1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Góp phần tìm hiểu quê hương, cuộc đời và sự nghiệp của nguyễn công trứ

80 1,5K 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Góp phần tìm hiểu quê hương, cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Công Trứ
Tác giả Lê Văn Phúc
Người hướng dẫn Phan Trọng Sung
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2006
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 233 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mảnh đất từ lâu đời nay đợc xem là “Địa linh nhân kiệt” này là quê hơng của nhiềunhân vật lịch sử, danh nhân văn hoá trong đó có Nguyễn Công Trứ, một nhânvật có nhiều đóng góp cho lịch s

Trang 1

Trờng đại học vinh

khoa lịch sử - -

Lê Văn Phúc

Tóm tắt Khoá luận tốt nghiệp đại học

Góp phần tìm hiểu quê hơng, cuộc đời

và sự nghiệp của Nguyễn Công Trứ

chuyên ngành lịch sử Việt Nam

Giáo viên hớng dẫn: Phan Trọng Sung

Vinh - 2006

Trờng đại học vinh

khoa lịch sử - -

Trang 2

Lê Văn Phúc

Khoá luận tốt nghiệp đại học

Góp phần tìm hiểu quê hơng, cuộc đời

và sự nghiệp của Nguyễn Công Trứ

chuyên ngành lịch sử Việt Nam

Hà Tĩnh, Th viện tỉnh Nghệ An, Th viện Trờng Đại học Vinh, Khoa Lịch

sử - Trờng Đại học Vinh, Ban quản lý di tích ở địa phơng của các huyện:

Trang 3

Tiền Hải, Kim Sơn, Nghi Xuân, cụ Vũ Dơng Tấn - ngời trông coi Truy T từ

ở Kim Sơn, đặc biệt là sự giúp đỡ quý báu, sự chỉ bảo tận tình, chu đáo của thầy Phan Trọng Sung - giáo viên trực tiếp hớng dẫn.

Qua đây chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các cơ quan, đơn

vị, quý thầy cô đã quan tâm giúp đỡ để khoá luận này đợc hoàn thành.

Với trình độ và thời gian có hạn, chắc chắn khoá luận sẽ không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Rất mong các thầy cô cùng các bạn chỉ bảo, giúp đỡ.

Xin chân thành cảm ơn !

Tác giả

Trang 4

A Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Nghi Xuân xa và nay là một trong những cái nôi văn hoá dân tộc Mảnh

đất từ lâu đời nay đợc xem là “Địa linh nhân kiệt” này là quê hơng của nhiềunhân vật lịch sử, danh nhân văn hoá trong đó có Nguyễn Công Trứ, một nhânvật có nhiều đóng góp cho lịch sử dân tộc

Tuy không phải là nhân vật quyền thế bậc nhất một thời nhng ông làmột trong số ít ngời đợc chính sử nhà Nguyễn nhắc đến nhiều nhất Hầu nh từkhi ra làm quan cho đến khi về hu, năm nào cũng có những sự kiện đợc ghichép có liên quan ít nhiều đến Nguyễn Công Trứ Và không chỉ có chính sử,Nguyễn Công Trứ còn là nhân vật của nhiều giai thoại thú vị, đặc sắc lu truyềntrong dân gian, là ngời đợc nhân dân lập sinh từ (đền thờ sống) để ghi nhớcông lao Thơ văn của ông còn lu lại không nhiều nhng gây tranh luận có lẽkhông thua kém Truyện Kiều của Nguyễn Du Nguyễn Công Trứ, trên thực

tế ông là ai mà lại độc đáo, đa dạng và phức tạp đến thế? Đã có nhiều ngời tìmcách cắt nghĩa, trả lời cho câu hỏi này Và ngày nay, chúng ta đứng ở thời

điểm thế kỷ XXI, cũng cần phải tìm ra cách cắt nghĩa của thời đại mới bằngnhững thông tin mới, cũ mà khoa học lịch sử và văn học đã tích luỹ đợc, saocho sự tiếp cận ngày càng khoa học hơn, sát thực hơn và công bằng hơn

Cho đến nay, khi bàn về nhân vật Nguyễn Công Trứ, vẫn còn những vấn đềcần làm sáng tỏ hơn Ví nh vị trí của Nguyễn Công Trứ trong lịch sử nói chung,trong lịch sử văn học nói riêng nh thế nào? Nhất là trong sự nghiệp khai hoang của

ông mà dấu vết còn đậm nét ở những nơi nh Tiền Hải, Kim Sơn đợc nhân dân mãimãi ghi công, ca ngợi cần đợc thế hệ Việt Nam ngày nay trân trọng và đánh giá

nh thế nào? Quan niệm sống, phong cách sống của Nguyễn Công Trứ dới triềuNguyễn có ý nghĩa tố cáo một chế độ phản động hay không?

Đứng trớc những vấn đề đang còn nhiều kiến luận nh trên, cần thiếtphải có sự tìm hiểu thận trọng, chính xác về cuộc đời và sự nghiệp củaNguyễn Công Trứ mới có thể đánh giá thoả đáng những cống hiến của ôngcho dân tộc

Trang 5

Là ngời sinh ra và lớn lên trên vùng đất quê hơng Nguyễn Công Trứ, lại

đ-ợc biết đến ông ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trờng phổ thông qua những bài họclịch sử, bài thơ và những câu chuyện kể về truyền thống quê hơng ông Tôi muốnqua khoá luận tốt nghiệp này tập hợp t liệu, góp phần đánh giá cuộc đời, sựnghiệp và công lao của ông trong lịch sử dân tộc Và cũng muốn qua đó thể hiệnlòng ngỡng mộ của tôi đối với một danh nhân thời đại

Bởi những lý do trên, cùng với sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáo hớng

dẫn Phan Trọng Sung mà tôi chọn đề tài Góp phần tìm hiểu quê hơng, cuộc

đời và sự nghiệp của Nguyễn Công Trứ” làm khoá luận tốt nghiệp của mình.

2 Lịch sử vấn đề

Là một nhân vật có đóng góp không nhỏ cho lịch sử dân tộc, NguyễnCông Trứ đã đợc khá nhiều nhà nghiên cứu biết đến trong những bài viết, bàithảo luận đợc đăng trên tạp chí nghiên cứu lịch sử ở nhiều số Đặc biệt làtrong cuốn “Nguyễn Công Trứ về tác gia và tác phẩm” do Trần Nho Thì biênsoạn đã giới thiệu và tuyển chọn đợc rất nhiều bài viết về Nguyễn Công Trứ

Công trình nghiên cứu đầu tiên về Nguyễn Công Trứ là của giáo s LêThớc (1928) Đó là “Sự nghiệp và thi văn của Uy Viễn tớng công NguyễnCông Trứ”

Có thể nói, đây là công trình nền tảng về t liệu mà cho đến nay cáccông trình nghiên cứu về Nguyễn Công Trứ vẫn phải dựa vào

Từ cuối những năm 80 trở lại đây, trong bối cảnh mới của cách mạng

n-ớc ta, trong không khí đổi mới của cả nn-ớc, việc nghiên cứu đánh giá NguyễnCông Trứ cũng có những chuyển biến to lớn Đây là lúc mà nói theo cách nóicủa Nguyễn Khoa Điềm: “Chúng ta có thể nói đầy đủ hơn về Nguyễn CôngTrứ để yêu mến, quý trọng ông, một trí thức lớn, một nhà chính trị, một nhàkinh tế và nhà thơ lớn của đất nớc” Đặc biệt là cuộc hội thảo chuyên đề

“Nguyễn Công Trứ - Con ngời, cuộc đời và thơ” ngày 15/12/1994 tại Trờngviết văn Nguyễn Du, đã có rất nhiều bài viết, nhiều bài tham luận để tìm hiểu,

đánh giá về Nguyễn Công Trứ

Trang 6

ở Hà Tĩnh là quê hơng của Nguyễn Công Trứ nên cũng có một số tàiliệu, sách báo nói về Nguyễn Công Trứ do Sở văn hoá thông tin tỉnh biên soạn

nh cuốn “T liệu về Nguyễn Công Trứ” Trong các sách nói về danh nhân HàTĩnh Nguyễn Công Trứ cũng đợc đề cập đến nhiều

Trên vùng đất Nghi Xuân, Tiền Hải, Kim Sơn trong giới hạn của lịch sử

địa phơng, những di tích có liên quan đến Nguyễn Công Trứ đợc giới thiệu nh

là những trang tự hào về truyền thống của quê hơng

Là ngời đợc nhắc đến nhiều trong lịch sử nhng do nhiều lý do khácnhau, cho nên phần lớn các tài liệu, các bài viết về Nguyễn Công Trứ chỉ dừnglại ở mức độ giới thiệu sơ lợc, chủ yếu là tìm hiểu và đánh giá Nguyễn CôngTrứ qua thơ ca của ông Còn đóng góp của ông trong công cuộc khẩn hoang,trong lĩnh vực chính trị, quân sự vẫn cha đợc nghiên cứu toàn diện Trongkhoá luận này, tôi xin mạnh dạn tổng hợp, đánh giá một vài khía cạnh đó

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tợng nghiên cứu

Đối tợng của đề tài là tìm hiểu về quê hơng, cuộc đời sự nghiệp và đónggóp của Nguyễn Công Trứ trong lịch sử dân tộc Do đó chúng tôi chủ yếu đisâu tìm hiểu các vấn đề có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới đối tợngnghiên cứu đã xác định trên

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Tìm hiểu vùng mất Quỳnh Côi - phủ Thái Bình để biết về nơi NguyễnCông Trứ sinh ra và hiểu thêm về tuổi thơ của ông Bên cạnh đó trong phạm vinghiên cứu của đề tài chúng tôi còn tìm hiểu về mảnh đất Nghi Xuân và làng

Uy Viễn nơi đã góp phần hun đúc nên bản lĩnh và tính cách của Nguyễn CôngTrứ sau này

Tìm hiểu một cách có hệ thống cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn CôngTrứ Qua đó nghiên cứu những đóng góp của ông đối với dân tộc mà đặc biệt

là đóng góp trong công cuộc khẩn hoang, mở rộng diện tích canh tác

Trang 7

Qua việc tìm hiểu đó rút ra một số nhận xét mang tính chất đánh giá

b-ớc đầu về cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Công Trứ

4 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu

4.1 Nguồn t liệu

Để hoàn thành khoá luận này chúng tôi đã dựa vào những nguồn t liệuchính sau:

- Công trình nghiên cứu Sự nghiệp và thi văn của Uy Viễn tớng công

Nguyễn Công Trứ của giáo s Lê Thớc (1928) Nhà in Lê Văn Tân, Hà Nội

Đây là công trình biên khảo đầu tiên mang tính chất nền tảng về t liệu

để chúng tôi nghiên cứu

- Nguyễn Công Trứ về tác gia và tác phẩm do Trần Nho Thìn giới thiệu

và tuyển chọn Nhà xuất bản giáo dục Hà Nội, 1995

Đây là quyển sách tập hợp nhiều bài viết của nhiều nhà nghiên cứu lịch

sử cũng nh các giáo s danh tiếng trong ngành và đã trình bày nhiều khía cạnh

về Nguyễn Công Trứ, trong đó có nhiều cách đánh giá khác nhau về đóng gópcủa ông trong lịch sử dân tộc

- Cuốn t liệu về Nguyễn Công Trứ do Mai Khắc ứng su tầm và biên

soạn Sở Văn hoá thông tin Hà Tĩnh, 2001

Đây là cuốn sách tập hợp khá đầy đủ những t liệu có liên quan đếnNguyễn Công Trứ Đặc biệt là phần giới thiệu đã trích dịch về Nguyễn Công

Trứ qua Đại Nam thực lục, Đại Nam chính biên liệt truyện của Quốc sử quán

triều Nguyễn, mà chúng tôi chủ yếu dùng để trích trong khoá luận

- Một số tài liệu khác nh: Đại cơng lịch sử Việt Nam tập 1 (Trơng Hữu

Quýnh chủ biên) làm cơ sở cho việc tìm hiểu về bối cảnh lịch sử nớc ta cuối

thế kỷ XVIII, nửa đầu thế kỷ XIX Địa chí huyện Nghi Xuân do Lê Văn Diễn

(biên soạn) (2001) Sở Văn hoá thông tin Hà Tĩnh Cuốn Hội thảo chuyên đề

Nguyễn Công Trứ - Con ngời, cuộc đời và thơ” ngày 15/12/1994 tại Trờng

viết văn Nguyễn Du mà các bài viết, bài tham luận đã đợc in thành cuốn sáchcùng tên Nhà xuất bản Hội nhà văn, Hà Nội, 1996

Trang 8

- Ngoài ra tôi còn tham khảo một số bài viết ở tạp chí nghiên cứu lịch

sử nh: Nguyễn Công Trứ và những việc ông làm hồi thế kỷ XIX của Văn Tân

đăng trên Tạp chí nghiên cứu lịch sử số 152, (1973) Nguyễn Công Trứ - Con

ngời nho sỹ của Nguyễn Tài Th đăng trên Tạp chí nghiên cứu lịch sử số 5,

(1978) Các tài liệu về hiện vật nh: Đền thờ và mộ Nguyễn Công Trứ ở NghiXuân, Hà Tĩnh Đề thờ Nguyễn Công Trứ ở Kim Sơn, Tiền Hải

Trên cơ sở những tài liệu đó và sự tự mày mò nghiên cứu của bân thân,tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài của mình

4.2 Phơng pháp nghiên cứu

Khoá luận dựa vào chủ nghĩa duy vật lịch sử, t tởng Hồ Chí Minh vàquan điểm đờng lối của Đảng ta làm cơ sở phơng pháp luận cho việc nghiêncứu Trình bày sự kiện trung thực, xem xét sự vận động của lịch sử trong mốiliên quan chặt chẽ với nhau, từ đó đa ra những nhận xét đánh giá bớc đầu Đểthực hiện nội dung chính của khoá luận này, chúng tôi đã lựa chọn các phơngpháp: phơng pháp lịch sử và phơng pháp lôgic, phơng pháp so sánh, xác minhphê phán t liệu lịch sử, phơng pháp phân tích, tổng hợp và phơng pháp điền dã,thực địa Trong phơng pháp điền dã, chúng tôi đã đến các huyện Kim Sơn,Tiền Hải ghi lại một số hình ảnh về khai hoang thuỷ lợi, giao thông, đê lấnbiển và các ngôi đền mà nhân dân lập nên để ghi nhớ công lao của NguyễnCông Trứ

Trang 9

Thân sinh Nguyễn Công Trứ là Nguyễn Tần (có tài liệu ghi là NguyễnCông Tấn), quê ở làng Uy Viễn - Nghi Xuân, nay là xã Xuân Giang huyệnNghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh Là ngời học giỏi, thi đỗ Giải nguyên năm Kỷ Vị,triều Lê Y Tông, niên hiệu Vĩnh Hữu thứ 5 (1739) Sau đó ông đợc bổ làmgiáo thụ phủ Anh Sơn, trấn Nghệ An.

Tại Nghệ An, ông Tần đã lấy vợ là bà Đặng Thị Thử, ngời làng Tả Ao,tổng Xuân Viên, huyện Nha Nghi (sau đổi là huyện Nghi Xuân) Nhng khôngmay bà Thử mất sớm Về sau ông Tần mới lấy bà Nguyễn Thị Phan (tài liệucủa Phòng văn hoá - thông tin huyện Nghi Xuân - Hà Tĩnh ghi tên bà làNguyễn Thị Cảnh), con gái thứ hai của quan Quản nội thị tớc Cảnh Nhạc Bá,ngời xã Phợng Dực, huyện Thợng Phúc trấn Sơn Nam Thợng, nay là tỉnh HàTây

Sau một thời gian làm Giáo thụ phủ Anh Sơn Nguyễn Tần đợc bổ làmtri huyện huyện Quỳnh Côi, phủ Thái Bình Bà Nguyễn theo chồng về QuỳnhCôi và sinh hạ Nguyễn Công Trứ trong t thất của mình tại huyện lỵ QuỳnhCôi Cho đến đầu thế kỷ XIX, Thái Bình mới chỉ là tên gọi của một phủ thuộctrấn Sơn Nam Hạ Phủ Thái Bình lúc này có 4 huyện là Đông Quan, ThuỵAnh, Phụ Dực và Quỳnh Côi

Trang 10

Huyện lỵ Quỳnh Côi nằm trên nền đất do phù sa của các con sông:sông Hồng, sông Luộc và một phần sông Thái Bình bồi đắp Đây là mảnh đất

có một quá trình lịch sử khá lâu dài Các nhà khảo cổ học đã phát hiện đ ợc ởQuỳnh Xá (thuộc Quỳnh Côi cũ) các hiện vật nh lục lạc ngựa, mũi tên,ngọn giáo và những chữ tiền bằng đồng có niên đại tơng ứng với đồ đồng

Đông Sơn

Con sông Luộc chảy từ phía Tây Bắc tỉnh, tạo ra một nhánh chạy quaPhụ Dực rồi đổ vào sông Hoá nối giữa Phụ Dực và Quỳnh Côi Không nhữngbồi đắp phù sa cho Quỳnh Côi mà đây còn là một huyết mạch giao thông để nốiQuỳnh Côi với bên ngoài Đó cũng là con đờng mà Lí Bí đã hành quân (544 -548) Vào thuở ấy, dải đất Thái Bình ven sông Luộc đã là nơi tiện cho nhữngngời mu việc lớn chọn làm thế ỷ đốc Triệu Quang Phục (549 - 570) và về sau

là một số thủ lĩnh của thời “Thập nhị sứ quân” nh Kiều Công Hạn, Ngô Xơng

Xí, Đỗ Cảnh Thạc đã giành nhau chốt giữ nơi này Từ thời Lý, nơi đây đã làmột bức vách kề cẩn và hiểm yếu của quốc đô Thăng Long Nhà Trần thay nhà

Lý cũng rất chú ý đến vùng đất nằm giữa sông Thái Bình và sông Luộc KhiPhố Hiến đã nổi lên là nơi đô hội sau kinh kỳ thì Quỳnh Côi cũng là điểm trọngyếu nằm trên lối đi về từ Thăng Long và từ Hng Yên đến Tức Mạc

Thuở xa, huyện lỵ Quỳnh Côi nằm trên bờ con sông Sành, có phần ợng nguồn gọi là sông Xinh Đây là một con sông nhỏ mới đợc khơi mở dớithời Mạc, thuộc xã Định Linh, tổng Tiến Bá (nay là xã Quỳnh Minh) Nh vậy

th-là khi ông huyện Tần mới tới đây, vùng đất này cũng mới đợc mở mang Phốhuyện gồm những nhà lợp lá Khu huyện đờng có khang trang hơn một chútnhng cũng còn rất đỗi đơn sơ Thị trấn Quỳnh Côi cũng còn là một khu phố xámang nhiều tính chất thôn dã với một c dân bình dị, mộc mạc Bà Nguyễnsinh cậu Củng trong khung cảnh ấy, không khí ấy của huyện Quỳnh Côi.Vùng thị trấn Quỳnh Côi lúc đó là một phần thuộc thế giới tuổi thơ của béCủng Cách huyện lị không xa về phía đông bắc ở làng Hải An, quê vợ củaNguyễn Du (1766- 1820), một “Đại thi hào” cùng quê với ông Tần Hải An lànơi mà kể từ khi con rể của họ Đoàn là Nguyền Du đã thờng cùng anh trai vợ

là Đoàn Nguyễn Tuấn (cử nhân) về đây nghỉ ngơi Và biết bao nơi chốn, sự

Trang 11

kiện đáng chú ý khác, qua lời của dân gian, cậu cũng đều chú ý Cuộc sốngthực tế của xã hội đó khiến cậu bé sớm nảy nở thiên t và tự đặt ra những câuhỏi vì sao các nớc lại đi đánh chiếm lẫn nhau? Nào là vì sao trong dân thờnghay có sự kiện cáo? Ông bà ông Tần nhận ra là con trai muốn nghe nhiều biếtnhiều, đi nhiều và muốn đợc giải đáp những thắc mắc từ trong cuộc sống đờithờng cho đến những hiện tợng trong xã hội Mà ông Tần thì rất bận rộn vềviệc quan Ông là ngời biết thơng dân và tận tuỵ với nghĩa vụ Vì thế mà ôngcũng đợc triều đình tín nhiệm Khoảng 1783 thì từ tri huyện Quỳnh Côi, ông

đợc thăng làm tri phủ Tiên Hng (nay thuộc Hng Hà) ít lâu lại đợc thăng làmTham tán trấn Sơn Nam Trấn thành lúc này đặt ở Vị Hoàng về sau đổi là VịXuyên ở phía Bắc, tỉnh lỵ Nam Định bây giờ

Thế là vào khoảng từ bảy đến mời tuổi, cậu bé Củng đã theo mẹ đi đếnnhững nơi đóng lỵ sở của bố Từ dải đất ven sông Luộc, cậu Củng đã đến vớiven sông Hồng, những dải đất để lại nhiều sự tích đã một thời làm thay đổi cả

kỷ cơng của xã tắc Và chắc rằng cậu đã đợc nghe về lai lịch của một đại giatộc dòng họ Trần từ Yên Sinh (Đông Triều - Quảng Ninh) thiên di qua HiềnKhánh, Tức Mạc, Thiên Trờng (Nam Định) đến làng Lu Xá, huyện Ngự Thiênnay thuộc Hng Hà bên bờ sông Luộc, cùng một dải đất với huyện lỵ QuỳnhCôi

Sự di chuyển nhiều về nơi ở của gia đình ông tham tán Nguyễn Tần

đã ảnh hởng không nhỏ đến việc học hành của cậu Củng Nhng bù vào đó,cậu đợc lui tới nhiều nơi Các di tích lịch sử văn hoá gợi nhớ một quá khứbiến đổi, thăng trầm của đất nớc ấy đã gây cho cậu bé Củng những ấn tợngmạnh về sức sống của dân tộc Cũng vì hoàn cảnh đó mà cậu bé Củng đãphải theo học với nhiều thầy giáo ở nhiều địa ph ơng khác nhau Nhng đócũng là điều kiện để cậu tiếp xúc với các nhà Nho, các kẻ sỹ mà ở họ phần

đông là những ngời không thành đạt, không đợc Nhà nớc cu mang Họ chỉbằng bụng chữ và nếp sống thanh bạch của mình mà dựa vào dân để sinhsống Họ an bần lạc đạo, biết yêu ghét đúng mức nên biết nhìn xã hội mộtcách khách quan Không có điều kiện để thi thố tài năng trên các vũ đàikinh bang tế thế, họ ra sức truyền thụ những hiểu biết của mình cho lớp trẻ

Trang 12

Nguyễn Công Trứ đã lớn lên trong những lớp học nh thế “Và có lẽ đó lànhững t liệu sống để sau này cậu viết nên bài “Hàn nho phong vị phú”” [6,23].

Tháng 7 năm 1786 từ Phú Xuân, Nguyễn Huệ thống lĩnh đại quân raBắc, hành quân qua Vị Hoàng là thủ phủ của trấn Sơn Nam lúc bấy giờ Ng ờithiếu niên Nguyễn Công Trứ lúc này 9 tuổi, đã đủ sức để nhìn rõ khí thế củamột cuộc “cách mạng nông dân” cha từng có trong lịch sử Cảnh xóm làngchuyển động vì tiếng loa, mặt đất bụi mù vì vó ngựa và bầu trời bừng lênnhững cờ xí của nghĩa quân, đã để lại trong ngời thiếu niên trẻ tuổi này một ấntợng hào hùng, một sự suy nghĩ ban đầu về chí làm trai, một sự nghiệp khiếncho ngời ngời “đâu đấy tỏ”

Phong trào khởi nghĩa nông dân Tây Sơn bùng nổ, cũng là lúc thế cuộc đổithay Một số quan lại nho sỹ là những bề tôi trung thành của nhà Lê đến lúc nàybỗng nhận ra mình giữ lòng trung đến vậy để làm gì mà dứt bỏ những hoài niệm đốivới nhà Lê để đi theo một vơng triều mới thì khác nào họ đã đi ngợc lại đạo quânthần của Nho giáo Đức Ngạn hầu Nguyễn Tần là một trong những ngời nh vậy

Ông không theo Lê Chiêu Thống đào vong sang Trung Quốc và cũng không làmquan với triều Quang Trung mà quyết định xin về quê dạy học, sinh sống để kèmcặp tập rèn cho ngời con trai độc nhất của mình Quyết định đó của ông Tần cũngchính là lúc Nguyễn Công Trứ phải rời xa mảnh đất Thái Bình Nơi đã gắn bó vớituổi thơ của ông để về với miền Trung đầy nắng, gió Về với mảnh đất Nghi Xuân -nơi quê cha đất tổ Và lúc này Nguyễn Công Trứ đã bớc sang tuổi 12 - bắt đầu chomột cuộc sống mới, cuộc sống trong cảnh một gia đình nông dân đích thực

1.2 Vài nét về mảnh đất Nghi Xuân - Hà Tĩnh

1.2.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và cảnh quan môi trờng

Huyện Nghi Xuân nằm trên dải đất núi Hồng, sông Lam Từ xa xa đã

đợc nhiều ngời coi đây là miền thắng địa, thiên nhiên u ái gắn liền sông núi biển Một miền quê có nhiều tên làng, tên xã, tên ngời đã đi vào thi ca sử sách

-Trên bản đồ Hà Tĩnh, vùng duyên hải Nghi Xuân nhìn tựa hồ nh vầngtrăng non vừa nhô lên khỏi biển Vành trăng lỡi liềm đã ôm trọn ba phía Bắc,

Trang 13

Đông, Đoài của dãy Ngàn Hống Phía Đông của Nghi Xuân giáp biển; phía

Đông Nam đến cuối xã Cơng Gián, Đông Bắc đến xã Hội Thống (nay là XuânHội); phía Tây giáp với các huyện Hng Nguyên và Đức Thọ; phía chính Tâygiáp một đoạn sông Cả và phía chính Nam lấy nửa đỉnh núi Hồng làm giớihạn Vùng đất Nghi Xuân hẹp, trải dài nhng có đủ cả sông biển, núi đồi, đồngbằng, hải đảo; đúng là vùng “Sơn thủy hữu tình” Nghi Xuân nằm gọn trên toạ

độ 28031’ đến 18045’ vĩ độ Bắc và từ 105041’ đến 105051’ kinh độ Đông Vớidiện tích đất tự nhiên là 21.776km2, chiếm 3,59% diện tích đất tự nhiên toàntỉnh (số liệu thống kê năm 2000)

Về địa hình nổi bật ở Nghi Xuân là dãy núi Hồng Lĩnh nằm lệch vềphía Tây Nam, trải dài trên địa phận mời xã chiếm gần 1/2 diện tích đất tựnhiên của huyện Đây là một dãy núi đợc mệnh danh là “Danh sơn” đợc vuaMinh Mạng chọn là một trong chín cảnh quan danh thắng tiêu biểu cho khíthiêng sông núi Việt Nam, đợc khắc tên vào Cửu Đỉnh đặt ở kinh đô, gọi làAnh Đỉnh, đặt trong Thế Miếu Đối lập với cảnh non xanh là dòng sông Lamquanh năm nớc biếc chảy hiền hoà ôm trọn đất Nghi Xuân Có thể nói NghiXuân là huyện duy nhất có cả núi Hồng, sông Lam và biển đông trong địaphận của mình, mà từ lâu đời đã là biểu tợng của vùng đất Nghệ - Tĩnh

Vùng đồng bằng của Nghi Xuân vốn đã hẹp lại bị núi chia cắt thànhkhu vực đồng bằng chân núi và đồng bằng ven biển Đất đai ở đây chủ yếu là

đất cát và đất cát pha, đã ảnh hởng không nhỏ đến việc phát triển kinh tế nôngnghiệp của mảnh đất này

Về điều kiện khí hậu, Nghi Xuân nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa,hàng năm thời tiết phân biệt thành hai mùa rõ rệt Nhiệt độ trung bình tơng

đối cao, số ngày nắng trong năm khá dồi dào, đủ nhiệt lợng cần thiết cho gieotrồng, thu hoạch Thế nhng thời tiết cũng thờng xuyên chuyển đổi thất thờng

“Tháng 5 năm tật, tháng 10 mời tật” Đặc biệt Nghi Xuân chịu ảnh hởng củagió Tây Nam (gió Lào) đã bị biến tính khi qua dãy Trờng Sơn làm nhiệt độtăng lên Từng đợt gió kéo dài khiến cho cây cối sém khô nh bị đốt cháy, ảnhhởng đến mùa màng Trong dân gian có câu “Lúa trổ lập Hạ, buồn bã cả làng”hay “Ba ngày gió nam mùa màng mất trắng”

Trang 14

Chính điều kiện tự nhiên nh vậy nó cũng đã chi phối rất nhiều đến đờisống, tính cách của con ngời Nghi Xuân Và cũng chính vì vậy, từ thời cổNghi Xuân đã là vùng đất trọng yếu, có đầy đủ điều kiện về địa lý để trở thànhmột trung tâm chính trị, kinh tế của quốc gia.

Theo truyền thuyết, vua Hùng định chọn nơi đây làm Đế Đô theo chỉ

định của đàn chim Phợng Hoàng Hồng Lĩnh có 99 đỉnh núi, 100 con chimbay về, một con không có nơi đỗ nên đàn chim Phợng Hoàng bay đi, kinh đôvì thế không thành! [17, 10]

Đất Nghi Xuân với địa thế đã in dấu vó ngựa và chiến thuyền của vuatôi, binh lính nhà nớc phong kiến Việt Nam trong thời kỳ mở nớc và dành độclập

Thời Lý - Trần đất này là cửa ngõ, là bến bãi của vùng phên dậu - biênviễn nớc nhà, là trung tâm dân c không những có nhiều đền chùa tôn giáo màcòn có nhiều làng xã đông đúc, những bến thuyền nhộn nhịp trong sự phát đạtcủa nhiều nghề thủ công Sự phát đạt đó đã đi vào thơ ca:

Hoan nam tĩnh trấn thành cao đoạn

Cửu thập Hồng phong tĩnh tráng quan”

Nghĩa là: Là trấn lớn ở phía Nam Châu Hoan

Lê Lợi trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, khi gặp khó khăn đãvào Nghệ An (bao gồm cả Hà Tĩnh ngày nay) lấy nơi đây làm đất đứng chân,củng cố lực lợng để tổng phản công Bấy giờ cùng với cả vùng Nghệ - Tĩnh,Nghi Xuân đã đóng góp nhiều nhân tài vật lực Đất đai chung quanh NgànHống đã là những trại sản xuất lơng thực cho nghĩa quân khi “Đức Cao Hoàngtừng trải bớc hiểm nghèo”

Trang 15

Sau khi nhà Lê hng thịnh, đất Nghi Xuân luôn là nơi dừng chân của nhàvua khi tuần thú phơng Nam “Hồng Lĩnh lai phong, Nghi Xuân dịch mã” cónghĩa là “Qua núi Hồng Lĩnh, Nghi Xuân là con ngựa trạm”

Trạm Chế (thuộc xã Xuân Lam ngày nay) là một Trạm giao liên quantrọng trên trục đờng thiên lý từ Thăng Long vào đến Đèo Ngang Mùa hè năm

1470 vua Lê Thánh Tông khi nghỉ chân ở đây đã ghi lại cảm xúc qua bài thơNôm “Vĩnh làng chế”:

Bóng ác non đoài ban xế xế

Bỗng đâu đã tới miền Trạm Chế Mênh mang khóm nớc nhuốm màu lam Chất ngất đỉnh non trùm bóng quế Chợ họp bên sông gẫm có chiều Thuyền bày trên đất xem nhiều thế Cảnh vật bằng đây hoạ có hai Vì dân khoan giảm bên tô thuế”

Vua Gia Long năm 1802, sau khi thống nhất sơn hà, vỗi vã ra Bắc đểphủ dụ dân chúng, đã dừng lại ở Trạm Chế để nghỉ ngơi Nguyễn Du lúc này

đang ở Tiên Điền quê cha, đợc tin, vội vã lên Trạm Chế ra mắt nhà vua, đợcGia Long thu dụng, cùng cho theo ra Bắc Cùng lúc này, Nguyễn Công Trứ ở

Uy Viện bấy giờ còn “Bạch diện th sinh” cũng lên Trạm Chế xin gặp nhà vuatrình “Thái bình thập sách” (mời điều trị nớc) Mặc dù không đợc Gia Longchấp nhận, nhng điều này đã sớm nói lên tài năng kinh bang tế thế củaNguyễn Công Trứ

Đất Nghi Xuân không chỉ đợc thiên nhiên u đãi nhiều sản vật, đặc biệt làsản vật biển và các loại khoáng sản, không chỉ có một vị trí địa lý một thời làvùng đất trọng yếu mà còn là vùng đất đợc thiên nhiên ban tặng cho nhiều cảnh

đẹp Đã có hàng ngàn bài thơ (chữ Hán) của các tao nhân mặc khách từ vua,chúa đến các đại thần, các nhà khoa bảng, từ các danh sĩ đến các thi nhân cangợi cảnh đẹp và con ngời Nghi Xuân Trong số đó phải kể đến Hoàng giáp BùiDơng Lịch (1757-1827) đã có 8 bài thơ tuyệt tác ca ngợi tám cảnh đẹp củaNghi Xuân, để từ đó ngời đời sau quen gọi là “Nghi Xuân bát cảnh” [17, 13]

Trang 16

- Hồng sơn biệt chớng (núi Hồng chăng dài)

- Đan Nhai quy phàm (Thuyền về Cửa Hội)

- Song ng hý thuỷ (Đôi cá giỡn nớc)

- Cô độc lâm lu (Núi cô độc giữa dòng)

- Quần mộc bình sa (Lùm cây trên bãi cát trắng)

- Uyên Trờng danh tự (Chùa Giằng nổi tiếng)

- Hoa phẩm thắng triền (Chợ hoa phẩm đẹp bên sông)

Những cảnh đẹp đó không những có giá trị về mặt văn hoá mà còn cógiá trị về mặt tinh thần, chắp cánh cho tâm hồn biết bao thi nhân, góp phần tạonên nét đẹp văn hoá cho vùng đất Nghi Xuân

Ngày nay khi về Nghi Xuân, những cảnh đẹp ấy mặc dù bị mai một theothời gian, nhng những dấu tích và giá trị của nó vẫn còn nguyên vẹn NghiXuân bây giờ lại là nơi khiến ngời ta phải đến thăm với những di tích lịch sử -văn hoá có tầm cỡ nh: Khu lu niệm và mộ Nguyễn Du ở Tiên Điền, Đền thờ và

mộ Nguyễn Công Trứ ở Xuân Giang và còn nhiều cảnh quan du lịch khác

Bộ mặt Nghi Xuân đã rạng rỡ, tơi tắn, xinh đẹp lên rất nhiều Đời sốngnhân dân đang từng ngày đợc cải thiện, đã xuất hiện nhiều gia đình giàu, tỉ lệ

hộ đói nghèo đợc giảm thiểu Nhiều nhà cao tầng đợc mọc lên bên cạnh cáccông trình công cộng khang trang bề thế Cảng Xuân Hải luôn có tàu, thuyềnchở hàng hoá vào ra, cạnh đó cảng cá Xuân Phổ vừa đợc xây dựng hiện đại

Đờng sá giao thông và hệ thống cầu cống đợc mở rộng Hầu hết các xã đều có

đờng rải nhựa chạy qua 100% số xã trong huyện có điện lới quốc gia phục vụsản xuất và đời sống Chợ Giang Đình đợc xây dựng lại quy mô ngăn nắp hơnnhiều Các di tích lịch sử và văn hoá đã đợc Nhà nớc đầu t tôn tại thích đáng

nh khu lu niệm Nguyễn Du và khu lu niệm Nguyễn Công Trứ đã vui lòngkhách hành hơng, tham quan du lịch Khu nghỉ mát và bãi tắm Xuân Thành đ-

Trang 17

Song ng hải khoát Nhợc ngộ minh thời Anh hùng tú phát”

Câu thơ cổ phảng phất làn điệu phong thuỷ đã có từ ngàn năm nay,khẳng định đất Nghi Xuân với núi cao, sông sâu, biển rộng Nếu gặp lúc thanhbình, vua biết lấy đạo học, lễ, nhạc, thi để trị nớc thì nhất định nơi đây liên tụcnảy nở nhân tài

Trong tiến trình lịch sử dân tộc, Nghi Xuân là mảnh đất xuất hiệnnhiều nhân vật nổi tiếng đợc sử sách lu danh, mà đa số họ là những ngời xuấtthân từ giáo dục khoa cử Nho học

Ngời Nghi Xuân có truyền thống trọng đạo học Việc học ở đây khácvới nhiều nơi, đã trở thành bổn phận của con em trong các gia đình, khôngphân biệt thấp hèn, địa vị Nhiều “Anh học”, “Anh nho” và cả các cử nhân,tiến sĩ nh: Phạm Thế Ngự, Hoàng Ngạn Chơng, Võ Thời Mẫn, Nguyễn CôngTrứ, Nguyễn Mai, Trần Quang Trung đều xuất thân từ những gia đình nghèo.Bởi vậy dân gian có câu:

“Ông Nghè, ông cống sống bởi ngọn khoai

Anh học, anh Nho nhai hoài lộc đỗ ”Nhiều dòng họ nh họ Nguyễn, họ Hà ở Tiên Điền, họ Nguỵ ở XuânViên, họ Trần ở Xuân Phổ, họ Phan ở Xuân Mỹ thời trớc nhiều năm mấtmùa, khoai sắn thay cơm mà cả nhà đều thành đạt:

“Sáng khoai, tra khoai, tối khoai, khoai ba bữa

Ông đỗ, con đỗ, cháu đỗ, đỗ cả nhà ”Ngời Nghi Xuân học để đỗ đạt, học để thành tài, học để thành nhân,học để làm quan, học để thành danh, để thoát khỏi nghèo đói mà không phải

để tranh giành, ích kỷ

Đất Nghi Xuân sinh thành nuôi dỡng ngời Nghi Xuân thành nhữngnhân tài cho đất nớc trên mọi lĩnh vực:

Về chính trị - kinh tế nh: Nguyễn Nghiệm, Nguỵ Khắc Tần, Nguỵ Khắc

Đản, Nguyễn Công Trứ, nay có Uông Chu Lu, bộ trởng Bộ T pháp

Về quân sự nh: Phan Thiết Hán, Đặng Đình An

Trang 18

Về văn hoá - văn học: Nguyễn Du, Đặng Thái Bàng, Nguyễn Công Trứ,Nguyễn Hành, Đỗ Minh Dơng, Lê Đăng Tuyền, Trần Duy Tự

Về nghệ thuật - âm nhạc: Lê Hoá, Đào Mộng Long, Nguyễn Công Trứ

Về sử học: Có Nguyễn Nghiệm thời xa, ngày nay có Hà Văn Tấn

Về y học: Nguyễn Quỳnh, Nguyễn Nghi

Về th hoạ: Có Nguyễn Đảng, Phan Trừng Thanh (thời Nguyễn).Nguyễn Đảng đợc nhà vua giao viết, khắc các con dấu, các loại ấn tín

Về thợ mộc: Có Nguyễn úc, rất giỏi tay nghề, đợc về kinh dự chức Thiên

sự giám đốc Bộ công, toàn quyền trông coi xây dựng cung đình, nội phủ

Dới các triều đại phong kiến, Nghi Xuân có nhiều ngời thi đỗ ở học vịcao, làm quan và giữ những chức vụ trọng trách trong triều:

Dới thời Lê Sơ có: Hoàng Ngạn Chơng ở xã Mỹ Dơng (nay là xã XuânMỹ) đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ, khoa Đinh Mùi (1487), năm Hồng Đức- LêThánh Tông Làm quan đến chức Thừa Chánh sứ

Trần Bảo Tín ngời xã Khải Mông (nay là Xuân An) đỗ đệ nhất giáp, đệnhị danh (Bảng nhãn), khoa Tân Mùi (1511) đời Hồng Thuận - Lê Tơng Dực.Làm quan đến chức Đông các hiệu th Nhà Mạc cớp ngôi nhà Lê, ông bỏ quan

về ở ẩn tại núi Lần và mở trờng dạy học, nhân dân gọi đó là trờng quan Bảng

Ông dạy học trò chỉ vì một chữ “nghĩa” nên ông đợc tôn là “Nghĩa s”

Dới triều Mạc có Phan Cảo ở xã Phan Xá (nay là xã Xuân Thành) đỗ đệnhị giáp (Hoàng Giáp) khoa Mậu Tuất (1538) làm quan đến chức Hiển sát s,

bị chết trận đợc nhà Mạc phong tớc Văn trung bá

Dới triều Lê Trung Hng nổi bật có Nguyễn Nghiễm ở Tiên Điền Nói vềNguyễn Nghiễm, ngay từ thuở thiếu thời ông đã bộc lộ thần thái trong sáng,thông minh hết mực, nổi tiếng là thần đồng, 5 tuổi ông đã biết đọc sách, lên

10 tuổi đã thuộc lòng Kinh sự, 16 tuổi đỗ đầu huyện và đỗ Hơng cống NămVĩnh Khánh Lê Phế Đế ông đỗ đệ nhị giáp (Hoàng Giáp), năm đó ông mới 24tuổi Làm quan trải trong triều, ngoài trấn, công việc làm giỏi, có tiếng tămtừng làm Nhập thị kinh diên rồi Tổng tài Quốc sử quán kiêm Tế tửu Quốc TửGiám, kiêm Ngự sử đài Năm 1761 đợc thăng Thợng th Bộ công, kiêm chứcTham tụng (tể tớng) Năm 1762 đợc thăng hàm Thiếu bảo, tớc Xuân quận

Trang 19

công Khi ông mất đợc phong Xuân nhạc công, gia tăng thơng đẳng phúcthần, bao phong Đại vơng

Sự nghiệp của ông thể hiện trên mọi lĩnh vực Về chính trị, ông trởthành rờng cột của quốc gia, là chỗ dựa của nhà vua và triều đình Về kinh tế,

ông chủ trơng yên dân, cụ thể hoá bằng việc tổ chức dân khai hoang phục hoá

ở Nghệ An, Thanh Hoá, Sơn Nam Đồng thời ông đôn đốc nhân dân địa phơng

đạo con kênh nhà Lê kéo dài từ Thanh Hoá vào đến chân Đèo Ngang làm con

đờng thuỷ huyết mạch phục vụ kinh tế và quốc phòng

Ngoài ra Nguyễn Nghiệm còn là một nhà sử học và khảo cứu lớn Ông

là một trong những nhà sử học danh tiếng đời Lê, tác phẩm của ông bao gồmcuốn “Việt sử bị lãm”, “Lãng sơn đoàn thành đồ”

Nói đến mảnh đất Nghi Xuân, chúng ta không thể không nói đến têntuổi của một danh nhân đã đi vào sử sách đó chính là Đại thi hào Nguyễn Du

Nguyễn Du sinh năm ất Dậu (1765) tại phờng Bích Lâu, Thăng Longtrong một gia đình quý tộc lớn Thân sinh ông là Xuân Nhạc công NguyễnNghiệm Mẹ ông là bà Trần Thị Tần quê ở Kinh Bắc, đẹp nổi tiếng

Năm Quý Mão (1783) ông thi Hơng đỗ tam trờng (tú tài) đợc tập ấmHoàng tín đại phu, trung thành môn vệ uý tớc Du Nhạc bá, rồi nối chức ngờicha nuôi họ Hà, làm Chánh thủ hiệu - một chức quan võ nhỏ ở Thái Nguyên.Nhng con đờng hoạn lộ của ông chủ yếu dới triều Nguyễn

Xuất thân trong một gia đình quý tộc, Nguyễn Du đã kế thừa truyền thốngvăn học của gia đình và dòng họ Trớc Nguyễn Du dòng văn của họ Nguyễn Tiên

Điền đã có nhiều tên tuổi nh Nguyễn Nghiệm, Nguyễn Nễ với các tác phẩm

“Khổng Tử mộng chu công”, “Quế hiên thi tập”, “Hoa trình tiền hậu tập”

Nguyễn Du đã để lại cho đời nhiều tác phẩm văn học có giá trị về cả chữNôm và chữ Hán “Thanh hiên thi tập” là tập thơ chữ Hán gồm có 78 bài viết lúc ởQuỳnh Côi và những năm Nguyễn Du mới về Tiên Điền Đó là lời than thở vềcuộc sống long đong, là tâm sự, là thái độ của nhà thơ trớc cảnh đời lu lạc

Đến “Bắc hành tạp lục” viết trên đờng đi sứ Trung Hoa, thực chất t tởngcủa Nguyễn Du mới rõ dần Ông xót thơng cho những cuộc đời bất hạnh từ

Trang 20

em bé mồ côi, kẻ ăn xin, ngời dân quê tần tảo Ông ghét bọn tham quan,phản trắc, bọn trọc phú hớm hỉnh

Ngoài văn thơ chữ Hán các tác phẩm chữ Nôm của Nguyễn Du đều toát lên

t tởng, tâm hồn ông Thời gian sống ở Tiên Điền cho đến năm 1802 ông viết

“Thác lời trai phờng nón”, “Văn tế sống hai cô gái Trờng Lu” Đây là hai bản tình

ca thể hiện rõ tâm tình của tác giả, sự hoà điệu của thiên nhiên và con ngời Tácphẩm chữ Nôm nổi tiếng nhất của Nguyễn Du là “Truyện Kiều”, nó có ảnh hởngcực kỳ sâu rộng ở Việt Nam, trở thành một thứ kinh truyện, cuốn sách để học hỏi

lẽ đời cũng đồng thời đợc coi là sách bói, thành đối tợng để tập Kiều, đố Kiều và

ảnh hởng trở lại cả dòng thơ ca dân gian nh thơ ca vò vè

Ghi nhận những đóng góp lớn lao về nghệ thuật thơ ca, tổ chức văn hoákhoa học và giáo dục của Liên Hiệp quốc (UNESCO) đã công nhận Nguyễn

Du là danh nhân văn hoá thế giới

Tóm lại, Nghi Xuân là một mảnh đất có thể xem là “Địa linh nhân kiệt”

là nơi đã sản sinh ra nhiều anh hùng hào kiệt, nhiều danh nhân văn hoá, nhiềungời đỗ đạt, có đóng góp to lớn cho lịch sử dân tộc, cho đất nớc trong đó cóNguyễn Công Trứ Họ chính là những con ngời có phẩm chất đáng quý, lànhững tấm gơng sáng ngời đã trở thành động lực, thành giá đỡ và điểm tựatâm linh cho các thế hệ con cháu Nghi Xuân tiến bớc trong thời đại mới

1.3 Làng Uy Viễn - quê hơng Nguyễn Công Trứ

Huyện Nghi Xuân nằm trên dải đất núi Hồng sông Lam, từ xa xa đã

đợc nhiều ngời coi đây là miền thắng địa thiên nhiên u ái gắn liền sông núi biển Một miền quê có nhiều tên làng, tên xã, tên ngời đã đi vào lịch sử thi ca

-Nói đến Nghi Xuân là nói đến làng Tiên Điền, là một làng trong “Nghệ

An ngũ tuyệt” - Tiên Điền thơ, quê hơng đại thi hào Nguyễn Du Và điều cầnnói ở đây là phía Đông làng Tiên Điền là làng Uy Viễn có cảnh Giang Đìnhthuyền bè ngày đêm đô hội Đó là quê hơng nhà Dinh điền sứ, nhà thơ Nôm

đậm đà sắc thái ca trù Nguyễn Công Trứ

Làng Uy Viễn nằm giữa dải đất Nghi Xuân tơi đẹp Phía Đông của lànggiáp biển, phía Tây làng Uy Viễn là làng Tá úc (Tả Ao) quê hơng nhà địa lý

Trang 21

nổi tiếng Tả Ao với nhiều huyền tích lu truyền trong cả nớc Rồi phía ĐôngNam của cụm làng “Địa linh nhân kiệt” này là làng Cổ Đạm (là xã Xuân Hoangày nay) Làng Cổ Đạm chen giữa hai làng Phan Xá và Xuân Viên, một vùng

đất hào hoa có nhiều đào nơng sắc đẹp, giọng hay và nhiều ngời giỏi đờntranh, đờn nguyệt - Miền trai thanh gái lịch, cái nôi của các làn điệu ca trù đãmột thời thu hút sự mến mộ của nhiều sân khấu cung đình từ Cố đô Huế ra cáctỉnh Bắc Hà

Tám cảnh đẹp của Nghi Xuân đã bao đời gây nhiều cảm xúc cho dukhách thì hai trong số đó nằm trong mảnh đất Uy Viễn xa Đầu tiên phải kể đến

“Giang Đình cổ đỗ” (Giang Đình bến xa) Bến đò Giang Đình đợc nối từ làng

Uy Viễn đi qua xã Yên Lu - Chân Lộc (Nghi Lộc bây giờ) Bến đò này là mộtcảnh đẹp trong tám cảnh đẹp của huyện Thời xa còn gọi là bến đò Tả Ao

“Ông Nguyễn Xuân Nhạc ngời xã Tiên Điền khi về hu, đặt Hội Giang Đình ởtrên sông để đón rớc những ngời thi đậu vinh quy Do đó gọi là bến Giang

Chợ đợc họp bên bến Giang Đình, thế nên dân gian có câu ca:

Thuyền anh xuống chợ Giang Đình

Trang 22

nào cũng họp, nhân dân qua lại mua bán thờng xuyên, các nơi khác không so

đợc [2, 33]

Theo Vũ Ngọc Khánh trong Nguyễn Công Trứ cho biết khi lên 5 tuổi,

trong chuyến cụ Nguyễn Công Tấn về thăm quê, Nguyễn Công Trứ đã đợc chacho theo Có lẽ vì thế mà Nguyễn Công Trứ đã ớc ao sau này lớn lên đợc cha

mẹ cho về quê ăn học và vì thế mà ngay từ tuổi thơ Nguyễn Công Trứ đã cólòng yêu mến quê cha đất tổ Nơi đây không chỉ có dòng họ Nguyễn Công -

Uy Viễn, họ Nguyễn Tiên Điền mà còn có nhiều dòng họ nh họ Đặng Thai,

Đặng Duy, họ Hà, họ Lê Là những dòng họ nổi tiếng có nhiều nhà khoabảng Dẫu là lánh nạn hay đi tìm đất, tuy tính lịch sử khác nhau nhng Tổ phụ

họ đều dừng chân lại đây sinh cơ lập nghiệp Ngày nay cũng vậy, nhiều ngời

có tri thức, có địa vị trong xã hội đều sinh ra và lớn lên từ miền quê này ra đi

Ông Nguyễn Công Tần (thân sinh Nguyễn Công Trứ) là ngời đợc sinh

ra tại làng Uy Viễn, trên bờ sông Lam và dới chân núi Hồng Lĩnh Học hành

đỗ đạt rồi làm quan, thời trai trẻ của ông đã gắn bó với vùng đất quê hơng Chỉriêng khúc sông từ rú Rum (núi Thành) đi ra cửa Lam Giang cũng đã ghi dấubiết bao truyền thuyết Vào những giây phút nhất định của lịch sử, nơi đây đãxẩy ra những sự kiện rất thực mà tựa nh mơ Dân gian kể lại rằng, một phụ nữ

đang có mang thà để cho lính của giặc Minh mổ bụng lôi đứa con mình khimới là một cái thai non, chứ không chịu khai báo nơi trú ngụ của ngời chỉ huy

đội quân nghĩa dũng Một thi sỹ Đặng Dung viết câu thơ “Đòi phen mài kiếmdới trăng ngà” mà chờ giặc đến để tiêu diệt Một Nguyễn Biểu sau khi cả gan

ăn “cỗ đầu ngời” để tỏ thái độ không chịu đầu hàng trớc mặt tớng giặc Tấtcả những điều đó đã khiến Nguyễn Công Trứ khi về với mảnh đất tổ phụ này,

ông nhận ra nơi đâu con ngời cũng bền sức chịu đựng, dày đức hy sinh Vàcũng với vị thế hành chính, phong cảnh làng Uy Viễn sau này đã ảnh hởng rấtlớn đến việc hình thành nhân cách, sức chịu đựng bền bỉ, tính nhẫn nại củaNguyễn Công Trứ khi ông bớc đi trên con đờng hoạn lộ của mình

1.4 Gia đình, dòng họ

Trang 23

Theo gia phả họ Nguyễn Công, làng Uy Viễn cho biết, dòng họ NguyễnCông vốn không phải là gốc ở làng này Dòng họ Nguyễn Công trớc đây vốn ởhuyện Nam Đờng (sau đổi là Nam Đàn) phủ Anh Sơn Lê Văn Diễn trong

“Nghi Xuân địa chí” cũng ghi “Kỳ tiên Nam Đờng, Bạch Đờng nhân” Rồi VũNgọc Khánh khi nghiên cứu về Nguyễn Công Trứ, trong công trình của mìnhcũng ghi “phần mộ tổ tiên và họ hàng các chi phái ở xã Bạch Đờng, thôn YênPhúc vẫn rất đông” Đến thời ông tổ bốn đời của Nguyễn Công Trứ là NguyễnMinh Huy, ông đã dời nhà cửa từ thôn này về làng Uy Viễn, tổng Phan Xá,huyện Nha Nghi nay là xã Xuân Giang - Nghi Xuân - Hà Tĩnh để sinh cơ lậpnghiệp Dòng họ Nguyễn Công ở làng Uy Viễn - Nghi Xuân bắt đầu từ đó.Tính đến nay dòng họ Nguyễn Công đã có trên 500 năm sinh cơ lập nghiệptrên mảnh đất này

Thân sinh của Nguyễn Công Trứ là Đức ngạn hầu, Nguyễn Công Tần,

là ngời học vấn uyên bác, văn chơng lừng lẫy một thời Năm 24 tuổi NguyễnCông Tần thi đậu cử nhân Bắt đầu đợc sung chức Giáo thủ phủ Anh Sơn (trấnNghệ An) Sau đó đợc chuyển ra làm tri huyện huyện Quỳnh Côi, lại thănglàm tri phủ phủ Tiên Hng (Thái Bình ngày nay) Lúc ấy Tây Sơn lấy thànhThăng Long, vua Lê phải bỏ chạy Nguyễn Công Tần xớng nghĩa Cần Vơng đ-

ợc Lê Hoàng hay còn gọi là Lê Chiêu Thống phong cho tớc là Đức Ngạn hầu,Tham tán các việc nhung vụ sứ Sơn Nam (nay là Hà Đông) để chống cự vớiquân Tây Sơn Chẳng may bị thua, Nguyễn Công Tần muốn đi tìm vua LêChiêu Thống mới biết vua Lê Chiêu Thống đã sang Tàu cầu cứu, NguyễnCông Tần tỏ ra thất vọng, bèn trở về nhà thì nhà cữa đã bị quân Tây Sơn đốtphá mất cả Năm 1789, Nguyễn Công Tần đa gia đình trở về quê ở làng UyViễn - Nghi Xuân sinh sống, mở trờng dạy học Sau đó nhà Tây Sơn có mời

ông ra làm quan đôi ba lần, nhng Nguyễn Công Tần nhất định không ra, cứ ởnhà an bần lạc đạo cho qua ngày

Về đời t Đức Ngạn hầu Nguyễn Công Tần có ba ngời vợ: bà cả là bà

Đặng Thị Thử, ngời cùng quê Nghi Xuân với ông Nhng ăn ở với nhau cha đợcbao lâu thì bà Thử không may qua đời Nguyễn Công Tần lấy vợ thứ hai là bà

Trang 24

Trần Thị, tên tự là Dục Đức, hiệu Diệu thôn, ngời xã Tiên Bào - Nghi Xuân Bàkhông có con sau đó tự quy y vào chùa Trung Phu ở ngay xã Uy Viễn.

Bà kế thất thứ ba của Nguyễn Công Tần có tên là Nguyễn Thị Phan (tài liệucủa phòng văn hoá thông tin huyện Nghi Xuân - Hà Tĩnh ghi tên bà là bà NguyễnThị Cảnh) Là con gái thứ hai của quan Quản nội thị, tớc Cảnh Nhạc bá, ngời xãPhợng Dực, huyện Thợng Phúc, tỉnh Sơn Nam (nay là tỉnh Hà Đông)

Cũng theo gia phả họ Nguyễn Công, bản chép tay lu tại nhà ôngNguyễn Công Tuấn, cháu sáu đời của Nguyễn Công Trứ thì Đức Ngạn hầuNguyễn Công Tần có 6 ngời con, ba ngời con trai và ba ngời con gái Và cũngcho biết Nguyễn Công Trứ là con bà kế thất Nguyễn Thị Phan

Bản gia phả chép tay này cũng cho biết, trong ba ngời con gái của ĐứcNgạn hầu Nguyễn Công Tần, có một bà hiệu là Diệu Điển thiền s, nhan sắcdiễm lệ, t chất thông minh, lịch thiếp kinh sử, lại có tài văn thơ, thời bấy giờ

đã có tiếng là “năng văn nữ sỹ” Bà góa chồng lúc mời chín tuổi, nhất định thủtiết thờ chồng không tái giá cùng với ai Lúc bấy giờ có quan Tổng đốc tên làTrần Thận, nghe tiếng bà tài sắc tuyệt trần, bèn cậy ngời mối hỏi nhng bàkhông chịu nhận lời Quan ấy nhân lúc đang đêm đem quân lính bọc bắt, nhng

bà lãnh khỏi đợc, sau bí mật quy y ở chùa, bảo toàn đợc tấm lòng trinh tiết.Năm Minh Mệnh thứ 18, vua ban cho một cái biểu bằng vàng có bốn chữ

“trinh tiết khả phong” Còn những ngời con còn lại của Nguyễn Công Tầnchúng tôi không rõ vì trong gia phả chép tay của ông Nguyễn Công Tuấnkhông thấy nhắc đến, mà chủ yếu là chép đến Nguyễn Công Trứ

Về đời t, Nguyễn Công Trứ có tất cả có 13 ngời vợ Theo bản gia phảnói trên cho biết:

Bà cả có tên là Đặng Thị Minh, cháu nội Thái Bộc Khanh Hồng trạchhầu, là con gái của Duy Xuyên bá Đặng Công và mẹ là Hoàng Thị NguyễnCông Trứ lấy bà Đặng Thị Minh khi bà mới 15 tuổi và lần lấy vợ này củaNguyễn Công Trứ hiện nay vẫn còn một giai thoại rất hay Bà Đặng Thị Minhsinh đợc hai ngời con trai và hai ngời con gái

Bà thứ hai, có tên là Trơng Thị, ngời xã Hội Thống (nay là Xuân Hội)Nghi Xuân - Hà Tĩnh Bà sinh đợc một ngời con trai và hai ngời con gái

Trang 25

Bà thứ ba, có tên là Nguyễn Thị, quê ở Hà Nội, bà sinh đợc một ngờicon trai.

Bà thứ t, có tên là Trơng Thị, quê ở Nam Định, sinh một con trai

Bà thứ năm, có tên là Trơng Thị, quê ở Hng Yên, sinh đợc một ngời contrai và hai ngời con gái

Bà thứ sáu, có tên là Nguyễn Thị, quê Ninh Bình, sinh đợc một ngời contrai

Bà thứ bảy, có tên là Nguyễn Thị, quê ở Hải Dơng, sinh đợc hai con trai

Bà thứ mời một, Dơng Thị, quê ở Hà Hội sinh đợc sáu ngời con gái

Bà thứ mời hai, Nguyễn Thị, quê ở Gia Định, sinh đợc một ngời con trai

và một ngời con gái

Bà thứ mời ba, Trần Thị, quê ở Nam Định, sinh đợc một ngời con trai

Nh vậy là theo ghi chép của bản gia phả đó thì Nguyễn Công Trứ có đến

13 ngời con trai và 14 ngời con gái Cũng theo bản gia phả này cho biết các concủa Nguyễn Công Trứ không mấy ai thành đạt Vì vậy mà thơ ông có câu:

Ngồi buồn mà trách ông xanh

Khi vui muốn khóc, buồn tanh lại cời”

Nói tóm lại, gia thế Nguyễn Công Trứ là một nhà thi th thế phiệt, khoagiáp danh gia, Đức Ngạn hầu không chịu khuất tiết với Tây Sơn, đành vui thúlâm tuyền, cho trọn đạo thần tử, thật là “trung thần bất sự nhi quân” Diệu

Điện Thiền s không chịu ô danh với Trần Thận, tìm lối nơng thân cửa Phật,cho vẹn đạo tòng phu Thật là “Liệt nữ bất canh nhị phu” Trong một nhà màgồm đủ cả trung thần, liệt nữ, biển cơng thờng đã từng chói lọi trong cõi HồngSơn, Lam Thuỷ [19, 75]

Trang 27

Chơng 2

Cuộc đời sự nghiệp và những đóng góp

của Nguyễn Công Trứ trong lịch sử dân tộc

2.1 Bối cảnh lịch sử nớc ta cuối thế kỷ XVIII, nửa đầu thế

kỷ XIX

Đặc điểm cơ bản nhất của giai đoạn lịch sử này là chế độ phong kiếnViệt Nam đi vào con đờng khủng hoảng bế tắc Tình trạng Nam Triều - BắcTriều chấm dứt cha đợc bao lâu thì xẩy ra sự phân chia Đàng Trong - ĐàngNgoài Cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn lại nổ ra và kéo dài hơn nửa thế kỷ(từ 1627 - 1672) đã đẩy đất nớc vào vòng hỗn loạn Thực chất đây cũng chỉ làcuộc tranh giành quyền lực, là sự xâu xé quyền lợi, đâm chém lẫn nhau củacác tập đoàn phong kiến trên lng dân tộc ở Đàng Ngoài, tập đoàn vua Lê -chúa Trịnh với hệ thống chính quyền đợc tổ chức giống nh thời Lê sơ Nhngvua Lê chỉ là ông vua bù nhìn, là cái bóng mờ nhạt, còn mọi quyền lực đều tậptrung trong tay phủ chúa Trịnh ở Đàng Trong, kể từ năm 1558 khi NguyễnHoàng vào Nam lập nghiệp, trải qua chín đời chúa Nguyễn lúc này đã bị phe

đảng Trơng Phúc Loan chuyên quyền tiếm vị Máu xơng của nhân dân đã đổnhiều cho cuộc chiến tranh “nồi da nấu thịt”, “huynh đệ tơng tàn” này Sauchiến tranh, giai cấp thống trị phong kiến ở cả Đàng Ngoài lẫn Đàng Tronglao vào ăn chơi truỵ lạc, không còn năng lực quản lý xã hội Chính sách phongthởng và ban cấp ruộng đất cho công thần, quan tớc, quân đội và theo đó làtình trạng chấp chiếm ruộng đất của giai cấp địa chủ, cờng hào ngày càng phổbiến: “Bọn cờng hào, địa chủ ở địa phơng không những tìm mọi cách chiếm

đoạt ruộng t của dân và còn lũng đoạt ruộng đất công vốn đã bị Nhà nớc cắtxén rất nhiều”, “ruộng đất rơi hết vào nhà hào phú, còn dân nghèo thì không

có một miếng đất cắm dùi” [16, 395]

Để hạn chế tình trạng chấp chiếm ruộng đất của bọn địa chủ, cờng hào,năm 1773, phủ Chúa ban lệnh nghiêm cấm “Nhà quyền quý không đợc chiếmbậy ruộng đất của dân”, thế nhng hiệu quả không đáng kể Bên cạnh đó thì tệtham quan ô lại, sự ngng trệ của ngoại thơng và chính sách “ức thơng tỏa

Trang 28

cảng” của Nhà nớc đã làm cho nền kinh tế của đất nớc rơi vào tình trạng kiệtquệ, nhân dân sống cuộc sống điêu đứng, lầm than, đói khổ “dân gian bỏ cảcấy cày, các thứ tích trữ ở làng xóm hầu nh hết sạch dân phiêu tán dắt díunhau đi kiếm ăn đầy đờng Giá gạo cao vọt 100 đồng không đợc bữa no Nhândân phần nhiều phải ăn rau, ăn củ, đến nỗi phải ăn cả thịt rắn, thịt chuột, chết

đói chồng chất lên nhau, số dân còn lại mời phần không đợc một ” [16, 398].Mọi giá trị đạo đức xã hội gần nh bị đảo lộn Trong sự hỗn loạn cùng cực này,một lôgíc lịch sử tất yếu phải xẩy ra: đó là sự đấu tranh quyết liệt của quầnchúng bị áp bức Các cuộc khởi nghĩa của nông dân nổ ra liên tục từ Bắc tớiNam, tiêu biểu nh: khởi nghĩa của Nguyễn Danh Phơng (1740 - 1751); khởinghĩa Nguyễn Hữu Cầu (1741 - 1751); khởi nghĩa Hoàng Công Chất (1739 -1769); cuộc nổi dậy của Lê Duy Mật (1738 - 1770) Mà đỉnh cao của nó làphong trào nông dân Tây Sơn với vai trò của ngời anh hùng áo vải NguyễnHuệ - Quang Trung Đã lần lợt đánh đổ chính quyền Chúa Nguyễn ở ĐàngTrong, lật đổ chính quền Lê - Trinh ở Đàng Ngoài Làm chủ cả đất nớc Nhngrồi, triều đại nhà Tây Sơn tồn tại quá ngắn ngủi, ánh hào quang vừa loé lên đãchợt tắt Về thực chất, nhà Tây Sơn chỉ làm công việc đập tan một vơng triềunày để rồi cũng chỉ lập lại một vơng triều khác, không thể thoát khỏi phạm trùphong kiến “Nông dân khởi nghĩa là dấu hiệu đặc trng của khủng hoảng xãhội, phản ánh xung đột giai cấp đã trở thành trầm trọng, nhng nhìn vào kếtquảt của nó, hoặc là tái chuyên chế hoá, tức là lập ra nhiều triều đại mới, hoặc

là thất bại, không thể coi khởi nghĩa nông dân là hình thức giải quyết mâuthuẫn xã hội có ý nghĩa cách mạng” [13, 20]

Năm 1802, sau khi đánh bại triều Tây Sơn, làm chủ toàn bộ lãnh thổ

Đàng Ngoài và Đàng Trong, Nguyễn ánh lên ngôi hoàng đế, đặt niên hiệuGia Long lập ra nhà Nguyễn Thành lập và thống trị trong thế kỷ XIX cũng cónghĩa là Gia Long thừa hởng luôn thành quả bảo vệ và thống nhất đất nớc trớc

đó của nhà Tây Sơn Cha bao giờ trong lịch sử phong kiến Việt Nam lại cómột vơng triều đất rộng, dân đông, giàu mạnh nh vậy Và trong cơn say khátcủng cố thế lực độc tôn, vơng triều nhà Nguyễn sẵn sàng loại bỏ những gì tráivới tham vọng thiết chế của họ Để rồi, từ đây lại phát sinh những mâu thuẫn

Trang 29

trầm trọng hơn Cuộc đấu tranh giai cấp lại gay gắt và phức tạp hơn Thế kỷXVIII sang đầu thế kỷ XIX đợc xem là thế kỷ khởi nghĩa nông dân Mời bảynăm thời Gia Long, hai mơi năm thời Minh Mạng, bảy năm thời Thiệu Trị,gộp lại gần 50 năm mà đã có tới non 400 cuộc khởi nghĩa Đó là cha kể đếnthời Tự Đức và các triều đại sau này Điều này chứng tỏ, mặc dù đợc thốngnhất dới một vơng triều nhng chế độ phong kiến đã tỏ ra lỗi thời và lạc hậu,

đời sống của ngời nông dân không đợc cải thiện, ý thức đối lập của ngời nôngdân với Vơng triều phong kiến thống trị ngày càng gia tăng Chính vì vậy màkhi phơng Tây nổ súng xâm lợc nớc ta vào năm 1858, giai cấp thống trị khôngthể đứng nổi trong cùng một chiến tuyến với nhân dân Đất nớc lại một lầnnữa rơi vào vòng tay ngoại bang

2.2 Cuộc đời

2.2.1 Khoa cử công danh

Nh trên đã nói, Nguyễn Công Tần đem gia đình về quê khi NguyễnCông Trứ đã bớc sang tuổi 12 và mời một năm sau (1800) Giải nguyênNguyễn Công Tần qua đời, lúc này Nguyễn Công Trứ đã bớc sang tuổi 23 vàtrở thành trụ cột của một gia đình Từ ngày ông Tần mất đi, gia đình lâm vàocảnh túng thiếu, Nguyễn Công Trứ phải gánh vác nghĩa vụ của một ngời con,một ngời chồng, chủ của một gia đình neo đơn và nghèo khổ Tuy nhiên,Nguyễn Công Trứ vẫn không lơi lỏng bút nghiên Mọi vất vả thiếu thốn docảnh một gia đình nhà nho thất lộc rồi ngày một sa sút Dần dần Nguyễn CôngTrứ đã nếm trải: “Phên vách ngăn nửa bếp, nửa buồng; ống mía đựng đầu kê,

đầu đỗ” (bài Hàn nho phong vị phú của Nguyễn Công Trứ) Đó là cảnh sốngthực của gia đình ông, của một hàn nho lúc này Thế nhng cũng trong cảnhbần hàn đó Nguyễn Công Trứ không nguôi rèn chí làm trai và nuôi mộng côngdanh Công và danh gắn liền với học và thi Bảy năm làm mọi nghĩa vụ với gia

đình nhng không sao nhãng việc học Và, phải học nh thế nào đó mới dám václêù chõng ra trờng thi: Tự tin, hy vọng ông viết:

Đi không há lại trở về không

Cái nợ trần hoàn phải trả xong

Trang 30

Rắp mợn điền viên vui tuế nguyệt Quyết đem thân thế hẹn tang bồng

Đã mang tiếng ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông Giữa cuộc trần ai, ai dễ biết Rồi ra mới tỏ mặt anh hùng.”

Nợ núi sông mà đấng nam nhi phải trả, theo quan niệm của NguyễnCông Trứ là “công danh” mà muốn đạt đến công danh thì phải có học vị,nghĩa là phải qua khoa cử Và rồi khoa thi đầu tiên cũng đến

Vào thời gian cuối triều Quang Toản (1793 - 1802) và đầu triều GiaLong (1802-1820) việc thi cử không tiến hành đợc Đến năm Đinh Mão(1807) mới có khoa thi Hơng đầu tiên dới triều Nguyễn Nguyễn Công Trứứng thí và năm đó ông đã 30 tuổi Theo dân gian truyền lại thì đêm trớc củangày lên đờng, ông còn đi hát ả đào Khi kéo lều chọng ra đi, tự tin ông cònlàm giúp vợ đôi câu đối tặng chồng và tự chúc mình:

Nhờ trời phù hộ chồng tôi, miếng khoa giáp ăn xanh ph

ờng sĩ tử.

Ơn chúa yêu vì bố nó, nợ trần hoàn trang trắng mặt nam nhi

Khoa thi này Nguyễn Công Trứ là sĩ tử trờng Nghệ An, do Tả tham tri

bộ lễ Nguyễn Gia Cát làm Đề điệu, hiệp trấn Hng Hoá Nguyễn Đình Tú làmgiám thí, Thiêm sự Bộ binh Hoàng Trọng Toản làm Giám khảo Kết thúc khoathi, trờng Nghệ An chỉ có 8 ngời trong số hàng ngàn sĩ tử dự thi “đợc ban mũ

áo và đại an yến” [22, 8)] Nguyễn Công Trứ không qua đợc kỳ thứ nhất Bạn

ông, một ngời hay chữ nh Phan Huy Chú cũng chỉ vào nhị trờng (tú tài) màthôi

Tay trắng trở về không, con ngời ông lại bị thắt chặt thêm vào cảnh túngquẫn, đói nghèo của gia đình Lễ của triều đình lúc này lại cứ 6 năm mới cómột khoa thi Nguyễn Công Trứ vẫn hăm hở, hy vọng, chờ đợi trong cảnh túngquẫn, đói nghèo ấy Ông biết, muốn có công danh thì phải tập rèn cho văn hay,chữ tốt, phải qua thi thố nên ông vẫn không ngừng việc nấu sử sôi kinh

Thế rồi khoa thi Hơng thứ hai dới triều Nguyễn cũng đến - khoa thi

H-ơng năm Quý Dậu (1813) Nguyễn Công Trứ rất tự tin, chắc rằng khoa thi này

Trang 31

thế nào mình cũng đỗ cao và nh thế sẽ kết thúc việc thi cử để lo xây dựng sựnghiệp Cũng trớc khi kéo lều chõng đến trờng thi ông làm đôi câu đối:

“Anh em ơi, băm sáu tuổi rồi, khắp Đông Tây Nam Bắc bốn phơng trời,

đâu cũng lừng danh công tử xác;

Trời đất nhẽ, một phen này nữa, xếp cung kiếm cầm th vào một gánh,làm cho nổi tiếng trợng phu kềnh”

Khoa thi này, trờng Nghệ An do Lê Quýnh, Hữu tham tri bộ lễ làm đề

điệu; Phạm Quý Thích, Thị trung học sĩ làm Giám thí; Trần Hữu, Đông Cáchọc sĩ làm giám khảo Lấy đỗ 12 ngời [22, 54] Nguyễn Công Trứ qua vònghai thì vắng tên Phan Huy Chú, ngời đã vào đợc kỳ thi thứ hai (nhị trờng)khoa thi Đinh Mão (1807), giành bảng tú tài, lần này cũng vậy Một con ngờinổi tiếng hay chữ đến nh Nguyễn Công Trứ còn nể trọng, hai lần thi cũng chỉ

đạt đợc mức tú tài và đợc coi là ông “Kép Chú”

Tự tin là thế, háo hực, hy vọng là thế mà kết quả là thế ! Chân tú tài màNguyễn Công Trứ nhận đợc ở khoa thi này chẳng bõ bèn gì với sức học, thựctài và nhất là niềm tự tin mà ông đã ớc định Lại về làng, ngời mẹ càng giàyếu, các con thì đông thêm, ông Tú càng thấm thía thêm về cảnh nghèo, vềthân phận của kẻ nghèo Nhng rồi ông tìm cách tự động viên mình: “Hay làtrời còn cho rảnh để mình còn đợc vui chơi” Và cũng trong thời gian này ôngcàng dốc tài cầm thi của mình vào những sinh hoạt trò bội, phờng ca trù Đểrồi từ sinh hoạt hát ả đào đã nâng Nguyễn Công Trứ lên tầm cao về hồn ngời,hồn thơ Và chính những ngời nh Nguyễn Công Trứ đã góp phần làm cho hát ả

đào Cổ Đạm lừng danh thuở ấy

Thời gian vui chơi thì thờng là ngắn, những đêm vui trong sinh hoạt hát

ả đào rồi cũng phải gác lại cho một trận bút khoa sắp tới - khoa thi H ơng năm

Kỷ Mão (1819) Lần này Nguyễn Công Trứ lại lều chọng lên đờng “nợ sách

đèn, cơm áo đã dày lắm rồi mà học tài thi phận, chỉ một phen này nữa mà đãchắc chi danh toại công thành” Ông tú tâm sự với vợ nh vậy [6, 49] Và lầnnày ông đi thi trong sự yên lặng

Khoa thi Hơng năm Kỷ Mão (1819) Nguyễn Công Trứ ứng thí tại trờngthi Nghệ An, lúc này ông 42 tuổi Khoa thi này tại trờng Nghệ An do quan Vũ

Trang 32

Đức Thông, hữu Tham tri Bộ hình làm Đề điệu; Hoàng Long Hoán, Ký lụcdinh Quảng Bình làm Giám thí; Nguyễn Chân Ngôn, Thiêm sự bộ hình làmGiám khảo Tơng truyền lúc này tiếng tăm của Nguyễn Công Trứ đã nổi lênkhắp nơi Lúc đến kỳ thi, Tả quân Lê Văn Duyệt vì đang cần ngời cùng mìnhchèo chống công việc nên đến gặp chủ khảo khoa thi, dặn phải lấy đỗ NguyễnCông Trứ ở học vị cao Nhng đó chỉ là một câu chuyện tơng truyền trong dângian Kết quả khoa thi này lấy đỗ 14 ngời, Nguyễn Công Trứ đỗ Giải nguyên,

đứng đầu bảng hổ:

1 Nguyễn Công Trứ, làng Uy Viễn, Nghi Xuân

2 Đặng Huy Tuất, Kim Khê, Nghi Lộc

3 Hồ Minh Tịnh, Phú Minh, Quỳnh Lu

4 Nguyễn Năng Tĩnh, Thịnh Trờng, Nghi Lộc

5 Hồ Sĩ Lâm, Quỳnh Đôi, Quỳnh Lu

6 Lê Sĩ Thờng, Đồng Xuân, Nam Đàn

7 Nguyễn Chơng Đạt, Trung Cần, Thanh Chơng

8 Bùi Văn Tán, Yên Đồng, Đức Thọ

9 Nguyễn Huy Triêm, Vạn Lộc, Nghi Lộc

10 Nguyễn Hữu Tố, Đô Lơng, Nam Đàn

11 Lê Hữu Tuệ, Lạc Phố, Hơng Sơn

12 Nguyễn Đức Hiển, Hoành Sơn, Thanh Chơng

13 Phan Bá Đạt, Việt Yên, Đức Thọ

14 Nguyễn Bùi Nhã, Nộm Liễu, Nam Đàn [21, 20]

Nh vậy sự khổ công của ông đã đợc đền đáp Nguyễn Công Trứ đứng

đầu bảng hổ trớc 3000 sĩ tử Sang năm sau Canh Thìn, năm Minh Mệnhnguyên niên (1820) Nguyễn Công Trứ 43 tuổi đợc bổ làm Hành tẩu ở Quốc Sửquán tại kinh đô Huế

2.2.2 Hoạn lộ thăng trầm

Lận đận chốn trờng thi, cuối cùng Nguyễn Công Trứ cũng có đợc danhvọng khi ông đã ở vào tuổi 42, đứng đầu bảng hổ - Giải nguyên, chuẩn bị đagia đình vào kinh đô Huế Những bớc thăng trầm trên con đờng hoạn lộ đang

Trang 33

Minh Mệnh nguyên niên (1820), Nguyễn Công Trứ đợc nhà vuaNguyễn Thánh Tổ cho vào làm Hành tẩu (chân tập sự) ở Quốc sử quán Đó lànhững ngày háo hức nhất cuộc đời ông Cha đầy một năm sau, vị Giải nguyênnày đợc chuyển sang ngạch chính thức biên tu (viết sử) Tham gia sơ khảo thiHơng tại trờng Trực Lễ (Thừa Thiên) và phúc khảo thi Hơng tại trờng SơnNam (Nam Định), Ân khoa Tân Tỵ, 1821 Hai năm sau, tức năm 1823,Nguyễn Công Trứ đợc bổ làm tri huyện Đờng Hào (Yên Mỹ, Khoái Châuthuộc tỉnh Hng Yên ngày nay) Đến năm Minh Mệnh thứ 5, tức năm 1824,Nguyễn Công Trứ đợc thăng lên bậc Lang trung Bộ lại, giữ chức T nghiệpQuốc Tử Giám (trờng đại học quốc gia đầu tiên) Tiếp đó, năm 1825, ông đợcchuyển sang làm Phủ thừa phủ Thừa Thiên Rồi ra làm Tham hiệp trấn ThanhHoa Năm 1826, thân mẫu Nguyễn Công Trứ qua đời, sau ba tháng đợc nhàvua cho về quê lo tang lễ thân mẫu, ông lại đợc nâng lên cấp Thị lang (tơng đ-

ơng với Vụ trởng bây giờ) Bộ hình, quyền biện Hình tào Bắc Thành, để cùngvới Nguyễn Hữu Thận, Trơng Văn Minh, Nguyễn Đức Nhuận tăng cờng phốihợp với Phạm Văn Lý, Phan Đình Bảo, Nguyễn Văn Phong dẹp cuộc bạo loạncủa Phan Bá Vành ở Trà Lũ vào năm 1827 Năm 1828 đợc nâng lên cấp Thựhữu tham tri Bộ hình, giữ chức Doanh điền sứ Thái Bình - Nam Định - NinhBình Ông dâng sớ khẩn hoang, diệt tệ cờng hào, trực tiếp tổ chức khai hoanglấn biển lập nên hai huyện Tiền Hải (Thái Bình), Kim Sơn (Ninh Bình) và haitổng Hoành Thu, Ninh Nhật (Nam Định) vào năm 1829

Vậy là, chín năm đầu tiên trên con đờng hoạn lộ, hăng hái, nhiệt thành,

đánh giặc giỏi, khai hoang di dân lập ấp có tâm và có tài, từ một cử nhân,Nguyễn Công Trứ đã vơn lên trên nghiệp quan trờng một cách quá suôn sẻ mànhiều vị tiến sĩ cha vơn tới Chính đó cũng là nguyên do để rồi nhân trong dịp

ông tổ chức khai hoang ở huyện Giao Thuỷ, trấn Sơn Nam Hạ có hai ngời tên làPhạm Nguyên Trung, ngời xã Liêu Đông và Ngô Huy Phúc ngời xã An Đạo đacho ngời giúp việc của ông một số bạc (khoảng 70 đến 90 lạng) nhờ xin quanDoanh điền sứ dành riêng cho họ một số ruộng làm t điền Nguyễn Công Trứcho bắt giam hai kẻ hối lộ cùng tang vật rồi dâng sớ báo lên vua Việc làmquang minh chính đại đó lẽ ra phải đợc mọi ngời suy nghĩ, noi theo, thì ngợc lại

Trang 34

các quan ở Bắc Thành vòng vo đình nghị buộc tội Nguyễn Công Trứ “ Xingiáng ba cấp, đổi đi nơi khác ” [21, 44].

Thì ra thời xa là thế, ngời có tài mà lại trung thực thờng hay bị ghenghét Bọn giá áo túi cơm không làm nên trò trống gì lại canh cánh sợ mất ănmới nghĩ ra trăm nghìn thứ xấu mà khoác cho ngời khác Tiền Hải, Kim Sơn

nh hai tấm bảng vàng làm lòng ngời lơng thiện xôn xao mà bụng bọn xu thờilại ghen ghét

Một hành vi đi cửa sau theo kiểu “gửi bà để mua ông” rành rành nh thế

mà các vị đại thần thay mặt vua cai quản xứ Bắc Thành vòng vo đổi trắng thay

đen quả là đáng sợ May thay, sự vụ này nhà vua Nguyễn Thánh Tổ chứng tỏmình còn là một đấng minh quân

“ Công Trứ đi theo đờng thẳng, tại sao lại cho là mua tiếng ngaythẳng Đó chẳng qua là ý kiến sai lầm cho nên bất giác đã bàn quá đáng Vậytruyền chỉ nghiêm trách thành thần mà Công Trứ thì miện nghị ” [21, 45]

Tháng 4 nhuận, năm Minh Mạng thứ 11, tức năm 1830, Nguyễn CôngTrứ đợc triệu về kinh và đợc bổ làm Hữu tham tri bộ Hình Lúc này TrơngMinh Giảng là Tả tham tri, Nguyễn Công Trứ đợc giao nhiệm vụ thanh trakhám xét nhập khẩu

Tháng giêng năm Minh Mạng thứ 12, năm 1831, nhân dịp về kinh, ThựHiệp trấn Nam Định Nguyễn Nhợc Sơn có cho Phí Quý Trại cùng đi Phí QuýTrại vốn là ngời trợ lý đắc lực của Nguyễn Công Trứ trong công cuộc khaihoang lập huyện Tiền Hải năm 1828 Bởi nhận biết năng lực, t cách của PhíQuý Trại nên Nguyễn Công Trứ đồng tình với Nguyễn Nhợc Sơn tâu xin nhàvua cho Phí Quý Trại làm chân Huyện thừa huyện Tiên Hải Xét cho cùng,việc hai ông bàn là vì lợi ích chung, không hề có t túi gì Thế nhng HoàngQuýnh tài đức tầm thờng nhng xu nịnh thì có bài bản, muốn hạ uy tín củaNguyễn Công Trứ để leo cao hơn mới thêu dệt rằng:

“ quan tớc là do các tiên dế cùng Thế Tổ Cao Hoàng đế để lại choHoàng Thợng, để đại kẻ hiền tài trong thiên hạ, cho nhà nớc dùng, cho nên dùmột tri hay nửa cấp Hoàng Thợng cũng cha tầng lấy tình thân ái mà cho riêng

ai Hai gã kia nghĩ thế nào, mà giám lấy quan tớc của triều đình làm cái quà

Trang 35

của mình để thù đáp riêng Xin trị tội để ngăn chặn con đờng cầu cạnh, mà rănnhững kẻ bề tôi dối vua làm riêng” [21, 49].

Trớc những lời thêu dệt của Hoàng Quýnh, nhà vua Nguyễn Thánh Tổ

đã xuống chỉ giáng bổ Nguyễn Công Trứ làm tri huyện Kinh huyện Nh vậy làmột việc tốt lại một lần nữa Nguyễn Công Trứ bị vu oan, để rồi từ Hữu Thamtri bộ Hình, Nguyễn Công Trứ bị giáng 4 cấp xuống làm tri huyện Kinh - quanhuyện không quản lý ai

Lịch sử đã đi vào quá khứ Thế nhng ngày nay khi tìm hiểu lại sự việcnày, chúng ta nh thấm thêm nỗi đau nhân thế Thiết nghĩ, thời nào dờng nhcũng vậy Bọn gian thần thì bao giờ cũng nhờ mồn mép xua nịnh mà leo cao,ngời ngay thẳng thờng hay bị nỗi oan chà đạp Nhìn lại cả một vùng đầm lầyhoang vu, dới bàn tay và đầu óc tài tình của Nguyễn Công Trứ đã biến thànhnhững thửa ruộng màu mỡ đã làm nên làng, nên xóm Những điều ấy HoàngQuýnh không mảy may hay biết Và chúng tôi thiết nghĩ, những ngời nh kiểuHoàng Quýnh không nói đến làm gì, đáng tiếc là nhà vua lại thiếu minh mẫn

để đình thần cách tuột ngời có công thực sự Cũng phải nhìn nhận một cáchthực tế rằng, Nguyễn Công Trứ bị hạ xuống rồi lại đợc nâng lên một chút đểban ơn và dờng nh đây cũng là một thủ đoạn cai trị của các ông vua triềuNguyễn

Bị giáng chức cha đợc bao lâu, vài tháng sau, nhà vua lại u ái nângNguyễn Công Trứ lên làm Viên Ngoại Lang ở nội vụ phủ, rồi nhanh chóngcho lên Lang trung nội vụ Cha kịp mừng thì tháng 5 năm Nhâm Thìn, tứcnăm 1832, Nguyễn Công Trứ lại nhận đợc chiếu chỉ đợc bổ làm Bố chánh HảiDơng Bốn tháng sau đã đợc giữ chức Tham tri Bộ hình, Thự Tổng đốc Hải -Yên (Hải Dơng - Quảng Yên) Tám tháng sau, tức tháng 5 năm Quý Tỵ, 1833,Nguyễn Công Trứ đợc bổ làm Tham tán quân vụ, tham gia dẹp cuộc khởinghĩa Nông Văn Vân Bởi khâu tiếp tế, triều thần tổ chức quá kém, binh sỹthiếu lơng thực thờng xuyên, vào mùa ma miền rừng núi Việt Bắc lại quá khắcnghiệt, nên Lê Văn Đức và Nguyễn Công Trứ tiến quân chậm hơn so vớimong muốn của nhà vua Vậy là các quan ở Bộ hình không biết gì về chuyệnchiến trờng, đón ý vua không vui, tâu xin khép hai ông vào tội xử tử May

Trang 36

thay nhà vua Nguyễn Thánh Tổ không nghe họ, chỉ xuống chiếu: “ NguyễnCông Trứ giáng ba cấp khiến cho thu công về sau để chuộc tội trớc”.

Nh thế đây là lần thứ ba Nguyễn Công Trứ bị án oan, phải lấy chiếncông mà gở tội Thật ra, nếu xét cho đúng tội là do bộ phận tiếp tế chậm vàkhông đủ Nếu có định tội lẽ ra phải trị bọn đánh giặc mồn ở phía sau, thì

đằng này lại hành hạ ngời đang xông pha ở phía trớc

Sau khi dẹp xong cuộc khởi nghĩa do Tri Châu Nông Văn Vân khởi ớng, tháng 6 năm Minh Mệnh thứ 16, tức ất Mùi, 1835, Nguyễn Công Trứ đ-

x-ợc trở về lỵ sở thự Tổng đốc Hải - Yên Tháng 7 cùng năm đx-ợc thăng bổ hàmThợng Th bộ Binh vẫn kiêm Tổng đốc Hải Yên Nhng không lâu sau ngày hânhoan ấy, bởi những ngời coi tù để tớng cớp Đoàn Danh Lại trốn thoát, NguyễnCông Trứ lại bị giáng bốn cấp nhng đợc “chuẩn cho lu dụng, định hạn điều tralùng bắt”

Năm 1839, Nguyễn Công Trứ đợc triệu về kinh, bỗng dng hơn mộttháng sau thì bị giáng chức xuống Hữu tham tri Bộ binh kiêm tả đô Ngự sửviện Đô sát là chủ khảo trờng thi Hà Nội (1840), khi trở về đợc nâng lên làmthự Đô Ngự sử vẫn kiêm Hữu tham tri Bộ binh rồi cho sung Tán lý cơ vụ trấnTây Thành

Nguyễn Thánh Tổ mất, Thiệu Trị lên nối ngôi lấy niên hiệu là Nguyễn Hiến

Tổ Tháng giêng năm Thiệu Trị nguyên liên, tức Tân Sửu, năm 1841, NguyễnCông Trứ đợc bổ làm Tham tán đại thần Nguyễn Công Trứ hai lần dâng sớ giánkín mật tấu về tình hình Tây Thành xin rút quân bị án trảm giam hậu giáng chứclàm Lang trung Bộ binh, nhng cho cách lu, quyền Tuấn phủ An Giang

Đến năm 1843, Nguyễn Công Trứ đợc thăng làm Tham tri Bộ binh,quyền Tuần phủ An Giang Lúc này ông ở dới quyền của Tổng đốc An Giang

là Nguyễn Công Nhàn Nguyễn Công Nhàn đã tầng là cấp dới của NguyễnCông Trứ nên khi ngồi đợc vào ghế Tổng đốc rồi, y nơm nớp lo sợ NguyễnCông Trứ Vì thế mà vụ thứ nhất Nguyễn Công Nhàn vu cáo Nguyễn CôngTrứ nhận tiền hối lộ của dân thôn Tân Hữu, tỉnh An Giang không thành, bởiquá lộ liễu Tiếp đó Nguyễn Công Nhàn lại nhân việc Đoàn Quang Mật bắt đ-

ợc Đội trởng đồn Chu Giang đi sang Chân Lạp do thám, Nguyễn Công Nhàn

Trang 37

lại tâu về triều vu cáo Nguyễn Công Trứ tổ chức buôn lậu Nguyễn Công Trứ

bị cắt tuột chức cũ, giáng làm lính thú Quảng Ngãi Vậy là một bậc trọng thầndanh tớng, tiếng tăm lừng lẫy khắp ngoài quận trong triều, mà nhất đán vì cáimiệng đứa tiểu nhân mà phải đem mình làm kẻ thú binh, thật quả là:

Tóm lại trên con đờng hoạn lộ, Nguyễn Công Trứ thật lắm niềm vui

nh-ng cũnh-ng lắm nỗi buồn Cái hoạn hải ba đào trên con đờnh-ng hoạn lộ luôn đeo

đẳng ông cho đến tận lúc ông nghỉ Xét về nguyên do, chúng tôi xin mợn lời

cụ Lê Thớc trong “Sự nghiệp và thơ văn Uy Viễn tớng công Nguyễn CôngTrứ” “Xét ra Nguyễn Công Trứ làm quan sở dĩ hay bị truất giáng nh thế là bởicái cớ tại ông cũng có Ngời có tài thờng có cậy tài và hay mang oán Nhngphần nhiều là bởi tại nhà vua có lòng hẹp hòi, không phân đinh công minh ”

2.3 Đóng góp của Nguyễn Công Trứ

2.3.1 Đóng góp của Nguyễn Công Trứ trong công cuộc khẩn hoang

Điều mà Nguyễn Công Trứ để lại cho chúng ta ngày nay đáng ghi nhớnhất và cũng đáng quý nhất là sự nghiệp khai khẩn đất hoang của ông Trớc

đây, nhân dân ta đã ghi nhớ công đức Nguyễn Công Trứ bằng những ngôi đềnthờ ông mà họ đã dựng lên ở miền Tiền Hải (Thái Bình) và miền Kim Sơn(Ninh Bình) Đặc biệt ở Kim Sơn, đền thờ Nguyễn Công Trứ đợc dựng lênngay khi ông còn sống từ năm 1856, đợc gọi là sinh từ và đây cũng là mộttrong những ngôi đền thờ Nguyễn Công Trứ đợc xem là lớn nhất

Trang 38

Nguyễn Công Trứ khai khẩn đất hoang và đã thành công rực rỡ từ gầnhai thế kỷ rỡi trớc đây Đó là việc rất đáng cho ngày nay chúng ta suy nghĩ vànghiên cứu

3.3.1.1 Tình cảnh ngời nông dân nửa đầu thế kỷ XIX

Nhà Nguyễn đánh bại nhà Tây Sơn lập ra vơng triều Nguyễn (1802) Thếnhng, chế độ nhà Nguyễn là chế độ mất lòng dân ngay từ khi nó mới đợc dựnglên Để đề phòng các cuộc khởi nghĩa của nông dân, nhà Nguyễn đã tổ chức một

đội quân thờng trực đông đến mấy chục vạn ngời Việc xây dựng lực lợng quân

đội đó không phải chủ yếu để chống ngoại xâm mà là để đàn áp các cuộc khởinghĩa nông dân Cùng với đội quân thờng trực này là một bộ máy quan liêu từtrung ơng đến địa phơng rất cồng kềnh Các vua nhà Nguyễn đã bắt nhân dân

đóng góp rất nhiều các khoản thuế khoá để nuôi bộ máy đàn áp của họ Sự đónggóp của nhân dân dù sao cũng có hạn Thực tế ở nhiều nơi, nhân dân đã xơ xác

đến mức không sao đóng nổi thuế cho Nhà nớc nữa

Từ cuối thế kỷ XVIII sang đầu thế kỷ XIX, nông thôn đồng bằng sôngHồng gặp khủng hoảng sâu sắc Số lợng ruộng đất công làng xã vào cuối thờiGia Long đầu Minh Mệnh suy giảm hẳn Chẳng hạn, năm 1803 quan lại ở BắcThành tâu: “Từ loạn Tây Sơn bỏ hết luật cũ, dân gian nhiều ngời đổi ruộngcông làm ruộng t, cũng có kẻ tạo sự việc công mà cầm bán ruộng công…” ”

Sau đây là biểu thống kê ruộng đất một số huyện vùng Sơn Nam

Huyện Số xã, thôn đợc

nghiên cứu

Tỉ lệ t điền(%)

Tỉ lệ công điền(%)

Trang 39

Những lý do đó đã đẩy ngời nông dân đến chỗ thiếu ruộng đất haykhông có ruộng đất để cày cấy, phải bỏ quê hơng đi phiêu tán hoặc nổi dậychống chính quyền

Sách “Đại Nam thực lục, tập XI, chính biên đệ nhị kỷ IV,trang102-103”chép rằng: “Từ năm 1802 đến 1806, ở các trấn Hải Dơng, Sơn Tây, Kinh Bắc,Sơn Nam Thợng và Hạ, Hoài Đức, Thái Nguyên, Hng Hoá, hộ khẩu 370 thôn

đã phiêu tán đi nơi khác, tô thuế thiếu hơn 7 vạn hộc, tiền thuế thiếu 11 vạnquan” Đến đầu năm 1927, “13 huyện thuộc trấn Hải Dơng, dân phiêu tán mất

108 xã, thôn, ruộng bỏ hoang 12.700 mẫu Tô vụ mùa năm trớc không lấy gì

Định, Thái Bình Năm 1928, theo Sách “Đại Nam thập lục, tập XI, chính biên

đệ nhị kỷ IV”, Minh Mệnh đã công nhận: “Ngày nay Bắc Thành chứa tệ màhạt Nam Định là nhất” [21, 35]

Nông dân phiêu tán bỏ ruộng đất không cày cấy, đó là một hiện tợngbất ổn đối với triều đình, nó báo trớc khởi nghĩa nông dân sắp nổ ra Vì nôngdân phiêu tán thờng là đạo quân hậu bị tốt nhất của các cuộc khởi nghĩa nôngdân Cho nên thu hút nông dân phiêu tán vào các cơ sở danh điền để cho họkhẩn hoang đất hoang và khi đã khẩn hoang đợc đất hoang cấp cho họ ruộng

đất để an c lạc nghiệp, đó là vấn đề cấp bách mà nhà Nguyễn phải giải quyết

2.3.1.2 Chủ trơng và biện pháp

Trớc tình hình trên, để cứu vớt dân nghèo, để ổn định xã hội, để khôiphục kinh tế, quan Tả thị lang Bộ hình Nguyễn Công Trứ là một trong nhữngngời đầu tiên nhìn thấy tính cấp bách của vấn đề khai khẩn đất hoang Ông đã

đề xuất chủ trơng doanh điền vùng đồng bằng ven biển Năm 1828, ông đã

Trang 40

dâng sớ lên Minh Mệnh xin “khai ruộng hoang để yên nghiệp dân nghèo”.

Ông đã nêu vấn đề cụ thể nh sau:

“Đời xa chia ruộng, lờng của để dân đợc có nghề, cho nên dân yên phậnlàm ăn ở nơi thôn ổ, không sinh lòng gian vậy Hiện nay, những dân đóinghèo, rong ăn rong chơi, lúc cùng lại rủ nhau trộm cớp, tệ ấy khó ngăn hết đ-

ợc Trớc kia tôi đi qua tỉnh Nam Định, thấy đất bỏ hoang ở miền Giao Thuỷ,Chân Định trông rộng mênh mông quá tầm mắt Ngoài ra ở những nơi kháccòn không biết mấy nghìn trăm mẫu Tôi từng hỏi ngời địa phơng, họ đềumuốn khẩn hoang cày cấy, nhng nhu phí quá lớn, lực không thể đơng Nếucấp cho công nhu sẽ có thể tập hợp dân nghèo khẩn khẩn ngay Nh thế thì nớcnhà bỏ ra không mấy mà cái lợi tự nhiên thì mãi mãi vô cùng Vả lại, bãi biểnTiền Châu ở Chân Định hoang vu, bọn phỉ thờng lấy chỗ đó làm tổ tụ tập Naynếu khai phá chỗ ấy, không những khả dĩ yên nghiệp nghèo, mà còn có thểtuyệt hẳn đảng ác nữa Xin ra lệnh cho trấn thần thân đi xem xét, phàm nhữngchỗ đất hoang có thể cày cấy đợc, sai những ngời có lực ở địa phơng chi ra coisóc công việc ấy, mộ dân cùng khố ở mọi hạt đến khai khẩn Nếu mộ đợc 50ngời thì lập làm một lý, cho làm lý trởng, mộ đợc 30 ngời thì lập một ấp, cholàm ấp trởng, đều tính đất chia cho Cấp cho tiền công để làm nhà cửa, muatrâu bò, nông cụ, lại lợng cấp tiền gạo lơng trong 6 tháng, ngoài hạn ấy thì làmlấy mà ăn Ba năm thành ruộng đều chiếu lệ ruộng t mà đánh thuê Quan phủhuyện sở tại lập kho chứa thóc để phòng năm mất mùa cho dân vay Nhữnglàng ấp mới lập gọi là “quân lực bản” (quân chính gốc, tức là những trại cănbản làm nông cốt) Phàm các hạt xét thấy những dân du đãng không bấu víuvào đâu đều đa cả về đấy Nh thế thì đất không bỏ hoang, dân đều làm ruộng,phong tục kiêu bạt lại thành thuần hậu” [13, 136 - 137]

Nguyễn Công Trứ lại xin cho ông đợc tự do thu dụng những tàn quânnông dân khởi nghĩa đang trốn tránh để dùng họ vào việc khai khẩn đất hoang

Ông tâu với Minh Mệnh: “Những tụi bình dân Bắc Thành trớc kia bị giặc hiếptheo có đến hàng nghìn, sợ hãi bỏ trốn biệt không có đờng về, không khỏi đitheo những tớng giặc còn trốn Xin phàm kẻ nào hối quá hoàn lơng thì cho

đến sở Doanh điền thú tội, theo sức mà cấp ruộng làm Những chỗ đất rải rác

Ngày đăng: 18/12/2013, 20:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16. Trơng Hữu Quýnh (chủ biên) (2001), Đại cơng lịch sử Việt Nam, tập 1 từ thời nguyên thuỷ đến năm 1858, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cơng lịch sử Việt Nam
Tác giả: Trơng Hữu Quýnh (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
17. Đặng Thanh Quê (2002), Đất Nghi Xuân ngời Nghi Xuân, Nxb VHTT tỉnh Hà Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất Nghi Xuân ngời Nghi Xuân
Tác giả: Đặng Thanh Quê
Nhà XB: Nxb VHTT tỉnh Hà Tĩnh
Năm: 2002
18. Nguyễn Thanh (1996), Đất Thái Bình với Nguyễn Công Trứ, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất Thái Bình với Nguyễn Công Trứ
Tác giả: Nguyễn Thanh
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 1996
19. Trần Nho Thìn (giới thiệu và tuyển chọn) (2000), Nguyễn Công Trứ về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Công Trứ về tác gia và tác phẩm
Tác giả: Trần Nho Thìn (giới thiệu và tuyển chọn)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
20. Lê Thớc (1928), Sự nghiệp và thi văn của Uỷ Viễn tớng công Nguyễn Công Trứ. Nhà in Lê Văn Tân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự nghiệp và thi văn của Uỷ Viễn tớng công Nguyễn Công Trứ
Tác giả: Lê Thớc
Năm: 1928
21. Mai Khắc ứng (su tầm và biên soạn) (2001), T liệu về Nguyễn Công Trứ, Sở VHTT tỉnh Hà Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: T liệu về Nguyễn Công Trứ
Tác giả: Mai Khắc ứng (su tầm và biên soạn)
Năm: 2001
22. Mai Khắc ứng (2003), Đôi điều về Tồn chất Nguyễn Công Trứ, Nxb Thuận Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi điều về Tồn chất Nguyễn Công Trứ
Tác giả: Mai Khắc ứng
Nhà XB: Nxb Thuận Hoá
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w