Ngoài những điểm chung nh các tỉnh khác ở xứ Trung Kì đợc các Nghị định, Sắc lệnh, Đạo dụ của Toàn quyền Đông Dơng, của vua Nguyễn quy định,trên địa bàn Nghệ An – Hà Tĩnh, hoạt động thuế
Trang 13 Đối tợng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu
4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu
5 Đóng góp của khoá luận
6 Bố cục của khoá luận
23356677
Chơng 2 Hải quan Nghệ An từ ngày thành lập đến Đại thắng mùa xuân
đấu tranh giải phóng miền Nam (1964 - 1975)
Xin chân thành cảm ơn: Th viện Trờng Đại học Vinh, Th viện tỉnh Nghệ
An, Tiểu Ban Nghiên cứu lịch sử - Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Nghệ An, Cục Hải quan Nghệ An, Tổng Cục Hải quan Việt Nam, … đã đỡ giúp chúng tôi s đã đỡ giúp chúng tôi s u tầm, xác minh t liệu, góp ý đề cơng đề tài khoá luận tốt nghiệp đại học
Đặc biệt, xin đợc bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến TS Nguyễn Quang Hồng đã nhiệt tình hớng dẫn đề tài khoa học, giúp đỡ, động viện bản thân tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành khoá luận này Tuy nhiên, chắc rằng khoá luận sẽ không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận đợc sự hậu thuẫn từ HĐKH, tập thể CBGD Khoa Lịch sử Đại học Vinh
Trang 2Nhân dịp này, tôi cũng xin trân trọng cảm ơn BCN, CBGD Khoa Lịch sử
Đại học Vinh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình học tập, rèn luyện, tu dỡng tại Khoa và Nhà trờng
Thành Vinh, tháng T, Bính Tuất niên
sự nghiệp chiến tranh cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa
Ngày 19 – 5 – 1956, Bộ trởng Bộ Thơng nghiệp kí Nghị định số161/BTN/NĐ - TC thành lập Chi Sở Hải quan Nghệ An Từ đó đến năm 1975,tức là trải qua khoảng thời gian 20 năm xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội chủnghĩa và đấu tranh thống nhất nớc nhà ở miền Nam (1956 – 1975), cán bộ,chiến sĩ Hải quan Nghệ An luôn vợt qua mọi khó khăn thử thách, hoàn thànhxuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nớc giao phó
Tiến hành su tầm, nghiên cứu lịch sử ngành hải quan Nghệ An nhằm ghinhận những đóng góp to lớn trên các lĩnh vực công tác của các thế hệ cán bộ,chiến sĩ hải quan ở đây từ khi thành lập đến năm 1975 Từ đó có thể rút ra nhữngbài học kinh nghiệm cho việc xây dựng và phát triển Hải quan Nghệ An trong xu
Trang 3thế đổi mới, hội nhập hiện nay Thông qua việc nghiên cứu một cách có hệthống, toàn diện về lịch sử ngành hải quan Nghệ An từ 1956 đến 1975, sẽ đánhgiá khách quan những đóng góp của cán bộ, chiến sĩ Hải quan Nghệ An trongtiến trình lịch sử tỉnh Nghệ An.
1.2 Về mặt thực tiễn:
Chọn vấn đề “Hải quan Nghệ An từ ngày thành lập đến Đại thắng mùaxuân (19/5/1956 – 30/4/1975)” làm khoá luận tốt nghiệp không chỉ có ý nghĩathiết thực đối với việc đánh giá nhìn nhận lịch sử thời kì miền Bắc xây dựng chủnghĩa xã hội, chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ và chi viện cho miềnNam, đấu tranh thống nhất đất nớc mà còn là bài học bổ ích cho công cuộc đổimới hiện nay của ngành hải quan Nghệ An nói riêng và trên bình diện toàn quốcnói chung
Nghệ An có hơn 400 km đờng biên giới với nớc bạn Lào, hơn 84 km đờngbiển, có 2 cửa khẩu chính là Nậm Cắn và cảng Cửa Lò, các cửa khẩu phụ ThanhThuỷ (huyện Thanh Chơng), Ta Đo (Kỳ Sơn) và Tam Hợp (Tơng Dơng), vì vậyNghệ An trở thành “điểm nóng” về hoạt động của các loại tội phạm buôn lậu matuý Đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm này là một trong những nhiệm vụhết sức nặng nề, gian khổ, song cũng rất đỗi vinh quang của cán bộ, chiến sĩ Hảiquan Nghệ An
Đề tài tái hiện cụ thể, sinh động bức tranh xây dựng và phát triển củangành hải quan, trong đó tập trung chủ yếu vào Hải quan Nghệ An trớc nhữngbiến động liên tục của lịch sử Từ đó hiểu rõ những cống hiến, sự hy sinh của cácthế hệ cha anh trong đấu tranh cách mạng, xây dựng quê hơng Nghệ An ngàycàng vững mạnh
Tái hiện quá trình hình thành và phát triển của Hải quan Nghệ An trong
20 năm (1956 - 1975), ngoài việc rút ra bài học kinh nghiệm chính là hiện thựclịch sử để giáo dục tinh thần yêu nớc, trân trọng và tự hào về những thành quả tolớn mà cán bộ, chiến sĩ Hải quan Nghệ An đầu tiên và thứ hai đạt đợc cho cáclực lợng Hải quan Nghệ An hôm nay và mai sau Từ đó góp phần bồi dỡng thế hệtrẻ về tinh thần yêu nớc, yêu quê hơng, gia đình, lòng nhân ái, ý thức chấp hànhpháp luật, đấu tranh chống các tệ nạn xã hội trên quê hơng Xô viết anh hùng.Mặt khác, đề tài sẽ góp phần nhỏ bé tái tạo bức tranh toàn cảnh về sự phát triểnkinh tế – xã hội suốt chặng đờng chiến tranh cách mạng của tỉnh Nghệ An; gópphần tổng kết công tác lí luận và thực tiễn của địa phơng…
Trang 4Chúng tôi mong muốn đợc góp một phần nhỏ của mình vào sự nghiệpcách mạng của tỉnh Nghệ An qua khoá luận tốt nghiệp đại học với đề tài: “Hảiquan Nghệ An từ ngày thành lập đến Đại thắng mùa xuân (19/5/1956 –30/4/1975)”.
2 Lịch sử vấn đề.
Hoạt động thuế quan ở nớc ta qua các thời đoạn lịch sử đợc các tác giả đềcập đến trong các bộ giáo trình lịch sử dùng cho các trờng Đại học, Cao đẳng nh
“Tiến trình lịch sử Việt Nam”, “Đại cơng lịch sử Việt Nam”, “Lịch sử Việt Nam
từ 1858 đến nay”, “Việt Nam – những sự kiện lịch sử 1858 – 1818”… Mặc dùvậy, lĩnh vực quan thuế mới chỉ đợc đề cập một cách rất sơ lợc
Tuy nhiên trớc đó, trong các bộ sử cũ nh, “Đại Việt sử kí toàn th, tập II”,
“Việt sử thông giám cơng mục chính biên”, “Đại Nam thực lục chính biên”,
“Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ”, “Đại Nam nhất thống chí, tập 2”… đã đỡ giúp chúng tôi s Các
tác phẩm sử cũ ghi chép tơng đối chi tiết về hoạt động buôn bán, trao đổi trênbình diện chung qua các triều đại quân chủ
Một số sách viết về Thành phố Vinh có đề cập những đạo dụ của vua nhàNguyễn, Nghị định của Toàn quyền Đông Dơng về chính sách thuế và áp dụngcác thứ thuế ở Trung Kì, trong đó có Nghệ An Tài liệu “Lịch sử Đảng bộ NghệAn” (2 tập) chỉ trình bày về bối cảnh lịch sử, thành tựu của Đảng bộ và nhân dân
đạt đợc từ 1930 đến 1975, có điểm qua đôi nét về chính sách thuế ở Nghệ An màthôi Gần nh rất ít tác giả đề cập nghiên cứu riêng về lĩnh vực Hải quan Nghệ An
từ khi thành lập đến 1975 Trong “Hải quan Việt Nam - biên niên sự kiện”, “Hải
quan Việt Nam – 60 năm Hải quan Việt Nam (1945 - 2005)” cũng có điểm qua
một vài sự kiện quan trọng về những quyết định của Bộ Công thơng, Bộ Ngoạithơng, Thủ tớng Chính phủ,… có liên quan đến lực lợng hải quan Nghệ An
“Điều lệ Hải quan” ban hành từ năm 1960 có ý nghĩa chung về những quy địnhpháp quy của ngành Hải quan Việt Nam
Lĩnh vực còn khá mới mẻ này cũng đợc phác thảo qua “Địa d Nghệ An”,
“Công an nhân dân Nghệ An – Lịch sử biên niên”, “Cuộc chiến chống buôn lậu
ở Nghệ An”, “Nghệ An thế và lực mới trong thế kỉ XXI”…
Dù cha thật toàn diện nhng tất cả các công trình nói trên là những cơ sởquan trọng, cần thiết cho chúng tôi tiếp cận đề tài này một cách cụ thể và có hệthống Thực hiện đề tài về lịch sử ngành hải quan Nghệ An chủ yếu và đặc biệtquan trọng là tập trung nghiên cứu trong các báo cáo sơ kết, tổng kết nửa năm,
Trang 5hàng năm của ngành; báo cáo công tác tổ chức, công tác xây dựng Đảng trongngành Hải quan Nghệ An; tạp chí Hải quan Nghệ An; Quyết định, Thông t của
Bộ Ngoại thơng, Hải quan Trung ơng, Chi Cục trởng Hải quan Nghệ An…
3 Đối tợng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu.
“Hải quan Nghệ An từ ngày thành lập đến Đại thắng mùa xuân (19/5/1956– 30/4/1975)” là đề tài tổng kết đánh giá những thành tựu, hạn chế và bài họckinh nghiệm Trong khoá luận này chúng tôi tập trung nghiên cứu về quá trìnhhình thành và phát triển của ngành hải quan Nghệ An thời kì từ 1956 đến 1975
Do đó, phạm vi nghiên cứu của đề tài là ở một tỉnh cụ thể và chủ yếu trongkhoảng thời gian từ trớc năm 1956 và từ 1956 đến 1975 Chúng tôi chủ yếu đisâu tìm hiểu, phân tích các vấn đề có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới đề tàitrên Vậy cần phải xác định đợc vài nét về điều kiện tự nhiên – xã hội tỉnh Nghệ
An, tình hình thuế quan và ngoại thơng trên bình diện cả nớc cũng nh ở Nghệ Antrớc khi Hải quan Nghệ An ra đời (trớc ngày 19/5/1956) Cuối cùng trình bàyquá trình phát triển, những đóng góp của Hải quan Nghệ An từ 1956 đến 1975
4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu.
Với đề tài “Hải quan Nghệ An từ ngày thành lập đến Đại thắng mùa xuân(19/5/1956 – 30/4/1975)”, chúng tôi chủ yếu tập trung khai thác các dạng tàiliệu sau:
- Nguồn t liệu mang tính chất thông sử viết về lịch sử Việt Nam
- Tài liệu chuyên khảo nghiên cứu về sự phát triển của ngành hải quanViệt Nam trên bình diện toàn quốc hiện lu tại Tổng Cục Hải quan Việt Nam
- Tài liệu viết về lịch sử Đảng bộ Nghệ An, Thành phố Vinh, Quyết định,Công văn, báo cáo sơ kết, tổng kết, báo cáo thi đua hàng năm, Tạp chí, Quyết
định khen thởng,… có liên quan đến ngành hải quan Nghệ An đợc lu trữ ở BanTuyên giáo Tỉnh uỷ, Cục Hải quan Nghệ An, Th viện Nghệ An, Bộ Ngoại thơng,Tổng Cục Hải quan…
Để su tầm t liệu và thực hiện đề tài này, chúng tôi còn tiếp xúc với một sốcán bộ, chiến sĩ Hải quan Nghệ An đã nghỉ hu và hiện đang công tác
Hoàn thành đợc đề tài này, chúng tôi sử dụng kết hợp các phơng pháp sau:phơng pháp lịch sử, phơng pháp lô gíc, lập bảng thống kê, đối chiếu, so sánh,tổng hợp Phơng pháp luận mácxít và t tởng Hồ Chí Minh mang tính chỉ đạotrong suốt quá trình su tầm t liệu và nghiên cứu
5 Đóng góp của khoá luận.
Với đề tài “Hải quan Nghệ An từ ngày thành lập đến Đại thắng mùa xuân(19/5/1956 – 30/4/1975)”, qua quá trình su tầm, xử lí t liệu, thâm nhập thực tế,
Trang 6chúng tôi mong muốn đóng góp một phần nhỏ của mình trong việc hệ thống các
t liệu liên quan để tiện theo dõi, nghiên cứu, đối chiếu; phục vụ cho việc giảngdạy lịch sử địa phơng ở trờng trung học phổ thông và trung học cơ sở… trên địabàn tỉnh Nghệ An; từ đó góp phần giáo dục lí tởng cống hiến, xây dựng quê hơngcho cán bộ, chiến sĩ Hải quan Nghệ An cũng nh đông đảo thanh thiếu niên vànhân dân Nghệ An
6 Bố cục của khoá luận.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, mục lục, tài liệu tham khảo, nộidung của khoá luận đợc kết cấu trong 2 chơng:
Chơng 1 Khái lợc tình hình ngoại thơng và thuế quan Nghệ An trớc ngày
19 - 5 - 1956.
Chơng 2 Hải quan Nghệ An từ ngày thành lập đến đại thắng mùa xuân (19/5/1956 – 30/4/1975).
B nội dung Chơng 1Khái lợc tình hình ngoại thơng và thuế quan
Nghệ An trớc ngày 19 - 5 - 1956
1 1 Vài nét về điều kiện tự nhiên – xã hội. xã hội.
Tỉnh Nghệ An có toạ độ địa lí từ 18035’ đến 20 vĩ độ Bắc và từ 103050’ đến
1050 kinh độ Đông, cách thủ đô Hà Nội 297 km về phía Bắc, cách cố đô Huế 360
km về phía Nam Phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hoá, phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh,phía Tây giáp nớc Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, phía Đông giáp biển Đông
Diện tích đất tự nhiên là 16.487 km2 Trong đó đất lâm nghiệp chiếm41%, đất nông nghiệp chiếm 11%, đất chuyên dùng chiếm 3,6%, quỹ đất cha sửdụng chiếm 42%
Tỉnh Nghệ An nằm ở Đông Bắc dãy Trờng Sơn, địa hình đa dạng, phứctạp và bị chia cắt bởi các hệ thống đồi núi, sông suối, hớng nghiêng từ Tây –Bắc xuống Đông – Nam Đỉnh núi cao nhất là Pulaileng (2.711 m) ở huyện KỳSơn Thấp nhất là vùng đồng bằng ven biển Quỳnh Lu, Diễn Châu, Yên Thành,
có nơi chỉ cao 0,2 m sovới mặt nớc biển nh các xã Quỳnh Thanh, huyện Quỳnh
Lu Đồi núi chiếm 83% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh
Trang 7Nghệ An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu sự tác động trựctiếp của gió mùa Tây Nam khô và nóng (từ tháng 4 đến tháng 8) và gió mùa
Đông Bắc lạnh, ẩm ớt (từ tháng 8 đến tháng 3 năm sau) [18, 31 - 32]
Nghệ An là một trong những tỉnh giàu tài nguyên thiên nhiên Toàn tỉnh
có 685 nghìn ha rừng với tổng trữ lợng gỗ là 50 triệu m3, chế độ che phủ đạt42,5% (năm 2002), với nhiều loại gỗ quý nh pơmu, samu, lim, sấu, đinh hơng,sến,… đó là cha kể đến hàng trăm loài dợc liệu và trên 1 tỷ cây tre, nứa, mét.Tổng trữ lợng hải sản của tỉnh đạt 80 nghìn tấn với hàng trăm loài cá, tôm, mựccác loại Với 113 vùng mỏ và 171 điểm quặng, các suối nớc nóng,… ở Nghệ An
là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà không phải địa phơng nào cũng có đợc.Ngoài ra còn phải kể đến 342 loài động vật thuộc 91 họ – 27 bộ, 1.193 loài thựcvật thuộc 537 chi – 163 họ [18, 32]
Tổng chiều dài sông suối trên địa bàn tỉnh là 9.828 km, mật độ trung bình
là 0,7 km/km2 Sông lớn nhất là sông Lam, bắt nguồn từ huyện Mờng Pec – tỉnhXiêng Khoảng (Lào) dài 532 km (riêng đoạn chảy trên đất Nghệ An dài 361km) Tổng lợng nớc hàng năm khoảng 28.109 m3, trong đó 14.109 m3 là nớcmặn Nhìn chung, hệ thống sông suối này đáp ứng cho sản xuất và đời sống sinhhoạt của nhân dân
Nghệ An có bờ biển dài 82 km với 6 cửa lạch, thuận lợi cho vận tải biển,phát triển cảng biên và nghề làm muối Hải phận của tỉnh rộng 4.230 hải lívuông, là nơi tập trung nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế cao [18, 32] Bãi biểnCửa Lò là một trong những bãi tắm đẹp và hấp dẫn, rất thuận lợi cho việc pháttriển ngành du lịch Nghệ An Với hệ thống đờng biển chạy dài từ huyện Quỳnh
Lu đến Thành phố Vinh, từ xa đến nay, cộng đồng c dân Nghệ An đã biết khaithác và sử dụng các cửa lạch, cảng sông, cảng biển nh Lạch Cờn, Lạch Quèn,Cửa Hiền, Cửa Hội, Cửa Lò, Bến Thuỷ,… vào mục đích phát triển kinh tế –dịch vụ, giao lu văn hoá, bảo vệ an ninh chủ quyền quốc gia Trong xu thế giao l-
u và hội nhập hiện nay, biết tận dụng và khai thác có hiệu quả lợi thế này sẽmang lại nhiều thuận lợi cho để các ngành ở Nghệ An, trong đó có hải quan đẩymạnh góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc
Tỉnh Nghệ An có 19 đơn vị hành chính gồm Thành phố Vinh, Thị xã Cửa
Lò, 10 huyện miền núi (Thanh Chơng, Kỳ Sơn, Tơng Dơng, Con Cuông, AnhSơn, Tân Kì, Quế Phòng, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn) và 7 huyện đồng
Trang 8bằng (Đô Lơng, Nam Đàn, Hng Nguyên, Nghi Lộc, Diễn Châu, Quỳnh Lu, YênThành).
Dân số tỉnh Nghệ An năm 2002 là 2.963.572 ngời, mật độ trung bình là
179 ngời/km2 Trong đó, số ngời trong độ tuổi lao động là 1,4 triệu ngời (chiếm47,2%) Hàng năm, lực lợng này lại đợc bổ sung thêm gần 3 vạn lao động trẻ cótrình độ văn hoá, giáo dục Ngoài ngời Kinh, trên địa bàn tỉnh còn có các dântộc: Thái, Mờng, Thổ, Ơ Đu, H'Mông, c trú chủ yếu tại các huyện miền núiphía Tây Trong đó, dân tộc Thái có số lợng ngời đông nhất Mỗi dân tộc có sắcthái văn hoá riêng, nhng tất cả c dân sống ở lu vực sông Lam đều có tinh thần
đoàn kết, tơng thân tơng ái và khát vọng vơn lên vợt qua mọi khó khăn thử tháchtrong cuộc sống, dũng cảm ngoan cờng trong chiến đấu chống ngoại xâm Conngời Nghệ An nổi tiếng bởi sự hiếu học, cần cù, trung thực, đoàn kết, gắn bó.Mảnh đất địa linh nhân kiệt này là nơi sản sinh ra nhiều nhân tài cho đất nớc,trong đó Chủ tịch Hồ Chí Minh – ngời Anh hùng giải phóng dân tộc – Danhnhân văn hoá thế giới
Nghệ An có quốc lộ 1A chạy từ Bắc vào Nam (đoạn chạy qua Nghệ An
đài 85 km), 132 km đờng Hồ Chí Minh đi qua tỉnh đã hoàn thành, có quốc lộ 7,
46, 48 đi sang nớc Cộng hoà nhân dân Lào qua cửa khẩu Nậm Cắn, cửa khẩuThanh Thuỷ và cửa khẩu Thông Thụ Hệ thống tỉnh lộ, huyện lộ khá phát triển,thuận lợi cho việc giao lu Tuyến đờng sắt Bắc – Nam chạy qua địa phận tỉnhdài 124 km và đờng sắt từ Yên Lí cắt quốc lộ 1A đi Nghĩa Đàn Sân bay Vinh đã
đợc nâng cấp và mở rộng để máy bay Airbus 320 có thể hạ cánh dễ dàng CụcHàng không dân dụng đang nghiên cứu cho mở thêm tuyến bay đi các nớc trongkhu vực Cảng biển Cửa Lò có khả năng đón tàu 1 vạn tấn ra vào thuận lợi Cảng
đang đợc đầu t nâng cấp mở rộng công suất từ 1 triệu tấn lên 3,5 triệu tấn/năm
Về hệ thống điện lới, tính đến năm 2003, 90% hộ dân đợc dùng điện lớiquốc gia Tổng công suất nguồn điện toàn tỉnh đạt gần 200 MW, đủ đáp ứng chonhu cầu sản xuất và đời sống Nhiều công trình thuỷ điện nh thuỷ điện Bản Lả(300 MW), Bản Cốc, Nhãn Hoạt, Thác Muối đang đợc xây dựng [18, 33]
Trên địa bàn Nghệ An, Đại học Vinh có quy mô đào tạo 20 nghìn sinhviên/năm (dự kiến năm 2020 sẽ là 30 nghìn sinh viên), bao gồm các chuyênngành: s phạm, kinh tế, tin học, kỹ thuật công nghiệp, nông nghịêp, kế toán,…Ngoài ra còn phải kể đến các trờng cao đẳng, trung cấp nh Trờng Cao đẳng Sphạm, Cao đẳng S phạm Kỹ thuật, Cao đẳng Y tế, Cao đẳng Kinh tế, Cao đẳng
Trang 9Văn hoá nghệ thuật, Trung cấp Dợc, Chính trị, Trờng dạy nghề Kỹ thuật ViệtHàn, Việt Đức,… mỗi năm đào tạo hàng nghìn sinh viên, lao động.
Hệ thống thông tin liên lạc hiện đại, đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạctrong nớc và quốc tế với các hình thức dịch vụ nh điện thoại, điện báo, fax,Internet đến hầu hết các vùng trên thế giới [18, 33]
Trong điều kiện tự nhiên xã hội nói trên, cán bộ, chiến sĩ Hải quan Nghệ
An từ khi thành lập đến nay đã biết khai thác các yếu tố thuận lợi, khắc phụcnhững khó khăn thử thách, dựa vào dân, các cấp chính quyền địa phơng để hoànthành nhiệm vụ Công tác ở vùng núi Kỳ Sơn, Tơng Dơng, Quỳ Châu hay trựctiếp chống buôn lậu trên biển Cửa Hội, Cửa Lò, cảng sông Bến Thuỷ trong điềukiện chiến tranh hay hoà bình, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Hải quan Nghệ Anluôn đem hết tinh thần trách nhiệm, tài năng và ý chí để giải quyết tốt mọi côngviệc và sự ghi chép của chúng tôi về lớp lớp chiến công đó đối với các anh, chịmới là sự bắt đầu
1.2 Khái lợc tình hình ngoại thơng và thuế quan Nghệ An trớc ngày 19 - 5 - 1956.
1.2.1 N goại thơng và thuế quan Nghệ An trớc Cách mạng tháng Tám.
Thiên nhiên ban tặng cho nớc ta một hệ thống bờ biển kéo dài từ QuảngNinh đến tận Hà Tiên với nhiều cửa sông, cửa lạch, cảng sông, cảng biển lớn nhỏkhác nhau Từ rất sớm, hoạt động buôn bán, trao đổi, giao thoa văn hoá - vănminh ấn Độ và Trung Quốc với nhiều nớc trong khu vực Đông Nam á, trong đó
có Việt Nam đã diễn ra Sử sách Trung Quốc thờng nhắc đến tuyến đờng biển từQuảng Châu – vịnh Bắc Bộ – Cù Lao Chàm – Nam Trung Bộ qua eo biển MãLai để đi tới Nam Dơng và ấn Độ Các thơng nhân ấn Độ vốn là những ngời cólòng can đảm và trí tuệ cũng sớm tìm ra con đờng biển từ ấn Độ sang vịnh TháiLan, vịnh Nha Trang, Cam Ranh,… để buôn bán trao đổi Vùng Thanh – Nghệ– Tĩnh ngay từ đầu đã có cơ hội để thông thơng, buôn bán, trao đổi với các quốcgia dân tộc khác thông qua con đờng thơng mại trên biển đó
Năm 179 TCN, nớc ta bị Triệu Đà thống trị, từ đó cho đến khi họ Khúcdựng nền tự chủ, toàn bộ hoạt động trao đổi, buôn bán ở nớc ta chủ yếu do cácthế lực phong kiến phơng Bắc nắm giữ Năm 905, Khúc Thừa Dụ giành lại nền tựchủ cho quốc gia Tuy nhiên, hơn 1 thế kỉ sau (905 - 1009), hoạt động buôn bán,trao đổi ở vùng Thanh – Nghệ – Tĩnh cũng nh cả dân tộc vẫn cha phát triển
Trang 10Thông qua quá trính nghiên cứu tiền cổ, tác giả Đỗ Văn Ninh cho rằng, ởthời Lí (1010 - 1225), hoạt động buôn bán trao đổi giữa quốc gia Đại Việt vàTrung Quốc diễn ra khá toàn diện, không chỉ ở biên giới mà cả ở trung tâm nội
địa và những cửa biển từ vịnh Hạ Long đến vùng Thanh – Nghệ – Tĩnh Quátrình nghiên cứu về tiền cổ ở lu vực sông Lam, cảng Cửa Lò, Cửa Hội, Cửa Sót,Cửa Cờn, cảng sông Bến Thuỷ,… cho phép khẳng định về hoạt động buôn bán,trao đổi ở vùng biển Quỳnh Lu, Diễn Châu, Cửa Hội Thống (tức Cửa Hội ngàynay), vùng Nghi Xuân (Hà Tĩnh) và đất liền Đô Lơng, Nam Đàn, Thanh Ch-
ơng…
Sách “Đại Việt sử kí toàn th” của Ngô Sĩ Liên có viết: “Năm Kỷ Tị cóthuyền ngoại quốc là Qua-oa, (Ja Va), Hoa Lạc (?) và Xiêm La tới Đông Hải xinbuôn bán Vua Lí Anh Tông bèn lập những trang ở trên đảo, đặt tên là đồn Vân
Đồn để buôn bán châu báu, hàng hoá và dâng phơng vật…” Trong “Việt sửthông giám cơng mục chính biên” cũng có ghi: “Năm Kỷ Sửu năm thứ 9 (1349),tháng năm, mùa hạ, nớc Qua-oa sang cống Ngày mồng 1 tháng 11 nhật thực, bắt
đầu đặt chức Sát hải và Bình hải quan ở Vân Đồn Trớc kia, về thời Lí thuyềnbuôn ngớc ngoài đến nớc ta, đều đi từ cửa biển Diễn Châu vào, đến nay do lòngsông nông cạn, thuyền buôn dời bến tụ tập ở Hải Trang – Vân Đồn Lúc ấy cónhiều ngời vào trộm ngọc trai bán cho thuyền buôn vì thế đặt quan quân để trấnthủ địa phơng này” Nh vậy, Nghệ An cũng có một trấn Vân Đồn ở vùng biểnDiễn Châu và có quan lại, binh lính chuyên kiểm tra hoạt động buôn bán, thơngmại của tàu thuyền qua vùng biển này
Dới thời vua Lê Đại Hành đã huy động nhân công đào kênh Bá Hoà thông
đất Nghệ An (thuộc hệ thống kênh đào nhà Lê) nối với kênh Son, kênh Xớc ởphía Bắc huyện Quỳnh Lu, thông ra ba cửa biển Cửa Cồn, Cừa Quèn, Cửa Thơi.Qua khảo sát của chúng tôi, trên địa bàn xã Quỳnh Lập hiện có một địa danh nổitiếng gọi là Sôi Tiền và còn có một thôn tên gọi là thôn Đồng Tiền, xã QuỳnhXuân còn có tên gọi là chợ Vân Đồn Có thể chợ Vân Đồn và suối Sôi Tiền làtrấn Vân Đồn thời Lí – Trần lu lại Biên soạn cuốn “Địa d Nghệ An”, Đào
Đăng Hy cho biết: “Sử chép rằng, đời vua Dụ Tôn (tức Trần Dụ Tông) niên hiệuThiệu Phong thứ 2, đặt ra trấn Vân Đồn để ngời qua lại vùng Diễn Châu và ThaViên (nay là các xã Quỳnh Lập, Quỳnh Lộc, Quỳnh Phơng) Vậy trấn Vân Đồnngày xa ở sát ngay bờ biển mà ngày nay thì ở xã vào tận trong đất liền (nay thuộcxã Quỳnh Xuân) Nhng xét ra thì về tiền triều cũng thấy nói rằng các thơng
Trang 11thuyền hồi ấy đều cha lại cửa biển Diễn Châu và Tha Viên mà vào Nghệ An…”.
Nh vậy, hoạt động buôn bán, trao đổi của các quốc gia trong khu vực với quốcgia Đại Việt bắt đầu diễn ra từ thời Lí – Trần
Cuối thế kỉ XIV, nhà Trần sụp đổ, nhà Hồ lên thay Nhng mãi đến đời Lê,
đặc biệt dới thời Thánh Tông (1460 - 1497), tình hình ngoại thơng của Đại Việtbiến chuyển nhanh Tại Nghệ An, Lê Thánh Tông cho thành lập hẳn cả một hải
đội lớn đóng ở vùng biển Cửa Lò, Cửa Hội với thuyền lớn, đủ loại vũ khí, thờngxuyên tuần phòng vùng biển từ Thanh – Nghệ – Tĩnh trở vào Phò mã Tháiphó Nguyễn S Hồi (con trởng của Quốc công Nguyễn Xí) đợc cử làm Đô đốctrấn thủ thập nhị hải môn (trấn thủ 12 cửa biển từ Sầm Sơn đến Cửa Tùng) Cửa
Lò, Cửa Hội, Cửa Sót, Cửa Nhợng,… trở thành nơi hai đội binh thuyền này vào
ra kiểm soát mọi hoạt động buôn bán thơng mại
Từ thế kỉ XVI trở đi, xã hội Đại Việt luôn náo động những tiếng trống trậncủa các tập đoàn quân chủ mu bá đồ vơng cùng tiếng hò reo của nông dân ứngnghĩa, vì thế hoạt động ngoại thơng của các triều đại có phần giảm sút Khi chiếntranh lùi xa, các chúa Nguyễn ở Đàng Trong và chúa Trịnh ở Đàng Ngoài tìmcách khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng và phát triển kinh tế, chính trị,quân sự trên vùng đất họ cai quản Trong các tác phẩm ghi chép về hành trìnhbuôn bán của các đoàn thuyền buôn châu Âu trên lãnh thổ Đàng Ngoài có mô tảkhá chi tiết về cảnh buôn bán tấp nập ở kinh thành Thăng Long, Phố Hiến, Vân
Đồn – Quảng Ninh, Lam Thành – Phù Thạch (Nghệ An) Thông qua số tàiliệu này, chúng ta có thể hình dung đợc vào thời điểm đó, chúa Trịnh và vua Lê
đã có cả một bộ phận quan lại, binh lính, thuyền trang bị để quản lí hàng hoá,
định mức thuế các loại hàng hoá ở cảng sông, cảng biển từ Quảng Ninh đếnNghệ An Nhng mức thuế mà chúa Trịnh đa ra lúc này không cao lắm, nên cácthơng nhân Trung Quốc, Nhật Bản hay Anh, Pháp, Hà Lan,… đều chấp nhận.Quan trọng hơn là nguồn hàng hoá mà c dân Đàng Ngoài cung cấp cho các đoànthuyền buôn là rất lớn và ngay từ thế kỉ XVI – XVIII, vùng đất từ Quảng Ninh
đến Nghệ Tĩnh là một thị trờng tiêu thụ hàng hoá Điều đáng lu ý là, thế kỉ XVII– XVIII dọc bờ biển Đàng Ngoài không xuất hiện các thơng điếm Sách “Việt
sử thông giám cơng mục” cho biết một chi tiết: “Giáp thân năm 25 (1764)(Thanh – Càn Long), ngày 29 – 7: lại hạ lệnh cấm khách buôn bán đến từ ph-
ơng Bắc và các nơi khác, chỉ cho trú ngụ ở châu Vân Đồn, châu Vạn Ninh thuộc
Trang 12Yên Quảng và xã Cần Hải (nay là Nghi Hải), Hội Thống (nay là Cửa Hội), TriềuKhẩu thuộc Nghệ An, không đợc ở lẫn với dân…” [24, 92].
Những ghi chép của Đốc đồng Nghệ An là Bùi Huy Bích, sách “Việt sửthông giám cơng mục” hay những khảo cứu của Bùi Dơng Lịch đầu thế kỉ XIX,Hoàng Xuân Hãn đầu thế kỉ XX cho biết: vào thế kỉ XVII – XVIII, hoạt độngbuôn bán, trao đổi thơng mại diễn ra dọc bờ biển khá nhộn nhịp Không chỉ cóthuyền buôn mà thơng nhân Trung Quốc, ấn Độ, Nhật Bản mà còn có cả nhữngtàu buôn đến từ Hà Lan, Bồ Đào Nha,… cũng cập cảng Cửa Hội rồi ngợc dòngsông Lam vào buôn bán, trao đổi tại Lam Thành – Phù Thạch
Cuối thế kỉ XVIII, xã hội Đại Việt khủng hoảng trầm trọng Mâu thuẫngiữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội ngày càng tăng và kết quả là bùng nổhàng loạt các cuộc khởi nghĩa từ đồng bằng Bắc Bộ đến tận Nam Trung Bộ ngàynay Năm 1802, Nguyễn ánh lật đổ nhà Tây Sơn, lên ngôi Hoàng đế Từ đó cho
đến khi nhà Nguyễn thất bại hoàn toàn trong công cuộc bảo vệ độc lập tự chủ củadân tộc (1884), các vị Hoàng đế từ Gia Long đến Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đứcduy trì chính sách bế quan toả cảng, trọng nông ức thơng Tuy nhiên, do tìnhhình thế giới thay đổi nên hoạt động buôn bán thơng mại dới thời Nguyễn cónhững thay đổi đáng kể
Theo ghi chép của Quốc sử quán triều Nguyễn trong “Đại Nam nhất thốngchí”, nhà Nguyễn đã thiết lập cả một hệ thống “cửa quan” và “tấn sở” ở tất cả cáctrấn thành, tỉnh thành Riêng ở Nghệ An có các tấn sở sau: Cửa quan Yên Quốc ở
bờ tả sông Lam, thôn Yên Quốc, huyện Hng Nguyên, cách lỵ sở 33 dặm (1 dặmbằng 1,8 km), trớc là cửa Khu Độc thuộc huyện Nghi Xuân; cửa quan Khả Lu ởphía Bắc sông Lam, cách huyện Lơng Sơn (nay thuộc huyện Anh Sơn và Đô L-
ơng) 20 dặm về phía Tây; cửa quan Lơng Trờng ở bờ Nam sông Lam, xã LơngTrờng, huyện Thanh Chơng (nay thuộc Nam Đàn); tấn Cửa Hội ở cách huyệnChân Lộc (Nghi Lộc) 27 dặm về phía Đông là chỗ phân địa giới với huyện NghiXuân với cửa biển rộng 35 trợng, thuỷ triều lên cao 7 thớc 3 tấc, thuỷ triều xuốngsâu 5 thớc 3 tấc; trấn Cửa Xá ở cách huyện Chân Lộc 13 dặm về phía Đông làchỗ phân địa giới với huyện Hng Nguyên, cửa biển rộng 30 trợng, thuỷ triều lêncao 6 thớc 5 tấc, thuỷ triều xuống sâu 2 thớc 5 tấc; tấn Cửa Hiền ở cách huyện H-
ng Nguyên 35 dặm về phía Đông Bắc là chỗ phân địa giới với huyện Yên Thành;tấn Cửa Cờn rộng 10 trợng, thuỷ triều lên cao 7 thớc, thuỷ triều xuống sâu 3 th-ớc; tấn Cửa Vạn ở cách huyện Đông Thành 4 dặm về phía Đông, cửa biển rộng
Trang 1320 trợng, thuỷ triều lên cao 6 thớc 5 tấc, thuỷ triều xuống sâu 2 thớc 5 tấc; tấnCửa Quèn cách huyện Quỳnh Lu 10 dặm về phía Đông, cửa biển rộng 37 trợng,thuỷ triều lên cao 9 thớc, thuỷ triều xuống sâu 5 thớc;… bảo Lãng Điền; bảoVĩnh Lộc; bảo Mờng Xén; bảo Gia Vị; bảo Lam Mãn; nhà trạm Tĩnh Thần ởthôn Thần Đầu, huyện Kỳ Anh; các trạm Tĩnh Sa, Tĩnh Lạc (Kỳ Anh), trạm TĩnhLiêu (Can Lộc), Yên Dũng, Yên Kim (Nghi Lộc), Yên Quỳnh (Quỳnh Lu), TĩnhKhê (Cẩm Xuyên), Tĩnh Đan (Thạch Hà),…
Với hệ thống cửa quan, tấn sở, bảo, nhà trạm bố trí dày đặc từ Quỳnh Lu
đến Kỳ Anh (đất Nghệ An lúc này bao gồm cả Nghệ An và Hà Tĩnh), từ Vinh –Bến Thuỷ đến tận Quỳ Hợp, Kỳ Sơn ở phía Tây, cộng thêm hệ thống quan lại củanhà Nguyễn là một trong những nguyên nhân sâu xa kìm hãm sự phát triển nềnkinh tế nói chung, thơng mại nói riêng trên phạm vi cả nớc và ở lu vực sông Lamsuốt thế kỉ XIX
Là vùng biển phía Nam của quốc gia Đại Việt trong nhiều thế kỉ, Nghệ Anvới u thế có cảng sông, cảng biển, cửa lạch lớn nhỏ cùng nhiều tài nguyênkhoáng sản, từ lâu trở thành một địa bàn hấp dẫn cho hoạt động buôn bán trao
đổi với các quốc gia khu vực Đông Nam á, châu á Chính sách thuế quan củaNhà nớc phong kiến Việt Nam cùng với sự tồn tại dai dẳng của chế độ xã hội đókhông tạo điều kiện phát huy triệt để thế mạnh buôn bán, trao đổi trên địa bàntỉnh Nghệ An
Ngày 1 – 9 – 1858, thực dân Pháp chính thức nổ súng xâm lợc ĐạiNam Triều đình Nguyễn lúng túng không tìm ra phơng sách đối phó, cuối cùngbuộc phải thừa nhận sự thất bại trong công cuộc bảo vệ độc lập dân tộc (1884)
Từ đó, mọi đặc quyền đặc lợi về kinh tế, chính trị, quân sự, văn hoá cả 3 xứ Bắc– Trung – Nam Kì (sau đó tính cả Ai Lao và Cao Miên thành 5 xứ) tập trungtrong tay thực dân Pháp Chúng định ra các loại thuế nh thuế muối, thuế đò, thuế
lò mổ, thuế vệ sinh đô thị, thuế nhà đất, thuế thuốc phiện, thuế rợu,… Các luật lệ,thể lệ về các loại thuế gián thu và chế độ thuế thơng chính hiện hành ở Nam Kì
đều đợc Pháp áp dụng ở cả Trung Kì và Bắc Kì
Nguồn lợi thu đợc từ thuế là rất lớn, do đó chính quyền thuộc địa gấp rút
đào tạo, bổ dụng một mạng lới nhân viên thu thuế đông đảo ở hầu khắp cácthành phố, đô thị đến tận các huyện Đó là cha kể đến hệ thống lý trởng, chánhtổng, hơng kiểm, hơng thôn ở làng xã cũng đợc huy động vào công việc này
Trang 14Tuy nhiên, từ năm 1885 – 1896, ở Trung Kì, trong đó có Nghệ An, hoạt
động thu thuế của thực dân Pháp diễn ra không theo mong muốn của chúng bởi
sự bùng nổ tiếng súng Cần Vơng chống Pháp Trong tình thế lịch sử đó thì rõràng việc dập tắt lực lợng kháng chiến lu vực sông Lam là điều cấp thiết màchính quyền thuộc địa phải tiến hành chứ không đơn thuần là việc thu thuế
Nhng cũng phải thẳng thắn nhìn nhận, từ cuối thế kỉ XIX đến Chiến tranhthế giới thứ nhất bùng nổ, hoạt động thu thuế của Pháp ở Đông Dơng nói chung,Trung Kì và Nghệ An nói riêng từng bớc đợc xiết chặt và trở thành hệ thống kháhoàn chỉnh, bao gồm: hệ thống luật pháp, các biểu thuế, mức thuế, hệ thống quanlại thu thuế, lực lợng quân đội, cảnh sát,… huy động vào việc hỗ trợ đảm bảo chonhân viên thuế quan thực thi việc áp đặt các loại thuế và thu thuế [23, 72]
Ngoài những điểm chung nh các tỉnh khác ở xứ Trung Kì đợc các Nghị
định, Sắc lệnh, Đạo dụ của Toàn quyền Đông Dơng, của vua Nguyễn quy định,trên địa bàn Nghệ An – Hà Tĩnh, hoạt động thuế quan của Pháp và Nam triềuphong kiến cuối thế kỉ XIX đến kết thúc Chiến tranh thế giới thứ nhất có một số
điểm cần lu ý sau:
- Nghệ An là một trong những tỉnh có nhiều dân tộc nên việc thu thuế thân
đối với các dân tộc thiểu số ở miền Tây cũng nh thuế ruộng đất chủ yếu do cáclang đạo, phìa tạo thực hiện Nhng trên thực tế, thực dân Pháp rất khó khó kiểmsoát hoạt động thu thuế trên các địa bàn này
- Nghệ An là địa bàn có cả ba thứ xếp vào loại thuế độc quyền là: muối ởdọc bờ biển từ Quỳnh Lu trở vào; rợu nấu theo phơng thức truyền thống ở làngxã bị nghiêm cấm triệt để và từ đầu thế kỉ XX, các loại rợu Tây đã xuất hiện màdân Nghệ thờng gọi là rợu ti do các công ty t bản Pháp độc quyền; thuốc phiện đ-
ợc trồng nhiều ở vùng Kỳ Sơn, Tơng Dơng, Quế Phong, Quỳ Châu… và dọc biêngiới Việt – Lào Đây cũng là một nguồn lực to lớn do Pháp độc quyền Việc xâydựng hai tuyến quốc lộ số 7 và số 8 nối Vinh – Bến Thuỷ với Hà Tĩnh, Lào,Vinh - Bến Thuỷ – Nghĩa Đàn – Mờng Xén – Lào mà ngời Pháp gọi là “đờngthâm nhập” từ đầu thế kỉ XX, đã tạo cơ hội cho Pháp khai thác hoạt động buônbán thơng mại, thuế khoá… ở vùng đầy tiềm năng nhng cũng không ít hiểm trởnày
- Từ đầu thế kỉ XX, các tập đoàn t Pháp cấu kết với Nam triều phong kiếncớp hàng ngàn ha ruộng đất ở Phủ Quỳ, Thanh Chơng, Quỳnh Lu và nhiều nơikhác để phát triển đồn điền trồng cao su, cà phê, chè,… nuôi trâu bò, nghiên cứu
Trang 15các loại cây trồng nhiệt đới… Toàn bộ diện tích đồn điền này đợc hởng những
điều khoản u đãi đặc biệt mà các Sắc lệnh của Toàn quyền Đông Dơng đã công
bố trớc đó hoặc đợc bổ sung ngay trong Chiến tranh thế giới thứ nhất Chỉ có cdân làng xã ở lu vực sông Lam là phải còng lng ra để đóng mọi thứ thuế, từ thuếthân, thuế ruộng đất, thuế muối đến thuế chợ, thuế đò,… Đám lý trởng, chánhtổng, hơng kiểm ở làng xã lợi dụng tình hình lũ lụt, hạn hán thờng xuyên xảy ra
ở lu vực sông Lam để tìm cách ẩn lậu thuế, tăng thuế ruộng đất và các loại thuếkhác, đẩy c dân Nghệ Tĩnh vào tình cảnh cơ cực, cuộc sống đói nghèo theo họquanh năm, nhất là diêm dân ở Hộ Độ (Hà Tĩnh), Quỳnh Lu, Diễn Châu
- Vợt qua yêu cầu của Hội đồng Cơ mật viện, ngày 20 – 10 – 1898, vuaThành Thái ra đạo dụ thành lập 5 trung tâm thị xã ở vùng đất Trung Kì là ThanhHoá, Vinh, Faifo (Hội An), Huế, Quy Nhơn Đến ngày 30 – 8 –1899, Toànquyền Đông Dơng ra Nghị định chuẩn y đạo dụ của vua Thành Thái Nh vậy,
đến cuối thế kỉ XIX, ở Trung Kì ít nhất có 5 trung tâm đô thị đợc thành lập Tạicác đô thị đó, Công sứ các tỉnh kiêm luôn Chủ tịch Hội đồng thị xã và có mộtngân sách riêng đợc quy định bởi các Đạo dụ của nhà vua và đợc trình qua Khâm
sứ Trung Kì, sau đó Toàn quyên Đông Dơng sẽ ra Nghị định chuẩn y
Nguồn ngân sách này chủ yếu dựa vào các nguồn thu thuế nh thuế sátsinh, thuế môn bài, thuế vệ sinh, thuế xe kéo, thuế các nhà máy xí nghiệp đóngtrên địa bàn,… Riêng Vinh – Bến Thuỷ từ năm 1897 đến 1917, các tập đoàn tbản Pháp ồ ạt đầu t xây dựng tại đây một hệ thống nhà máy xí nghiệp nh nhàmáy xe lửa Trờng Thi, Đề pô xe lửa Vinh, nhà máy diêm, nhà máy xẻ gỗ, cảngBến Thuỷ đợc mở rộng
Theo Đạo dụ ngày 1 – 10 – 1903 của vua Thành Thái, kể từ ngày 1 – 1– 1904, ngân sách hàng tỉnh của 9 tỉnh ở Trung Kì: Thanh Hoá, Nghệ An, HàTĩnh, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hoà, BìnhThuận gồm: các khoản thu riêng của thị xã nhà đất, thuế chợ, thuế đò, thuế xe cộ,tiền phạt mà cảnh sát thu đợc, tiền thu về số lao động của ngời ở thuê, làm mớn,10% thuế môn bài… Các khoản chi gồm chi riêng cho thị xã nh làm và sữa chữa,bảo quản đờng sá, công sở, trang thiết bị cho công sở, bảo quản Toà Công sứ,…phụ cấp cho Công sứ, nhân viên công chính biệt phái đến tỉnh [23, 282]
Nh vậy, đến khi Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, hoạt động thuếquan của Pháp và Nam triều phong kiến tay sai ở Nghệ An diễn ra trên tất cả cáclĩnh vực: thuế thân đánh vào đầu ngời (nam) từ 18 – 60 tuổi; thuế ruộng đất ở
Trang 16làng xã theo kiểu địa tô truyền thống, chủ yếu do lý trởng, chánh tổng, tri huyện,tri phủ trực tiếp thu và nộp thuế cho Công sứ ở Vinh; các loại thuế dành cho cáctrung tâm thị xã đợc quy định bởi các Đạo dụ của nhà vua và Nghị định của Toànquyền Đông Dơng Nghệ An có 3 thị xã (Vinh, Bến Thuỷ, Trờng Thi) với 3 ngânsách riêng và dĩ nhiên là có cả một hệ thống nhân viên thuế quan dày đặc để phụtrách việc thu thuế xuất nhập khẩu ở các trung tâm đó ngay khi mới thành lập;lực lợng thuế quan thu thuế xuất nhập khẩu các loại hàng hoá qua cảng sông BếnThuỷ; Công sứ Nghệ An và Khâm xứ Trung Kì còn bố trí ở Nghệ An một lực l-ợng thuế quan đặc biệt để thu thuế vùng biển, thuế thuốc phiện ở miền núi phíaTây, Lào và ngợc lại cả số lợng hàng hóa từ Lào về Nghệ An qua đờng số 7, số8…
Nhân dân Nghệ An, Hà Tĩnh gọi các nhân viên thuế quan của Pháp là
“lính đoan” và họ luôn tìm cách để né tránh lực lợng này, kể cả đám lý trởng,chánh tổng, tri phủ, tri huyện cũng không mặn mà với Tây đoan, bởi vì nguồn lợihàng năm của đám quan lại kia bị giảm sút, thậm chí có khi còn mất cả chức nếunhân viên Pháp phát hiện ra có ngời nấu rợu lậu trong làng hay ẩn lậu thuế
Chỉ trong một thời gian ngắn dựa vào sự giúp sức của Tổng đốc Nghệ An
và bộ máy quan lại chính quyền, Công sứ Nghệ An đã hoàn tất việc quy định cácmức thuế, công sở chuyên lo việc thu thuế từ cảng Bến Thuỷ đến vùng núi phíaTây,… Những quy định của Toàn quyền Đông Dơng về các loại thuế độc quyền(muối, rợu, thuốc phiện) rất nghiêm ngặt, chặt chẽ đã đẩy nhân dân vào tình cảnh
điêu dứng Ngày 12 – 4 – 1921, cựu Toàn quyền Đông Dơng, Bộ trởng Bộthuộc địa AnbeSarô (A.Sarraut) trình bày dự luật khai thác thuộc địa ở Trung Kì
và Nghệ An, quy mô, tốc độ đầu t của Pháp tăng nhanh Vinh, Bến Thuỷ, TrờngThi là một trong những trọng điểm đầu t lớn nhất của t bản Pháp ở Trung Kì vàLào với các dự án nh: xây dựng tuyến đờng sắt Vinh - Đông Hà dài gần 300 km;xây dựng nhà máy điện Bến Thuỷ do Công ti xây dựng SIFA (SociestéIndochinoise Foresti ère et des Allumettes) đặt tại Vinh, có công suất 3.550 KW;
mở rộng nhà máy sửa chữa xe lửa Trờng Thi; cải tạo và mở rộng cảng Bến Thuỷvới nguồn ngân sách dự toán là 10.000.000 phơ răng,… Chính sự đầu t với quymô lớn của các tập đoàn t bản Pháp từ năm 1920 – 1929 đã thúc đẩy tốc độ pháttriển công thơng nghiệp, giao thông vận tải ở Vinh – Bến Thuỷ – Trờng Thi.Trong bối cảnh đó, Toàn quyền Đông Dơng ra Nghị định thành lập Thành phốVinh – Bến Thuỷ (10 - 12 - 1927) với 10 khu phố [16, 65] Với Nghị định này,
Trang 17tình trạng song song tồn tại 3 trung tâm thị xã với 3 ngân sách riêng trớc đókhông còn nữa Lẽ dĩ nhiên, lực lợng thuế quan ở 3 thị xã đó cũng nhập lại và bổsung thêm một số nhân viên thu thuế nhà đất, vệ sinh đô thị, thuế kéo xe, thuế lò
mổ,… Lực lợng thuế quan ở cảng Bến Thuỷ cũng đợc tăng cờng vì lợng hàngxuất nhập khẩu qua cảng ngày càng lớn và đa dạng hơn Năm 1927, số lợng hànghoá xuất nhập khẩu qua cảng sông Bến Thuỷ là 41.741 tấn (cảng Đà Nẵng là55.044 tấn) Hoạt động thuế quan của Pháp từ 1919 – 1929 ở Đông Dơng nóichung, Trung Kì và Nghệ An nói riêng ngày càng thắt chặt, đẩy các tầng lớpnhân dân vào tình thế điêu đứng
Các đạo luật quan thuế mà Pháp ban hành là cơ sở pháp lí cho chínhquyền Đông Dơng từng bớc xiết chặt hàng rào thuế quan đối với tất cả các loạihàng hoá xuất nhập khẩu vào thị trờng rộng lớn này Điều đó thể hiện rõ nét trên
địa bàn Nghệ An từ cuối thế kỉ XIX về sau Hàng hoá nhập khẩu qua cảng BếnThuỷ chủ yếu đợc đa từ chính quốc sang Ngợc lại, hàng hoá xuất khẩu qua cảngBến Thuỷ chủ yếu là thiếc, diêm, gỗ, nông sản, trâu bò, cà phê, chè,… Các loạihàng hoá độc quyền nh rợu, thuốc phiện, muối đợc đặt dới sự kiểm soát gắt gaocủa Công sứ Nghệ An và cả bộ máy quan lại dới quyền của y, trong đó có bộphận cảnh sát, quân đội đóng ở lu vực sông Lam
Do khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933, nên một số dự án đầu t ở Nghệ An
bị bỏ dở nh: dự án xây dựng và mở rộng cảng Bến Thuỷ với nguồn vốn dự kiến10.000.000 phơ răng phải bỏ dở; dự án xây dựng nhà máy cấp nớc và đào sôngthoát nớc ở Thành phố Vinh – Bến Thuỷ; mở rộng khu nghỉ mát Cửa Lò,… Vìthế, Pháp càng thắt chặt hơn nữa việc đánh thuế và thu thuế các loại nhằm độcchiếm thị trờng Nghệ An Các loại thuế dành cho tiểu thơng, tiểu chủ ở Vinhcũng đợc tăng lên, đẩy tầng lớp này vào tình trạng khốn khó Trong khi đó,nguồn lợi thu đợc từ muối, thuốc phiện, rợu, xuất khẩu gỗ, diêm, hàng nông sảnqua cảng Bến Thuỷ ngày càng tăng Chính sách thuế khoá nặng nề và độc quyền
mà Pháp áp dụng đối với Nghệ An cũng là một nguyên nhân làm cho t sản ngờiViệt và ngời Hoa ở đây không phát triển đợc vì vừa thiếu vốn kinh doanh, lạiphải phải chịu mức thuế cao hơn so với các nhà t sản và công ti t bản của Pháp
Năm 1939, Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, nớc Pháp bị lôi cuốn vàovòng xoáy của chiến tranh Các tập đoàn t bản Pháp cố tìm mọi cách để tăng lợinhuận thông qua các thủ đoạn tăng thuế, sa thải công nhân, tăng giờ làm, tăng cảhàng hoá xuất nhập khẩu… Năm 1940, Nhật vào Đông Dơng, Pháp cấu kết với
Trang 18Nhật đẩy nhân dân Đông Dơng vào tình cảnh một cổ hai xiềng nô lệ ở Nghệ
An, Hà Tĩnh cả Pháp và Nhật đều tìm cách vơ vét tài nguyên khoáng sản, đẩycác tầng lớp giai cấp vào tình trạng điêu đứng Ngày 9 - 3 - 1945, Nhật đảo chínhhất cẳng Pháp độc chiếm Đông Dơng Pháp hèn nhát đầu hàng dâng Đông Dơngcho Nhật Nhng bão táp cách mạng bùng nổ trên phạm vi cả nớc Từ khởi nghĩatừng phần đến tổng khởi nghĩa, hàng triệu ngời dân từ Móng Cái đến Hà Tiênvùng dậy giành tự do độc lập
Nhìn chung, từ cuối thế kỉ XIX đến năm1945, thực dân Pháp và Nam triềuphong kiến, tay sai đã thi hành chính sách thuế quan hết sức khắt khe, nghiêmngặt, gây hậu quả nghiêm trọng đối với toàn thể dân tộc Hoạt động thuế quan ởViệt Nam nói chung, Nghệ An nói riêng đợc quy định bởi hàng loạt các Nghị
định, Sắc lệnh của Chính phủ Pháp hoặc Toàn quyền Đông Dơng Trong khi đó,các vua nhà Nguyễn chỉ đóng vai trò ra các Đạo dụ nhằm hợp pháp hoá nhữngchính sách thuế quan mà kẻ thù đa ra Hoạt động thuế quan ở Trung Kì, trong đó
có Nghệ An hoàn toàn do ngời Pháp nắm giữ Các ông chủ t bản Pháp là ngờikiếm đợc nhiều lợi nhuận khổng lồ dựa trên chính sách độc quyền thuế quan.Dân tộc Việt Nam và nhân dân Đông Dơng là ngời phải gánh chịu những hậuquả hết sức nặng nề do chính sách thuế quan mà thực dân Pháp cùng Nam triềuphong kiến đặt ra Sự thống trị tàn bạo và chính sách thuế khoá khắt khe, vô nhân
đạo của chính quyền thuộc địa ở Nghệ An đã đẩy mâu thuẫn trong xã hội lênmức cao hơn Và rồi, Cách mạng tháng Tám bùng nổ, thắng lợi trên phạm vi cảnớc, một trang sử mới bắt đầu với cả dân ộc và ngành hải quan Việt Nam, trong
đó có hải quan Nghệ An
1.2.2 Lực lợng hải quan Nghệ An từ 1945 đến trớc ngày 19 - 5 - 1956.
1.2.2.1 Hải quan Việt Nam thành lập.
Tổng khởi nghĩa tháng Tám thắng lợi, nớc Việt Nam Dân chủ cộng hoà ra
đời Nhng ngay sau đó nớc Việt Nam mới phải đối mặt với muôn vàn khó khăn,thử thách… Trong bối cảnh lịch sử đầy khó khăn, ngày 3 – 9 – 1945, tại phiênhọp đầu tiên của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên 6 nhiệm vụ cầnkíp của Chính phủ, trong đó có nội dung chống đói cho dân, diệt dốt, bãi miễncác thứ thuế vô lí khác, chuẩn bị bầu cử…
Ngày 10 – 9 – 1945, theo đề nghị của Bộ trởng Bộ Tài chính, Bộ trởng
Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp thay mặt Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủcộng hoà kí Sắc lệnh 26/SL về “Tạm giữ những luật lệ hiện hành của Sở Tổng
Trang 19thanh tra độc quyền muối và thuốc phiện và các Sở Thơng chính” Cùng ngày,
đồng chí Võ Nguyên Giáp kí Sắc lệnh số 27/SL thành lập "Sở Thuế quan và Thuếgián thu để đảm nhiệm công việc của Sở Thanh tra độc quyền muối và thuốcphiện và các Sở Thơng chính Bắc, Trung và Nam Bộ" hiện nay đang thi hành,nay tạm giữ để thi hành trong toàn cõi Việt Nam cho đến khi có Sắc lệnh mới
Đứng đầu Sở Thuế quan và Thuế gián thu có một ông Tổng Giám đốc Tiếp đó,
Bộ trởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp kí Sắc lệnh 28/SL bổ nhiệm ông Trịnh VănBính làm Tổng Giám đốc Sở Thuế quan và Thuế gián thu
Với việc công bố Sắc lệnh 27 của Bộ trởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp,
Sở Thuế quan và Thuế gián thu đã ra đời, trở thành tiền thân của Hải quan ViệtNam ngày nay
Rõ ràng, so với một số ngành khác thì hải quan là một trong những ngànhsớm đợc thành lập Điều đó cho thấy vai trò, vị trí của ngành hải quan đối với sựphát triển của cách mạng là hết sức quan trọng Sở Thuế quan và Thuế gián thuthành lập có nhiệm vụ giúp Bộ Tài chính và Chính phủ lâm thời tìm cách giảiquyết khó khăn về tài chính - tiền tệ, loại bỏ các thứ thuế vô lí mà Pháp – Nhật
để lại, thu thuế xuất nhập cảng các loại hàng hoá, các thứ thuế lặt vặt ở địa
Bộ Kinh tế) ngày 6 – 10 – 1945; Nghị định số 48/TC về “ấn định nhập cảng,xuất cảng các hàng hoá” ngày 6 – 11 – 1945; Nghị định 103/TC “uỷ nhiệmnhững công chức hay nhân viên Nha thuế quan và Thuế gián thu đợc chứngnhững sự vi phạm quy tắc luật lệ” và Nghị định về “Thuế gián thu các hạng trêntoàn cõi Việt Nam” ngày 18 – 12 – 1945
Ngày 31 – 12 – 1945, Chủ tịch Chính phủ nớc Việt Nam Dân chủ cộnghoà kí Sắc lệnh số 89/SL về việc thu chi ngân sách năm 1946 Điều 2 của Sắclệnh này ghi rõ: “Các thuế khoá cũng tạm chi theo chế độ hiện hành trong khichờ đợi một chế độ mới đợc ấn định” Nh vậy, chỉ trong vòng 3 tháng kể từ khinớc nhà giành đợc độc lập, ngành Hải quan Việt Nam đợc Chính phủ nớc ViệtNam Dân chủ cộng hoà thành lập và có văn bản quy định quyền hạn, chức năng,
Trang 20nhiệm vụ của mình Từ đó, Hải quan Việt Nam góp phần to lớn của mình vào sựnghiệp cách mạng chung của dân tộc.
1.2.2.2 Lực lợng hải quan Nghệ An từ 1945 đến trớc ngày 19 - 5 - 1956.
ở Nghệ An, sau ngày tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi, bộmáy chính quyền cách mạng đợc thành lập từ tỉnh đến làng xã và nhanh chóngbắt tay vào việc tổ chức, lãnh đạo nhân dân thực hiện các nhiệm vụ cần kíp lúcgiờ là chống đói, chống dốt và chống giặc ngoại xâm, xây dựng củng cố chínhquyền cách mạng
Từ ngày 28 – 8 – 1945, Chính phủ cách mạng lâm thời Nghệ An đợc
đổi thành Uỷ ban nhân dân cách mạng Tuy mới thành lập nhng từ tháng 9 –12/1945, Uỷ ban nhân dân cách mạng Nghệ An đã trực tiếp đứng ra giải quyếthàng loạt vấn đề cấp thiết mang lại quyền lợi cả về kinh tế – tài chính – xã hộicho mọi ngời dân, trong đó có việc xoá bỏ thuế thân, thuế muối, tạm thời cha thuthuế môn bài, thuế ruộng đất, nhà cửa và nhiều thứ thuế khác Uỷ ban nhân dântỉnh còn thông báo và chỉ đạo các cấp chính quyền từ tỉnh đến xã thực hiện Sắclệnh của Chính phủ về việc cho quân Tởng tiêu tiền quan kim, quốc tệ trên địabàn Nghệ An Phối hợp với khu trởng Khu IV Lê Thiết Hùng, lãnh đạo chínhquyền tỉnh Nghệ An cùng với một số cán bộ lên mặt trận đờng 7 cùng bộ đội,chính quyền địa phơng ngăn không cho quân đội Tởng vào các làng để cớp thuốcphiện của đồng bào các dân tộc thiểu số ở miền Tây xứ Nghệ Đoàn cán bộ củatỉnh và khu IV còn giải thích cho đồng bào rõ chính sách của cách mạng và đềnghị chính quyền sở tại vận động nhân dân chống đói, chống dốt, khắc phục khókhăn tài chính, loại bỏ các thứ thuế vô lí khác cho dân và tránh xung đột với quân
đội Tởng, cho chúng tiêu tiền đã mất giá
Chính quyền cách mạng ở Nghệ An đã giải quyết xuất sắc hàng loạt vấn
đề cấp thiết đang đặt ra ở địa phơng lúc bấy giờ, mang lại lợi ích cho nhân dân,thuế môn bài, thuế ruộng đất, nhà ở, thuế muối, thuế thuốc phiện,… Các Sắclệnh về Thuế gian thu của Chính phủ bớc đầu có hiệu quả, góp phần củng cốniềm tin cho nhân dân Nghệ An đối với tơng lai tơi sáng của cách mạng
Nh vậy, chính quyền Nghệ An trong một thời gian ngắn đã trực tiếp giảiphóng triệt để cho nhân dân thoát thoát khỏi nhiều thứ thuế vô lí do Pháp –Nhật và phong kiến tay sai đặt ra trớc đó Mặt khác, bộ máy chính quyền cũngchuẩn bị mọi điều kiện để cho ra đời một hệ thống thuế quan mới mà tính chất
Trang 21của nó hoàn toàn khác, đó là sử dụng các nguồn lợi thu đợc từ thuế để giải quyếtlợi ích chung của cách mạng và của nhân dân
Hởng ứng lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, ngày 6 – 1 – 1946, 97% cử triNghệ An đã đi bầu cử để lựa chọn những đại biểu u tú nhất vào bộ máy chínhquyền cách mạng Ngày 24 – 2 – 1946, cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân tỉnhdiễn ra nghiêm túc sôi nổi Kết quả có 39 đại biểu u tú đợc các cử tri bầu vào Hội
đồng nhân dân tỉnh khoá đầu tiên Ngày 23 – 3 – 1946, Hội đồng nhân dântỉnh họp phiên thứ nhất nhằm tìm ra các biện pháp cụ thể để chống giặc đói, giặcdốt, giặc ngoại xâm, xây dựng và củng cố bộ máy chính quyền cách mạng
Ngay khi thành lập, Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An quyết định: bãi bỏ cácthứ thuế vô lí do thực dân Pháp và phong kiến đặt ra trên địa bàn tỉnh, giảm thuếruộng đất, thuế môn bài, xoá bỏ mọi nợ nần của nông dân với địa chủ phongkiến,… Chính quyền ở các huyện xã còn đem ruộng đất công của làng xã, ruộng
đất của thực dân Pháp và bọn Việt gian bỏ chạy đem chia cho nông dân Đồn
điền của Pháp ở Phủ Quỳ (Nghĩa Đàn), Hạnh Lâm (Thanh Chơng) và những nơikhác bị tịch, giao cho chính quyền địa phơng quản lí, sử dụng Thực hiện lệnhcấm của Chính phủ về việc sử dụng gạo ngô nấu rợu, Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ
An chỉ đạo Uỷ ban nhân dân các huyện triển khai chủ trơng này đến tận mọi
ng-ời dân Uỷ ban nhân dân tỉnh cũng trực tiếp chỉ đạo Uỷ ban nhân dân các huyệnQuỳnh Lu, Diễn Châu, Nghi Lộc loại bỏ hoàn toàn thuế muối cho dân và thựchiện việc mua muối của dân với giá thoả thuận tại chỗ từ 36 – 38,5 đồng ĐôngDơng/tấn
Ngay từ đầu năm 1946, Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà ban hànhnhiều Nghị định, Sắc lệnh, Chỉ thị… liên quan đến vấn đề tổ chức, nhân sự,quyền hạn và nhiều vấn đề khác của Hải quan Việt Nam (lúc này còn gọi là thuếquan) Ví dụ: ngày 25 – 1 – 1946, Tổng Giám đốc Thuế quan và Thuế gián thuTrịnh Văn Bính kí Quyết định về “Binh phục của nhân viên Sở Thuế quan vàThuế gián thu”, ngày 5 – 2 – 1946, Bộ trởng Bộ Tài chính Phạm Văn Đồng kíNghị định số 192/TC về “Tổ chức nội bộ Sở Thuế quan và Thuế gián thu”; tiếp
đó ngày 26 – 2, Bộ trởng Tài chính ra tiếp Nghị định “Ba tỉnh Thanh Hoá, Nghệ
An, Hà Tĩnh trớc thuộc quyền kiểm soát thuế của Giám đốc Nha thuế Bắc Bộ,nay thuộc quyền Nha Giám đốc Thuế quan Trung Bộ kể từ ngày 1 – 1 - 1946”[26, 7], [27, 7 - 10]
Trang 22Ngày 29 – 5 – 1946, Chủ tịch nớc Việt Nam kí Sắc lệnh số 75/SL về tổchức Bộ Tài chính quy định Sở Thuế quan và Thuế gián thu đổi thành NhaThuếquan và Thuế thu thuộc Bộ Tài chính.
ở Nghệ An, đến ngày 1 – 4 – 1946, quân Tởng rút về nớc theo thoảthuận trong Hiệp ớc Trùng Khánh với Pháp (28 – 2 – 1946) Đội quân ô hợp
do Khâu Bĩnh Tờng chỉ huy đóng ở Nghệ Tĩnh đã gây cho chúng ta không biếtbao nhiêu khó khăn (24/9/1945 – 31/3/1946) từ kinh tế – tài chính đến trật tự
an ninh – xã hội… Vấn đề thu thuế ở cảng Bên Thuỷ, trên địa bàn tỉnh, Nghệ
An phía Pháp có đa ra song trớc thái độ kiên quyết của Uỷ ban hành chính,chúng đành phải từ bỏ tham vọng Trên thực tế, từ tháng 4 – 1946, cho đến khi
ta nổ súng loại bỏ hoàn toàn quân Pháp trên địa bàn Nghệ An, lực lợng quânPháp dám trắng trợn đa ra các u sách ngang ngợc đối với chính quyền cách mạng
nh một số tỉnh thành khác ở miền Bắc Toàn bộ hoạt động thu thuế ở cảng BếnThuỷ, Thành phố Vinh và trên địa bàn tỉnh Nghệ An đều do nhân viên thuế quanphối hợp với chính quyền địa phơng thực hiện Từ cuối năm 1945 cho đến ngàytoàn quốc kháng chiến, tuy mới hình thành, lực lợng ít song nhân viên thuế quanNghệ An (tiền thân của Hải quan Nghệ An sau này) đã tham mu tốt cho chínhquyền cách mạng ở tỉnh, huyện, xã triển khai các Sắc lệnh, Nghị định của Chínhphủ Việt Nam Dân chủ cộng hoà về thuế nh bãi bỏ thuế thân, xoá các khoản nợnần cho dân, bãi bỏ một số thuế vô lí khác (thuế môn bài, thuế nhà ở đối vớithành phố, thuế đò, thuế kéo xe,…) Mặt khác, lực lợng thuế quan Nghệ An cũngtrực tiếp thu các loại thuế xuất nhập cảng qua địa bàn ở cảng Bến Thuỷ và cả đ-ờng bộ, kiên quyết đấu tranh với quân Tởng, quân Pháp giữ quyền thu thuế.Nguồn lợi thu đợc từ các khoản thuế một phần chuyển vào ngân sách chung của
Bộ Tài chính, một phần giúp chính quyền các địa phơng giải quyết những khókhăn trớc mắt về kinh tế – tài chính Lực lợng thuế quan Nghệ An còn giúpchính quyền vận động nhân dân thực hiện nghiêm cấm việc xuất khẩu lúa gạo,cấm dùng gạo, ngô nấu rợu, ngăn không không quân Tởng - Pháp cớp thuốcphiện của đồng bào, thực hiện việc mua muối cho diêm dân, ấn định định một sốloại thuế mới, vận động nhân dân tiêu tiền quan kim, quốc tế, chống hoạt độnglàm tiền giả, góp phần cùng chính quyền đa đồng tiền Việt Nam vào lu hành [14,
15 - 20]
Trong năm đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám 1945, cùng với sự ra đờicủa ngành Hải quan Việt Nam (lúc đó gọi là Sở Thuế quan và Thuế gián thu –
Trang 23Nha Thuế quan và Thuế gián thu thuộc Bộ Tài chính), Hải quan Nghệ An cũngtừng bớc đợc hình thành và phát triển, vơn lên khẳng định vai trò của mình trong
sự nghiệp chung của cách mạng Sự hiện diện của nhân viên thuế quan và thuếgián thu ở cảng Bến Thuỷ, chợ Vinh hay dọc tuyến đờng số 7 để chống buôn lậu, không chỉ loại bỏ quyền thu thuế của Pháp – Nhật và phong kiến tay sai trên
…
địa bàn Nghệ An mà còn hạn chế nhiều thứ thuế vô lí do chế độ cũ đặt ra Trongnhững ngày tháng đầu tiên đầy khó khăn ấy, cùng với cả nớc, ngành thuế quan ởNghệ An đợc xác lập và góp phần vào việc giải quyết khó khăn kinh tế – tàichính trớc mắt, đồng thời tạo đà cho sự phát triển của Hải quan Nghệ An trongnhững năm tiếp theo
Tại Hội nghị trù bị Đà Lạt, Tổng Giám đốc Nha Thuế quan và Thuế giánthu Trịnh Văn Bính cùng phái đoàn ngoại giao của ta cũng kiên quyết phản đốiviệc Pháp muốn lập hàng rào thuế quan ở Đông Dơng và nắm toàn quyền quy
định về chính sách thơng mại, thậm chí Pháp muốn thâu tóm cả quyền định đoạtcác biểu thuế quan và Sở Thuế quan Sau những nỗ lực hoà bình của Chính phủ
Hồ Chí Minh bị Pháp chối từ, ngày 19 – 2 – 1946, Hồ Chủ tịch ra lời kêu gọitoàn quốc kháng chiến Thuế quan Nghệ An cùng lúc thực hiện hai nhiệm vụkháng chiến và kiến quốc, góp phần cùng dân tộc đánh bại thực dân Pháp
Ngày 12 – 2 – 1947, Thứ trởng Bộ Tài chính kiêm Tổng Giám đốc NhaThuế quan và Thuế gián thu Trịnh Văn Bính kí Nghị định 141 – BTC bãi bỏNghị định 113 – BTC với nội dung lập các khu thuế quan Bắc Bộ, chia Bắc Bộlàm ô khu vực về phơng diện thuế quan Riêng Trung Bộ, Bộ Tài chính uỷ nhiệmcho ông Nguyễn Văn Tấn (Giám đốc Tài chính Trung Bộ) và kiểm soát các SởThuế quan, ngân khố để liên lạc với Trung ơng [26, 12] Từ tháng 2 năm 1947,Chính phủ ban hành nhiều Sắc lệnh, Nghị định quy định về công việc xuất nhậpkhẩu hàng hoá do Chính phủ đảm nhiệm, cho phép Nha Thuế quan và Thuế giánthu giám sát các hoạt động ngoại thơng Các tỉnh Thanh – Nghệ – Tĩnh là hậuphơng của cuộc kháng chiến, do đó ngay từ đầu quân dân các tỉnh phải thực hiệncác nhiệm vụ cơ bản nh: chi viện đến mức cao nhất sức ngời, sức của cho chiếntrờng chính là Bắc Bộ, Bình – Trị – Thiên; giúp đỡ, chi viện có hiệu quả chonhân dân Lào, đánh bại mọi cuộc tiến công của Pháp từ đất Lào sang; bảo vệ hậuphơng Thanh – Nghệ – Tĩnh trong bất cứ tình huống nào…
Lực lợng thuế quan Liên khu IV, trong đó có thuế quan Nghệ An, ThanhHoá, Hà tĩnh phải đảm trách nhiệm vụ hết sức nặng nề vì cùng lúc họ phải đối
Trang 24mặt với nhiều khó khăn thách thức nh: đảm bảo việc thu thuế hàng hoá nhập,xuất cảng trên địa bàn theo đúng các văn bản; thực hiện việc chống buôn lậuthuốc phiện trên tuyến biên giới Việt Lào (Thanh Hoá - Hà Tĩnh) và trên địa bàn
ba tỉnh; giúp Uỷ ban hành chính các tỉnh, thành phố thu hút các thứ thuế theoquy định của Chính phủ để tăng ngân sách địa phơng phục vụ kháng chiến –kiến quốc Góp phần chống âm mu bao vậy, phá hoại kinh tế của địch đối vớivùng hậu phơng,…
Ngày 17 - 7 - 1947, Bộ trởng Bộ Kinh tế Phan Anh kí Nghị định số112/BKT ấn định những đồn biên giới hay hải khẩu có hoạt động ngoại thơngLào Cai – Hà Giang, Cao Bằng, Thất Khê, Thanh Hoá, Nghệ An Các hàng hoáxuất nhập khẩu ở các đồn biên giới khác coi nh xuất nhập khẩu trái phép đối với
độc quyền ngoại thơng của Chính phủ và thuộc quyền kiểm soát cơ quan thuếquan và công an
Tuy nhiên, trên thực tế, từ năm 1947, số tàu thuyền qua các cảng biển từThanh Hoá vào đến Hà Tĩnh nói chung và cảng Bến Thuỷ để buôn bán là rất hữuhạn Riêng nhân dân Thành phố Vinh, sau tháng 2 – 1947 đã sơ tán lên Nam
Đan, Thanh Chơng, Đô Lơng, Nghĩa Đàn và một số nơi khác để sinh sống Do
đó, hoạt động thu thuế xuất nhập cảng hàng hoá qua cảng Bến Thuỷ giai đoạnnày không đáng kể Nhân viên thuế quan trực tiếp về các vùng sản xuất muối ởQuỳnh Lu, Diễn Châu cùng với chính quyền địa phơng mua muối cho diêm dân.Nhờ đó, Nghệ An luôn chủ động cung cấp nguồn muối cho nhân dân, kể cả đồngbào miền núi phía Tây Từ tháng 7 – 1948, công an Nghệ An sắp xếp và tổ chứclại Ty Công an các cấp Cả tỉnh có 10 vạn công an [14, 61], thành lập các trạmkiểm soát dọc các tuyến quốc lộ 1, 7, 48, 15, 30,… Lực lợng thuế quan Nghệ Anphối hợp cùng công an thực hiện tốt việc kiểm soát hàng hoá dọc các tuyến đờng
bộ trên địa bàn tỉnh Riêng trên tuyến biên giới Lào – Việt trong giai đoạn này,thực dân Pháp xúi giục bọn lang đạo, thổ ti, tay sai gây rối trật tự trị an để pháhoại hậu phơng của ta Vấn đề chống vận chuyển buôn lậu qua biên giới cũng
nh ở các huyện miền núi phía Tây thêm phức tạp Tại Vinh, một số tên buôn lậuthuốc phiện lợi dụng tình hình bắt đầu tìm nguồn hàng đem đi tiêu thụ
Nhờ làm tốt công tác vận động nhân dân, lực lợng chống buôn lậu thuốcphiện của thuế quan Nghệ An phối hợp với công an Nghệ An phục bắt quả tangTrần Văn Vệ và Lê Hải vào ngày 6 – 11 – 1949, khi chúng đang vận chuyển 5
kg thuốc phiện Đây là hai đối tợng chuyên buôn bán thuốc phiện từ Vinh toả đi
Trang 25các hớng nh Hng Nguyên vào Quảng Bình hay tận Ninh Bình để tiêu thụ Tuyếnbiên giới Việt – Lào từ Thanh Hoá vào Hà Tĩnh đợc bảo vệ và giữ vững trongsuốt cuộc kháng chiến Trong thành tích chung của quân dân Liên khu IV cóphần đóng góp không nhỏ của lực lợng thuế quan Trung Bộ cũng nh thuế quanNghệ An Việc đập tan hoàn toàn các cuộc đổ bộ quân của Pháp theo tuyến đờngbiển từ Thanh Hoá vào Hà Tĩnh không chỉ có ý nghĩa to lớn về quân sự mà còn
có ý nghĩa thiết thực trong việc loại bỏ âm mu của Pháp và tay sai muốn phá hoạikinh tế vùng hậu phơng Thanh – Nghệ – Tĩnh theo tuyến đờng biển
Từ ngày toàn quốc kháng chiến đến trớc chiến thắng biên giới thu đông
1950, không chỉ ở căn cứ địa Việt Bắc mà cả ở vùng tự do Thanh – Nghệ –Tĩnh, quân dân ta phải chịu đựng nhiều gian khó Quan hệ buôn bán thơng mạibuôn bán với nớc ngoài hầu nh không đáng kể Pháp kiểm soát toàn bộ báo cáohải cảng từ Sài Gòn, Đà Nẵng, Hải Phòng,… vùng địch tạm chiếm mọi hàng hoá
đều do thuế quan của Pháp kiểm soát định thuế Cuộc đấu tranh bao vây kinh tế
địch diễn ra hết sức gay gắt ở tất cả các vùng giáp ranh ở Thanh – Nghệ - Tĩnh,thực hiện chủ trơng của chính phủ, ta tổ chức kiểm soát mọi vùng nguồn hàngcủa t thơng từ vùng địch tạm chiếm sang vùng hậu phơng Mặt khác, ta tổ chứcsản xuất hàng hoá nh: dệt vải, xà phòng, diêm, muối, nông cụ, công cụ… nhằmphục vụ đời sống của nhân dân Riêng ở Nghệ An, nhờ giữ vững trật tự an ninh,
đẩy lùi mọi cuộc tiến công và phá hoại của địch nên các loại hàng hoá thiết yếuphục vụ cho bộ đội, nhân dân đợc bảo đảm, nhất là nguồn muối, gạo, vải vóc,…Nghệ An trở thành trung tâm kinh tế, chính trị, quân sự của vùng tự do Liên khu
IV từ đầu kháng chiến Đây là một yếu tố thuận lợi vì Trung ơng Đảng, Chínhphủ luôn chỉ đạo sát sao tình hình kinh tế, chính trị, quân sự của Nghệ An Quânkhu IV phối hợp chặt chẽ với Tỉnh uỷ, Uỷ ban hành chính kháng chiến Nghệ An
để cùng với chính quyền các cấp, xây dựng và phát triển lực lợng vũ trang, đậptan mọi âm mu của Pháp và các thế lực phản động trên địa bàn Nha Thuế quan
và Thuế gián thu mà trực tiếp là Sở thuế quan Trung Bộ ngay từ đầu cuộc khángchiến đã triển khai đầy đủ các chủ trơng, chính sách của Chính phủ đến các cấpchính quyền và nhân dân
Nhằm đa sự nghiệp kháng chiến chống Pháp đi tới thắng lợi, từ ngày 11– 19/2/1951, tại Chiêm Hoá - Tuyên Quang, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứhai của Đảng đã diễn ra Đại hội thông qua “Báo cáo chính trị” và “Báo cáo bàn
về cách mạng Việt Nam” Các văn kiện quan trọng này đã xác định nhiệm vụ
Trang 26của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, lực lợng chủ yếu của cách mạng, tính chấtcủa cách mạng… Ngay sau Đại hội II của Đảng, ngày 3 – 3 – 1951, Việt Nam
Độc lập đồng minh và Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam họp Đại hội thống nhấtthành một mặt trận duy nhất, lấy tên là Mặt trận Liên Việt quốc dân Việt Nam
Sự nghiệp kháng chiến chống Pháp đang đi dần đến thắng lợi nhng cả Pháp và
Mĩ với bản chất hiếu chiến, ngoan cố đang tìm mọi cách để kéo dài cuộc chiến ở
Đông Dơng Dựa vào nguồn viện trợ khổng lồ của Mĩ, thực dân Pháp ráo riếttriển khai kế hoạch quân sự quy mô lớn của Đờlátđơtátxinhi với nhiều nội dungnhằm cứu vãn quân Pháp đang sa lầy trong cuộc chiến tranh Việt Nam Thanh –Nghệ – Tĩnh trở thành mục tiêu phá hoại của Pháp và bọn tay sai phản động
Chính trong bối cảnh đó, tháng 8 – 1951, tại xã Quang Thành (YênThành), Đại hội đại biểu lần thứ VIII Đảng bộ tỉnh Nghệ An khai mạc với sựtham dự 289 đại biểu thay mặt cho 50.459 đảng viên trong 12 huyện Đại hội đề
ra nhiệm vụ cụ thể: “Xây dựng Nghệ An thực sự thành hậu phơng vững chắcthành kho dự trự dồi dào đầy ngời và của, làm tròn nhiệm vụ hậu phơng đối vớitiền tuyến” [1, T1-185]
Ngày 6 – 5 – 1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí Sắc lệnh 15/SL thành lậpNgân hàng quốc gia Việt Nam để phát hành tiền Việt Nam mới, huy động vốncho nhân dân, quản lí ngân quỹ quốc gia, điều hoà tiền tệ, thống nhất quản lí thuchi, phát triển sản xuất, đấu tranh kinh tế với địch
Khi Sắc lệnh nông nghiệp cha ra đời, ở Nghệ An và một số tỉnh khác, địachủ, phú hào tìm cách gây dây da trốn thuế Chính quyền địa phơng chỉ có biệnpháp vận động khuyến khích nông dân và những ngời giàu đóng thuế hoặc trngthu lúa công, lơng, mua lúa định giá hoặc tạm thời vay thuế để kịp phục vụ chotiền tuyến Tình trạng này đã gây cho ta không ít khó khăn Ví dụ, năm 1950,Liên khu IV đã giao cho Nghệ An 16.000 tấn lơng thực, tỉnh xin rút xuống còn12.000 tấn, nhng trên thực tế chỉ đạt có 8.000 tấn
Từ tháng 5 – 1951 trở đi, ở Nghệ An vấn đề thành lập ngân hàng, mậudịch bắt đầu đợc triển khai trên địa bàn nhiều huyện Kết quả là đến tháng 7 –
1951, các khu vực thơng mại từ chợ Giát (Quỳnh Lu), chợ Lờng (Đô Lơng), chợ
Sa Nam (Nam Đàn), chợ Thái Hoà (Nghĩa Đàn)… lần lợt hình thành với hoạt
động buôn bán trao đổi sầm uất Đây là nơi giao lu buôn bán các vùng trong tỉnh,giữa hậu phơng Nghệ Tĩnh với vùng địch tạm chiếm Các nguồn hành nh xăngdầu, thuốc Tây, gạo, vải, đờng, giống, hoá chất,… ợc thơng nhân Hoa kiều, ấn đ
Trang 27kiều và cả thơng nhân ngời Việt Nam thì mua ở nhiều nơi đem về Nghệ An đểtiêu thụ, phần nào để giải quyết yêu cầu về hàng hoá tiêu dùng cho nhân dân và
bộ đội Đáng chú ý là trong giai đoạn công đoàn thơng thuyền sông Lam với 33phân đoàn, gồm có 3.300 đoàn viên đã đợc thành lập với nhiệm vụ vận tải cácloại hàng hoá, lơng thực thực phẩm, thuốc men… phục vụ yêu cầu của khángchiến Phối hợp với chính quyền các cấp, lực lợng thuế quan Nghệ An trong giai
đoạn này đã tham mu kịp thời và trực tiếp thực hiện việc thu đủ, thu đúng thuếnông nghiệp, thuế công thơng, thuế các loại hàng hoá xuất nhập khẩu, lu hành
đồng tiền mới, tham gia chống bọn sản xuất và lu hành tiền giả trên địa bàn
Điển hình là vụ phối hợp với lực lợng công an cùng chính quyền ở Hng Nguyên
và Thị xã Vinh, vây bắt ổ nhóm in và lu hành tiền giả với số lợng lớn ngày 16 –
6 – 1951 do Lê Ngọc Đức, Lê Doãn Vinh, Nguyễn Hữu Chí, Lê Viết Nam cầm
đầu ở Hng Thuỷ Hoạt động chống buôn lậu thuốc phiện của lực lợng thuế quanNghệ An tiếp tục thu đợc nhiều kết quả trong các năm 1951 – 1952 Riêng lĩnhvực thuế nông nghiệp trong năm 1952, do chủ quan duy ý tả khuynh, chínhquyền các cấp huyện Quỳnh Lu, Diễn Châu, Yên Thành, Thanh Chơng, Nam
Đàn,… đã đa cuộc đấu tranh chống các đối tợng dây da thuế nông nghiệp đi quá
xa so với mục tiêu đề ra Từ việc đấu tranh chống dây da thuế nông nghiệpchuyển sang đấu tố phản động chống phá kháng chiến, từ hình thức đấu lí, tố cáodẫn đến hình thức nhục hình, từ đối tợng là địa chủ phú nông dây da thuế nôngnghiệp đến tràn lan không phân biệt đúng sai Kể cả có nhiều địa chủ có nhiều
đóng góp cho kháng chiến cũng bị đấu tố Tính tự phát bùng phát, không kiểmsoát nổi Sai lầm này đã đợc Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh kịp thời chỉ đạo rútkinh nghiệm uốn nắn Liên khu IV và Trung ơng Đảng chỉ đạo Tỉnh uỷ, các cấp
Đảng, chính quyền ở Nghệ An phải nghiêm túc rút kinh nghiệm, kiểm điểm và
kỷ luật một số cán bộ chủ chốt, chuyển công tác nhiều cán bộ khác Nhờ cácbiện pháp kiên quyết đó nên những sai lầm đợc khắc phục, tạo niềm tin cho quầnchúng nhân dân, góp phần đập tan các luận điệu tuyên truyền phản động của bọtay sai hòng xuyên tạc chính sách thuế nông nghiệp của Đảng và Chính phủ
Thực hiện chủ trơng của Trung ơng Đảng về việc huy động nguồn lực vậtchất, tinh thần tự do ở vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh để phối hợp với quân dân Lào,
từ đầu năm 1953, các cấp, các ngành ở Nghệ An đã vào cuộc với tinh thần caonhất Lực lợng thuế quan phối hợp với chính quyền các cấp tổ chức tốt việc thựchiện chính sách thuế nông nghiệp, kết hợp phát động nông dân giảm tô, giảm tức
Trang 28từ 25 – 40% Điển hình là các huyện Nam Đàn, Thanh Chơng, Đô Lơng,…Tiếp đó, cùng với Ban Kinh Tài của tỉnh giải quyết tốt vấn đềtài chính cho hàngvạn bộ đội, dân công phục vụ chiến dịch Thợng Lào Hơn 700 tấn gạo, hàngngàn trâu bò, thuốc men, vũ khí đạn dợc… ợc nhân dân Nghệ An huy động đphục vụ cho chiến dịch đó Toàn bộ S đoàn 304, tiểu đoàn bộ đội địa phơng tỉnh
195 cùng hai đại đội 121, 123 trực tiếp tham chiến, góp phần vào thắng lợi chungtrong chiến dịch Thợng Lào Chiến thắng này có ý nghĩa hết sức quan trọng đốivới nhân dân hai nớc Lào – Việt
Hiếu chiến, ngoan cố, Mĩ điều tớng Nava sang Đông Dơng làm Tổng chỉhuy quân đội Pháp thay cho Salăng Dựa vào nguồn lực tài chính của Mĩ, tháng 7– 1953, Nava đa ra kế hoạch quân sự mang tên y…
Phân tích tơng quan lực lợng giữa ta và địch, Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung
ơng và Hồ Chủ tịch quyết định mở chiến cuộc đông xuân 1953 – 1954 nhằm
đập tan kế hoạch phiêu lu quân sự của Na va để kết thúc chiến tranh Khẩu hiệu
“Tất cả cho chiến thắng”, “Tất cả cho chiến trờng” đợc toàn Đảng, toàn quân vàtoàn dân ta hởng ứng với quyết tâm cao nhất
Vùng tự do Thanh – Nghệ – Tĩnh với nhiệm vụ phải huy động tới mứccao nhất sức ngời và của cho chiến trờng Riêng Nghệ An đợc giao nhiệm vụ mở
đờng 15 A từ Đô Lơng qua Sen Sẻ lên Phủ Quỳ qua Lâm La đến Bãi Xăng –Thanh Hoá để đi ra Hoà Bình Trong cả chiến dịch, Nghệ An đã huy động 6.600dân công, làm mới và sửa chữa 320 km đờng, 3 cầu lớn, tổng số ngày công đợchuy động là 1.574.152 Nếu tính cả năm 1953, toàn tỉnh đã huy động 5 triệungày công để làm đờng giao thông Uỷ ban nhân dân tỉnh chỉ đạo các ban ngànhkinh tế, tài chính phải cung cấp đủ lơng thực, thực phẩm, tài chính cho lực lợng
dân công Tỉnh còn chỉ đạo chính quyền địa phơng các cấp động viên nhân dân
hoàn thành tốt các loại thuế: thuế công thơng nghiệp, thuế nông nghiệp để phục
vụ kháng chiến Nhờ làm tốt công tác vận động tuyên truyền cộng với tinh thầnyêu nớc của các tầng lớp nhân dân nên cả năm 1953, mức thu huy động thuế củaNghệ An vợt chỉ tiêu
Lực lợng thuế quan ở Vinh cũng nh các huyện, thị trấn đến các huyệnmiền núi phía Tây cùng với chính quyền địa phơng vận động mọi tầng lớp nhândân hoàn thành nộp thuế cho Nhà nớc Tinh thần yêu nớc phát huy cao độ trêntất cả các phơng diện: cung cấp bộ đội, dân công, lơng thực,… Đảng bộ và nhândân tự hào vì đã góp phần cùng cả dân tộc làm nên Điện Biên Phủ chấn động địa
Trang 29cầu, kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mĩ của dân tộcsau 9 năm trờng kì
Cùng với Sở Thuế quan và Thuế gián thu – Nha Thuế quan và Thuế giánthu, lực lợng thuế quan Nghệ An đã góp một phần vào sự nghiệp kháng chiếnchống thực dân Pháp của dân tộc ta Mới thành lập nên hoạt động của Sở Thuếquan và Thuế gián thu cả ở Việt Bắc, Trung Bộ và Nam Bộ gặp không ít khókhăn do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, song trên thực tế, Sở Thuế quan
và Thuế gián thu đã vợt qua khó khăn thử thách, góp phần giải quyết khó khăntài chính – tiền tệ, triển khai các Sắc lệnh thuế hàng hoá xuất nhập cảng, bãimiễn các thuế, đấu tranh kinh tế với địch, chống buôn lậu thuốc phiện…
Từ sau chiến thắng Biên giới thu đông 1950, hoạt động buôn bán thơngmại giữa ta và Trung Quốc cùng một số nớc khác từng bớc đợc xác lập NhaThuế quan và Thuế gián thu có nhiều đóng góp trong việc đẩy mạnh quan hệbuôn bán thơng mại đó Yêu cầu của sự nghiệp kháng chiến ngày càng cao, thuếquan Bắc Bộ, Trung bộ và Nam Bộ từng bớc vơn lên đáp ứng hoàn thành nhiệm
vụ mà Đảng, Chính phủ giao phó Là một bộ phận trong Sở Thuế quan Trung Bộ,thuế quan Nghệ An cùng với chính quyền các cấp ngay từ đầu cuộc kháng chiến
đã kịp thời triển khai các Sắc lệnh, Nghị định về thuế quan của Chính phủ đếnvới mọi tầng lớp, giai cấp, góp phần giải quyết khó khăn tài chính, tiền tệ, chốngbuôn lậu thuốc phiện, chống buôn lậu tiền giả, đa đồng tiền mới vào lu hành trênthị trờng, miễn thuế, thực hiện thuế nông nghiệp, thuế công thơng nghiệp… Thuếquan Trung Bộ, trong đó có thuế quan Nghệ An đã góp phần củng cố, phát triểnhậu phơng Thanh – Nghệ – Tĩnh trong suốt gần một thập kỉ chiến tranh Trênphơng diện đó, thuế quan Trung Bộ và thuế quan Nghệ An góp phần xứng đángvào thắng lợi chung của dân tộc trong sự nghiệp kháng chiến chống Pháp và canthiệp Mĩ
Điện Biên Phủ lịch sử đã đập tan hoàn toàn kế hoạch phiêu lu quân sự củaNava và quan thầy Mĩ Không còn cách nào khác, Pháp phải kí Hiệp địnhGiơnevơ, cam kết rút toàn bộ quân viễn chinh về nớc, thừa nhận thất bại Ngày
10 – 1 0 – 1954, ta tiếp quản thủ đô trong niềm vui vô bờ của quân dân cả nớc,miền Bắc sạch bóng quân xâm lợc Cơ hội thống nhất đất nớc bằng con đờngtổng tuyển cử đã thực sự mở ra cho quân và dân hai miền Nam Bắc Nhng thựcdân Pháp mới rút quân khỏi miền Bắc, Hiệp định Giơnevơ cha ráo mực thì Mĩ
Trang 30ngang nhiên đặt miền Nam Việt Nam dới sự can thiệp của Liên minh quân sự
Đông Nam á (SEATO)
Để miền Bắc trở thành hậu phơng lớn của chiến trờng miền Nam, đòi hỏitất cả các cấp, các ngành phải nỗ lực phấn đấu hết sức mình Lịch sử đặt cả dântộc vào một thử thách mới và hơn bao giờ hết chủ nghĩa yêu nớc, chủ nghĩa anhhùng cách mạng Việt Nam lại toả sáng trên khắp miền Bắc xã hội và miền Namthành đồng Tổ quốc Đối với cán bộ, chiến sĩ ngành Hải quan Việt Nam, sựnghiệp xây dựng chủ nghĩa ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nớc nhà ở miềnNam đang đặt ra cho những thử thách mới đầy khó khăn
Ngày 10 – 10 – 1954, ngành thuế xuất nhập khẩu tiếp quản các cơ quan
đầu não thuế quan cũ của Pháp ở Hà Nội (nay thuộc Bảo tàng cách mạng ViệtNam) Nhng phải đến ngày 13 - 5 - 1955, ta tiếp quản Sở Thuế quan của Pháp và
bu chính thành phố Ngày 22 – 5 – 1955, hai tàu nớc ngoài mang quốc tịchPháp cập cảng Hải Phòng đầu tiên Tàu chở cán bộ, bộ đội và đồng bào miềnNam tập kết ra Bắc theo Hiệp định Giơnevơ
Ngày 15 – 1 – 1955, Bộ Công thơng – Tài chính ra Thông t liên tịch số41/BCT về kiểm tra thuốc phiện, trong đó giao cơ quan hải quan có lực lợngkiểm soát tại chỗ và thêm lực lợng kiểm soát lu động phụ trách công tác kiểm trathuốc phiện ở biên giới, trong vùng kiểm soát kinh tế và theo dõi một số hoạt
động sản xuất thuốc phiện ở nội địa nh Nghệ An, Bái Thợng, Lào Cai, HàGiang… Ngày 21 – 4 – 1955, Bộ Tài chính ban hành Nghị định số 92/BTC quy
định chế phục ngành hải quan gồm áo, quần, mũ, phù hiệu Từ đó về sau đại diệnChính phủ, Bộ còn ra nhiều Nghị định, Chỉ thị, Sắc lệnh liên quan đến hệ thống,nhân sự, quyền hạn, nghĩa vụ của ngành hải quan
Là vùng tự do trong suốt 9 năm kháng chiến, song Nghệ An cũng gặp nhiềukhó khăn về kinh tế, văn hoá, xã hội Hậu quả nặng nề do chiến tranh để lại khắcphục cha triệt để thì hai năm liên tiếp 1954 – 1956, cả Nghệ Tĩnh phải gánh chịuhậu quả nặng nề do lũ lụt gây nên Những âm mu xuyên tạc của một số tay sai độilốt tôn giáo đã gây tâm lí hoang mang, hốt hoảng cho phần lớn nhân dân ở cácvùng giáo Khó khăn lớn nhất là đại bộ phận nông dân ở các huyện trong tỉnh đangthiếu ruộng đất và t liệu sản xuất, nền công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đang ởtrong tình trạng đình đốn Hệ thống đờng giao thông sắt, bộ, cầu cống, trờng học
và nói chung là cơ sở vật đang phải gấp rút sửa chữa
Trang 31Nh vậy, hoạt động thuế quan ở nớc ta dới thời kì Bắc thuộc diễn ra không
đáng kể Cho đến từ nhà Lí trở về sau, thuế quan nớc ta nói chung, Nghệ An nóiriêng có điều kiện phát triển và trở thành một bộ phận hữu cơ của nền ngoại th-
ơng… Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, nớc Việt Nam Dân chủ cộng hoà ra đời,không lâu sau đó ngành thuế quan nớc ta đợc xác lập, trở thành tiền thân của Hảiquan Việt Nam ngày nay Ngay từ những ngày đầu, lực lợng thuế quan Liên khu
VI đóng trên địa bàn Nghệ An đã liên hệ mật thiết với các lực lợng vũ trang, dânquân, du kích và ngoại thơng,… đấu tranh với Pháp để bảo vệ chủ quyền về ngoạithơng, thuế quan, đồng thời tiến hành bao vây, lợi dụng kinh tế địch nhằm “có lợicho tác chiến và bảo vệ đợc nội hóa” của ta, góp phần đa sự nghiệp kháng chiếnchống thực dân Pháp đến thắng lợi cuối cùng
Khi Đảng bộ và nhân dân Nghệ An đang đoàn kết, tin tởng quyết tâm đạpbằng mọi thử thách, từng bớc khắc phục hậu quả chiến tranh, thiên tai lũ lụt, hạnhán, từng bớc xây dựng và phát triển kinh tế, văn hoá, ổn định đời sống nhân dâncũng là lúc Sở Hải quan Nghệ An thành lập
Chơng 2Hải quan Nghệ An từ ngày thành lập
đến đại thắng mùa xuân (19/5/1956 – xã hội. 30/4/1975)
2.1 Hải quan Nghệ An thành lập (19 – xã hội. 5 – xã hội. 1956).
Sau năm 1954, Đảng bộ và nhân dân Nghệ An tuy phải đối với nhiều khókhăn thử thách, nhng vợt lên gian khó, công cuộc khắc phục hậu quả chiến tranh,từng bớc ổn định đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân đạt đợc thành tựucơ bản Trong đó, vấn đề củng cố, kiện toàn hệ thống tổ chức Đảng, chính quyền
và đoàn thể quần chúng đợc đặc biệt quan tâm Theo hồi kí của đồng chí TạXuân Triều, Nguyễn Xuân Lộc – nguyên cán bộ Hải quan khu IV, nguyên PhóChi Cục trởng Chi Cục Hải quan Nghệ An, việc thành lập Sở Hải quan Nghệ An(tiền thân của Cục Hải quan Nghệ An sau này): “Cuối năm 1954, chúng tôinhững cán bộ quân, dân, chính, Đảng các tỉnh miền Trung và Nam Trung Bộ tậpkết ra Bắc… Chính phủ thành lập Sở Hải quan Trung ơng thuộc Bộ Công thơng,nhằm xác lập chủ quyền thuế quan của Nhà nớc, với nhiệm vụ chấp hành thể lệ,kiểm nghiệm hàng hoá xuất nhập khẩu, chống buôn lậu (thực ra với Sắc lệnhngày 10 – 9 – 1945, chủ quyền thuế quan đã đợc xác lập) Dới sở hải quanTrung ơng là Sở Hải quan và phòng Hải quan cửa khẩu ở các tỉnh Bắc Trung Bộ
Trang 32từ Thanh Hóa đến vĩ tuyến 17 thuộc Vĩnh Linh, trớc đó sở Hải quan Trung ơngthành lập một đội kiểm soát lu động số 4, nay Sở Hải quan Trung ơng thành lậpthêm Sở Hải quan Liên khu IV do ông Hoàng Xuân Phong quê ở Nghệ An làmChủ nhiệm, ông Nghuyễn Thanh quê ở Bắc Ninh làm Chủ nhiệm Bộ máy gồmcó: Văn phòng sở Hải quan Liên khu IV đóng tại Bến Thuỷ - Thị xã Vinh, độikiểm soát lu động Thanh Hoá, phòng Hải quan Quảng Bình, phòng Hải quanVĩnh Linh
Sau một thời gian tập trung, chỉnh huấn và học tập các chủ trơng của
Đảng, chúng tôi đợc cử đi học khoá huấn luyện 15 ngày ở Yên Phụ (Hà Nội) do
ông Nguyễn Chanh phụ trách, khi học xong biên chế quân số của Hải quan Liênkhu IV đóng tại Thành phố Vinh Đến năm 1956, Sở Hải quan Trung ơng giảithể để thành lập Chi Sở Hải quan các tỉnh Nghệ An, Quảng Bình, Vĩnh Linh và
Đội Kiểm soát lu động ở Thanh Hoá Ngày 19 – 5 – 1956, Chi Sở Hải quanNghệ An đợc thành lập theo Quyết định số 161/BTN/NĐ/TC của Bộ trởng BộThơng nghiệp với quân số 26 ngời, do ông Nguyễn Tăng Thông làm Chi Sở tr-ởng và ông Nguyền Suyền làm Chi Sở phó, trụ sở đóng tại phờng Bến Thuỷ,Thành phố Vinh Nguồn cán bộ của Chi Sở chủ yếu là cán bộ của Hải quan Liênkhu, một phần ít từ thơng nghiệp chuyển sang…”
Đối chiếu với nguồn tài liệu của Tổng Cục Hải quan trong cuốn “Hải quanViệt Nam – Biên niên sự kiện”, “60 năm Hải quan Việt Nam (1945 – 2005)”
cùng một số tài liệu khác, chúng tôi khẳng định rằng, Chi Sở Hải quan Nghệ An
đợc thành lập theo Nghị định 161/BTN/NĐ/TC của Bộ trởng Bộ Thơng nghiệp ngày 19 – 5 – 1956. Ngày 19 – 5 – 1956 thực sự trở thành mốc son lịch sử,
có ý nghĩa đối với Hải quan Nghệ An
2.2 Đóng góp của Hải quan Nghệ An từ 1956 đến 1964.
Với Nghị định 161/BTN/NĐ/TC của Bộ trởng Bộ Thơng nghiệp ngày 19
– 5 – 1956, Chi Sở Hải quan Nghệ An đợc thành lập Lực lợng của Chi Sở Hải
quan Nghệ An lúc mới thành lập gồm 26 ngời, chủ yếu từ cán bộ Hải quan Liênkhu IV đã lặn lội nhiều năm trên địa bàn Thanh – Nghệ – Tĩnh – Bình, chịu
đựng đủ gian nan và thông thạo địa hình Nhiệm vụ của Hải quan Nghệ An lúcnày thi hành những thể lệ, thủ tục hải quan theo quy định mới của Chính phủ,kiểm nghiệm hàng hoá xuất khẩu nh gỗ, mây, lạc, cam, bởi,… Ngoài ra, lực lợngChi Sở Hải quan Nghệ An còn có nhiệm vụ chống buôn lậu thuốc phiện trêntuyến biên giới Lào – Nghệ An và trên địa bàn tỉnh, tham mu cho chính quyền
Trang 33các cấp ở thành phố, huyện về vấn đề kiểm soát các loại hàng hoá xuất nhậpkhẩu, chống buôn lậu vàng, bạc, đá quý, ngọc trai… qua biên giới và trong nội
địa, phối hợp với công an để phát hiện và bắt giữ bọn sản xuất và lu hành tiềngiả… Do lực lợng ban đầu quá mỏng mà yêu càu công tác lại quá nhiều việc nênkiêm nhiệm chức năng là điều khó tránh khỏi Ví dụ, Văn phòng Chi Sở đóng ởBến Thuỷ kiêm cả công tác kiểm nghiệm hàng hoá xuất nhập khẩu và thủ tục hảiquan cho hàng hóa, tàu biển xuất nhập cảng qua cảng Bến Thuỷ Riêng đội kiểmsoát lu động phải chia nhỏ thành nhiều phân đội hoạt động ở địa bàn các huyệnmiền núi phía Tây và phía Tây Nam Nghệ An Lực lợng hải quan trong đội cơ
động này cùng một lúc nắm thông tin, phát hiện bọn buôn bán, vận chuyển thuốcphiện qua biên giới, vừa phải làm công tác dân vận, phối hợp với lực lợng vũtrang và hoạt động phá hoại của phỉ, biệt kích, xây dựng chính quyền cơ sở cáchuyện miền Tây… Các chiến sĩ hải quan cùng ăn, cùng ở với dân, cùng hoạt
động với cán bộ địa phơng, chịu đựng không biết bao nhiêu khó khăn, gian khổcả về đời sống vật chất lẫn tinh thần, vì có khi 3 – 4 tháng, thậm chí là cả nămcha có dịp về thăm nhà một lần
Nhằm tăng cờng hiệu quả công tác chống buôn lậu thuốc phiện, hàng hoáqua biên giới Việt - Lào, kiểm soát các loại hàng hoá xuất nhập cảnh từ Lào quaViệt Nam theo tuyến đờng bộ số 7, ngày 27 – 8 – 1957, Bộ trởng Bộ Thơngnghiệp Phan Anh kí Quyết định số 618 – BTN – TCCB thành lập Phòng Hảiquan Mờng Xén Quyết định số 618 – BTN quy định nhiệm vụ của Phòng Hảiquan Mờng Xén nh: thi hành thủ tục xuất nhập khẩu, đồng thời làm thể lệ quản líxuất nhập khẩu trong địa phơng, kiểm soát buôn lậu Phòng Hải quan Mờng Xénchịu sự trực tiếp của Chi Sở Hải quan Nghệ An về chính sách và nghiệp vụ vàchịu sự lãnh đạo của Uỷ ban hành chính Nghệ An về đờng lối chính trị chung…
Ông Nguyễn Lộc đợc đề bạt làm Phó trởng Phòng Hải quan Mờng Xén
Nh vậy, đến năm 1957, Chi Sở Hải quan Nghệ An có thêm Phòng Hảiquan Mờng Xén với nhiệm vụ làm thủ cho hàng hoá, phơng tiện ô tô, hành kháchxuất nhập qua cửa khẩu đờng quốc lộ 7, chống buôn lậu qua biên giới, chốngbuôn lậu thuốc phiện Với lực lợng mỏng, chủ yếu từ thuế quan Liên khu IVsang cùng một số bộ đội, cán bộ miền Nam tập kết, thơng nghiệp chuyển sang,lại phải đảm nhiệm cả một khối lợng công việc từ cảng Bến Thuỷ đến tận MờngXén, phơng tiện thiếu thốn, kinh nghiệm cha nhiều Rõ ràng, cán bộ, chiến sĩ Hảiquan Nghệ An đang đứng trớc muôn vàn khó khăn, thử thách
Trang 34Hơn nữa, ngay khi Chi Sở Hải quan Nghệ An vừa thành lập, tỉnh còn phải
đơng đầu với tình hình khó khăn về kinh tế, chính trị – xã hội Lũ lụt, hạn hán,dịch bệnh gây ảnh hởng đến đời sống nhân dân, cha kịp khắc phục thì những sailầm nghiêm trọng trọng trong quá trình triển khai cải cách ruộng đất trên địa bàntỉnh càng làm cho tình hình chính trị, xã hội ở Nghệ An thêm căng thẳng [1, 10 -46] Mặc dù công tác sửa sai đợc Tỉnh uỷ, Uỷ ban, các cấp uỷ, chính quyền triểnkhai kịp thời, song hậu quả của nó cha dễ gì khắc phục dứt điểm Thêm vào đó làhoạt động phá hoại của bọn tay sai đội lốt tôn giáo ở vùng có đòng bào giáo dân,gián điệp, bọn thổ phỉ ở biên giới phía Tây càng làm cho tình hình thêm phứctạp Sự hỗ trợ về tài chính, cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động của Chi Sở Hảiquan Nghệ An ở Vinh – Bến Thuỷ hay Phòng Hải quan Nghệ An đầu tiên ấy đãthể hiện tinh thần và nghị lực phi thờng, chấp nhận mọi khó khăn thử thách, vui
vẻ nhận nhiệm vụ và hoàn thành mọi nhiệm vụ đợc giao Văn phòng Chi Sở có
13 ngời, trong đó bao gồm lãnh đạo Chi Sở, các bộ phận hành chính 6 ngời, 1 tổkiểm nghiệm hàng hoá xuất nhập khẩu (4 ngời), 1 tổ kiểm sát gồm 3 ngời NgoàiChi Sở trởng Nguyễn Tăng Thông, Chi Sở phó Nguyễn Suyền, ở Chi Sở còn có
ông Nguyễn Xuân Lộc quê Phú Yên phụ trách tổng hợp, xử lí và chống buôn lậu
ở Vinh, ông Huỳnh Huy Điền ở Quảng Bình làm kế toán, ông Phạm Sừng phụtrách hành chính, văn th, thủ quỹ Ông Phạm Chí quê ở Huế, cán bộ tập kết làmcấp lơng Tổ kiểm nghiệm hàng hoá xuất nhập do ông Nguyễn Khiêm quêQuảng Nam làm tổ trởng, đồng chí Dánh, đồng chí Tấn, đồng chí Diệp Tú Hoalàm tổ viên Hai tổ viên kiểm soát ở Vinh là đồng chí Nguyễn Hữu Vuông, đồngchí Nguyễn Vinh
Nhiệm vụ của Văn phòng Chi Sở lúc này là quản lí hành chính, chốngbuôn lậu ở Thành phố Vinh và các huyện ven biển Quỳnh Lu đến Bến Thuỷ, làmthủ tục cho tất cả các loại hàng hoá xuất nhập khẩu sang Đức, Liên Xô, TrungQuốc thủ tục hải quan không mấy phức tạp, song cán bộ, chiến sĩ thuộc tổ kiểmnghiệm hàng hoá rất chú trọng về chất lợng hàng hoá xuất khẩu để đảm bảo uytín cho Việt Nam đối với các nớc bạn trong phe xã hội chủ nghĩa Từ năm 1954,khi đồng bào ở Thành phố Vinh từ các nơi tản cử về, bắt tay xây dựng khôi phụclại Thành phố Vinh Do đó, tình hình buôn lậu hàng hoá, bán thuốc phiện, trốnlậu thuế, làm hàng giả, sử dụng thuốc phiện trên địa bàn thành phố ngày càngnhiều Chi Sở Hải quan Nghệ An ở Vinh – Bến Thuỷ còn phối hợp kịp thời vớicác lực lợng chức năng, tham mu cho chính quyền thành phố nhanh chóng loại