1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hai xu hướng (bạo động và cải lương) trong phong trào giải phóng dân tộc ở đông nam á (cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX)

55 2K 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hai xu hướng (bạo động và cải lương) trong phong trào giải phóng dân tộc ở đông nam á (cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX)
Tác giả Phạm Hồng Xuân
Người hướng dẫn Ths Bùi Văn Hào
Trường học Trường đại học vinh
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2007
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 156 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình thực dân phơng Tâyxâm lợc, nhân dân hầu hết các quốc gia ĐNA đã tiến hành đấu tranh anh dũngchống xâm lợc, nhng tất cả đều đi đến thất bại.. Trong đó đã đề cập đến cácpho

Trang 1

Trờng đại học vinh Khoa lịch sử

Phạm Hồng Xuân

Khóa luận tốt nghiệp đại học

Hai xu hớng (bạo động và cải lơng) trong phong trào giải phóng dân tộc ở đông nam á

(cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX)

ĐNA

Quá trình xâm lợc của thực dân phơng Tây đối với ĐNA đợc mở đầubằng sự kiện khi Bồ Đào Nha nổ súng xâm lợc Malắcca (1511), và đến cuối

Trang 2

thế kỷ XIX hầu hết các quốc gia ĐNA (trừ Thái Lan) đã bị biến thành thuộc

địa nửa phong kiến hoặc là phụ thuộc Trong quá trình thực dân phơng Tâyxâm lợc, nhân dân hầu hết các quốc gia ĐNA đã tiến hành đấu tranh anh dũngchống xâm lợc, nhng tất cả đều đi đến thất bại

Từ cuối thế kỷ XIX trở đi, ở khu vực ĐNA lại tiếp tục diễn ra cuộc đấutranh với nhiệm vụ chủ yếu là giải phóng dân tộc Xuất phát từ những điềukiện chủ quan và khách quan của tình hình khu vực cũng nh trên thế giới,phong trào giải phóng dân tộc ở ĐNA thời kỳ này diễn ra theo nhiều xu h ớngkhác nhau, trong đó nổi bật là 2 xu hớng: Bạo động và Cải lơng

Những tiền đề nào dẫn đến cùng một lúc xuất hiện 2 xu hớng (Bạo động

và Cải lơng)? Sự phát triển của xu hớng Bạo động và Cải lơng nh thế nào? Kếtquả của các xu hớng ra sao? Thiết nghĩ là những vấn đề cần phải làm sáng tỏthêm, nhất là khi đi sâu tìm hiểu ĐNA thời kỳ cận đại

Mặt khác, nghiên cứu vấn đề trên còn giúp chúng ta nhận thức một cáchsâu sắc về tinh thần yêu nớc, truyền thống dộc lập tự chủ của các quốc gia

ĐNA trong suốt tiến trình của lịch sử Đó cũng là hành động thiết thực để gópphần nhỏ bé về việc tìm hiểu lịch sử văn hoá khu vực, nhất là trong giai đoạnhiện nay, khi mà ASEAN đang ngày cành khẳng định vị thế của mình trên tr-ờng quốc tế

Vì những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài: Hai xu h“Hai xu h ớng (Bạo động

và Cải lơng ) trong phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam á (cuối thế

kỷ XIX đầu thế kỷ XX)” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp.

2 Lịch sử vấn đề

Lịch sử ĐNA nói chung nhất là giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ

XX đã đợc rất nhiều nhà nghiên cứa trong khu vực cũng nh trên thế giới đềcập đến Vì còn hạn chế về mặt ngoại ngữ, chúng tôi cha có điều kiện để tiếpxúc hết tất cả các tài liệu nớc ngoài liên quan đến đề tài Thông qua các côngtrình đã đợc dịch thuật cũng nh các công trình tiêu biểu của các tác giả trongnớc, chúng tôi cố gắng tập trung giải quyết những vấn đề mà đề tài đặt ra

Trớc hết phải kể đến công trình: “Hai xu hLịch sử các quốc gia Đông Nam

á”[5] của D.G.E Hall, trong công trình này tác giả đã đề cập khá kỹ về quátrình xâm lợc của chủ nghĩa thực dân và quá trình chống xâm lợc, sự biến đổi

về tình hình kinh tế xã hội trớc sự tác động của chủ nghĩa thực dân, trong đó ítnhiều đề cập đến 2 xu hớng mặc dù còn mờ nhạt

Trang 3

Trong công trình nghiên cứu: “Hai xu hLịch sử Đông Nam á”[14] của LơngNinh - Đỗ Thanh Bình - Trần Thị Vinh, các tác giả đề cập đến quá trình xâmnhập, xâm lợc, các cuộc đấu tranh chống xâm lợc Trong đó đã đề cập đến cácphong trào đấu tranh theo xu hớng Bạo Động và xu hớng Cải lơng tiêu biểu ởPhilíppin, Inđônêxia, Mianma, Lào, Campuchia, Việt Nam

Vấn đề mà đề tài đặt ra còn đề cập đến trong: “Hai xu hCon đờng cứu nớc trong

đấu tranh giải phóng dân tộc ở một số nớc Châu á”[1]; “Hai xu hCuộc đấu tranhchống chính sách “Hai xu hchia để trị” của thực dân ở Đông Dơng, Mã Lai, Mianma”[2] của tác giả Đỗ Thanh Bình

Ngoài ra, vấn đề còn đợc đề cập lẻ tẻ trong các chuyên khảo lịch sử vềcác nớc nh : “Hai xu hLịch sử Mianma”[19]; “Hai xu hNớc Lào - Lịch sử và văn hoá”[15]; “Hai xu hL-

ợc sử Inđônêxia”[16]; “Hai xu hTìm hiểu lịch sử - văn hoá Philíppin” [24]; “Hai xu hĐại cơnglịch sử Việt Nam tập 2”[6] và một số bài viết đợc đăng tải trên các tạp chínghiên cứu Đông Nam á

Từ tình hình nghiên cứu nêu trên, chúng tôi thấy rằng vấn đề mà đề tài

đặt ra mặc dù đã đợc đề cập tơng đối nhiều trong các công trình nghiên cứu,nhng cha có công trình nào trình bày một cách có lôgic, hệ thống Vì thế,

chúng tôi quyết định chọn đề tài: Hai xu h“Hai xu h ớng (Bạo động và Cải lơng) trong phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam á (cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX)” làm khoá luận tốt nghiệp.

3 Giới hạn đề tài.

Về thời gian: Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu các xu hớng cứu nớctrong phong trào giải phóng dân tộc ở ĐNA từ cuối thế kỷ XIX đến nhữngnăm đầu thế kỷ XX

Đề tài đi sâu vào việc tìm hiểu phân tích nguyên nhân (tiền đề) dẫn đếncác xu hớng khác nhau, cũng nh những phong trào đấu tranh tiêu biểu đại diệncho 2 xu hớng “Hai xu hBạo động và Cải lơng” ở Đông Nam á

4 Phơng pháp nghiên cứu

Với đặc trng vốn có của khoa học lịch sử, để sử lý hệ thống hoá, kháiquát hoá những nội dung của đề tài Chúng tôi chủ yếu sử dụng 2 phơng pháp:Phơng pháp lịch sử và phơng pháp lôgic

Ngoài ra, còn một số phơng pháp khác nh: Đối chiếu, so sánh, thốngkê cũng đợc sử dụng để bổ trợ cho quá trình nghiên cứu

5 Bố cục của đề tài

Trang 4

Ngoài phần mở Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung của

khoá luận gồm 3 chơng:

Chơng 1 Tình hình Đông Nam á trớc và trong quá trình xâm lợc của

chủ nghĩa thực dân Phơng Tây

Chơng 2 Hai xu hớng (Bạo động và Cải lơng) trong phong trào giải

phóng dân tộc ở Đông Nam á (cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX)

Chơng 3 Sự bế tắc của hai xu hớng (Bạo động và Cải lơng) và tiền đề

xuất hiện xu hớng mới trong phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam á

(đầu thế kỷ XX)

Trang 5

B nội dung

Chơng 1

Tình hình các quốc gia Đông Nam á trớc và trong quátrình

xâm lợc của chủ nghĩa thực dân phơng tây

1.1 Tình hình các quốc gia Đông Nam á trớc khi thực dân phơng Tây xâm lợc

Lịch sử đã xác nhận một cách chân xác rằng, nhân dân ĐNA trớc khi bịbọn thực dân phơng Tây nổ súng xâm lợc, đã có một nền văn minh, văn hoálâu đời, phát triển cao về các mặt vật chất cũng nh tinh thần Dĩ nhiên, do sựphát triển không đồng đều, trình độ các nớc ĐNA cũng có sự chênh lệch

Tuy vậy, trớc khi thực dân phơng Tây xâm nhập và xâm lợc, các nớc

ĐNA không phải đều là những nớc lạc hậu, dã man, bị ngng trệ trong sự pháttriển và trông chờ sự cam thiệp của các nớc t bản phơng Tây đến khai hoá.Mặc dù vậy, sau một thời gian dài phát triển thịnh đạt (thế kỷ X - thế kỷ XV),thì ĐNA bớc vào giai đoạn suy thoái, khủng hoảng Sự suy thoái, khủnghoảng này nó diễn ra không đồng đều giữa các quốc gia về mặt thời gian ởCampuchia quá trình này bắt đầu từ thế kỷ XIII, Chămpa từ thế kỷ XV, ĐạiViệt và Miến điện lại muộn hơn Trong khi đó vơng quốc Xiêm và vơng quốcLanxang lại bớc vào giai đoạn hng thịnh của chế độ phong kiến

Nhng nhìn chung, cũng từ giai đoạn này, sự suy thoái khủng hoảng diễn

ra trên nhiều mặt

Về tình hình kinh tế ĐNA trớc khi CNTD phơng Tây xâm nhập và xâmlợc là duy trì nền kinh tế nông nghiệp mang tính tự cấp, tự túc là chủ yếu vớihơn 90% dân số tham gia vào hoạt động này Sản xuất nông nghiệp phổ biếnvẫn là hai hình thức “Hai xu hdu canh và định canh” Đối với những tộc ngời đã sớm

định c ở châu thổ các con sông lấy kinh tế nông nghiệp làm kinh tế chính Bởivì, nông nghiệp trồng lúa nớc gắn liền yếu tố công tác thuỷ lợi Còn đối vớinhững tộc ngời lấy đồi núi, trung du làm địa bàn sinh sống thì họ thờng gắnliền với kinh tế nơng rẫy ở các khu vực này trớc khi CNTD Phơng Tây xâmnhập và xâm lợc vẫn sử dụng hình thức du canh vẫn là phổ biến so với cáctrung tâm văn minh khác thì kinh tế nông nghiệp ở ĐNA hết sức thô sơ và lạchậu

Trang 6

Về chế độ ruộng đất vẫn nằm trong tay các nhà vua phong kiến về danhnghĩa, vì ở đây vẫn duy trì sự tồn tại chế độ “Hai xu hQuân chủ chuyên chế” Nhngtrong thực tế thì một bộ phận trở thành ruộng đất t nhân của quý tộc, địa chủphong kiến, một bộ phận là ruộng đất là ruộng đất công làng xã Đối vớiruộng đất do quý tộc, địa chủ quản lý khai thác và bóc lột nông dân bằng phátcanh thu tô Đới với ruộng đất công làng xã thì đợc phân phối cho các gia đìnhcanh tác Điều này chứng tỏ, ĐNA thời kỳ này còn duy trì và tồn tại nền kinh

tế tiểu nông

Nền kinh tế tự cấp, tự túc ở các làng, bản, buôn, sóc…hầu nhhầu nh phổ biến ởcác quốc gia ĐNA ở đây hoạt động nông nghiệp và hoạt động thủ côngnghiệp gắn bó chặt chẽ với nhau Chính sự tồn tại của hình thức này làm cảntrở rất lớn đối với nền kinh tế hàng hoá Việc giao lu, buôn bán rất hạn chế, cóchăng cũng chỉ thông qua các phiên chợ Tuy nhiên, ĐNA cũng thu hút nhữngthơng nhân nớc ngoài nh Trung Quốc, ấn Độ đến hoạt động buôn bán, trao

đổi Họ cũng thành lập các cộng đồng ngời nớc ngoài, với tổ chức chặt chẽ,nên nhanh chóng nắm bắt và thao túng nền kinh tế các quốc gia ở đây

Về chính trị - xã hội trớc khi CNTD đến, thì ĐNA vẫn duy trì chế độ

“Hai xu hQuân chủ chuyên chế trung ơng tập quyền” Tuy nhiên, nó đã đến lúc suy tàn

và khủng hoảng, vì thế mâu thuẫn xã hội trở nên gay gắt Biểu hiện là cáccuộc khởi nghĩa nông dân bùng nổ và nổi dậy ở khắp mọi nơi Mâu thuẫn cơbản trong xã hội là địa chủ phong kiến với nông dân đã đến lúc không thể điềuhoà đợc nữa Nhng khác với phơng tây, để giải quyết mâu thuẫn này cha cónhiều giai cấp tầng lớp mới, để đại diện cho phơng thức sản xuất mới ra đời.Chính vì thế, mà khủng hoảng của chế độ phong kiến ĐNA ngày càng trở nêntrầm trọng Khi chế độ phong kiến đã trở nên suy tàn, thì giữa các quốc giatrong khu vực vẫn diễn ra những cuộc tranh chấp, thôn tính lẫn nhau Kết quả,

kẻ thắng lẫn ngời thất bại đều đi dến suy thoái về kinh tế, bất ổn về chính trị

Trang 7

Trong bối cảnh ấy, sự xâm nhập và xâm lợc của thực dân Phơng Tây vào ĐNA

1.2 Tình hình các quốc gia Đông Nam á trong quá trình xâm lợc của thực dân phơng Tây

1.2.1 Tình hình chính trị

Sau khi chiếm đợc các quốc gia ĐNA, để thống trị và tiến hành khaithác thuộc địa có hiệu quả, các nớc thực dân đều tiến hành xây dựng bộ máycai trị Với mức độ và hình thức bộ máy thuộc địa của mỗi thực dân hoặc mỗinớc thuộc địa có những nét khác nhau Chúng ta thấy, CNTD áp dụng ở các n-

ớc ĐNA cơ bản có hai hình thức cai trị “Hai xu htrực tiếp và gián tiếp” Cho dù ápdụng hình thức cai trị hoàn toàn không giống nhau ở các quốc gia ĐNA, nhng

về bản chất chỉ là một

Nếu xét toàn cục của cả quá trình xâm lợc và thống trị của thực dân

Ph-ơng Tây ở ĐNA, thì thực dân Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, đặc biệt là Hà Lan

và Pháp Trong thời kỳ đầu của quá trình ấy các nớc thực dân này đều áp dụnghình thức xâm lợc và cai trị cho các công ty thơng mại viễn phơng Tiêu biểu

là các công ty Đông ấn Độ, thông qua các công ty này, chính phủ các nớc tbản phơng Tây nắm giữ và bóc lột các nớc ĐNA Nhng sau khi các công tyviễn phơng hết vai trò của mình và bị giải thể thì chính phủ các nớc thực dântrực tiếp nắm lấy quyền xâm lợc, thống trị và bóc lột thuộc địa Nh vậy, hình

thức “Hai xu hgián tiếp” ở đây, ta cần phải hiểu theo hai nghĩa: Một là, các nớc thực dân thông qua một công ty thơng mại viễn phơng để cai trị; Hai là, các nớc

thực dân tận dụng chính quyền bản sứ để cai trị, áp dụng hình thức cai trị giántiếp, chính quyền thực dân thờng cử đại diện của mình bên cạnh chính quyền

sứ với những tên gọi khác nhau nh công sứ, cố vấn

Trang 8

Bên cạnh chính sách cai trị gián tiếp, thì CNTD cũng áp dụng chế độcai trị trực tiếp đối với khu vực này bằng hệ thống các quan chức thực dân, đ-

ợc áp dụng từ trung ơng đến hàng tỉnh Đứng đầu thuộc địa là một viên toànquyền, sau là các viên thống đốc và tiếp đó là các quan lại thực dân hàng tỉnh.Khi xâm chiếm xong các quốc gia ĐNA, để nắm giữ chính quyền địa phơng,thì chúng không đủ sức Do đó, chúng vẫn duy trì chính quyền phong kiến bùnhìn tay sai

Bên cạnh đó, CNTD đều thực hiện chính sách chia để trị, chia rẽ dântộc, tôn giáo, gây hằn thù giữa các địa phơng, tập quán, truyền thống có từ lâu

đời trong lịch sử, để hớng những mâu thuẫn và đấu tranh có lợi cho chúng

ở các thuộc địa, thực dân phơng Tây thờng chia một nớc hoặc vùngthành các vùng miền với các hình thức cai trị khác nhau và do đó, mỗi nơitrong một nớc lại chịu những hình thức cai trị khác nhau, tạo ra một sự mâuthuẫn giữa họ với nhau để thực dân dễ bề cai trị Nh thực dân Pháp: “Hai xu hChúngthực hiện âm mu chia để trị giữa các dân tộc, lập các vùng có chế độ cai trịkhác nhau nh: Việt Nam, chúng phân chia làm 3 kỳ, Lào bị chia thành 2 miền(Bắc Lào và Hạ Lào), lập các quân khu theo chế độ quân quản ở vùng núiViệt Nam và Lào, dùng dân tộc này đàn áp dân tộc kia” [9,24]

Để thu vén quyền lợi của mình, áp bức bóc lột thuộc địa thì CNTDkhông từ bỏ một thủ đoạn nào, không những chia rẽ dân tộc, thực dân còn chú

ý khoét sâu hố ngăn cách trong nội bộ mỗi nớc, giữa vùng ngợc và vùng xuôi,giữa nông thôn với đô thị ở Mianma: “Hai xu hThực dân Anh thi hành chính sách

“Hai xu hvùng đồng bằng với dân số đông đảo là ngời Miến thì phải chịu chế độ trựctrị, nhng ở vùng đất cao, các vùng đất có ngời thiểu số sinh sống thì thực dânAnh áp dụng chế độ cai trị trực tiếp Hậu quả là sự chia rẽ và đẩy mâu thuẫngiữa ngời Miến với các dân tộc thiểu số bùng phát Mâu thuẫn chĩa vào ngờiAnh giảm” [14,234]

cùng với chính sách chia rẽ dân tộc, sắc tộc là sự chia rẽ ngời sử dụngtôn giáo trong chính sách chia để trị của thực dân ở ĐNA trong khi đó chínhquyền thực dân lại cho xây dựng và du nhập những tôn giáo khác vào thuộc

địa để tạo một công cụ thống trị ngời bản sứ

ở Philíppin, thực dân Tây Ban Nha nhanh chóng đạt đợc là nhờ mốiquan hệ mật thiết giữa chính quyền thực dân với nhà thờ Các tu sĩ của Đạo Cơ

Trang 9

Đốc đợc phái về các miền quê để truyền đạo Bằng nhiều mánh khoé, giáo lý

đạo Cơ Đốc nhanh chóng bám rễ và phát triển, thậm chí chúng thi hành c ỡngbức, bắt ép các tù trởng của bộ tộc mình theo đạo Cơ Đốc Đồng thời chínhquyền thực dân dùng cơ đốc giáo chống lại Hồi giáo ở Minđanao, gây racuộc xung đột tôn giáo kéo dài

Với các cộng đồng ngời ở bán đảo Mã Lai và Sinhgapo, chính quyềnthực dân vừa đẩy mạnh chia rẽ giữa ba sắc tộc (Melayu - Hoa - ấn), vừa tăngcờng chia rẽ tôn giáo (Hồi giáo - Phật giáo - Hinđu giáo) mà hậu quả của nó là

sự chia rẽ này sau ngày độc lập

Bên cạnh bộ máy hành chính, cùng với những thủ đoạn cai trị thâm độcthì ở ĐNA chính quyền thực dân cũng xây dựng một đội quân ngời bản sứkhổng lồ Nhiệm vụ là đàn áp chính đồng bào họ Sau nữa làm bia đỡ đạn,chết thay cho chúng trong các cuộc chiến tranh phi nghĩa

2.2.2 Tình hình kinh tế

Việc xâm chiếm thuộc địa của CNTD phơng Tây để khai thác, bóc lộtkinh tế luôn luôn là mục tiêu hàng đầu Tất cả mọi chính sách trong lĩnh vựcchính trị, văn hoá, xã hội cũng chỉ nhằm mục đích phục vụ cho mục tiêu bóclột kinh tế mà thôi Thực dân Phơng Tây đã bằng mọi cách, mọi dã tâm biếnthuộc địa thành nơi cung cấp nguyên liệu cho nền kinh tế chính quốc, là thị tr-ờng tiêu thụ hàng hoá và xuất khẩu t bản mang lại nhiều lợi nhuận kếch xùcho nhà t bản

Các hình thức bóc lột khai thác thuộc địa của CNTD Phơng Tây ở

ĐNA, chúng ta thấy rằng một đặc điểm chung của chính sách kinh tế đối vớikhu vực này là khai thác, vơ vét, và bòn rút các quốc gia bằng chính sách thuếkhoá vô nhân đạo vào mọi tầng lớp nhân dân bản địa, cớp ruộng đất lập đồn

điền, bóc lột sức ngời, sức của, tài nguyên thiên nhiên, chúng tiến hành buônbán không bình đẳng giữa chính quốc và thuộc địa, biến thuộc địa thành thị tr-ờng tiêu thụ hàng hoá ế thừa cho chúng để thu lợi nhuận cao Đồng thời, nhậpvào chính quốc những nguyên liệu, nhiên liệu với số lợng lớn Nhng với cáigiá rẻ mạt, tiến hành xuất khẩu t bản mang lại siêu lợi nhuận

Việc chiếm đoạt ruộng đất lập đồn điền là chính sách cơ bản của CNTDphơng tây Ruộng đất là t liệu sản xuất duy nhất là vấn đề sống còn của ngời

Trang 10

nông dân Vậy mà chính quyền thuộc địa đã thẳng tay chiếm đoạt, đuổi ngờinông dân ra khỏi ruộng đất của họ để lập đồn điền, phát canh thu tô, chúng c-ỡng bức trồng các loại cây nhằm phục vụ lợi nhuận cho chính quốc mà thôi,hay phục vụ nhu cầu xuất khẩu cho chúng mà bất chấp quyền lợi của nhân dânbản địa.

Chính quyền thực dân Hà Lan ở Inđônêxia thì đề ra “Hai xu hchính sách ruộng

đất” khẳng định quyền chiếm hữu ruộng đất của nông dân, nhng cũng quy

định ruộng đất thuộc quyền của chính phủ thực dân Mục tiêu là mở rộng thịtrờng, khai thác nguyên liệu, nhiên liệu, lập đồn điền trồng các loại cây côngnghiệp có giá trị nh cao su, thuốc lá, cà phê, chè đến trớc năm 1914, t bản

Hà Lan và các nớc châu âu đã lập ra 2400 đồn điền, chiếm 1/4 diện tích đất

đai trồng trọt trong cả nớc [14,239]

ở Việt Nam: “Hai xu hNăm 1900 thực dân Pháp cũng chiếm đoạt 301000 haruộng đất trong cả nớc, và vào năm 1930 thì số diện tích đất canh tác rơi vàotay thực dân Pháp lên tới 1.200.000 ha chiếm 1/4 diện tích canh tác của cả n-ớc” [14,239]

Việc cớp đoạt ruộng đất còn đồng loạt diễn ra trên toàn cõi ĐNA, lập racác đồn điền lớn, mà hệ quả của nó là đẩy những chủ nhân ruộng đất trớc đâythành những tá điền làm công cho bọn thực dân, và trở thành những ngời lĩnhcanh ruộng đất cho chúng Trong các đồn điền đó, ngoài việc cớp bóc, cỡngbức, thực dân Châu Âu còn bắt ngời bản sứ trồng các loại cây có giá trị xuấtkhẩu cao, chúng một mặt mở rộng các đồn điền hoặc các vùng trồng lúa vớiphơng thứ canh tác lạc hậu, phát canh thu tô, mặt khác triển khai trồng cácloại cây công nghiệp có giá trị xuất khẩu cao nh cà phê, cao su, chè chúngtiến hành nô dịch các nớc ĐNA

Bị mất ruộng đất, ngời nông dân phải cày thuê, cuốc mớn cho các chủ

đồn điền ngời Âu hay bị trở thành tá điền cho địa chủ bản địa Mọi chi phí choquá trình sản xuất, ngời nông dân phải chịu hoàn toàn, đồng thời sản phẩm thuhoạch họ phải nộp 1/3 đến 1/4 sản lợng cho giới chủ

Bên cạnh chính sách cớp bóc ruộng đất, mà hệ quả trực tiếp là ngờinông dân mất hết t liệu sản xuất trở thành kẻ cày thuê, cuốc mớn, lĩnh canhcho giới chủ Mà họ còn phải chịu hàng trăm thứ thuế vô nhân đạo mà chính

Trang 11

quyền thực dân đặt ra cho họ nh thuế thân, thuế đất, thuế nhà, thuế thu nhập,thuế rợu

ở Việt Nam, ruộng đất đợc chính quyền thuộc địa chia làm nhiều loại,mỗi loại một giá thuế, loại ruộng hạng nhất vào năm 1987 phải nộp 1,5 đồng

Đông Dơng một mẫu, hạng nhì là 1,1 đồng, hạng ba là 0,8 đồng

Ngoài thuế ruộng, ngời dân ĐNA từ 18 tuổi đến 60 tuổi đều phải đóngthuế thân Và họ phải đóng thuế thân cho đến chết Thậm chí, ngời chết trongnăm cũng không đợc miễn thuế

Để bổ sung cho ngân sách, chính quyền thuộc địa đã tiến hành thu và

đặt ra nhiều loại thuế gián tiếp khác nh thuế muối, thuế rợu, thuế thuốcphiện ở Việt Nam: “Hai xu hNăm 1987, mỗi tạ muối phải đóng 0,25 đồng đến năm

1906 là 2,25 đồng Ngời dân Lào phải mua rợu uống mỗi ngời 7 lít/năm”[14,243]

Ngoài các loại thuế có tên chính thức, thc dân còn đặt ra nhiều loại tiềnphạt, tiền lệ phí đối với ngời dân thuộc địa Ví nh, thực dân Pháp quy định ng-

ời dân Lào nếu không mang thẻ thân trong ngời cũng phải chịu phạt giam từmột đến năm ngày và nộp phạt từ 1 đồng đến 6 đồng

Với nhiều loại danh mục thuế khoá cùng nhiều chủng loại nh vậy đã

đẩy ngời dân thuộc địa vào con đờng cùng Họ đã bán những gì có thể báncũng không trả đợc nợ Ngời dân cứ chết dần, chết mòn cùng với thuế khoátrên vai họ

Bên cạnh thuế khoá nặng nề, ngời dân ĐNA phải chịu thêm nhiều chế

độ phu phen tạp dịch hà khắc Họ phải đi làm cầu cống, đờng xá, khai phá đấthoang

Một lĩnh vực quan trọng trong chính sách kinh tế thực dân đối với cácthuộc địa ở ĐNA không thể không nhắc đến là chính sách tập trung vơ vét tàinguyên, thiên nhiên ở thuộc địa Từ khi chúng đặt chân đến đây, thực dân Ph-

ơng Tây đã chú ý tới những ngành công nghiệp khai thác nh khai thác than,khai thác đá, khai thác lâm sản Cùng với quá trình đó chúng đã xây dựngmột số cơ sở hạ tầng phục vụ cho mục đích bóc lột Để thuận lợi cho mục đíchbóc lột ấy chúng phải xây dựng các hệ thống mạng lới giao thông nh đờng xá,cầu cống, sông ngòi

Trang 12

Trớc khi xâm chiếm, hệ thống giao thông của Mianma chủ yếu là lợidụng các con sông lớn, nhỏ để đi lại hoặc chuyên chở hàng hoá Khi cai trịMianma, thực dân Anh đã tận dụng lợi thế các dòng sông phát triển hệ thống

đờng thuỷ Công ty tàu thuỷ Iroaiđi, thành lập năm 1865, đã vận hành một độichạy tàu hơi nớc toả đi khắp nơi trên đất nớc này Hệ thống đờng bộ cũng đợcphát triển, đến năm 1918 lên tới 2000 dặm đờng rải đá

Bên cạnh hệ thống giao thông, chính quyền thực dân cũng đầu t vàomột số lĩnh vực công nghiệp khai thác, công nghiệp tiêu dùng nhằm phục vụcho việc khai thác thuận lợi hơn

Khai thác tài nguyên và xây dựng các nhà máy chế biến, chính quyềnthực dân ở ĐNA không phải vì mục đích phát triển kinh tế, cải thiện đời sốngcủa nhân dân thuộc địa mà nhằm mục tiêu khai thác, bóc lột đợc nhiều nhất

Đồng thời cũng nhằm mục tiêu duy nhất là để xuất khẩu về chính quốc hoặc

ra nớc ngoài kiếm lợi nhuận Tài nguyên và tiền bạc nối đuôi nhau chảy vềchính quốc ở Inđônêxia, thực dân Hà Lan thi hành chính sách “Hai xu hcỡng bứctrồng trọt”: “Hai xu hTheo chế độ cỡng bức trồng trọt, ngời nông dân phải giành 1/5diện tích đất đai theo quy định của chính quyền Hà Lan để trồng các loại câycông nghiệp, nh cà phê, thuốc lá, mía, chàm, cao su, hạt tiêu, chè, quế bông,phẩm đỏ Sản phẩm nộp lên cho chính quyền thuộc địa sẽ thay cho tiền thuê

đất Trên thực tế, khi thực thi chế độ trồng trọt này, đều trái với những nguyêntắc đã đề ra” [14,250]

Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Phơng Tây ở ĐNA là toàndiện Về khía cạnh kinh tế, CNTD có đầu t và khai thác, sự đầu t đó cả về vậtchất cũng nh cơ sở hạ tầng ở khía cạnh nào đó đợc xem là xây dựng, mặt tíchcực, nhất là ở các thuộc địa Anh Đây là tác động ngoài ý muốn của chínhquyền thực dân, bởi vì mục tiêu cao nhất là bóc lột kiếm lợi nhuận, chứ khôngphải là sự “Hai xu hkhai hoá” vì chính sách thịnh vợng của nhân dân ĐNA mà chúngrêu rao Do đó, mặt tiêu cực, mặt khai thác là chủ yếu, là mục tiêu đầu tiên Sựbóc lột tàn bạo của chính quyền thực dân đã đẩy nhân dân ĐNA vào con đờngcùng Những cuộc nổi dậy đánh đuổi xâm lợc cũng xuất phát từ đây

Tóm lại, với chính sách kinh tế của CNTD, đã gây nên những hậu quảvô cùng to lớn đối với nền kinh tế của các quốc gia ĐNA Chính sự xâm nhập

về kinh tế của thực dân đã dẫn đến sự biến đổi theo xu hớng phá hoại nền kinh

Trang 13

tế thuộc địa Các ngành công nghiệp mới mà các nớc thực dân du nhập sangcác nớc ĐNA cùng với chính sách thuế quan không bình đẳng, đã bóp chếtngành thủ công nghiệp truyền thống của ngời bản sứ Ngành thủ công nghiệp

ở đây gần nh không còn khả năng cạnh tranh với hàng công nghiệp Các nớcthuộc địa trở thành nơi tiêu thụ hàng hoá của chính quốc

Chính sách kinh tế của chính quyền thực dân còn dẫn tới triệt phá một

số ngành kinh tế thuộc địa, dẫn tới sự phá sản hàng loạt các ngành kinh tếthuộc địa Do đó, nó gây nên sự bất ổn của xã hội nh nạn thất nghiệp, nạn đóitriền miên, trộm cắp, đánh nhau

2.2.3 Tình hình văn hoá - xã hội

Để dễ bề cai trị thuộc địa, CNTD đã thi hành chính sách “Hai xu hngu dân” đó

là đầu độc ngời dân thuộc địa bằng rợu cồn và thuốc phiện Chính quyềnthuộc địa đã kìm hãm ngời dân bản sứ trong vòng ngu dốt Hầu hết ngời dân ởcác quốc gia ĐNA đều mù chữ, trẻ em không đợc đến trờng

ở Lào: “Hai xu hChính sách ngu dân đợc Pháp sử dụng triệt để Năm 1902,chính quyền thực dân trích một khoản ít ỏi để tổ chức lớp học và đào tạo phiêndịch Đến năm 1907, Pháp chủ trơng đào tạo một số giáo viên nhng với số l-ợng quá ít ỏi ” [14,255]

Song hành với chính sách ngu dân, các chính quyền thực dân ở ĐNAcòn thực hiện chính sách “Hai xu hđầu độc văn hoá” đối với nhân dân Chúng duy trìnhững t tuởng lạc hậu, bảo thủ, những tín ngỡng tôn giáo, các tập tục mê tín dị

đoan…hầu nhMục đích là để ru ngủ nhân dân thuộc địa Đầu độc ngời bản sứ bằngrợu cồn và thuốc phiện, chính quyền thực dân bắt dân bản sứ phải tiêu thụ mộtkhối lợng lớn rợu trắng và thuốc phiện

Tại Bắc kỳ (Việt Nam): “Hai xu hVào năm 1897, chính quyền thực dân ép ngờinấu rợu bán cho chúng với giá 0,17 đồng một lít, rồi pha thành 2 lít để báncho các đại lý với giá 0,14 đồng 1 lít Từ năm 1900 đến 1920 Pháp thu đợc 45triệu phrăng tiền lãi nhờ bán rợu” [14,256]

Tóm lại, chính sách cai trị của thực dân để lại hậu quả nặng nề Vớichính sách thâm nhập của CNTD làm cho trật tự xã hội truyền thống của cácnớc ĐNA bị phá vỡ Một nền thống trị mới thấm đẫm màu sắc của sự kỳ thịdân tộc đợc áp đặt Sự phá vỡ của nền kinh tế làng xã cổ truyền, phá vỡ các

Trang 14

thiết chế xã hội cũ của xã hội truyền thống, mặc dù những kiểu xã hội này làbảo thủ, trì trệ cỡng ép, áp đặt Tất cả là gánh nặng đè lên vai của nhân dân

Cuộc chiến đấu đầu tiên của ngời Inđônêxia chống lại sự xâm lợc củathực dân Bồ Đào Nha diễn ra vào năm 1511, khi Bồ Đào Nha xâm chiếmMalắcca Từ đây phong trào chống Bồ Đào Nha phát triển mạnh mẽ trongquần chúng nhân dân tiêu biểu là cuộc kháng cự của Tơrunô GiôGiô cuối thế

kỷ XVII ở Philíppin, sau cuộc thám hiểm của Magienlăng (1511) đến năm

1565 vơng triều Tây Ban Nha cho quân xâm lợc, nhng ngay từ đầu đã vấp phải

sự kháng cự của nhân dân Cebu, ngời Môrô, ngời Minđanao đã làm cho thựcdân Tây Ban Nha tổn thất nặng nề ở Mianma, ngay từ cuộc chiến tranh xâmlợc đầu tiên (1824 - 1826) quân Anh đã vấp phải sự kháng cự của quân độiMianma do tớng Banđula chỉ huy đã dáng cho quân Anh những đòn chí mạng,

đặc biệt là cuộc chiến tranh du kích của nhân dân phát triển mạnh ở ViệtNam, năm 1858 bằng sự kiện thực dân Pháp tấn công vào bán đảo Sơn Trà(Đà Nẵng), mở đầu công cuộc xâm lợc Việt Nam Nhng ngay từ đầu chúng đãvấp phải sự kháng cự quyết liệt của quan quân triều đình nhà Nguyễn, để rồiphải mất 30 năm sau thực dân Pháp mới hoàn thành công cuộc xâm lợc ViệtNam

Hầu hết các nớc ĐNA đều tiến hành phơng pháp và hình thức giữ nớcbằng phơng pháp đấu tranh vũ trang với lực lợng ban đầu gồm cả triều đìnhphong kiến, những ngời yêu nớc trong hoàng tộc, nhóm chủ chiến trong triều

đình Sau khi triều đình phong kiến từng bớc đầu hàng, thì nhân dân đã tự

động đứng lên đấu tranh với tất cả những gì có ở trong tay

Trang 15

Trong trờng hợp này, các quốc gia ĐNA không có tầm nhìn rộng hơn

để tiến hành những cải cách kinh tế - xã hội để đa đất nớc hoà nhập cùng thếgiới, mà cố bám giữ chiếc ngai vàng phong kiến đã trở nên mục ruỗng, thốinát Khi ngời Âu đến, thì giai cấp cầm quyền các nớc đã thực hiện phơng sáchgiữ nớc bằng việc “Hai xu hđóng cửa”, “Hai xu hbế quan toả cảng” ngăn chặn hàng hoá và ngời

Âu tới, hoặc quá ngây thơ đối phó với âm mu của thực dân châu âu Kết quả

là các quốc gia ĐNA đều bị thực dân Châu Âu dùng vũ lực và tiến tới thôntính, biến thành thuộc địa đa các nớc vào thị trờng thế giới một cách gợng ép

và bị động Trong tình hình đó, các nớc ĐNA buộc phải tiến hành đấu tranh

vũ trang chống lại các cuộc xâm lợc để giữ nớc

Tuy nhiên, phong trào đấu tranh vũ trang chống xâm lợc diễn ra sôi nổi

từ khi thực dân Châu Âu nổ súng xâm lợc, nó tạo thành một làn sóng đấutranh rộng khắp toàn khu vực ĐNA Tuy nhiên các cuộc đấu tranh chống lạiquá trình xâm lợc ấy đều đi tới thất bại Thế nhng, ở ĐNA lúc bấy giờ cũngxuất hiện một cách bảo vệ đất nớc thứ hai, hiệu quả, nền độc lập của đất nớccăn bản đợc bảo toàn Đó là trờng hợp của Xiêm, chỉ duy nhất ở ĐNA chỉ cómình Xiêm thực thi chính sách ngoại giao mềm dẻo, nên cơ bản vẫn giữ đợc

độc lập, vẫn giữ đợc nền tự chủ của dân tộc

Chiếm đợc ĐNA, thực dân Phơng Tây cũng phải trả nhiều giá đắt, mỗibớc tiến của bọn xâm lợc chúng đều phải trả bằng máu Chiếm đợc Mianma,thực dân Anh phải mất hơn nửa thế kỷ với ba cuộc chiến tranh khốc liệt;Chinh phục đợc Đông Dơng, thực dân Pháp cũng phải mất 35 năm

Nh vậy, phong trào đấu tranh chống ngoại xâm diễn ra sôi nổi ngay từkhi thực dân Châu Âu xâm lợc các quốc gia ĐNA Các cuộc khởi nghĩa nàydiễn ra dới nhiều hình thức khác nhau, với những mức độ khác nhau Nó tạonên một làn sóng đấu tranh rộng rãi ở ĐNA Nhng kết quả các cuộc đấu tranh

đều đi đến thất bại Các quốc gia ĐNA lần lợt trở thành thuộc địa của CNTDPhơng Tây Từ đây cuộc đấu tranh của nhân dân ĐNA bớc sang một giai đoạnmới Đó là chuyển từ cuộc đấu tranh chống xâm lợc sang đấu tranh giải phóngdân tộc của các quốc gia ĐNA theo những xu hớng mới

Tóm lại, trớc khi bị CNTD Phơng Tây và xâm lợc, các quốc gia ĐNA

đã xây dựng cho mình một nền văn hoá rực rỡ lâu đời Sau một thời kỳ pháttriển hng thịnh, thì về cơ bản từ thế kỷ XV, thì các quốc gia ĐNA đều lâm vào

Trang 16

khủng hoảng trầm trọng, tuy mức độ ảnh hởng cũng nh thời gian diễn ra ở cácquốc gia không đồng đều nhau Nhng đến giai đoạn này, hầu hết các quốc gia

đều đi vào suy yếu, mâu thuẫn xã hội, mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà

đợc nữa, chế độ phong kiến lâm vào khủng hoảng Trên cơ sở ấy, CNTD

Ph-ơng Tây xâm nhập và tiến tới thôn tính ĐNA là một tất yếu lịch sử, để rồi đếncuối thế kỷ XIX, các nớc ĐNA lần lợt trở thành thuộc địa hay phụ thuộc vào

đế quốc thực dân với chính sách cai trị tàn bạo, chúng đã đẩy ngời dân ĐNAvào con đờng cùng

Trên cơ sở ấy, nhân dân ĐNA đã vùng lên đấu tranh chống xâm lợcngay từ khi chúng mới đặt chân đến, ban đầu dới sự lãnh đạo của giai cấpphong kiến, khi giai cấp phong kiến đầu hàng thì họ lại vùng lên chống thựcdân lẫn vơng triều phong kiến tay sai Tất cả tạo ra một làn sóng chống thựcdân mạnh mẽ Nhng cuối cùng các phong trào ấy đều bị đàn áp đẫm máu

Từ đây phong trào đấu tranh của nhân dân ĐNA bớc sang một giai đoạnmới, giai đoạn chuyển từ đấu tranh chống xâm lợc sang phong trào giải phóngdân tộc bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX trở đi theo những xu hớng mới

Chơng 2

Trang 17

HAI xu hớng (bạo động và cải lơng) trong phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam á (cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX)

2.1 Tiền đề hình thành các xu hớng khác nhau trong phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam á (cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX)

Cuộc đấu tranh chống lại quá trình xâm lợc của thực dân Phơng Tây,mặc dù rất anh dũng, kiên cờng và chịu nhiều tổn thất Song nhân dân ĐNAvẫn không cản đợc các cuộc xâm lợc và các quốc gia ĐNA lần lợt trở thànhthuộc địa và phụ thuộc của bọn thực dân Tuy nhiên, CNTD không phải vì thế

mà đè bẹp đợc ý chí chiến đấu của nhân dân thuộc địa Cuộc đấu tranh củacác nớc ĐNA bớc sang giai đoạn mới - thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộcbắt đầu từ cuối thế kỷ XIX trở đi theo những xu hớng mới

Việc xuất hiện cùng một lúc, cùng một thời đại lịch sử, cùng một phongtrào hai xu hớng “Hai xu hBạo Động và Cải Lơng”, đã làm cho nhiều nhà nghiên cứulịch sử trong và ngoài nớc phải suy nghĩ Theo những tài liệu thu thập đợc,nguyên nhân ra đời của hai xu hớng trên trong phong trào giải phóng dân tộc

ở ĐNA cũng nảy sinh ra trên cơ sở chính trị kinh tế, xã hội của các nớc ĐNAvào giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và cũng do những đặc điểm củagiai đoạn lịch sử này quy định

Thứ nhất, do ảnh hởng của những biến động trong châu lục và trên thếgiới Nhiều nớc Châu á trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đangtrên con đờng chuyển từ phong kiến sang con đờng t bản bằng con đờng duytân cải cách Những sự kiện đó nó tác động đến các quốc gia ĐNA, đặc biệt làtới Mianma, Việt Nam, Inđônêxia Trớc hết là thành tựu của công cuộc DuyTân Minh Trị (1866 - 1912) và thắng lợi của Nhật trong cuộc chiến tranh vớiNga năm 1905, Phong trào cải cách Mậu Tuất (1898) do Khang Hữu Vi và L-

ơng Khải Siêu khởi xớng, với cuộc cách mạng Tân Hợi (1911) ở Trung Quốc

có tiếng vang lớn càng khuyến khích phong trào đấu tranh Sự thành lập Đảngquốc đại ấn Độ cũng gây nên sự chú ý của giới trí thức ở ĐNA Những t tởngmới, từ chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Trung Sơn đến học thuyết bất bạo độngcủa Mahatma Ganđi đều đợc giới trí thức yêu nớc và nhân dân ĐNA đón nhậnvới khát vọng mở đờng cho đất nớc

Thứ hai, do truyền thống ý thức dân tộc ở ĐNA quy định là truyềnthống độc lập tự chủ, muốn độc lập tự chủ thì phải đấu tranh tự giải phóng dân

Trang 18

tộc mình Nhng hầu hết các quốc gia ĐNA chịu ảnh hởng của đạo Phật với t ởng “Hai xu hTừ bi hỉ xả”, tôn giáo này chủ trơng thủ tiêu giai cấp, một số bộ phậnchủ trơng tự giải phóng dân tộc mình bằng con đờng hoà bình, trong khi đómột số bộ phận mặc dù không cảm nhận rõ ràng nhng họ ngầm hiểu chỉ dùngmột lực lợng vật chất này để đánh đổ lực lợng vật chất khác, chỉ có thể dùngbạo lực cách mạng mới có thể đánh đổ ách áp bức xâm lăng của bọn thực dânphơng tây Chính vì vậy lực lợng này chủ trơng bạo động vũ trang để cứu nớcgiải phóng dân tộc.

t-Thứ ba, dới ách thống trị của CNTD đã lộ nguyên hình bằng thủ đoạn

áp bức bóc lột tàn tệ, giai cấp phong kiến sau những phản kháng ban đầu đãdần dần quy hàng và tiến tới cấu kết với chính quyền thực dân làm tay sai chochúng Những cuộc khởi nghĩa dới ngọn cờ phò vua cứu nớc đều thất bại, lớp

sĩ phu tiên tiến thời đó đã nhận ra sự bế tắc của con đờng cũ bèn hớng ra bênngoài tìm lối thoát

Thứ t, do sự du nhập của phơng thức sản xuất TBCN làm cho nền kinh

tế của các nớc ĐNA biến đổi nhanh chóng, nền kinh tế thuộc địa thực dân dunhập vào làm phá vỡ cơ cấu kinh tế truyền thống, đó là một nền kinh tế lệthuộc vào các nớc thực dân, là nơi cung cấp nguyên liệu, thị trờng tiêu thụhàng hoá ế thừa cho chính quốc Đồng thời cùng với quá trình ấy thì cơ cấugiai cấp trong xã hội ban đầu có sự chuyển dịch, với sự xuất hiện của nhà nớc

t sản và ngời công nhân bản địa, tuy lực lợng còn rất mỏng manh Đồng thờinền văn hoá, giáo dục Phơng Tây đã mang lại những hậu quả ngoài ý muốncủa chính quyền thuộc địa Đó là cho ra đời một giai cấp mới lúc bấy giờ làgiai cấp t sản, giai cấp t sản ra đời trong bối cảch các nớc thuộc địa, nên nóvừa nhỏ vừa yếu, bị phân hoá thành hai bộ phận là t sản mại bản và t sản dântộc Tuy nhiên, bản chất của giai cấp t sản lại có tính chất hai mặt, một mặt dễdàng thoả hiệp bắt tay với bọn Đế Quốc để kinh doanh và t tởng thoả hiệp trởthành t tởng chủ đạo, thì đờng lối lãnh đạo của họ phải chịu áp lực của quầnchúng nhân dân, thì họ lại chuyển sang t tởng Bạo động

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, bọn thực dân tạm thời dập tắt đợcphong trào chống xâm lợc của các nớc ĐNA Nhng chúng không thể nào dậptắt đợc lòng yêu nớc căm thù giặc của mỗi dân tộc đã bao phen anh dũngchống xâm lợc Tinh thần quật khởi của dân tộc vẫn ngùn ngụt dâng cao Tinh

Trang 19

thần độc lập dân tộc ấy, những ngời đứng đầu phong trào đấu tranh cuối thế

kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã đi tìm một con đờng cứu nớc mới Trong lúc đờnglối cách mạng tiên tiến của giai cấp vô sản cha có điều kiện thâm nhập hoặctruyền dội vào ĐNA, trớc tình thế xã hội phong kiến đã trở thành lạc hậu, thìcon đờng TBCN đối với các nớc ĐNA lúc bấy giờ vẫn là mới mẻ, tiến bộ sovới đêm dài trung cổ vừa trải qua Thế là trên cơ sở chuyển biến bên trong vàchủ yếu là những thôi thúc của ảnh hởng bên ngoài, tinh thần dân tộc sẵn có

đã gặp một lối thoát, nên bắt đầu sớm muộn chuyển mình cho kịp với thời đại.Chính vì vậy, cho nên chúng ta thấy xu hớng Cải Lơng và cả xu hớng Bạo

Động trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã từng thay hình biếndạng, đã từng nhuốm màu sắc mới - màu sắc t sản

2.2 Xu hớng Bạo Động trong phong trào giải phóng dân tộc ở các quốc gia Đông Nám á (cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX)

2.2.1 ở Campuchia và Lào

Sau khi Campuchia trở thành thuộc địa của thực dân Pháp, cuộc đấutranh khôi phục độc lập và quyền tự chủ của vơng triều phong kiến lại bắt đầubùng nổ, mà tiêu biểu là cuộc nổi dậy của nhân dân do hoàng thân Sivôthalãnh đạo Ông đã lãnh đạo nhân dân nổi dậy chống Pháp vào những năm 1876

và xây dựng nên “Hai xu hVơng quốc Cơrắc” Tiếp đó là cuộc khởi nghĩa do ngờinông dân lãnh đạo (1885 - 1886) với danh nghĩa của Sivôtha Tác động trựctiếp đến cuộc khởi nghĩa lần này là bản hiệp ớc mà triều đình Nôrôđôn phải kývới thực dân Pháp ngày 17- 6-1884 Do đó, đất nớc chính thức trở thành thuộc

địa Sự bất bình của nhân dân đã lôi cuốn họ đứng lên đấu tranh, một thủ lĩnhnông dân vào năm 1885 tự xng là Sivôtha đã tập hợp lực lợng phất cờ khởinghĩa ở tỉnh Crachê, tiến công đồn Banam Khí thế cuộc khởi nghĩa khiến viêncông sử ngời Pháp ở tỉnh này khiếp đảm phải bơi qua sông chạy chốn

Năm 1905, nhân dân Miền Bắc Campuchia thuộc tỉnh Xtungtreng nổidậy đấu tranh dới sự lãnh đạo của nhà s Angsnuôn Với lực lợng 400 nghĩaquân, Angsnuôn đã tấn công Pháp ở thị trấn Thara Bôrivat và mai phục quânPháp ở rừng Pôrông (15-3-1905) gây cho chúng nhiều thiệt hại nặng

Tiếp đó, ngày 3-7-1907, Pháp đa quân chiếm đóng 2 tỉnh Battambang

và Xiêm Riệp theo hiệp ớc Pháp - Xiêm (23-3-1907) Tỉnh trởng Battambang

là Phia Cathatooc và viên quan Vixe Nhu bất bình, đã nổi dậy chống Pháp

Trang 20

Nghĩa quân đã đánh Pháp trên đờng từ Xiêm Riệp đi Battambang Năm 1908,nghĩa quân hoạt động mạnh, có lúc tấn công cả thị trấn Môgônbôrây, gây choPháp nhiều tổn thất.

Bớc sang những năm 10 của thế kỷ XX, phong trào chống Pháp ởCampuchia lan rộng cả khu vực đồng bào thiểu số Tiêu biểu nhất là phongtrào do Patranglơng lãnh đạo Cuộc khởi nghĩa lan rộng cả cùng sông MêCông và tỉnh Crachê Năm 1915, ngời Khạ và ngời Pơnông tấn công đồnCôngpông Trạch Phong trào chống Pháp cũng phát triển nhiều nơi: Puốc Xát

và Xoài Riêng Năm 1916, phong trào nhân dân chống chế độ bắt phu diễn rasôi nổi ở các vùng thôn quê Côngpông Chàm, Prâyveng, Côngpông Cơnăng.Ngay ở thủ đô, quần chúng biểu tình đa ra yêu sách cho nhà vua Xivôvát vàkhâm sứ Bôdoanh, đòi nhà vua phải đứng về phía ngời Campuchia chốngPháp, phản đối chính sách bắt lính, thu thuế đa sang Pháp

ở Lào, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân trong giai

đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX diễn ra khá sôi nổi Tiêu biểu là 3 cuộckhởi nghĩa do Phò Cà Duột (1901 - 1902), Ông Kẹo - Kômađam (1901 -1937) và Chậu Phạ Pátchay (1918 - 1922) lãnh đạo

Năm 1901, Phò Cà Duột đã phất cờ khởi nghĩa chống Pháp, nhân dân đitheo ông rất đông Mặc dù với vũ khí thô sơ, nhng nghĩa quân đã dũng cảm

đánh địch nhiều trận Mùa xuân 1902, nghĩa quân hoạt động chống Phápmạnh mẽ ở vùng đồng bằng Xavanakhẹt Cuối tháng 3 đầu tháng 4 năm đó,khoảng 1000 quân đánh chiếm Khêmarát gây khó khăn cho địch ở vùng này,sau đó tiến xuống Xoỏngkhôn, thu hút nhân dân ở đây nổi dậy chống Pháp

Sau khi đánh chiếm Xoỏngkhôn, lực lợng khởi nghĩa càng phát triển.Sáng ngày 19-4-1902, thừa thắng, quân khởi nghĩa tiến về giải phóng tỉnhXavanakhẹt, bao vây thị xã, tấn công đồn lính và toà sứ Nghĩa quân cắt đứt đ-ờng dây liên lạc từ Xavanakhẹt đến Viêng Chăn Trớc tình hình đó Pháp huy

động một lực lợng lớn ở Nam Kỳ lên đàn áp cuộc khởi nghĩa, chúng đã giếtchết hơn 200 ngời

Khi thực dân Pháp tăng cờng những cuộc hành quân ở vùng đồng bằng,thì nghĩa quân chuyển sang hoạt động tại vùng Xêpôn, gần biên giới Lào -Việt Tiếp đó Phò Cà Duột cùng nghĩa binh của mình về hoạt động ở vùng căn

cứ Huội Longcong ở vùng Keng cốc

Trang 21

Khi Phò Cà Duột nổi dậy ở Xavanakhẹt, thì ở cao nguyên Bôlôven, ngờiLào Thơng đã phát động một cuộc khởi nghĩa dới sự lãnh đạo của Ông Kẹo -Kômađam kéo dài tới 37 năm.

Ông kẹo, ngời bộ tộc Nghé quê ở bản Chabản huyện Thateng, tỉnhXaravẳn, ngời dân gọi ông là Nay My Sau khi cuộc khởi nghĩa bùng nổ, nhândân gọi ông bằng cái tên tôn kính: Ông Kẹo có nghĩa là viên ngọc đen, ÔngKẹo và các bạn chiến đấu của mình đã tập hợp lực lợng để chuẩn bị đánh Phápbằng vũ khí thô sơ tự tạo, nh giáo mác, súng kíp, nỏ bắn tên độc Bản Toọc,xã Xêcoong, huyện Xêcoong là khu căn cứ đầu tiên để Ông kẹo dấy binhchống Pháp

Ngày 12-4-1901, nghĩa quân của Ông kẹo đã mở cuộc tấn công đầu tiênvào đơn vị quân Pháp do tên công sứ Rêmi chỉ huy, công sứ Rêmi và nhữngtên lính Pháp thoát chết đã chạy về Xaravẳn

Cuộc tấn công vào lính Pháp ở chùa Thateng của nghĩa quân đã mở đầucho cuộc khởi nghĩa long trời lở đất của nhân dân cao nguyên Bôlôven vànhiều tỉnh Nam Lào Thắng lợi ban đầu này đã làm nức lòng ngời Lào Thơng,ngời Lào Lùm ở vùng cao nguyên và cả nớc

Bị đòn đau thực dân Pháp phải huy động cả lực lợng từ Bắc kỳ, Trung

kỳ (Việt Nam) để bảo vệ Attôp, Xaravẳn và Batxăc ở cao nguyên Bôlôven,quân Pháp đã phải thiết lập một hệ thống đồn bốt trên trục đờng quan trọngThateng - Đaxia để đối phó ở nam cao nguyên Bôlôven, thực dân Pháp đãthành lập hai binh đoàn đặc biệt, và điều hai binh đoàn này tiến vào căn cứNoọngbốc Những cuộc tiến công của chúng vấp phải những chớng ngại vật,

đến nỗi cuộc hành binh phải mất 3 tháng mới về đợc khu căn cứ

Trên đờng hành quân về căn cứ quân Pháp luôn bị nghĩa quân phục kíchchặn đánh Ngày 14-1-1901, nghĩa quân chặn đánh quân Pháp ở dọc đờng,nhiều tên bị giết chết và bị thơng Ngày 3-11-1901, quân Pháp bị phục kích và

bị tổn thất nặng Sau trận giao chiến ác liệt ở bản Xêpiên, quân Pháp mới vào

Trang 22

Pôcô và Pôxi, đồn biên giới hai nớc Lào - Việt Sáng ngày 29-5-1901, nghĩaquân cải trang tiến vào đồn và nhanh chóng đánh chiếm Konketu Bị tập kíchbât ngờ, quân lính trong đồn không kịp trở tay, buộc chúng phải tháo chạy vềKontum (Việt Nam).

Năm 1902, nghĩa quân hoạt động mạnh ở Xaravẳn Những cuộc đụng

độ giữa nghĩa quân và quân Pháp sảy ra hàng ngày Một chỉ huy quân ởThoong Vải là Ông Prơi đánh rất giỏi làm cho quân Pháp lao đao, chúng phải

điều động binh lính khố xanh từ Đaxia, Thateng, Tạc Pạc đến với chiến thuật

du kích, địa hình thuận lợi gây cho Pháp nhiều tổn thất

Năm 1905, Ông Kẹo và Kômađam bắt đầu mở những cuộc tiến côngmới vào quân Pháp Ngày 30-11-1905, một số đơn vị nghĩa quân đánh vàoNoọng Bôckhau, trừng trị một số tên phản bội làm tay sai cho Pháp

Tháng 4 - 1906, Pháp tập trung một lực lợng lớn đánh vào căn cử của

ông Thông ở Phù Kate Ông Thông phải vợt sông Mê Công lánh sang Xiêm,nhng chính quyền Xiêm đã bắt ông và trao lại cho Pháp

Năm 1907, lực lợng nghĩa quân ngày càng suy yếu, nhng không phải vìthế mà thực dân Pháp làm tan rã hoàn toàn nghĩa quân buộc chúng phải dùng

kế lừa dối

Với kế sách thâm độc, tiểu nhân, thì Ông Kẹo rơi vào tay thực dânPháp Sau khi Ông Kẹo bị hãm hại, nghĩa quân nằm dới sự lãnh đạo củaKômađam Từ đây phong trào cũng đợc mở rộng ra toàn quốc Kômađam phát

đi lời kêu gọi nhân dân thuộc địa các dân tộc đoàn kết chống thực dân Phápbằng mọi biện pháp: Không nộp thuế, không đi lính, không đi phu để côngtác tuyên truyền giáo dục dân tộc một cách có hiệu quả, Kômađam đã cải tiếnchữ “Hai xu hkhoọm” thành chữ riêng của dân tộc Lào Thơng

Để chiến đấu lâu dài có hiệu quả, Kômađam thiết lập nhiều căn cứ dọcsông Xêcatăng, mở lò rèn đúc súng kíp, nấu lấy thuốc súng, khai thác chì đúc

đạn Thực dân Pháp nhiều lần cho quân càn quét nhng vẫn không bình địnhnổi, chúng gọi căn cứ nghĩa quân là “Hai xu hkhu vực không chịu thuần phục” ở namLào

Trang 23

Cuộc đấu tranh của Kômađam ngày càng phát triển, các căn cứ vữngchắc ở vùng núi Phù Luổng đông bắc Bôlôven đợc nhân dân Lào tham gia

đông đảo

Trong khi cuộc khởi nghĩa chống Pháp của Ông Kẹo và Kômađam đangdiễn ra mạnh mẽ ở nam Lào thì ở Bắc Lào và một số tỉnh của Tây Bắc ViệtNam, phong trào chống Pháp cũng diễn ra mạnh mẽ, dới sự lãnh đạo của ChậuPhạ Pátchay

Trong giai đoạn 1918 đầu năm 1919 cuộc khởi nghĩa bùng nổ ở vùngbiên giới Việt - Lào và trên một số vùng lãnh thổ Việt Nam Từ mùa hè năm

1919, cuộc khởi nghĩa của Pátchay đã mở rộng sang đông bắc Lào là mộtvùng núi hiểm trở

Mùa thu năm 1919, công sứ tỉnh Luôngphabang chỉ huy càn quét khucăn cứ Xênôphôn ở vùng thợng Nậm U, nghĩa quân đã đánh bại đợc cuộc cànquét này Vì vậy ngày 21-9-1919, quân Pháp phải bỏ dở cuộc càn quét

Ngày 1-11-1919, nghĩa quân bất ngờ tấn công Mờng Hợp, gần biên giớiViệt, Lào Từ đây phong trào phát triển mạnh ở hai tỉnh Sầm Na và XiêngKhoảng rồi lan rộng ra phía biên giới Việt - Lào

Biết chỉ dùng biện pháp quân sự sẽ khó thành công, thực dân Pháp đãphải kết hợp với biện pháp mua chuộc để hi vọng dập tắt cuộc khởi nghĩa Vềphía nghĩa quân, Pátchay ra sức củng cố lực lợng và xây dựng căn cứ

Năm 1920, cuộc đụng độ giữa nghĩa quân và quân Pháp đã diễn ra ởvùng núi Phù Loi vùng bản Phùteng, Phaxa và bản Taotang Nghĩa quân buộcphải rút về củng cố căn cứ Pakha và căn cứ Phuphađon ở Xiêng Khoảng Tại

đây, tháng 3 - 1920 diễn ra cuộc giao tranh dữ dội giữa nghĩa quân và quânPháp, sau đó chiến sự tạm thời lắng dịu

Cuối năm 1920, cuộc chiến đấu của nghĩa quân chống Pháp lại bùng nổmạnh mẽ Ngày 20-12-1920, quân Pháp bắt đầu mở cuộc tấn công vào căn cứquan trọng nhất là sùng quán Lào Ván, đồng thời Pháp cũng tấn công vào căn

cứ Nậm Hợp, Nạm Bang Chúng đã gây tổn thất khá nặng và luôn luôn bịquấy rối

Trang 24

Trong tình hình đó, thực dân Pháp vừa tấn công quân sự, vừa kết hợpvới chính sách tàn bạo, nh càn quét, đốt phá mùa màng, đốt phá nơngrẫy chúng đã gây biết bao khó khăn cho nhân dân.

Vào tháng 1 - 1921, nghĩa quân đã phải rời căn cứ, rút sâu vào rừng núi.Pátchay và các thủ lĩnh lãnh đạo nghĩa quân tiếp tục chiến đấu trong tình thếrất khó khăn

2.2.2 ở Inđônêxia và Mianma ( Miến Điện)

Tiêu biểu cho xu hớng Bạo động ở Inđônêxia là cuộc khởi nghĩa của

Đipônêgôrô (1825 - 1830) và cuộc chiến đấu của nhân dân Achê

Trong nửa đầu thế kỷ XIX, thực dân Hà Lan dùng nhiều biện pháp đểcan thiệp vào nền kinh tế của các lãnh chúa trên quần đảo này Ngay lập tức,chúng đã vấp phải sự phản ứng của các lãnh chúa đứng đầu là Đipônêgôrô

Ông đã phát ra lời kêu gọi các lãnh chúa cũng nh quần chúng nhân dân thamgia chống thực dân Hà Lan Lời kêu gọi của ông có tới 70 lãnh chúa và hàngvạn quần chúng tham gia phong trào Từ mùa thu năm 1825 đến mùa xuânnăm 1826, nghĩa quân đã nhiều lần đánh bại quân đội Hà lan Từ đây quânkhởi nghĩa nhanh chóng chiếm Giacácta và đánh tan sự đàn áp trở lại của quân

Hà Lan Trớc sự phát triển mạnh mẽ của cuộc khởi nghĩa thì thực dân Hà Lanmột mặt tiếp tục tăng cờng bao vây, đàn áp vào khu căn cứ của nghĩa quân,mặt khác chúng dùng chiêu bài kinh tế để dụ dỗ, mua chuộc các lãnh chúa Vìthế, nhiều lãnh chúa dần dần rời khỏi phong trào cho nên nghĩa quân chuyểnsang hoạt động du kích Nhng nhờ sự che chở của quần chúng nhân dân nênphong tẻào vẫn phát triển mạnh mẽ Thực dân Hà Lan không thể nào dập tắt

đợc phong trào thì chúng chuyển sang chính sách bỉ ổi là yêu cầu đàm phánvới chính quyền Đipônêgôrô để tổ chức bắt ông vào tháng 5 - 1938

Achê lúc bấy giờ là một tiểu quốc ở Tây Bắc Inđônêxia Từ thế kỷ XVIthực dân Bồ Đào Nha, sau là thực dân Hà Lan bằng cách chinh phục tiểu quốcnày nhng không thành công Từ kênh đào Xuyê thì eo biển Malắcca cũng trởthành một vị trí quan trọng trong con đờng giao thơng Đông Tây Chính vì vậythực dân Hà Lan rất muốn khống chế eo biển này Muốn khống chế đợc eobiển này thì trớc hết phải thôn tính Achê Vì thế năm 1873, Hà Lan điều 3000quân đổ bộ lên Achê thực hiện kế hoạch đánh chớp nhoáng, nhng nhân dânAchê chiến đấu hết sức dũng cảm tiêu diệt hơn 1000 quân Hà Lan cùng với

Trang 25

tên chỉ huy, và làm thất bại cuộc hành quân của thực dân Hà Lan Cuối năm

đó thực dân Hà Lan tiếp tục đổ bộ lên Achê và chiếm đợc hoàng cung củatiểu vơng Ngay lập tức Hà Lan phải đơng đầu với một cuộc chiến tranh dukích diễn ra trên một quy mô rộng lớn Trong cuộc chiến tranh này hơn 1000quân Hà Lan phải bỏ mạng, tiêu tốn hơn 150 triệu gunđơ Sau thất bại này HàLan chuyển sang chính sách xây dựng một số đồn trú

ở Mianma, sau cuộc xâm lợc lần thứ ba của thực dân Anh, thì phong

trào đấu tranh theo xu hớng Bạo động của quần chúng nhân dân diễn ra khásôi nổi

Sau khi thực dân Anh căn bản thôn tính đợc Mianma trong thời gian(Từ cuối năm 1885 đến đầu 1886) từ mùa hè năm 1886, phong trào chiếntranh du kích chống thực dân Anh đã lan rộng ở Mianma Lực lợng khángchiến đã rút khỏi các thành phố đi sâu vào rừng núi, chuyển sang đánh dukích Sau khi chiếm đợc Mianma, các tớng lĩnh Anh chủ quan, không đánh giá

đúng lực lợng kháng chiến của ngời Miến

Vùng quan trọng của phong trào khởi nghĩa là khu vực ngoại ôManđalay ở đó, các đội quân của hoàng thân Min Xâyin hoạt động mạnh.Nhiều dân c thành phố, trong đó có cả những tu sĩ nổi tiếng đã liên hệ chặt chẽvới nghĩa quân Ngoài các cuộc tấn công vào đồn bốt của quân Anh, các nghĩabinh còn mu toan đánh chiếm các thành phố Tuy nhiên, họ không thực hiện

đợc Các đội du kích hoạt động mạnh nhất ở vùng Suêbô, vùng mỏ ngọcMôgôca ở phía bắc Miến, ngời Trung Quốc, ngời Cachin và các bộ lạc miềnnúi khác cũng tích cực tham gia chiến tranh du kích chống Anh cùng vớinghĩa quân

ở vùng trung Mianma, quân du kích hoạt động mạnh ở những khu đôngdân Ava và Xagain Quân du kích Miến đã vây hãm quân Anh trong các thànhphố cho đến tận năm 1889

ở các miền dọc sông Iraoađi, Pagan, Mingan, Minbu, Tacmiô, phongtrào du kích cũng gây nhiều khó khăn cho quân Anh ở những vùng này,nghĩa quân dới sự chỉ huy của những lãnh tụ tài giỏi nh Bô Suây và Ôttama đãnhiều lần dáng những đòn chí mạng vào quân đội Anh

Trang 26

Quân du kích Mianma cũng hoạt động mạnh ở những vùng Iaungu,Pêgu, Tanetxerim và đe doạ vùng ngoại ô Ranggun Phong trào khởi nghĩachống ngời Anh của ngời Cachin, ngời San cũng không ngừng tăng lên mà ng-

ời Anh không thể nào đàn áp đợc vì rừng rậm và núi cao cản trở Quy mô củacuộc chiến tranh du kích rất rộng lớn, đến nỗi lực lợng chiếm đóng của quânAnh đông tới 40.000 ngời mà luôn ở trong tình trạng đối phó, những thiệt hạicủa quân Anh ngày càng tăng

Đến cuối năm 1889, phong trào du kích hoạt động chủ yếu ở các vùngrừng núi, và tiến hành công kích đơn lẻ vào các đồn bốt của quân Anh, sau đórút vào rừng núi Những đội du kích đợc chia nhỏ, hoạt động riêng rẽ

2.2.3 ở Philíppin

Năm 1868, cuộc cách mang t sản bùng nổ ở Tây Ban Nha và thắng lợi,

đã tác động rất lớn tới tình hình Philíppin Ngay sau đó 4 năm, phong trào đấutranh của nhân dân lên cao, trong đó có phong trào đấu tranh của công nhânCavíttơ, đã liên hệ đợc với binh lính và sĩ quan ngời Philíppin đóng ở Manila.Nông dân ở đây đợc giác ngộ cũng tham gia đấu tranh Những ngời lãnh đạokhởi nghĩa định đêm 20-1-1872 khởi sự cùng một lúc ở hai địa điểm Manila

và Cavíttơ Nhng kế hoạch ở Manila bị bại lộ, chính quyền thực dân Tây BanNha nhanh chóng dập tắt Còn ở Cavíttơ tình hình diễn ra đúng kế hoạch Đêm20-1-1872, khoảng 200 ngời lính ngời Philíppinđứng lên khởi nghĩa hô vangkhẩu hiệu “Hai xu hđả đảo bọ Tây Ban Nha”, “Hai xu hgiết hết bọn giáo sỹ” Nghĩa quân đánhchiếm đảo Philíp Quân khởi nghĩa đã giết chết các sĩ quan và binh lính TâyBan Nha ở cảng này, phá nhà tù, giải thoát tù nhân Những ngời nông dân ởngoại ô và công nhân đã tích cực tham gia khởi nghĩa Nghĩa quân làm chủthành phố trong 3 ngày, nhng thiếu phơng hớng chỉ đóng khung hoạt động cốthủ trong thành phố

Tiêu biểu cho xu hớng Bạo động ở Philíppin là phái cách mạng doBôniphaxiô đứng đầu, ông chủ trơng đi tới nền độc lập cho Philíppin bằng con

đờng đấu tranh bằng bạo lực cách mạng ông tợng trng cho sự liên hiệp củaquảng đại quần chúng, nhằm đấu tranh cho một tơng lai tốt đẹp của Philíppin

Bôniphaxiô sinh ngày 30-11-1863 ở ngoại ô Manila, từ bé ông phải lao

động kiếm sống và đã chịu đựng nỗi khổ của những ngời công nhân, nôngdân T tởng cách mạng của ông chịu ảnh hởng của phong trào quần chúng và

Trang 27

của sách báo phơng tây, đặc biệt là sách báo của các nhà cách mạng t sảnPháp Bôniphaxiô tham gia liên minh Philíppin với t cách đại diện tầng lớpbình dân Nhng sau đó ông thành lập một đoàn thể bí mật lấy tên là Katipunan(Liên hiệp những ngời con u quý của nhân dân) Tuy không có cơng lĩnh rõràng, và còn mang nhiều màu sắc tôn giáo, nhng với khẩu hiệu “Hai xu hbình đẳng” vàphơng pháp cách mạng bình dân, Katipunan trở thành tổ chức cách mạng củaquần chúng cần lao tha thiết với quyền lợi dân tộc.

Bôniphaxiô xây dựng Katipunan thành một tổ chức kỷ luật: Hội viênphải ký bằng máu của mình khi vào hội Mục tiêu là:

- Mọi ngời phải đợc bình đẳng, không phân biệt màu da, giàu nghèo và

địa vị xã hội

- Đấu tranh chống áp bức xã hội bảo vệ những ngời bị áp bức

- Giành độc lập tự do cho tổ quốc

Câu nói nổi tiếng của Bôniphaxiô “Hai xu hcần nhớ rằng hạnh phúc và vinhquang là chết cho sự nghiệp cứu lấy tổ quốc” thành lời tuyên thệ củaKatipunan trớc sự nghiệp đấu tranh cho đến năm 1893, Bôniphaxiô vẫn coi tổchức của ông là một bộ phận của “Hai xu hLiên minh Philíppin” Nhng t tởng của ông

xa dần với chủ trơng cải cách ôn hoà của Hôxê Ridan

Năm 1894, Katipunan đã có hàng chục vạn hội viên với tính kỷ luậtchặt chẽ và lần đầu tiên bớc vào giai đoạn bạo lực cách mạng Phong trào khởinghĩa của nhân dân, đặc biệt là cuộc đấu tranh của ngời dân ngày càng mạnh

mẽ đã ảnh hởng đến Katipunan Những nhà lãnh đạo đã liên hệ với phong tràonổi dậy của nông dân ở Môrông Tháng 5 - 1894, Bôniphaxiô chủ trì cuộc họp

ở một hang núi thuộc tỉnh Mông tan để chuẩn bị khởi nghĩa

Katipunan cử ngời đi liên hệ với Ridan lãnh đạo cuộc khởi nghĩa, nhng

ông từ chối Sau đó ông bị bắt khi đang trên đờng tới Tây Ban Nha Lúc nàycuộc khởi nghĩa đã bùng nổ, tình thế cách mạng ngày càng đến gần,Bôniphaxiô đích thân lãnh đạo Katipunan thành cơ quan lãnh đạo khởi nghĩa

và sau khi giành đợc thắng lợi, nó sẽ trở thành chính quyền cách mạng

Ngày 28-8-1896, Bôniphaxiô phát ra lời kêu gọi đấu tranh đợc nhân dânPhilíppin hởng ứng nhiệt liệt Hàng ngàn ngời cầm vũ khí, khởi nghĩa nhanhchóng lan ra toàn quốc Đội quân cách mạng ban đầu chỉ có gậy gộc, giáo

Ngày đăng: 18/12/2013, 20:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Đỗ Thanh Bình (1999), Con đờng cứu nớc trong đấu tranh giải phóng dân tộc ở một số nớc Châu á. NXB Đại Học Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đờng cứu nớc trong đấu tranh giải phóng dântộc ở một số nớc Châu á
Tác giả: Đỗ Thanh Bình
Nhà XB: NXB Đại Học Quốc Gia
Năm: 1999
[2]. Đỗ Thanh Bình (2006), Cuộc đấu tranh chống chính sách "Chia để trị"của chủ nghĩa thực dân ở Đông Dơng, Mã Lai, Miến Điện. Nghiên cứu Đông Nam á, Số 3(78)2006, tr3-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chia để trị
Tác giả: Đỗ Thanh Bình
Năm: 2006
[3]. Ngô Văn Doanh (1995), Inđônêxia đất nớc con ngời. NXB Thông Tin, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Inđônêxia đất nớc con ngời
Tác giả: Ngô Văn Doanh
Nhà XB: NXB Thông Tin
Năm: 1995
[4]. Trần Văn Giàu (1993), Sự phát triển của t tởng Việt Nam từ thế kỷ XIXđến cách mạng tháng Tám. NXB Thành Phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển của t tởng Việt Nam từ thế kỷ XIX"đến cách mạng tháng Tám
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: NXB Thành Phố Hồ Chí Minh
Năm: 1993
[5]. D.G.E. Hall (1997), Lịch sử các quốc gia Đông Nam á. NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử các quốc gia Đông Nam á
Tác giả: D.G.E. Hall
Nhà XB: NXB Chính TrịQuốc Gia
Năm: 1997
[6]. Đinh Xuân Lâm (1998), Đại cơng lịch sử Việt Nam, tập 2. NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cơng lịch sử Việt Nam, tập 2
Tác giả: Đinh Xuân Lâm
Nhà XB: NXB GiáoDục
Năm: 1998
[7]. Đinh Xuân Lâm (2006), Phong trào Đông Du (1905 - 1908) ý nghĩa thờiđại và giá trị thực tiễn. Nghiên cứu Đông Nam á, Số(77)2006, tr 3-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào Đông Du (1905 - 1908) ý nghĩa thời"đại và giá trị thực tiễn
Tác giả: Đinh Xuân Lâm
Năm: 2006
[8]. Phan Ngọc Liên (1999), Lợc sử Đông Nam á. NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lợc sử Đông Nam á
Tác giả: Phan Ngọc Liên
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 1999
[9]. Phạm Nguyên Long (1993), Đông Nam á trên đờng phát triển. NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đông Nam á trên đờng phát triển
Tác giả: Phạm Nguyên Long
Nhà XB: NXBKhoa Học Xã Hội
Năm: 1993
[10]. Phạm Nguyên Long (1997), Hoà hợp dân tộc ở Việt Nam, Lào, Campuchia trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, tiến bộ xã hội và an ninh khu vực. NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoà hợp dân tộc ở Việt Nam, Lào,Campuchia trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, tiến bộ xã hội và an ninh khuvực
Tác giả: Phạm Nguyên Long
Nhà XB: NXB Khoa Học Xã Hội
Năm: 1997
[11]. Vũ Dơng Ninh, Nguyễn Văn Hồng (1998), Lịch sử thế giới cận đại.NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới cận đại
Tác giả: Vũ Dơng Ninh, Nguyễn Văn Hồng
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 1998
[12]. Vũ Dơng Ninh (2000), Một số chuyên đề lịch sử thế giới. NXB Đại Học Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số chuyên đề lịch sử thế giới
Tác giả: Vũ Dơng Ninh
Nhà XB: NXB Đại HọcQuốc Gia
Năm: 2000
[13]. Vũ Dơng Ninh (2000), Việt Nam - Đông Nam á những chặng đờng thế kỷ XX. Nghiên cứu Đông Nam á, Số 6(45)2000, tr3-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam - Đông Nam" á" những chặng đờng thếkỷ XX
Tác giả: Vũ Dơng Ninh
Năm: 2000
[14]. Lơng Ninh - Đỗ Thanh Bình - Trần Thị Vinh (2005), Lịch sử Đông Namá. NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đông Nam
Tác giả: Lơng Ninh - Đỗ Thanh Bình - Trần Thị Vinh
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2005
[15]. Lơng Ninh (1996), Nớc Lào - Lịch sử và văn hoá. NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nớc Lào - Lịch sử và văn hoá
Tác giả: Lơng Ninh
Nhà XB: NXB Chính Trị QuốcGia
Năm: 1996
[16]. Võ Văn Nhung (1962), Lợc sử Inđônêxia. NXB Sử Học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lợc sử Inđônêxia
Tác giả: Võ Văn Nhung
Nhà XB: NXB Sử Học
Năm: 1962
[17]. Nguyễn Quang Ngọc (2000), Tiến trình lịch sử Việt Nam. NXB Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến trình lịch sử Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Quang Ngọc
Nhà XB: NXB GiáoDục
Năm: 2000
[18]. Nguyễn Hùng Phi (2006), Lịch sử Lào hiện đại, tập 1. NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Lào hiện đại, tập 1
Tác giả: Nguyễn Hùng Phi
Nhà XB: NXB Chính TrịQuốc Gia
Năm: 2006
[19]. Vũ Quang Thiện (2005), Lịch sử Myanma. NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Myanma
Tác giả: Vũ Quang Thiện
Nhà XB: NXB Khoa Học Xã Hội
Năm: 2005
[20]. Phạm Đức Thành(1997), Cách mạng tháng Mời với phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam á . Nghiên cứu Đông Nam á, Số 4(29)1997,tr32- 36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách mạng tháng Mời với phong trào giảiphóng dân tộc ở Đông Nam
Tác giả: Phạm Đức Thành
Năm: 1997

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w