Qua khảo sát các phát ngôn hội thoại, biểu hiện ý nghĩa của chúng, đề tài đi vào tìm hiểu “Nghĩa hàm ngôn trong lời thoại nhân vật qua truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp”, từ đó rút ra những
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trờng Đại học Vinh Khoa ngữ văn
Nguyễn thị bé
Hàm ngôn trong lời thoại nhân vật
(qua truyện nghắn nguyễn huy thiệp)
Khoá luận tốt nghiệp
Trang 2Vinh - 2005Lời nói đầu
Đây là công trình khoa học đầu tiên của chúng tôi, chúng tôi xem việc nghiên cứu khoá luận này chỉ là bớc đầu có tính chất tập duyệt và mang tính định hớng
Giải mã t tởng tình cảm của nhà văn thông qua yếu tố ngôn ngữ là một việc làm hết sức phức tạp và đòi hỏi nhiều thời gian
Là một sinh viên trong bớc đầu trên con đờng nghiên cứu khoa học, do đó thiếu sót là không thể tránh khỏi Chúng tôi mong đợc sự góp ý và sự chỉ bảo chân tình của các thầy cô giáo trong khoa Nếu có dịp trở lại, chúng tôi sẽ làm tốt công việc của mình hơn
Đề tài này đợc hoàn thành là nhờ sự hớng dẫn nghiêm túc, tận tình của cô giáo Đỗ Thị Kim Liên và sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong khoa, đặc biệt là các thầy cô giáo trong tổ ngôn ngữ
Nhân dịp này, tôi xin đợc phép bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
Vinh, tháng 5/2005
Sinh viên
Nguyễn Thị Bé
Trang 3Mục lục Trang:
Phần mở đầu 3
1 Lý do chọn đề tài .3
2 Đối tợng và mục đích nghiên cứu .3
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề .4
4 Phơng pháp nghiên cứu 6
5 Cái mới của đề tài 7
6 Cấu trúc của đề tài 7
Phần nội dung 8
Ch ơng 1 : Một số khái niệm giới thuyết xung quanh đề tài 8
1.1 Nghĩa hàm ngôn của văn bản hội thoại 8
1.2 Không gian và thời gian gắn với cuộc thoại nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 9
1.3 Nhân vật và ngôn ngữ nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 16
Ch ơng 2 : Nghĩa hàm ngôn trong lời thoại nhân vật qua truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 23
2.1 Ngời trao lời sử dụng hàm ngôn 23
2.2 Ngời đáp sử dụng hàm ngôn 34
2.3 Cả ngời trao và ngời đáp cùng sử dụng hàm ngôn 44
2.4 Tác dụng của hàm ngôn trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 52
Ch ơng 3 : Các phơng thức cấu tạo hàm ngôn trong lời thoại nhân vật qua truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp 54
3.1 Điều kiện để xét hàm ngôn 54
3.2 Những phơng thức cấu tạo hàm ngôn trong hội thoại
55
3.3 Một số nhận xét về phong cách của Nguyễn Huy Thiệp qua việc sử dụng hàm ngôn 66
Phần kết luận 68
1 Các kết luận khoa học của đề tài 68
2 Hớng nghiên cứu tiếp tục 69
Trang 4Tài liệu tham khảo 70
Chính vì vậy, đề tài này chúng tôi đi sâu vào tìm hiểu “Nghĩa hàm ngôn
trong lời thoại nhân vật qua truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” theo hớng tiếp
cận dụng học
2 Đối tợng và mục đích nghiên cứu
2.1 Đối tợng nghiên cứu:
Luận văn tiến hành khảo sát 37 truyện ngắn trong “Tuyển tập truyện
ngắn Nguyễn Huy Thiệp” do Anh Trúc tuyển chọn, Nxb Phụ nữ, 2002: “Chảy đi
sông ơi, Tớng về hu, Cún, Không có vua, Muối của rừng, Con gái Thuỷ Thần, Những ngời thợ xẻ, Những bài học nông thôn, Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết, Sang sông, Thơng nhớ đồng quê, Ma Nhã Nam, Những ngọn gió Hua Tát, Tâm hồn mẹ, Huyền thoại phố phờng, Giọt máu, Chút thoáng Xuân Hơng, Ma, Nguyễn Thị Lộ, Trơng Chi, Đời thế mà vui, Thiên văn, Tội ác và trừng phạt, Thơng cả cho
đời bạc, Chăn trâu cắt cỏ, Hạc vừa bay vừa kêu thảng thốt, Lòng mẹ, Không khóc
ở California, Truyện tình kể trong đêm ma, Đa sáo sang sông, Sống dễ lắm, Thổ cẩm, Những ngời muôn năm cũ, Chuyện ông Mòng, Chú Hoạt tôi
2.2 Mục đích nghiên cứu:
Trang 5Qua khảo sát các phát ngôn hội thoại, biểu hiện ý nghĩa của chúng, đề tài
đi vào tìm hiểu “Nghĩa hàm ngôn trong lời thoại nhân vật qua truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp”, từ đó rút ra những đặc điểm phong cách ngôn ngữ của ông.
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Sau 1975 cuộc sống của dân tộc đã hoàn toàn thay đổi, chuyển từ thời chiến sang thời bình Nhng có thể nói nó thật sự sôi động, thật mang sự sống, sự quẫy đạp mạnh mẽ để tái sinh thì phải đến những năm đất nớc ta bớc vào chặng đ-ờng đổi mới Cuộc sống của mỗi con ngời của toàn xã hội trở nên phong phú hơn,
đa dạng hơn, sâu sắc và toàn diện hơn Văn học cũng hồi sinh sâu sắc, phức tạp, toàn diện, đa dạng, phong phú nh con ngời và xã hội Có thể nói một hớng kết tinh
đầy ấn tợng, sâu sắc của đổi mới văn học là sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp
“Hiện tợng Nguyễn Huy Thiệp” đó là thành quả của sự đổi mới văn học
Nguyễn Huy Thiệp - một cây bút mà ngay cả những ngời nặng lời chê trách cũng phải thừa nhận là “tài năng”, “độc đáo”, “sắc sảo” - ta không thể không quan tâm đến cái “hơi” và “tiếng” lạ lùng “gây sửng sốt đến bất ngờ” (Mai Ngữ - Quân đội nhân dân 28/8/1988) bao trùm toàn bộ truyện ngắn của anh “Phong cách Nguyễn Huy Thiệp hai lần kỳ lạ” (Vơng Trí Nhàn - Văn nghệ 26/8/1988) Vì vậy nên ta cũng phải dùng “biệt nhãn” mà soi xét nó, dùng đặc cách mà khám phá
nó - “biệt nhãn” và đặc cách này không nằm ngoài mĩ quan khoa học và nhân bản, chẳng qua nh dân sông nớc giàu kinh nghiệm “chạy buồm xem gió” nh thầy thuốc lành nghề “tuỳ chứng lập phơng”
Trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp , chữ nghĩa chắt lọc, nén chặt ,
hình tợng rất cụ thể, đồng thời chứa đựng sức khái quát lớn Những câu triết lý sắc ngọt đột xuất vì vậy, Văn Giá đã nhận xét: “Truyện Nguyễn Huy Thiệp có nhiều
ý nghĩa Một số nhân vật của anh là những ẩn dụ đa nghĩa” (Văn Giá - Văn nghệ 30/7/1988), tơng tự nh những tầng hiển ngôn, ẩn ngôn và vô ngôn trong thi ca Do
đó, đọc truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp không nên dừng lại ở phần “lộ thiên”:
“Điều tác giả muốn nói với chúng tôi hiện ra ở phía sau, ở bên trên hệ thống các nhân vật của anh” (Phùng Văn Tửu - Văn nghệ 12/9/1987) Đặc biệt, các ẩn ngôn
“bên trên” và các vô ngôn “phía sau” trong tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp có khi lại là những yếu tố cơ bản - Đó là “sự im lặng của sấm sét” (Mặc Nh Lôi) nh cổ nhân đã nói
Khi “đọc” Nguyễn Huy Thiệp, Văn Tâm đã có những nhận xét: “Trong
Trang 6những tác phẩm của mình một khi Nguyễn Huy Thiệp đã nói nhiều đến cái ác thì mặc nhiên trong lòng anh ý tởng thiện cũng đã đợc xác lập làm cơ sở đối chiếu và phản ứng Biết căm thù thì cũng biết yêu thơng, “Bởi chng hay ghét cũng là hay thơng” (Nguyễn Đình Chiểu) - Có điều nói về cái ác, thái độ Nguyễn Huy Thiệp nhiều khi khá lạnh lùng, “không run tay” đâu biết rằng ở giữa, đằng sau những dòng chữ tởng nh giá lạnh ấy là một “nỗi đau nhân tình” Nhng tơng tự nh nghệ thuật múa chèo: có hai loại động tác biểu hiện chứa đựng nội dung cơ bản, có loại
động tác minh hoạ lời hát, có loại động tác chỉ là trang sức Trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp có những chi tiết quan trọng, nhng lại có những chi tiết ít ý nghĩa cần lớt qua, do đó cách cảm của ngời đọc cần phải nắm bắt toàn khối “cơ cấu nghệ thuật”, tổng hoà hiện với ẩn, cách cảm nhận xuyên tầng” [ 15, tr 299 - 300]
Hoàng Ngọc Hiến trong bài viết “Tôi không chúc cho bạn thuận buồm
xuôi gió” đã viết: “Dẫu là kể chuyện cổ tích, Nguyễn Huy Thiệp trớc sau viết về
cuộc sống ngày hôm nay Và tác giả đã nhìn thẳng vào sự thật của đời sống hiện tại Tác giả đã không ngần ngại nêu lên những sự bê tha, nhếch nhác trong cuộc sống, kể cả những sự thật rùng rợn, khủng khiếp” [15, tr 9 - 10] “Nói về những sự
đốn mạt, hèn kém của con ngời, câu văn của Nguyễn Huy Thiệp thờng man mác cảm giác tê tái Đằng sau cảm giác này là nỗi đau nhân tình Một nỗi đau âm thầm lặng lẽ nhng sâu sắc” “Ngòi bút trào phúng của Nguyễn Huy Thiệp vừa tàn nhẫn, vừa xót xa Tàn nhẫn có nghĩa là “không đợc thơng con ngời”, đấy là mệnh lệnh của lơng tâm và tác giả đã đi đến cùng, phơi bày sự đốn mạt của con ngời Nhng cuối cùng thì vẫn cứ xót xa, “không thể không thơng con ngời” [15, tr 14]
Nguyễn Thanh Sơn khi “Đọc truyện Nguyễn Huy Thiệp” đã phát hiện ra vẻ
đẹp tiềm ẩn bên ngoài cái lớp vỏ xù xì, thô ráp trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp: “Mọi sự so sánh đều khập khiễng, nhng đối với riêng tôi, những truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp cũng giống nh những viên ngọc biện hoà, những viên ngọc với lớp đá vỏ xù xì thô ráp bên ngoài và nó đẹp nhất chính vì ng-
ời ta biết trong lớp đá đó tiềm ẩn một viên ngọc” [15, tr 118]
Ngọc Oanh trong bài viết “Để đánh giá đầy đủ sáng tác của Nguyễn Huy
Thiệp ” đã viết: “Trong các cây bút trẻ, Nguyễn Huy Thiệp khá nổi bật Anh quả
là mới mẻ lạ lẫm, thật lạnh lùng những khi phơi bày, lột tả sự sa đoạ của nhân cách, hành vi, ngôn ngữ của nhân vật Song càng đọc kỹ, càng cảm thấy nỗi đau, niềm thơng của anh về thân phận những con ngời bị ruồng bỏ, xô đẩy đến tận đáy
Trang 7xã hội Nếu là một tuyên ngôn, thì phải nói rằng tuyên ngôn của Nguyễn Huy Thiệp cao quý lắm, và đạt đợc cũng khó khăn lắm.” [15, tr430].
Qua sự phân tích các ý kiến của các tác giả đi trớc, chúng tôi thấy phần lớn
họ mới dừng lại ở nhận xét tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp dới góc độ lý luận phê bình chứ cha có công trình nào đi sâu khảo sát một cách đầy đủ nghĩa hàm ngôn trong lời thoại nhân vật Nguyễn Huy Thiệp
Đó là lý do để chúng tôi đi sâu tìm hiểu vấn đề: “Đặc điểm nghĩa hàm ngôn
trong lời thoại nhân vật qua truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp”, qua đó góp thêm
một cách nhìn, cách đánh giá về tài năng của anh - nhà văn “hai lần kỳ lạ”
4 Phơng pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu “Nghĩa hàm ngôn trong lời thoại nhân vật qua
truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp”, chúng tôi sử dụng một số phơng pháp chủ yếu
sau:
4.1 Phơng pháp thông kê - phân loại
Đề tài đi vào khảo sát toàn bộ truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp trong
“Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp” do Anh Trúc tuyển chọn (Nxb Phụ nữ, 2002) Từ đó tách chọn những truyện ngắn, những cuộc đoạn thoại, hay cặp l-ỡng thoại (tức mảng hội thoại) có chứa hiện tợng hàm ngôn cần nghiên cứu
Những truyện ngắn, những mảng hội thoại này sẽ là những ví dụ minh hoạ làm sáng tỏ những nhận xét, những luận điểm đã nêu
4.2 Phơng pháp miêu tả
Trên cơ sở khảo sát toàn bộ tập truyện ngắn, chúng tôi tiến hành miêu tả các kiểu nghĩa hàm ngôn trong lời thoại của các nhân vật, các phơng thức cấu tạo hàm ngôn trong các lời thoại đó Trên cơ sở đó chỉ ra đặc trng riêng về ngôn ngữ hội thoại của Nguyễn Huy Thiệp khác với các tác giả khác
4.3 Phơng pháp phân tích tổng hợp
Từ sự phân tích những truyện ngắn, những mảng thoại cụ thể chúng tôi đi
đến khái quát những kiểu nghĩa hàm ngôn hội thoại cơ bản và những phơng
thức cấu tạo hàm ngôn chủ yếu của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
4.4 Phơng pháp so sánh
Sau khi khái quát những kiểu nghĩa hàm ngôn hội thoại cơ bản và những
Trang 8phơng thức cấu tạo hàm ngôn hội thoại chủ yếu của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp Trên cơ sở đó chúng tôi so sánh phong cách của Nguyễn Huy Thiệp với phong cách của Nguyễn Công Hoan qua việc sử dụng hàm ngôn Từ đó để thấy đ-
ợc nét đặc thù trong phong cách của Nguyễn Huy Thiệp
5 Cái mới của đề tài
Đây là đề tài đầu tiên đi sâu tìm hiểu một cách đầy đủ, có hệ thống những kiểu nghĩa hàm ngôn qua lời thoại nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
và qua đó khẳng định tài năng lớn của ông
6 Cấu trúc của đề tài
Đề tài ngoài phần mở đầu, phần kết luận và mục tài liệu tham khảo đợc cấu tạo gồm 3 chơng:
Trang 9ch ơng 1 : Một số khái niệm giới thuyết xung quanh đề tài
1.1 Nghĩa hàm ngôn của văn bản hội thoại
Khái niệm nghĩa hàm ngôn đợc sử dụng không đồng nhất ở những tác giả khác nhau:
Tác giả SGK Tiếng Việt lớp 12 khẳng định: “Một câu nói ngoài cái nội dung mà nó trực tiếp nói ra bằng từ ngữ (nghĩa tờng minh) còn thông báo cho ngời nghe nhiều điều không thấy trong nghĩa nguyên văn của từ ngữ (nghĩa hàm ẩn) Nghĩa hàm ẩn bao gồm TGĐ và hàm ngôn” [7, tr93]
Tác giả Nguyễn Đức Dân cũng cho rằng ngoài nghĩa hiển ngôn, câu còn chứa đựng một thôn tin không biểu hiện khác gọi là nghĩa hàm ngôn Nghĩa hàm ngôn bao gồm TGĐ và hàm ý Hàm ý lại chia ra hai nhóm:
mà đoán ra” [99,40] Còn tác giả C.J.Phillmore thì viết: “Trong ngữ nghĩa của câu, của lời có hai cấp bậc thông báo: cấp bậc hàm ngôn hay TGĐ và cấp bậc hiển ngôn” [101,277]
Theo Hoàng Phê, trong giao tiếp bằng ngôn ngữ thì cái đã biết là hiển ngôn
và TGĐ, tức là những gì đã nói ra một cách trực tiếp và những gì coi nh đã biết rồi trong những điều kiện nhất định, còn cái cha biết là hàm ngôn [52b,108]
Tác giả Hồ Lê thì chia ra:
ý nghĩa hiển hiện là loại ý nghĩa mà các phơng tiện dùng để biểu hiện nó
đều hiện rõ trên bề mặt - hình thức của phát ngôn ý nghĩa hàm ẩn là ý nghĩa mà các phơng tiện hoặc điều kiện để thể hiện nó đều không hiện rõ lên trên bề mặt -
Trang 10hình thức của phát ngôn Chúng ẩn tàng ở đâu đó, hình nh ở “bên dới” hoặc “đằng sau” bề mặt - hình thức của phát ngôn [52b,52] Ông chia ra cấu trúc nghĩa của câu là hiển ngôn ( = TGĐ và hiển nghĩa) và hàm ngôn ( = hàm nghĩa và hàm ẩn).
Từ việc chỉ rõ sự không đồng nhất trong việc sử dụng khái niệm nghĩa hàm ngôn ở những tác giả khác nhau, ngời viết cuốn “Ngữ nghĩa lời hội thoại” đã rút
ra nhận xét đúng đắn: “dù gọi bằng một số tên gọi khác nhau: nghĩa hàm ngôn, nghĩa hàm ẩn, hàm ý hội thoại thì đa số các tác giả đều thừa nhận một điều là trong phát ngôn, bên cạnh nghĩa bề mặt do câu chữ thể hiện, còn có một loại nghĩa do suy luận mới có đợc - đó chính là nghĩa hàm ngôn”
Từ nhận xét đó tác giả đi tới một định nghĩa về hàm ngôn nh sau: “Nghĩa hàm ngôn là nghĩa thực của một phát ngôn có thể suy ra trên một cấu trúc bề mặt
cụ thể, gắn với một ngữ cảnh cụ thể”
Chúng tôi thống nhất với quan điểm đó của tác giả cuốn sách Trên nền tảng của sự thống nhất đó, chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu sự biểu hiện của nghĩa hàm ngôn trong hội thoại truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp và phơng thức cấu tạo nghĩa hàm ngôn hội thoại trong những truyện ngắn tiêu biểu của nhà văn “kỳ lạ” này
1.2 Không gian và thời gian gắn với cuộc hội thoại nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp.
Hội thoại có thể là một cuộc thoại, đoạn thoại, hay chỉ cặp lỡng thoại
giữa hai nhân vật (hoặc nhiều nhân vật) Mặc dù lời hội thoại của nhân vật đợc bố trí, sắp xết theo ý đồ chủ quan ngời sáng tác, nhng chúng bao giờ cũng phải diễn
ra trong một không gian, một thời gian nhất định (tức diễn ra trong một ngữ cảnh
cụ thể, xác định)
Ngữ cảnh tồn tại ngoài câu, không tồn tại trên hình thức bề mặt của câu
nh-ng có ảnh hởnh-ng rất lớn đến nh-nghĩa của câu Để khảo sát tìm hiểu nh-nghĩa hàm nh-ngôn trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp một cách có hiệu quả, chúng ta không thể không đề cập tới yếu tố ngữ cảnh trong các truyện ngắn của ông
1.2.1 Không gian.
1.2.1.1 Không gian để các cuộc thoại diễn ra thờng là không gian sinh tồn gắn với mỗi thời đại mà cá nhân đó đang sống Đó là khoảng không gian rộng lớn nh vùng thành thị, nông thôn, vùng biển, rừng núi, vùng đồng bằng hay một không gian hẹp: sân bay, nhà hàng, lớp học, nhà riêng, mảnh sân, vờn cây, góc bếp, chiếc giờng cá nhân Những không gian này chi phối nhân vật sử dụng vốn
từ ngữ, cách vào đề, cách nói chuyện, nội dung hội thoại, cách giải quyết sự việc
Trang 111.2.1.2 Trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, không gian rộng lớn đó chính là thời đại mà anh sống, anh phản ánh vào trong tác phẩm của mình Còn không gian hẹp, đó là những địa điểm, bối cảnh cụ thể mà nhân vật sống, nói năng giao tiếp Không gian hẹp ở đây bao gồm không gian gia đình, không gian sông
nớc, không gian rừng núi.
1.2.1.2.1 Chiếm tỉ lệ lớn trong các truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp
đó là “không gian gia đình” làm nền cho đối thoại: Tớng về hu, Không có vua,
Những bài học nông thôn, Huyền thoại phố phờng, Giọt máu Trên nền không
gian ấy, con ngời phải đối mặt với thực tại cuộc sống biết bao khó khăn, phức tạp
Đó là cuộc sống bon chen để dành giật cái ăn, cái mặc, là sự tính toán, mu toan một cách lạnh lùng sắc sảo
Chẳng hạn , đó là cuộc thoại của gia đình lão Kiền trong một buổi sáng sớm (vào lúc một giờ sáng) khi Khiêm dậy để chuẩn bị đi làm:
“Khiêm để đồng hồ báo thức một giờ sáng Khi chuông reo, Khiêm dậy
ngay, đánh răng súc miệng rồi dắt xe đi Tốn ra khoá cửa Đoài bị mất ngủ càu nhàu: “Thật là giờ làm việc của quân đạo tặc” Ba giờ sáng, lão Kiền dậy, cắm bếp điện đun nớc pha chè Cái ổ cắm bếp điện bị hở, chữa nhiều lần nhng cứ ít hôm lại có ngời bị điện giật đến thót, lão Kiền bị điện giật, bèn chửi: “Cha chúng mày, chúng mày ám hại ông Chúng mày mong ông chết, nhng trời có mắt, ông còn sống lâu” Đoài nằm trong giờng nói vọng ra: “ở đâu không biết, chứ ở nhà này thì lá vàng còn ở trên cây, lá xanh rụng xuống là chuyện thờng tình” Lão Kiền chửi: “Cha mẹ mày, mày ăn nói với bố thế à? Tao không hiểu thế nào ngời ta lại cho mày làm việc ở Bộ giáo dục!” Đoài cời: “Họ xét lý lịch,
họ thấy nhà mình truyền thống, ba đời trong sạch nh gơng” Lão Kiền lẩm bẩm:
“Chứ không à? Chúng mày thì tao không biết, nhng từ tao ngợc lên, nhà này cha
có ai làm gì thất đức” Đoài bảo: “Phải rồi Một miếng vá xăm đáng một chục nhng tơng lên ba chục thì có đức đấy” Lão Kiền bảo: “Mẹ cha mày, thế mày nâng bát cơm lên miệng hàng ngày mày có nghĩ không?” Khảm rên rỉ: “Thôi thôi anh Đoài ơi, anh thơng em với, hôm nay em phải thi vấn đáp môn triết học
đấy” Đoài bảo: “Triết học là thứ xa xỉ của bọn mọt sách Chú có
thấy cái chuỗi hạt nhựa đeo cổ của chị Sinh không? Nó là triết học đấy”
(Không có vua [19, tr 64 - 65]) Trong “Tớng về hu” tất cả các màn đối thoại đều diễn ra trong gia đình t-ớng Thuấn, mọi thành viên trong gia đình này: cha - con, vợ - chồng, chủ - tớ, anh
- em đều góp mặt vào các cuộc thoại Khi ngời chị dâu chết, ông Bổng chỉ xoay
Trang 12quanh đống ván đóng quan tài: “Ông Bổng hỏi: “Ván mấy phân?” Tôi bảo: “Bốn
phân” Ông Bổng bảo: “Mất mẹ ba bộ sa lông ( ) Bao giờ bốc mộ cho chú bộ ván” [19, tr 32].
Hay đó là cuộc đối thoại của ông Thuấn -Thuỷ - Thuần đứng ở “dãynhà
vợ tôi nuôi chó và gà công nghiệp”:
Tôi hỏi: “Có chuyện gì thế?” Ông bảo: “Ông Cơ và cô Lài vất vả quá
Họ làm không hết việc, cha muốn giúp họ đợc không?” Tôi bảo: “Để con hỏi Thuỷ” Vợ tôi bảo: “Cha là tớng, về hu cha vẫn là tớng Cha là chỉ huy Cha mà làm lính thì dễ loạn cờ” [19, tr 23].
Trong “Huyền thoại phố phờng” cũng vậy, cuộc thoại của các nhân vật với đủ thứ quan hệ đều đợc thực hiện trong gia đình bà Thiều, ngôi nhà của bà Chẳng hạn cuộc thoại giữa bà Thiều và Hạnh khi Hạnh đến để “thả mồi câu” nhằm đổi lại cái vé số:
“- Cô độc đáo lắm! - Hạnh thả mồi câu - Những ngời phụ nữ độc đáo
bây giờ rất hiếm !
- Thế cô độc đáo chỗ nào? - Bà Thiều thú vị và khép vạt áo ra phía
đằng trớc.
- Cô độc đáo trên toàn cơ thể - Hạnh nói và giọng bỗng dng đổi khác,
đôi mắt xoáy vào bờ vai tròn lẳn của ngời đàn bà, hai bên cơ hàm tự dng cứng lại - Trông cô hấp dẫn nh một thiếu nữ đơng thì.” [19, tr 381].
1.2.1.2.2 Không gian rừng núi:
Khác với những truyện: “Tớng về hu”, “Không có vua” không gian trong “Những ngời thợ xẻ” không bị bó hẹp trong không khí gia đình chật chội, bức bối mà các nhân vật ở đây sống giao hoà với thiên nhiên rộng lớn Giữa khung cảnh đó các nhân vật ở đây đối thoại với nhau cũng tự nhiên, thoải mái hơn
Đó là cuộc đối thoại của anh Bờng - nhân vật tôi khi mà ông Thuyết đa
họ đến một nơi rừng rậm vắng lạnh xẻ gỗ, rồi ông ra về, chỉ còn trơ trọi lại những
kẻ đi làm thuê Trớc cái cảnh rừng hoang vắng ấy, anh Bờng cảm thấy một nỗi nhục, một nỗi khổ đau vất vả và anh đã phải rít lên: “Anh Bờng chửi: “Tiên s đời,
khốn nạn cha! Các con ơi, các con, các con đã biết đời là gì cha:” Tôi bảo:
“Cái ông Thuyết trông kinh nhỉ?” Anh Bờng bảo: “Làm việc đi chúng mày!
Thằng Biên thằng Biền chuẩn bị ca! Tao với thằng Ngọc làm lán Dĩnh ơi, mày
đi xung quanh đây xem chỗ nào có nớc không?” 19, tr 157]).
Trang 131.2.1.2.3 Không gian sông nớc:
Không gian này gợi lên trong ngời đọc một cái gì đó trôi nổi, bấp bênh Đối thoại của các nhân vật trong bối cảnh này thờng ngắn gọn, ít khi dài dòng lý sự Đó là không gian trong “Chảy đi sông ơi”, “Sang sông” Các nhân vật
đối thoại với nhau đều diễn ra trên con thuyền trôi nổi trên dòng sông Đó là cuộc
đối thoại của lão Trùm Thịnh với “Tôi”, hay là cuộc đối thoại giữa “Tôi” với chị Thắm trong “Chảy đi sông ơi” Còn trong “Sang sông” thì cuộc thoại của các nhân vật lại cứ liên tiếp, nối tiếp nhau diễn ra trên một con đò sang sông :
“ Anh ngồi nhích xa cô gái:
- Đàn bà quỷ sứ Tất cả đều chẳng ra gì Bẩn thỉu ” [19, tr263] “ Tên mặc áo ca rô ngồi xuống đỡ lấy chiếc bình, hắn vừa xoay chiếc bình, vừa cằn nhằn:
cả đời ngời của bà
Tóm lại: Không gian trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp là không gian sinh tồn Đó là nơi mà con ngời sống, sinh hoạt, nói năng, giao tiếp Ngoài không gian gia đình, rừng núi và sông nớc nh đã nói ở trên, không gian còn đợc trải rộng từ Thành phố (Huyền thoại phố phờng) đến nông thôn (Những bài học
nông thôn), từ miền núi rừng (Những ngọn gió Hua Tát) đến miền biển cả (Con gái thuỷ thần).
1.2.2 Thời gian.
1.2.2.2 Khái niệm thời gian.
Theo Hoàng Phê thì thời gian là:
(1) Hình thức tồn tại cơ bản của vật chất (cùng với không gian) trong
đó vật chất vận động và phát triển liên tục, không ngừng
(2) Khoảng thời gian nhất định xét về mặt dài ngắn, nhanh chậm của nó
Trang 14(3) Khoảng thời gian trong đó diễn ra sự việc từ đầu cho đến cuối.
Thời gian, khi đi vào tác phẩm văn học - nghệ thuật thì trở thành thời gian nghệ thuật, và đó là “khoảng thời gian trong đó diễn ra sự việc từ đầu đến cuối”
2.1.2.2 Biểu hiện thời gian trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
Thời gian trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp chủ yếu là thời gian
hiện tại.
Nguyễn Huy Thiệp nh Hoàng Ngọc Hiến đã từng nhận xét: “Dẫu là kể
chuyện cổ tích, Nguyễn Huy Thiệp trớc sau viết về cuộc sống ngày hôm nay Và tác giả đã nhìn thẳng vào sự thật của đời sống hiện tại Tác giả đã không ngần ngại nêu lên những sự bê tha, nhếch nhác trong cuộc sống, kể cả những sự thật rùng rợn, khủng khiếp” Do đó các nhân vật giao tiếp, suy nghĩ những việc trong
hiện tại - thời gian của bây giờ
Thời gian trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp đợc cụ thể hoá là thời gian buổi sáng, buổi chiều và buổi tối
Về sáng là thời gian con ngời đang đắm chìm trong giấc ngủ, và đây cũng là thời gian mà mọi tiếng động của côn trùng, của hoạt động đều yên ắng, mọi hoạt động đang ở trong trạng thái “tĩnh lặng” Song Nguyễn Huy Thiệp đã chọn cái thời điểm “yên ắng” này để làm nền cho cuộc thoại của bố con lão Kiền Thời điểm một giờ sáng là lúc mà Khiêm phải bắt đầu một ngày làm việc của mình Chính sự thức giấc dậy sớm của Khiêm đã làm nên một sự xáo động cái
“tĩnh lặng” của không gian canh khuya và chính nó đã dẫn đến những đối thoại chì chiết, đay nghiến, mỉa mai của anh em, bố con trong gia đình:
“Đoài bị mất ngủ, càu nhàu: “Thật là giờ làm việc của quân đạo tặc”
[19, tr 64].Bắt đầu từ thời gian ấy đến ba giờ sáng lão Kiền dậy thì cuộc đối thoại lại tiếp tục diễn ra:
“Lão Kiền bị điện giật, bèn chửi: “Cha chúng mày, chúng mày ám hại
ông Chúng mày mong ông chết, nhng trời có mắt, ông còn sống lâu” Đoài nằm trong giờng nói vọng ra: “ở đâu không biết, chứ ở nhà này thì lá vàng còn ở trên cây, lá xanh rụng xuống là chuyện thờng tình” Lão Kiền chửi: “Cha mẹ mày, mày ăn nói với bố thế à? Tao không hiểu thế nào ngời ta lại cho mày làm việc ở Bộ giáo dục!” Đoài cời: “Họ xét lý lịch, họ thấy nhà mình truyền thống,
ba đời trong sạch nh gơng” Lão Kiền lẩm bẩm: “Chứ không à? Chúng mày thì
Trang 15tao không biết, nhng từ tao ngợc lên, nhà này cha có ai làm gì thất đức” Đoài bảo: “Phải rồi Một miếng vá xăm đáng một chục nhng tơng lên ba chục thì có
đức đấy”
(Không có vua [19, tr 64])
Buổi sáng thức dậy là lúc tâm hồn con ngời đợc th thái nhất Thời gian ấy
đã làm nền cho cuộc thoại chứa đầy tình nghĩa của nhân vật “Tôi” và chị Thắm -
“một phụ nữ khăn trùm kín mặt”: Sự cứu vớt nhân vật “Tôi” khỏi cái chết của chị Thắm đã làm cho nhân vật “Tôi” không khỏi cảm động Sự chăm sóc chu đáo, dịu dàng, ân tình của chị đã để lại trong lòng nhân vật “Tôi” một kỷ niệm đẹp, mà đến sau này “Tôi” vẫn không thể nào quên đợc Và chính cái buổi sáng ấy “trời đẹp tuyệt với” hơn bất cứ buổi sáng nào
Buổi chiều là thời gian thờng trực trong các cuộc thoại của Nguyễn Huy
Thiệp Dù là trong mối quan hệ gia đình hay xã hội thì qua lời thoại của các nhân vật ta thấy nổi lên trên là sự chì chiết, đay nghiến, sự tính toán và những mánh khoé trục lợi trong thời hiện đại của những con ngời hiện đại Đó là một buổi chiều diễn ra cuộc đối thoại trong gia đình lão Kiền xoay quanh việc Sinh mất chiếc nhẫn và việc lão Kiền nhìn trộm nàng dâu tắm: “Lão Kiền vội tụt xuống
ghế, nép vào cánh cửa, lát sau chạy ra hỏi: “Sao đánh nó” Đoài bảo: “Nó vô giáo dục thì đánh” Lão Kiền chửi: “Thế mày có giáo dục à?” Đoài nghiến răng nói khẽ: “Tôi cũng vô giáo dục nhng không nhìn trộm phụ nữ cởi truồng”
(Không có vua [19, tr 74 - 75]).Buổi chiều cũng là lúc diễn ra những cuộc đối thoại để tính toán, chia bơi, trao trả lợi nhuận cho nhau đúng theo kiểu “tiền trao cháo múc” của anh công nhân nông trờng tên là Trần Quang Hạnh với anh Bờng
Chiều về cũng là lúc sau một ngày làm việc mệt nhọc, con ngời cần đợc
nghỉ ngơi Song chính lúc này lại là lúc diễn ra những hành động bỉ ổi, vô nhân
đạo của anh Bờng Anh đã không nén đợc cái thú tính dục vọng của mình và anh
đã trơ tráo, thẳng thừng để hiếp dâm cô bé mới mời bảy tuổi đầu Chính hành
động bỉ ổi này của anh đã dẫn đến một trận đánh nhau quyết liệt giữa anh Bờng và
“Tôi” Có sự xung đột này là do sự trái ngợc nhau về quan niệm sống và quan niệm đạo đức của hai ngời Vì vậy anh Bờng mới mỉa mai, cời cợt “Tôi”: “Thế
nào Tiến lên đi chứ, công tử bột! Hãy mang chiến thắng về nộp dới chân nàng
Đuyn xi nê ở làng Tôbôdô!”
(Những ngời thợ xẻ [19, tr 176 - 177])
Trang 16Chập tối là thời điểm mà nhân vật “Tôi” bỏ nhà ra đi “mặc kệ sách vở”
để đi đến bến bờ “năn nỉ” những ngời đánh cá mòi” để đợc cùng đi đánh cá đêm với họ, mong sao sẽ gặp đợc huyền thoại về con trâu đen
Buổi tối là lúc mọi thành viên trong gia đình có thể sum vầy bên nhau
để tâm sự, trao đổi những điều, những việc đang xảy ra và cần bàn đến Đó là buổi tối diễn ra cuộc thoại giữa tớng Thuấn và con trai của mình (Thuần):
Ông bảo: “Cha muốn nói chuyện với con” Tôi pha cà phê, cha tôi không uống Ông hỏi: “Con có để ý công việc của Thuỷ không con? Cha cứ rờn rợn”
(Tớng về hu [19, tr 27])
Đó là một buổi tối trong gia đình lão Kiền Xoay quanh việc lão Kiền ốm, mấy anh em phải họp bàn để tính toán những chi tiêu bị hụt trong gia đình và
đồng thời cũng lấy “biểu quyết” về việc “sống” hay “chết” của bố:
Cấn bảo: “Làm thế nào? Từ khi bố ốm nhà mình tiêu nhiều tiền lắm” (Không có vua [19, tr 683])
Đoài bảo: “Tôi nghĩ bố già rồi, mổ cũng thế, cứ để chết là hơn” Tôi khóc hu hu Cấn hỏi: “ý chú Khảm thế nào?” Khảm bảo: “Các anh thế nào thì
em thế” Cấn hỏi: “Chú Khiêm sao im thế?” Khiêm hỏi: “Anh định thế nào” Cấn bảo: “Tôi đang nghĩ” Đoài bảo: “Mất thì giờ bỏ mẹ Ai đồng ý bố chết giơ tay, tôi biểu quyết nhé”
(Không có vua [19, tr 84])
Ban đêm là lúc con ngời đang đắm chìm trong giấc ngủ và không gian
yên tĩnh của cảnh vật cũng đang hoà nhịp cùng sự nghỉ ngơi của con ngời Song một tiếng kêu “rất thảm thiết” của con hoẵng đã phá tan đi sự tĩnh lặng của không gian và nó tác động luôn đến con ngời Nhân vật “tôi” không sao ngủ đợc vì tâm hồn nhạy cảm, đa cảm của anh Từ tiếng kêu của hoẵng anh liên tởng đến sự lý giải quy luật của cuộc sống Đối lập với anh thì anh Bờng với sự vô tâm, thờ ơ của mình anh đã cáu và chế giễu sự nhạy cảm của nhân vật “Tôi”
Hay cái thời gian ban đêm này cũng là lúc để cho Hạnh (trong truyện
“Huyền thoại phố phờng”) tính toán, suy nghĩ để tìm mu kế:
“Mẹ kiếp Hạnh nghĩ - Bọn này coi đồng tiền nh rác ”
( Huyền thoại phố phờng [19, tr 376 - 377])
Trang 171.2.2.3 Ngoài thời gian hiện tại - thời gian chủ yếu trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp, thì còn có thời gian hồi tởng - là thời gian mà nhân vật tái hiện qua hồi ức hay sự hồi tởng
Có thể đó là hồi ức về một kỷ niệm “vui ghê lắm” mang đầy vẻ hài hớc của chị Hiên khi kể cho Hiếu nghe về một buổi tối đi xem chèo, tuồng ở nhà quê:
“Chị Hiên ngừng một lát rồi bỗng bật cời: “Có mấy tay thanh niên ở
Duệ Đông đứng sau chúng tôi Một tay dí chim vào đít cái Lợc Cái Lợc bảo:
“Làm gì thế?” Tay này cũng dơ, nói thản nhiên: “Làm chủ nhiệm hợp tác xã”
Cái Lợc mắng: “Thôi đi chứ” Tay này lại bảo: “Nhân Dân tín nhiệm thì tôi còn làm”
(Những bài học nông thôn [19, tr 194- 195])
Có thể là một hồi ức đầy rùng rợn của lão Tảo kể cho nhân vật “Tôi” nghe
về chuyện lão kéo lên một cái đầu lâu ngời chết: “Tóc xoã rũ rợi vơng những sợi
rong dài nh giun đũa Cái đầu ngâm nớc trơng phình, mõm nh quả thị Máu bết
ở hai lỗ mũi nhơm nhớp nh nớc dãi ngời ”
(Chảy đi sông ơi [19, tr 8])
1.2.3 Tiểu kết
- Không gian, thời gian hội thoại trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
đ-ợc xem xét, nhìn nhận dới không gian, thời gian tổng thể của tác phẩm Không gian sinh tồn và thời gian hiện tại, hiện thực, chúng gắn bó với nhau tạo nên một chỉnh thể thống nhất, hoàn chỉnh
- Không gian- thời gian trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp là không gian - thời gian gắn với cuộc sống hiện tại, thờng nhật - không phải là không gian
- thời gian cách điệu, có tính biểu trng
1.3 Nhân vật và ngôn ngữ nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp.
Trang 18niệm nghệ thuật của nhà văn về con ngời, nó có thể đợc xây dựng chỉ dựa trên cơ
sở quan niệm ấy
Nhân vật văn học là một trong những khái niệm trung tâm để xem xét sáng tác của một nhà văn, một khuynh hớng, trờng phái hoặc dòng phong cách” [2, tr 250 - 251]
1.3.1.2 Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp là một
thế giới sinh động, đa dạng và phức tạp Nguyễn Huy Thiệp không dụng công để xây dựng cho một kiểu nhân vật cụ thể nào cả, mà nhân vật trong truyện ngắn của
ông có đầy đủ những đặc điểm của con ngời thực ở trong cuộc sống hiện tại đời thờng Đó là “những con ngời này”, nó không lẫn lộn với bất kỳ một nhân vật nào khác
Đó là những nhân vật đợc hiện lên với những nét đẹp cao cả, dịu dàng của ngời phụ nữ, nh Hoàng Ngọc Hiến gọi họ là những “thiên tính nữ” Chị Thắm trong “Chảy đi sông ơi”, cả đời chị “âm thầm lặng lẽ cứu ngời chết đuối, nhng
đến khi chị bị thì có ai cứu chị đâu:
“Khốn nạn! Nhà Thắm cứu đợc không biết bao nhiêu ngời ở khúc sông
này Thế mà cuối cùng nó lại chết đuối mà không ai cứu”
[19, tr 17].Hay là chị Sinh trong gia cảnh “Không có vua”, chị phải sống trong một môi trờng “nhốn nháo”, “ô hợp” nhng chị vẫn giữ đợc vẻ đẹp trong sáng, tinh khiết của mình Và đặc biệt vẻ đẹp còn đợc thể hiện bằng sự hy sinh, cảm thông của chị: “Khổ chứ Nhục lắm Vừa đau đớn, vừa chua xót Nhng thơng lắm”
Và vẻ đẹp hoàn mỹ lung linh nhất lại đợc Nguyễn Huy Thiệp xây dựng trong hình tợng Xuân Hơng trong “Chút thoáng Xuân Hơng” Ngời đàn bà này là hiện thân cho tất cả những gì cao cả tốt đẹp của con ngời
Nhân vật “Tôi” trong “Những ngời thợ xẻ” là một con ngời đã trải qua
đau thơng, trải qua sự lừa dối của một ngời con gái, cho nên anh nhìn cuộc đời trong con mắt bi quan, sự bi quan này đã dẫn đến sự cô đơn của anh Tuy vậy vẻ
đẹp thiên nhân trong con ngời anh không bị bào mòn đi Nó trở thành linh cảm giác quan để bảo vệ cho sự trong trắng tinh khiết của con ngời
Kiểu nhân vật nh vậy chiếm một số lợng rất ít trong tác phẩm Nguyễn Huy Thiệp, mà chủ yếu trong truyện ngắn của anh là những nhân vật “nhếch nhác”, “đốn mạt” đợc thể hiện khá sinh động và đa dạng Họ hầu hết cũng là nhân vật lao động ta thôi Họ là công nhân, là nông dân, là giáo viên, là cán bộ nhà nớc,
là thợ thủ công, rõ ràng họ không phải là “địch” mà cũng chẳng có liên quan gì
Trang 19với “địch” Nhà văn có thể biểu thị thái độ của mình đối với nhân dân bằng cách lên tiếng bảo vệ nhân dân, ca ngợi cổ vũ nhân dân Nguyễn Huy Thiệp thẳng thắn nêu lên những sự bê tha, hèn kém ở những con ngời thuộc về những tầng lớp nhân dân khác nhau, nêu lên để quốc dân thấy rõ hơn thực trạng của phong trào xã hội, hiểu rõ hơn nhân tình và thế thái hiện nay.
Đó là những ngời đàn ông trong “Không có vua”: Lão Kiền, Đoài Khảm, Cấn, Khiêm Họ là cha con, anh em, nhng lại không ngừng chì chiết, chửi rủa lẫn nhau, quan hệ ruột rà, yêu thơng của họ đợc thay bằng quan hệ “tiền trao cháo múc” (trong cảnh Đoài và Khâm làm giấy cam đoan), hay đó còn là sự vô tâm, sự tính toán đến tàn nhẫn lạnh lùng khi ngời cha lâm bệnh:
“Đoài bảo: “Tôi nghĩ bố già rồi, mổ cũng thế, cứ để chết là hơn” Tôi
khóc hu hu Cấn hỏi: “ý chú Khảm thế nào?” Khảm bảo: “Các anh thế nào thì
em thế” Cấn bảo: “Tôi đang nghĩ” Đoài bảo: “Mất thì giờ bỏ mẹ Ai đồng ý bố chết giơ tay, tôi biểu quyết nhé” [19, tr 84].
Bên cạnh sự “bất hiếu”, “vô tâm”, “tàn nhẫn” của đám con có học thức, khoẻ mạnh của lão Kiền là một đứa con bị tàn tật dị dạng Đó là nhân vật Tốn suốt ngày chỉ lê la dới sàn nhà: “Ngời không ra ngời, ngợm không ra ngợm” nhng
ẩn chứa bên trong đó là cái tâm hồn trong sáng, cao đẹp của anh Chỉ duy nhất là
đứa con với đúng nghĩa là con trong gia đình lão Kiền
Nhân vật anh Bờng trong “Những ngời thợ xẻ” thì đã không kiềm chế đợc cái thú tính bản năng của mình Anh đã hiếp một đứa bé mới mời bảy tuổi (chỉ
đáng tuổi con mình) để thoả mãn lòng ham muốn
Thuỷ trong “Tớng về hu” là một mẫu ngời khá tiêu biểu cho lối sống hiện sinh, thực dụng và đầy mâu thuẫn Đó là một ngời dâu sắc sảo, nết na, kính nể bố chồng, quý chồng, thơng con, đồng thời lại hết lòng chiều chuộng nhân tình ở bệnh viện cô ta có thể là một bác sĩ giỏi Nhng ở phút lâm chung của mẹ chồng, cô lại ngăn việc cấp cứu, quay ra chuẩn bị việc tang, là bà chủ có tài cai quản, giảo hoạt với ngời ở, ngời làm, cô quản lý chặt chẽ nhng lại rất hào phóng Say sa với mục đích kiếm tiền bằng mọi phơng tiện - kể cả việc xay thai nhi nuôi chó lấy lời Lạnh lùng, dửng dng với sự đau khổ của ngời khác nhng lại rất tỉnh táo nhạy bén đối phó trớc sự bon chen lèo lái của xung quanh, cô công khai lối sống mà tự mình xác định
Đặc biệt là Hạnh trong “Huyền thoại phố phờng” là một ngời học thức,
có cách sống chi tiêu tiết kiệm để mơ tới một tơng lai có cuộc sống tốt đẹp hơn Nhng anh đã không làm chủ đợc cách sống đó, lòng tham lam, ham muốn dấy lên
Trang 20anh đã không từ thủ đoạn nào để có thể làm giàu một cách nhanh nhất Anh đã cho tay vào những rãnh nớc thải đầy những phân ngời để mò chiếc nhẫn cho Thoa (con gái bà Thiều) nhằm để lấy lòng gia đình nàng Cha dừng lại ở đó, anh còn
đến nhà bà Thiều một lần khác để tán tỉnh, dở những trò dâm ô, bỉ ổi đối với bà Thiều để nhằm uy hiếp đổi đợc cái vé số cho bà Nhng cuối cùng thì Hạnh vẫn bị thất bại, cái vé mà Hạnh đem đi đổi thì chỉnh lại là cái số độc đắc mà bà Thiều đ-
ợc hởng, Hạnh đã hoá điên, sống không ra kiếp ngời
Nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp đều gắn với mỗi cái tên
cụ thể, và mỗi cái tên là một tính cách khác nhau Song trong truyện của anh còn
có những nhân vật không có tên cụ thể, chẳng hạn đó chỉ là nhân vật M, N trong
“Ma”, tên cao gầy, tên mặc áo ca rô trong “Sang sông” Tuy vậy mỗi nhân vật
ấy đều thể hiện đầy đủ một “tính cách” riêng biệt, không hề lẫn lộn với nhân vật nào
Bên cạnh những nhân vật khoẻ mạnh, lành lặn, thông minh, sắc nhọn thì trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp còn có những nhân vật dị dạng dở hơi Đó
là hình ảnh suốt ngày lê la dới sàn nhà của Tốn trong “Không có vua”, là hình ảnh khuôn mặt dị dạng của Cúc trong truyện cùng tên, hay đó là một cô gái dở hơi trong “Tớng về hu” Song chính những nhân vật này nó lại góp phần quan trọng vào việc thể hiện cái “tâm” đầy nhân bản của Nguyễn Huy Thiệp
Nh vậy thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp đa dạng, phức tạp và đầy sinh động Thế giới nhân vật ấy nó thể hiện đợc cái đa thanh, đa
điệu của cuộc sống hiện đại Mỗi nhân vật là một cá tính riêng biệt, mỗi cá tính góp phần mình vào bức tranh sinh động của xã hội - con ngời thời nay
1.3.2 Ngôn ngữ nhân vật
1.3.2.1 Ngôn ngữ nhân vật chính là lời nói trực tiếp của nhân vật trong tác phẩm đợc biểu đạt bằng các tín hiệu ngôn ngữ thông qua sự lựa chọn của nhà văn nhằm mục đích tái hiện một cách sinh động tính cách, đặc điểm của nhân vật
Ngôn ngữ nhân vật một mặt có “lời ăn tiếng nói” riêng, mặt khác nó phản ánh đợc đặc điểm của một tầng lớp ngời nhất định về nghề nghiệp, tâm lý, giai cấp, trình độ văn hoá
1.3.2.2 Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp đa dạng
và phức tạp Nó có đủ loại ngời: trí thức, lu manh, nông dân già có, trẻ có, trai
có, gái có Mỗi loại nhân vật đợc trang bị bằng một thứ ngôn ngữ riêng Song chung quy lại thì đó cũng chỉ là thứ ngôn ngữ đời thờng, không trau chuốt, nó phản ánh đúng cái “lõi của sự thật” là “đắng” và “chát” lắm
Trang 21Đó là ngôn ngữ lạnh lùng, tỉnh táo của ông Bổng khi lo đám tang cho chị dâu: “Mất mẹ bộ xa-lông Ai lại đi đóng quan tài bằng gỗ dổi bao giờ! Bao giờ bốc mộ cho chú bộ ván” (Tớng về hu).
Ngôn ngữ của hai con ngời trí thức (Đoài và Khảm) trong đoạn đối thoại hai anh em mặc cả với nhau xung quanh một vụ mối lái:
“ Khảm bảo: “Hai anh em mình mang tiếng có học mà tết nhất đến bộ
quần áo hẳn hoi không có” Đoài bảo: “Chỉ có con đờng lấy vợ giàu thôi Tối nay mày đa tao đến con ông ánh Sáng Ban Ngày đấy nhé” Khảm bảo: “Đợc thôi Nếu anh tán đợc thởng em cái gì?” Đoài bảo: “Thởng cái đồng hồ” Khảm bảo: “Đợc rồi! Anh ghi cho em mấy chữ làm bằng” Đoài hỏi: “Không tin tao à?” Khảm bảo: “Không” Đoài ghi vào giấy: “Ngủ đợc với Mỹ Trinh, thởng một đồng hồ trị giá ba nghìn đồng Lấy Mỹ Trinh thởng năm phần trăm của hồi môn Ngày tháng năm Nguyễn Sĩ Đoài” Khảm cất tờ giấy vào túi rồi nói:
“Cảm ơn”
(Không có vua [19, tr 79])Tâm lý vụ lợi thế tất dẫn đến quan hệ “tiền trao cháo múc” nh quan hệ giữa hai anh em ruột Đoài và Khảm
Đó là thứ ngôn ngữ dửng dng vô tâm của Thuỷ trớc cái tang tóc đau thơng của gia đình Mẹ chồng chết nhng cô vẫn tính toán bon chen lổ lãi về lợi nhuận:
“ Cô Lài khóc: “Cháu ở nhà thì bà có chết không bà?” Vợ tôi bảo
“Đừng khóc” Tôi cáu: “Cứ để cho cô ấy khóc, đám ma không có tiếng khóc
buồn lắm Nhà mình có ai biết khóc bà cụ thế đâu?” Vợ tôi bảo: “Ba mơi hai mâm Anh phục em tính sát không?” Tôi bảo: “Sát”.
(Tớng về hu [19, tr35])Hay đó là thứ ngôn ngữ chì chiết, đay nghiến độc địa của lão Kiền tronggia cảnh “Không có vua”:
“ Nh với Đoài, lão bảo: “Mày ấy à? Công chức gì mặt mày Lời nh
hủi, chữ tác chữ tộ không biết, chỉ giỏi đục khoét!” Hay với Khảm, cậu sinh viên năm thứ hai: “Đồ ruồi nhặng! Học với hành! Ngời ta dạy dỗ mày cũng phí cơm toi” Với Cấn, lão có đỡ hơn, thỉnh thoảng cũng khen, nhng lời khen lại quá lời chửi: “Hay thật, cái nghề cạo đầu ngoáy tai của mày, nhục thì nhục nhng hái
ra tiền!” Riêng với Khiêm lão ít gây sự” [19, tr 61-62].
Đó còn là thứ ngôn ngữ trắng phớ của anh Bờng khi anh đã hiếp dâm cô
bé mới mời bảy tuổi:
Trang 22“ Anh Bờng nói tiếp, giọng lạc hẳn đi: “Ngọc ơi, mày đừng đau khổ
đến thế, mày có biết vì sao cái ấy của phụ nữ các cụ gọi là gái bớm không? Nó
là một thứ có cánh, phấp pha phấp phới Nó là lộc của trời Nó đậu vào chỗ nào thì chỗ ấy đợc Có khi ngời ta phải bắt nó đây” Tôi ngồi dậy hộc ra một bãi máu lớn Tôi nói mà giọng run lên: “Anh khốn nạn lắm, con bé còn ít tuổi” Anh Bờng bảo: “Mày chẳng hiểu gì Ai lại đi tính tuổi cho bớm bao giờ Một bà già hay một cô gái đều giống hệt nhau” ”
(Những ngời thợ xẻ [19, tr 178])Nguyễn Huy Thiệp đã xây dựng những sơ đồ nhân vật khác nhau
trong mỗi truyện ngắn của mình ở đó mỗi nhân vật ứng với một “vai” nhất định
và tùy vào hoàn cảnh, môi trờng mà nhân vật sử dụng ngôn ngữ cho phù hợp Chính sự “sắm vai” của mỗi nhân vật, nó thể hiện đợc cái đa thanh của cuộc sống
Ta tiếp xúc với tác phẩm nh đang tiếp xúc với những trang đời quanh ta, ta có thể tìm thấy và nhận ra một nét gì đấy của chính mình trong đó Nh vậy qua lớp ngôn từ nhân vật ấy, tác giả muốn phản ánh đúng cái “đắng ngắt”, “tê tái” của cuộc đời, đồng thời đằng sau đó là một nỗi đau trớc nhân tình thế thái của tác giả
1.3.3 Tiểu kết
Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp là một thế giới sinh động, đa dạng và phức tạp Các nhân vật đợc thể hiện một cách trần trụi, lạnh lùng Nhng mỗi nhân vật lại thể hiện một tính cách riêng biệt, nó không lộn lẫn với bất kỳ nhân vật nào Có những nhân vật có tên cụ thể, nhng cũng có những nhân vật không có tên, có nhân vật tốt giàu lòng thơng yêu con ngời, nhng cũng
có những nhân vật hết sức đốn mạt, đê tiện Mỗi nhân vật cứ đan xen nhau tạo thành một tấm lới của cuộc đời, mỗi mắt lới là một nhân vật nó đợc ràng buộc với cuộc đời dù vui hay buồn, tủi nhục hay hạnh phúc Bằng những sợi dây vô hình con ngời trong thế giới đa dạng đó quẫy đạp càng bị xiết chặt Tất cả những mối quan hệ đó tạo thành một xã hội hiện đại vừa xô bồ, vừa nhố nhăng nhng nó cũng
có những nét đẹp dịu dàng vốn có
Bao bọc bởi thế giới nhân vật ấy là một lớp ngôn từ đời thờng, không trau chuốt Mỗi nhân vật đợc trang bị bằng một thứ ngôn ngữ riêng biệt nhằm lột tả đợc cái tính cách đặc thù của nhân vật Nó phản ánh đúng cái “lõi của sự thật”,
đó là cái sự thật xô bồ, mọi mối quan hệ đạo đức đang bị đảo lộn, con ngời đối xử với nhau bằng quan hệ “tiền trao cháo múc”
Trang 23Ch ơng 2 : Nghĩa hàm ngôn trong lời thoại nhân vật
qua truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp
2.1 Ngời trao lời sử dụng hàm ngôn
Trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, ta bắt gặp những câu trao có chứa những hàm ngôn sau:
2.1.1 Ngời trao lời sử dụng hàm ngôn để chê trách
Trang 24Trong truyện “Tớng về hu”, Thuỷ là một bác sĩ làm ở bệnh viện sản (cô con dâu của gia đình tớng Thuấn) Cô là một ngời sống theo lối sống hiện đại: nhanh nhẹn, hoạt bát, giỏi giang trong công việc tính toán làm ăn kinh doanh Thuỷ chính là con ngời của cuộc sống hôm nay Mạnh mẽ, đầy lý trí, tỉnh táo, sòng phẳng, nhiều khi thực tế đến tàn nhẫn nhng đồng thời rất biết điều, biết tôn trọng tôn ti, biết nhìn ngời đúng thực chất Còn tớng Thuấn là con ngời của thời
đại “quân bình”, ở đó con ngời sống với nhau bằng tình nghĩa anh em, đồng bào,
đồng chí Vì vậy khi về hu tớng Thuấn mới lạ lẫm với cuộc sống của con ngời hiện đại Do đó ông cảm thấy rùng rợn và quá tàn nhẫn trớc việc ông chứng kiến những mẫu thai nhi bé xíu trong nồi cám do Thuỷ mang về:
“Vợ tôi làm việc ở bệnh viện sản Công việc là nạo phá thai Hàng
ngày cái rau thai nhi bỏ đi, Thuỷ cho vào phích đá đem về Ông cứ nấu lên cho chó, cho lợn Thực ra điều này tôi biết nhng cũng bỏ qua, chẳng quan trọng gì Cha tôi dắt tôi xuống bếp, chỉ vào nồi cám, trong đó thấy có các mẫu thai nhi
bé xíu, thấy có cả những ngón tay đỏ hồng hồng Tôi lặng đi Cha tôi khóc Ông cầm phích đá ném vào đàn chó béc giê: “Khốn nạn! Tao không cần sự giàu có này” (hàm ý chê trách kiếm tiền vô nhân của Thuỷ) [19, tr 27].
Với cách kiếm tiền của Thuỷ thì không thể nào mà một vị thiếu tá quân
đội về hu nh tớng Thuấn lại có thể đồng tình đợc Vì vậy ông đã phải sống trong bao gian khó, hy sinh của cuộc chiến tranh ở đó ông và đồng đội phải ngày đêm chiến đấu để bảo vệ sự sống, đem lại cuộc sống thanh bình cho ngời dân Vậy mà khi đất nớc đã thanh bình, ông đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình trở về nghỉ ngơi thanh thản bên gia đình thì chính trong cái gia đình ông lại có ngời huỷ diệt những đứa trẻ thơ (đáng ra đó phải là sự nâng niu chăm sóc, sự xót thơng) một cách tàn nhẫn, lạnh lùng Điều đó đã làm ông quá đau đớn, xót xa trớc cái thực tại của đời sống Và cũng chính điều này đã đa đến sự lạc lõng của ông khi
ông phải đối diện với cuộc sống hiện thời
Thuỷ là ngời rất mạnh mẽ, tỉnh táo và sòng phẳng Vì vậy cô cũng thẳng thắn đa ra quan niệm sống của mình, và việc cô có nhân tình cũng là đơng nhiên không có gì phải dấu giếm:
“ Một bận, thấy trong giờng của vợ tôi có một tập thơ chép tay Vợ tôi
bảo: “Thơ của cậu Khổng anh có đọc không?” Tôi lắc đầu Vợ tôi bảo: “Anh già rồi” Bất giác tôi thoáng rùng mình” [19, tr 37]
Cậu Khổng là một ngời hàng xóm của gia đình Thuỷ, anh thích làm thơ
và cũng hay làm thơ Khổng thờng xuyên sang nhà Thuỷ chơi, giữa Thuỷ và
Trang 25Khổng đã có một mối quan hệ thân thiết (ngoài mối quan hệ láng giềng ra) Vì vậy mà chồng Thuỷ đã có phần nghi ngờ, nhng cha có bằng chứng gì cụ thể nên anh vẫn im lặng Lần này thấy tập thơ của Khổng trong giờng vợ, anh Thuần đã có thêm bằng chứng để chứng minh cái quan hệ không rõ ràng giữa Khổng và vợ mình Nhng Thuỷ đã đáp lại một cách trắng trợn, thản nhiên: “Anh già rồi” Câu nói của Thuỷ làm cho chồng bất ngờ đến “rùng mình” Vì anh đâu có biết đợc rằng trong mắt Thuỷ giờ đây anh đã già, đồng thời chính câu nói ấy của Thuỷ cũng chính là lời biện minh cho hành động vụng trộm của Thuỷ Vì Thuỷ chê chồng đã già rồi nên việc cô nhân tình khác (trẻ trung hơn) là lẽ đơng nhiên.
Trong truyện “Chảy đi sông ơi”, nhân vật “Tôi” là một con ngời luôn kiếm tìm về huyền thoại “trâu đen” Vì vậy mà “Tôi” đã theo những ngời đánh cá
đêm rất nhiều lần để mong gặp đợc “Trâu đen” Nhng những ngời đánh cá đêm đã nhẫn tâm, một lần đuổi “Tôi” xuống thuyền giữa dòng sông Bởi vậy “Tôi” đã bị chết đuối, và đã đợc chị Thắm cứu sống và chị Thắm và “Tôi” đã tâm sự với nhau rất nhiều điều, trong đó có cuộc thoại sau:
“ Có lần tôi hỏi chị Thắm về chuyện Trâu đen Chị bảo:
- Trâu đen có thực! Nó ở dới nớc Khi nó lên bờ là nó mang cho ngời ta sức mạnh Nhng nhìn thấy nó, đợc nó ban điều kỳ diệu là phải ngời tốt.
Tôi tin lời chị Lòng tôi vẫn hằng ấp ủ trông thấy điều kỳ diệu ấy.
- Con ng ời ta tăm tối lắm Chị nói với tôi khi hai chị em ngồi trên mũi
đò chờ khách sang sông - Con ng ời vô tâm nhiều nh bụi bặm trên đ ờng ”
(Chảy đi sông ơi [19, tr 15])Chị Thắm với hình ảnh “tấm khăn vuông đen trùm mặt” suốt ngày chị ở trên con đò ngang để chở khách và để cứu ngời Chị đã cứu không biết bao nhiêu
là ngời Và cũng chính trên khúc sông này chị đã chứng kiến bao cảnh ngang trái, chị đã chứng kiến đợc bao sự vô tâm, dửng dng của con ngời trớc sự sống của
đồng loại Chị nhận thấy một điều rằng: sự “vô tâm” của con ngời bây giờ thật là nhiều, nó “nh bụi bặm trên đờng”, khó mà rửa sạch đợc
2.1.2 Ngời trao lời sử dụng hàm ngôn nhằm mục đích để chửi
Từ xa xa dân tộc Việt Nam đã có phơng châm ứng xử là:
Lời nói chẳng mất tiền muaLựa lời mà nói cho vừa lòng nhauQuả đúng nh vậy! Đó là giao tiếp có tính văn hoá Ngời ta “lựa lời” để nói cho đẹp, cho hay làm “vừa lòng nhau” Bởi vì “ Có gì đẹp trên đời hơn
Trang 26thế Ngời với ngời sống để yêu nhau” (Tố Hữu)
Nhng mặt khác, trong cuộc đời thờng có những lúc, những đối tợng, ngời
ta lại cố tình “lựa lời” để hạ nhục nhau, để bày tỏ sự bất bình cho hả giận Nên chỉ sinh ra lời chửi rủa
Trong truyện ngắn của mình, Nguyễn Huy Thiệp đã sử dụng lời chửi rất phong phú và đa dạng Lời chửi trong truyện của ông nhằm vào mọi đối tợng từ trí thức, công nhân, tớng tá, nhà thơ , mọi lứa tuổi Có khi “lời chửi” đợc dùng để chửi trực tiếp (chửi thẳng, theo nghĩa hiển ngôn), cũng có khi đợc dùng để chửi gián tiếp (hiểu theo nghĩa hàm ngôn) Do vậy, ta có thể tìm hiểu, phân tích một số
“lời chửi” gián tiếp của Nguyễn Huy Thiệp đợc anh thể hiện qua truyện ngắn
Bớc vào cái không gian trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, ta không thể không nhắc đến cái không gian chật chội, oi bức trong gia cảnh “Không có
vua” ở đó mọi mối quan hệ trong gia đình bị đảo lộn: cha - con, anh - em, bố
chồng - nàng dâu Đây là một bức tranh khá tiêu biểu cho các mối quan hệ gia
đình bị đảo lộn Bố chồng nhìn trộm con dâu tắm, em chồng ve vãn chị dâu, bố con, anh em trong nhà thì chửi rủa, đay nghiến, chì chiết lẫn nhau ở trong bức tranh này, lão Kiền là một “tiêu điểm” của bức tranh, lão là cha, là bề trên, là ngời gơng mẫu và điều chỉnh uốn nắn mọi mối quan hệ trong gia đình mình Tuy nhiên, ở đây trật tự gia đình đã bị “mục rỗng” từ trên xuống, lão Kiền thì suốt ngày cau có để dẫn đến là mọi ngời trong gia đình cũng không ai thích lão, lão là cha nhng lại suốt ngày kiếm cớ để cãi nhau, chửi rủa con cái nh cơm bữa, lời lẽ
độc địa Lão gọi tên, điểm mặt từng ngời con ra để chửi cho hả dạ:
“ Nh với Đoài, lão bảo: “Mày ấy à? Công chức gì mặt mày Lời nh
hủi, chữ tác chữ tộ không biết, chỉ giỏi đục khoét!” Hay với Khảm, câu sinh viên năm thứ hai: “Đồ ruồi nhặng! Học với hành! Ngời ta dạy dỗ mày cũng phí cơm toi” Với Cấn, lão có đỡ hơn, thỉnh thoảng cũng khen, nhng lời khen lại quá lời chửi: “Hay thật, cái nghề cạo đầu ngoáy tai của mày, nhục thì nhục nhng hái
ra tiền!” [19, tr 61 - 62]
Trong giao tiếp, để cho cuộc thoại diễn ra tốt đẹp thì các nhân vật tham gia giao tiếp phải tuân thủ những “quy tắc” nhất định, trong đó có “quy tắc đề cao thể diện ngời nghe” Nhng vì ở đây, lão Kiền với mục đích là để chửi rủa nên lão không cần quan tâm đến “quy tắc” nào cả, mặt khác lão cũng không định vị vai giao tiếp đúng mực nên lão đã chọn từ xng hô không phù hợp Lão Kiền cố tình vi phạm quy tắc hội thoại để chửi rủa cho thêm cay độc những “đứa con thân yêu” của mình Đoài và Khảm, một ngời là công chức của Bộ giáo dục, một là sinh viên
Trang 27Đại học - đây là những ngời có học thức Nhng lão Kiền lại chửi ngay chính cái
“có học thức” của họ - đó là “ngu dốt”, học thức thì kém cỏi nhng tài “đục khoét”
và “hối lộ” thì giỏi không ai bằng Với Cấn - là ngời làm nghề cắt tóc lão không chửi mà lại khen, nhng lời khen của lão lại chính là lời chửi sâu cay nhất: “Hay
thật, cái nghề cạo đầu ngoáy tai của mày, nhục thì nhục nhng hái ra tiền!”, lão
chửi cái nghề “mạt hạng” phải hầu hạ ngời khác của Cấn
Với cái không khí ngột ngạt, oi bức của gia đình lão Kiền, quan hệ cha con bị đảo lộn thì quan hệ anh em cũng chẳng tốt đẹp gì:
“ Khiêm to lớn, lừng lững, tính nóng nảy Hàng ngày đi làm về (Khiêm
hay làm ca đêm), Khiêm đều mang về khi cân thịt, khi lại bộ lòng ít hôm Khiêm
về không Đoài hay nói (cũng là nói sau lng Khiêm): “Tr ớc sau cũng vào tù thôi Cái thằng ấy tôi đã thấy tr ớc t ơng lai của nó í t cũng sáu năm tù Kể cũng lạ Một năm nó ăn cắp đến nửa tấn thịt mà ng ời ta để yên cho nó !”
(Không có vua [19, tr 62])Trong gia đình, quan hệ anh em là rất cao quý Anh em là phải san sẻ, giúp đỡ, động viên, an ủi nhau trong cuộc sống Nó thể hiện sự gắn kết của tình ruột rà, đồng thời đó cũng là tình cảm thiêng liêng của con ngời Tuy nhiên, anh
em trong gia cảnh “Không có vua” lại đối xử với nhau bằng những lời nguyền rủa, nhiếc móc Khiêm là một nhân viên lò mổ lợn, nên hay mang thịt, mang lòng
về nhà, cả nhà cùng ăn - chứng tỏ anh ta cũng có sự quan tâm, chăm lo đến gia
đình Còn Đoài là một công chức làm ở Bộ Giáo dục, nhng anh ta lại hay có thói ghen tị, đố kỵ với ngời khác (đặc biệt là anh em trong nhà) Chỉ là câu nói sau lng Khiêm, và là một lời nói cha có bằng chứng xác đáng ở đây Đoài đã vi phạm
“quy tắc cộng tác”, vi phạm nguyên tắc về chất: Đoài cha có bằng chứng gì của pháp luật về việc Khiêm phải vào tù Chỉ với một chứng cớ (không thể đẩy ngời ta vào tù) là Khiêm hay mang thịt và lòng lợn về nhà ăn mà Đoài dám khẳng định là Khiêm: “Trớc sau cũng vào tù thôi” Câu nói của Đoài không đơn thuần là câu nói bình thờng, mà nó là một lời nguyền rủa, đồng thời nó còn ẩn giấu một “mong muốn” sao cho Đoài hả dạ là Khiêm “sẽ vào tù” Qua đây ta thấy quan hệ anh em không còn một chút tình nghĩa, lơng tri gì nữa, nó đã trở thành thù địch và hận thù
Quan hệ cha - con, anh - em trong gia đình lão Kiền đã bị đảo lộn, trật tự, tôn ti, tình nghĩa đã không còn nữa Điều này nó phản ánh sự xuống cấp, sự tha hoá trong nhân cách con ngời thời hiện đại Đây là một điều cảnh báo
Trang 28Trong truyện thứ ba “Con gái Thuỷ Thần”, nhân vật “Tôi” (Chơng) là nhân vật suốt đời đi kiếm tìm “huyền thoại”, “cổ tích” trong khi đó chỉ còn vài năm nữa là đến năm 2000 Chơng đã đi nhiều nơi, làm mọi nghề để kiếm sống, mong sao để tìm gặp đợc Mẹ Cá (con gái Thuỷ Thần) Lần này anh đã qua bao nhiêu thất vọng nhng anh vẫn kiếm tìm cái “huyền thoại” của mình, anh đến làm thuê cho một gia đình ngời thành phố giàu sang Bà chủ nhà là Phợng (một ngời
đàn bà đẹp) Mới đến ở đợc ba ngày bà chủ đã mời Chơng lên nhà gặp bà để nói chuyện, cuộc gặp gỡ này đã có màn hội thoại sau:
“Tất cả bí mật vũ trụ, xã hội, công danh, tiền bạc, nghệ thuật - Cô
Ph-ợng bảo tôi, - là ở chuyện này ám ảnh cao nhất, rộng lớn nhất - trên cao và rộng lớn hơn các ám ảnh khác, kể cả tôn giáo, chính trị - là tình dục Bọn đàn
ông các anh loanh quanh vì các anh sợ hãi Các anh không dám đam mê Trật
tự phụ quyền đợc đặt ra là một thứ trật tự tục tĩu, ở đấy đầy rẫy bạo lực, dối trá, chủ yếu không phải phục vụ con ngời mà là dùng để ngăn chặn thú tính trong bọn đàn ông với nhau Anh có hiểu không?” Tôi bảo: “không” Tôi nói: “Có thể bởi tôi một mình” Cô Phợng bảo: “Anh bỉ ổi Anh biết rõ dù anh một mình vì
bố anh biết rõ Anh bỉ ổi hết nh bố anh, nh ông Hùng Rồi ông Hùng cũng bỉ ổi hết nh ông Gấu, ông Sói, ông Dê, ông Lợn tằng tổ ông ta Anh đừng giả vờ, anh hiểu thứ trật tự ấy từ trong huyết thống.Dấu giếm trong anh là một thứ quyền lực phụ quyền phản dân chủ Anh bỉ ổi hết nh ba m ơi triệu tên đàn ông cùng thời với anh Anh mặc quần vào rồi cút đi”
(Con gái Thuỷ Thần [19, tr 140-142]Cô Phợng là một ngời đàn bà sống theo lối sống thực dụng Với cô, điều làm cho ngời ta khao khát ham sống là: “Ăn ngon, lời tâng bốc và sex”, có nghĩa
là một cuộc sống hoàn toàn hởng thụ về vật chất, thoả mãn về nhu cầu của thể xác Vì vậy khi cô gọi anh Chơng lên nhà gặp cô cũng với mục đích là đợc thoả mãn tình dục Nhng anh Chơng đã không làm cho cô thoả mãn đợc (vì quan niệm của anh khác quan niệm sống của cô) Do đó cô đã dùng những lý lẽ, dẫn chứng
đầy thuyết phục nhằm chửi vào cái hành động mà cô cho là “giả tạo” của anh
Ch-ơng Sinh hoạt tình dục là một tình cảm lành mạnh của con ngời Nó không những giúp con ngời thoả mãn về nhu cầu thể xác mà còn cả về nhu cầu tinh thần, đồng thời nó làm tăng thêm sự gắn bó khăng khít mối quan hệ trong tình chồng - vợ Nhng vì do con ngời ta bị ảnh hởng bởi quan niệm phong kiến (xem chuyện đó là chuyện xấu xa) nên bề ngoài thì họ lên án, nhng thực chất thì họ “vụng trộm” còn tồi tệ, xấu xa hơn Vì vậy mà cô Phợng đã chửi rủa anh Chơng, trớc một ngời đàn
bà đẹp (trớc cái đẹp mà không biết thởng thức) với khát khao nhu cầu nhục dục,
Trang 29anh - là một thanh niên trẻ trung sung sức mà lại không thoả mãn đợc cho cô thì chứng tỏ anh đang “giả tạo”, đang lừa dối chính bản thân mình Mà cô đã dùng hàng loạt từ chỉ tên các súc vật có đặc tính xấu (Gấu, Sói, Dê, Lợn), từ chửi về đạo lý: “bỉ ổi” để chửi ngay vào cái “trật tự phụ quyền” đầy rẫy những dối trá mà con ngời ta cố tình đặt ra Đây chính là lời gián tiếp chửi đến cái thời đại bấy giờ là
đầy rẫy những tục tĩu và dối trá
Truyện “Giọt máu” viết về dòng họ Phạm qua năm đời Bà Diêu là vợ cả của ông Phạm Ngọc Chiểu Bà Diêu vì cái chết của ông Chiểu, rồi cái chết tự vẫn của ni cô Huệ Liên (vợ ba của ông Chiểu, mẹ của Phong) nên bà đã bị lú lẫn từ đó
và bà ngày càng yếu đi Bà phải sống một cuộc sống thật khổ cực, nhục nhã Phong nhốt bà vào một phòng, không cho ăn uống gì, thậm chí có lúc đói bà phải bốc cả phân mình để ăn Mặc dù đã làm cách độc ác đến nh vậy để cho bà Diêu nhanh chết, nhng nhốt đã lâu mà bà vẫn cha chết Phong đến thăm xem bà chết cha, nhng bà vẫn sống, nên Phong đã nguyền rủa, chửi bà rất thậm tệ:
“Phong bảo: “Sao con mẹ này sống dai thế?” Cô Lan bảo: “Cho liều
thuốc chuột là yên” Phong bảo: “Không cần, cứ để đói vài ngày” Nói rồi quay
ra bảo bà Cẩm: “Từ hôm nay đừng cho mẹ cả ăn nữa, tám mơi hai tuổi rồi, sống làm quái gì?” bà Cẩm sợ hãi: “Cậu ơi, cậu nghĩ lại đi, phải để đức cho con cháu chứ?” Phong trừng mắt bảo: “Con ác tặc này nó giết mẹ tôi chị có biết không?” Bà Cẩm cứ kêu khổ Phong khoá cửa lại rồi cát chìa khoá vào túi áo vét”
(Giọt máu [19, tr 405-406])Câu hỏi của Phong: “Sao con mẹ này sống dai thế?” hàm ý là chửi, là nguyền rủa bà Diêu sao bà còn cha chết nhanh lên Vợ Phong (cô Lan) thì đa ra cho Phong một phơng kế là “cho liều thuốc chuột là yên” nhng Phong không
đồng tình Và Phong lại nói với chị mình (bà Cẩm) là cấm không cho bà Diêu ăn nữa, để bà chóng chết mà không cần giết Nhng bà Cẩm là ngời sống nhân đức, nên bà đã khuyên Phong là không nên làm vậy Lời khuyên của bà Cẩm lại càng làm cho Phong nguyền rủa bà Diêu thậm tệ hơn: “Con ác tặc này nó giết mẹ tôi
chị có biết không” Nh vậy ý của Phong đã quá rõ ràng, Phong chỉ muốn bà Diêu
chết càng nhanh càng tốt để trả thù, rửa hận cho cái chết của mẹ mình
Anh Bờng trong “Những ngời thợ xẻ” vì miếng cơm manh áo mà anh phải
đi đến nơi rừng thiêng nớc độc xẻ thuê để kiếm sống Anh nhận xẻ cho ông Thuyết, ông đã dẫn anh và mọi ngời đến nơi xẻ, ông trở về, còn trơ trọi lại anh B-ờng và mấy ngời cùng đi với anh giữa cảnh rừng hoang Lúc này anh mới thấy đợc
Trang 30sự ngột ngạt, bực tức của mình và anh đã chửi rít lên: “Tiên s đời , khốn nạn ch a ! Các con ơi các con, các con đã biết đời là gì ch a ? “[19, tr 157].
Đây chỉ là một lời chửi bâng quơ: “Tiên s đời”, nhng thực ra nó lại là một lời chửi sâu cay nhất Đối tợng chửi ở đây “chẳng là ai cả” nhng lại là “tất cả” Lời chửi này nó thể hiện sự ngột ngạt, bức xúc của nhân vật trớc nhân tình thế sự Qua lời chửi này, anh Bờng muốn gián tiếp thể hiện sự đay nghiến, chì chiết đối với con ngời và cuộc đời Đây phải chăng cũng chính là tâm trạng của Nguyễn Huy Thiệp trớc cuộc đời
2.1.3 Ngời trao lời sử dụng hàm ngôn nhằm mục đích mỉa mai.
Quan hệ gia đình trong gia cảnh “Không có vua” đã bị đảo lộn, không còn tôn ti trật tự gì nữa Cha - con, anh - em đối xử với nhau chỉ bằng tiền, xử sự với nhau thì chì chiết, đay nghiến, chửi rủa, mỉa mai nhau Vì vậy mà Đoài (một công chức làm ở Sở Giáo dục) luôn tìm những lời lẽ cay nghiệt, độc địa để chửi rủa, mỉa mai những ngời trong gia đình Và Khiêm cũng không thể là ngoại lệ đ-ợc:
“Khi đi làm, Đoài bao giờ cũng lấy cơm vào cặp lồng, cho vào mấy
miếng thịt, mấy miếng lòng Đoài bảo: “Có chút đạm này là đủ hai nghìn ca lo
để làm việc cả ngày đây Cũng là nhờ chú Khiêm nhà mình vừa khéo vừa nhanh” Khiêm hỏi: “Khéo với nhanh cái gì?” Đoài bảo: “ấ y là tôi nói chú khéo xử sự với ng ời mà nhanh xử sự với lợn ” [19, tr 62- 63].
Lời của Đoài: “Cũng là nhờ chú Khiêm nhà mình vừa khéo vừa nhanh” hàm ý không phải là khen mà là để mỉa mai Khiêm Đoài và Khiêm là hai anh em nhng lại xem nhau nh là kẻ thù Nên Đoài luôn tìm cơ hội để nói móc, nói khác hoặc chửi sau lng Khiêm Khiêm tức lắm nhng vì Đoài khôn nên Khiêm chẳng nói gì đợc Vì vậy với lời “khen” đó của Đoài, Khiêm đã hiểu ý của Đoài, tức lắm nh-
ng Khiêm chỉ nói lại với Đoài đợc bằng việc hỏi lại câu hỏi của Đoài: “khéo với
nhanh cái gì?”- một câu hỏi thể hiện sự bực tức của Khiêm Nhng Đoài khôn,
Đoài đã trả lời một cách nhẹ nhàng nhng đầy thấm thía: “ấy là tôi nói chú khéo
xử sự với ngời, mà nhanh xử sự với lợn” Câu trả lời ấy làm Khiêm tức “sùi cả bọt mép” nhng chẳng làm gì đợc Đoài.
Kiểu hàm ngôn này ta cũng bắt gặp trong truyện: “Những ngời thợ xẻ”
Đó là đoạn thoại giữa anh Bờng và “Tôi” khi anh Bờng làm một hành động xấu xa: hiếp cô bé mới mời bảy tuổi Chuyện đó đã làm cho nhân vật “Tôi” không thể không phản đối Vì vậy đã xảy ra cuộc đánh nhau giữa hai ngời:
Trang 31“ Tôi nhảy theo anh Anh Bờng vừa lùi vừa bảo Quy, giọng buồn hẳn:
“Con ranh con, mặc quần vào! Có thích xem đánh nhau thì đứng mà nhìn
Chúng ông đánh nhau vì mày đấy” Nói rồi, anh Bờng thản nhiên đứng ngoáy lỗ mũi, tựa hồ nh việc chúng tôi đánh nhau là việc tất nhiên, điều ấy hoàn toàn vô nghĩa và không có giá trị gì.
Thú thực là tôi bối rối Anh Bờng mỉm cời khuyến khích: “Thế nào? Tiến lên đi chứ, công tử bột! Hãy mang chiến thắng về nộp d ới chân nàng
Đuynixê ở làng Tôbôdô!” [19, tr 176-177]
Anh Bờng cứ thản nhiên xem cái hành động hiếp một cô bé ( bằng
tuổi con mình) là một việc làm bình thờng Vậy nên khi nhân vật “Tôi” phản đối hành động đó của anh thì anh xem “Tôi” là một con ngời có ý nghĩa viển vông không thực tế chẳng khác gì những cuộc phiêu lu của Đôn-ki-hô-tê trong tác phẩm cùng tên của Xécvăngtet Do đó anh đã dùng một lời khuyến khích: “Hãy
mang chiến thắng về nộp dới chân nàng Đuynixê ở làng Tôbôdô!” nhằm dụng ý
để mỉa mai cái hành động viễn vông, không thực tế của nhân vật “Tôi”
2.1.4 Ngời trao lời dùng hàm ngôn để gợi ý một điều gì đó có lợi cho mình
Trong truyện “Huyền thoại phố phờng”, nhân vật Hạnh là một thanhniên trẻ, có học thức, luôn có lòng ham muốn làm giàu Một lần Hạnh cùng ông Phúc đến dự sinh nhật Thoa (con gái bà Thiều) Hạnh đã gây đợc cảm tình với gia
đình bà Thiều Trớc sự hoang phí và xa xỉ của bọn ngời giàu sang, Hạnh lại suy nghĩ đến sự nghèo khó của mình Thế rồi ý muốn làm giàu nhanh chóng lại ập đến trong đầu Hạnh Hạnh cả đêm trằn trọc để tìm cách thực hiện tham vọng của mình Và Hạnh nghĩ đến gia đình bà Thiều, nghĩ đến hai chiếc vé xổ số mà ông Phúc tặng Hạnh và Thoa trong hôm sinh nhật Thoa Hạnh nghĩ đến “sự bảo trợ vô hình” chiếc xổ số của Thoa đợc bà Thiều đem đi lễ các chùa Hạnh tin chắc vé đó
sẽ là giải đặc biệt Tham vọng đã bất chấp Hạnh có thể làm tất cả mọi việc, kể cả việc Hạnh ve vãn hiếp dâm một ngời phụ nữ (đáng tuổi mẹ mình):
“- Cô độc đáo lắm! - Hạnh thả mồi câu - Những ng ời phụ nữ độc đáo bây giờ rất hiếm!
- Thế cô độc đáo chỗ nào? - Bà Thiều thú vị và khép vạt áo ra phía
đằng trớc.
- Cô độc đáo trên toàn cơ thể - Hạnh nói và giọng bỗng dng đổi khác,
đôi mắt xoáy vào bờ vai tròn lẳn của ngời đàn bà, hai bên cơ hàm tự dng cứng lại - Trông cứ hấp dẫn nh một thiếu nữ đ ơng thì ” [19, tr 381]
Trang 32Hạnh đến nhà bà Thiều lần này với mục đích là đổi chiếc vé xổ số chứ không phải là để ve vãn bà Thiều Vì vậy Hạnh đã đa ra những lời trao không chân thành, không đúng sự thật Hạnh từng bớc tuôn ra những lời khen bà Thiều, nhng thực chất là để kích thích dục tình của ngời đàn bà đứng tuổi, để cỡng ép bà phải trao đổi chiếc vé xổ số cho Hạnh.
Cún trong truyện ngắn cùng tên “Cún” là một nhân vật dị hình dị dạng chỉ sinh sống bằng nghề ăn mày Trớc khi lão Hạ (ngời nuôi Cún) chết đi đã để lại cho Cún gia tài là một số vàng Cô Diệu (chủ ngôi nhà mà Cún thờng ngủ ở đầu
hè nhà cô) là một ngời buôn bán, nhng lấy phải một thằng sở khanh cô đã bị lừa gạt hết gia tài Cô lâm bệnh và chán nản cha có cách gì thì cô đã phát hiện ra cái gia tài “kếch xù” của Cún:
“Cô Diệu cầm từng chiếc nhẫn và khi để rơi trên nền đá Cô lắng tai
nghe, cô soi ra ánh sáng Cô cho vào miệng cắn Cô xuýt xoa rên rỉ:
- Trời ơi, vàng thật đây rồi cả một gia tài đấy nhé Cái thằng hình nhân mặt đẹp này thật là giàu
Cô tái mặt đi, cô cời, cô đấm thùm thụp vào ngời Cún.
- Thực vàng chẳng phải thau đâu Đừng đem thử lửa mà đau lòng vàng Thằng chó con này! Sao bây giờ tao mới biết mày?
Cô Diệu hổn hển:
- Vào đây vào đây cái thằng chó con giàu có ”
[19, tr 54]Bằng một loạt hành động liên tiếp của cô Diệu: “soi ra ánh sáng”, “cho vào miệng cắn”, “lắng tai nghe”, cô đã vui mừng vô cùng khi cô phát hiện ra
“vàng” của Cún là vàng thật Đây là một điều quá bất ngờ đối với cô, vì cô không thể tởng tợng đợc rằng một ngời ăn mày nh Cún mà lại có số vàng lớn nh vậy Một câu hỏi cô đa ra ta tởng là không có thông tin gì mới mẻ: “Sao bây giờ tao
mới biết mày?” nhng thực chất đó là một câu hỏi hoàn toàn mới về nội dung Bởi
vì cô Diệu đã biết Cún tồn tại trên đời này từ lâu, nhng còn để biết đợc Cún có một gia tài này thì đến bây giờ cô Diệu mới biết Vì cái cô Diệu cần là tiền chứ không phải là Cún Do đó cô Diệu dụ dỗ Cún vào nhà: “Vào đây vào đây cái
thằng chó con giàu có ” không phải là vì Cún mà là vì cô quý “vàng của Cún”
Để rồi sau đó là cô đã đánh đổi cho Cún một lần ngủ với cô để cô là chủ nhân của
số vàng đó Đồng tiền đã làm cho con ngời ta tha hoá, không còn ý thức đợc nhân cách, phẩm giá của một ngời phụ nữ
2.1.5 Ngời trao lời dùng hàm ngôn để thể hiện sự ân hận
Trang 33Nhân vật Thuỷ trong truyện “Tớng về hu” là một phụ nữ hiện đại trí tuệ, sắc sảo, biết điều và thẳng thừng đa ra quan niện sống của mình Cô giỏi giang trong công việc kinh doanh, kể cả việc xay thai nhi trẻ con để nuôi chó kiến lời Cô dửng dng trớc cái chết của mẹ chồng Cô công khai tuyên bố mình có nhân tình trớc mặt chồng Tuy nhiên trong con ngời ấy cũng có lúc đã cảm thấy hôi hận cho hành động không đúng của mình:
“Cơ quan cử tôi đi công tác phía Nam Tôi bảo vợ tôi: “Anh đi nhé?”
Vợ tôi bảo: “Đừng đi Mai anh sửa cửa nhà tắm, cái cửa hỏng rôi Hôm nọ cái
Mi đang tắm, thằng Khổng đi qua định giở trò đểu làm nó hết hồn Thằng khốn nạn ấy em cấm cửa rồi” Vợ tôi oà khóc: “Em thật có lỗi với anh, với con” Tôi khó chịu quay đi”.
[19, tr 38]Chồng không hỏi, cũng không tra khảo Thuỷ, nhng tự mình cô thông báo với chồng rằng: cô đã cắt đứt quan hệ với nhân tình rồi: “Thằng khốn nạn ấy em
cấm cửa rồi” nên anh dừng bỏ em mà đi xa nữa Tiếp đó cô lại đa ra một lời trao:
“Em thật có lỗi với anh, với con” hàm ý là thể hiện sự ăn nan, hối lỗi của mình và mong muốn một sự tha thứ ở ngời chồng
Bà Thiều trong truyện “Huyền thoại phố phờng” sau khi đã bị Hạnh kích dục tình, bà đã không kiềm chế đợc những vuốt ve, mớn trớn của Hạnh và cái kết quả của nó là Hạnh cỡng ép bà phải đổi cái vé số cho Hạnh Lúc này đây bà mới nhận ra đợc những oái oăm của cuộc đời và cũng là lúc bà mới chợt ý thức về phẩm giá của một ngời đàn bà (một ngời vợ, ngời mẹ):
“Bà Thiều đứng dậy lấy quần áo mặc vào ngời rồi quát tớng lên:
- Khóc cái gì? Cha bố cô! Có im ngay đi không bà lại cho cái tát bây giờ!
Lặng im một lát rồi nhận thấy mình vô lý, bà bỗng kéo cô con gái đang lả ngời đi, mềm nhũn vào lòng bà, rồi mới nói giọng tỉnh táo không ngờ:
- Cứ sống đi con, rồi con sẽ hiểu cuộc đời Khốn nạn! Khốn nạn vô cùng! Con phải biết rằng chính mẹ con cũng là một con đàn bà khốn nạn!”
[19, tr 383]Trớc cái hành động trắn trợn, bỉ ổi của Hạnh, bà Thiều mới nhận ra cái
“khốn nạn” của cuộc đời và bà đã cảm thấy mình cũng là ngời xoáy trong cái vòng xoáy ấy của cuộc đời Lời bà nói với con gái: “Con phải biết rằng chính mẹ
con cùng là một con đàn bà khốn nạn!” hàm ý là thể hiện sự ân hận trớc việc làm
Trang 34của mình Khi ý thức phẩm giá của ngời đàn bà trỗi dậy thì bà đã nhận ra cái xấu
xa, đáng phê phán của mình
Trong truyện “Giọt máu”, kiểu hàm ngôn này nó cũng đợc thể hiện qua cuộc thoại của Phong và cô Chiêm:
“Cô Chiêm bế thằng Tâm ngồi cạnh giờng Phong Phong bảo: “Mình ơi,
thằng Tâm là giọt máu cuối cùng của họ Phạm đấy Chỉ mong giọt máu này đỏ chứ không phải là thứ máu đen nh ông cha nó ” Nói xong thì nấc mấy cái rồi
đi”.
[19, tr 429]Phạm Ngọc Phong khi gần chết thì cũng nhận ra những việc làm thất đức của mình trớc đây Nên anh chỉ căn dặn một điều duy nhất với cô Chiêm: “ Mình
ơi, thằng Tâm là giọt máu cuối cùng của họ Phạm đấy Chỉ mong giọt máu này
đỏ chứ không phải là thứ máu đen nh ông cha nó” Lời trao này thể hiện sự ăn
năn hối hận của nhân vật Phong đã nhận ra, tỉnh ngộ ra trớc những việc làm thất
đức của mình cùng nh của cha mình (Phạm Ngọc Chiểu) Do làm những việc thất
đức nên gia đình anh đã phải chịu sự “quả báo”: thằng Phúc (con trai anh) chuẩn
bị đi học thì bị sét đánh chết Và còn lại duy nhất mình thằng Tâm, nó là ngới nối dõi duy nhất của dòng họ Phạm, Vì vậy Phong chỉ có một ớc nguyện duy nhất tr-
ớc khi chết là “giọt máu này đỏ chứ không phải là thứ máu đen nh ông cha nó”, nghĩa là mong sao cho con mình sống có nhân, có đức, sống khác hẳn với lối sống của cha ông Và đó cũng chính là tâm huyết mà Nguyễn Huy Thiệp muốn gửi gắm
Ông Bổng trong “Tớng về hu”, con ngời lỗ mãng, táo tợn, làm đủ mọi điều phi nhân bất nghĩa Và con ngời tởng nh vô liêm sỉ này hoá ra cũng có lúc biết nhục Khi ngời chị hấp hối bị lẫn không gọi đợc tên ông, chỉ nói đợc ông “là ng-ời” thì ông khóc oà lên: “Thế là chị th ơng em nhất Cả làng cả họ gọi em là đồ chó Vợ em gọi em là đồ đểu Thằng Tuân gọi em là đồ khốn nạn Chỉ có chị gọi
em là ng ời ”.
[19, tr 30 - 31]
Con ngời nh ông Bổng tởng nh khó cải tạo, tuy nhiên trong con ngời ông vẫn còn loé lên một chút lơng tri khi mà ý thức đợc mình là “ngời” Lúc con ngời biết nhục chính là lúc biết ăn năn hối lỗi nhiều nhất Và ông Bổng cúng là một tr-ờng hợp nh vậy
Tóm lại, trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, ngời trao lời sử dụng hàm ngôn với năm mục đích: chê trách, chửi, mỉa mai, gợi ý một lợi nhuận nào đó, ân
Trang 35hận Trong đó sử dụng hàm ngôn nhằm mục đích để chê trách, chửi, mỉa mai nhiều hơn sử dụng hàm ngôn với mục đích gợi ý một lợi nhuận nào đó hay ân hận Mỗi kiểu hàm ngôn đợc sử dụng với mục đích riêng Song nó đều có quan hệ với nhau, xâu chuỗi thành một hệ thống nhất quán trong mạch ngầm văn bản Đó là, tác giả không ngần ngại đa ra những sự đốn mạt, hèn kém của con ngời một cách trần trụi, lạnh lùng Nhng đằng sau đó là một sự cảm thông của tác giả, đó là hy vọng vào một tia sáng leo lắt trong lơng tri con ngời.
“Khiêm hỏi: “Thằng Tốn đâu?” Khảm bảo: “Nó loanh quan đâu đấy, anh
ra ăn cơm, chúng em chờ” Khiêm bảo: “Cứ ăn đi”, Khảm bảo: “Ta ăn thôi
Ông ấy khó tính bỏ mẹ”.
[19, tr 71]
Đáp lại lời mời ăn cơm của Khảm, Khiêm bảo “Cứ ăn đi”, không phải là Khiêm không muốn ăn, mà hàm ý của Khiêm có gì đó bực tức, chê trách sự vô tâm của những con ngời này Và Khiêm cũng không thể nào ăn nổi khi mà Khiêm không thấy thằng Tốn (đứa em tàn tật) đâu cả
2.2.2 Ngời đáp sử dụng hàm ngôn nhằm mục đích né tránh trả lời trực tiếp
Trong truyện “Tớng về hu”, Thuỷ là một con ngời của cuộc sống hôm nay: rành rẽ, dứt khoát, thực tế, biết điều, nhiều khi thực tế đến tàn nhẫn:
“Mọi hôm có cô Lài săn sóc không sao Hôm nay tôi sơ ý, cho ăn mà
không giục đi ngoài Tôi đỡ mẹ tôi vào, bà cụ cứ gục mặt xuống Không thấy có vết đau Nửa đêm tôi dậy, thấy mẹ tôi lạnh toát, mắt dại đi Tôi sợ, gọi vợ tôi Thuỷ bảo: “Mẹ già rồi”.
[19, tr 30]
Trớc sự lo lắng, sợ sệt vì bệnh tình của mẹ, chồng Thuỷ báo cho Thuỷ biết
để tìm cách cứu chữa Nhng Thuỷ lại thờ ơ, vô tâm Cô xem chuyện đó là một chuyện hết sức bình thờng đối với tuổi già Vì vậy Thuỷ không nói thẳng suy nghĩ của mình đối với chồng (là không phải lo sợ) mà Thuỷ đã đa ra một đáp: “Mẹ già