Đóng góp của La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp với lịch sử - văn hóa dân tộc………… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đ
Trang 1Trêng §¹i häc Vinh
Trang 2Cùng với sự quan tâm của các thầy cô trong khoa Lịch sử, gia đình,
ng-ời thân, bạn bè đã động viên tôi rất nhiều trong qúa trình hoàn thành khóa luậnnày
Xin ghi nhận những đóng góp của quý thầy cô và các bạn.
Vinh, ngày 12 tháng 05 năm 2007
Tác giả
Nguyễn Thị Thu Hằng
Trang 3Mục lục
Phần 1 Mở đầu… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài1
Phần 2 Nội dung… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài.7
Chơng1 Khái quát về quê hơng, gia đình và thời đại của Nguyễn Thiếp 7
1.1 Quê hơng… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài.71.2 Gốc tích gia thế… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài 161.3 Thời đại… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài 22
Chơng 2 Đóng góp của La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp với lịch sử - văn hóa
dân tộc………… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài … đã giúp tôi trong việc thu thập tài .31 2.1 Vài nét về tiểu sử và sự nghiệp của La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp… đã giúp tôi trong việc thu thập tài.312.1.1 Con đờng học vấn… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài.312.1.2 Chặng đờng làm quan… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài 342.1.3 Thời gian ở ẩn… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài … đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài 362.2 Những đóng góp của La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp đối với lịch sử vàvăn hóa dân tộc… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài … đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài 44 2.2.1 Những đóng góp của La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp đối với lịch
sử… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài … đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài … đã giúp tôi trong việc thu thập tài … đã giúp tôi trong việc thu thập tài .442.2.2 Những đóng góp của La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp đối với văn
hóa dân tộc … đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài … đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài 52
Chơng 3 Những hoạt động tởng nhớ danh nhân La Sơn phu tử
Nguyễn Thiếp … đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài 77.3.1 Nhà thờ Nguyễn Thiếp… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài … đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài77 3.2 Mộ Nguyễn Thiếp… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài … đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài .803.3 Hoạt động thờ cúng… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài 82
Kết luận… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài 85
Tài liệu tham khảo… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài… đã giúp tôi trong việc thu thập tài.88
Trang 4Phần 1 Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài.
Dân tộc ta trải qua hàng ngàn năm dựng nớc và giữ nớc với những chiếncông rất hào hùng Đó là thành quả của lớp lớp cha ông đi trớc.Trong vô vànnhững thế hệ ấy nổi lên những nhân vật lịch sử, danh nhân văn hóa ảnh hởngsâu sắc đến từng chặng đờng lịch sử nhất định Tài năng và đức độ của mỗinhân vật lịch sử và danh nhân văn hóa đợc sử sách ghi nhận và ngợi ca Têntuổi của họ trở thành những tấm gơng mẫu mực trong sự nghiệp giáo dụctruyền thống dân tộc cho thế hệ trẻ
Để vinh danh những con ngời đã có cống hiến to lớn trong lịch sử dântộc, Đảng và Nhà nớc ta đã đầu t không nhỏ vào việc tìm hiểu những đóng gópcủa họ đối đất nớc, tôn tạo phần mộ, lập tợng đài, xây dựng nhà tởng niệm,
đền thờ, bảo tàng, tổ chức ngày kỷ niệm long trọng Đó cũng chính là biểu
hiện truyền thống “uống nớc nhớ nguồn” tốt đẹp của dân tộc ta.
Bên cạnh đó vẫn có một số những nhân vật lịch sử, danh nhân văn hoálúc sinh thời có nhiều đóng góp cho lịch sử dân tộc Thế nhng ngày hôm naylại cha đợc nhìn nhận, đánh giá một cách xứng tầm, có rất ít các đề tài nghiêncứu về họ Thậm chí tên tuổi họ đang dần bị quên lãng Một trong số đó chúngtôi muốn nhắc đến là La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp (1723-1804).Ông là ngờihọc rộng tài cao,thi đỗ Hơng giải năm 1743, làm quan dới thời vua Lê chúaTrịnh Nhng trớc cảnh đen bạc của nhân tình thế thái ông từ quan về ở ẩn trênnúi Thiên Nhẫn dù trong lòng vẫn canh cánh nỗi niềm trớc thời cuộc
Vốn là ngời có thực tài, khí khái và đức độ, uy tín của Nguyễn Thiếp nổitiếng trong giới nho sĩ Bắc Hà đơng thời Tiếng tăm của Nguyễn Thiếp đến taiNguyễn Huệ, Nguyễn Huệ đã ba lần sai ngời thân tín mang th và lễ vật lên núi
cầu cầu hiền và còn tìm cách gặp mặt Cuối cùng cảm phục trớc sự nghiệp cứu
nớc, cứu dân cao cả của Nguyễn Huệ, Nguyễn Thiếp đã đồng ý cộng tác vớichính quyền Quang Trung Chính ông đã quân s cho Quang Trung NguyễnHuệ nhiều ý kiến sắc sảo, về quân sự, chính trị, giáo dục, tìm đất đóng đô Dớithời Quang Trung, La Sơn phu tử là một nhà giáo lớn, một danh sĩ tài cao đứctrọng Đóng góp của Nguyễn Thiếp thực sự là một phần sự nghiệp của TâySơn
Trang 5Bên cạnh đó, Nguyễn Thiếp còn để lại cho kho tàng văn học dân tộcnhiều tác phẩm thơ văn có giá trị Trong đó ông đã ký thác tâm sự, nỗi niềmcủa mình về một giai đoạn lịch sử đầy biến động của dân tộc.
Với những đóng góp trên cho thấy La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp là mộtdanh nhân lịch sử văn hóa lỗi lạc của dân tộc ta ở thế kỷ XVIII Tên tuổi của
ông là niềm tự hào của những ngời con xứ Nghệ nói riêng và của dân tộc nóichung Thế nhng hiện nay những đóng góp của ông lại cha đợc nhiều ngời biết
đến Các hoạt động tởng nhớ đến ông chỉ mang tính địa phơng, nội bộ dòng
họ, cha xứng với một bậc danh nhân
Là một ngời con xứ Nghệ đồng thời là một sinh viên chuyên ngành lịch
sử văn hóa thực hiện đề tài này, tôi muốn bày tỏ lòng thành kính trớc nhữngcống hiến to lớn của ông Qua đó muốn mọi ngời hiểu rõ hơn về ông, một conngời có cá tính đặc biệt, mang cuộc đời sóng gió mà vẫn giữ trọn khí tiết củamột bậc danh nho
Đồng thời thông qua việc tìm hiểu quê hơng cuộc đời, sự nghiệp và t tởngcủa La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp sẽ giúp chúng ta hiểu hơn về lịch sử dân tộctrong giai đoạn đầy biến động, về một thế hệ nhà nho trởng thành trong thời
đại ấy cũng nh về những nét đẹp ở vùng đất nơi ông từng gắn bó
Với những lý do trên chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài “Góp phần tìm hiểu
danh nhân lịch sử văn hóa La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp” làm luận văn tốt
nghiệp của mình
Trang 62 Lịch sử vấn đề.
Có thể nói việc tìm hiểu về các danh nhân lịch sử văn hóa góp phần rấtthiết thực trong việc giáo dục cho thế hệ trẻ bề dày về truyền thống của dântộc Qua đó sẽ giúp cho hậu thế biết đợc rõ ràng hơn về những danh nhân lỗilạc Họ sống thời gian nào, có những đóng góp cụ thể ra sao cho đất nớc, dântộc Mảng đề tài tìm hiểu về danh nhân văn hóa đã đợc khai thác khá sâu rộng.Tuy nhiên có một số danh nhân vẫn cha đợc tìm hiểu một cách thấu đáo, xứngtầm với những cống hiến lớn lao của họ Trong quá trình thu thập và sutầm tài liệu chúng tôi thấy rằng vấn đề mà đề tài đặt ra ít nhiều đợc đề cậptrong một số công trình nghiên cứu Đó là tiền đề quan trọng góp phần phục
vụ cho đề tài nghiên cứu về danh nhân Nguyễn Thiếp của chúng tôi
Trong số các công trình nghiên cứu về Nguyễn Thiếp, đầu tiên phải kể
đến, đó là tác phẩm "La Sơn phu tử" của tác giả Hoàng Xuân Hãn (Nxb Khoahọc xã hội, Hà Nội, 2003) đó là một công trình lớn nghiên cứu khá đầy đủ, tỉ
mỉ, về thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Thiếp Đặc biệt tác giả đã tiếp cận
đ-ợc với nhiều nguồn sử liệu gốc có giá trị về tính xác thực, đồng thời tác giả đãdịch nhiều tác phẩm thơ văn từ chữ Hán Tuy nhiên cách bố cục và sắp xếpthời gian lại gây khó hiểu đối với lớp trẻ hiện nay Dù vậy đây cũng là côngtrình có giá trị nhất, là căn cứ cho nhiều đề tài sau này khi nghiên cứu vềNguyễn Thiếp
Cuốn "Thơ La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp" của tác giả Nguyễn Sỹ Cẩn(Nxb Nghệ An, 1998) đã đề cập chủ yếu đến sự nghiệp thơ ca Nguyễn Thiếp,qua đó bổ sung một số nguồn tài liệu mới đợc phát hiện.Với tác phẩm "ChuVăn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Thiếp ba bậc thầy của nền giáo dụcViệt Nam" của tác giả Trần Lê Sáng (Nxb Giáo dục, 1990) nêu lên những
đóng góp của Nguyễn Thiếp trên lĩnh vực giáo dục cùng những bổ sung về cáctruyền thuyết trong dân gian về Nguyễn Thiếp còn lu lại đến ngày nay Tácphẩm là sự tôn vinh một số nhà giáo xuất sắc trong lịch sử giáo dục Việt Namthời kỳ phong kiến
Tác giả Phạm Hồng Phong chủ biên cuốn "Lịch sử xã Nam Kim" NXBNghệ An(xuất bản 2003) đã viết về điều kiện địa lý tự nhiên, truyền thống lịch
sử văn hóa, đời sống của nhân dân xã Nam Kim, vùng đất Nguyễn Thiếp dànhphần lớn cuộc đời mình nơi đây, có thể nói nơi đây là quê hơng thứ hai gắn bó
Trang 7với Nguyễn Thiếp cho đến những năm tháng cuối đời và là nơi ông yên nghỉmuôn đời.
Bên cạnh các tác phẩm nêu trên thì việc tìm hiểu về danh nhân La Sơnphu tử Nguyễn Thiếp còn đợc đề cập trong một số công trình nghiên cứu khác,hay một số sách báo, tạp chí
Tuy vậy, cho đến nay vẫn cha có một công trình nghiên cứu nào đề cập
đến danh nhân La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp một cách đầy đủ, trọn vẹn, có hệthống Đây là một vấn đề khá phức tạp bởi nó liên quan đến nhiều cách hiểu
và đánh giá khác nhau Mặt khác khi tìm hiểu về vấn đề này lại gặp nhiều khókhăn về sự hạn chế của nguồn tài liệu Dù vậy các công trình trên là cơ sở hếtsức quan trọng cho chúng tôi tập hợp, tìm hiểu và hoàn thành đề tài nghiêncứu khoa học của mình
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tợng nghiên cứu
Đối tợng của đề tài là góp phần tìm hiểu về danh nhân lịch sử văn hóa
La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp Mục đích chính là nêu lên những đóng góp của
ông đối với lịch sử và nền văn hóa, giáo dục của dân tộc.Qua đó tìm hiểu vềhoạt động tởng nhớ ông tại quê hơng Kim Lộc - Can Lộc và Nam Kim - Nam
Đàn nơi ông đã sống phần lớn thời gian của cuộc đời và yên nghỉ vĩnh hằng
Trang 83.2 Phạm vi nghiên cứu
Với mục đích nêu trên của đề tài nghiên cứu, khóa luận trớc hết đề cậpmột cách khái quát về những vùng đất sinh quán, sinh sống của NguyễnThiếp Cùng với bối cảnh lịch sử đất nớc lúc bấy giờ là những nhân tố sau này
sẽ tác động trực tiếp tới con đờng sự nghiệp của ông
Trên cơ sở tìm hiểu về cuộc đời của Nguyễn Thiếp sẽ đi sâu tìm hiểunhững công hiến của ông đối với lịch sử đất nớc và nền văn hóa dân tộc Qua
đó làm nổi bật tài năng và đức hạnh của một danh nhân u tú
Trong phạm vi nghiên cứu nêu trên, chúng tôi có điều kiện thâm nhậpthực tế tìm hiểu về thực trạng của những hoạt động tởng nhớ đến danh nhân,qua đó thấy đợc tình hình bảo tồn những giá trị văn hóa ở làng xã Đó là mộttrong những mục đích mà đề tài cần đạt tới
4 Nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn t liệu
Để phục vụ nghiên cứu đề tài này chúng tôi đã su tầm tập hợp cácnguồn t liệu có liên quan đến La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp cùng với đền thờ,khu mộ của ông
Nguồn t liêu quan trọng phải kể đến đầu tiên là những tác phẩm có đềcập đến vấn đề nghiên cứu; các hồ sơ công nhận di tích của Sở Văn hóa Thôngtin các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh cùng một số bài viết trong các tờ tạp chí vănhóa tỉnh nhà, Báo địa phơng
Ngoài ra chúng tôi còn kết hợp với công tác đi thực tế dã, trực tiếp thamquan, ghi chép về đền thờ, khu mộ Nguyễn Thiếp, tham dự hoạt động thờcúng Đồng thời trong quá trình đó chúng tôi gặp gỡ tộc trởng của dòng họNguyễn ở Kim Lộc, tiếp cận gia phả, ghi chép những lời giới thiệu, lời kể của
cụ tộc trởng cũng chính là ngời quản lý đền thời Nguyễn Thiếp
Trang 94.2 Phơng pháp nghiên cứu
Nguồn t liệu viết khóa luận này có phần hạn chế và phức tạp nên việclựa chọn phơng pháp nghiên cứu là một vấn đề rất quan trọng Thực hiện đềtài này, quan triệt quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, T tởng Hồ Chí Minh
và quan điểm Macxit của Đảng ta trong lĩnh vực lịch sử văn hóa, chúng tôi đãlựa chọn phơng pháp xác minh phê phán t liệu lịch sử và phơng pháp điền dã
su tầm lịch sử địa phơng
Dựa vào nguồn tài liệu đã thu thập đợc, đặc biệt là các nguồn t liệu cóliên quan tới phạm vi đề tài, chúng tôi bổ sung thêm những hiểu biết của mìnhnhằm giải quyết những nội dung cụ thể của đề tài Nguồn t liệu mà chúng tôithu thập đợc là cơ sở để hoàn thành đề tài nghiên cứu này
5 Bố cục của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Nội dungcủa khóa luận này đợc trình bày trong 3 chơng
ơng 3 Những hoạt động trong lĩnh vực tởng nhớ danh nhân La Sơn
phu tử Nguyễn Thiếp
Trang 10Phần 2 Nội dung
Chơng 1 Khái quát về quê hơng, gia đình, thời đại
Nguyễn Thiếp.
1.1 Quê hơng.
1.1.1 Vùng đất sinh quán (Can Lộc - Hà Tĩnh)
1.1.1.1 Điều kiện tự nhiên của huyện Can Lộc
Can Lộc là một huyện thuộc địa phận tỉnh Hà Tĩnh có diện tích 373km2,năm từ 18,2 đến 18,3 vĩ độ Bắc, 105,37 đến 105,44 kinh độ Đông Phía Bắcgiáp huyện Nghi Xuân, phía Tây giáp huyện Đức Thọ, phía Tây Nam giáphuyện Hơng Khê, phía Đông Nam giáp huyện Thạch Hà, phía Đông giáp Biển
Đông
Đồng bằng Can Lộc có hai vùng rõ rệt: vùng thợng Can Lộc đợc phù saSông La, Sông Lam bồi tích, nay có hệ thống đê điều và các công trình thuỷlợi đảm bảo nguồn nớc cho cây trồng Vùng hạ Can Lộc đất cát pha thích hợpvới nhiều loại hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày "Khoai ích Hậu, gấu(gạo) Đồng Huề", câu ngạn ngữ này thể hiện rõ tính chất đất đai của hai vùng
và tập quán canh tác khác nhau
Tiếp cận với vùng đồng bằng là vùng bán sơn địa Trà Sơn - Hồng Lĩnh
đây là hai hệ thống núi chính Hệ thống núi Trà Sơn nằm trên 7 xã: Nga Lộc,Phú Lộc, Nhân Lộc, Thơng Lộc, Đồng Lộc, Mỹ Lộc, Sơn Lộc ngày nay Dángnúi ở đây thoai thoải, các ngọn đồi hình bát úp nên dân gian gọi là núi Trà.Núi Trà Sơn là vị trí khá hiểm yếu và cơ động trong kháng chiến chống xâm l-
ợc qua các thời kỳ lịch sử Hệ thống núi Hồng Lĩnh có quy mô đồ sộ, trùng
điệp nằm trên địa bàn 8 xã thuộc Can Lộc: Vợng Lộc, Tiến Lộc, Phục Lộc,Tùng Lộc, Hồng Lộc, Tân Lộc, An Lộc, Thịnh Lộc
Núi Can Lộc chia thành hai nhóm chính gồm cụm Hơng Tích và cụmTiên Am là nơi gắn với các truyền thuyết phật thoại với những di tích lịch sửvăn hóa nổi tiếng nh Chùa Hơng, Chùa Chân Tiên, các khe suối xuất phát từhai hệ thống núi lớn dồn nớc xuống sông, khiến cho giao thông đờng thủythuận tiện, dễ dàng
Ngoài đồng bằng, núi có thêm đờng bờ biển Ven biển ở đây thích hợpcho việc trồng cây phi lao, chăn nuôi gia súc có sừng, phát triển nghề nuôitrồng, đánh bắt hải sản Kiến tạo tự nhiên của huyện tạo ra khả năng phát triểnkinh tế nông - lâm - ng nghiệp, du lịch và mở rộng giao lu văn hóa
Trang 11Về khí hậu: thời tiết ở đây rất phức tạp, gió Tây Nam nóng thờng thổivào lúc lúa chiêm Xuân đang trổ, lũ tiểu mạn thờng xảy ra vào thời kỳ thuhoạch lúa mùa vụ Đông Xuân gây thiệt hại đáng kể cho mùa màng, nắng hạnkéo dài vào đầu mùa vụ, ma lũ gió bão vào cuối vụ làm cho sản xuất bấp bênh.
1.1.1.2 Dân c.
C dân ở đây đã có mặt trong lịch sử dân tộc ngay từ những ngày đầudựng nớc Qua khảo sát bớc đầu những công cụ đồ đá mới cách đây 4000 năm
đến 5000 năm tìm ở làng Thổ Sơn, núi Nghèn, Hồng Lĩnh đều có niên đại
t-ơng ứng với hiện vật đồ đá mới ở di chỉ Bàu Tró (Quảng Bình) Dân số toànhuyện năm 1930 là 59.000 ngời, tuyệt đại đa số là nông dân, sinh sống chủyếu bằng nghề làm ruộng Cho đến nay theo báo cáo của Tổng cục thống kê
Hà Tĩnh số dân Can Lộc là 175.996 ngời, phân bố không đều
Qua các thời kỳ lịch sử huyện Can Lộc mang nhiều tên gọi khác nhau
Xa Can Lộc thuộc huyện Hàm Hoan, quận Cửu Chân Về sau lần lợt đổi làPhù Lĩnh (217) huyện Việt Thờng (679) huyện Phi Lộc (1010), huyện ThiênLộc (1469) Đầu năm Tự Đức thứ 15 (1862) đổi thành huyện Can Lộc nh têngọi ngày nay
Nền kinh tế chính của Can Lộc chủ yếu là nông nghiệp trồng lúa, sau làkhoai lang kết hợp với chăn nuôi trâu bò phục vụ sức kéo cho trồng trọt Chănnuôi gà vịt cũng đang đợc đẩy mạnh, tiêu biểu là nghề ấp trứng vịt
Để đáp ứng cho nhu cầu sản xuất vừa tranh thủ thời gian nông nhàn, đa
số nông dân đều thành thạo các nghề thủ công khác nhau: đan lát, dệt chiếu,
đúc lỡi cày… đã giúp tôi trong việc thu thập tài
Với đờng ven biển dài, thoải, đáy biển có lớp bùn mỏng nên ở Can Lộc
có hai nghề đánh cá và nuôi trồng thủy sản nớc lợ, nớc ngọt Tuy không pháttriển mạnh nh các huyện khác trong tỉnh song nghề biển đã làm tăng thu nhậpcho số dân trong xã nh Thịnh Lộc
Can Lộc cũng là vùng nơi hội đủ những dòng họ lớn tiếng tăm: Họ Mai
ở làng Phù Lu Thợng (nay thuộc xã Hồng Lộc), họ Ngô ở Trảo Nha, họ Đặng
ở xã Tùng Lộc, họ Bùi ở xã Đậu Liêu, họ Nguyễn ở xã Kim Lộc… đã giúp tôi trong việc thu thập tài và một số
họ khác Mỗi dòng họ từ các nơi về đây sinh sống, hội tụ, đều mang theonhững tinh hoa văn hóa, những phong tục lễ nghi riêng Khi quần tụ trên mộtvùng đất cái riêng đó hòa đồng kết hợp tạo nên văn hóa Can Lộc ngày nay
1.1.1.3 Truyền thống văn hóa
Trang 12Nhân dân Can Lộc có sẵn bề dày truyền thông văn hóa Can Lộc là tiểuvùng văn hóa đậm sắc thái riêng của văn hóa xứ Nghệ Nơi đây lu dữ nhữnghuyền thoại, truyền thuyết, về các vị thần linh, các câu chuyện về các danhnhân văn hóa hay võ tớng đại tài.
Can Lộc có truyền thống lâu đời về học hành khoa cử, đã sản sinh ranhiều nhà khoa bảng, nhiều quan lại có t chất, tài năng, đóng góp lớn lao cho
sự nghiệp phát triển văn hóa dân tộc, xây dựng và bảo vệ đất nớc Vì vậy, thời
xa đây đợc xem là mảnh đất hiếu học của xứ Nghệ Trong chế độ khoa cử Hánhọc bắt đầu từ nhà Lý (1075) kết thúc dới nhà Nguyễn (1919) nớc ta có tổng
số 187 khoa thi hội, thi đình và lấy đỗ 2291 tiến sĩ Kể từ khoa thi thế kỷ thứXIII thời Trần đến 1919 thì Can Lộc có 42 ngời đỗ đại khoa Năm ất Hợi(1275) đời Trần Thánh Tông có Đào Tiêu đỗ trạng nguyên khai khoa Tiếp đó
đất Thiên Lộc có hai ông trạng họ Sử ở ấp Ngọc Sơn là Sử Hy Nhan (? - 1421)
đỗ trạng nguyên khoa Quý Mão (1363) và Sử Đức Hy (1363 – 1430 đỗ khoaTân Dậu (1381) Đỗ Thám Hoa đời Trần còn có Đặng Bá Tĩnh, Đặng Dung
Đến đời Lê, Thiên Lộc là đất học nổi tiếng không những ở xứ Nghệ màcòn cả Kinh Kỳ Ngời Thăng Long thờng có câu cửa miệng "Bút cấm chỉ, sĩThiên Lộc" (bút tốt bán ở Cấm Chỉ, học trò giỏi phải là học trò Thiên Lộc) đờiNguyễn, Thiên Lộc có "tứ hổ" là Lu Công Đạo, Mai Thế Chuẩn, Phan Quý,
Lê Hồng Hàn
Các nhà nho xa dốc lòng "nấu sử sôi kinh" là cốt để thi đỗ làm quan.Hầu hết các nhà khoa bảng ở Can Lộc từ tiến sĩ đến cử nhân đều ra làm quan.Các vị đại khoa và một số vị hơng khoa (hơng cống) đều giữ chức cao trongtriều đình: Phan Đình Tá ngời xã Phù Lu làm thừa chính xứ Nghệ An khoảng
1522 - 1527, làm đến lại bộ thợng th Dơng Trí Dục, Võ Toại, Mai Thế Quý,Trần Quang Hiển, Hoàng Dật là những ngời có công lao lớn trong sự nghiệpxây dựng giữ gìn nhà nớc phong kiến qua các triều đại
Bên cạnh đó nhân dân Can Lộc còn có truyền thống yêu nớc Qua cácthời kỳ dựng nớc và giữ nớc Can Lộc có nhiều danh thần, danh tớng Quá trình
đấu tranh lâu dài đã hun đúc lên lòng yêu nớc nồng nàn, tinh thần tơng thân,
t-ơng ái cho con ngời nơi đây Trong công cuộc bảo vệ đất nớc, sử sách ghi tênnhiều anh hùng hào kiệt đợc các triều đại phong kiến cho lập đền thờ, phòngsắc thần, dựng bia đá Tiêu biểu: cha con Sử Hy Nhan - Sử Đức Hy; cha con
Đặng Tất, Đặng Dung Tinh thần quật khởi có sẵn trong mọi ngời dân Can
Trang 13Lộc, nhiều nghĩa sĩ trong đám quần chúng bình dân đã tự chiêu mộ thủ hạphất cờ khởi nghĩa: Nguyễn Biên, Nguyễn Xí.
Những năm đầu thế kỷ XX là những năm sôi nổi của lịch sử đấu tranhcủa nhân dân Can Lộc, để lại những dấu ấn khó phai trong lịch sử Việt Nam.Trong phong trào Cần Vơng, Can Lộc là địa bàn luôn luôn sôi động Trong vụchống thuế ở Trung Kỳ, nổi lên một số tên tuổi xuất sắc: Trịnh Khắc Lập,Nguyễn Hàng Chi Trong phong trào Duy Tân theo đờng lối bạo động cóNguyễn Canh, Nguyễn Trạch tham gia sôi nổi Khi phong trào Đông Du đợcphát động đã thôi thúc nhiều thanh niên Can Lộc hăng hái lên đờng: NguyễnQuỳnh Lâm ở Nguyệt Ao theo Phan Bội Châu sang Nhật tiếp đó nhiều thanhniên khác tìm đờng sang Thái Lan học tập chiến đấu dới sự chỉ đạo của ĐặngThúc Hứa Từ 1925 trở đi ở Can Lộc xuất hiện những tổ chức cách mạng tiềnthân của Đảng Cộng Sản Trong phong trào Xô Viết đạt đỉnh cao là ở đỉnh Lựsau đó giành chính quyền sớm hơn ba ngày so với các địa phơng khác trêntoàn quốc (16/08/1945) Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Can Lộc nổitiếng với chiến thắng Ngã Ba Đồng Lộc Nhân dân Can Lộc tự hào về nhữngnăm tháng lịch sử truyền thống văn hóa của mình
Quê hơng Can Lộc với những giá trị tốt đẹp của một vùng đất hiếu học,giàu truyền thống,đời sống ngời dân lam lũ chất phác sẽ la khởi thuỷ hìnhthành nhân cách của mỗi danh nhân trong đó có Nguyễn Thiếp
1.1.2 Vùng đất sinh sống (Nam Kim - Nam Đàn - Nghệ An)
1.1.2.1 Điều kiện tự nhiên
Mặc dù sinh ra ở Can Lộc - Hà Tĩnh nhng cuộc đời của Nguyễn Thiếplại gắn bó bền chặt với mảnh đất Nam Kim - một xã nhỏ bé nằm khiêm tốnphía Nam, cuối huyện Nam Đàn
Nam Kim nằm gọn trong một vùng đất tơng đối hiểm trở, là một bộphận của mảnh đất Nam Đàn xa nay vốn nổi tiếng là vùng địa linh nhân kiệt
Về vị trí địa lí xã Nam Kim phía Bắc giáp xã Nam Phúc, Khánh Sơn(Nam Đàn); phía Tây có dãy núi Thiên Nhẫn ngăn cách với huyện Hơng Sơn(Hà Tĩnh), huyện Thanh Chơng (Nghệ An); phía Nam giáp xã Đức Trờng,
Đức Tân; phía Đông giáp xã Đức Châu (Đức Thọ) và xã Nam Cờng (Nam
Đàn)
Trang 14Xa kia Nam Kim vốn nổi tiếng bởi các địa danh núi Thiên Nhẫn, suốiNgũ Hoa, Vực Nàng, mỗi địa danh đều ẩn chứa trong mình biết bao điều kỳbí.
Dãy núi Thiên Nhẫn xuất phát từ huyện Tơng Dơng chạy qua Anh Sơn,
Đô Lơng, Thanh Chơng vòng xuống xã Nam Kim và dừng lại ở Tuần Tam Sa
bờ tả ngạn Sông La Núi Thiên Nhẫn nằm trên địa phận xã Nam Kim có độcao 287m so với mực nớc biển còn gọi là Động Chủ (đỉnh núi cao nhất) ThiênNhẫn xa là nơi rừng sâu nớc hiểm vừa có nhiều gỗ quý lại có nhiều động vậthoang dã nh hổ, voi, lợn rừng… đã giúp tôi trong việc thu thập tài là vị trí yếu địa chiến lợc quân sự của vùngNghệ Tĩnh cũng là là nơi danh lam thắng cảnh đẹp trong vùng Rung động tr-
ớc vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên, tiến sĩ Bùi Dơng Lịch đã có bài vịnh:
"Đất giáp ba sông hiểmNúi hình vạn ngựa phiChơng, Hơng chia hai ngã
Lam phố hợp ba chiHoan Đức khoe trấn hiểmTrà cao giữ biên thùyBình Ngô ngày thửa nọPhế giặc hng quốc ky" {23,5]
Suối Ngũ Hoa bắt nguồn từ năm ngọn khe thuộc dãy núi Thiên Nhẫngồm khe Su, khe Cạn, khe Lau, khe Nu, khe Truông Thành Nguồn nớc nămkhe đổ về hội tụ ở Vực Nàng Đầu nguồn của suối Ngũ Hoa uốn lợn vòngquanh địa phận Nam Kim theo hớng Tây Đông tiếp tục chảy qua xã KhánhSơn, Nam Phúc, Nam Cờng (Nam Đàn) xuống Đức Châu, Đức Tùng (ĐứcThọ) đổ ra Sông Lam
Trớc kia hai bên bờ Vực Nàng cây cối rậm rạp, là môi trờng sinh sốngthuận lợi của các loại trăn, rắn, kì đà, cá… đã giúp tôi trong việc thu thập tài ớc ở đây bốn mùa trong xanh có nnơi sâu tới 4 - 5m Truyền thuyết xa kể lại nơi đây có Diêm Vơng Phủ Thủy ởchẳng ai dám đến đây đánh bắt cá, do đó có những con nheo, con chép sốnglâu to nặng đến vài chục cân Qua một quá trình lâu dài con ngời đến sinhsống đã biến núi rừng thành đồi trọc, nhiều cơn lũ bồi đắp không còn VựcNàng nh xa nữa
Khí hậu thời tiết Nam Kim cũng giống Can Lộc mang đặc thù kiểu khíhậu Bắc Trung Bộ với mùa hè nắng nóng, gió Tây Nam (gió Lào) thổi mạnh,
Trang 15nhiệt độ có khi lên cao đến 39 - 400C Mùa Đông chịu ảnh hởng của gió mùa
Đông Bắc nhiệt độ có khi hạ xuống 9 - 100C Nói về cái khắc nghiệt của khíhậu xứ Nghệ, Hoàng Giáp Bùi Huy Bích (1744 - 1818) đã viết bài thơ Tứ tuyệt
đặc sắc:
Hạ lại phong tự hóaThu thứ vũ nh maThập nguyệt giang hoàn lãoTrùng cửu cúc vị hoa
Dịch thơ:
Hạ đến gió Lào nh lửa đốtThu qua ma phùn lấm tấm saTháng mời sông còn tràn nớc lũMồng chín tháng chín cúc cha nở hoa [23, 6]
1.1.2.2 Dân c
C dân Nam Kim có từ bao giờ? Từ xa đến nay cha có nhà khảo cổ haydân tộc học nào đến đây nghiên cứu Tuy nhiên các nguồn tài liệu lịch sử địaphơng đều thống nhất ghi: năm 1041 Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) đã cử contrai thứ tám là Lý Nhật Quang vào trấn thủ đất Hoan Châu (Nghệ An) lúc bấygiờ Thiên Nhẫn còn là vùng núi hoang vu cha có dân c khai khẩn Để khắcphục thiên tai, phát triển kinh tế nông nghiệp, Lý Nhật Quang chủ trơng chiêutập dân ở đây từ vùng ngoài Quỳnh Lu, Diễn Châu (Nghệ An) sau núi HồngLĩnh, Nghi Xuân (Hà Tĩnh) ra Họ đến đây đắp đê hai bên sông Lam và khaiphá ruộng lập nghiệp tại tổng Nam Hoa Năm 1910 vua Thành Thái hoạch
định lại địa giới hành chính cắt tổng Nam Hoa về thuộc huyện Nam Đàn, đặttên là xã Nam Kim, huyện Nam Đàn, phủ Anh Sơn, tỉnh Nghệ An
Trớc năm 1945 ở Nam Kim có 14 họ, đông nhất là họ Nguyễn, hiện nay
có 3 họ con cháu đông nhất: họ Võ, họ Phạm, họ Đặng Dân số Nam Kimtheo thống kê 01/04/1999 có 9287 nhân khẩu
Nam Kim xa chia thành hai giáp: giáp Đông và giáp Đoài Mỗi giáp cómột đền thờ riêng nhng cùng thờ cúng một vị thành hoàng: Cao Sơn, Cao CátThợng, Thợng Đẳng thần uy linh vơng Lý Nhật Quang, ngời có công khai lậpvùng quê này Ngoài ra ở đây còn có các tổ chức tập hợp ngời theo từng lĩnhvực hội văn, hội võ, hội xã binh
Trang 16Về sản xuất: từ lâu đời, ngời dân nơi đây chủ yếu sống bằng nghề nông.Ngời dân Nam Kim bản chất cần cù, chịu khó và năng động trong lao độngsản xuất, biết khắc phục những khó khăn của điều kiện tự nhiên để ổn địnhsản xuất, nâng cao đời sống, ngoài sản xuất lúa mỗi năm hai vụ c dân còntrồng thêm nhiều loại hoa màu: khoai lang, sắn nứa dong, khoai từ, khoai vạc,ngô, lạc, đậu Ngời nông dân ở đây cũng rất chú trọng chăn nuôi gia súc chủyếu để khai thác sức kéo, lấy phân bón cho cây trồng Ngoài ra còn có nhiềunghề phụ: kéo sợi, dệt vải góp phần tạo nên truyền thống hát phờng vải:
Đêm thanh vắng vải tơ xớng hátTiếng xôn xao phe nữ, phe nam [23,11]
Ngoài ra còn có nghề rèn, nghề mộc khá phổ biến Ngời thợ mộc NamKim nổi tiếng tài hoa không chỉ làm nên những ngôi nhà đẹp cho dân trong xã
mà còn là tác giả của các loại nhà tứ trụ bằng lim ở các xã lân cận Ngoài ra
có nhiều nhóm thợ nề khéo tay xây đắp những đền đài lăng miếu đẹp Để cảithiện cuộc sống một số ngời làm thêm nghề đào đá ong, đốt than, cắt củi… đã giúp tôi trong việc thu thập tàiBản chất cần cù, chịu khó của con ngời Nam Kim vẫn đợc giữ gìn, phát huycho đến tận ngày nay
1.1.2.3 Truyền thống văn hóa giáo dục
Nghệ An xa nay vốn nổi tiếng là đất hiếu học trong đó có ngời dân tổngNam Hoa, đất Hoa Thợng (Trung Cần, Dơng Liễu, Hoành Sơn) đã có nhiềungời thi đỗ đạt cao Thời Hán học, xã Nam Kim cũng nằm trong mảnh đấttruyền thống ấy, tuy điều kiện giao thông không thuận lợi nhng có nhiều ngờithi đậu cử nhân tú tài Trong gia phả các dòng họ có ghi dới triều vua LêThánh Tông (Hồng Đức) xã có 10 vị tham gia học trờng Quốc Tử Giám thi
đậu, có ngời làm đến bậc quan Đại thần trong triều nh Binh Bộ Thợng Thkiêm hành khiểm Nguyễn Tớng Công, tri phủ Thiên Vĩnh Nam Các vị trên đã
đợc ghi vào sử vàng quê nhà hiếu học làm vẻ vang cho truyền thống quê hơng
Nam Kim xa rất coi trọng việc giáo dục cho thế hệ trẻ, có nhiều nhàNho dạy học hành chục năm với những tên gọi giản dị dễ nhớ : cụ học Hoanh,học Lợi, học Thuần.Nghề dạy học xa đợc xã hội coi là nghề cao quý thanhbạch đợc mọi ngời tôn kính "Tôn s trọng đạo" Nhân dân Nam Kim xa dù đờisống có nhiều khó khăn nhng nhiều gia đình vẫn cố gắng cho con đi học đểbiết "Đạo làm ngời" vì "Nhân bất học, bất tri lý" Đến thời nhà Nguyễn còn có
Trang 17một số cụ đi thi hơng đậu cử nhân: cụ Đặng Uẩn - niên khóa 1866, đậu tú tài
có Đặng Nh Mai (1846), cụ Trần Văn Vinh… đã giúp tôi trong việc thu thập tài
Nam Kim vốn là đất giàu về sinh hoạt văn hóa văn nghệ dân gian nh víphờng vải, phờng bát ân, kể chuyện vè và phờng trống kèn, phờng hát tuồng.Một số ngời dân đã bỏ tiền mua nhạc cụ, trang phục, phông màn mời thầy vềdạy tuồng cho những ngời có năng khiếu ở địa phơng Cứ tối đến khi nghetiếng trống nối lên báo hiệu giờ tập đã đến nhân dân tập trung đông đảo vừavui chơi, vừa biểu diễn các vở tuồng Kim Trọng Thúy Kiều, Lu Bình Dơng Lễ,Tống Trân Cúc Hoa, Trng Trắc, Trng Nhị… đã giúp tôi trong việc thu thập tài qua đó giúp cho con ngời hiểu đ-
ợc tình yêu thủy chung đôi lứa, tình mẹ chồng nàng dâu, đạo lý làm ngời, lòngyêu nớc đồng thời xua tan mệt nhọc sau những giờ phút lao động, tạo khôngkhí vui vẻ phấn chấn để ngày mai lại tiếp tục sản xuất
Nh vậy ta thấy Nam Kim mang vẻ đẹp của một vùng đất có thiên nhiên
kỳ vĩ hoang sơ, con ngời gắn bó với nhau bằng nếp sinh hoạt văn hoá đơn sơ,bình dị Qua đó ta phần nào lý giải đợc vì sao Nguyễn Thiếp đã chọn mảnh đấtnày làm nơi ẩn c lâu dài và sống thanh thản cho đến cuối đời
1 2 Gốc tích gia thế
1.2.1 Tên gọi
La Sơn phu tử họ Nguyễn, húy Minh, tự Quang Thiếp Nhng đến đờichúa Trịnh Doanh chữ Quang là quốc húy cho nên lúc đi thi phải bỏ chữ đệm(chữ lót) ấy và lấy tên Nguyễn Thiếp
Sau đó lại lấy một tên tự khác là Khải Xuyên tên gọi này đợc NguyễnThiếp tự xng trong các th trả lời cho Quang Trung đời Nguyễn - Tây Sơn
Nguyễn Thiếp có nhiều hiệu (hiệu: là một lối xng hô tự mình đặt hoặcngời khác tự đặt tặng) có đến 10 hiệu khác nhau
Sau khi từ quan về ở ẩn gần núi Lạp Phong, ông lấy hiệu Lạp Phong c
sĩ Am ông trú đặt trên núi Bùi Phong, vì vậy Nguyễn Thiếp có hiệu là BùiPhong c sĩ
Sinh thời Nguyễn Thiếp từng bị bệnh cuồng (tức là bệnh điên) nên khi
từ quan về ở ẩn Ông tự gọi mình là Cuồng ẩn hay Điên ẩn Đó là cách xng hôkhiêm tốn để dấu đi thân phận thật của mình
Am Nguyễn Thiếp làm trên núi đợc tên là Hạnh Am cho nên hiệu củaNguyễn Thiếp còn có tên Hạnh Am Tập thi văn của Nguyễn Thiếp đợc gọi
"Hạnh Am thi cảo" và ngời ta gọi ông là Hạnh Am tiên sinh
Trang 18Trên đây là những hiệu mà Nguyễn Thiếp tự đặt Ngoài ra ngời đời vìlòng kính trọng nên tặng Nguyễn Thiếp nhiều danh hiệu khác nh Hầu nghĩa làquan; hoặc Tiên sinh nghĩa là thầy, Phu tử: bậc hiền triết.
Núi Nguyễn Thiếp ở ẩn bên cạnh thành Lục Niên của Lê Lợi đắp đểchống quân Minh Vì vậy ngời ta thờng gọi ông là Lục Niên tiên sinh, gọi tắt
là Hầu Lục Niên
Đến khi tiếng tăm Nguyễn Thiếp đã nỗi khắp thiên hạ thì ngời ta lạitặng hiệu La Giang Phu tử (La Giang là tên huyện của quê Nguyễn Thiếp đờichúa Trịnh Giang) Khi Nguyễn Huệ viết th mời Nguyễn Thiếp ra giúp mìnhgọi là La Sơn Phu tử (La Sơn là tên quê quán huyện La Sơn) Nguyễn Huệchính thức tặng Nguyễn Thiếp hiệu La Sơn tiên sinh Ngoài ra còn có nhiềungời lại lấy tên làng ông ở mà tặng hiệu Nguyệt Ao tiên sinh Dù với tên gọinào cũng đều thể hiện sự tôn kính ngỡng mộ của ngời đơng thời đối với mộtdanh nhân lỗi lạc nh ông
1.2.2 Quê hơng
Xã Nguyệt Ao ở giữa một vùng đồng bằng, thuộc triền Sông Lam cách
về phơng Nam chừng 10km Là một vùng đất phù sa phì nhiêu, màu mỡ dân ctập trung đông đúc
Đứng ở làng trông xa bốn phơng đều có núi bao bọc Gần nhất là núiNhạc Sạc, ở phía Đông Nam cách làng khoảng 1km Nhạc Sạc là con phợngcon Đứng xa từ phía Bắc trông tới thấy núi hình hai cánh chim đang bay Vìvậy mà đặt tên là núi Phợng Nhng núi thấp, chỉ cao chừng 70m Phợng Hoàngnày chỉ là phợng con, núi Nhạc Sạc tiêu biểu cho làng Nguyễn Thiếp
Phía Đông Bắc có núi Hồng Lĩnh, cách đó chừng 6km Đây không chỉ
là một dãy núi cao mà còn tiêu biểu cho cả vùng Hoan Châu Trên núi cónhiều danh thắng, cũng nh các tao nhân mặc khách, Nguyễn Thiếp nhiều lầnlên thăm núi này
Xa về phía Bắc là ngọn Nghĩa Liệt mà Nguyễn Thiếp gọi là Liệt Sơn.Núi này ở Bắc ngạn Sông Lam (còn gọi Sông Rum nên cũng có tên là rú Rum)hay là Lam Thành Sơn Vì trên núi có thành Quân Minh đắp Núi không caolắm, ở cánh làng chừng 12km Trông lên thấy 1 dãy xinh xinh nh một con vậtdài, đầu cao, đuôi nhọn Núi Liệt Sơn có nhiều duyện nợ với Nguyễn Thiếp
Nhng ngọn núi có duyên nợ gắn bó với Nguyễn Thiếp hơn hết là dãyThiên Nhẫn ở xế về phía Tây Bắc, cách xã Nguyệt Ao 20km Đứng ở làng
Trang 19Nguyễn Thiếp trông lên, ta còn thấy nhấp nhô những đỉnh đầu tròn, màu vàngbuổi sáng, khi ánh mặt trời soi thẳng tới, màu tím lục bên chiều khi mặt trờidần khuất sau dãy núi Giăng Màn Núi Giăng Màn còn có tên Khai Trờng chiangăn đất Hoan Châu và Lào Núi cao, án sau dẫy núi Thiên Nhẫn, chạy dọctheo chân trời từ Nam đến Bắc Lúc nào sắc cũng xanh, nh 1 bức màn xanh, tr-
ơng ra để làm nổi màu vàng hay tím của Thiên Nhẫn Sau khi Nguyễn Thiếp
từ quan về ở ẩn ở núi Thiên Nhẫn trong hơn 40 năm, biết bao phen cụ đã trông
về góc trời Nam, nhìn mây vàng trên núi Nhạc Sạc mà nhớ mẹ già làng cũ
Gần làng Nguyễn Thiếp cũng có những dãy núi rừng, cây cối um tùm
Đó là Trà Sơn và Bột Sơn Lớp trong lớp ngoài nh bức bình phong án ngự phíaTây Nam Bột Sơn thấp ở trớc Trà Sơn cao ở sau, Trà Sơn có đỉnh bằng ngangtrông nh hình chữ nhất Theo các nhà phong thủy thì các núi Phợng, núi Hồng,núi Trà, núi Bột đều là những yếu tố thiêng liêng làm cho nhiều nhân vật trongcác làng ở đây nh Vĩnh Gia, Trờng Lu, Nguyệt Ao đều rất thịnh
Thời thơ ấu đến niên thiếu của La Sơn phu tử đã đợc mục kính biết bao
sự hiểm phát trên chính mảnh đất quê mình
Trong họ, chú là Nguyễn Hành đậu tiến sĩ (1733) Bên hai làng cạnhtrong khoảng 5 năm trúng hai vị thám hoa Phan Kinh ở Vĩnh Gia, đậu nămQuý Hợi (1743), Nguyễn Huy Oanh ở Trờng Lu đậu khoa Mậu Thìn (1748).Hai ông đều đình nguyên cả
Làng bên cạnh có Nguyễn Huy Oách năm năm sau (1748) cũng đậu
đình nguyên thám hoa Em ông là Nguyễn Huy Quýnh năm 1772 đậu tiến sĩ.Con ông là Nguyễn Huy Tự đậu tiến triều
Họ Nguyễn Huy đậu đạt rất nhiều, cha con anh em làm quan đồngtriều Thiên hạ ai cũng cho là một họ thịnh Mẹ La Sơn phu tử là con gái họNguyễn Huy
Hai huyện ở kề tổng là huyện Thiên Lộc (1862 đổi ra Can Lộc) vàhuyện Nghi Xuân cũng có nhiều cự tộc đơng hồi phát khoa cử
ở Nghi Xuân họ Nguyễn Tiên Điền đứng vào bậc nhất trong nớc.Nguyễn Nghiễm đậu hoàng giáp khoa Tân Hợi (1731) làm đến chức tả tớng(ngời cầm tất cả quyền chính), tớc quận công Anh là Nguyễn Huệ đậu đếntiến sĩ khoa Quý Sửu (1733) con là Nguyễn Khản đậu tiến sĩ khoa Canh Thìn(1760) làm quan đồng triều với cha và sau cũng vào hàng tả tớng, tớc quận
Trang 20công Nguyễn Nghiễm là bạn học ông nghè Nguyễn Hành và cũng là thầy học
La Sơn phu tử, còn Nguyễn Khản với La Sơn phu tử lại là anh em rể
Họ Phan Huy ở huyện Thiên Lộc có Phan Cẩn đậu tiến sĩ năm Cảnh
H-ng thứ 15 (1754) sinh Phan Huy ích đậu tiến sĩ khoa Cảnh HH-ng thứ 36 (1775)
và Phan Huy Ôn đậu tiến sĩ năm Cảnh Hng thứ 40 (1779) Ba cha con anh emlàm quan đồng triều
ở huyện La Sơn bấy giờ về tổng Yên Việt (Việt Yên bây giờ) cũngnhiều ngời đậu đại khoa, nh Phan Nh Khuê đậu tiến sĩ khoa Quý Sửu (1733)Phan Khiêm Thụ tiến sĩ khoa Đinh Sửu (1757) Cuối Lê có Bùi Dơng Lịchhoàng giáp khoa Chiêu Thống định vị (1787) và Phan Bảo Định cũng tiến sĩnăm ấy Các vị kể trên sinh đồng thời với La Sơn phu tử, đều có liên quan ítnhiều đến ông
ở huyện Quỳnh Lu họ Hồ lại là một họ nhiều đời hiểu đạt: Từ thời Trần
đã có Hồ Tông Thốc nỗi tiếng cự nho Đời Lê có Hồ Sĩ Dơng, Hồ Phi Tích,
Hồ Tần đều đậu tiến sĩ Hồ Sĩ Đống đậu hoàng giáp khoa Nhâm Thìn (1772)
ở huyện Châu Phúc (Nghi Lộc bây giờ) có Phạm Nguyễn Du đậuhoàng giáp khoa Kỷ Hợi (1779) và Nguyễn Khuê đậu tiến sĩ khoa cuối cùng
Đinh Vị (1789) Trong khi La Sơn phu tử bị chúa Trịnh Sâm mời tới ThăngLong, các vị này đều có thơ tặng đáp
Về phía Nam ở phủ Thạch Hà, Trần Danh Tố bạn học với chú phu tử làHiển Phát, sau đậu tiến sĩ khoa Bính Dần (1746) và Ngô Phúc Lâm đậu tiến sĩkhoa Bính Tuất (1766) là bạn La Sơn phu tử
Ngoài các nhà đại khoa, trong hạt Hoan Châu còn nhiều danh nho khác,tuy không đậu thám hoa tiến sĩ nhng bấy giờ cũng rất có danh vọng ở trongchâu quận nh Hoàng Dật ngời làng Bình Lộ, huyện La Sơn dòng dõi HoàngTrừng hoàng giáp đời Cảnh Thống kỷ vị (1499) Ông đậu hơng cống (1699)sau vào ẩn ở Bào Khê gần làng La Sơn phu tử Ông nỗi tiếng giỏi thiên văn,
địa lý, nghề thuốc, nghề bói La Sơn phu tử chịu ảnh hởng của ông rất sâu vàsau này gần nh sống lại đời ông
Ngoài ra còn có các nhân vật nh Lê Hữu Trác hiệu Hải Thợng Lãn Ôngngời Hải Dơng đậu hơng cống vào ẩn tại núi ở huyện Hơng Sơn Bùi Bật Trựcngời huyện La Sơn, đậu hơng cống, sau vì đánh Tây Sơn mà tử tiết
1.2.3 Gia thế
Trang 21Họ Nguyễn ở Mật Thôn trong suốt ba trăm năm ở triều Lê đã có thể liệtvào hàng cự tộc trong xứ Nhng họ ấy nguyên không ở làng này mà ở làng C-
ơng Gián, thuộc huyện Nghi Xuân, đến đời vua Lê Thánh Tông, họ Nguyễn
có một ngời theo nghề võ Vì lập công trong cuộc đánh Chiêm Thành(1472)nên ngời ấy đợc phong tớc Sau đó, vua sai đi bắt voi trắng trong núi Trà Sơn.Vì vậy, ông có dịp qua làng Mật Thôn và trú binh ở đó Ông chọn con gái họ
Võ sở tại làm hầu Bà sinh đợc một con trai và cùng con ở lại Mật Thôn Dovậy mới có chi họ Nguyễn ở đó Gia phả họ Nguyễn chép lại rằng ông võ tớng
ấy là thuỷ tổ Sau khi mất ông đợc phong tớc quận công và ban huy hiệu Luquận công
Tại làng Mật Thôn, họ Nguyễn phát đạt nhanh chóng Cháu nội Luquận công là Bật Lãng đậu hoàng giáp ở triều Lê, khi Lê chống Mạc, đóng đô
ở Thanh Hoá.Từ đời Bật Lãng về sau, họ Nguyễn trở thành một họ vừa cótruyền thống văn học, đồng thời là một dòng họ giàu có Nhiều ngời trong họthi đậu tam trờng, tứ trờng hoặc nạp thóc vào công khố để lấy phẩm hàm
Nguyễn Thiếp sinh ngày 25 tháng 8 năm Quý Mão (tức năm 1728) tạilàng Mật, xã Nguyệt Ao, tổng Lai Thạch, huyện La Sơn, xứ Nghệ An (phủ
Đức Thọ tỉnh Hà Tĩnh) Đến đời Khải Định làng này lại đổi thuộc huyện CanLộc (nay là làng Mật Thôn,xã Kim Lộc,huyện Can Lộc)
Thân phụ Nguyễn Thiếp là cụ Quản Lĩnh Nguyễn Quang Trạch Thânmẫu ông là con gái của cụ Thám hoa Nguyễn Huy Oánh, ngời cùng xã, ở làngTrờng Lu Lúc bấy giờ, Nguyễn Huy là một dòng họ rất lớn, nổi tiếng khắpvùng về lĩnh vực văn học Chính vì vậy, mẹ chính là ngời đầu tiên và cũng làngời trong suốt cuộc đời đã có ảnh hởng sâu đậm đến việc làm nảy nở và bồi
đắp thêm vốn văn hoá cho tâm hồn Nguyễn Thiếp
Gia phả để lại cho thấy, gia đình Nguyễn Thiếp vốn có truyền thốnghọc tập Ông nội Nguyễn Bật Xuân rất ham học, chú ruột Nguyễn Hành đỗTiến sĩ Nguyễn Hành sinh ngày 24 tháng 01 năm Chính Hòa thứ 21 (1700)hiệu Nguyệt Khê, đỗ tiến sĩ năm 1733 làm quan đến chức Hàn Lâm, ĐôngCác hiệu th Tuy nhiên ông là một ngời chỉ biết lấy sách làm thú vui, khôngtheo uy quyền cho nên dù làm quan nhng vẫn không khá giả, thậm chí còn
đem của nhà ra ăn Có lẽ đức tính này đã ảnh hởng đến Nguyễn Thiếp saunày Năm 1740 dới thời chúa Trịnh Doanh, Nguyễn Hành đợc cử làm Hiến sát
sứ ở Thái Nguyên Bây giờ chú 42 tuổi còn Nguyễn Thiếp 19 tuổi
Trang 22Nguyễn Thiếp lên Thái Nguyên theo chú học và làm bạn với em conchú là Kiều Dơng Nguyễn Hành làm quan chánh chức nhng công việc nhànnhã, suốt ngày làm bạn với sách, với thơ chẳng khác gì thời còn làm quan trớc
đây cho nên có nhiều thời gian để chăm chút việc học của con và cháu
Trong gia phả chép về Nguyễn Thiếp "ông thiên t sáng suốt học rộnghiểu sâu" Thời gian ở Thái Nguyên Nguyễn Thiếp đợc chú Nguyễn Hành dạy
dỗ chu đáo nhất
Ông ngoại, ông chú ngoại (Nguyễn Huy Quýnh), cậu ruột (NguyễnHuy Tự) đều học giỏi nổi tiếng và đỗ đạt cao Gia đình nề nếp với nhiều ng ời
đỗ đạt đã có ảnh hởng lớn đến t chất cũng nh phẩm cách con ngời NguyễnThiếp
1.3 Thời đại
1.3.1 Sự khủng hoảng của chế độ phong kiến Việt Nam
Đầu thế kỷ XVI, chế độ phong kiến Việt Nam từng bớc lâm vào tìnhtrạng khủng hoảng nghiêm trọng Sau khi vua Lê Túc Tông qua đời, nội bộtriều Lê lục đục, rối ren bởi sự tranh giành quyền lực diễn ra gay gắt, quyếtliệt Cha bao giờ chính quyền phong kiến Việt Nam chỉ trong một thời gianngắn đã đa lên rồi lại nhanh chóng hạ bệ đến mấy ông vua Nhà Lê suy sụpdần tạo điều kiện cho nhà Mạc tiếm quyền, lộng hành Năm 1527, Mạc ĐăngDung cớp ngôi nhà Lê, dựng lên nhà Mạc Sự lên ngôi ấy mang tính chất ăn c-
ớp nên không nhận đợc sự ủng hộ của đông đảo các tấng lớp nhân dân Kể từ
đó đất nớc liên tục bị chấn động dữ dội bởi những cuộc nội chiến ác liệt triềnmiên Cục diện Năm Bắc triều cha chấm dứt thì cục diện Đàng Ngoài - ĐàngTrong lại nổi lên Không khí chết chóc, thê lơng bao trùm khắp cõi
Năm 1592, sau nhiều cuộc giao tranh quyết liệt và dai dẳng, Nam Triều
đã đánh bại đợc Bắc Triều giành quyền thống trị đới với hầu hết các địa phơngtrong cả nớc lúc bấy giờ Sử cũ gọi thời kỳ này là thời “Lê trung hng” Thế nh-
ng từ đây quyền lực của vua Lê dần rơi vào tay của Nguyễn Kim, rồi chẳngbao lâu sau lại chuyển sang tay con rể của ông là Trịnh Kiểm Hơn hai thế kỷliền nhà Trịnh làm ma làm gió trên vũ đài chính trị, danh nghĩa là vua Lê màthực quyền là Chúa Trịnh Chính sự rối bời lên đến đỉnh điểm
Các chúa Trịnh không chỉ thay nhau nắm giữ quyền lực mà trong thực
tế còn nắm giữ cả tính mạng vua Lê Chúa Trịnh mặc sức tung hoành, tự ý đ angời này lên, đặt ngời kia xuống Các vua Lê thời kỳ này trở thành nạn nhân
Trang 23của nhiều vụ sát hại: Lê Anh Tông (1566 – 1573), Lê Kính Tông (1599 –1619), lê Đế Duy Phơng (1729 – 1732) Điều đáng nói là cuộc thanh trừng
đẫm máu không chỉ có xảy ra từ phía Phủ Chúa đối với cung Vua mà còn diễn
ra quyết liệt ngay trong chính nội bộ Phủ Chúa Những cảnh “nồi da nấuthịt”diễn ra liên miên khiến triều đình không lúc nào yên ổn Khi mà đạo làmvua, đạo làm chúa bị rẻ rúng thì hẳn nhiên đạo làm quan cũng chẳng thể đợccoi trọng Trong triều đình liên tục diễn ra cảnh chia bè kết cánh, vu oangiáng hoạ và hãm hại lẫn nhau Trên mục ruỗng dẫn đến dới bại hoại, cơng th-ờng đạo lý bị xói mòn, nhờng chỗ cho những tham vọng nắm giữ quyền lựcngày càng lấn tới
Thế kỷ XVIII chứng kiến sự trợt dốc của giai cấp phong kiến thống trị
Đàng Ngoài Triều đình lao nhanh xuống vực thẳm của lối sống ăn chơi sa
đoạ chúa Trịnh bóc lột của nhân dân không biết bao nhiêu tiền của, sức lực đểxây dựng phủ chúa, chùa chiền cùng nhiều công trình kiến trúc đồ sộ Để có
đủ tiền cung đốn cho những cuộc vui chơi vô độ và xây cất tốn kém nói trên,các chúa Trịnh đã dùng hình thức đánh thuế rất nặng Đời sống của nhân dânvì thế ngày càng trở nên cơ cực Thực tế bi đát nhất của Đàng Ngoài trong thế
kỷ XVIII là hàng vạn nông dân bị tớc đoạt ruộng đất, bị loại thải khỏi quátrình sản xuất, trở thành lớp ngời mà theo cách gọi của sử cũ là “dân vongmạng” (dân phải bỏ quê cha đất tổ mà trốn đi nơi khác) Nông dân bị đẩy vàocảnh bơ vơ đói rách không nơi nơng tựa trở thành cực đối kháng mâu thuẫngay gắt với Chúa Trịnh
Sự thoái hoá của chế độ phong kiến lúc bấy giờ càng trở nên rõ nét hơnkhi tình trạng “mua quan bán tớc” diễn ra hết sức công khai, trắng trợn Quantrờng coi nhẹ kỷ cơng, tình trạng chạy chọt, gửi gắm diễn ra nhan nhản khắpnơi, ngời đậu đạt phần nhiều không có thực học Chúa Trịnh còn cho phép thutiền thông kinh làm cho tình trạng mua bán học hàm học vị ngày càng tràn lankhông cần che đậy Những kẻ leo lên làm quan đợc thể tìm mọi cách vơ vétlàm giàu
Quan trên vô đạo thì bọn cờng hào ác bá trong khắp mọi xã thôn lạicàng mặc sức tung hoành Cha bao giờ thân phận của ngời dân thấp cổ béhọng bị đoạ đày khổ nhục đến vậy Đời sống của nhân dân càng rơi vào bế tắckhi nạn đói xẩy ra liên tục trong nhiều năm.Nhiều nơi vừa bị mất mùa vừa bịbệnh dịch hoành hành Nhân dân rên xiết trong sự khốn quẫn.Tình trạng dắt
Trang 24díu, bồng bế nhau đi xin ăn diễn ra tràn lan, ngời chết đói ngổn ngang đầy ờng, ngời sống sót cũng chỉ còn là cái bóng vật vờ Trong năm 1741, ở Nghệ
đ-An, một mẫu ruộng tốt cũng chỉ đổi đợc một cái bánh đa nớng [16,11] Dânnghèo chết đã đành, có những nhà giàu tiền của chất đống mà vẫn cứ phảichết đói vì không thể tìm ra lơng thực
Sự đối lập giữa cảnh sống của triều đình và nhân dân làm cho sự phânhoá xã hội vốn đã sâu sắc từ trớc nay càng trở nên quyết liệt, dữ dội hơn con
đờng tất yếu của những “ngời cùng khổ” lúc này phải vùng lên cầm vũ khí nổidậy
Từ cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII, những cuộc nổi dậy lẻ tẻ củanông dân dần dần bùng nổ thành phong trào đấu tranh sôi nổi rộng lớn Hàngloạt các cuộc khởi nghĩa lớn nổi lên ở những vùng bị nạn đói tàn phá dữ dộinhất Trong những phong trào đấu tranh của nhân dân Đàng Ngoài, tiêu biểu
có các cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Danh Phơng, Nguyễn Hữu Cầu, Lê DuyMật, Hoàng Công Chất với quy mô rộng lớn, tính chất quyết liệt Những cuộckhởi nghĩa này đã giáng những đòn mạnh mẽ làm lung lay tận gốc rễ cơ đồcủa Vua Lê Chúa Trịnh, tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho phong trào nôngdân Tây Sơn nhanh chóng lớn mạnh và trở thành ngọn cuồng phong cuốn sạchcác tập đoàn phong kiến phản động đến miệng hố diệt vong
Hoàn cảnh đất nớc đầy rối ren bi thảm, trật tự xã hội bị đảo lộn, đờisống nhân dân ngày càng bị đẩy đến con đờng cùng củ sự khốn quẩn là hiệnthực tác động sâu sắc đến nhân sinh quan Nguyễn Thiếp sau này
1.3.2 Phong trào nông dân Tây Sơn.
Thế kỷ XVIII đi vào lịch sử Việt Nam nh một thế kỷ của khởi nghĩanông dân, một thế kỷ quật khởi của quần chúng nhân dân với những biến cốdồn dập diễn ra trong cuộc đấu tranh quyết liệt giữa hai lực lợng xã hội Mộtbên là chế độ phong kiến già cỗi đang trên đà tàn tạ suy vong và ngày càng tr-
ợt sâu vào con đờng phản động, bóp nghẹt mọi tiến bộ xã hội, phản bội lại lợiích dân tộc Bên kia là sự vùng dậy mạnh mẽ của toàn thể quần chúng nôngdân quyết giành lấy và bảo vệ sự sống và nhân phẩm của con ngời; là sự vơnlên của cả dân tộc trong cuộc đấu tranh cao cả vì độc lập tự do của đất nớc
Các cuộc khởi nghĩa nông dân bắt đầu dấy lên từ những năm đầu thế
kỷ, rồi lan tràn khắp nơi với khí thế tiến công mãnh liệt Những cuộc chiếntranh nông dân rộng lớn đạt đến đỉnh cao nhất với phong trào cách mạng nông
Trang 25dân Tây Sơn (1771 – 1789) Xuất phát từ một cuộc đấu tranh giai cấp, khởinghĩa Tây Sơn bùng nổ và phát triển nh một cơn bão táp cách mạng rung trờichuyển đất làm thay đổi những trật tự cố hữu trớc đó.
Phong trào nông dân Tây Sơn phát khởi từ ấp Tây Sơn, huyện Phù Ly,phủ Quy Nhơn (ngày nay là tỉnh Bình Định) vào năm 1771, dới sự lãnh đạocủa ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ Đây vốn là vùng đấttrù phú nhng phải gánh chịu chính sách thuế khoá vô cùng hà khắc do nhàNguyễn đặt ra Nhân dân miền núi nh ngời Chàm, ngời Thợng còn phải đóngnhiều thứ thuế lâm thổ sản hết sức nặng nề Bọn quan lại cờng hào ở QuyNhơn ngày càng chiếm đoạt trắng trợn những ruộng đất của nông dân Ruộng
đất công của làng ấp dần dần biến thành ruộng t của bọn địa chủ quan lại, cònnông dân làng ấp dần biến thành tá điền, bị địa chủ bóc lột tàn tệ Nạn chiếm
đoạt và tập trung ruộng đất của giai cấp địa chủ cùng với nạn thuế khoá nặng
nề là nguyên nhân biến vùng đất này từ một trung tâm kinh tế giàu có vào loạibậc nhất của Đàng Trong (nh nhận xét của các thơng nhân nớc ngoài lúc bấygiờ) đã sớm trở thành trung tâm của phong trào đấu tranh của nhân dân
Tổ tiên của ba anh em nhà Tây Sơn vốn quê ở Nghệ An (Đàng Ngoài),trong một trận đánh vợt qua sông Gianh của chúa Nguyễn (1655), ông tổ bốn
đời là Hồ Phi Khang và gia đình bị bắt cùng tù binh bị mang vào ấp Tây Sơn
để khai khẩn đất đai ở đó Trải qua một thời gian lao động cần cù, gia đình
ông thân sinh ra anh em Tây Sơn là Hồ Phi Phúc trở thành một gia đình nôngdân khá giả Bắt đầu từ đời này họ Hồ chuyển thành họ Nguyễn
Hồi còn nhỏ, ba anh em Tây Sơn theo học thầy giáo Hiến là một nho sĩbất mãn với quyền thần Trơng Phúc Loan và giàu lòng yêu nớc thơng dân.Chính điều đó đã ảnh hởng không nhỏ tới ba anh em Tây Sơn Nhng sự ảnh h-ởng của thầy không chỉ khuôn hẹp lại ở vốn văn chơng chữ nghĩa và lòng yêunớc thơng dân Vốn dĩ đã từng làm quan, sống và làm việc trong phủ chúaNguyễn nên thầy giáo Hiến cũng chính là ngời cung cấp cho ba anh em TâySơn đầy đủ và chính xác những thông tin về nội tình hỗn loạn, thối nát của tập
đoàn thống trị họ Nguyễn đơng thời Đây chính là cơ sở thực tiễn để về sauanh em nhà Tây Sơn có căn cứ để nêu lên đợc khẩu hiệu phân hoá kẻ thù mộtcách rất lợi hại
Năm 1772, Nguyễn Nhạc cùng hai em dựng cờ khởi nghĩa ở Tây Sơn.Lợi dụng mâu thuẫn giữa các bè phái trong nội bộ giai cấp thống trị nhằm làm
Trang 26suy yếu và cô lập kẻ thù, Nguyễn Nhạc khôn khéo nêu lên khẩu hiệu: “Đánh
đổ quyền thần Trơng Phúc Loan, ủng hộ hoàng tôn Nguyễn Phúc Dơng”.Trong bài hịch, Tây Sơn nêu rõ:
“Giận quốc phó ra lòng bội bạc nên Tây Sơn xuống nghĩa cần vơngTrớc là ngăn cột đá giữa dòng kẻo đảng nghịch đặt mu ngắm nghé Sau là tới ma dầm khi hạn, kéo cùng dân ra chốn lầm than… đã giúp tôi trong việc thu thập tài”
Khởi nghĩa Tây Sơn bùng nổ giữa lúc nhân dân Đàng Trong đang nghẹtthở dới ách thống trị của chính quyền phong kiến họ Nguyễn Các thủ lĩnhTây Sơn khéo léo đề ra sách lợc và khẩu hiệu thích hợp nên đã thu hút đợc
đông đảo lực lợng nhiều tầng lớp nhân dân khác nhau trong xã hội hởng ứngtham gia Trong đó có cả một bộ phận trong giai cấp phong kiến bất bình vớiphe cánh của Trơng Phúc Loan và những ngời dân tộc thiểu số ở vùng TâyNguyên cũng nhiệt tình gia nhập nghĩa quân
Diễn biến của phong trào Tây Sơn có thể chia làm các giai đoạn sau:Giai đoạn 1 Từ 1717 đến giữa năm 1784: khởi nghĩa và chiến đấu quyết liệt ở
xứ Đàng Trong
Đây là giai đoạn khởi nghĩa Tây Sơn thực hiện nhiệm vụ đấu tranhchống ách thống trị của tập đoàn họ Nguyễn, mang đặc trng cơ bản của mộtcuộc chiến tranh nông dân với phạm vi hoạt động chủ yếu ở khu vực từ QuảngNam trở vào, tức là hoàn toàn thuộc không gian của Đàng Trong Bắt đầu khởiphát từ vùng núi non hiểm trở nghĩa quân Tây Sơn trong quá trình lãnh đạonhân dân đấu tranh đã nhanh chóng mở rộng phạm vi tấn công, lần lợt chiếmthành Quy Nhơn và hàng loạt các tỉnh ngày nay: Quảng Nam, Bình Định, KonTum, Gia Lai, Phú Yên… đã giúp tôi trong việc thu thập tài Khi chúa Nguyễn hốt hoảng đem quan đi chống trảthì đã quá muộn
Diễn biến tình hình Đàng Trong đợc chúa Trịnh Sâm ở Đàng Ngoài rấtquan tâm theo sát Đợc sự tán đồng của vây cánh chú Trịnh huy động ba vạnquân vợt sông Gianh tấn công ồ ạt và bất ngờ vào Đàng Trong Lấy danhnghĩa giúp họ Nguyễn đánh đổ quyền thần Trơng Phúc Loan, đánh dẹp TâySơn nhng thực chất chúa Trịnh muốn thôn tính toàn bộ Đàng Trong khiếnchúa Nguyễn cùng tôn thất cùng bá quan văn võ phải bỏ Phú Xuân tìm đờngchạy vào Gia Định Sự việc này đẩy quan Tây Sơn vào thế bị kìm kẹp từ haiphía Nam – Bắc: quân nhà Nguyễn từ Nam đánh ra, quân chúa Trịnh từ Bắckéo xuống Trớc tình thế đó, Tây Sơn đã có một quyết định rất đúng đắn, kịp
Trang 27thời: tạm thời hoà hoãn với quân Trịnh giữ yên mặt Bắc, quyết tâm dốc sứctiêu diệt quân Nguyễn ở mặt Nam Sau khi tổ chức tiến hành năm chiến dịchdồn dập, quân Tây Sơn cơ bản đã đánh bại nhà Nguyễn cùng đám tàn quâncòn lại, chỉ duy nhất còn lại một ngời sống sót và trốn thoát, đó là Nguyễn
ánh Chính con ngời này về sau đã gây dựng lại cơ nghiệp cho nhà Nguyễn
Giai đoạn 2 1784 – 1789: Kết hợp đánh cả thù trong giặc ngoài
Đây là giai đoạn ngắn ngủi nhất nhng lại chính là giai đoạn rực rỡ nhất củaphong trào Tây Sơn Xét về quy mô và tính chất, đây là giai đoạn Tây Sơnhoạt động trên phạm vi cả nớc, đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ trọng đạikhác nhau: đẩy mạnh và mở rộng cuộc tấn công vào cơ đồ của giai cấp phongkiến thống trị ở Đàng Ngoài, bảo vệ độc lập dân tộc, tạo nên những võ côngchống xâm lăng vô cùng hiển hách, góp phần làm rạng rỡ thêm truyền thốngngoan cờng bất khuất của cả dân tộc ta
Đầu năm 1785, quân Tây Sơn do nguyễn Huệ chỉ huy đã quét sạch nămvạn quan Xiêm La do Nguyễn ánh rớc về bằng trận thuỷ chiến lừng lẫy RạchGầm - Xoài Mút Tiếp đó, quân Tây Sơn mở rộng cuộc tấn công vào quanTrịnh ở Phú Xuân, thu phục toàn bộ đất Đàng Trong Đội quân do NguyễnHuệ chỉ huy còn táo bạo tiến hành tấn công ra Đàng Ngoài lật nhào cơ đồthống trị của họ Trịnh gây dựng hơn hai trăm năm, xoá bỏ ranh giới sôngGianh – hiện thân của nỗi đau chia cắt đất nớc, tạo cơ sở quan trọng cho việcthống nhất quốc gia sau này Hơn thế nữa là chấm dứt ách thòng trị thối nátcủa họ Trịnh – trở lực lớn nhất của xã hội Đàng Ngoài
Cuối năm 1788, bị đẩy vào bớc đờng cùng, Lê Chiêu Thống đã sangcầu cứu nhà Mãn Thanh Nhân cơ hội đó, 29 vạn quân xâm lợc nhà Thanhtràn sang nớc ta Một lần nữa, trong trận quyết chiến chiến lợc ở Ngọc Hồi
Đống Đa vào đúng dịp Tết Kỷ Dậu (1789), Quang Trung Nguyễn Huệ cùnglực lợng quân đội hùng mạnh đã chôn vùi vĩnh viễn mọi tham vọng của bè lũbán nớc và cớp nớc Chỉ trong vòng năm năm, nghĩa quân Tây Sơn đã hai lầnlập chiến công đại thắng quân xâm lợc đến từ hai hớng khác nhau Đó thực sự
là một kỳ tích cha từng thấy trong lịch sử dân tộc Vinh quang đó đã tô thắmcho lá cờ chính nghĩa của phong trào nông dân Tây Sơn
Giai đoạn 3 1789 – cuối 1801: Chính quyền nhà nớc Tây Sơn
Trang 28Song song với quá trình chiến đấu không mệt mỏi là quá trình xây dựng
và củng cố chính quyền Tuy nhiên chính quyền nhà Tây Sơn có sự tồn tại khá
đặc biệt với ba hệ thống chính quyền:
- Hệ thống chính quyền của Nguyễn Lữ ở vùng đất Gia Định
- Hệ thống chính quyền do Nguyễn Nhạc quản lý trên vùng đất từ BìnhThuận ra đến Bến Ván (Quảng Nam ngày nay)
- Hệ thống chính quyền Nguyễn Huệ từ Bến Ván trở ra đến hết
Đàng Ngoài Đây là hệ thống chính quyền mạnh nhât Tây Sơn, có nhiều cảicách táo bạo, tích cực và tiến bộ trên nhiều lĩnh vực
Sự phân chia từng vùng đất cai quản khác nhau này chính là mầm mốngnảy sinh mâu thuẫn nội bộ của các lãnh tụ Tây Sơn, để rồi Nguyễn ánh đãtriệt để lợi dụng nhợc điểm này tổ chức phản công lại giành thắng lợi
Phong trào Tây Sơn là một cuộc đấu tranh rộng lớn của nhân dân cả nớc
mà động lực chủ yếu là nông dân Phong trào liên tiếp lật đổ những chínhquyền phong kiến phản động trong nớc và đánh tan các cuộc xâm lợc của nớcngoài, trở thành một phong trào tiêu biểu cho tinh thần đoàn kết quật khởichống ngoại xâm của dân tộc, ảnh hởng đến lịch sử đất nớc trong một thờigian dài sau đó Trong phong trào đó tài năng khí phách của ngời anh hùng áovải Quang Trung Nguyễn Huệ đã đợc toả sáng Với tấm lòng trọng dụng nhântài, Nguyễn Huệ đã nhận đợc sự ủng hộ hợp tác của nhiều quan lại, sĩ phu tiến
bộ lúc bấy giờ nh Trần Văn Kỷ, Pha Huy ích, Nguyễn Thế Lịch… đã giúp tôi trong việc thu thập tài tạo thànhhàng ngũ quân sự cố vấn đắc lực cho Bắc Bình Vơng Nguyễn Huệ đa ra nhữngquyết định sáng suốt, phù hợp, đồng thời qua đó cho thấy lòng yêu nớc củatầng lớp tri thức Việt Nam luôn luôn đợc phát huy cao độ trong những thời
điểm cam go của lich sử
Những diển biến của Tây Sơn cũ ng nh những đổi thay của hiện thực đấtnớc Nguyễn Thiếp đều đợc chứng kiến Tất cả tác động va làm lay chuyển đến
t tởng của Nguyễn Thiếp.Thôi thúc ông lựa chọn con đờng đi đúng đắn nhất
đối với một ngời trí thức khi đứng trớc thời cuộc Đó là con đờng gắn bó cùngdân tộc, nhân dân; con đờng hợp tác với một lực lợng chính trị tiến bộ nhấtoqr thời đại để đợc cống hiến, giúp đời
Trang 29Chơng 2 Đóng góp của La sơn phu tử nguyễn thiếp 2.1 Vài nét về tiểu sử và sự nghiệp La Sơn phu tử – Nguyễn Thiếp.
2.1.1 Con đờng học vấn.
Truyền thống hiếu học của gia đình, không khí đỗ đạt của quê hơnghẳn sẽ nung nấu trong con ngời Nguyễn Thiếp ý chí noi gơng những bậc tiềnbối Thế nhng, con đờng học vấn của ông không hề êm ả mà đầy gập ghềnh,sóng gió
Nguyễn Thiếp sớm đợc tiếp xúc với nền học vấn Nho học Ngời “khaitâm” cho ông không ai khác mà chính là ngời mẹ mà ông hết mực tôn kính
Bà vừa là ngời mẹ luôn gần gũi thơng yêu các con hết mực, lại vừa là ngờithầy nghiêm khắc dạy dỗ các con nên ngời
Về sau, Nguyễn Thiếp theo học cụ hoàng giáp Nguyễn Nghiễm (chính
là thân phụ đại thi hào Nguyễn Du) Nhng rồi việc học tập của ông không đợcxuôi chèo mát mái, mà hết sức lận đận Gia đình ông không mấy khá giả, lại
đông anh em Tất cả sự nghiệp học tập của các con đều trông chờ vào bàn taytần tảo của ngời mẹ Bởi vậy, vừa đến tuổi thành niên ông đã phải xa nhà theochú là Nguyễn Hành (1701-?) lên Thái Nguyên học Chú của ông là một ngờinổi tiếng học giỏi, đỗ tiến sĩ năm Nguyễn Thiếp mời một tuổi Hai năm sau,tai hoạ bỗng dng ập đến khi ngời chú đột ngột qua đời Đây là một cú sốc lớnlàm suy sụp tinh thần Nguyễn Thiếp khi mà chú vừa là ngời ông hằng yêu th-
ơng, kính phục; đồng thời đó cũng là chỗ dựa duy nhất của ông nơi đất kháchquê ngời Sau khi trải qua những ngày bơ vơ ở Thái Nguyên, Nguyễn Thiếp tựtìm đờng về Hà Nội Nhng khi đến Đông Anh thì ông bị ốm nặng, may gặp đ-
ợc ngời tốt bụng giúp đỡ nên ông thoát chết Thế nhng, họ chỉ có thể cứu sống
đợc thể xác ông chứ không thể nào giúp ông vực dậy đợc tinh thần, một loạttai hoạ giáng xuống đã để lại trong ông một di chứng trầm trọng, đó là mộtcăn bệnh tinh thần mà ông gọi là “bệnh cuồng” Trong “Hạnh Am ký” ôngviết: “Tiên thế ta bị bệnh cuồng mà ta lại bị, chắc là do khí huyết di chuyển, ta
tự bảo mình từ biệt việc đời vào ẩn náu trong rừng núi kẻo sợ bệnh không khỏihẳn” Theo lời ông kể lại thì khi bệnh phát, đầu óc hoang mang, làm gì cũngkhông biết Đối với một ngời ham học nh ông chứng bệnh này thực sự là mộttai hoạ ghê gớm
Nhng rồi Nguyễn Thiếp đã tự đấu tranh t tởng, kiềm chế bệnh tật, nỗlực học tập Việc học ngày xa, muốn thi đỗ phải đọc nhiều, nhớ nhiều, “Thi
Trang 30thiên, phú bách, văn sách ngũ thập”, nghĩa là phải học thuộc lòng một nghìnbài thơ, một trăm bài phú, năm mơi bài văn sách Với cách học sách vở ấy, đốivới một ngời có đầu óc bình thờng đã hết sức vất vả, huống chi với một ngời
bị bệnh cuồng nh Nguyễn Thiếp thì càng đòi hỏi một sự nỗ lực ghê gớm ấyvậy mà ông đã vợt qua mọi khó khăn, gian khổ và thi đỗ Hơng giải khoa QuýHợi, đời Lê Cảnh Hng (1743) Đó là một kết quả xứng đáng của cả một quátrình đấu tranh kiên cờng chống lại bệnh tật của một con ngời có nghị lực phithờng
Sau khi đỗ Hơng giải, Nguyễn Thiếp về nhà chú tâm nghiên cứu sách
Lý học (là phép học của đời Tống, Minh gồm tợng số học, Tống học, Tâm học[1,141]), Tứ th, Ngũ kinh đại toàn, lý giải những ý nghĩa sâu sắc của Khổnggiáo Với mong muốn trở thành một giáo sĩ về đạo Khổng nh Chu Văn An đờiTrần Nếu nh các nhà Nho khác đọc sách thởng để phục vụ đờng khoa cử, màthực chất cha chắc đã hiểu thấu đáo ý nghĩa của nó, thì Nguyễn Thiếp lại ng-ỡng mộ đạo Khổng một cách rất chân chính Không phải chỉ tìm hiểu về đạoKhổng trên phơng diện lý thuyết nh thông thờng, Nguyễn Thiếp còn vận dụngnhững t tởng đó vào cuộc sống để khuyên răn ngời đời Chuyện kể rằng, nămNguyễn Thiếp 26 tuổi, trong chuyến ra Bắc, ông gặp hai cha con ông già ở ẩntrên núi Chung Sơn, nhng không hợp nhau nên thờng lục đục Thấy vậyNguyễn Thiếp bèn thay lời con từ tạ cha khiến hai cha con hiểu nhau hơn và
từ đó trở nên hoà thuận Có những ngời mắc chứng ham mê tửu sắc, nhờ đợc
cụ lấy đạo đức ra “chữa” mà “khỏi bệnh”
Tởng rằng Nguyễn Thiếp sẽ tiếp tục theo đuổi con đờng khoa cử nhngrồi chán nản trớc cảnh loạn lạc của thời cuộc, Nguyễn Thiếp không chịu đi thiHội “Mỗi lần xuân vi (thi Hội) thì cãi nhau không dứt Tả tớng (NguyễnNghiễm) nói đi nói lại bảo với ông rằng: Đỉnh Hơng (bổng lộc) còn dành đóchỉ một mình không chịu nghe sao ? Ông đáp: ấy là đối với hành thạch (làmquan), tôi vốn không có bụng mà thôi [22,89] ít lâu sau ông lấy vợ là bà
Đặng Thị Nghi, con gái trởng Thái Lộc Đặng Thái Băng ở Uy Viễn, NghiXuân
Sau nhiều lần chần chừ, lỡng lự, đến năm Mậu Thìn (1748), thầy giáocủa Nguyễn Thiếp là cụ Nguyễn Nghiễm, lúc bấy giờ đang làm Hiệp trấnNghệ An, vì muốn Nguyễn Thiếp ra làm quan nên thúc giục ông đi thi Hội Vìthế Nguyễn Thiếp có tham gia Lần này Nguyễn Thiếp đậu hội thi Tam trờng
Trang 31nhng không trúng cách Ông liền trở vào Bố Chính (miền bắc sông Gianh bâygiờ) để dạy học và cũng là một kiểu chờ thời của nho sĩ xa Thực chất lần đithi này với Nguyễn Thiếp chỉ là miễn cỡng nên có thể ông không dồn hết tâmhuyết Cùng lúc đó căn bệnh hiểm nghèo cũ (bệnh cuồng) lại tái phát hành hạNguyễn Thiếp đến hàng tháng trời Sau khi dỡng khỏi bệnh, Nguyễn Thiếpquyết định từ bỏ mộng khoa cử tìm đờng trở về nhà chăm chú đọc sách, ngẫmnghĩ về đạo, phó mặc chuyện thời thế Lần này ông quan tâm đến chuyện ẩndật, kính phục những bậc tiền nho.
Đến năm Bính Tuất (1866, Nguyễn Thiếp 44 tuổi), Nguyễn Nghiễm lạicho gọi Nguyễn Thiếp ra Thăng Long để tiếp tục tham gia khoa thi Hội Đểchiều lòng ngời thầy của mình, Nguyễn Thiếp lặn lội ra Bắc lần nữa Nhng khi
ra đến Bắc Hà, viện cớ trời ma to gió lớn, cụ từ chối vào trờng Xoay quanhchuyện bỏ thi của Nguyễn Thiếp còn truyền lại một câu chuyện khá ly kỳ cho
đời sau rằng:
Lần đi thi Hội đó, Nguyễn Thiếp đi cùng với một ngời bạn Khi hai
ng-ời đến bến đò Ghép phủ Tĩnh Gia, Thanh Hoá, ngng-ời lái đò quần áo chỉnh tềvội chạy đến vái chào, tha: “Xin mời hai quan Nghè lên đò”, hai ngời hỏi tạisao lại làm quan Nghè, ngời lái đò liên tha: “Tối hôm qua tôi nằm mộng thấythần làng gọi bảo phải quét đò sạch sẽ, mai có hai quan Nghè qua sông Sángnay tôi dậy sớm, tát hết nớc, rửa đò, đợi một lúc thì hai quan đến Bởi vậy, tôibiết hai ngài là hai quan Nghè.” Ngời bạn nghe nói vậy thì hớn hở, cònNguyễn Thiếp lại t lự Ông nhìn vào đò thấy khô ráo, nhớ đến câu “tát hết n-ớc” cho là điềm xấu Ông nói với ngời lái đò: “Anh tát hết nớc trong đò, vậnnớc chắc là nguy Thôi ta không đi thi nữa Ta trở về khiến cho thần làng anhnói láp” [8,500-501] Nói rồi ông trở về Ngời bạn kia đi thi quả đỗ Tiến sĩ.Còn vận nớc sau đó cũng rơi vào thế hỗn loạn
Từ đó về sau, Nguyễn Thiếp không đi thi lần nào nữa Mặc dù không đỗ
đạt cao nhng ông là ngời có thực tài, đức độ, giàu khí khái nên có uy tín trongxã hội rộng lớn, đợc nhân dân trong vùng kính nể
2.1.2 Chặng đờng làm quan
Năm Bính Tý (1756), Nguyễn Thiếp đợc bổ làm Huấn Đạo Anh Đô(Huấn Đạo là một chức quan phụ trách việc học tập ở phủ huyện, đợc đặt ra từthời Lê Sơ; Anh Đô là phủ Anh Sơn, Nghệ An) Năm ấy cụ 34 tuổi Việc làm
Trang 32quan của cụ có sự tác động của Nguyễn Nghiễm – ngời thầy từ lâu vẫn luôndõi theo bớc đờng lập danh của Nguyễn Thiếp.
Mặc dù trong thâm tâm, Nguyễn Thiếp không nguôi ý định ở ẩn, nhng
là một trụ cột trong gia đình, gánh trên vai trách nhiệm nuôi mẹ già, con thơvới một gia cảnh khốn khó nên Nguyễn Thiếp buộc phải “một ngời vì mọi ng-ời” mà từ bỏ chí riêng Điều đó âu cũng là một nỗi khổ luôn đeo đẳng trongthâm tâm ông khi mà làm quan không phải là sự thôi thúc của ý chí ái quântrạch dân nh với Nguyễn Trãi trớc đây; càng không phải bởi “dẫm phải bãvinh hoa”; mà Nguyễn Thiếp buộc phải chấp nhận làm quan nh là một cách để
“kiếm kế sinh nhai” Vả lại, chức quan ấy dù sao cũng thích hợp với mongmuốn đợc dạy học của ông
Mang tiếng làm quan nhng Nguyễn Thiếp sống rất thanh bạch, đúngvới cốt cách của một nhà Nho Ông chỉ hởng đúng phần lơng đợc cấp, khôngbao giờ lợi dụng chức quyền để trục lợi, vơ vét của dân nh đa số bọn quan lạitrong triều lúc bấy giờ Do vậy, so với trớc đó, đời sống của ông không mấythay đổi Điều đáng nói là, từ khi đặt chân vào chốn quan trờng, ông có điềukiện tận mắt chứng kiến cảnh quan lại tranh giành ngôi báu quyết liệt trongtriều, cảnh giặc giã nổi dậy khắp nơi, cảnh dân tình lầm than đói khổ Vì vậy,
ông càng trở nên bi quan, chán nản trớc thời thế Nhng vì điều kiện hoàn cảnh
bó buộc nên Nguyễn Thiếp vẫn cha thể từ quan ngay lúc ấy
Sau một thời gian đến năm 1762,Triều đình cử ông làm tri huyện ThanhChơng Khi th và sắc đợc mang tới, ông buồn bã than rằng: “Ta không có ýlàm quan, nay lại lấy chức tri huyện buộc nhau chăng?” [8,493] Ngay từ đầu
đã tỏ thái độ thờ ơ với chốn quan trờng nên lần này dù giữ chức quan to hơntrớc Nguyễn Thiếp cũng chẳng tỏ vẻ mặn mà gì hơn Nguyễn Thiếp làm quan
mà chẳng khác nào ở ẩn vì ông đã có nhà ở núi Thiên Nhẫn và vẫn thờngxuyên lui về nghỉ ngơi ở đó Thế nên ông càng muốn nhanh chóng từ chức
Đến năm Mậu Tý (1768), lúc đó Nguyễn Thiếp 46 tuổi, ông quyết địnhcáo quan Trong “Hạnh Am ký” ông có viện cớ rằng: “đi lại khó nhọc, khôngmấy tháng ngồi yên, bệnh cũ trở lại nên xin về” [8, 505] Tuy nhiên, nguyênnhân sâu xa và cũng là động cơ chính khiến ông từ quan chính là các cuộckhởi nghĩa, trong đó đáng nói nhất là khởi nghĩa Lê Duy Mật
Lê Duy Mật là nạn nhân trực tiếp của sự lộng quyền của chúa TrịnhGiang Cha ông vốn là vua Lê Dụ Tông từng bị chúa Trịnh ép buộc từ ngôi
Trang 33Anh Trai là Lê Duy Phơng bị sát hại Uất ức vì mối thâm thù, Lê Duy Mật đãcùng một số hoàng thân nổi dậy chống lại triều đình Sau nhiều đợt tấn công
bị nhà Trịnh đánh lui, nghĩa quan Lê Duy Mật kéo vào vùng Hơng Sơn –Thanh Chơng, là nơi Nguyễn Thiếp đang trấn giữ Trong thâm tâm, NguyễnThiếp nhận thấy, khởi nghĩa Lê Duy Mật là có tính chính nghĩa (đánh nhàTrịnh, khôi phục nhà Lê) Nhng lúc ấy, Nguyễn Nghiễm – thầy giáo của ông– lại đợc triều đình sai đi dẹp loạn Điều đó đặt ông vào tình thế khó xử “làmviệc cũng không chính đáng, can gián cũng không ăn thua mà có lẽ còn bị liênluỵ” [8,507] Bởi vậy, Nguyễn Thiếp quyết định cáo quan về ở ẩn
Nguyễn Thiếp làm quan cho nhà Lê (nhng thực quyền là nằm trong taynhà Trịnh) trong khoảng 13 năm, nhng không có điều kiện thi thố tài năng,
ông chỉ xem đó là phơng tiện mu sinh bất đắc dĩ Và đó cũng là khoảng thờigian nhàm chán, vô nghĩa nhất đối với ông Chỉ đến khi hợp tác với triều đìnhQuang Trung, nh cá đợc về với nớc, Nguyễn Thiếp có dịp thể hiện vốn họcvấn uyên thâm của mình với những cống hiến to lớn vẫn còn lu lại dấu ấn chohậu thế
2.1.3 Thời gian ở ẩn
Một thanh niên nh Nguyễn Thiếp, mới hai mơi tuổi thi lần đầu đậu
H-ơng giải (cử nhân), đờng công danh trớc mắt đầy hứa hẹn; nếu chú tâm theonghiệp khoa cử chắc sẽ đỗ đạt cao Thế mà, không hiểu sao trong phút chốc từ
bỏ đờng cử nghiệp, quay sang theo chí ẩn dật, để lại một dấu hỏi lớn cho biếtbao thế hệ
Trong “Hạnh Am ký”, Nguyễn Thiếp bộc bạch, vì bệnh cũ nên phải “tự
bỏ, từ biệt việc đời mà ẩn trong rừng núi kẻo sợ bệnh không khỏi hẳn” Bàithơ “Sĩ các hữu chí” cũng là lời tâm sự chân thật;
Trong cõi anh hùng sinh lắm kẻMỗi ngời một chí phải đâu chungNgời ra đức cả công lừng thế
Kẻ ẩn danh cao đạo thuận lòngMục Dã mảnh nhng gây đại nghiệpLô Sơn chồi liễu nổi thanh phongTuỳ thời co duỗi âu là phải
Đạo ấy ta đây rắp gắng công [4,58]
Trang 34Xem xét thời cuộc lúc ấy phần nào lý giải đợc sự lựa chọn của NguyễnThiếp Thông thờng, chí làm trai là phải “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiênhạ” Nhng lúc bấy giờ bốn phơng bất ổn loạn lạc, cơ đồ không do một ông vuanắm giữ mà bị xâu xé trong tay cả một bè lũ chuyên quyền sa đoạ Nhng mặtkhác sự lựa chọn này cũng cho thấy sự bất lực của Nguyễn Thiếp trớc thờicuộc.
Từ bỏ con đờng khoa cử nhng Nguyễn Thiếp không tìm nơi ẩn dật ngay
mà bớc vào quá trình ngao du sơn thuỷ Thời gian chàng thanh niên NguyễnThiếp thoả sức tự do phóng khoáng này kéo dài trong khoảng năm năm “Núisông miền Nam Châu, dấu chân có gần khắp” Nguyễn Thiếp đặt chân đếnnhiều nơi: lên núi Nghĩa Liệt ngắm cảnh mây bay, thởng ngoạn vẻ đẹp của núinon trùng điệp; qua sông Nghèn trèo lên đỉnh Hồng Lĩnh viếng cảnh Chùa H-
ơng, dạo chơi núi Gia Hanh, ghé thăm nhà cũ Hoàng Dật (một danh Nho sống
ở thế kỷ XVII nổi tiếng hay chữ, bất đắc chí, từ quan về quê đọc sách, dạyhọc) Khoảng thời gian ngao du này chắc chắn giúp Nguyễn Thiếp chiêmnghiệm sâu sắc hơn về cuộc đời và suy ngẫm thấu đáo hơn về ý định ở ẩn củamình
Nguyễn Thiếp quyết định xây dựng chốn ẩn c lâu dài cho mình từ rấtsớm Khi mới ra làm quan đợc một năm ông đã chọn ngọn núi Bùi Phong,thuộc dãy núi Thiên Nhẫn và cho lập trại ở đây Núi Thiên Nhẫn là một dãynúi giáp giới hai huyện Hơng Sơn và Thanh Chơng Hình núi khác thờng Núi
đợc chia làm nhiều đỉnh chắp nối liên hoàn tạo thành dãy dài Đứng trên đỉnhcao nhìn xuống trông nh từng đoàn ngựa đang cất vó phi nớc đại Tơng truyền,dãy Thiên Nhẫn có 999 ngọn, trong đó có ba đỉnh cao gọi là Tam Thai mà
đỉnh cao nhất chính là ngọn Bùi Phong (Động Chủ) Chính nơi đó NguyễnThiếp chọn làm chốn ẩn dật cho mình.Trong “Hạnh Am ký” ông cho biết, núiBùi Phong có “ghềnh suối ẩn kín, không hổ báo quấy nhiễu, núi trồng cây đ-
ợc, khe đánh cá đợc, đất hoang dễ cày, cỏ tốt dễ giữ Ta mừng thay! Muốnchọn đất ấy để ở” [8,510]
Kể từ năm Mậu Tuất, 1786, lấy cớ tuổi cao sức yếu, bệnh cũ tái phát,Nguyễn Thiếp (lúc đó 46 tuổi) cáo quan về nhà kết thúc 13 năm ở chốn quantrờng Bấy giờ bỏ đợc món nợ đeo đẳng ấy lòng ông nhẹ nhõm tởng cất đợctảng đá đè nặng trên vai:
Từ bỏ vòng cơng toả
Trang 35Thà nh ông sớng nhỉ! [8,507]
(Ngày đợc từ chức Tham chính)Hai năm sau khi từ quan, Nguyễn Thiếp chính thức bắt đầu cuộc sống
ẩn dật Ông mang theo cả gia quyến lên núi cùng các con lập trại khai hoangtrồng trọt Cuộc sống trên núi vất vả, nghèo nàn nhng Nguyễn Thiếp vẫn duytrì lối sống thanh tao của một bậc danh Nho Trên nhà ông ở có vọng Vân
Đình (đình ngắm mây), có Giới Thạch Trai (nhà đá vững), có Thận Tật am(am dỡng bệnh) Ông tự xng là Cuồng ẩn Trong nhà ông có thờ Khảo đìnhtiên sinh, tức Chu Hy – một vị Tống Nho đã có công lớn về giải thích vàtruyền bá Đạo Khổng, Nguyễn Thiếp nghiễm nhiên trở thành một ẩn sĩ Sĩ phutrong nớc phong cho cụ danh hiệu Hầu Lục Niên hay Lục Niên tiên sinh Thờigian này Nguyễn Thiếp sống lặng lẽ, tuổi tác không cho phép ông du ngoạn
nh trớc nữa Nhng ông vẫn không từ bỏ những sở thích riêng của mình Năm
Đinh Dậu (1777), dù đã 55 tuổi, Hầu Lục Niên vẫn thực hiện chuyến ra Bắcthăm bạn bè, lần đó ông có đến viếng thăm Bạch Vân am, nơi Nguyễn BỉnhKhiêm từng ẩn dật Có lẽ tên tuổi, nhân cách và sự nghiệp của Trạng Trình đã
để lại trong tâm t Nguyễn Thiếp một niềm kính phục và cả sự đồng cảm sâusắc nữa.Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491- 1585) ngời làng Trung Am,huyện Vĩnh Lại, Hải Dơng (nay thuộc Vĩnh Bảo, ngoại thành Hải Phòng), nổitiếng là ngời có vốn học vấn uyên bác, tài đức vẹn toàn Nguyễn Bỉnh Khiêmtừng giữ chức thợng th dới thời nhà Mạc, dù rất đợc trọng vọng nhng cuốicùng cũng đã từ quan về mở trờng Bạch Vân dạy học.Vốn là ngời có khíphách ngang tàng, lại không màng danh lợi, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khôngmấy tâm huyết khi thời cuộc rơi vào thế hỗn loạn Và nh một giọt nớc làmtràn ly khi ông dâng sớ xin vua chém mời tám tên lộng thần nhng không đợcphê chuẩn, Nguyễn Bỉnh Khiêm dứt khoát từ quan Ngời đơng thời kính cẩngọi ông là Tuyết Giang phu tử (Tuyết Giang là tên con sông Tuyết Kim chảyqua làng ông) Nh vậy, mặc dù Nguyễn Thiếp và Nguyễn Bỉnh Khiêm sốngcách cách nhau hàng thế kỷ nhng giữa họ có sự gặp gỡ về hoàn cảnh, nhâncách và quan điểm sống Vì thế, khi đến thăm chốn ẩn c của Trạng Trình,Nguyễn Thiếp không khỏi bồi hồi xúc động:
Am không, bia cũng h tàn
Ta nay lu lạc bên ngàn Tuyết Giang [8,507]
Trang 36Sau khi trở về nhà cha đợc bao lâu, năm Canh Tý (1780, năm NguyễnThiếp 58 tuổi), chúa Trịnh Sâm cho mời ông ra Thăng Long.Trong tờ truyềnmời có viết: “Đại đức chiếu đến Nguyễn Thiếp là ngời rất có học hạnh, naycho mời gọi về kinh… đã giúp tôi trong việc thu thập tài” [17,56] Sở dĩ có sự kiện này là bởi Nguyễn Thiếp nổitiếng tinh thông về lý số nh Trạng Trình trớc đây nên Chúa muốn vời cụ ra hỏi
về vận mệnh (nh trớc đây 200 năm, ba họ Mạc, Trịnh, Nguyễn tới hỏi NguyễnBỉnh Khiêm về thời vận) Thế nhng, khi đối diện với Chúa Trịnh, cụ đã tỏ thái
độ thẳng thắn, cứng cỏi khuyên ngăn Chúa Trịnh Sâm không nên thoán đoạtquyền Vua Lê Thấy không thể khuất phục đợc con ngời khảng khái củaNguyễn Thiếp, Chúa Trịnh đành phải để Nguyễn Thiếp trở về nhà
Thế nhng, thời gian ở ẩn của Nguyễn Thiếp không xuôi chèo mát mái
nh mong muốn, mà luôn trắc trở, gián đoạn theo những thăng trầm của lịch
sử
Năm 1786, vua Lê già yếu, Chúa Trịnh Khải mặc sức lộng quyền.Trong Nam, phong trào Tây Sơn đang vơn lên với tốc độ vũ bão Nguyễn Huệchiếm đợc Phú Xuân thừa thắng lấy cả Thăng Long với danh nghĩa " Phù Lêdiệt Trịnh" Phạm vi cai quản của Nguyễn Huệ từ đèo Hải Vân ra đến Nghệ
An Nhng hoài bão của ông thì lớn hơn, đó là thống nhất toàn vẹn lãnh thổ Đểthực hiện đợc điều đó Nguyễn Huệ rất chú trọng việc tìm kiếm, chiêu mộ hiềntài, hợp tác cùng mình Mong muốn của Nguyễn Huệ đợc ngời cận thần TrầnVăn Kỷ nhiệt tình tìm kế giúp đỡ
TrầnVăn Kỷ ngời huyện Hơng Trà - Xứ Thuận Hoá - Đậu giải nguyên
có tiếng hay chữ ở Miền Nam, là một cố vấn thờng đa ra những kế sách đúng
đắn cho Nguyễn Huệ Một lần Trần Văn Kỷ đợc yết kiến cụ Thái bảo NguyễnNghiễm hỏi đến nhân tài nớc Nam thì đợc trả lời rằng: " Đạo học sâu xa thìLạp Sơn xử sĩ (tức La Sơn phu tử), văn chơng phép tắc thì thám hoa NguyễnHuy Oánh còn thiếu niên đa tài đa nghệ thì chỉ có Nguyễn Huy Tự [8, 550]".Sau cuộc yết kiến ấy, Trần Văn Kỷ đã bàn bạc với Nguyễn Huệ cầu hiềnNguyễn Thiếp vào hàng ngũ Tây Sơn Tuy nhiên quá trình để một con ngờivốn chịu quá nhiều bất hạnh và trắc trở trong cuộc sống lẫn sự nghiệp nhNguyễn Thiếp từ bỏ đời ở ẩn đến với phong trào đấu tranh của Tây Sơn khôngphải dễ dàng mà diễn ra trong một thời gian dài thách thức lòng kiên trì nhẫnnại của Nguyễn Huệ, thử thách ý chí vợt ra khỏi quan niệm cố hữu của nhà
Trang 37Nho " thờ một vua", " khí tiết trung quân" đang ngự trị trong tâm t NguyễnThiếp
Tháng 12 năm 1786, Nguyễn Huệ viết th soạn lễ vật sai hai triều quan:
bộ Hộ, bộ Binh mang đến sơn trại đón phu tử Trong th Nguyễn Huệ xin lỗi vàgiảng giải do xa xôi cách trở nên không tới trực tiếp gặp mặt đợc, qua đó tỏ ýmuốn Nguyễn Thiếp hợp tác với mình cùng nhau xây dựng nghiệp lớn.Nguyễn Huệ dùng lời lẽ trọng vọng tôn ông lên bậc Y Doãn, Chu Công (YDoãn cày ở núi Hữu Sằn sau ra giúp vua Thành Thang nhà Chu Chu Công tức
là Thái Công câu cá ở sông Vị Xuyên ra giúp Chu Văn Vơng [8, 536] )
Bấy giờ Nguyễn Thiếp vẫn đang nặng lòng với vua Lê, với Nguyễn Huệ
Cụ chỉ xem nh một anh tù trởng chốn biên thuỳ Vì thấy Nguyễn Thiếp liềnviết th phúc đáp trả th mời cùng lễ vật Điều đó chứng tỏ thái độ dứt khoátkhông chịu giao thiệp với Nguyễn Huệ Tuy vậy trong th phúc đáp NguyễnThiếp vừa khôn khéo vừa tỏ ý không hề sợ hãi Ông khiêm tốn nhận mình chỉ
là một tiện sĩ, một thần tử nhà Lê, không thể theo Tây Sơn Ông đa ra ba lý dorất chính đáng để từ chối:
Thứ nhất: Vì đau yếu bệnh tật nên phải ở trên núi dỡng bệnh
Thứ hai: Vì phải ở nhà chăm sóc việc gia đình, hơng khói tổ tiên(Nguyễn Huệ nói vì đạo nghĩa mà mời ra còn ông lại lấy đạo nghĩa mà từ chối ởnhà)
Thứ ba: Tuổi đã cao đáng lẽ phải về nhà, nay ra làm quan thì không cònphải đạo nữa
Sau khi từ khớc thẳng thừng với Chính Bình Vơng, Nguyễn Thiếp yêntâm nghĩ rằng Nguyễn Huệ sẽ từ bỏ ý đồ chiêu ngộ Nhng Nguyễn Thiếpkhông thể ngờ rằng con ngời Nguyễn Huệ một khi đã dự định làm việc gì thìnhất quyết đi đến cùng, sau khi mời lần thứ nhất thất bại Nguyễn Huệ khôngnhững không nản chí mà còn thấy đợc lời đồn trong thiên hạ quả không sai,
điều đó càng thôi thúc Chính Bình Vơng mau chóng chinh phục NguyễnThiếp
Ngày 10/8/1787 Nguyễn Huệ lại cử hai trọng thần là Lu Thủ NguyễnVăn Phơng và binh Bộ thị lang Lê Tài thay mặt Nguyễn Huệ mang th và lễ vậtlên sơn trại Lần này lời lẽ trong th thống thiết và trân trọng hơn " mong phu
tử nghĩ đến thiên hạ với sinh dân vụt đứng dậy đi ra để cho quả đức có thầy
mà nhờ, cho đời này có ngời mà cậy Nh thế mới ngõ hầu khỏi phụ lòng ý trời
Trang 38sinh ra kẻ giỏi" [8, 542] Nguyễn Huệ không nói mời Nguyễn Thiếp ra giúpmình mà ra cứu dân sinh vô tội, khéo léo lấy đạo nghĩa để đánh thức lòng yêunớc thơng dân của Nguyễn Thiếp khiến ông không có lý do từ chối, nếu cố ýchống cự thì không những đi ngợc với thiên mệnh mà còn trái với khí pháchtrung nghĩa của một bậc chân nho
Lần này Nguyễn Thiếp biết Nguyễn Huệ thực lòng muốn trọng dụngmình vì thế ông không từ chối gay gắt nh trớc mà có phần kiêng nể hơn Nhnglòng hớng về vua Lê trong ông vẫn còn ấm ỉ Sở nguyện của ông đợc sống yênthân nơi sơn trại cho đến những năm tháng cuối đời Lần này ông vẫn chứng
tỏ mình là một trung thần nhà Lê chỉ muốn giữ trọn danh tiết trong sạch, tuổigià yên ổ Còn trách nhiệm cứu dân thì do bệnh tật hiểm nghèo không chophép tham gia: " Bối rối thay! tự mình cứu mình cha xong sao cứu nổi đợcdân?" [8, 544] cuối cùng ông mạn phép xin nhận làm một " Cố vấn dự bị" lúckhông có ai hoặc lúc có việc gấp mà thôi
Chính Bình Vơng đọc th trả lời hiểu rằng Nguyễn Thiếp có sợ oai củamình nhng vẫn không khuất phục Tuy vậy chí Nguyễn Huệ đã quyết thìkhông dễ gì xoay chuyển Hơn 10 ngày sau Nguyễn Huệ sai Thợng th bộHình Hồ Công Thuyên mang một bức th dài lên núi
Bức th này không chỉ tỏ rõ sự khẩn khoản mà còn cho thấy Nguyễn Huệ
đánh giá Nguyễn Thiếp cao hơn một bậc nữa: " Trông lên thành Lục Niên cóngời tài đơng ở đó, ấy là trời để dành phu tử cho quả đức vậy Tuy phu tửkhông thèm tới nhng lòng dân đen trông ngóng phu tử ngỡ ngơ lãng đợcsao?" Đồng thời tác giả đa ra 3 lý do, 3 giả thiết vì sao phu tử chối Đó là:Tây Sơn xây dựng nghiệp bá từ thân phận thấp hèn; đợc khởi binh dẫn đếnlàm việc bất nghĩa, giết kẻ vô tội; chiêu mộ hiền tài, mà không chịu thân hànhsăn đón nh Lu Bị cầu hiền Khổng Minh nên bị từ chối là phải Sau đó lạichính tác giả giải thích những thiếu sót đó một cách thấu tình hợp lý: Do xuấtthân chốn hẻo lánh, gặp thời thế bất đắc dĩ nên mới phải khởi binh trong chiếntrận không thể tránh khỏi sự tàn phá phiền nhiễu Việc binh bề bộn không cóngời tài cán giúp đỡ, cáng đáng nhiều việc chỉ mong phu tử cảm thông màcùng bắt tay gánh vác đại nghiệp, cho " quả đức thoả lòng ao ớc tìm thầy và
đời này đợc nhờ khuôn phép của kẻ tiến giáo Thế thì may lắm!" [8, 547] Lậpluận khôn ngoan sắc sảo nh thế đã đặt Nguyễn Thiếp vào tình huống không
Trang 39thể từ chối Đến đây không thấy có th trả lời chỉ biết rằng La Sơn phu tử vẫnmột mực không chịu xuống núi.
Sau khi mời ba lần thất bại Nguyễn Huệ quyết tâm phải gặp cho đợc "Lão già táo bạo dám từ chối lời hiệu triệu của một vị đại tớng, một vị quốc v-
ơng"[8,551] Tháng 4/1788 Nguyễn Huệ trên đờng ra Thăng Long đã viết mộtlá th ngắn mời ông ra đại bản doanh Tây Sơn đóng ở núi Nghĩa Liệt gần bến
đò Phù Thạch Tại đây đã diễn ra một cuộc hội kiến " có một không hai tronglịch sử nớc ta" [8, 554] Một bên là võ tớng trẻ danh tiếng lừng lẫy, kinh thiên
động địa từ Nam chí Bắc còn một bên là cụ già ốm yếu ẩn thân lâu năm chốnrừng xanh
Hai ngời gặp nhau dới chân cột cờ Trơng Phụ Đây là chỗ cách đó hơn
3 thế kỷ đã có một cuộc hội chiến khác giữa một võ tớng với một văn thân:Trơng Phụ và Nguyễn Biểu Nguyễn Biểu cũng ngời huyện La Sơn đợc vuaTrần sai tới dinh Trơng Phụ cầu phong Nguyễn Biểu đã lấy lời chính trực đáplại võ tớng nhà Minh nên bị giết hại
Nguyễn Huệ sắp đặt cuộc gặp gỡ với Nguyễn Thiếp tại đây hẳn nhằmlấy tích xa để uy hiếp tinh thần ông đồng thời đa ra câu hỏi hiểm hóc bắt bẻ,
đa ông vào thế bí: " Đã lâu nghe đại danh Ba lần cho tới mời Tiên Sinh khôngthèm ra ý Tiên Sinh cho quả nhân là thằng giặc nhỏ, không đủ làm kẻ anhhùng trong thiên hạ chăng?" Nguyễn Thiếp bình tĩnh trả lời: " Hơn 200 nămnay quyền về tay họ Trịnh hung bạo Vơng mới đa quân ra một lần mà dứt đ-
ợc, lập lại nhà Lê Với danh nghĩa thì anh hùng ai lại chả theo Nếu giả tiếngnhân nghĩa nói dối tôn vua để lấy tiếng thì lại hoá ra một kẻ gian hùng" Quacâu trả lời chân thật khảng khái của ông, Nguyễn Huệ bèn " thay đổi sắc mặt,ngồi lại một mà tiếp Ngài" Lần này chính bản lĩnh ngang tàng của một bậc
đại trợng phu" uy vũ bất năng khuất" đã chinh phục đợc Nguyễn Huệ Saucuộc gặp gỡ định mệnh ấy hai ngời bắt đầu hiểu và có cái nhìn chính đáng vềnhau hơn
Sau một thời gian giúp đỡ Quang Trung, đến năm 1792 Nguyễn Huệqua đời, Nguyễn Thiếp lại lui về núi sống ẩn dật cho đến cuối đời
2.2 Những đóng góp của La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp với lịch sử và văn hóa dân tộc
2.2.1 Những đóng góp của La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp đối với lịch sử
2.2.1.1 Những đóng góp trong phong trào nông dân Tây Sơn.
Trang 40* Quân sự
Trong thời gian sống trên sơn trại Nguyễn Thiếp vẫn luôn chú ý rènluyện về đạo đức bằng cách c xử, giáo huấn Tiếng tăm của ông lan toả khắpmột vùng rộng lớn ở Hoan Châu Nguyễn Thiếp ở ẩn không phải để hởng thụcuộc sống an nhàn mà để đợi thời Ông đã mong mỏi:
Đến khi chính đạo ra vào thung dungVì đạo không chính nên phu tử không giúp Trịnh Sâm tiến ngôi vua Lê.Vì đạo không chính nên phu tử ban đầu cũng từ chối giúp Nguyễn Huệ
Thế rồi bởi lẽ gì mà rốt cuộc phu tử lại bằng lòng nhận lời hợp tác vớiQuang Trung? bởi lẽ gì mà lúc đã già còn chấp nhận bị mang tiếng thờ hai vua
và mất cái thanh danh trọng vọng của sỹ phu trong hàng chục năm?
Lúc gặp Nguyễn Huệ tại sao phu tử không bắt chớc các bậc tiết nghĩa
xa, nh Nguyễn Thái Bạt nhổ vào mặt Mạc Đăng Dung rồi đập đầu vào đá màchết; hoặc nh Hoàng Ngạn Chơng mà phu tử trớc đó có thơ tán, bị nhà Mạc ép
ra làm quan bèn trẫm mình tử tiết; hoặc nh ông tham tri chính sự Nguyễn HuyTrạc vừa mới bị triệu ra giúp Tây Sơn đã uống thuốc độc cho khỏi nhục thân?
cử chỉ phu tử bấy giờ làm cho nhiều ngời không hiểu và thất vọng
Thật ra chính phu tử đã hiểu thấu đạo trung dung của Khổng giáo, hành
động của những ngời tử tiết rất đáng kính, đáng tôn Nhng đó là huyết dũngtheo lời sách "Trung Dung"
"Lấy độ lợng để dạy ngời, dẫu ngời vô đạo mình cũng làm ngơ, đó làmột thứ dũng, dũng ngời phơng Nam mà quân tử theo Lăn vào nơi giáo mác,chết cũng không nản, đó là một thứ dũng, dũng của ngời phơng Bắc mà kẻmạnh bạo theo Quân tử theo dũng phơng Nam mà không theo dũng phơngBắc Quân tử cứ vừa chừng mà không theo ngời thờng, cân bằng mà khôngmếch bên nào cả Lúc nớc có đạo thịnh thì không thay chí cũ, lúc nớc không
đạo thì dẫu đến chết cũng không đổi chí mình Đó mới là cờng… đã giúp tôi trong việc thu thập tài" (Nam vàBắc ở đây là nói dân Trung Hoa ở phía Nam và dân mọi rợ hung hãm ở miềnBắc).[8,662]
Lúc ban đầu, phu tử cho Tây Sơn là quân cờng bạo nên không chịu giúp Sau đó lại nghĩ rằng Tây Sơn có thể lập lại ngôi Lê, nên phu tử chịu ra yếtkiến Chính Bình Vơng và khuyên bảo Vơng nên giữ lời hứa giúp vua Lê Đếnlúc cụ thấy vua Chiêu Thống không biết tự lập, để cho họ Trịnh lại bề chuyênchính, rồi để Nguyễn Hữu Chỉnh chuyên quyền mà lại rốt cuộc đem quân