1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hành động cầu khiến từ chối trong giao tiếp của người hà tĩnh

100 1,3K 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hành động cầu khiến – từ chối trong giao tiếp của người Hà Tĩnh
Trường học Trường Đại Học Hà Tĩnh
Thể loại Đề tài
Thành phố Hà Tĩnh
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 628,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số tác giả khác hướng nghiên cứu vào hành động cầu khiến, từ chối cùng với các hành động ngôn ngữ khác trong lời thoại nhân vật được chủ thể nhà văn tái tạo qua các tác phẩm văn chươ

Trang 1

tự nhiên, tức là sản phẩm hoạt động giao tiếp của con người Tuy nhiên, từ trước tới nay do những nguyên nhân khác nhau các nhà nghiên cứu chủ yếu

đi vào tìm hiểu các hành động ngôn ngữ cụ thể của nhân vật trong tác phẩm văn học mà chưa chú ý đến ngôn ngữ giao tiếp trong đời sống hằng ngày 1.2 So với số lượng phong phú các hành động ngôn ngữ được con người sử dụng thì cặp cầu khiến – từ chối cũng là cặp hành động tương tác mang tính phổ biến, tuy vậy chưa có đề tài nào thực sự đi sâu tìm hiểu cặp hành động tương tác này Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề

tài Hành động cầu khiến – từ chối trong giao tiếp của người Hà Tĩnh.

2 Lịch sử vấn đề

Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, lịch sử nghiên cứu hành động cầu khiến – từ chối gắn liền với việc nghiên cứu về hội thoại, về lý thuyết hành động ngôn ngữ Người đầu tiền đặt nền móng để xây dựng lý thuyết hành động ngôn ngữ là J.Austin trong công trình “How to do things with words” Dựa trên ý nghĩa của động từ ngữ vi, ông chia thành năm phạm trù hành xử

thuộc nhóm hành động ở lời Nhóm này gồm có các hành vi cụ thể: hỏi, ra lệnh, đòi hỏi, yêu cầu, van xin, mời, cho phép, khuyên Còn hành động từ chối, tác giả xếp vào nhóm trình bày Nhóm này gồm các hành động khẳng

Trang 2

Sau đó J Searle đã phát triển lý thuyết hành động ngôn ngữ, xếp hành

động cầu khiến vào nhóm điều khiển “Đây là nhóm hành động mà người

nói sử dụng để khiến người nghe làm cái gì đó Chúng bộc lộ điều mà người nói muốn” Còn hành động từ chối, J Searle xếp vào nhóm ước kết Theo ông: “Ước kết là những thứ hành động nói mà người nói dùng để ràng buộc chính mình vào một hoạt động nào đó trong tương lai Chúng

bộc lộ cái mà người nói chủ định” Mô hình điều khiển: S muốn X; mô hình ước kết S chủ định X (trong đó S là người nói, X là tình huống ) [42,

tr.108 -109]

Công trình của J.Austin và J Searle có tầm quan trọng ảnh hưởng tới

lý thuyết ngôn ngữ trong và ngoài nước, nó mang tính vĩ mô Vì thế, xem

xét hành động cầu khiến - từ chối, các tác giả chỉ dừng lại ở việc phân loại,

nhận diện một cách tổng quát chứ chưa đi sâu vào nghiên cứu cụ thể sự xuất hiện tương tác của cặp thoại này

Ở Việt Nam, một thời gian dài, các nhà ngôn ngữ học truyền thống đã đặt vấn đề nghiên cứu câu cầu khiến, nhưng chủ yếu xem xét kiểu câu này một cách biệt lập, mà chưa đặt nó trong mối quan hệ với câu từ chối của người nghe

Khi phân loại câu theo mục đích nói, các nhà Việt ngữ học chia ra 4 loại: Câu trần thuật (câu trình bày, câu tường thuật ), câu nghi vấn (câu hỏi), câu cầu khiến (câu mệnh lệnh), câu cảm thán Hành động cầu khiến được xếp trong câu cầu khiến Còn hành động từ chối thường được đặt trong nhóm nhỏ của câu trần thuật (câu trình bày) và giữa chúng không có

mối liên hệ Diệp Quang Ban trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt, chia câu

trình bày như sau: Câu trình bày gồm có câu trình bày khẳng định, câu trình bày phủ định; trong câu trình bày phủ định gồm có phủ định miêu tả

và phủ định bác bỏ Theo ông, “… Khi ai đưa ra câu hỏi có/không (tức câu hỏi mà khi trả lời thì có thể chỉ trả lời bằng từ có hoặc từ không cũng đủ)

Trang 3

và ta trả lời phủ định thì câu trả lời đó là câu phủ định miêu tả” Chúng tôi thấy hành động từ chối không được phân rõ trong các kiểu câu phân theo mục đích nói mà chỉ hiện ra một cách mờ nhạt trong kiểu câu trần thuật phủ định

Hướng quan điểm trên mặc dù có nhiều đóng góp quan trọng trong việc nghiên cứu các đơn vị ngôn ngữ, nhưng còn hạn chế là xem xét câu cầu khiến và câu từ chối tồn tại tách biệt nhau chứ chưa đặt trong sự tương

tác Trên thực tế, cặp hành động cầu khiến – từ chối không chỉ được biểu hiện bằng các dạng thức biểu đạt mệnh lệnh (hãy, đừng, chớ) mà còn gặp ở

những dạng thức khác nhau, cần đi sâu tìm hiểu để chỉ ra những dạng khác biệt đó

Tiếp cận ngôn ngữ theo hướng hoạt động lời nói – ngữ dụng học, thuật ngữ cầu khiến, từ chối được gọi là hành động cầu khiến, từ chối Tìm hiểu hành động cầu khiến, từ chối, các nhà ngôn ngữ có những định hướng nghiên cứu khác nhau

Thứ nhất, một số các tác giả đã tiếp thu lý thuyết hành động ngôn ngữ của J Austin và J Searle để giới thiệu và xây dựng hệ thống lý thuyết theo quan niệm của riêng mình Đây là những người có công lớn xây dựng, phát triển lý thuyết hành động ngôn ngữ ở Việt Nam Tuy thế, khi xem xét hành động cầu khiến, từ chối, các tác giả cũng chỉ dừng lại ở việc giới thiệu và đưa ra một số cách hiểu về chúng nhằm mục đích làm rõ hệ thống lý thuyết chứ không đi sâu phân tích, nghiên cứu một cách cụ thể các hành động đó Tiêu biểu là các tác giả: Đỗ Hữu Châu [8], [9], Nguyễn Đức Dân [16], Nguyễn Thiện Giáp [18], [19], Cao Xuân Hạo [22]…

Thứ hai, một số tác giả khác đã áp dụng lý thuyết hội thoại và lý thuyết hành động ngôn ngữ vào việc nghiên cứu các hành động cụ thể Theo hướng này có các tác giả: Chu Thị Thủy An [1], Nguyễn Phương Chi

Trang 4

[13], Hoàng Thị Thúy Hà [20], Lưu Quý Khương [27], Trần Chi Mai [34],

Lê Đình Tường [41]…

Nghiên cứu câu cầu khiến tiếng Việt, Chu Thị Thủy An tập trung chủ yếu vào các đặc điểm của câu cầu khiến có lực ngôn trung tương ứng với dấu hiệu hình thức Tư liệu khảo sát được lấy trong các tác phẩm văn học xuất bản từ năm 1954 trở về sau

Nguyễn Phương Chi trong bài viết của mình đã khảo sát một số cách

từ chối không thành lời của người Việt như lắc đầu, xua tay, lừ mắt… đi kèm lời từ chối [13] Còn trong luận án Tiến sĩ, tác giả đã tập trung nghiên cứu những chiến lược từ chối trong hành vi ngôn ngữ từ chối của người Việt có sự đối chiếu với người Anh [14] chứ không xem xét trong sự tương tác với lời cầu khiến

Tác giả Hoàng Thị Thúy Hà trong luận án Tiến sĩ Tiểu từ tình thái cuối phát ngôn trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh chỉ đề cập đến hành

động cầu khiến, hành động từ chối trong vai trò là đơn vị có tính chất đơn thoại chứa yếu tố tình thái cuối phát ngôn [20]

Như vậy, các tác giả trên chỉ nghiên cứu hành động cầu khiến, hành động từ chối trong thế riêng rẽ, độc lập với những hành động có sự tương tác trao lời – đáp lời, hoặc sử dụng các hành động đó như một đơn vị chứa đối tượng nghiên cứu

Một số tác giả khác hướng nghiên cứu vào hành động cầu khiến, từ chối cùng với các hành động ngôn ngữ khác trong lời thoại nhân vật được chủ thể nhà văn tái tạo qua các tác phẩm văn chương như Nguyễn Thị Én [17], Trần Thị Tuyết Nhung [35]…

Tác giả Đỗ Thị Kim Liên là một trong những người khắc phục được tình trạng nghiên cứu hai hành động từ chối - cầu khiến trong thế riêng rẽ như đã tồn tại bấy lâu, tác giả đã đặt vấn đề nghiên cứu cặp hành động tương tác cầu khiến – từ chối [31, 32] Tuy thế, trong công trình của mình,

Trang 5

tác giả chỉ sử dụng nguồn ngữ liệu lấy từ các tác phẩm văn học nên khi nghiên cứu hành động cầu khiến - từ chối, tác giả chưa có điều kiện đi sâu tìm hiểu hết những dạng thức của chúng trong giao tiếp.

Trên cơ sở tiếp thu những thành tựu lí thuyết của các công trình trước

đó, chúng tôi sẽ ứng dụng vào việc nghiên cứu hành động ngôn ngữ cụ thể trên cứ liệu thực tế của một phương ngữ với mong muốn đề tài có những đóng góp nhất định trong việc làm rõ bản chất của cặp hành động cầu khiến – từ chối

3 Đối tượng nghiên cứu và nguồn ngữ liệu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Chúng tôi chọn đối tượng nghiên cứu là cặp hành động tương tác cầu khiến - từ chối trong giao tiếp của những người Hà Tĩnh Giữa các vai giao tiếp có mối quan hệ quen biết nhau

3.2 Nguồn ngữ liệu

Chúng tôi sử dụng 1000 cặp thoại lời trao chứa hành động cầu khiến

và lời đáp là hành động từ chối trong giao tiếp của người Hà Tĩnh Đó là những cặp thoại được ghi âm, ghi chép ở nhiều nơi trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh (thành phố Hà Tĩnh, thị xã Hồng Lĩnh, các huyện: Cẩm Xuyên, Can Lộc, Đức Thọ, Hương Khê, Hương Sơn, Kỳ Anh, Nghi Xuân, Thạch Hà,

Vũ Quang, Lộc Hà) Đối tượng chủ yếu là các vai giao tiếp thành cặp tương tác: Học sinh – thầy (cô giáo), bạn – bạn, đồng nghiệp – đồng nghiệp, vợ – chồng, hàng xóm – hàng xóm, cha (mẹ) – con cái, người mua hàng – người bán hàng

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích

Tìm hiểu đề tài Hành động cầu khiến – từ chối trong giao tiếp của người Hà Tĩnh, chúng tôi hướng đến mục đích làm sáng rõ bản chất hành

Trang 6

phần bổ sung lí thuyết hành động ngôn từ cũng như chỉ ra một số đặc thù trong văn hóa giao tiếp của người Hà Tĩnh qua cách thức cầu khiến, từ chối.

4.2 Nhiệm vụ

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đặt ra những nhiệm vụ sau:

- Thống kê, phân loại các cặp thoại chứa hành động cầu khiến – từ chối lời cầu khiến

- Mô tả, phân tích cấu trúc hành động cầu khiến – từ chối và cách thức

từ chối hành động cầu khiến và sự tương tác giữa hành động cầu khiến –

từ chối trong giao tiếp của người Hà Tĩnh

- Rút ra một số nhận xét về lịch sự – một trong những biểu hiện nét văn hóa ứng xử của người Hà Tĩnh qua cách thức cầu khiến, từ chối

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp điều tra điền dã, ghi âm, ghi chép

Chúng tôi ghi âm trực tiếp các cuộc thoại trong sinh hoạt hàng ngày của các đối tượng có quan hệ thân thiết, quen biết nhau trên địa bàn Hà Tĩnh

Từ ghi âm chúng tôi chuyển thành văn bản ghi lại các cuộc thoại có xuất hiện cặp hành động cầu khiến Bên cạnh ghi âm bằng máy, chúng tôi còn dùng phương pháp ghi chép

5.2 Phương pháp thống kê, phân loại

Trước hết, chúng tôi tiến hành khảo sát, thống kê các cặp thoại có chứa lời trao là hành động cầu khiến và lời đáp là hành động từ chối trong giao tiếp của người Hà Tĩnh Sau đó, chúng tôi phân loại các nhóm ngữ liệu phù hợp với từng nội dung nghiên cứu Những đánh giá, kết luận đưa ra trong luận văn chủ yếu dựa vào ngữ liệu đã khảo sát

5.3 Phương pháp miêu tả kết hợp phương pháp tổng – phân hợp

Trang 7

Chúng tôi sử dụng phương pháp này để miêu tả, phân tích cấu trúc nghĩa, cách thức, sự tương tác của hành động cầu khiến – từ chối trong giao tiếp của người Hà Tĩnh đồng thời tổng hợp kết quả từng phần nội dung và quá trình nghiên cứu để đưa ra những kết luận có giá trị lý luận thực tiễn nhất định.

5.4 Phương pháp so sánh đối chiếu

Chúng tôi sử dụng phương pháp này để so sánh đối chiếu các cách thức cầu khiến, từ chối; so sánh một số yếu tố trong cấu trúc hành động cầu khiến của người Nghệ Tĩnh với các yếu tố từ trước tới nay các nhà nghiên cứu đưa ra để nhận diện hành động cầu khiến, từ chối

6 Cái mới của đề tài

Đây là đề tài đầu tiên đi sâu vào tìm hiểu hành động cầu khiến và hành động từ chối trong mối tương tác xét trên cứ liệu ngôn ngữ giao tiếp của người Hà Tĩnh

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, danh mục Tài liệu tham khảo phần Nội dung được triển khai thành ba chương:

Chương 1: Những giới thuyết liên quan đến đề tài

Chương 2: Cấu trúc và các thành tố cấu tạo hành động cầu khiến trong

giao tiếp của người Hà Tĩnh

Chương 3: Cấu trúc hành động từ chối trực tiếp xét trong sự tương tác

với hành động cầu khiến trong giao tiếp của người Hà Tĩnh

Trang 8

Chương 1

NHỮNG GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Giao tiếp và hội thoại

1.1.1 Giao tiếp

1.1.1.1.Khái niệm giao tiếp

Trong đời sống con người, giao tiếp là hoạt động không thể thiếu được Con người giao tiếp với nhau thông qua nhiều phương tiện Mỗi lĩnh vực nghiên cứu khác nhau có những quan niệm về giao tiếp khác nhau Đề tài của chúng tôi chủ yếu đề cập đến quá trình giao tiếp bằng ngôn ngữ xét trên phương diện ngôn ngữ học

- Giao tiếp là sự thông báo hay truyền thông báo nhờ một hệ thống

mã nào đó [43, tr.101]

- Giao tiếp (Communication) là sự trao đổi tiếp xúc với nhau [37, tr 510] Tác giả Diệp Quang Ban cho rằng: “Giao tiếp là hiện tượng phổ biến trong các kiểu xã hội, đó là sự tiếp xúc giữa các cá thể trong một cộng đồng

để truyền đạt một nội dung nào đó Giao tiếp là một trong những đặc trưng của xã hội, giúp phân biệt xã hội với các quần thể không phải là xã hội” [2, tr.17] Theo tác giả Đỗ Hữu Châu, “Với cách hiểu bao quát nhất thì giao tiếp bằng ngôn ngữ là hoạt động diễn ra khi ít nhất có hai người sử dụng một ngôn ngữ tự nhiên để tác động lẫn nhau” [9, tr.96]

Tóm lại, có nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm giao tiếp Tuy nhiên, về cơ bản có hai cách hiểu về giao tiếp: hiểu theo nghĩa rộng và hiểu theo nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng, giao tiếp là sự tiếp xúc giữa các cá thể trong xã hội bằng các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ Theo nghĩa hẹp, giao tiếp là sự trao đổi thông tin bằng lời nói giữa ít nhất hai người

Trang 9

nhằm hướng tới mục đích nào đấy trong một hoàn cảnh nhất định và sử dụng phương tiện ngôn ngữ nhất định Trong công trình này, chúng tôi sử dụng khái niệm giao tiếp theo nghĩa hẹp Theo nghĩa này, giao tiếp được thể hiện qua các đặc trưng sau:

+ Giao tiếp là quá trình con người ý thức được nội dung, hình thức và phương tiện ngôn ngữ khi tiếp xúc với người khác

+ Giao tiếp diễn ra sự trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm, thế giới quan, nhân sinh quan và nhu cầu của những người tham gia vào quá trình giao tiếp

+ Giao tiếp bao giờ cũng dẫn đến nhận thức hiểu biết lẫn nhau

+ Giao tiếp là một quan hệ xã hội, mang tính chất xã hội Quan hệ xã hội chỉ được thực hiện trong giao tiếp giữa con người với con người

+ Giao tiếp phải được thực hiện trong một hoàn cảnh xã hội nhất định, trong một thời gian không gian và các điều kiện cụ thể

+ Giao tiếp được cá nhân thực hiện, cá nhân trong giao tiếp vừa là chủ thể vừa là khách thể của giao tiếp

Từ cách lí giải trên, chúng tôi thấy giao tiếp là một trong những dạng hành động của con người Các nhân tố tham gia vào quá trình giao tiếp bao gồm: phương tiện giao tiếp, nhân vật giao tiếp, nội dung giao tiếp, mục đích giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp Sau đây, chúng tôi trình bày một số nhân tố tham gia vào quá trình hoạt động giao tiếp

1.1.1.2 Phương tiện giao tiếp bằng ngôn ngữ

Con người có thể giao tiếp với nhau bằng nhiều phương tiện nhưng phương tiện giao tiếp quan trọng nhất vẫn là ngôn ngữ Ngôn ngữ là phương tiện quan trọng để truyền đạt bảo quản thông tin; phần lớn thông tin được lưu giữ dưới hình thức ngôn ngữ Suy cho cùng không có tư tưởng, tình cảm, ý chí nào của con người lại không thể hiện qua ngôn ngữ

Trang 10

Như chúng ta đã biết, chức năng quan trọng của ngôn ngữ là chức năng giao tiếp Những năm gần đây các nhà phân tích diễn ngôn còn nhận

ra trong quá trình giao tiếp ngôn ngữ thực hiện 2 chức năng chính là chức năng giao dịch và chức năng liên nhân

- Chức năng giao dịch (chức năng biểu hiện, quy chiếu, quan niệm, miêu tả) là chức năng mà ngôn ngữ được dùng trong việc diễn đạt kinh nghiệm, tức diễn đạt các “nội dung sự việc”, các “mệnh đề”

- Chức năng liên nhân (hay còn gọi là chức năng tương tác, bộc lộ, biểu cảm, bộc lộ xã hội) là chức năng của ngôn ngữ dùng trong việc diễn đạt các quan hệ xã hội và các thái độ của cá nhân

Trong giao tiếp có thể diễn ra đồng thời cả hai chức năng Nhưng tùy vào các nhân tố giao tiếp có thể trong hai chức năng đó có một chức năng mang tính nổi trội hơn Chẳng hạn, chức năng giao dịch được thể hiện rõ trong ngôn ngữ viết, tục ngữ, ca dao dân ca, trong các diễn ngôn được thực hiện nhằm trao đổi thông tin, đòi hỏi chi tiết, chính xác Còn chức năng liên nhân nổi trội trong các trường hợp cần sử dụng ngôn ngữ để thiết lập và duy trì các quan hệ xã hội Trong đề tài này, chúng tôi quan tâm nhiều đến chức năng liên nhân

1.1.1.3 Vai giao tiếp

Vai giao tiếp là những người tham gia vào quá trình giao tiếp sử dụng ngôn ngữ để tạo ra lời nói Đó là người nói - vai nói và người nghe - vai nghe Lần lượt, vai nghe trở thành vai nói và vai nói đầu lại trở thành vai nghe, cứ như thế luân phiên đổi ngôi nhau Không có vai nói, vai nghe thì không xảy ra quá trình giao tiếp Giữa các vai giao tiếp có những quan hệ chi phối nội dung và hình thức giao tiếp

a Quan hệ vai giao tiếp là quan hệ giữa các vai giao tiếp được xem xét

ở quá trình truyền phát và quá trình tiếp nhận

Trang 11

b Quan hệ liên cá nhân là quan hệ được xét trong mối quan hệ xã hội,

sự hiểu biết, tình cảm giữa các vai giao tiếp Quan hệ này được xét trên hai trục:

+ Trục dọc là trục vị thế xã hội (trục quyền uy) do các yếu tố như vị trí

xã hội, tuổi tác, học lực, tài sản, uy tín, địa vị gia đình,… quyết định Quan

hệ này được chia thành: quan hệ ngang vai ( A= B) và quan hệ không ngang vai (A> B hoặc A< B)

+ Trục ngang là trục thân cận (trục khoảng cách), trục này đặc trưng bởi hai cực thân tình và xa lạ Trong giao tiếp quan hệ thân cận có thể thay đổi tuỳ vào sự tham gia của các nhân vật trong quá trình giao tiếp

1.1.1.4 Hoàn cảnh giao tiếp

Có nhiều cách hiểu và diễn đạt khác nhau về hoàn cảnh giao tiếp nhưng chung quy lại hoàn cảnh giao tiếp được hiểu theo hai nghĩa:

- Theo nghĩa rộng, hoàn cảnh giao tiếp bao gồm những hiểu biết về thế giới vật lí, sinh lí, tâm lí, xã hội, văn hoá, tôn giáo, lịch sử các ngành khoa học, nghệ thuật v.v… ở thời điểm và ở không gian trong đó đang diễn

ra cuộc giao tiếp Hoàn cảnh giao tiếp rộng không tham gia trực tiếp vào giao tiếp mà tham gia dưới dạng những hiểu biết về thế giới có trước hoạt động giao tiếp trong tư duy của các nhân vật giao tiếp Những hiếu biết về thế giới trên còn được gọi là một bộ phận hiểu biết tiền giả định bách khoa hợp thành hiện thực thực tại – hoàn cảnh giao tiếp

- Theo nghĩa hẹp, hoàn cảnh giao tiếp còn được gọi là “thoại trường”

là cái không – thời gian cụ thể ở đó cuộc giao tiếp diễn ra Hoàn cảnh giao tiếp hẹp ảnh hưởng trực tiếp đến hình thức và nội dung giao tiếp

Như vậy, trong giao tiếp hoàn cảnh giao tiếp là yếu tố quan trọng giúp chúng ta hiểu đúng nội dung giao tiếp Trong đề tài này, hoàn cảnh giao tiếp là cơ sở giúp ta xác định các hành động ngôn ngữ một cách cụ thể,

Trang 12

1.1.2 Hội thoại

1.1.2.1 Khái niệm hội thoại

Khi bàn về hội thoại đã có nhiều cách diễn đạt khác nhau

Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học định nghĩa: Hội thoại là

hoạt động giao tiếp bằng lời ở dạng nói giữa các nhân vật giao tiếp nhằm trao đổi các nội dung miêu tả và liên cá nhân theo đích được đặt ra [36, tr.51]

Từ điển tiếng Việt định nghĩa: Hội thoại là sử dụng một ngôn ngữ để

nói chuyện với nhau [37, tr.593]

Đỗ Hữu Châu cho rằng: Hội thoại là hoạt động giao tiếp căn bản thường xuyên, phổ biến của sự hành chức ngôn ngữ, các hình thức hành chức khác của ngôn ngữ đều được giải thích dựa vào hình thức hoạt động căn bản này [8, tr.276]

Nguyễn Thiện Giáp xem hội thoại là giao tiếp hai chiều, có sự tương tác qua lại giữa người nói và người nghe với sự luân phiên lượt lời [19, tr.64].Tác giả Hồ Lê quan niệm: Phát ngôn hội thoại là kết quả của một hành

vi phát ngôn được kích thích bởi một sự kiện hiện thực có liên quan đến những người có khả năng trực tiếp tham gia hội thoại, nó tác động vào anh

ta khiến anh ta phải dùng lời để phản ứng lại và hướng lời nói của mình vào những người có khả năng trực tiếp tham gia hội thoại ấy, trên cơ sở của một kiến thức về cấu trúc câu và về cách xử lí mối quan hệ giữa phát ngôn

và ngữ huống và của cuộc dự cảm về hiệu quả của lời nói ấy đối với người thu ngôn hội thoại trực tiếp [28, tr.180]

Tác giả Nguyễn Đức Dân cho rằng: “Trong giao tiếp hai chiều, bên này nói bên kia nghe và phản hồi trở lại Lúc đó, vai trò của hai bên thay đổi: bên nghe lại trở thành bên nói và bên nói lại trở thành bên nghe Đó

là hội thoại.” [16, tr.76]

Mỗi tác giả đứng ở những góc nhìn khác nhau để đưa ra khái niệm về hội thoại Tác giả Đỗ Hữu Châu nhấn mạnh vai trò chức năng của hội thoại

Trang 13

trong sự hành chức Còn các tác giả Nguyễn Thiện Giáp, Hồ Lê, Nguyễn Đức Dân nhìn hội thoại từ cách thức hành chức của nó Đặc biệt tác giả Hồ

Lê còn nhấn mạnh khả năng ngôn ngữ của các nhân vật tham gia hội thoại Tiếp thu quan điểm của tác giả Đỗ Thị Kim Liên, chúng tôi cho rằng: "Hội thoại là một trong những hoạt động ngôn ngữ thành lời giữa hai hoặc nhiều nhân vật trực tiếp, trong một hoàn cảnh nhất định, giữa họ có sự tương tác qua lại về hành vi ngôn ngữ hay hành vi nhận thức nhằm đi đến một đích nhất định" Hội thoại là một trong những dạng giao tiếp bằng ngôn ngữ cơ bản, phổ biến nhất của con người Đó là hoạt động ngôn ngữ hai chiều, có

sự tương tác qua lại của các nhân vật tham gia trực tiếp, bên nghe trở thành bên nói và bên nói trở thành bên nghe

Người nói → Người nghe

Người nghe ← Người nói

Hội thoại có hai hoặc nhiều nhân vật tham gia Khi hội thoại gồm 2 nhân vật giao tiếp gọi là song thoại, hội thoại gồm 3 nhân vật gọi là tam thoại, nhiều nhân vật gọi là đa thoại Tuy nhiên trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi chỉ đề cập đến hội thoại trong giao tiếp hàng ngày có hai bên (hai nhân vật) tham gia giao tiếp

1.1.2.2 Vận động hội thoại

Vận động hội thoại gồm có 3 hành động: trao lời, đáp lời và tương tác Đây là những hành động góp phần hình thành và duy trì hội thoại

a Hành động trao lời

Hành động trao lời là vận động của người nói hướng lời nói của mình

về phía người nghe

(1) Quỳnh lấy cho ả (chị) cấy (cái) thau đi!

Câu trao lời (1) của nhân vật trao lời là chị hướng tới người nhận là

Trang 14

b Hành động đáp lời

Đáp lời là hành động nói của người nghe dùng để đáp lại hành động nói của người nói Khi hành động trao lời có hành động đáp lời thì hội thoại chính thức được hoàn thành

(2) A: - Thứ 5 chị đi sớm mượn phòng rồi gọi điện báo cho cô cấy B: - Ngày nớ chị có việc, không đi được sớm mô.

Nhân vật A đưa ra hành động trao lời là hành động cầu khiến nhân vật

B đáp lại bằng một hành động từ chối

c Hành động tương tác

Theo Nguyễn Thiện Giáp, “Tương tác là tác động qua lại đối với hoạt động của nhau giữa những người tham gia hội thoại” Có tương tác bằng lời mà cũng có tương tác không bằng lời [19, tr.269]

Sự tương tác được diễn ra khi có hai nhân vật giao tiếp trở lên tác động lẫn nhau ảnh hưởng lẫn nhau đến cách ứng xử của từng người trong quá trình hội thoại Vận động tương tác là một trong những vận động quan trọng trong hội thoại Tương tác không chỉ diễn ra giữa hình thức, nội dung của lời các nhân vật mà còn diễn ra sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các nhân vật, làm cho họ có thể hiểu nhau hơn, hoặc có những phán ứng tiêu cực, tích cực nào đấy Biểu hiện của sự tương tác thể hiện ở cấu trúc hình thức, nội dung cách thức giữa lời trao và lời đáp, các từ xưng hô giữa ngôi thứ nhất và thứ hai, mối quan hệ qua lại giữa các nhân vật giao tiếp

1.1.2.3 Các đơn vị hội thoại

Nghiên cứu về các đơn vị hội thoại có nhiều quan niệm khác nhau Trường phái phân tích hội thoại ở Mĩ (Conversation analysis) cho rằng có hai tổ chức tổng quát: tổ chức cặp và tổ chức được ưa thích Các tổ chức đó được xây dựng từ lượt lời Đơn vị tổ chức nên các đơn vị khác lớn hơn của hội thoại là các lượt lời Dưới các lượt lời không có đơn vị nào ngoài các phát ngôn Còn trường phái phân tích diễn ngôn (discourse) ở Anh thấy

Trang 15

rằng còn có một đơn vị nhỏ hơn phát ngôn (nhắc lại: lượt lời) và xem hành

vi là đơn vị nhỏ nhất của cuộc thoại Họ đã phân tích cấu trúc hội thoại thành năm bậc tương ứng với năm đơn vị hội thoại: tương tác (interation), đoạn thoại (transaction), cặp thoại (exchange), bước thoại (move), hành vi (act) Tiếp nhận quan điểm về các bậc trong hội thoại của lí thuyết phân tích diễn ngôn, trường phái lí thuyết hội thoại ở Thuỵ Sĩ (Genève) và Pháp cho hội thoại là một tổ chức tôn ti như tổ chức một đơn vị cú pháp Các đơn vị cấu trúc của hội thoại bao gồm: ba đơn vị có tính chất lưỡng thoại là cuộc thoại (cuộc tương tác), đoạn thoại, cặp trao đáp; hai đơn vị có tính chất đơn thoại là tham thoại, hành vi ngôn ngữ Quan niệm trên từ trước tới nay được nhiều nhà nghiên cứu ở Việt Nam chấp nhận và phù hợp với cảm thức của người Việt về hội thoại Chúng tôi chọn quan điểm này và phân chia các đơn vị hội thoại như sau:

a Cuộc thoại là đơn vị hội thoại bao trùm lớn nhất Cuộc thoại được tính từ lời nhân vật từ khi trao đáp bắt đầu tham gia đến khi kết thúc hội thoại

Một số yếu tố xác định cuộc thoại gồm:

- Các nhân vật hội thoại: có ít nhất là hai người

- Thời gian và địa điểm diễn ra cuộc thoại

- Chủ đề cuộc thoại phải thống nhất

Theo C.K.Orecchioni: “để có một và chỉ một cuộc thoại, điều kiện cần

và đủ là có một nhóm nhân vật có thể thay đổi nhưng không đứt quãng, trong một khung thời gian – không gian có thể thay đổi nhưng không đứt quãng nói về một vấn đề thay đổi nhưng không đứt quảng [dẫn Đỗ Hữu Châu 8, tr.313]

- Một số dấu hiệu hình thức: các dấu hiệu mở đầu, kết thúc cuộc thoại

b Đoạn thoại (Sequence): Đoạn thoại là một mảng diễn ngôn do một

số cặp trao đáp liên kết chặt chẽ với nhau về ngữ nghĩa hoặc về ngữ dụng

Trang 16

có tính hoàn chỉnh bộ phận để có thể cùng với các đoạn thoại khác làm thành cuộc thoại, trong cuộc thoại có thể có nhiều đoạn thoại.

c Cặp thoại (cặp trao đáp): cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại tối thiểu,

có cặp thoại thì cuộc thoại mới chính thức được tiến hành Nó là đơn vị cơ

sở của hội thoại cũng là đơn vị cơ bản của đề tài nên chúng tôi sẽ trình bày

(3) A: - Hôm nay em đẹp quá! (A là một chàng trai gặp cô gái lần đầu) B: - …

- Cặp thoại hai tham thoại (cặp thoại đôi) là cặp thoại có tham thoại thứ nhất được gọi là tham thoại dẫn nhập, tham thoại thứ hai là tham thoại hồi đáp

(4) A: - Ngày mai, cậu có ra Vinh không?

B: - Mai tớ chưa đi được.

- Cặp thoại ba tham thoại (cặp thoại ba) là cặp thoại có tham thoại thứ

ba do A phát ra có tính chất “đóng lại” cặp thoại đó để (nếu cần) mở ra một cặp thoại khác Tham thoại thứ ba của A có thể là một kiểu “tiếng vọng” của tham thoại B như trường hợp trên, có thể là tham thoại tán đồng, đánh giá, chúc mừng

(5) A: - Đi mô đó?

B: - Đi lại đây chơi.

A: - Vô chơi

Trang 17

Trên đây là những dạng cặp thoại đơn giản, mỗi lượt lời của A, B là một tham thoại do một hành vi ngôn ngữ thực hiện Trong thực tế, cặp thoại phức tạp hơn.

c2 - Căn cứ vào vai trò của mỗi cặp thoại trong đoạn thoại, chúng tôi phân cặp thoại thành hai loại: cặp thoại chủ hướng và cặp thoại phụ thuộc

- Cặp thoại chủ hướng là cặp thoại chứa đựng nội dung chủ đề của cả đoạn thoại

- Cặp thoại phụ thuộc là cặp thoại bổ sung, giải thích, làm rõ thêm cặp thoại chủ hướng

(6) A 1 : - Chào anh!

B 1 : - Em à!

A 2 : - Mai anh có đi làm không?

B 2 : - Không Chi rứa? (gì thế?)

A 3 : - Cho em mượn cái xe cấy

B 3 : - Ầy, xe đó lấy mà đi.

Ở (6) cặp thoại chủ hướng là A3 – B3, những cặp thoại còn lại là những cặp thoại phụ thuộc Cặp thoại chủ hướng có thể ở đầu đoạn thoại, cuối đoạn thoại, giữa đoạn thoại

c3 - Căn cứ và vị trí (tính liên kết) trong hai vế của cặp thoại người ta đưa ra cặp thoại liền kề (kế cận) và cặp không liền kề gồm cặp thoại lồng, cặp thoại chéo Hai vế trong cặp thoại được chúng tôi xem là hai phát ngôn trong cặp thoại do những người nói khác nhau nói ra

- Cặp liền kề là hai vế trong cặp thoại có sự liên kết trực tiếp Theo

Đỗ Hữu Châu, kiểu cặp thoại này gọi là cặp thoại liên kết hoàn toàn tuyến tính (liên kết phẳng)

(7) A 1 : - Mai anh có về quê không?

B 1 : - Không.

Trang 18

B 2 : - Ra đó bắt xe buýt cho tiện, chớ mai phải tiếp khách rồi

Các cặp thoại ở (7) được biểu diễn bằng sơ đồ sau:

C1 A1: - Mai anh có về quê không?

B1: - Không.

C2 A2: - Thế thì chở em ra trường cái

B2: - Ra đó bắt xe buýt cho tiện, chớ mai phải tiếp khách rồi

Ngoài ra, Đỗ Hữu Châu còn bổ sung cặp thoại liên kết hoàn toàn tuyến tính còn thể hiện ở những cặp thoại hẫng hoặc ghép Cặp thoại ghép

có nghĩa là tham thoại tương đương với hai chức năng đáp lời và trao lời

(8) A 1 : - B 2 ơi, có nhà khôông?

B 2 : - Có việc chi rứa?

Lượt lời của B2 tương đương với hai tham thoại, thứ nhất là ngầm ẩn trả lời câu hỏi A1, thứ hai đưa ra câu hỏi cho A1

- Cặp thoại không liền kề là kiểu các cặp thoại liên kết chéo, liên kết lồng Cặp thoại liên kết chéo là thứ tự các tham thoại trong cặp thoại ở vị trí chéo nhau

(9) A: - Làm phiền anh, cho tôi hỏi đường đến bệnh viện ở đâu?

B: - Không sao, anh cứ đi tới ngã tư rẽ phải khoảng 200m là đến.

Có thể biểu diễn cặp thoại trên bằng sơ đồ

Làm phiền anh,

C cho tôi hỏi đường đến bệnh viện ở đâu?

Không sao, anh cứ đi tới ngã tư rẽ phải khoảng 200m là đến

Còn cặp thoại liên kết lồng là trong một cặp thoại bao trùm một hoặc một số cặp thoại con

Trang 19

Ở (10) có bốn cặp thoại, trong đó cặp C1, C2 là cặp thoại không liền

kề, Cặp thoại C3, C4 là cặp liền kề Cặp thoại C1 là bao trùm cặp thoại C2,

C3, C4

Từ sự phân tích trên, chúng tôi cho rằng, yếu tố hình thành nên cặp thoại là phải có hai nhân vật (A, B), nhân vật này đưa ra lời trao, nhân vật kia đưa ra lời đáp Lời trao và lời đáp phải có quan hệ tương thích về chức năng, chẳng hạn: hỏi - trả lời, chào - chào, mời - nhận lời hoặc từ chối, yêu cầu – chấp nhận

Ở đề tài này, chúng tôi chỉ đi sâu tìm hiểu những cặp thoại mang tính chủ hướng, liền kề Trong cặp thoại đó có lời trao là tham thoại dẫn nhập chứa hành động cầu khiến và lời đáp là tham thoại hồi đáp chứa hành động

từ chối làm chủ hướng

(11) A: - Thứ bảy ni (này) về nhà choa (mình) nhởi (chơi).

B: - Thứ bảy ni (này), hẹn về nhà Hòa rồi, bựa sau nha.

Ví dụ (11) cặp thoại gán lời trao là lời rủ, lời đáp là lời từ chối

Trên đây, chúng tôi đã trình bày là ba đơn vị (cuộc thoại, đoạn thoại

và cặp thoại) hội thoại có tính chất lưỡng thoại, có nghĩa là chúng được hình thành do vận động trao đáp của các nhân vật hội thoại Dưới đây,

Trang 20

chúng tôi sẽ trình bày hai đơn vị (tham thoại, hành động ngôn ngữ) mang tính đơn thoại.

d Tham thoại (participants) là đơn vị đơn thoại do một nhân vật nói ra cùng với tham thoại của nhân vật khác lập thành một cặp thoại

Tham thoại khác với lượt lời:

Lượt lời là chuỗi đơn vị ngôn ngữ được một nhân vật hội thoại nói ra,

kể từ lúc bắt đầu cho đến lúc chấm dứt để cho nhân vật hội thoại kia nói chuổi của mình [10, tr.227] Những người tham gia hội thoại đều có quyền nói lượt lời, nói phần của mình, nhờ có nguyên tắc luân phiên lượt lời (có lời trao và lời đáp) cuộc thoại mới phát triển bình thường

Bên cạnh đó, lí thuyết hội thoại cũng khẳng định các cặp thoại được tạo nên bởi các tham thoại của ít nhất hai nhân vật giao tiếp Như vậy tham thoại có thể trùng lượt lời trong trường hợp một tham thoại là một lượt lời Nhưng có những trường hợp tham thoại không trùng khớp với lượt lời Một tham thoại có thể có nhiều lượt lời hoặc một lượt lời gồm nhiều tham thoại

e Hành động ngôn ngữ (speech) còn được gọi là hành động ngôn từ, hành vi ngôn ngữ Nó là đơn vị nhỏ nhất của “ngữ pháp hội thoại” cũng là đơn vị tối thiểu tạo nên tham thoại Trong một phát ngôn có thể có một hành động ngôn ngữ nhưng cũng có thể có nhiều hành động ngôn ngữ

(12) A: - Cho con năm ngàn mua bánh xà phòng

B: - Tao không biết!

(13) A: - Mai ông đến nhà mình nhởi!

B: - Không đi được rồi, mai có khách bên nhà chồng Hay ông lại nhà giúp mình với.

Ở (12) có hai hành động ngôn ngữ: hành động trao lời là hành động xin, hành động đáp lời là hành động từ chối Ở (13) có ba hành động ngôn ngữ: hành động trao lời là hành động cầu khiến còn hành động đáp lời gồm hành động từ chối và hành động cầu khiến

Trang 21

Trên đây là năm đơn vị tạo nên cấu trúc hội thoại Trong đó hành động ngôn ngữ là đơn vị cơ sở của ngữ pháp hội thoại Và đó cũng là đơn

vị cơ bản được nghiên cứu trong đề tài này Vì thế, chúng tôi trình bày kĩ vấn đề này ở mục 1.2

1.2 Xung quanh vấn đề lý thuyết hành động ngôn ngữ

1.2.1 Khái niệm hành động ngôn ngữ

Nói năng là một dạng hành động đặc biệt của con người – hành động

thông qua ngôn ngữ Trong cuốn sách nổi tiếng có nhan đề: How to do things with wordscủa mình, nhà triết học Anh J L Austin đã khởi xướng lí

thuyết hành động ngôn ngữ – một lí thuyết làm xương sống cho ngữ dụng

học Lí thuyết đó được nhà triết học J Searle phát triển Hai ông đã xác nhận rằng, khi sử dụng ngôn ngữ, chúng ta không chỉ tạo ra những phát ngôn có chứa mệnh đề về những đối tượng, những thực thể, sự kiện, mà chúng ta còn thực hiện những chức năng như yêu cầu, phủ nhận, xin lỗi vv…, tức là thực hiện các hành động bằng các phát ngôn đó Điều đó cũng

có nghĩa là về bản chất, khi nói năng, chúng ta thực hiện hành động nói, cũng giống như những hành động vật lí khác [9, tr 94,95; 19, tr 42; 31, tr.68].Như vậy, hành động ngôn ngữ (hành vi ngôn ngữ) được hiểu là “vai nói có thể dùng ngôn ngữ để miêu tả mọi hiện tượng, để thuật lại một sự việc, để khẳng định, để bày tỏ sự nghi vấn, để đưa ra một yêu cầu, để khuyên nhủ, để đe dọa, để khen ngợi Ứng với cách dùng ngôn ngữ trên,

ta có hành vi miêu tả, kể, khẳng định, nghi vấn, yêu cầu, khuyên nhủ, đe dọa, khen ngợi Đó là những hành động bộ phận trong hoạt động giao tiếp nói chung Khi miêu tả, kể, nhận xét, khuyên là chúng ta đang hành động – hành động bằng ngôn ngữ” [31, tr 69] Có ba loại hành động liên quan đến lời phát ngôn của người nói: hành động trao lời (locutionary act); hành động mượn lời (perlocutionary act); hành động ở lời (illocutionary act)

Trang 22

J.Searle cho rằng: trong giao tiếp bằng ngôn ngữ, đơn vị của giao tiếp không phải là ký hiệu từ hay câu, hay thậm chí là vật sở chỉ cụ thể của ký hiệu, của từ hay câu như người ta vẫn thường nghĩ thế mà chính là sự sản sinh ra cái sở chỉ cụ thể khi thực hiện hành động ngôn trung mới là đơn vị

cơ bản của giao tiếp bằng ngôn ngữ Nói một cách chính xác hơn, sự tạo sinh ra cái sở chỉ của câu trong những điều kiện nhất định chính là hành động ngôn trung và chính hành động này là đơn vị nhỏ nhất của sự giao tiếp bằng ngôn ngữ Như vậy hành động ở lời được coi là trọng tâm nghiên cứu của lí thuyết hành động ngôn ngữ [dẫn theo 34, tr 21]

Trong luận văn, chúng tôi đi sâu vào tìm hiểu cặp hành động cầu khiến – từ chối trong giao tiếp của người Hà Tĩnh

1.2.2 Điều kiện sử dụng hành động ở lời

Điều kiện sử dụng hành động ở lời là điều kiện cần thiết để thực hiện một hành động ở lời nhất định trong một ngữ cảnh giao tiếp cụ thể Người đầu tiên đề cập các điều kiện sử dụng các hành động ở lời là J.L Austin Ông gọi các điều kiện này là điều kiện “may mắn” (felicity conditions) vì nếu những điều kiện đó được đảm bảo thì hành động mới thành công Đó là những điều kiện sau:

a - (i) Phải có thủ tục có tính chất quy ước và thủ tục này phải có hiệu quả cũng có tính quy ước

(ii) Hoàn cảnh và con người phải thích hợp với những điều quy định trong thủ tục

b - Thủ tục phải được thực hiện (i) một cách đúng đắn và (ii) đầy đủ

c - Thông thường thì (i) những người thực hiện hành vi ở lời phải có ý nghĩ, tình cảm và ý định đúng như đã được đề ra trong thủ tục và (ii) khi hành động diễn ra thì ý nghĩ, tình cảm, ý định đúng như nó đã có [8, tr.112]

Trang 23

J.Searle đưa ra 4 điều kiện cho việc thực hiện hành động ở lời đạt hiệu quả đúng với đích của nó.

(1) Điều kiện nội dung mệnh đề (Content conditions) chỉ ra bản chất nội dung của hành động Nội dung mệnh đề có thể là một mệnh đề đơn giản (đối với các hành vi khảo nghiệm, xác tín, miêu tả), hay một hàm mệnh đề

(đối với câu hỏi chỉ có hai khả năng trả lời có hoặc không), có thể là một

hành động của người nói (như hứa hẹn) hay một hành động của người nghe (lệnh, yêu cầu)

(2) Điều kiện chuẩn bị (Preparatory conditions): gồm những hiểu biết của người phát ngôn về năng lực, lợi ích, ý định của người nghe và các quan hệ giữa người nói và người nghe

(3) Điều kiện chân thành (Sincerity conditions): chỉ ra các trạng thái tâm lí tương ứng của người phát ngôn Chẳng hạn: xác tín, khảo nghiệm đòi hỏi niềm tin vào điều mình xác tín; lệnh đòi hỏi lòng mong muốn; hứa hẹn đòi hỏi ý định của người nói…

(4) Điều kiện căn bản (Essential conditions): là điều kiện đưa ra trách nhiệm mà người nói và người nghe bị ràng buộc khi hành vi ở lời đó được phát ra [8, tr.116-117]

Bốn điều kiện do Searle đưa ra cũng được chúng tôi dựa vào để xem xét hành động cầu khiến

1.2.3 Phân loại hành động ở lời

Có nhiều cách phân loại hành động ở lời khác nhau:

a Dựa vào ý nghĩa khái quát của động từ ngữ vi, Austin chia hành

động ở lời thành 5 phạm trù: phán xử, hành xử, cam kết, trình bày, ứng xử.

- Phán xử là hành động đưa ra những lời phán xét về một sự kiện hoặc một giá trị dựa trên những chứng cứ hoặc lí lẽ xác đáng, gồm một số động

từ: xử trắng án, xem là, tính toán, phân tích đánh giá, phân loại …

Trang 24

- Hành xử là những hành động đưa ra quyết định thuận lợi hay chống

lại một chuỗi hành động nào đó, gồm các động từ: ra lệnh, chỉ huy, biện hộ cho, khẩn cầu, bế mạc, khai mạc, cảnh cáo, tuyên ngôn…

- Cam kết là những hành động ràng buộc người nói vào những trách

nhiệm nào đó, gồm các động từ: hứa, hẹn, bày tỏ, giao ước, bảo đảm, thề…

- Trình bày là những hành động dùng để trình bày quan niệm, lập

luận, giải thích từ ngữ… gồm các động từ: khẳng định, phủ đinh, từ chối, trả lời, phản bác,…

- Ứng xử là những hành động phản ứng lại xử sự của người khác trong

những vấn đề có liên quan, gồm các động từ: xin lỗi, cảm ơn, khen ngợi, chào mừng, phê phán, chia buồn…

b Dựa vào chức năng khái quát của hành động ngôn ngữ, J Searle đưa ra 12 tiêu chí (đích ở lời, hướng khớp ghép lời với hiện thực, trạng thái tâm lí được thể hiện, sức mạnh mà đích trình bày, tính quan yếu, định hướng, hai thành phần của một cặp kế cận, nội dung mệnh đề, bằng lời hay không bằng lời, thể chế xã hội và hành động ngôn ngữ, có động từ ngữ vi hay không có động từ ngữ vi, phong cách thể hiện phân loại), trong đó có 4 tiêu chí cơ bản (tiêu chí đích ở lời, hướng khớp ghép lời với hiện thực, nội dung mệnh đề, trạng thái tâm lí) để phân thành 5 phạm trù hành động ở lời gắn với 5 chức năng tổng quát của hành động ở lời: (1) tuyên bố, (2) biểu hiện, (3) bộc lộ, (4) điều khiển, (5) ước kết

- Tuyên bố là những hành động mà khi nói ra chúng, người nói làm

thay đổi hiện thực được nói tới, gồm những động từ: tuyên bố, buộc tội.

- Biểu hiện là những hành động mà mệnh đề của chúng có thể đánh

giá theo tiêu chuẩn đúng – sai logích, gồm các động từ: than thở, khoe…

- Bộc lộ (biểu cảm) là hành động bày tỏ những trạng thái tâm lí, gồm

các động từ: vui thích, khó chịu, mong muốn, rầy bỏ

Trang 25

- Điều khiển là những hành động đặt người nghe vào trách nhiệm thực

hiện một hành động trong tương lai, gồm các động từ: ra lệnh, yêu cầu, cho phép.

- Ước kết (cam kết) là những hành động mà người nói dùng để ràng buộc chính mình vào một hành động nào đó trong tương lai, gồm các động

từ: hứa, hẹn, tặng, biếu, từ chối [21, tr 35-36; 31, tr 87-88].

Năm chức năng tổng quát trên cùng với những đặc trưng mấu chốt của chúng mà Searle đưa ra đã được George Yule [42, tr 109] lập thành bảng bảng 1.1 tổng kết như sau

Loại hành động nói Hướng khớp ghép S = người nói

X = tình huốngTuyên bố từ làm thay đổi thế giới S gây ra X

Biểu hiện làm cho từ khớp với thế giới S tin X

Bộc lộ làm cho từ khớp với thế giới S cảm nhận XĐiều khiển làm cho thế giới khớp vào từ S muốn X

Ước kết làm cho thế giới khớp vào từ S chủ định X

Bảng 1.1 Năm chức năng tổng quát của hành động nói

c - Dựa vào cách thể hiện lực ngôn trung chia hành động ở lời thành 2 loại cơ bản: hành động ngôn ngữ trực tiếp và hành động ngôn ngữ gián tiếp

- Hành động ở lời trực tiếp là “hành động có sự tương ứng giữa cấu trúc phát ngôn trên bề mặt với hiệu lực của nó gây ra”[31, tr.88] Có nghĩa

là có một mối liên hệ trực tiếp dễ dàng nhận biết giữa một cấu trúc và một chức năng

(14) Anh có đi chơi không?

Đây là hành động hỏi và hiệu lực hỏi thể hiện ngay bề mặt phát ngôn

- Hành động ở lời gián tiếp là hành động “không có sự tương ứng giữa cấu trúc phát ngôn trên bề mặt với hiệu lực của nó gây nên hay nói cách khác là hành động mà trên cấu trúc bề mặt A nhưng gây một hiệu lực lại là B” [31, tr 88]

Trang 26

(15) Chị ơi, có hành không?

Đây là hành động ở lời hỏi trên bề mặt nhưng hiệu lực của nó là người nói muốn xin một ít hành

1.3 Những nhân tố chi phối văn hóa giao tiếp của người Hà Tĩnh

1.3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, lịch sử văn hóa của Hà Tĩnh

1.3.1.1 Điều kiện tự nhiên

Con người và môi trường tự nhiên luôn luôn có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau Điều kiện tự nhiên của Hà Tĩnh ảnh hưởng nhất định đến đời sống văn hóa của những người sống ở đây Điều kiện tự nhiên thể hiện ở vị trí địa lý, địa hình, khí hậu

1) Vị trí địa lý: Hà Tĩnh nằm ở tọa độ 17057’ – 18046’ vĩ độ Bắc và

105007’ – 106030’ kinh độ Đông Phía Bắc giáp tỉnh Nghệ An, phía Nam giáp tỉnh Quảng Bình, phía Tây giáp nước Lào, phía đông giáp Biển Đông 2) Về địa hình: Lãnh thổ Hà Tĩnh có chiều dài từ Tây Bắc đến Đông Nam (từ sông Cả - Nghệ An đến tận Đèo Ngang) dài hơn 100km, chiều ngang từ bờ biển đến biên giới Việt – Lào Địa hình Hà Tĩnh hẹp và dốc nghiêng từ Tây sang Đông Tuy diện tích Hà Tĩnh không lớn, nhưng hội đủ các vùng sinh thái vùng rừng núi, vùng đồng bằng, vùng ven biển Sự đa dạng của môi trường sinh thái là yếu tố góp phần tạo nên sự đa dạng văn hóa.3) Về khí hậu: Ngoài ảnh hưởng của nhiệt đới gió mùa, Hà Tĩnh còn chịu ảnh hưởng khí hậu chuyển tiếp của miền Bắc và miền Nam, nên khí hậu thời tiết ở đây khắc nghiệt: lũ lụt, hạn hán thường xẩy ra Người ta ví đây là vùng “chảo lửa, túi mưa”

Điều kiện tự nhiên trên đã hun đúc nên tính cách kiên cường, tinh thần đoàn kết của người dân Hà Tĩnh

1.3.1.2 Điều kiện về kinh tế xã hội

Hà Tĩnh có một thành phố (Thành phố Hà Tĩnh – tỉnh lỵ), một thị xã (Thị xã Hồng Lĩnh) và 10 huyện gồm: Can Lộc, Cẩm Xuyên, Đức Thọ,

Trang 27

Hương Khê, Hương Sơn, Kỳ Anh, Lộc Hà, Nghi Xuân, Thạch Hà, Vũ Quang Hà Tĩnh là một tỉnh nghèo, thu ngân sách thấp, đời sống nhân dân ở nhiều vùng vẫn còn khó khăn, tỉ lệ hộ nghèo còn cao nên người dân ở đây

có thói quen cần kiệm, chịu khó chịu khổ và ham học hỏi

Hà Tĩnh công nghiệp chiếm tỉ trọng nhỏ, nông nghiệp giữ vai trò chủ yếu Đặc trưng nổi bật của nền kinh tế nông nghiệp là tính cộng đồng Người Hà Tĩnh rất coi trọng các mối quan hệ với mọi thành viên trong cộng đồng Vì thế, tính hiếu khách, sự thân thiện, để ý quan tâm tới những người sống xung quanh là đặc điểm của người dân Hà Tĩnh Nhưng bên cạnh đó, tính cộng đồng, làng xã cũng là một hạn chế thể hiện ở việc giao tiếp đối với những người ngoài cộng đồng Quan hệ với những người ở ngoài cộng đồng (người lạ) khi giao tiếp người Hà Tĩnh tỏ ra rụt rè

1.3.1.3 Điều kiện lịch sử văn hóa của người Hà Tĩnh

Hà Tĩnh không chỉ là nơi có điều kiện khí hậu khắc nghiệt mà còn phải chịu sự hy sinh mất mát qua các cuộc chiến tranh Đây là mảnh đất có

bề dày lịch sử hào hùng gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Trước kẻ thù người dân Hà Tĩnh luôn thể hiện ý chí kiên cường, bất khuất Hà Tĩnh còn nổi danh là mảnh đất “địa linh nhân kiệt” nơi sinh dưỡng và thành danh của nhiều danh nhân, những tấm gương lớn về đức độ

và tài năng như Đại thi hào Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Huy

Tự, Xuân Diệu, Huy Cận; Lê Hữu Trác, Hoàng Xuân Hãn, Lê Văn Thiêm, Nguyễn Đình Tứ

Hà Tĩnh còn là nơi tạo dựng được bản sắc văn hóa phi vật thể độc đáo như dân ca Nghệ Tĩnh, hát ví, hát dặm, ca trù, các lễ hội và những giá trị văn hóa vật thể khác như đền chùa, miếu mạo, danh lam thắng cảnh

Điều kiện lịch sử văn hóa trên đã tác động đến ý chí, nghị lực phấn đấu vươn lên của người Hà Tĩnh

Trang 28

1.3.2 Phương ngữ

Phương ngữ hay còn gọi là tiếng địa phương, ngôn ngữ địa phương Phương ngữ và văn hóa có mối liên hệ mặt thiết với nhau Phương ngữ làm nên tính đặc thù của một vùng văn hóa Phương ngữ là một bộ phận hữu cơ của văn hóa Nó là phương tiện đặc biệt và cũng là điều kiện cho những thành tố đặc trưng của một vùng văn hóa Phương ngữ mà người Hà Tĩnh

sử dụng được xếp vào vùng phương ngữ Nghệ Tĩnh Trong cuốn Từ địa phương Nghệ Tĩnh về một khía cạnh ngôn ngữ văn hóa, tác giả Hoàng

Trọng Canh chỉ ra phương ngữ Nghệ Tĩnh là phương ngữ đại diện tiêu biểu cho Bắc Trung Bộ về nhiều phương diện Nó được hình thành lâu đời Khác với vùng phương ngữ Bắc được hình thành do sự biến đổi chia tách ngôn ngữ Việt Mường chung dưới sự tác động của tiếng Hán, vùng phương ngữ Trung là “vùng Việt Mường trung bị Việt hóa mạnh nên trở thành Việt” [7, tr.65] Theo tác giả Hoàng Thị Châu, “Phương ngữ vùng Nghệ Tĩnh không phân biệt thanh ngã với thanh nặng Cả năm thanh tạo thành một hệ thống thanh điệu khác với phương ngữ Bắc, có độ trầm lớn hơn”[11, tr.95] Sự khác biệt của phương ngữ Nghệ Tĩnh không chỉ ở thanh điệu mà còn thể hiện ở hệ thống biến đổi ngữ âm nói chung, tạo nên âm sắc trầm, nặng làm cho người địa phương khác khi nghe cảm thấy “trọ trẹ”,

“cọc cạch”, “khó hiểu” Ngoài ra, phương ngữ Nghệ Tĩnh còn có một lớp

từ địa phương phong phú Do đặc điểm tự nhiên, môi trường và lịch sử văn hóa đã tạo cho phương ngữ Nghệ Tĩnh mang sắc thái riêng thể hiện trên sự khác biệt về mặt ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp đối với ngôn ngữ toàn dân và các phương ngữ khác Tiếng Hà Tĩnh nằm trong phương ngữ Nghệ Tĩnh, cùng với tiếng Quảng Bình là nơi còn lưu lại nhiều yếu tố cổ nhất của tiếng Việt

1.3.3 Thói quen trong tư duy, ứng xử

Chính những vấn đề lịch sử mang nét riêng biệt, điều kiện khắc nghiệt của tự nhiên và hoàn cảnh kinh tế khó khăn đã tôi luyện nên một cộng đồng

Trang 29

người Hà Tĩnh có đặc điểm tâm lý, cốt cách văn hóa riêng Điều đó được bộc lộ trong tư duy người Hà Tĩnh

Việc ứng xử của người Hà Tĩnh thường lấy tình cảm làm nguyên tắc Trước những người thân mọi tình cảm của họ đều được biểu lộ chân thành, không khách sáo, bộc trực, thẳng thắn, mộc mạc, dễ gần Trước những người lạ họ thường có phần rụt rè và không tự nhiên

1.4 Tiểu kết chương 1

Ở chương 1, chúng tôi đã trình bày một số giới thuyết liên quan đến

đề tài bao gồm những nội dung sau:

Thứ nhất đề cập đến giao tiếp và hội thoại, chúng tôi đưa ra các khái niệm giao tiếp, hội thoại, những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp vào quá trình giao tiếp và trình bày các vận động hội thoại, đơn vị hội thoại Chúng tôi xem hội thoại là một trong những dạng giao tiếp bằng ngôn ngữ cơ bản phổ biến nhất của con người

Thứ hai đề cập đến hành động ngôn ngữ, ngoài khái niệm hành động ngôn ngữ, chúng tôi nhấn mạnh các điều kiện hành động ở lời và những căn cứ để phân loại chúng

Thứ ba chúng tôi tìm hiểu những nhân tố chi phối văn hóa giao tiếp của người Hà Tĩnh

Trên đây là những giới thuyết liên quan đến đề tài để chúng tôi đi sâu tìm hiểu hành động cầu khiến – từ chối trong giao tiếp của người Hà Tĩnh

Trang 30

Chương 2

CẤU TRÚC VÀ CÁC THÀNH TỐ CẤU TẠO HÀNH ĐỘNG CẦU KHIẾN TRONG GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI HÀ TĨNH

2.1 Khái niệm và tiêu chí nhận diện hành động cầu khiến

2.1.1 Khái niệm hành động câu khiến

Hành động cầu khiến là một trong những hành động cơ bản của lời nói Nó là đối tượng thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu

- Trong ngôn ngữ học truyền thống, các nhà nghiên cứu thường gọi là câu cầu khiến

Tác giả Hoàng Trọng Phiến quan niệm “Câu cầu khiến nêu lên ý muốn của chủ thể phát ngôn và yêu cầu người nghe đáp lại bằng hành động Do đó, câu cầu khiến gắn liền với ý nghĩa hành động” [36, tr 288] Còn tác giả Diệp Quang Ban thì gọi là câu mệnh lệnh và xem câu mệnh lệnh (còn gọi là câu cầu khiến) "được dùng để bày tỏ ý muốn nhờ hay bắt buộc người nghe thực hiện điều được nêu lên trong câu, và có những dấu hiệu hình thức nhất định” [4, tr 235] Một số tác giả khác như Nguyễn Kim Thản, Hữu Quỳnh, Lê Xuân Thại… cũng đưa ra những định nghĩa tương tự về câu cầu khiến

Quan niệm của các nhà ngôn ngữ học truyền thống đã có nhiều đóng góp quan trọng Tuy thế, trong xu thế phát triển của khoa học về ngôn ngữ hiện nay, ngôn ngữ học phát triển tiếp cận theo một hướng mới – hướng xem xét ngôn ngữ trong hoạt động lời nói, thuật ngữ cầu khiến được gọi là hành động cầu khiến

Tác giả Đỗ Thị Kim Liên xem hành động cầu khiến là một hành động

ở lời cụ thể “là hành động được sử dụng người nói đưa ra phát ngôn về một yêu cầu nào đó, mong muốn người nghe thực hiện, vì vậy chúng thuộc nhóm phát ngôn ngữ vi” [31, tr.74] Tác giả Lê Đình Tường xem: “Hành vi cầu

Trang 31

khiến là hành vi được thực hiện ngay trong lời nói với nội dung: Tôi nói là tôi muốn anh (hoặc anh cùng tôi) thực hiện (hoặc không thực hiện) một hành động P nào đó và hiệu quả của nó là anh (hoặc anh cùng tôi) thực hiện (hoặc không thực hiện) hành động P vì một lợi ích nào đó” [41, tr36].

Tiếp thu những thành tựu của các nhà ngữ dụng học, chúng tôi đưa ra

cách hiểu về hành động cầu khiến như sau: Cầu khiến là hành động ngôn

ngữ ở lời, người nói ra nhằm hướng đến đối tượng người nghe trực tiếp, mong muốn người nghe làm một việc gì đó hoặc cho phép mình làm một việc gì đó và người nói quan tâm đến khả năng hồi đáp từ phía người nghe

Ở những hành động cầu khiến đích thực có các dấu hiệu hình thức để nhận diện chúng

2.1.2 Tiêu chí nhận diện hành động cầu khiến

2.1.2.1 Nội dung mệnh đề

Nội dung mệnh đề thường tồn tại tường minh trên bề mặt phát ngôn, hướng trực tiếp tới B thực hiện hành động, việc thực hiện hành động đó xảy ra trong tương lai (có thể ngay sau khi nói hoặc xa hơn)

2.1.2.2 Điều kiện chuẩn bị

Bao gồm sự hiểu biết nhất định của vai nói A đối với người nghe B Nếu B thực hiện sẽ làm vừa lòng A Vào thời điểm nói, A nghĩ rằng B có khả năng thực hiện

2.1.2.3 Điều kiện chân thành

Vai nói A chân thành mong muốn B thực hiện yêu cầu của mình Tuy nhiên các mức độ hành động tác động đến người nghe phụ thuộc vào việc

sử dụng các động từ cần, nên, cần phải, cấm, đề nghị hay các phương tiện hình thức (chỉ tố chức năng)

2.1.2.4 Điều kiện căn bản

Nhằm dẫn B đến việc thực hiện hành động A đưa ra Giữa A và B có

Trang 32

không đáp ứng yêu cầu của người nói A, người nghe B thường có những biểu hiện đi kèm về chiến lược giao tiếp, thái độ.

Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi chỉ dừng lại ở việc khảo sát các dạng thức hành động cầu khiến đích thực (trực tiếp), loại hành động mà

ý nghĩa lực tại lời thống nhất với dấu hiệu hình thức đặt trong quan hệ với hành động từ chối

2.2 Các thành tố trong mô hình cấu trúc hành động cầu khiến

2.2.1 Khái niệm cấu trúc

Theo nhà ngôn ngữ học Xtêpanov thì: “Tập hợp những quan hệ bên

trong được gọi là hệ thống Còn tập hợp các quan hệ giữa các yếu tố của hệ thống được gọi là quan hệ cấu trúc của hệ thống” [43, tr 430] Theo Kasevích, “Nếu hệ thống là tập hợp các yếu tố liên kết với nhau bằng những quan hệ nhất định, thì cấu trúc là kiểu của những quan hệ này, là

phương thức tổ chức hệ thống” [27, tr.27]

Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học chỉ ra cấu trúc như sau:

“1 Sự biểu thị khái quát hóa các đặc trưng bất biến của các thành phần âm thanh, âm vị học, hình thái học, hình vị học trong bình diện quan

hệ của chúng với nhau, nghĩa là trong bình diện các quy tắc sử dụng các đơn vị ở cấp độ thấp hơn để kiến tạo nên các đơn vị ở cấp độ cao hơn; tính

tổ chức nội tại của ngôn ngữ với tư cách là một hệ thống tín hiệu hạn chế khả năng tự do tái tạo các yếu tố được thể hiện trong cách sử dụng chúng không như nhau và trong các khả năng kết hợp của chúng 2 Quan hệ ngữ pháp của các bộ phận trong một đơn vị cú pháp phức hợp” [43, tr.45]

Theo Từ điển tiếng Việt, cấu trúc là “quan hệ giữa các thành phần tạo

nên một chỉnh thể” [37, tr 175]

2.2.2 Vấn đề phương tiện hình thức cấu tạo hành động cầu khiến

Tác giả Đỗ Hữu Châu cho rằng: “ Phát ngôn ngữ vi là phát ngôn – sản phẩm của một hành vi ở lời nào đó khi hành vi này được thực hiện một

Trang 33

cách trực tiếp Phát ngôn ngữ vi có một kết cấu lõi đặc trưng cho hành vi

ở lời tạo ra nó Kết cấu lõi đó được gọi là biểu thức ngữ vi” [8, tr 91]

Theo J.Searle, phát ngôn ngữ vi của nhiều hành vi ở lời có hình thái khái quát là F(p) trong đó giá trị của F là IFIDs khác nhau của các hành vi

ở lời, còn (p) là nội dung mệnh đề [dẫn theo 8, tr 109] Có nghĩa là ngữ nghĩa của tất cả các phát ngôn là sự tổng hợp của hai thành phần ngữ nghĩa: Hiệu lực (hay là lực) ở lời và nội dung mệnh đề Hiệu lực ở lời do các

(Illocutionary Force Indicating Devices) biểu thị gọi là các phương tiện chỉ dẫn hiệu lực ở lời

Như vậy, hành động cầu khiến là hành động ở lời Vì thế, theo chúng tôi, kiểu cấu trúc đặc trưng của hành động cầu khiến cũng chính là biểu thức ngữ vi cầu khiến và kết cấu của nó cũng chính là mô hình cấu tạo hành động cầu khiến Như vậy, kết cấu không chỉ là những kiểu câu có mục đích nói khái quát như trần thuật, hỏi, cầu khiến, cảm thán với những dấu hiệu hình thức chung chung, mà còn gồm những kết cấu cụ thể ứng với

những hành vi ở lời Trong tìm hiểu cấu trúc hành động cầu khiến, hành

động từ chối, chúng tôi cố gắng tìm những mô hình kết cấu cụ thể

Mô hình cấu trúc hành động cầu khiến được tạo nên bởi các thành tố sau:

- Chủ thể cầu khiến thể hiện qua từ xưng hô ngôi thứ nhất (kí hiệu là N1)

- Chủ thể tiếp nhận nội dung cầu khiến (chủ thể từ chối) thể hiện qua

từ xưng hô ngôi thứ hai (kí hiệu là N2)

- Vị từ hoặc vị từ + bổ ngữ, kí hiệu là Vt hoặc Vt+BN

- Động từ ngữ vi có giá trị cầu khiến (kí hiệu là Đck )

- Các từ tình thái cuối cấu trúc (kí hiệu là TTcct)

- Ngữ điệu cầu khiến (kí hiệu là NĐck)

- Phụ từ chuyển tải ý nghĩa cầu khiến (kí hiệu là P)

Chúng được chia làm hai dạng:

a Mô hình tổng quát hành động cầu khiến nguyên cấp (kí hiệu là H đck1 ) 1

Trang 34

Hành động cầu khiến nguyên cấp là hành động cầu khiến không có động từ được dùng với chức năng ngữ vi Cấu trúc hành động cầu khiến ở dạng đầy đủ là:

b Mô hình tổng quát hành động cầu khiến tường minh (kí hiệu là H đck2 )

Hành động cầu khiến tường minh là hành động cầu khiến có chứa động từ có chức năng ngữ vi Cấu trúc của nó ở dạng đầy đủ:

N1 – Đck – N2 – P – Vt (Vt+BN) – TTcct – NĐ

(17) Tôi đề nghị anh hãy ngồi xuống đi!

Cấu trúc hành động cầu khiến ở (17) có thể phân tích :

Tôi / đề nghị/ anh / hãy/ ngồi xuống/ đi !

N1 Đck N2 P Vt TTcct NĐck

2.3 Miêu tả các thành tố trong mô hình cấu trúc hành động cầu khiến trực tiếp của người Hà Tĩnh

2.3.1 Từ xưng hô chỉ chủ thể cầu khiến và chủ thể tiếp nhận nội

dung cầu khiến

Trong giao tiếp, xưng hô còn được gọi là xưng gọi, bao gồm những từ

có chức năng dùng để tự chỉ mình (tự gọi tên mình) và chỉ tên người khác (gọi tên ngươi khác) Nó có chức năng thể hiện các vai giao tiếp, đồng thời còn thể hiện vị thế xã hội, mức thân cận khác nhau Từ xưng hô không chỉ

là công cụ để người nói thực hiện việc đưa mình và người đối thoại với mình vào một diễn ngôn mà còn là công cụ để người nói bó buộc mình và câu thức người trong mối quan hệ liên cá nhân nhất định

Trang 35

Xưng hô trong tiếng Việt thể hiện sự đa dạng, phong phú Theo Nguyễn Văn Khang có 13 kiểu xưng hô đó là: 1) xưng hô bằng tên; 2) xưng hô bằng họ; 3) xưng hô bằng tên đệm + tên; 4) xưng hô bằng họ + tên; 5) xưng hô bằng họ + tên đệm + tên; 6) xưng hô bằng các đại từ nhân xưng; 7) xưng hô bằng các đại từ thân tộc; 8) dùng các từ khác làm từ xưng hô; 9) xưng hô bằng một trong các chức danh; 10) xưng hô bằng nhiều hoặc tất cả các chức danh; 11) xưng hô bằng tên của người thân thuộc (chồng, vợ, con); 12) xưng hô bằng các kết hợp khác nhau; 13) xưng hô bằng sự khuyết vắng từ xưng hô [26, tr 205-206] Trong số đó kiểu xưng hô bằng sự khuyết vắng từ xưng hô chiếm tỉ lệ lớn trong giao tiếp của người Hà Tĩnh

Ở phần này, chúng tôi xem xét vị trí và mối quan hệ của từ xưng hô với các thành tố trong cấu trúc hành động cầu khiến

Trong mô hình cấu trúc Hđck1, N2 đứng đầu có ý nghĩa là chủ thể tiếp nhận hành động cầu khiến

(18) Hoài lên hát bài!

N2 đứng vị trí cuối cấu trúc vừa có ý nghĩa chỉ chủ thể tiếp nhận hành động cầu khiến vừa có ý nghĩa tình thái, tạo nên sự thân mật, gần gũi

(19) Học bài đi con.

N1.(ngôi thứ nhất số ít) đứng đầu có ý nghĩa người nói muốn người nghe để mình thực hiện một hành động nào đó

(20) Tau mần cho! (tao làm cho!)

N1 (ngôi thứ nhất số nhiều) đứng đầu vừa có giá trị là chủ thể hành động cầu khiến vừa cùng chủ thể tiếp nhận thực hiện hành động cầu khiến

(21) Chúng ta đi nhanh lên!

N1 đứng sau Vt làm rõ nghĩa cho Vt, có chức năng ngữ pháp là bổ ngữ cho Vt

(22) Lại đây thơm mẹ cái mồ.

Trong mô hình cấu trúc Hđck2, N1 đứng đầu mang ý nghĩa chỉ chủ thể cầu khiến, xuất hiện trong quan hệ ngữ pháp là chủ ngữ và vị ngữ cầu khiến

(23) Con mời mẹ vào ăn cơm!

Trang 36

N2 thường ở vị trí sau có chức năng bổ nghĩa cho động từ ngữ vi:

(24) Đề nghị Loan hát một bài.

Trong giao tiếp ở phạm vi thân hữu của người Hà Tĩnh, từ xưng hô trong hành động cầu khiến xuất hiện như sau:

N1 (ngôi thứ nhất): con, cô, em, chị, cậu, anh, chú, ông, bác, cụ, bà, bố,

mẹ, mự, gì, thầy, o, ả, mình, tau, bạn, tớ, tên riêng (Hà, Nga ), bọn ni, ta, tui, tôi, thằng ni, con gái, bố, chú mi, xe, nhà con, nhà cháu, nhà anh, người

ta, choa, nhà em, bọn chị, bọn cháu, mẹ con em, ta, em, thím, ba

N2 (ngôi thứ hai): cô, cháu, chị, ông, mẹ, thầy, bà, bố, ả, eng, bác, cha,

dì, mệ, chú, cụ, mự, em, anh, mẹ, o, con, ba, enh, tên riêng, ung, bạn, cân ni, hai đứa, chị em, bay, phòng 311, phòng 392, thằng anh, mự mi, enh, mọi người, các con, xếp, mi, ả Hiền, bác sĩ, dì Thái, anh hai, cậu, thím,

Qua khảo sát từ xưng hô trên, chúng tôi thấy người Hà Tĩnh sử dụng

từ xưng hô một cách đa dạng và phong phú Trong quan hệ thân quen ngoài cách dùng từ xưng hô khuyết, người Hà Tĩnh còn sử dụng từ xưng hô thuộc nhóm thân tộc, nhóm danh từ riêng, nhóm đại từ, nhóm xưng hô theo nghề nghiệp, chức danh, chỗ ở Từ xưng hô được dùng theo cách ghép: từ thuộc danh từ chỉ thân tộc kết hợp danh từ riêng (dì Thái, anh Hà ); từ thuộc nhóm đại từ kết hợp danh từ chỉ thân tộc (con tôi, chú mi ) Kiểu ghép này tạo nên sắc thái thân mật, gần gũi và có khi suồng sã Tuy nhiên, việc

sử dụng từ xưng hô thuộc nhóm thân tộc trong quan hệ thân, quen là nhiều nhất Cách dùng trên tạo sắc thái gần gũi, thân mật

Có khi từ xưng hô được sử dụng trong phạm vi thân mật pha tính bỡn cợt Cách dùng này không được chủ thể tiếp nhận hành động cầu khiến chấp nhận Điều đó thể hiện qua việc chủ thể tiếp nhận hành động cầu khiến thay đổi vị thế của mình khi đưa ra từ xưng hô trong hành động hồi đáp sau đó

(25) A: - Hun enh cấy mồ (Hôn anh cái nào).

B: - Tau đạp cho một đạp đó.

Trang 37

Bên cạnh sử dụng các từ xưng hô thuộc từ toàn dân và từ địa phương Nghệ Tĩnh, người Hà Tĩnh còn dùng các từ xưng hô của một số địa phương khác Ví dụ: anh hai (Nam Bộ), thím (Bắc Bộ)

Một số lượng từ xưng hô ở nhóm danh từ riêng là danh từ thuộc nhóm thân tộc vừa thể hiện ở ngôi thứ nhất, vừa thể hiện ở ngôi thứ hai

(26) Cô: - chỉ người nữ làm nghề dạy học

Thầy: - chỉ người nam làm nghề dạy học

Nhưng bên cạnh đó người Hà Tĩnh còn dùng cô với nghĩa là o quan hệ

em bố (ảnh hưởng của phương ngữ Bắc); thầy nghĩa là cha có quan hệ sinh ra mình

Người Hà Tĩnh sử dụng từ xưng hô thường không theo một chuẩn mực nhất định Có nghĩa là một từ xưng hô có thể được dùng trong nhiều quan hệ khác nhau

(27) A: - Con mai cho cậu ra viện !

B: - Không được mô cậu ạ, cấy nớ phải hỏi ý kiến của bác sĩ.

(28) A: - Cho cậu mánh mồ (Cho cậu miếng nào.)

B: - Ầy, cậu ăn thì cháu nhịn (Ừ, cậu ăn thì cháu nhịn.)

Ở (27) cậu nghĩa là cha, trong quan hệ với con, còn ở (28) cậu nghĩa

là em của mẹ trong quan hệ với cháu.

2.3.2 Vị từ hay cụm vị từ với chức năng tạo hành động cầu khiến

Vị từ là những động, tính từ có chức năng làm vị ngữ Trong hành động cầu khiến, cấu trúc nghĩa biểu hiện lấy vị từ làm tiêu điểm Bởi lẽ nội dung cầu khiến là sự thay đổi trạng thái, tính chất hoặc muốn thực hiện, không thực hiện một hành động quá trình nào đó Vì thế trên cơ bản hành động cầu khiến tập trung vào vị từ Những trường hợp hành động cầu khiến biểu hiện trên bề mặt danh từ kết hợp ngữ điệu là rất ít

(29) Bánh mì!

Trong tư liệu khảo sát, các hành động có danh từ như trên chỉ chiếm tỉ

lệ 0,4% ( 4/1000) hành động cầu khiến Thực ra ở những hành động cầu khiến này động từ bị tỉnh lược

Trang 38

Chỉ có những vị từ thỏa mãn các điều kiện sau mới được xem là vị từ cấu tạo hành động cầu khiến:

a) Vị từ chỉ hoạt động tính chất trạng thái thuộc về con người như đi, đứng, ăn, học, cầm, hát, nghỉ, mua, nhanh, chậm

Chỉ có con người mới có khả năng thực hiện hành động cầu khiến và chỉ có con người mới có ý thức phản hồi hành động cầu khiến bằng cách thay đổi theo chiều hướng cầu khiến hoặc là ngược lại Vì thế, có những dạng cấu trúc trên bề mặt biểu hiện cấu trúc cầu khiến nhưng nó không thuộc hành động cầu khiến Đó là những vị từ không chỉ hành động tính

chất trạng thái của con người như: rỉ, hửng, sôi, hót, rách, thiu, nở, bay, sủa Trường hợp nói: “Hãy nở đi hoa” thì chúng tôi không xếp là hành

Vị từ không có bổ ngữ đi kèm Loại này chiếm số lượng ít

(30) Nhanh!

Ở (30) thể hiện tính mệnh lệnh

Vị từ kết hợp với bổ ngữ tạo thành cụm vị từ Loại này chiếm số lượng lớn:

(31) Đi mau lên mồ.

Ở (31) vị từ “đi” được kết hợp với bổ ngữ “mau lên” biểu hiện sự hối thúc Trong hành động cầu khiến của người Hà Tĩnh, khi vị từ kết hợp với

bổ ngữ thì bổ ngữ thường là trọng điểm của hành động cầu khiến

Trang 39

Trong luận án của mình, Hoàng Thúy Hà có đề cập đến từ tình thái Tuy vậy, tác giả không đi vào miêu tả và tính tỉ lệ phần trăm cho mỗi từ như chúng tôi Theo chúng tôi, từ tình thái cuối phát ngôn là một loại từ đặc biệt thuộc hư từ sử dụng để biểu đạt ý nghĩa tình thái đứng ở cuối phát ngôn Từ tình thái cuối phát ngôn có vai trò quan trọng trong việc nhận diện các hành động cầu khiến Có người xem nó như là một yếu tố đa chức năng: vừa thể hiện ngữ điệu câu, vừa làm yếu tố đệm kết thúc câu, vừa tạo dạng thức cho câu và đồng thời cũng chính là phương tiện chuyển tải các lực ngôn trung, ý nghĩa liên nhân Kết quả khảo sát các từ tình thái cuối phát ngôn trong tiếng Hà Tĩnh được thể hiện qua bảng tổng hợp 2.1 sau:

Từ tình thái cuối

phát ngôn

Số lượng từ

Tỉ lệ phần trăm (số lượng từ / tổng số từ tình thái)

Từ tình thái cuối phát ngôn

Số lượng từ

Tỉ lệ phần trăm (số lượng từ / tổng số từ tình thái)

6 hi (hì, hè, hẻ, hẹ, he) 50 6,52% tỉ với (tí với) 4 0,52%

Trang 40

Qua khảo sát, chúng tôi thấy, khi thực hiện hành động cầu khiến, người Hà Tĩnh thường sử dụng lớp từ tình thái cuối phát ngôn Trong 1000 hành động cầu khiến, chúng tôi thấy có 767 hành động cầu khiến sử dụng

từ tình thái cuối cấu trúc Còn lại 243 hành động cầu khiến sử dụng các phương tiện khác Các từ tình thái xuất hiện nhiều trong hành động cầu

khiến của người Hà Tĩnh gồm; đi (18,64%), với (13,04%), nha (10,79%), mồ (6,89%), cấy (5,75 %) Ngoài việc sử dụng số lượng lớn các từ tình thái đơn -

một âm tiết, người Hà Tĩnh còn dùng các yếu tố tình thái đơn ghép lại với nhau tạo thành những tổ hợp từ tình thái nhiều âm tiết (chúng tôi gọi là từ tình thái ghép) Từ tình thái đơn chiếm 687/767 (89,31%), từ tình thái ghép chiếm 80/767 (10,69%) So với từ tình thái đơn, tỉ lệ từ tình thái ghép không nhiều nhưng khả năng kết hợp với các yếu tố khác của nó để tạo nên các nét nghĩa tình thái thì phong phú và đa dạng Chúng ta có thể thấy được qua bảng 2.2 sau:

Qua bảng trên, ta thấy đi cấy, đi mồ thể hiện sự thúc dục; đi với, đi tề thể hiện nhắc nhở; đi he (hè, hi) thể hiện mời mọc, rủ rê, căn dặn Ngoài

việc ghép hai yếu tố tình thái với nhau, chúng tôi còn thấy có hiện tượng ghép ba yếu tố tình thái nhưng hiện tượng đó không nhiều nên chúng tôi không thống kê

Ngày đăng: 18/12/2013, 20:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chu Thị Thủy An (2002), Câu cầu khiến tiếng Việt, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu cầu khiến tiếng Việt
Tác giả: Chu Thị Thủy An
Năm: 2002
2. Diệp Quang Ban (2009), Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo của văn bản, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo của văn bản
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
3. Diệp Quang Ban (chủ biên) (2000), Ngữ pháp tiếng Việt – Giáo trình CĐSP, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt – Giáo trình CĐSP
Tác giả: Diệp Quang Ban (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
4. Diệp Quang Ban (1992), Ngữ pháp tiếng Việt (tập 2), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt (tập 2)
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1992
5. Nguyễn Nhã Bản (chủ biên), Phan Mậu Cảnh, Hoàng Trọng Canh, Nguyễn Hoài Nguyên (1999), Từ địa phương Nghệ Tĩnh, Nxb Văn hóa – Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ địa phương Nghệ Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản (chủ biên), Phan Mậu Cảnh, Hoàng Trọng Canh, Nguyễn Hoài Nguyên
Nhà XB: Nxb Văn hóa –Thông tin
Năm: 1999
6. Brown G, Yule G. (1983), Phân tích diễn ngôn, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội (2002) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích diễn ngôn
Tác giả: Brown G, Yule G
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội (2002)
Năm: 1983
7. Hoàng Trọng Canh (2009), Từ địa phương Nghệ Tĩnh về một khía cạnh ngôn ngữ - văn hóa, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ địa phương Nghệ Tĩnh về một khía cạnh ngôn ngữ - văn hóa
Tác giả: Hoàng Trọng Canh
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2009
8. Đỗ Hữu Châu (2009), Đại cương ngôn ngữ học (tập 2: Ngữ dụng học), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học (tập 2: Ngữ dụng học)
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
9. Đỗ Hữu Châu (2003) Cơ sở ngữ dụng học, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ dụng học
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội
10. Đỗ Hữu Châu (2001), Đại cương ngôn ngữ học (tập 2: Ngữ dụng học), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học (tập 2: Ngữ dụng học)
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
11. Hoàng Thị Châu (2004), Phương ngữ học tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương ngữ học tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Thị Châu
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
12. Nguyễn Thị Khánh Chi (2009), Biểu thức ngữ vi rào đón trong lời thoại nhân vật, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu thức ngữ vi rào đón trong lời thoại nhân vật
Tác giả: Nguyễn Thị Khánh Chi
Năm: 2009
13. Nguyễn Phương Chi (1997) Từ chối hành vi ngôn ngữ tế nhị, Ngôn ngữ và đời sống, Số 11 tr12 – 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ chối hành vi ngôn ngữ tế nhị
14. Nguyễn Phương Chi (2005), Một số đặc điểm của ngôn ngữ - văn hóa ứng xử của hành vi từ chối trong tiếng Việt, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm của ngôn ngữ - văn hóa ứng xử của hành vi từ chối trong tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Phương Chi
Năm: 2005
15. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (1977), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: Nxb giáo dục
Năm: 1977
16. Nguyễn Đức Dân (1998), Ngữ dụng học (tập 1), Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ dụng học (tập 1)
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 1998
17. Nguyễn Thị Én (2007), Đặc điểm lời thoại nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm lời thoại nhân vật nữ trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Tác giả: Nguyễn Thị Én
Năm: 2007
18. Nguyễn Thiện Giáp (1999), Phân tích hội thoại, Viện Thông tin Khoa học và Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích hội thoại
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Năm: 1999
19. Nguyễn Thiện Giáp (2000), Dụng học Việt ngữ, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dụng học Việt ngữ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
20. Hoàng Thị Thúy Hà (2008), Tiểu từ tính thái cuối phát ngôn trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu từ tính thái cuối phát ngôn trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh
Tác giả: Hoàng Thị Thúy Hà
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2: Khả năng kết hợp - Hành động cầu khiến   từ chối trong giao tiếp của người hà tĩnh
Bảng 2.2 Khả năng kết hợp (Trang 40)
Bảng 2.3: Khảo sát sự kết hợp ngữ điệu với động từ, tính từ, danh từ - Hành động cầu khiến   từ chối trong giao tiếp của người hà tĩnh
Bảng 2.3 Khảo sát sự kết hợp ngữ điệu với động từ, tính từ, danh từ (Trang 42)
Bảng 2.4: Thống kê số lượng và tỉ lệ phụ từ: hãy, đừng, chớ - Hành động cầu khiến   từ chối trong giao tiếp của người hà tĩnh
Bảng 2.4 Thống kê số lượng và tỉ lệ phụ từ: hãy, đừng, chớ (Trang 44)
Bảng 2.5: Khảo sát tần số xuất hiện mô hình cấu trúc hành động cầu  khiến - Hành động cầu khiến   từ chối trong giao tiếp của người hà tĩnh
Bảng 2.5 Khảo sát tần số xuất hiện mô hình cấu trúc hành động cầu khiến (Trang 55)
Bảng 3.1:  Bảng khảo sát hành động từ chối trực tiếp, gián tiếp  dựa vào mối quan hệ liên nhân - Hành động cầu khiến   từ chối trong giao tiếp của người hà tĩnh
Bảng 3.1 Bảng khảo sát hành động từ chối trực tiếp, gián tiếp dựa vào mối quan hệ liên nhân (Trang 73)
Bảng 3.2: Bảng khảo sát sự xuất hiện cặp từ xưng hô - Hành động cầu khiến   từ chối trong giao tiếp của người hà tĩnh
Bảng 3.2 Bảng khảo sát sự xuất hiện cặp từ xưng hô (Trang 76)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w