệu trong hành động cầu khiến nói chung 58 2.4.2 Vai trò của phương tiện ngữ điệu cầu khiến trong thơ tình 59

3 Cầu khiến gián tiếp bằng hành động ‘nghi vấn - cầu khiến’ 62 3.1 Hành động nghi vấn - cầu khiến trong tiếng Việt 62 3.2 Hành động nghi vấn - cầu khiến trong thơ tình 64 3.2.1 Nghi vấn phủ định có hàm ý khuyên không nên hành động 66

3.2.2 Nghi vấn với cặp từ hỏi “sao…không” hàm ý khuyên hành động 69

2.2.3 Nghi vấn với cặp “từ ngữ phủ định + mà” hàm ý khuyên không nên

Trang 4

2.2.4 Một số kiểu dạng nghi vấn - cầu khiến khác 72

Chương 3: CÁC YẾU TỐ NGỮ NGHĨA CỦA CẤU TRÚC NỘI DUNG

HÀNH ĐỘNG CẦU KHIẾN TRONG THƠ TÌNH 75

1 Vai trao và vai nhận hành động cầu khiến trong thơ tình 76 1.1 Quy chiếu vai trao và vai nhận trong thơ tình 76 1.1.1 Quy chiếu vai trao - vai nhận trong phát ngôn cầu khiến nói chung 76 1.1.2 Quy chiếu vai trao - vai nhận trong hành động cầu khiến ở thơ tình 77 1.2 Vai trao trong hành động cầu khiến ở thơ tình 80 1.2.1 Vai trao là chủ thể trữ tình - nhà thơ 81 1.2.2 Vai trao là nhân vật trữ tình (S 1 ’) 82

1.3 Vai nhận trong hành động cầu khiến ở thơ tình 86 1.3.1 Vai nhận là chính chủ thể trữ tình - nhà thơ 87 1.3.2 Vai nhận là nhân vật trữ tình (S 2 ’) 88

2 Lực ngôn trung cầu khiến trong thơ tình 93 2.1 Yếu tố lực ngôn trung trong phát ngôn cầu khiến 93 2.2 Cường độ lực ngôn trung cầu khiến trong thơ tình 94 2.2.1 Các loại cường độ lực ngôn trung cầu khiến 94 2.2.2 Đặc trưng cường độ lực ngôn trung cầu khiến trong thơ tình 95 2.3 Các yếu tố chi phối cường độ lực ngôn trung cầu khiến trong thơ tình 98

3 Nội dung cầu khiến trong thơ tình 104

3.2 Đặc trưng nội dung cầu khiến trong thơ tình 105

3.2.3 Nội dung phản ánh đặc trưng kinh nghiệm của mỗi người 111

4 Hiệu lực cầu khiến trong thơ tình 115

Tài liệu tham khảo

Trang 6

MỞ ĐẦU

I Lý do chọn đề tài

1 Trong các thể loại văn học, thơ đã được nghiên cứu nhiều và hầu khắp

các góc độ Tuy nhiên, các tác giả chưa xem xét toàn diện trên cả 3 mặt: nghĩahọc (nghĩa, ý nghĩa ngôn ngữ, nghĩa nghệ thuật thơ), kết học (các hình thứcngôn ngữ thông thường, các hình thức cú pháp thơ), dụng học (dụng học ngônngữ, dụng học nghệ thuật thơ)… đối với thơ Và chưa có một công trình nàothực sự đi vào nghiên cứu về cả biểu hiện hình thức lẫn cấu trúc nội dung ngữnghĩa của hành động cầu khiến trong thơ nói chung, trong thơ tình nói riêng(chủ yếu mới nghiên cứu cầu khiến trong phát ngôn)

2 Thơ tình đặc trưng bởi những rung động, cảm xúc… rất có lý và cả vô

lý Đặc trưng này sẽ chi phối đến các yếu tố ngữ nghĩa cầu khiến và tạo nênnhững đặc thù của hành động cầu khiến trong thơ so với hành động cầu khiếntrong hội thoại giao tế Việc nghiên cứu hành động cầu khiến trong thơ tình, vì

lẽ đó, càng trở nên có ý nghĩa đặc biệt

3 Về cầu khiến, đến nay trong tiếng Việt đã có nhiều công trình nghiên cứu

từ các góc độ khác nhau của các tác giả: Chu Thị Thuỷ An, Lê Đình Tường,Trần Kim Phượng, Nguyễn Thị Hoàng Chi, Đào Thanh Lan, Nguyễn Văn Độ,

Vũ Thị Thanh Hương, Nguyễn Thị Thanh Hương…

Trong đó, có công trình đã nghiên cứu khá đầy đủ về câu cầu khiến tiếngViệt (Chu Thị Thuỷ An, Đào Thanh Lan); Một số công trình thiên về nghiêncứu các phương thức biểu đạt ý nghĩa cầu khiến (Nguyễn Thị Hoàng Chi, TrầnKim Phượng, Nguyễn Thị Thanh Hương); Công trình nghiên cứu các yếu tốngữ nghĩa của phát ngôn cầu khiến (Lê Đình Tường); Công trình nghiên cứu

về các yếu tố làm biển đổi lực ngôn trung thỉnh cầu (Nguyễn Văn Độ); Côngtrình nghiên cứu hoàn toàn dưới góc độ ngữ dụng học (Vũ Thị Thanh Hương);

Trang 7

Một số công trình nghiên cứu khác về phát ngôn cầu khiến có tính đến tính lịch

sự, tính gián tiếp, văn hóa giao tiếp v.v…

Tuy nhiên, tất cả các tác giả của các công trình trên còn bỏ ngỏ 2 vấn đề: Thứ nhất, các tác giả chỉ mới nghiên cứu hành động cầu khiến trong hội

thoại Vì vậy, giá trị cầu khiến là giá trị tuyệt đối |1-1|, đúng với hệ quy chiếutuyệt đối “TÔI - ANH - BÂY GIỜ - Ở ĐÂY”

Còn đặc trưng của thơ: mạch cảm xúc là độc thoại nhưng luôn mang cáctiềm năng hội thoại Hình thức hội thoại trong thơ là dạng hội thoại đặc biệt(đa thoại - polylogue): giữa các nhân vật trữ tình, giữa nhà thơ và bạn đọc,giữa bạn đọc với bạn đọc… Ngữ nghĩa của thơ không chỉ được kiến tạo từphía nhà thơ mà còn từ phía bạn đọc thơ Chính vì vậy, giá trị nội dung nóichung, giá trị cầu khiến nói riêng trong thơ không là giá trị tuyệt đối |1-1| mà

nó có sự luân phiên thay đổi tuỳ theo các góc quy chiếu khác nhau của vai trao

và vai nhận (ngữ vi nhiều lần)

Thứ hai, các tác giả đi trước đều lấy đơn vị nghiên cứu hành động cầu

khiến là phát ngôn (câu)

Điều này không thể áp dụng để khảo sát trong thơ Vì khái niệm câu thơ trong thể loại văn học này không trùng với khái niệm câu của ngữ pháp học.

Đơn vị của thi pháp thường không tương xứng với đơn vị của ngữ pháp

Các đơn vị hiển nhiên của thơ có thể dễ dàng phân tách, tính đếm là dòng, liên,

khổ, bài… không tương ứng với những đơn vị của ngữ pháp chung

Cách nhau ngàn vạn dặm Nhớ chi đến trăng thề

(Hàn Mặc Tử, Tình quê - tr 119)

Trong dẫn chứng này, một tứ thơ trọn vẹn với hai dòng thơ nhưng chưa chỉnh một câu theo khái niệm của ngữ pháp học.

Để giải quyết yêu cầu, nhiệm vụ chính của luận văn, chúng tôi lấy cú

(clause) làm đơn vị nghiên cứu thơ (cụ thể là nghiên cứu hành động cầu khiến

Trang 8

trong thơ) Bởi theo chúng tôi, thơ là một hình thức giao tiếp lạ, lời thơ cónhững cách tổ chức, có chất liệu khác hẳn với lời nói thường; và chính cấu trúc

thành tố (constituency) mà đơn vị quan hệ có tính chất tầng bậc của nó là cú

khi được đưa vào để phân tích thơ sẽ mang lại những ý nghĩa đặc biệt (sẽ đượcchúng tôi trình bày rõ trong nội dung luận văn)

Như vậy, hành động cầu khiến trong thơ nói chung và thơ tình nói riêngcòn là một vấn đề bỏ ngỏ, mới lạ, hứa hẹn những gợi mở về cả lý luận và thựctiễn, cho cả lĩnh vực nghiên cứu văn chương - thơ ca và lĩnh vực nghiên cứu

ngôn ngữ học Đó cũng là động cơ thúc đẩy chúng tôi chọn đề tài: Hành động

cầu khiến trong thơ tình (trên cứ liệu Tuyển tập Thơ tình Việt Nam thế kỷ 20).

II Mục đích nghiên cứu

Khảo sát, phân tích tìm ra các đặc trưng hình thức biểu hiện và hoạt độngcủa các yếu tố thuộc cấu trúc nội dung ngữ nghĩa của hành động cầu khiếntrong thơ tình Trên cơ sở đó, chỉ ra đặc trưng khu biệt của hành động cầukhiến trong thơ tình so với hành động cầu khiến trong hội thoại giao tiếp

III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1 Đối tượng nghiên cứu

Các phương tiện đánh dấu lực ngôn trung cầu khiến (phương tiện từ vựng,phương tiện ngữ pháp); và các yếu tố ngữ nghĩa của cấu trúc nội dung hànhđộng cầu khiến trong thơ tình (vai trao, vai nhận, lực ngôn trung cầu khiến, nộidung cầu khiến, hiệu lực cầu khiến)

2 Phạm vi nghiên cứu

Tập trung giải quyết các vấn đề sau:

+ Đặc trưng về hình thức biểu hiện của hành động cầu khiến trong thơ tình;+ Đặc trưng về cấu trúc nội dung ngữ nghĩa của hành động cầu khiến trongthơ tình (phân tích sâu các yếu tố thành phần);

Trang 9

+ Sự khác biệt về hình thức biểu hiện và nội dung ngữ nghĩa của hành độngcầu khiến trong thơ tình so với hành động cầu khiến trong hội thoại.

Tư liệu khảo sát: Tập thơ Tuyển tập thơ tình Việt Nam thế kỷ 20

Nxb Thanh niên, H 2000

VI Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, Luận văn chủ yếu sử dụng các phương pháp:

- Phương pháp thống kê, phương pháp quy nạp

- Phương pháp phân tích ngữ nghĩa - cứ pháp của hình thức thơ ca

- Phương pháp so sánh - đối chiếu để rút ra những đặc trưng về hình thức vàcấu trúc nội dung của hành động cầu khiến trong thơ tình

V Cấu trúc Luận văn

Luận văn gồm 3 chương:

* Chương 1: Tiền đề lý luận

Trình bày về ba vấn đề mang tính lý luận có liên quan đến luận văn:

1 Đặc trưng của thơ và thơ tình

2 Cầu khiến và hành động cầu khiến trong tiếng Việt.

3 Đơn vị nghiên cứu hành động cầu khiến trong thơ tình (cú).

* Chương 2: Đặc trưng về hình thức biểu hiện của hành động cầu khiến

trong thơ tình

Trình bày những đặc trưng về hình thức biểu hiện để làm rõ hơn những đặcsắc về nội dung ngữ nghĩa của hành động cầu khiến trong thơ tình

1 Cầu khiến trực tiếp bằng các phương tiện từ vựng: các động từ ngôn hành

van, xin, cầu…, các động từ trạng thái mong, muốn.

2 Cầu khiến trực tiếp bằng các phương tiện ngữ pháp: các vị từ tính thái

hãy, đừng, chớ…; các tiểu từ tình thái thôi, nhé, nhỉ…; các cấu trúc cầu khiến.

3 Cầu khiến gián tiếp bằng hành động ‘nghi vấn - cầu khiến’.

Trang 10

* Chương 3: Các yếu tố ngữ nghĩa của cấu trúc nội dung hành động cầu khiến trong thơ tình

Cấu trúc nội dung ngữ nghĩa của hành động cầu khiến trong thơ tình là một

hệ thống gồm các yếu tố: a) Vai trao lời cầu khiến; b) Vai nhận; c) Lực ngôn

trung cầu khiến; d) Nội dung cầu khiến; e) Hiệu lực cầu khiến

Đặc điểm biểu hiện các yếu tố ngữ nghĩa thuộc cấu trúc nội dung của hànhđộng cầu khiến trong thơ tình bị chi phối mạnh mẽ bởi đặc trưng thể loại nghệthuật thơ ca, vì vậy có những điểm khác biệt với các yếu tố tương ứng trongcấu trúc nội dung một hành động cầu khiến hội thoại giao tế Những điểmkhác, đặc trưng, đặc biệt này nằm trong bản chất biểu hiện của mỗi một yếu tố

Trang 11

CHƯƠNG I

TIỀN ĐỀ LÝ LUẬN

1 Đặc trưng của thơ và thơ tình

Những đặc trưng mang đặc thù thể loại của thơ nói chung, thơ tình nói riêng

sẽ chi phối đến các yếu tố ngữ nghĩa cầu khiến và tạo nên sự khác biệt củahành động cầu khiến trong thơ so với hành động cầu khiến trong hội thoại giao

tế

1.1 Nói tới nghệ thuật thì phải nói tới khả năng khơi gợi cảm xúc của người

thưởng thức Các bộ môn nghệ thuật đều giống nhau ở mục đích làm cho conngười thấy được cái hay, cái đẹp của cuộc sống Thơ đã làm trọn vẹn hoặc tốthơn chức năng đó so với một số hình thức nghệ thuật khác So với văn, thơhơn một bậc vì nó sử dụng ngôn ngữ, âm thanh thật tối thiểu mà hiệu năng lạiđạt được tối đa Ngôn ngữ dùng trong thơ phải là thứ ngôn ngữ tinh vi, chọnlọc, tạo được phản ứng cảm xúc dây chuyền như phản ứng nổ hạch tâm trong

lò nguyên tử

Bàn về thơ và ý nghĩa quan trọng trước hết của thơ, không thể không nhắc

đến câu nói nổi tiếng của nhà mỹ học cổ điển Đức thế kỷ XXI, F.Heghel: Thơ

bắt đầu từ cái ngày con người cảm thấy cần tự bộc lộ mình Nhu cầu “tự bộc

lộ mình” của con người trong thơ mang đặc trưng thể loại, mà cái quan trọng,cái quyết định hàng đầu, cái căn nguyên, cái gốc rễ của thơ bao giờ cũng là

tình cảm, cảm xúc, cảm hứng của con người Bạch Cư Dị, nhà thơ Trung

Quốc nổi tiếng đời Đường đã nói về đặc trưng này một cách rõ ràng, hình ảnh

như sau: Cảm động lòng người trước hết không gì bằng tình, đầu tiên không gì

bằng lời, tha thiết không gì bằng thanh, sâu xa không gì bằng nghĩa Vậy đối với thơ: tình là gốc, lời là cành, thanh là hoa, nghĩa là quả (Cảm nhân tâm giả,

mạc tiên hồ tình, mạc thuỷ hồ ngôn, mạc thiết hồ thanh, mạc thâm hồ nghĩa

Trang 12

Thi giả: căn tình, miêu ngôn, hoa thanh, thực nghĩa) [80; 412] Trong thơ cổ,

cảm hứng vẫn được đề cao nhưng cảm xúc lại chưa được lưu ý nhiều (thi dĩ

ngôn chí, văn dĩ tải đạo) Đến thời hiện đại, thơ được mở rộng về chiều kíchcảm quan, độc đáo trong hoạt động thẩm mĩ, quyết liệt trong cách tân và phầncảm xúc, tình cảm đã có dịp bùng nổ mang tính dây chuyền, nhất là trong thơtình Thơ tình đặc trưng bởi những rung động, cảm xúc… rất có lý và cả vôlý… với hình thức thơ khá tự do, phóng khoáng, sáng tạo và mang nét cá tínhcủa nhà thơ trong phút xuất thần hứng khởi Hành động cầu khiến trong thơtình, vì thế, sẽ là một nét độc đáo rất đáng lưu ý quan tâm

1.2 Trong thơ, cái hay của nó là chính nó Thơ không phải là dấu hiệu phản

ánh thực thể mà chính nó là một thực thể Khi tìm ra được cái gốc cốt lõi ấyrồi, thơ không phải là cái khác như triết lý, chính trị mà nó phản ánh TượngPhật, tượng Chúa, những biểu tượng tôn giáo không đơn thuần là đồ vật mà

đó là những điều thiêng liêng không thể cắt nghĩa được Ta không thể đơn giảnhóa với thắc mắc như định giá trị bằng bao nhiêu hoặc chế tạo bằng gì, mà phảichú ý đến phần biểu hiện của nó, phần thiêng liêng hơn… Lời cầu khiến trongthơ, vì thế, nhiều khi cũng không phải đơn giản là sự mã hoá bởi các dấu hiệuhình thức, hay ý nghĩa trần trụi của ngôn từ Điều mà chúng ta tìm kiếm, có thểchỉ nằm sau lớp vỏ hoặc nhiều lớp vỏ bên ngoài

1.3 Thi ca và âm nhạc là hai loại hình “nghệ thuật của ký ức” Cũng như

âm nhạc, thơ là để trình diễn, được đọc lên thành tiếng (dù đọc thầm cho mỗi

mình nghe thôi cũng vẫn là đọc thành tiếng trong đầu mình) Nhạc điệu (vần,

thanh, nhịp…) là những tiêu điểm cắm sẵn giúp cho việc tiếp nhận thơ được dễdàng hơn Tất nhiên, âm thanh trong thơ không phải là thứ âm thanh vô hồn,

đó phải là thứ “ngôn ngoại” để chuyên chở cái “ý tại” mà các vị tiền nhân củachúng ta đã nói đến Từ xa xưa, thơ đã có vần, có nhịp, thơ làm ra để hát, để kể

về các vị thánh thần, để hoà phối động tác lao động… Cả nhạc lẫn cảm xúcđều có chung những thuộc tính tác động, cộng hưởng, lan truyền đến nội dung

Trang 13

cũng như sự tiếp nhận của người đọc thơ Chính đặc trưng này của thơ đã chiphối đến hình thức biểu hiện cầu khiến trong thơ

1.4 Thơ là lời nói đối thoại (conversation) có tính đa thoại (polylogue)

ngầm ẩn, vừa thực hiện chức năng biểu hiện trực tiếp cái tôi trữ tình của nhàthơ, vừa thực hiện chức năng giao tiếp giữa nhà thơ và độc giả Tính đối thoạicủa thơ hay là sự tương tác các vai giao tiếp trong thơ là thuộc tính không dễthấy, không tường minh trên bề mặt ngôn bản Luôn luôn và chủ yếu chỉ là sựhiện diện trực tiếp của một phía người nói - nhà thơ - chủ thể trữ tình phát

ngôn, cất tiếng nói bộc bạch (M.Bakhtin) mặc sức giãi bày tâm tư tình cảm…

còn phía người nghe thường không lộ diện Tuy nhiên, nhân tố bạn đọc - ngườinghe - người tiếp nhận vẫn tồn tại khách quan ngay từ đầu và trong suốt tiến

trình vận động của thơ, như lời của Lalich I về lý thuyết giao tiếp: Cái bóng

của độc giả đang cúi xuống sau lưng nhà văn ngồi trước tờ giấy trắng, nó có mặt ngay cả khi nhà văn không muốn thừa nhận sự có mặt đó Chính độc giả

đã ghi lên trên tờ giấy trắng cái dấu hiệu không thể tẩy xoá được của mình

[63; 150] Như vậy, giao tiếp thơ là giao tiếp thân tình phi quy thức [5; 17], đó

là cuộc giao cảm của những tâm hồn đồng điệu Đây là thuộc tính quan trọng,chi phối nhiều đến các yếu tố: vai trao, vai nhận, hiệu lực cầu khiến… của mộthành động cầu khiến trong thơ nói chung, trong thơ tình nói riêng

1.5 Thơ là một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp

nhận phải nhớ, phải cảm xúc và phải suy nghĩ do chính hình thức tổ chức ngôn ngữ này [62; 32] Cái tính chất “quái đản” ấy khiến cho thơ chỉ truyền đạt

những nội dung mang đặc trưng thể loại như cách nói của M.Bkhatin, khác

biệt so với các hình thức tổ chức ngôn từ khác

Hình thức tổ chức chất liệu thơ, điều mà Phan Ngọc cho là “quái đản”, có

thể hiểu là những phẩm chất nghệ thuật đặc thù của tất cả các phương tiện và cách tổ chức các phương tiện đó nhằm biểu đạt tối ưu nhất cái tôi trữ tình của

tác giả Ở cấp độ liên kết ngôn từ, thơ là một cấu trúc vừa ở bề nổi, vừa ở bề

Trang 14

chìm bao gồm nhiều thành tố có quy mô lớn nhỏ, có đặc điểm, có quan hệ liênkết khác nhau…, vừa chịu sự chi phối của cái logic ngữ pháp thông thường,vừa chịu sự chi phối của một thứ logic ngữ pháp ở bậc sâu hơn nữa - ngữ pháp

do thể loại thơ quy định Và cùng với cơ chế tạo nghĩa đặc biệt của thơ (như đã nói), thì hình thức tổ chức ngôn từ của thơ ca cũng điển hình về sự không rõ

ràng, không mạch lạc, rất khó định hình trên cấu trúc bề mặt Sự không tường

minh cả về cơ chế tạo nghĩa và cách tổ chức ngôn từ của loại hình nghệ thuậtnày đã gây nhiễu cho việc xác định biểu hiện hình thức, vai trao, vai nhận vànội dung cầu khiến… của một hành động cầu khiến trong thơ tình

1.6 Tóm lại, thơ là một hình thức tố chức ngôn từ đặc biệt, mang đầy tính

xúc cảm, sự sáng tạo, nét độc đáo, và dấu ấn cá tính cá nhân của mỗi tác giả,trong mỗi tác phẩm… mà những quy tắc ngữ pháp thông thường nhiều khi không

thể “lọt khuôn” Chính vì vậy, hành động cầu khiến trong thơ nói chung, thơ tình

nói riêng, bên cạnh những tương đồng so với hành động cầu khiến trong hội thoại, sẽ còn có trong mình những đặc trưng mang tính khu biệt, tính thể loại…

rất cần được lưu ý

2 Cầu khiến và hành động cầu khiến trong tiếng Việt

2.1 Phát ngôn cầu khiến

Trong ngôn ngữ học hai khái niệm câu và phát ngôn có mối quan hệ khăng

khít với nhau Câu là cái trừu tượng còn phát ngôn là cái cụ thể, câu là bất

biến thể và phát ngôn là biến thể Các phát ngôn làm chức năng hiện thực hoá các mô hình cú pháp của câu, đồng thời là phương thức tồn tại của các mô hình đó [69; 13] Cụ thể hơn, phát ngôn là câu được làm đầy bằng những đơn

vị từ vựng cụ thể có thể được dùng ở những ngữ cảnh khác nhau, nhằm nhiều đích khác nhau [20; 31]

Hai khái niệm này hiện nay vẫn chưa có cách hiểu thống nhất Ở đây, chúngtôi dùng khái niệm phát ngôn để trình bày vấn đề

Trang 15

2.1.1 Phát ngôn cầu khiến là một trong những đơn vị lời nói được phân chia

theo mục đích của người nói Nó là cái biểu hiện của hành động cầu khiến

Thực ra, trên nguyên tắc xét theo “mục đích phát ngôn” thì cầu khiến khôngnhất thiết phải được xác lập thành một kiểu câu riêng Mục đích sử dụng cầukhiến có thể đạt được bằng những kiểu phát ngôn khác như phát ngôn trầnthuật hay phát ngôn nghi vấn Tuy nhiên, có lẽ do hành động yêu cầu, đề nghị,

ra lệnh là hành động thường xuyên và quan trọng đến mức mà dườngnhư không có ngôn ngữ nào trên thế giới thiếu kiểu câu này (J Sadock & A.Zwicky, 1990) Các ngôn ngữ chỉ khác nhau ở dấu hiệu hình thức thể hiện vàmức độ rõ rệt của dấu hiệu hình thức đó

Khác với nhiều ngôn ngữ châu Âu, trong tiếng Việt, dấu hiệu hình thức củaphát ngôn cầu khiến không được thể hiện rõ Trong nhiều trường hợp, kiểuphát ngôn này dễ lẫn với kiểu phát ngôn trần thuật Đó là lí do mà có tác giảkhông coi câu cầu khiến là một kiểu câu riêng trong tiếng Việt mà chỉ là mộtdạng của câu trần thuật (Cao Xuân Hạo, 1991) Đó cũng là lý do tạo nên sựkhông nhất quán trong nghiên cứu và kết luận của các nhà Việt ngữ về vấn đềnày

2.1.2 Trong lịch sử nghiên cứu phát ngôn cầu khiến, khái niệm này được

hiểu không giống nhau giữa các tác giả khác nhau Có thể tạm chia thành cáchướng: Quan niệm của các nhà ngữ pháp truyền thống, quan niệm của các nhà

lý thuyết hành vi, quan niệm của các nhà ngữ pháp chức năng

(1) Quan niệm của các nhà ngữ pháp truyền thống

Các nhà ngữ pháp truyền thống khi phân loại câu theo mục đích phát ngôn,câu cầu khiến thường được đặt đối lập với câu trần thuật, câu nghi vấn (một sốtác giả còn đối lập với câu cảm thán [9]) Tuy nhiên vẫn có những quan niệmkhác nhau:

Quan niệm rộng về phát ngôn cầu khiến chủ yếu đề cập đến đến nguyện

vọng (tức cả cầu lẫn khiến hoặc chỉ một trong hai thành tố này) Ngữ pháp

Trang 16

tiếng Nga (1960) quan niệm câu cầu khiến là câu biểu thị các sắc thái mong

muốn từ mệnh lệnh, đến yêu cầu và khuyên bảo… [75; 8] Quan niệm này được

các tác giả “Ngữ pháp tiếng Việt” chia sẻ: Câu cầu khiến là nói chung về các

trường hợp yêu cầu, chúc tụng, sai bảo… [97; 204] Đây là một quan niệm khá

rộng nhưng chưa đầy đủ, chưa đề cập đến các yếu tố ngữ nghĩa khác của phátngôn cầu khiến (như nội dung hành động cầu khiến, người thực hiện hành

động cầu khiến…).

Các quan niệm hẹp về phát ngôn cầu khiến có thể chia làm hai loại: Quan

niệm cho rằng người thực hiện hành động nêu ra trong phát ngôn là ngườinghe; và quan niệm cho rằng người thực hiện hành động nêu ra trong phátngôn có thể là người nghe, người nghe và người nói, người nghe hoặc (những)người không tham gia cuộc thoại

Theo hướng thứ nhất, Nguyễn Kim Thản cho rằng câu cầu khiến nhằm mục

đích nói lên ý chí của người nói và đòi hỏi, mong muốn đối phương thực hiện những điều nêu ra trong câu nói [82; 261] Tác giả “Ngữ pháp tiếng Việt” 1980

viết: Cũng như câu hỏi, câu cầu khiến có nhu cầu của ý chí làm thành yếu tố

thường trực của câu Nó nêu lên ý muốn của chủ thế phát ngôn và yêu cầu người nghe đáp lại bằng hành động [69; 288] Diệp Quang Ban dùng thuật ngữ câu mệnh lệnh và cho rằng nó được dùng để bày tỏ ý muốn nhờ hay bắt buộc

người nghe thực hiện điều được nêu lên trong câu [9; 235]

Theo quan niệm này, ba yếu tố của phát ngôn đã được xác định: Người nói(là chủ thế cầu khiến); Người nghe (người thực hiện hành động); Nội dung cầukhiến (là hành động mà người nghe được yêu cầu thực hiện) Quan niệm nàyhẹp và chưa cho thấy vai trò tình thái của cầu khiến cũng như những trạng thái

“mơ hồ” khác của nội dung ý muốn (những nội dung cầu khiến thuộc về suynghĩ, tư duy)

Trong đề tài này, khi khảo sát, nghiên cứu hành động cầu khiến trong thơtình, với những đặc trưng mang tính đặc thù thể loại như đã trình này ở trên,

Trang 17

chúng tôi ủng hộ quan niệm rộng về người thực hiện hành động cầu khiến (bàogồm có thể là người nghe, người nghe và người nói, hoặc những người khôngtham gia cuộc thoại).

(2) Quan niệm của các nhà lý thuyết hành vi

Lý thuyết hành vi đã chỉ ra nhiều khía cạnh ngữ nghĩa của các phát ngôn xét

từ góc độ mục đích phát ngôn Theo J.Austin, khi thực hiện một phát ngôn,người nói thực hiện ba loại hành vi: hành vi tạo lời (locutionary acts), hành vitại lời (illocutionary acts) và hành vi mượn lời (prelocutionary acts) Trong đó,hành vi tại lời được các nhà ngữ dụng quan tâm nhất

Hành vi tại lời là mục đích tác động mà người nói đưa ra khi phát ngôn.Theo J.Austin, khi nói, chúng ta luôn luôn nhằm một mục đích nào đó (insaying something we are doing something) Trên cơ sở đó, với 12 tiêu chí,J.Searle đã chia các hành vi ngôn ngữ thành 5 lớp chính, trong đó có lớp hành

vi điều khiển (directives).

Điều khiển (directives) là hành động được người nói sử dụng để “áp đặt”

người nào đó làm một cái gì đó; chúng bộc lộ cái mà người nói muốn Đó là những mệnh lệnh, những yêu cầu và những gợi ý [75; 12] Lớp hành vi điều

khiển gồm các hành vi tại lời như: hỏi (ask), ra lệnh (order), đòi hỏi (demand),yêu cầu (request), cầu xin (beg), van xin (plead), nài nỉ (entreat), cầu nguyện(pray), mời (invite), cho phép (permit) và khuyên (advise)

Hành vi này có những đặc điểm cơ bản sau đây:

- Đích ngôn trung là người nói đặt người nghe vào sự thực hiện mộthành động nào đó

- Hướng của hành vi là làm cho hiện thực khớp với lời nói và điều kiệnchân thành là muốn (hoặc khát khao)

- Nội dung mệnh đề luôn luôn là người nghe thực hiện một hành độngnào đó [75; 12]

Trang 18

Quan niệm này cho phép chúng ta hình dung phát ngôn cầu khiến là loại

phát ngôn không miêu tả hoặc báo cáo hoặc thuật lại một cái gì, chúng không

đúng hoặc sai và khi nói chúng ra thì đồng thời đã thực hiện (tất cả hoặc một

phần) hành động ấy; đồng thời phát ngôn đó lại thực hiện hành vi có đặc điểmnêu trên của lớp hành vi điều khiển Quan niệm này cũng chỉ ra rằng, giữahành động cầu khiến và hành động nghi vấn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.Tuy nhiên, trong nghiên cứu, các nhà lý thuyết hành vi đã chú trọng chưađầy đủ và đúng mức đến hình thức biểu đạt Nghiên cứu hành vi ngôn ngữ táchrời khỏi cái biểu đạt của nó không thể đảm bảo được tính trọn vẹn của ngônngữ, không khai thác được hết sắc thái ngữ nghĩa của nó trong hoạt động Mặtkhác, J.Austin, J.Searle… đã đồng nhất phát ngôn với hành vi ngôn ngữ khicho rằng, mỗi phát ngôn là sản phẩm của một hành vi ngôn ngữ Trong thực tếmột phát ngôn có thể bao hàm trên một hành vi ngôn ngữ Hơn nữa, các tác giảtrên cũng không đặt các hành vi ngôn ngữ trong hoạt động hành chức củachúng; điều này gây khó khăn trong việc xác định đích ngôn trung của phátngôn (ở đây là phát ngôn cầu khiến)

(3) Quan niệm của các nhà ngữ pháp chức năng

Nghiên cứu ngôn ngữ theo hướng chức năng, M Halliday cho rằng, muốnxác định một các chính xác hơn hiệu lực ở lời của một hành vi ngôn ngữ, bản

thân nó phải được xem xét trong mối tương tác bằng lời Đặt trong hội thoại,

một hành vi ngôn ngữ mới có hiệu lực ở lời xác định [17; 4] Theo ông, phát

ngôn cầu khiến và phát ngôn nghi vấn đều hướng yêu cầu của mình đếnngười nghe (đọc) và đòi hỏi người đó đáp lại bằng hành động Song, chúngkhác nhau ở nội dung yêu cầu: phát ngôn nghi vấn đòi hỏi thông tin, còn phátngôn cầu khiến đòi hỏi phục vụ Quan niệm của Halliday đã chỉ rõ bản chấtcủa phát ngôn cầu khiến qua việc xác định mối quan hệ trao đáp của loại phátngôn này Trao đáp là một trong những đặc trưng cơ bản, là định hướng quan

Trang 19

trọng để xác định bản chất của phát ngôn cầu khiến Tuy nhiên, Hallydaychưa chú ý lý giải điểm này: đòi hỏi thông tin thực chất cũng là đòi hỏi đáplại bằng hành động, bởi muốn đáp lại thông tin, người nghe cũng phải thựchiện một hành động, hành động nói năng (hoặc viết).

Cũng với quan điểm hệ thống chức năng, các nhà ngữ pháp chức năng Nga,đứng đầu là A.Bondarko đã coi tình thái cầu khiến là một hoàn cảnh có tínhphạm trù và đối lập với các hoàn cảnh tường thuật và nghi vấn Hoàn cảnhđược hiểu là tập hợp các tình huống, tình thế và trạng thái ở một thời gian nhấtđịnh Theo A.Bondarko, hoàn cảnh cầu khiến là một cấu trúc nội dung gồmcác yếu tố sau:

(a) Chủ thể của ý muốn - S1

(b) Người thực hiện hành động được nêu ra trong phát ngôn - S2

(c) Vị từ vừa biểu đạt ý muốn vừa biểu đạt nội dung ý muốn được truyền từ

S1 đến S2

Đó chính là hành động (với nghĩa rộng) được gây khiến nhằm làm biển đổihoàn cảnh đang là phi hiện thực tại thời điểm nói (t1) thành hoàn cảnh (mà theohình dung của người nói) hiện thực (tại thời điểm t2) nhờ hành động gây khiến

đó Quá trình biến đổi trên đòi hỏi: a) Một khoảng thời gian từ khi nói đến lúcđến lúc mong muốn của S1 được thực hiện (t2): t1 → t2, b) Định hướng biến đổicái phi hiện thực (PH) thành cái hiện thực (H) Như vậy, nội dung của hoàn cảnhcầu khiến là ý muốn được chuyển từ S1 đến S2 và nhằm mục đích biến đổi PH

→ trong khoảng thời gian t1 → t2 Cái mà S1 mong muốn là cái đang ở dạngtiềm năng, hay là cái hiện thực trong tương lai

(d) Lợi ích của việc thực hiện hành động cầu khiến

Việc thực hiện ý muốn của vai trao mang lại lợi ích cho một trong nghiênnhững đối tượng sau đây: 1 Người nói; 2 Người nghe; 3 Cả người nói vàngười nghe; 4 Tất cả nghĩa người tham gia hoặc chứng kiến cuộc thoại Lợiích này là điều dự kiến [75; 18]

Trang 20

2.1.3 Điểm lại một số ý kiến, quan niệm của các tác giả khác nhau bàn về

phát ngôn cầu khiến, chúng tôi thấy có một số điểm chưa thống nhất như: a)Nội dung cầu khiến gồm bao nhiêu yếu tố ngữ nghĩa? b) Yếu tố ý muốn của

phát ngôn cầu khiến bắt buộc bao gồm cả thành tố cầu lẫn thành tố khiến hay

chỉ cần một trong hai thành tố đó? c) Những phát ngôn chỉ yêu cầu ngườinghe chấp nhận hay đồng ý một điều gì đó, thì sự chấp nhận, đồng ý (khôngthể hiện bằng hành động) có được coi là hành động cầu khiến không? d) Mối

quan hệ giữa phát ngôn cầu khiến và các phát ngôn khác (nghi vấn, tường

thuật, cầu mong…).

Trong khuôn khổ đề tài luận văn (hành động cầu khiến trong thơ tình),chúng tôi quan niệm về phát ngôn cầu khiến khá rộng (thiết nghĩ để phù hợp

với đặc trưng mang tính thể loại của thơ) Đó là: Phát ngôn cầu khiến là tên

gọi chung của những phát ngôn có chức năng gợi nên ở người nhận phản ứng đáp lại bằng hành động (hoặc tình thái hành động) theo mong muốn của người trao Ở đây, tên gọi chung có nghĩa là chúng tôi mặc nhiên thừa nhận

phát ngôn cầu khiến bao gồm cả phát ngôn cầu mong, phát ngôn tường thuật,phát ngôn nghi vấn (về mục đích phát ngôn: mang nội dung hoặc tình thái cầukhiến) Cụ thể hơn, chúng tôi sẽ trình bày ở mục 2.3 Tuy nhiên, như đã nói,thơ là một kiểu kiến trúc ngôn từ kỳ lạ, dị biệt so với các phát ngôn hội thoạithông thường (các nghiên cứu từ trước đến nay đều dựa trên cứ liệu phát ngônhội thoại), vì vậy sẽ không có hiện tượng đo chân vừa giày đối với lý thuyết vềcầu khiến nói chung, với quan niệm về cầu khiến mà chúng tôi thừa nhận nóiriêng Những nét độc đáo và khác biệt này chúng tôi sẽ trình bày trong từngphần thuộc Chương 2, Chương 3

2.2 Hành động cầu khiến

Hành động cầu khiến là một kiểu hành động ngôn trung được thực hiệnbằng lời nói nhằm cầu khiến người nghe (đối ngôn) thực hiện hành động mà

Trang 21

người nói (chủ ngôn) mong muốn, yêu cầu Cấu trúc nội dung của hành độngcầu khiến gồm các yếu tố:

a) Người nói/viết, tức vai trao (S1);

b) Người nghe/đọc, tức vai nhận (S2);

c) Lực ngôn trung cầu khiến - (F)

d) Nội dung cầu khiến (P)

e) Hiệu lực cầu khiến (tính cấp thiết và lợi ích của việc thực hiện nội dungcầu khiến)

Như vậy, hành động cầu khiến là hành động tích hợp các hành vi ngôn ngữ

của vai trao nhằm thể hiện mong muốn vai nhận hoặc vai nhận cùng vai trao thực hiện hoặc không thực hiện một hành động P nào đó nhằm thay đổi tình trạng tại thời điểm đang nói thành tình trạng mới Hành động cầu khiến có

tính trọn vẹn nhỏ nhất được biểu đạt bằng một câu

Tiêu chí nhận diện hành động cầu khiến

Theo ngữ pháp truyền thống, người ta nghĩ trước hết đến tiêu chí hình thức:một câu có động từ vị ngữ ở kiến trúc mệnh lệnh được coi là câu cầu khiến Tuynhiên, như nhiều tác giả đã chỉ ra, hành vi cầu khiến không chỉ được biểu hiệnbằng các câu mệnh lệnh mà cả bằng các dạng thức cú pháp khác Hình thức vìvậy không phải bao giờ cũng là tiêu chí tin cậy để nhận diện các lời cầu khiến.Khi mà các dấu hiệu hình thức trở nên không quan trọng thì để nhận diện mộtlời cầu khiến, vấn đề đặt ra là làm sao có thể đi từ cấu trúc bề mặt của phát ngônđến việc giải thích các từ được nói ra như một loại hành động cụ thể? Nói cáchkhác cần phải có các thao tác phân tích chức năng để xác định và nhận diện cáchành vi cầu khiến bất kể dạng thức biểu hiện của chúng như thế nào

Theo Searle, một hành động cầu khiến (gián tiếp) có thể nhận diện thôngqua việc phân tích các điều kiện thực hiện nó, bao gồm:

- Nội dung mệnh đề: hành động tương lai của S1 và S2

Trang 22

- Quy tắc chuẩn bị: 1 S2 có khả năng thực hiện P, S1 tin rằng S2 có khả nănglàm; 2 Không rõ với cả S1 và S2 là S2 sẽ làm P trong điều kiện bình thường.

- Quy tắc chân thành: S1 muốn S2 làm P

- Quy tắc cơ bản: được xem như một cố gắng để có được việc làm P [41].Tuy nhiên, theo cách này người ta thường chỉ giới hạn sự nhận diện lời cầukhiến ở một phát ngôn cụ thể và chú trọng đến một cá nhân duy nhất là ngườinói mà bỏ qua chuỗi hội thoại và sự tham gia của cả người nghe Hệ quả là cóthể nhận diện không đúng chức năng cầu khiến của các phát ngôn, chẳng hạn

có thể nhầm lẫn thành phần mở đầu (pre-sequence) của một lời cầu khiến trựctiếp với một lời cầu khiến gián tiếp như một số tác giả đã lưu ý Để khắc phụcnhược điểm này, các nhà nghiên cứu về hành vi cầu khiến từ quan điểm phân

tích hội thoại cho rằng cơ sở chính để giải thích lời nói là vị trí của phát ngôn

trong chuỗi các hành động đang diễn ra và vì vậy cần phải xem xét các hành

vi cầu khiến trong một hoạt động đang diễn ra như là xuất hiện từ trong hộithoại chứ không phải là có kế hoạch từ trước và cố định [41; 40]

Để khảo sát hành động cầu khiến trong thơ tình, chúng tôi kết hợp cả hai

cách tiếp cận trên đây, một mặt chủ trương nhận diện lời cầu khiến dựa vào quy

tắc cấu tạo nó, và mặt khác dựa vào mối quan hệ với các hành vi khác trong cả bài thơ (có lưu ý đến hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ bài thơ và tư liệu riêng về tác

(Trong đó: D 1 , D 2 , D 3 , Dg là danh từ/ đại từ ở ngôi 1, 2, 3, ngôi gộp;

Vttck: Vị từ tình thái cầu khiến ;

V (p) : Vị từ, động từ có phần phụ tố

Tck : Tiểu từ cầu khiến)

Trang 23

Vnhck : Động từ ngôn hành cầu khiến)

Các câu cầu khiến với mô hình đó có chứa các phương tiện đánh dấu lực

ngôn trung cầu khiến trực tiếp như các vị từ tình thái cầu khiến: hãy, đừng,

chớ; các động từ tình thái cầu khiến: nên, cần, phải; các động từ trạng thái

mang ý nghĩa cầu mong: mong, muốn, mong muốn; kết cấu V + giúp, hộ, cho; tiểu từ tình thái cầu khiến: đi, với, xem, đã, thôi, nào, nhé…; động từ ngôn hành cầu khiến: ra lệnh, cấm, cho phép/ cho, yêu cầu, đề nghị, khuyên, nhờ,

mời/ cầu, ước, chúc, xin, xin phép, van, lạy

Hành động cầu khiến có thể được bày tỏ một cách gián tiếp thông qua một

hành động ngôn trung khác như nghi vấn, trần thuật (trong một số trường hợp

có cả cảm thán) mà có đích là cầu khiến

Ví dụ: - Trời mưa to, cô về làm gì vội?

(Nhất Linh, Đoạn tuyệt)

- Hai thôn chung với một làng

Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?

(Nguyễn Bính, Tương tư)

Cách bày tỏ này không tạo sự áp đặt bắt buộc phải tiếp nhận đối với vainhận (đối ngôn), tăng thêm quyền chủ động cho đối ngôn, do đó mà có tínhchủ động, tính lịch sự cao hơn cách cầu khiến trực tiếp

Tóm lại, hành động cầu khiến là một kiểu hành động ngôn trung được thực

hiện bằng lời nói nhằm cầu khiến người nghe thực hiện hành động mà người nói mong muốn, yêu cầu Cấu trúc nội dung của hành động cầu khiến gồm 5

yếu tố (vai trao, vai nhận, lực ngôn trung cầu khiến, nội dung cầu khiến, hiệu

lực cầu khiến) Về hình thức, hành động cầu khiến có thể được thể hiện trực

tiếp bằng cấu tạo có tính quy tắc hoặc gián tiếp thông qua một số hành độngngôn trung khác như trần thuật, nghi vấn…

3 Đơn vị nghiên cứu hành động cầu khiến trong thơ tình

Trang 24

3.1 Có một thời, các câu thơ được dùng làm ngữ liệu để phân tích ngữ pháp

(hiện nay trong ngữ pháp nhà trường vẫn còn) Cách làm này không giúp đượcnhiều cho việc hiểu đúng những gì người khác nói, cũng như nói đúng những

gì mình muốn người khác nghe Đơn giản là vì nó trái với tự nhiên Phát ngônngoài đời mấy ai nói như trong thơ?

Thơ là một hình thức giao tiếp đặc biệt, lời thơ có những cách tổ chức vàchất liệu khác với lời nói thường Do vậy lấy thơ làm ngữ liệu để phân tích ngữ

pháp nhà trường (ngữ pháp được dùng dạy trong nhà trường) hoặc dùng thứ

ngữ pháp đó để phân tích thơ đều không mang lại kết quả như ý Tất nhiênkhông thể phủ nhận giá trị hiển nhiên của các mô hình đoản ngữ, các mô hìnhkiểu câu tiếng Việt đã được các nhà nghiên cứu ngữ pháp đúc kết, nhưng chỉ với

bộ đồ nghề này thôi thì không đủ để hành nghề trong xứ sở thơ Trong lịch sửnghiên cứu truyện Kiều, nhiều nhà nghiên cứu đã sử dụng lối phân tích ngữpháp hiện hành và kết quả là họ không vượt qua được sự loay hoay, lúng túngvới nhiều câu Kiều không thể “lọt khuôn” Vậy cách tiếp cận nào là hợp lý chothơ?

Trước hết và quan trọng, thiết nghĩ là cần xác định rõ, tránh sự mập mờ về

đơn vị ngữ pháp thơ Gọi ngữ pháp thơ là cách tạm gọi, vì cho đến nay thơ vẫn

chưa thể có một thứ ngữ pháp cho riêng mình, mặc dù đã có nhiều công trình

lớn nghiên cứu về ngôn ngữ thơ và thơ như: Ngôn ngữ thơ (Nguyễn Phan Cảnh), Cấu trúc thơ (Thụy Khuê), Thi pháp“Truyện Kiều” (Phan Ngọc), Thi

pháp thơ Đường, Thi pháp thơ Tố Hữu (Trần Đình Sử)…

3.2 Một điều dễ dàng nhận thấy là đơn vị của thi pháp thường không tương

ứng với đơn vị của ngữ pháp Các đơn vị hiển nhiên của thơ có thể phân tách,

tính đếm là dòng, liên, khổ, bài… Những đơn vị này không tương ứng với

những đơn vị ngữ pháp chung Nếu dùng mô hình các kiểu câu hay mô hình

cấu trúc các ngữ của ngữ pháp nhà trường để phân tích đơn vị dòng thơ (một

đơn vị hiển nhiên của thơ) thì ý nghĩa mang lại là không nhiều Vì dòng thơ có

Trang 25

thể nhỏ hơn, lớn hơn hoặc bằng đúng một câu (thường là nhỏ hơn) Nhiều

dòng thơ chỉ là một ngữ không đầy đủ các vị trí đứng trước và đứng sau từ trung tâm [51; 18] Dòng thơ tồn tại theo từng loại thể với số tiếng nhất định

như ngũ ngôn, thất ngôn, lục bát, song thất lục bát… hay tiếng không cố địnhnhư thơ tự do…

Lâu nay, khi phân tích thơ, nhất là dạy phân tích thơ trong nhà trường,

người ta hay dùng khái niệm câu thơ Điều này gây nên một sự mập mờ và rất

dễ nhầm lẫn cả về phương diện hiểu ngữ pháp và hiểu thơ Bởi vì, tên gọi câuthơ thường được dùng để chỉ những chữ trong một dòng, mỗi lần xuống dòng

là bắt đầu một câu thơ tiếp (bài thơ bát cú có 8 câu, Truyện Kiều có 3.254

câu…) Nhưng như đã nói ở trên, dòng lại là đơn vị mang tính “hình thức” (gần với vai trò của dấu câu); Còn khái niệm câu ăn sâu vào chúng ta từ những

bài học ngữ pháp là một khái niệm hoàn toàn khác Tuy có hơn 300 định nghĩa

về câu của nhiều trường phái ngôn ngữ khác nhau, nhưng hiểu một cách đơn

giản nhất thì “câu là đơn vị dùng từ đặt ra trong quá trình suy nghĩ nhằm thực

hiện một chức năng thông báo hay thể hiện thái độ, cảm xúc Câu có cấu tạo riêng (thường là một kết cấu C-V), có ngữ điệu kết thúc và được gắn với một ngữ cảnh nhất định” (Đỗ Thị Kim Liên).

Nhiều người khi phân tích thơ vẫn phải giải thích thêm để tránh hiểu nhầm

rằng câu, cú ở đây là danh từ chuyên môn của thơ chứ không phải của các

công trình nghiên cứu ngữ pháp Vậy tại sao người ta vẫn dùng ngữ pháp vàđơn vị của ngữ pháp học để phân tích các khái niệm chuyên môn của riêngthơ?

Sự mập mờ khái niệm này dẫn đến những sai lầm trong trích dẫn thơ, phântích thơ Bởi lẽ, quen với việc nhìn nhận dòng thơ, câu thơ như một nhận diện

“hình thức” hơn là một nhận diện “nội dung” nên khi ngắt dòng, nhiều người

đã vô tình tách bạch các câu thơ của cùng một ý thơ hay gắn kết khiên cưỡng

những câu thơ gần nhau nhưng thuộc hai ý thơ khác hẳn nhau Tác giả Lê Đình

Trang 26

Tường (trong Ngôn ngữ và đời sống, số 8/2006) đã chỉ ra một số sai lầm trong việc ngắt dòng, ngắt khổ của cuốn Dàn bài tập làm văn lớp 12, mà nguyên nhân

chỉ ra cũng là do sự không rõ ràng trong cách hiểu về đơn vị ngữ pháp của thơ

3.3 Để giải quyết vấn đề này và giải quyết yêu cầu, nhiệm vụ chính của

luận văn, chúng tôi lấy cú (clause) làm đơn vị nghiên cứu thơ (cụ thể là nghiên

cứu hành động cầu khiến trong thơ)

Trước hết, về khái niệm cú: Trong ngữ pháp Tiếng Việt, cú xuất hiện lần đầu tiên trong cuốn Khảo luận về Ngữ pháp Việt Nam của Trương Văn Chình -

Nguyễn Hiến Lê, năm 1963 Thuật ngữ cú được hai nhà nghiên cứu xác định

thông qua thuật ngữ sự tình (states of affairs) Sự tình là một việc xảy ra (hoặc

ta có thể nhận thấy), mà trong mỗi việc (sự tình) có một sự vật đóng vai trò chủ

thể: Tôi là chủ thể việc “tôi đi coi hát”, áo anh là chủ thể việc “áo anh dài

quá”, mồng mười tháng ba là chủ thể việc“mồng mười tháng ba là ngày giỗ tổ” [23].

Xét về nghĩa, câu (Nôm) và cú (Hán Việt) thường đồng nghĩa với nhau.

Riêng về ngữ pháp, vì chưa đặt ra được tiếng mới nên các nhà ngôn ngữ học

vẫn gọi là cú và dùng hai tiếng với nghĩa khác nhau Cú được dùng phân biệt với câu như trong cách xác định sau đây của Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê: Trong cùng một câu diễn tả nhiều sự tình, thì mỗi tổ hợp diễn tả một sự

tình là câu đơn cú, câu diễn tả nhiều sự tình là câu phức cú, chúng tôi gọi là câu đơn, câu phức [23].

Về sau, cú được các tác giả Lưu Vân Lăng (1970, 1994), S.Dick (1981,

1989), A.Siewierka (1991), Halliday (1994), Diệp Quang Ban (2005)… coi làđơn vị thích hợp để nghiên cứu cú pháp cũng như phân tích ngôn bản (text)

Cú không phải tương đương với câu (phrase) mà cũng không phải tương

đương với mệnh đề (proposition); nói đúng hơn, nó có phần nào đó tương

đương với câu đơn mà cũng có phần nào đó tương đương với mệnh đề củangôn ngữ học (nhưng không phải mệnh đề của logic học)

Trang 27

Một ngôn bản nói chung, một văn bản nghệ thuật nói riêng là một hệ thốngchỉnh của các đơn vị tầng bậc với nhiều kiểu quan hệ, nhiều cấp độ khác nhau.Trong đó, hiểu rõ kiểu quan hệ bộ phận - tổng thể giữa các đơn vị cấu thành cóvai trò đặc biệt đối với việc phân tích cấu trúc - ngữ nghĩa của một ngôn bản.

Theo quan điểm này, mỗi đơn vị bao gồm một hay nhiều đơn vị nhỏ hơn, mỗi

câu bao gồm một hay nhiều hơn một từ, mỗi từ bao gồm một hay nhiều con chữ Điều quan trọng là phải xác định được mỗi đơn vị như vậy bao gồm một hay nhiều thành tố của bậc thấp hơn; nói cách khác, trong mọi trường hợp, mỗi đơn vị đều phải có ít nhất một thành tố của bậc thấp hơn [35] Cấu trúc

này được Halliday gọi là cấu trúc thành tố (constituency), còn Lưu Vân Lănggọi là cấu trúc thành tố hạt nhân Và đơn vị có quan hệ này được nhiều nhà

nghiên cứu khẳng định là cú (clause).

Chính vì vậy, đối với cú Tiếng Việt, chúng tôi ủng hộ quan điểm của cố GsLưu Vân Lăng, Gs Cao Xuân Hạo và cho rằng cú tiếng Việt cần được khảo sáttheo cấu trúc đề-thuyết và cấu trúc ngữ nghĩa (trong đó có cấu trúc tham tố),

không dựa vào cấu trúc chủ vị: Trong Tiếng Việt không có cấu trúc chủ vị mà

cấu trúc cơ bản của câu là cấu trúc đề-thuyết; Phần đề chỉ cái được nêu lên

để nhận định, phần thuyết mang nội dung thuyết minh rõ về cái được nêu ra

[38] Và đối với hướng nghiên cứu văn bản thơ, việc quan tâm đến đặc điểm của

cú và cấu trúc đề-thuyết, thiết nghĩ, là phù hợp và cần thiết trong giai đoạn hiệnnay

3.4 Việc chia cú trong các loại ngôn bản khác vốn đã phức tạp, việc phân

chia này trong thơ lại còn phức tạp hơn Tuy nhiên, nếu làm được điều này khiphân tích thơ, chúng ta sẽ tránh được nhiều sai sót trong việc trích dẫn, ngắtdòng không đúng hệ thống cấu trúc của ngôn bản vốn có Bởi vì, khi đã chọn

cú làm đơn vị, người phân tích thơ phải tìm cho ra và đặt các đơn vị phân

tích vào một hệ thống chỉnh, với cách thức phân tích cấu trúc thành tố xoay

quanh một thành tố chính (mà nói theo Trương Văn Chình - Nguyễn Hiến Lê

Trang 28

là chủ thể của những sự tình) Và cũng bởi vì như đã nói, thơ khác với văn xuôi, lại càng khác với phát ngôn hội thoại thông thường - Thơ là một cách tổ

chức ngôn ngữ hết sức quái đản [62] Nhà thơ đối thoại với bạn đọc và với

cuộc sống bằng những phương thức đặc biệt, khác nhau, trong đó nguyên lýsong song được áp dụng triệt để Chính nguyên lý song song này quy định tính

xác nhận cần phải có một đơn vị ngôn ngữ thơ khác với câu, cái mà chúng tôi

đã đề xuất là cú

Trong thơ, song song không phải là sự lặp lại đơn giản mà đó là một cấutrúc nghệ thuật có tổ chức, nằm trong một tổ chức rộng lớn hơn: hệ thống ngônngữ Và François Cheng đã không lầm khi ông nói một cách rất hàm súc rằng

nguyên lý song song là một toan tính tổ chức không gian trong diễn biến thời gian của ký hiệu ngôn ngữ (tentative d'organisation spatiale des signes dans

leur déroulement temporel) Nguyên lý này dẫn đến sự lặp lại liên tục hoặc

không liên tục những sự tình trong dụng ý gửi gắm của nhà thơ, mà trong phát

ngôn hội thoại bình thường, thậm chí trong văn xuôi, nhiều khi người ta cũngkhông cần đến sự lặp lại này

Ví dụ: Trong khổ thơ:

“Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ

Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa”

(Chế Lan Viên - Tiếng hát con tàu)

Ở đây chúng ta có 6 sự lựa chọn tương đồng về nghĩa: Con gặp nhân dân,

nai về suối cũ, cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa, đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa, chiếc nôi ngừng gặp cánh tay đưa…Và lẽ ra, trong hội thoại, trong “giao

tế” (chữ dùng của Nguyễn Phan Cảnh khi nói về trường hợp này), chúng ta chỉ

có quyền chọn một trong 6 “sự tình” đó mà thôi Nhưng ở đây, trong thơ, tất cả

đều có mặt và một trong số đó là đề tố - “con gặp lại nhân dân”; còn lại là

Trang 29

thuyết tố “như nai về suối cũ… cánh tay đưa” Đây chính là hai thành tố hạt

nhân của một cú chỉnh

Sự liên kết trong thơ vừa chịu sự chi phối của cái logic ngữ pháp thôngthường vừa chịu sự chi phối của một thứ logic ngữ pháp ở bậc “sâu” hơn nữa -ngữ pháp do thể thoại nghệ thuật thơ quy định mà điển hình là sự chi phối của

dạng kết cấu trữ tình mà nguyên tắc kết cấu bên ngoài của nó dựa trên sự lặp lại và nâng cao ngữ điệu - cú pháp [4; 70] Nguyễn Lai cho rằng còn phải khai

thác một lớp nghĩa khác nữa thuộc cấu trúc sâu gắn với chất liệu riêng của thể loại để thấy nghĩa thể loại của thơ không giống nghĩa thể loại kịch, văn xuôi… [42] Về mặt hình thức, việc phân tích thơ dựa trên đặc điểm của cú và cấu trúc

đề-thuyết có thể giúp chúng ta chạm đến cái “cấu trúc sâu” mà các nhà nghiêncứu đã máng ra từ lâu Phân tích đoạn thơ sau:

Em trở về đúng nghĩa trái tim em Biết làm sống những hồng cầu đã chết Biết lấy lại những gì đã mất

Biết rút dần khoảng cách của yêu tin

(Xuân Quỳnh - Tự hát)Mỗi dòng thơ trên có cấu trúc đề - thuyết riêng của mình Dòng thứ nhất có

nòng cốt là em trở về Các câu thơ tiếp theo có nòng cốt lần lượt là biết (hạt nhân đề) làm sống (hạt nhân thuyết), biết (hạt nhân đề) lấy lại (hạt nhân thuyết), biết (hạt nhân đề) rút dần (hạt nhân thuyết) Điều thú vị là dòng thơ

đầu, trong mối quan hệ với cả khổ thơ, có cấu trúc đề thuyết thứ hai với phần

đề là em trở về đúng nghĩa và phần thuyết là trái tim em, và chính phần thuyết của dòng đầu (trái tim em) lại trở thành phần đề cho các dòng thơ còn lại Cấu

trúc tầng bậc này lặp lại ở hầu hết các khổ thơ (mỗi khổ là một cú kép) trong

bài thơ Tự hát của nhà thơ Xuân Quỳnh cho thấy một sự khát khao, khát khao

vô tận, và có thể nói là chất chứa, cháy bỏng của người phụ nữ trong tình yêu

Trang 30

Một ví dụ nữa: Chúng ta cũng có thể thấy rõ “sức mạnh” của sự lặp lại, củacấu trúc tầng bậc này trong thơ khi phân tích cấu trúc hình tượng ngọn đèn

trong tác phẩm Ngọn đèn đứng gác (Chính Hữu): Ngọn đèn mà không phải là

ngọn đèn, là tâm hồn mà không phải chỉ là nó, là miền Nam nhưng hơn thếnữa, là cả đất nước… - bốn năm bình diện song song, lấp lánh:

Những ngọn đèn không bao giờ nhắm mắt Như những tâm hồn không bao giờ tắt Như miền Nam

Hai mươi năm Không đêm nào ngủ được Như cả nước

Với miền Nam Đêm nào cũng thức…

(Chính Hữu - Ngọn đèn đứng gác)

Trong thơ, bị chi phối bởi đặc trưng của thể loại, cú được tổ chức rất đa

dạng và đặc biệt: Mỗi dòng thơ có thể có tổ chức của một cú (đơn hoặc kép):

Sáng mát trong như sáng năm xưa/ Gió thổi mùa thu hương cốm mới (Nguyễn

Đình Thi - Đất nước) Có khi 4 dòng thơ mới tạo thành một cú: Sao anh lại

ngỏ lời/ Vào một đêm trăng khuyết/ Để bây giờ thầm tiếc/ Một vầng trăng không tròn” (Phi Tuyết Ba - Trăng khuyết); hoặc có khi cả bài thơ là một cú

kép với nhiều cú đơn kết hợp…

Tóm lại, từ trình bày trên, cú là đơn vị có quan hệ bộ phận - tổng thể giữa

các đơn vị lời nói và được tổ chức theo mối liên hệ chức năng-ngữ nghĩa thuyết) mà không phụ thuộc vào dòng thơ Chính cấu trúc thành tố

(đề-(constituency) mà đơn vị quan hệ có tính chất tầng bậc của nó là cú (clause)khi được đưa vào để phân tích thơ sẽ mang lại những ý nghĩa đặc biệt: Chạmđược vào “cấu trúc sâu” mang đặc trưng thể loại khu biệt thơ với các thể loạivăn chương khác (kịch, văn xuôi…)

Trang 31

4 Tiểu kết

4.1 Thơ là một hình thức tố chức ngôn từ đặc biệt, mang đầy tính xúc cảm, sự

sáng tạo, nét độc đáo, và dấu ấn cá tính cá nhân của mỗi tác giả, trong mỗi tácphẩm… mà những quy tắc ngữ pháp thông thường nhiều khi không thể lọt khuôn

Vì thế, khi nghiên cứu hành động cầu khiến trong thơ nói chung, thơ tình nóitiêng, rất cần lưu ý đến những đặc trưng mang tính khu biệt của loại hình nghệthuật thơ ca

4.2 Quan niệm của luận văn về phát ngôn cầu khiến khá rộng (để phù hợp

với đặc trưng mang tính thể loại của thơ), đó là: Phát ngôn cầu khiến là tên gọichung của những phát ngôn có chức năng gợi nên ở người nhận phản ứng đáplại bằng hành động (hoặc tình thái hành động, hoặc tư duy) theo mong muốncủa người trao (bao gồm cả phát ngôn cầu mong)

4.3 Để giải quyết yêu cầu, nhiệm vụ chính của luận văn, chúng tôi lấy cú

(clause) làm đơn vị nghiên cứu thơ (cụ thể là nghiên cứu hành động cầu khiếntrong thơ) Đây là đơn vị có quan hệ bộ phận - tổng thể giữa các đơn vị lời nói,

và là cơ sở để xác định “cấu trúc sâu” mang đặc trưng thể loại khu biệt thơ vớicác thể loại văn chương khác (kịch, văn xuôi…)

CHƯƠNG 2

Trang 32

ĐẶC TRƯNG VỀ HÌNH THỨC BIỂU HIỆN

CỦA HÀNH ĐỘNG CẦU KHIẾN TRONG THƠ TÌNH

Theo khảo sát của chúng tôi, trong tổng số 199 bài thơ thuộc tập “Thơ tình

Việt Nam thế kỷ 20” (Nhà xuất bản Thanh niên, năm 2000) thì có đến 115 bài

(chiếm 65%) có mang nội dung (hành động ngôn trung) cầu khiến Ở đây, như

đã nói ở Chương 1, chúng tôi dựa trên một khái niệm rộng về hành động cầukhiến, tức là thừa nhận phát ngôn cầu khiến bao gồm cả phát ngôn cầu mong,phát ngôn có hình thức tường thuật hoặc nghi vấn (nhưng có lực ngôn trungcầu khiến)

Khó khăn lớn nhất khi khảo sát hành động cầu khiến trong thơ tình là sự

“mơ hồ” về thành tố S2 trong cấu trúc nội dung ngữ nghĩa Bởi vì, trên nguyêntắc, một hành vi cầu khiến, dù ở dạng biểu hiện nào (gián tiếp hay trực tiếp),bao giờ cũng hướng đến mục đích điều khiển hành động của S2 theo ý định của

S1 và vì vậy tạo ra ở S2 một phản ứng trả lời bằng ngôn từ (và/ hoặc hành

động) Do đó, để nhận diện một phát ngôn (hay chuỗi phát ngôn) nào đó là lời

cầu khiến, trước hết cần căn cứ vào hành động (bằng lời hoặc không bằng lời) của S 2 , tức là dựa vào cặp liền kề cầu khiến - trả lời [41; 36] Chẳng hạn, câu

hỏi sao em lại để sách dưới đất? của S1 sẽ được nhận diện là lời cầu khiến (S1

yêu cầu S2 để sách chỗ khác) nếu sau đó S2 thực hiện một hành động cụ thể làmang sách đặt lên bàn, lên giá sách và/ hoặc đáp lại bằng những lời cho thấy S2

hiểu S1 đang cầu khiến, như chấp thuận (Dạ, để em mang nó lên giá), từ chối hoặc đưa ra lời giải thích (Không mà, em đang phơi sách).

Tuy nhiên, đối với thơ, cần phải hiểu rằng khung cảnh giao tiếp là một vănbản nghệ thuật mà nhân vật trữ tình (chủ thể trữ tình - chủ ngôn) đang giao lưu,đối thoại với rất nhiều S (S2, S3… Sn); và hành động cầu khiến trong thơ, có khi

lộ rõ trên bề mặt ngôn từ, có khi có một S2 cụ thể, có khi có cặp cầu khiến - trả

Trang 33

lời… nhưng trong rất nhiều trường hợp, đại đa số trường hợp, lời cầu khiến đó

được xem như một biện pháp tu từ…có hành động ngôn trung cầu khiến nhưngnội dung ý nghĩa cầu khiến không nằm trên bề mặt ngôn từ (chủ từ, động từ và

bổ ngữ của động từ); nó nằm trong một cấu trúc sâu mà phải bằng tiềm thức

thể loại hoặc bằng các thao tác mang đặc trưng thể loại mới có thể nhận ra.Hành động đáp lại của đối ngôn (S2 - có thể là có cả S3, S4… Sn) cũng theo đó

mà mang tính chất “mơ hồ”, khó nhận diện Chẳng hạn hành động cầu khiến:

“Ta như hai đứa trẻ nghèo Quả ngon chỉ dám nâng niu đứng nhìn

Đừng bao giờ nhé chín thêm

Sợ tan mất giấc mơ em - một thời ”

(Phan Thị Thanh Nhàn, Không đề - tr.321)

Ở đây, vị từ tình thái đừng trong lời của nhân vật trữ tình (chủ ngôn) biểu hiện hành động ngôn hành cầu khiến, nhưng đừng bao giờ nhé chín thêm là sao? Nó khác hẳn với đừng chạy, đừng nhớ, đừng quên… Và đối ngôn (S2) ở

đây là ai? Trả lời như thế nào? Rõ ràng đây là cách nói “rất thơ”, muốn nhận

diện nó cần có một tiềm thức thể loại và cả kinh nghiệm (experience) của conngười về thế giới khách quan, thế giới nội tâm của chính con người

Chúng tôi sẽ giải quyết rõ ràng những vấn đề mang tính đặc thù này củahành động cầu khiến trong thơ tình ở Chương 3 (các yếu tố ngữ nghĩa của cấutrúc nội dung hành động cầu khiến trong thơ tình) Ở đây, chúng tôi nêu vấn đềnhằm xác định cho luận văn một hướng đi trong việc nhận diện, khảo sát vềbình diện hình thức của hành động cầu khiến trong phạm vi nghiên cứu: không

dựa hoàn toàn vào sự nhận diện cặp quan hệ cầu khiến - trả lời, chủ yếu dựa

vào sự có mặt (hay không có mặt) của các tín hiệu cầu khiến ở cấp ngôn từ

(các vị từ tình thái: hãy, đừng…; các động từ ngôn hành cầu khiến: van, xin,

ước, mời, cầu…; các tiểu từ tình thái: thôi, nhé, chứ…; các động từ trạng thái

mang ý nghĩa cầu mong: mong, muốn…); và dấu hiệu cầu khiến ở cấp độ cấu

Trang 34

trúc cú pháp (các kiểu phát ngôn có đích cầu khiến thông qua hành động ngôntrung khác: nghi vấn, tường thuật) Riêng về vai trò của ngữ điệu trong hànhđộng ngôn trung cầu khiến chúng tôi sẽ có ý kiến riêng trong mục 2.4 củaChương 2.

Tuy vậy, như thế không có nghĩa là luận văn đã tách hình thức biểu hiện(cái biểu hiện) ra khỏi nội dung cầu khiến (cái được biểu hiện) Bởi nội dung

và hình thức là hai mặt của một vấn đề, như hai mặt của một tờ giấy (theo cách

nói của F.Saussure) Tìm hiểu về cái biểu đạt để góp phần đảm bảo tính trọnvẹn việc hiểu cái được biểu đạt, để khai thác hết các sắc thái ngữ nghĩa của nótrong hoạt động

Theo hướng đó, Chương 2 của luận văn chủ yếu chỉ ra những biểu hiện hìnhthức hành động cầu khiến để làm rõ hơn những đặc sắc ngữ nghĩa trong cấutrúc nội dung của hành động ngôn hành này ở thơ tình

Những biểu hiện hình thức này, theo khảo sát của chúng tôi, tuy vẫn trên cơ

sở dựa vào những phương tiện đánh dấu lực ngôn trung cầu khiến trực tiếp nóichung như các phát ngôn hội thoại nhưng đã có sự khác biệt về một số phươngdiện: khả năng, số lượng, tần số xuất hiện của các phương tiện đó (ví dụ, theokhảo sát của chúng tôi, những động từ ngôn hành chuyên dụng và khá đặc

trưng cho hành động cầu khiến trong hội thoại như: ra lệnh, cấm, cho phép/

cho, yêu cầu, đề nghị, khuyên, xin phép lại không hề thấy xuất hiện trong thơ

tình mà gần như chỉ có động từ xin là xuất hiện và xuất hiện với tần số dày đặc…; hoặc sự xuất hiện theo một cách riêng của các tiểu từ tình thái thôi, nhé,

chứ cũng có nhiều điều lý thú…)

Ngoài ra, cấu trúc của hành động cầu khiến trong thơ tình (khả năng kết hợpgiữa các thành phần, số lượng các thành phần cấu tạo…) cũng có những nétriêng, khác biệt với cầu khiến trong hội thoại giao tế (khác biệt cả với lời cầukhiến trong văn xuôi - vốn cũng là một hình thức tiếp nhận văn bản nghệthuật): chẳng hạn, cấu trúc cầu khiến trong thơ tình thường là một cấu trúc

Trang 35

phức hợp với nhiều lực ngôn trung cầu khiến khác nhau đan xen liên tiếp tạothành một cấu trúc tầng bậc Hiện tượng này gần như ít xuất hiện trong phátngôn cầu khiến hội thoại giao tế bởi tính chất của cầu khiến trong giao tế cần

sự dứt khoát, rõ ràng, có nói vòng vo rào đón cũng chỉ ngắn gọn…

Tất cả những khác biệt, những đặc trưng biểu hiện hình thức của hành độngcầu khiến trong thơ tình nói trên sẽ được chúng tôi trình bày chi tiết trong cáctiểu mục thuộc Chương 2

1 Cầu khiến trực tiếp bằng các phương tiện từ vựng

Trong luận văn, thuật ngữ phương tiện từ vựng được sử dụng để chỉ những phương tiện thực từ; còn phương tiện ngữ pháp bao gồm những phương tiện

hư từ, trật tự từ và ngữ điệu

Hiện nay, các từ hãy, đừng, chớ được coi là các vị từ tình thái [45, 70…],

song luận văn tuân theo quan niệm truyền thống, coi chúng là hư từ - một loại

phương tiện ngữ pháp tiêu biểu của phát ngôn cầu khiến Theo đó, phương tiện

từ vựng dùng để cầu khiến trong thơ tình, theo khảo sát của chúng tôi, chỉ gồm

2 loại: a) Các động từ ngôn hành cầu khiến: xin, van, cầu, ước; b) Các động từ trạng thái: mong, muốn

Trường hợp của các động từ tình thái nên, cần, phải tuy được xếp vào loại

phương tiện từ vựng nhưng không thấy xuất hiện trong thơ tình Hai động từ cần, phải (mang cường độ lực ngôn trung cầu khiến mạnh với tính bắt buộc, ép

buộc cao) nên tuyệt đối không có mặt trong thơ tình Động từ nên (biểu hiện hành động ngôn ngữ khuyên bảo) chỉ xuất hiện hai lần, luận văn xin được lướt

qua:

Giữa lồng ngực già nua lại đập khoẻ một trái tim cường tráng

Đó là điều dễ dàng của y học thế kỷ 20 Nhưng chỉ nên là nghĩa đen thôi

Trang 36

xin chớ là nghĩa bóng

(Định Hải, Trái tim người khác – tr 214)

Em nên xoá dấu thề non nước Bên gốc thông già ta lỡ ghi

(Thái Can, Anh biết em đi – tr.19)

1.1 Các động từ ngôn hành cầu khiến: cầu, xin, van, ước…

1.1.1 Động từ ngôn hành cầu khiến

Trên thế giới, người đầu tiên tuyên bố về sự ra đời của động từ ngôn hành(performative verb) là nhà ngôn ngữ học, nhà triết học người Anh John

L.Austin (trong cuốn How to do things with word - 1962) Ở Việt Nam, vấn đề

này đã được đề cập đến bởi một số nhà nghiên cứu ngôn ngữ [19, 26, 38…]

Động từ ngôn hành (hay ngữ vi - performatives) là những động từ mà khi

phát âm chúng ra cùng với biểu thức ngữ vi (có khi không có biểu thức ngữ vi

đi kèm) là người nói thực hiện luôn cái hành vi ở lời do chúng biểu thị [70;

97] Theo tác giả Trần Kim Phượng [70; 34], trong tiếng Việt có 20 động từ

ngôn hành có ý nghĩa cầu khiến, là các động từ: bảo, bắt, bắt buộc, can, cầu,

cấm, cho, cho phép, chúc, đề nghị, khuyên, lạy, mời, nhờ, ra lệnh, van, xin, xin phép, yêu cầu Theo Chu Thị Thủy An [3; 138], trong tiếng Việt chỉ có 13

động từ xuất hiện ở vị trí động từ cầu khiến Chúng là: cấm, cho, cho phép, đề

nghị, khuyên, nhờ, mời, lạy, ra lệnh, van, xin, xin phép, yêu cầu Theo Đào

Thanh Lan [46; 13] con số động từ ngôn hành xuất hiện trong tiếng Việt là 15

Khảo sát trong Tuyển tập thơ tình Việt Nam thế kỷ XX, chúng tôi thấy xuất hiện thêm động từ ước (chưa thấy các nhà nghiên cứu nói trên đề cập đến).

Về vai trò của động từ ngôn hành trong một cấu trúc cầu khiến, chủ yếunằm ở phương diện là phương tiện đánh dấu lực ngôn trung cầu khiến, còn nộidung cầu khiến chính của phát ngôn (nội dung cốt lõi) được thể hiện ở vị tríđộng từ chính, không phụ thuộc hoàn toàn vào động từ ngôn hành Ở đây,chúng tôi cũng nhìn nhận vai trò của động từ ngôn hành từ phương diện là

Trang 37

phương tiện hình thức đánh dấu sự nhận diện một phát ngôn cầu khiến haykhông, lực ngôn trung cầu khiến là như thế nào.

1.1.2 Các động từ ngôn hành “cầu, xin, van, ước” trong thơ tình

Các động từ ngôn hành cầu khiến thường có mặt trong các phát ngôn cầu

khiến, có thể kể đến là: ra lệnh, cấm, cho phép/ cho, yêu cầu, đề nghị, khuyên,

nhờ, mời, cầu, chúc, xin, xin phép, van, lạy…

Các động từ này chuyên hoạt động trong mô hình cấu trúc cú pháp C2, ứngvới mô hình chức năng Đ-T:

C2= D1 - Vnhck - D2 - V(p)

(Trong đó: D1, D2 là danh từ ở ngôi 1, 2, ngôi gộp;

V (p) : Vị từ, động từ có phần phụ tố

Tck : Tiểu từ cầu khiến)

Vnhck : Động từ ngôn hành cầu khiến)

Ví dụ : Tôi/ nhờ /bạn /về nhà gia sư cho con trai tôi.

Trong thơ: Tạm biệt Huế với em là tiễn biệt

Hải Vân ơi xin người đừng tắt ngọn sao khuya

(Thu Bồn, Tạm biệt – tr 145)

Người tình hỡi Xin em đừng đến nữa Vần thơ rơi vào vết bỏng của khu vườn…

(Đoàn Mạnh Phương, Tình khúc – tr 350)Tuy nhiên, mô hình cấu trúc một phát ngôn hội thoại giao tế, khi đem ápdụng trong thơ chỉ có tính tương đối và phải chấp nhận những biến thể Ởtrong mô hình này, vị trí D1, D2 đã biến thể nhiều khi đi vào thơ, phần này sẽđược chúng tôi nói kỹ hơn khi phân tích hai yếu tố của cấu trúc nội dung ngữnghĩa hành động cầu khiến là vai trao (chủ ngôn) và vai nhận (đối ngôn - ngườiđọc, người nghe) Một số ví dụ:

Trái ảo mộng xin đừng bao giờ hái

Trang 38

Vị ngọt ngào thành đắng chát trong tim

(Lê Khánh Mai, Chạy trốn – tr 296)

Xin gió lạnh đừng lật nghiêng vành nón Kẻo tôi nhìn thấy nước mắt em rơi…

(Vũ Đình Minh, Hội lim – tr 302)

Giận hờn! Xin cứ giận hờn Khác chi bão giật từng cơn lạnh lùng

(Trần Lê Văn, Giận hờn – tr 482)Điều đặc biệt nhất của động từ ngôn hành ở hành động ngôn trung cầu

khiến trong thơ tình là sự vắng mặt tuyệt đối của các động từ: ra lệnh, cấm,

cho phép, yêu cầu, đề nghị, khuyên, xin phép… Một số động từ khác có xuất

hiện với số lượng ít như các động từ: cầu, ước, van, lạy… Chỉ duy nhất động

từ xin là xuất hiện liên tục với số lượng khá lớn (chiếm 93% động từ ngôn

hành sử dụng trong phát ngôn cầu khiến ở thơ tình) Điều này có thể được lý

giải: Những động từ có lực ngôn trung mạnh mang sắc thái khiến (tính bắt buộc, ép buộc) nhiều hơn cầu như ra lệnh, cấm, yêu cầu, đề nghị…không thích hợp đối với đặc trưng nội dung ý nghĩa thơ tình Động từ xin, ước, cầu với lực ngôn trung mang yếu tố cầu lớn là một sự lựa chọn tối ưu cho việc biểu thị một

hành động ngôn trung mong muốn ai làm (ai làm xảy ra hoặc xảy ra) một điều

gì đó

Trong khảo sát của chúng tôi, chỉ có 4 động từ ngôn hành xuất hiện trong

hành động cầu khiến ở thơ tình là: van, cầu, xin, ước Các động từ này đều có

cùng trường nghĩa (hướng tới nguyện vọng, mong muốn một điều gì đó/ ai làm

một việc gì đó); và có chung một đặc điểm là tính cầu cao hơn tính khiến Động từ ngôn hành van chỉ xuất hiện trong hai hành động cầu khiến Trong các trường hợp xuất hiện, động từ van đã ở đúng vị trí mà cấu trúc C2 đã chỉ

ra

Anh van em ngừng lại khúc đàn hoa

Trang 39

Nương tay nhẹ, gieo một lời vĩnh biệt Anh van em chớ sầu trong mắt biếc, Cho hồn ai thôi nhớ chút ly hương

(Đinh Hùng, Tiếng dương cầm – tr.53)

Đường duyên dẫu lắm khúc vòng Van em, em chớ mủi lòng thương tôi.

(Lê Quốc Hán, Dỗi – tr 214)

Động từ van cũng chỉ có tính cầu mà không có tính khiến nhưng so với xin,

cầu thì tính cầu của van còn mạnh mẽ hơn Nó thể hiện sự nhún nhường của

chủ ngôn đối với đối tượng, đối tượng có quyền quyết định việc mà chủ ngôn

cầu xin; có lẽ vì nét nghĩa đó mà động từ van xuất hiện hạn chế trong thơ tình Hai động từ ngôn hành cầu, ước xuất hiện trong trường hợp nội dung ý muốn của hành động ngôn trung là nguyện vọng, mong muốn một chuyện gì

đó xảy ra Theo Từ điển tiếng Việt, “cầu” có nghĩa là mong muốn cho mình.

Động từ ước cũng trong trường nghĩa này:

Ước mai sau nước mắt trời Lại buông hai giọt ra đời hai ta

(Phạm Đình Thái, Mai sau – tr 404)

Ước chi có một buổi chiều Hanh hanh nắng núi, heo heo gió đồng

Em tôi mặc áo lụa hồng Nằm trên bãi cỏ đọc dòng thơ tôi.

(Trần Hữu Thung, Ước chi – tr 433)

Ngun ngút khói hương vàng Say trong giấc mơ màng

Em cầu xin Giời Phật Sao cho em lấy chàng.

(Nguyễn Nhược Pháp, Chùa Hương – tr 85)

Trang 40

Một số trường hợp khác xuất ngôn từ tương đương, và nằm trong khả năng

có thể thêm vào động từ cầu, ước Ví dụ:

Phải chi anh là đất là sông Đất thẳm sâu không cùng Sông tràn ra biển cả

Em trằm mình trong đó

Để suốt đời là của riêng anh.

(Uyên Phương, Em thành triệu phú – tr 360)

Phải chi mang tình thái vừa có tính chất ước mong, vừa mang sắc thái hơi

hối tiếc, có thể thay Ước gì anh là đất sông…Đây là lời cầu mong (lực ngôn

trung là cầu, không có khiến) của chủ thể trữ tình (chủ ngôn), nhưng khôngphải không có đối ngôn tiếp nhận Lời cầu mong ở đây không phải vu vơ, đốivới chủ thể trữ tình thì lời cầu mong này hướng tới nhân vật em với mongmuốn nhân vật em hiểu được lòng của mình, mênh mông, thẳm sâu như đấtnhư sông…

Động từ ngôn hành xin, xuất hiện với số lượng nhiều, vì vậy khả năng kết

hợp và vai trò của nó cũng phức tạp hơn (chúng tôi sẽ nói rõ thêm khi có điều

kiện) Xin nghĩa là: Ngỏ ý với người nào đó, mong muốn người ấy cho mình

cái gì hoặc đồng ý cho mình làm điều gì Từ dùng ở đầu lời biểu thị thái độ khiêm tốn, lịch sự [70 ; 38] Xin cũng có tính cầu rất mạnh, có phần quỵ lụy,

nhún nhường và biểu thị vị thế giao tiếp của vai trao thấp hơn vai nhận; vì thế

trong thơ tình, xin thường được kết hợp với các tiểu từ tình thái có tính khiến mạnh hơn như hãy (xin hãy), đừng (xin đừng) để tạo sự bình đẳng về vị thế

giao tiếp mà không làm giảm độ thiết tha:

Xin đừng lưu luyến

Em không còn muốn nghĩ về anh Chỉ buồn và nuối tiếc

Em thương cho sự lầm lỡ của mình

Ngày đăng: 18/12/2013, 20:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nhiều tác giả, (2000), Tuyển tập thơ tình Việt Nam thế kỷ 20, Nxb Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập thơ tình Việt Nam thế kỷ 20
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb ThanhNiên
Năm: 2000
2. Chu Thị Thuỷ An, (2001), “Phân tích đặc điểm ngữ pháp - ngữ nghĩa của động từ trong mối liên hệ với chức năng cấu tạo câu cầu khiến”, Ngôn ngữ, (2), tr.27-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích đặc điểm ngữ pháp - ngữ nghĩacủa động từ trong mối liên hệ với chức năng cấu tạo câu cầu khiến”
Tác giả: Chu Thị Thuỷ An
Năm: 2001
3. Chu Thị Thuỷ An, (2002), Câu cầu khiến tiếng Việt, Luận án TSNV, Viện NNH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu cầu khiến tiếng Việt
Tác giả: Chu Thị Thuỷ An
Năm: 2002
4. Phạm Thị Kim Anh, (2005), “Về hai bình diện của tín hiệu văn chương - thơ ca”, Ngôn ngữ, (4), tr. 68-77 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về hai bình diện của tín hiệu văn chương -thơ ca”
Tác giả: Phạm Thị Kim Anh
Năm: 2005
5. Phong Hồng Anh, (2005), “Tín hiệu thơ - cuộc đối thoại giữa nhà thơ và bạn đọc”, Ngôn ngữ, (9), tr. 10-18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín hiệu thơ - cuộc đối thoại giữa nhà thơ vàbạn đọc”
Tác giả: Phong Hồng Anh
Năm: 2005
6. Đỗ Ảnh, (1990), “Thử vận dụng quan điểm cấu trúc chức năng để nhận diện miêu tả câu cầu khiến tiếng Việt”, Ngôn ngữ, (2), tr. 53-55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử vận dụng quan điểm cấu trúc chức năng để nhậndiện miêu tả câu cầu khiến tiếng Việt”
Tác giả: Đỗ Ảnh
Năm: 1990
7. Diệp Quang Ban, (1989), Ngữ pháp tiếng Việt phổ thông, T.2, Nxb ĐH&THCN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt phổ thông
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NxbĐH&THCN
Năm: 1989
8. Diệp Quang Ban, Đinh Trọng Lạc, (1993), Tiếng Việt 11, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt 11
Tác giả: Diệp Quang Ban, Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
9. Diệp Quang Ban, (1998), Ngữ pháp tiếng Việt, T.2, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
10. Diệp Quang Ban, (2005), “Cú và việc ứng dụng vào ngữ pháp tiếng Việt”, Ngôn ngữ, (1), tr.1-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cú và việc ứng dụng vào ngữ pháp tiếngViệt”
Tác giả: Diệp Quang Ban
Năm: 2005
11. Nguyễn Phan Cảnh, (2000), Ngôn ngữ thơ, Nxb Văn hoá - Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Văn hoá - Thông tin
Năm: 2000
12. Đỗ Hữu Châu, (1982), “Ngữ nghĩa học hệ thống và ngữ nghĩa học hoạt động”, Ngôn ngữ, (3), tr. 18-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: N"gữ nghĩa học hệ thống và ngữ nghĩa học hoạtđộng”
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Năm: 1982
13. Đỗ Hữu Châu, (1983), “Ngữ nghĩa học hệ thống và ngữ nghĩa học hoạt động”, Ngôn ngữ, (1), tr. 12-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa học hệ thống và ngữ nghĩa học hoạtđộng”
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Năm: 1983
14. Đỗ Hữu Châu, (1985), “Các yếu tố dụng học của tiếng Việt”, Ngôn ngữ, (4), tr.14-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố dụng học của tiếng Việt”
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Năm: 1985
15. Đỗ Hữu Châu, (1986), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1986
16. Đỗ Hữu Châu, (1992), “Ngữ pháp chức năng dưới ánh sáng của dụng học hiện nay”, Ngôn ngữ, (1), tr.1-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp chức năng dưới ánh sáng của dụnghọc hiện nay”
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Năm: 1992
17. Đỗ Hữu Châu, (1992), “Ngữ pháp chức năng dưới ánh sáng của dụng học hiện nay”, Ngôn ngữ, (2), tr. 6-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp chức năng dưới ánh sáng của dụnghọc hiện nay”
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Năm: 1992
18. Đỗ Hữu Châu, Cao Xuân Hạo, (1992), Tiếng Việt 12, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt 12
Tác giả: Đỗ Hữu Châu, Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1992
19. Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán (1993), Đại cương ngôn ngữ học, T.2, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1993
20. Đỗ Hữu Châu, (2001), Đại cương ngôn ngữ học, T.2, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w