1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Góp phần tìm hiểu quá trình tổ chức lực lượng và xây dựng căn cứ khởi nghĩa phan đình phùng

63 437 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Góp phần tìm hiểu quá trình tổ chức lực lượng và xây dựng căn cứ khởi nghĩa Phan Đình Phùng
Trường học Trường Đại học Hà Tĩnh
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Tĩnh
Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 332,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đó cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng đợc xem làngọn cờ quy tụ phong trào vũ trang chống Pháp ở Nghệ Tĩnh và cả nớc: “Cuộcbiến loạn của Phan Đình Phùng cầm đầu lan tràn rất mau và có

Trang 1

Mục lục

Trang

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài. 4

a Đối tợng nghiên cứu

ơng 1 : Vài nét về phong trào yêu nớc chống Pháp ở

Trang 2

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài:

Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử chống ngoại xâm Góp phần tô

điểm cho những trang sử hào hùng và oanh liệt ấy không thể không kể đếnmột giai đoạn lịch sử đầy sôi động, đó là phong trào Cần Vơng chống Phápcuối thế kỷ XIX Trong đó cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng đợc xem làngọn cờ quy tụ phong trào vũ trang chống Pháp ở Nghệ Tĩnh và cả nớc: “Cuộcbiến loạn của Phan Đình Phùng cầm đầu lan tràn rất mau và có thanh thế lớn.Sánh lại những đám phiến loạn nỗi lên về trớc không thấm vào đâu”

Truyền thống nối tiếp truyền thống, từ khi chiếu Cần Vơng ban ra, nhândân Hà Tĩnh đã sôi nổi hởng ứng từ những ngày đầu và cuộc khởi nghĩa Phan

Đình Phùng đã có những đóng góp quan trọng, có tác dụng làm nên mộtphong trào yêu nớc chống pháp sôi nổi, sầm rộ suốt những năm cuối cùng củathế kỷ XIX, làm cho kế hoạch bình định nớc ta của thực dân Pháp bị đẩy lùilại sau 10 năm

Để hiểu rõ hơn những đóng góp của cuộc khởi nghĩa chúng tôi thiếtnghĩ đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu quá trình tổ chức lực lợng và xây dựng căn cứkhởi nghĩa để có cái nhìn đầy đủ, toàn diện về cuộc khởi nghĩa cũng nh diệnmạo của phong trào Cần Vơng cả nớc Những bài học kinh nghiêm rút ra từcuộc khởi nghĩa không chỉ có ý nghĩa đối với thực tiễn cách mạng nớc ta sau

đó mà còn đối với công cuộc bảo vệ và xây dựng quê hơng ngày nay nó vẫncòn những giá trị nhất định Đồng thời đóng góp một phần t liệu trong việcgiảng dạy lịch sử địa phơng ở trờng PTTH

Với những lý do và ý nghĩa nêu trên, chúng tôi đã chọn đề tài “Gópphần tìm hiểu việc tổ chức lực lợng và xây dựng căn cứ khởi nghĩa Phan ĐìnhPhùng” làm khoá luận tốt nghiệp của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề:

Khác với việc nghiên cứu phong trào Cần Vơng nói chung, việc tìm

Trang 3

Phan Đình Phùng cho đến nay vẫn cha đợc triển khai phổ biến Bởi vậy cácnguồn tài liệu cụ thể ở khía cạnh đề tài mà chúng tôi tìm hiểu còn nhiều hạnchế.

Cho đến nay đã có một số công trình, bài nghiên cứu đợc công bố nhsau:

- “ Phan Đình Phùng nhà lãnh đạo 10 năm kháng chiến (1885 - 1896) ởNghệ Tĩnh ”của Đào Trinh Thất

- Kỷ niệm 100 năm ngày Cao Thắng hy sinh (1893 - 1993): Tìm hiểuthêm về phong trào Cần Vơng Hà Tĩnh (1885 - 1893) của Đinh Xuân Lâm.Tạp chí nghiên cứu lịch sử - Trung tâm KHXH - NV Viện sử học Số 4 - 1993

- Bàn thêm về tính chất và vai trò lãnh đạo phong trào đấu tranh vũtrang chống xâm lợc Pháp vào cuối thế kỷ XIX của Đinh Xuân Lâm vàNguyễn Văn Khánh Tạp chí nghiên cứu lịch sử 6/1986

- Phan Đình Phùng Nhà xuất bản Quân đội 1960

- Kỳ niệm 70 năm ngày thắng trận Vũ Quang của nghĩa quân HơngKhê do Phan Đình Phùng chỉ huy ngày 26/10/1894

- Thái Kim Đỉnh Cao Thắng, nhà tổ chức, chỉ huy quân sự tài năng.Tạp chí văn hoá thông tin Hà Tĩnh 8/1992

- Thái Kim Đỉnh Cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng qua truyện kể lutruyền ở Nghệ Tĩnh Tạp chí nghiên cứu, khảo cứu văn hoá dân gian - SởVHTT Hà Tĩnh

Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu toàn diện hơn về phongtrào vũ trang chống Pháp cuối thế kỷ XIX nh: Chống xâm lăng của Trần VănGiàu, lịch sử 80 năm chống Pháp của Trần Huy Liệu, lịch sử Cận - Hiện đại

-Việt Nam - Một số vấn đề nghiên cứu Đinh Xuân Lâm Trung tâmnghiên cứu xã hội và phát triển NXB Thế giới, Hà Nội 1998

Một số cuốn sách địa phơng: Lịch sử Nghệ Tĩnh (Tập 1) NXB NghệTĩnh 1984, Danh nhân Hà Tĩnh (tập 1), Di tích danh thắng Hà Tĩnh Sở VHTT

Hà Tĩnh (1996 - 1997)

Trang 4

Nhìn chung các công trình đã trực tiếp, gián tiếp đề cập đến những khíacạnh của đề tài chúng tổi tìm hiểu Từ sự tiếp cận những nguồn tài liệu trêncũng nh tìm hiểu của địa phơng nơi đợc xem là trung tâm của cuộc khởi nghĩa

và điền dả thực địa, là những nguồn t liệu quan trọng để chúng tôi tiến hànhthực hiện khoá luận của mình

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:

a Đối tợng nghiên cứu:

Đối tợng nghiên cứu của đề tài là quá trình nghĩa quân Phan ĐìnhPhùng tổ chức lực lợng và xây dựng căn cứ khởi nghĩa chống Pháp từ 9/1885

đến 12/1895 Do đó chúng tôi chủ yếu đi sâu tìm hiểu, phân tích các vấn đề cóliên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến đối tợng xác định trên

b Phạm vi nghiên cứu:

Về thời gian: Đề tài đợc giới hạn trong khoảng từ 9/1885 đến đầu năm

1896 Tức là khi vua Hàm Nghi đến Sơn Phòng Phú Gia (Hơng Khê - HàTĩnh) hạ chiếu Cần Vơng lần thứ 2, Phan Đình Phùng hởng dụ Cần Vơng đếnsau trận Vũ Quang, thực dân Pháp quay sang đàn áp phong trào Đây cũng làkhoảng thời gian nghĩa quân Phan Đình Phùng tổ chức lực lợng đông đảo vàxây dựng căn cứ địa khởi nghĩa

Về không gian: Về cơ bản đề tài xác định trong khoảng không gian là

Hà Tĩnh - địa bàn trung tâm của cuộc khởi nghĩa

Mặc dù vậy, việc xác định thời gian và không gian nghiên cứu của đềtài chỉ mang ý nghĩa tơng đối Bởi lẽ khởi nghĩa Phan Đình Phùng là một bộphận, là nơi quy tụ phong trào Cần Vơng cả nớc, do đó trong quá trình nghiêncứu, tìm hiểu chúng tôi cũng sẽ đề cập đến nhiều mốc thời gian và không gian

có liên quan khác đến việc tổ chức lực lợng và xây dựng căn cứ khởi nghĩaPhan Đình Phùng

4 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu

a) Nguồn t liệu:

Bên cạnh các nguồn t liệu có tính chất tham khảo nghiên cứu về phòngtrào Cần Vơng trên bình diện toàn quốc, chúng tôi chủ yếu tập trung khai thác

Trang 5

những nguồn t liệu riêng về khởi nghĩa Phan Đình Phùng phục vụ trực tiếp cho

đề tài nh:

Thái Kim Đỉnh Cao Thắng, Nhà tổ chức, chỉ huy quân sự tài năng;Thái Kim Đỉnh Phan Đình Phùng cuộc khởi nghĩa qua truyện kể lu truyền ởNghệ Tĩnh; Kỷ niệm 70 năm ngày thắng trận Vũ Quang của nghĩa quân HơngKhê do Phan Đinh phùng chỉ huy ngày 26/10/1894; Danh nhân Hà Tĩnh, Ditích Danh thắng Hà Tĩnh …

Ngoài ra, chúng tôi cố gắng tiếp xúc một số nguồn t liệu gốc do cácchuyên viên nghiên cứu lịch sử địa phơng điều tra, su tầm lu giữ Đồng thờichúng tôi cũng đã trực tiếp về các hiện trờng lịch sử nơi diễn ra cuộc khởinghĩa để gặp gỡ các bậc cao niên nhằm tiếp thu những ý kiến quý báu phục vụcho đề tài của mình

b) Phơng pháp nghiên cứu:

Khi nghiên cứu đề tài này chúng tôi đã lựa chọn phơng pháp lịch sử vàphơng pháp lô gíc, phơng pháp so sánh và phơng pháp điền giả su tầm lịch sử

địa phơng

5 Bố cục của khoá luận:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dungchính của khoá luận đợc trình bày trong hai chơng nh sau:

Vài nét về phong trào yêu nớc chống Pháp

ở Hà Tĩnh từ 1858 - 1885

1.1 Bối cảnh lịch sử.

Trang 6

Khi lịch sử bớc sang thế kỷ XIX thì cũng là lúc chế độ phong kiến ViệtNam chuyển dần từ thịnh đạt đến suy yếu - báo hiệu thời kỳ tan rã đang bắt

đầu Dới sự trị vì của triều Nguyễn đã đa lịch sử dân tộc bớc vào thời kỳ đentối

Khác với các vơng triều trớc đó đợc kiến lập nên sau khi lãnh đạo nhândân lật đổ ách thống trị của ngoại bang hay đó là sự thay thế của một vơngtriều đã thoái hoá, triều Nguyễn lại đợc dựng lên từ kết quả của cuộc chiếntranh giữa thế lực phong kiến suy đồi đợc t bản Pháp giúp sức phản kích lạiphong trào nông dân Tây Sơn - một phong trào đấu tranh cho quyền lợi củanhân dân và dân tộc

Các vua triều Nguyễn đã ra sức bảo vệ nền chuyên chế, vua là “Thiêntử” - ngời có uy quyền tuyệt đối, cai trị bằng hình phạt thông qua bộ luật

“Hoàng triều luật lệ”, một bộ luật sao chép gần nh nguyên xi luật triều MãnThanh một triều đại phong kiến phản động nhất Châu á lúc bấy giờ

Về kinh tế, chế độ ruộng đất nhà nớc bị thu hẹp, ruộng công lẫn ruộng

t đều bị địa chủ cờng hào lũng đoạn, buộc ngời nông dân phải đóng nhiều tôthuế và tạp dịch Và cũng tơng tự nh nông nghiệp, công thơng nghiệp bế tắcbởi nhà nớc độc quyền về ngoại thơng, thi hành chính sách “bế quan toảcảng”, khớc từ quan hệ buôn bán với phơng Tây Đây cũng chính là một trongnhững “duyên cớ” để thực dân Pháp tiến hành xâm lợc nớc ta

Với chính sách phản động, cực đoan, các vua nhà Nguyễn đã kìm kẹpnhân dân về mọi mặt trong trật tự của nền chuyên chế, làm cho đời sống củanhân dân, nhất là đối với nông dân vô cùng khổ cực, mâu thuẫn xã hội trở nênsâu sắc Bởi vậy các cuộc khởi nghĩa của nông dân nổ ra là hệ quả tất yếu củanhững xung đột trên Tiêu biểu đó là khởi nghĩa của Phan Bá Vành (1821 -1827), của Nông Văn Vân (1833 - 1835)… nhng kết quả là các vua triềuNguyễn từ Gia Long đến Tự Đức đã thẳng tay đàn áp, dìm phong trào nôngdân trong bể máu

Nh vậy, chính từ lúc này triều Nguyễn đã huỷ hoại sinh lực của dân tộc

đúng vào lúc mà thực dân Pháp đang ráo riết xâm lợc nớc ta

Trang 7

Bớc vào những thập niên cuối của thế kỷ XIX,trên thế giới đang diễn ranhiều biến chuyển lớn lao trong “cơn lốc của nền kinh tế t bản chủ nghĩa”, làlúc CNTB đang ở giai đoạn phát triển cao nhất của nó - từ giai đoạn tự do cạnhtranh chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa Đó là sự xuất hiện của cáctrung tâm công nghiệp, ngân hàng, các tổ chức lũng đoạn, nhng đồng thờicũng đã xuất hiện mầm mống của sự khủng hoảng Bởi vậy vấn đề cốt tử lúcnày là thị trờng tiêu thụ, nguồn nguyên liệu, nhân công… đang đặt ra để tănglợi nhuận cho giai cấp t sản cầm quyền Mặt khác là sự phát triển không đồng

đều giữa các nớc t bản càng diễn ra rõ rệt, dẫn đến việc giành giật và phânchia thị trờng

Tất cả những vấn đề trên đã thúc giục t bản phơng Tây đi tìm “miền đấthứa” và miếng đất màu mở của phơng Đông đã trở thành địa điểm hấp dẫn thuhút sự chú ý đối với t bản thực dân phơng Tây Và Việt Nam đối với thực dânPháp cũng không nằm ngoài những nhu cầu để giải quyết mâu thuẫn đặt ratrên

Việt Nam - một đất nớc có vị trí chiến lợc quan trọng nằm trên đờnggiao lu hàng hải quốc tế ở Đông Nam Châu á và là vùng đất giàu tài nguyên,nguồn lao động dồi dào, từ lâu đã trở thành miếng mồi đối với t bản Pháp Mặtkhác Pháp còn lấy cớ rằng triều Nguyễn đã thi hành chính sách “cấm đạo” và

“sát đạo” đối với các giáo sỹ phơng Tây, nhng thực chất “thủ đoạn của t bảnthực dân Pháp không chỉ là nhà buôn khoác áo giáo sỹ, mà còn là chiếc áochoàng đi trớc và lính xâm lợc theo sau” [ 7, 29]

Đứng trớc hoạ xâm lăng đang đến gần cũng là lúc xã hội phong kiếnViệt Nam vào buổi xế chiều, mà nh cách nói của Phan Bội Châu: nó giống

“nh ngời ốm năm chờ chết, thoi thóp hơi tàn, vua thì xiêu, tôi thì nịnh, văn thìngồi nhìn mà võ thì vẫn nhởn nhơ nh cũ” (Việt Nam quốc sử khảo) Đó là:

Một là hải ngoại hẹp hòi

Hai là nội trị hủ bại

Bà là dân trí bế tắc

Trang 8

Bốn là vua tôi trên dới tự t tự lợi

(Phan Bội Châu - VN Quốc sử khảo)Trên đây là những nhân tố thuận lợi thúc đẩy thực dân Pháp xâm lợc n-

ớc ta vào những năm nửa cuối của thế kỷ XIX Và ngày 31/8/1858 liên quânPháp và Tây Ban Nha đã dàn quân trớc cửa biển Đà Nẵng, ngày 1/9/1858 tạibán đảo Sơn Trà, chính thức nổ súng xâm lợc nớc ta, mở đầu cho quá trìnhxâm lợc, cai trị Việt Nam của t bản thực dân Pháp kéo dài hơn 80 năm sau đó

Trớc sự tấn công ngày một ác liệt của thực dân Pháp, các vua quan dớitriều Nguyễn đã chống cự trở lại song mục đích không phải là để bảo vệ độclập dân tộc mà cốt là để bảo vệ quyền lợi ích kỷ của dòng họ, của giai cấpthống trị đang mục ruỗng từ bên trong Mặt khác trớc sức mạnh của quầnchúng nhân dân đang vùng lên kháng Pháp thì triều đình lại quay sang quyhàng Pháp

Với sự ơn hèn bạc nhợc của triều đình phong kiến nhà Nguyễn đãkhông thể chống đỡ nổi đội quân thiện chiến của thực dân Pháp Từ nhữngcuộc đọ sức, đọ súng đầu tiên ở của biển Đà Nẵng (9/1858), ở Gia Định(2/1859) đến hai trận Cầu Giấy lần 1 (1873) và lần 2 (1882) đã thể hiện t tởngthất bại, hèn nhát của triều đình trớc hoạ xâm lăng

Với tâm lý sợ mất ngôi báu hơn mất nớc, lợi ích dòng họ hợn lợi íchdân tộc, quốc gia, sợ phong trào đấu tranh của quần chúng hơn sợ giặc… triềuNguyễn đã phản bội quyền lợi dân tộc, quỳ gối dâng nớc ta cho thực dânPháp Đi từ nhợng bộ này đến nhợng bộ khác , để rồi can tâm làm tay sai chogiặc, cấu kết, “giúp sức” cho chúng đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân

Từ hàng ớc 1862 dâng ba tỉnh miền Đông, sau đó “Nam kỳ lục tỉnh” thuộcPháp Nhất là từ những năm 1880 trở đi khi chủ nghĩa t bản Pháp đang bớcnhanh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa thì bọn thực dân càng ráo riết hơnnữa việc thôn tính toàn bộ nớc ta Năm 1883 Pháp kéo quân từ Đà Nẵng raHuế - thủ phủ của triều đình phong kiến, kết quả là triều đình Huế đã hànggiặc với hoà ớc 1883 ( còn gọi là hoà ớc Hác Măng) và năm sau lại ký tiếp hoà

ớc Patơnốt (1884) Với những nội dung của nó thì đây là hai văn kiện chính

Trang 9

thức đặt nền thống trị của Pháp lên đất nớc ta, đồng thời xác định vị trí tay saicủa triều đình Huế đối với nền thống trị ấy.

Đến đây giai cấp phong kiến mà đại diện là các vua quan triều Nguyễn

đã tự chấm dứt vị trí và vai trò dân tộc của mình, bởi nó không còn khả năng

để tự “xây dựng một triều đình kháng Pháp nữa”

Tuy nhiên trong nội bộ triều đình Huế vẫn có một bộ phận còn tinh thầnkháng Pháp mạnh mẽ nh Nguyễn Tri Phơng đã giữ vững đợc mặt trận ĐàNẵng buổi đầu, “Bình Tây Đại Nguyên soái” Trơng Định kháng Pháp ở miền

Đông Nam Kỳ, sự mu lợc, dũng cảm của Nguyễn Trung Trực và đặc biệt phải

kể đến Tổng đốc Hoàng Diệu bảo vệ thành Hà Nội qua hai trận Cầu Giấy lầnmột (1873) lần 2 (1882)… Song họ cha biết dựa vào sức mạnh của nhân dân,

họ chỉ biết nghĩa phải làm là thà chết chứ không chịu làm nô lệ, hi sinh để bảotoàn khí tiết, ở họ thiếu niềm tin vào nhân dân, vào sức mạnh của quần chúng

và lòng tin vào thắng lợi cuối cùng

Trớc khi thực dân Pháp đặt chân lên nớc ta thì xã hội Việt Nam chỉ tồntại mâu thuẫn duy nhất đó là giữa giai cấp phong kiến và giai cấp nông dân

Do chính sách thuế khoá nặng nề của địa chủ phong kiến cộng với sự chuyênchế của triều đình đã làm cho đời sống cuả ngời nông dân trở nên cùng cực,quẩn bách, điều này đã làm cho mâu thuẫn trên càng trở nên sâu sắc và hệ quả

là nhiều cuộc đấu tranh của nông dân đã nổ ra quyết liệt Nhng kể từ 1858 trở

đi, trớc hoạ xâm lăng xã hội Việt Nam đã xuất hiện thêm một mâu thuẫn mớikhông kém phần gay gắt, đó là mâu thuẫn dân tộc, giữa toàn thể dân tộc ViệtNam với thực dân Pháp xâm lợc

Đất nớc lâm nguy, các vua triều đình Nguyễn bạc nhợc, ơn hèn thì cómột bộ phận phong kiến còn tinh thần yêu nớc, có t tởng tiến bộ đã có nhiềubiện pháp nhăm duy tân đất nớc nhng Nguyễn Lộ Trạch, Nguyễn Trờng Tộ,

Võ Duy Chanh, Đinh Văn Điền… Trong “thời vụ sách”, Nguyễn Lộ Trạchcho rằng “làm nên cái mạnh của ngời chính là do phơng pháp Còn cái yếucủa mình thì tích luỹ đã lâu rồi Nay nếu chịu sửa đổi cái yếu hèn ấy đi mà cốtheo đờng tự cờng thì nhất thời có thua cũng còn mong có ngày thành công đ-

Trang 10

ợc” [ 4,13] Còn Nguyễn Trờng Tộ từ năm 1863 đến năm 1871 đã đề trình vua

Tự Đức 14 bản điều trần, trong đó có “Tế cấp bát điều” (8 điều cấp bách) nêulên một hệ thống các vấn đề kinh tế xã hội quan trọng: chấn chỉnh bộ máyquan lại, phát triển nông, công - thơng nghiệp và tài chính quốc gia, chấnchỉnh võ bị, mở rộng ngoại giao, cải cách giáo dục… Nhng những t tởng đó

đều bị triều đình Nguyễn khớc từ, vua Tự Đức cho rằng: “cứ từ từ, những điềucủa ta còn đủ khả năng để điều khiển quốc gia” [ 7, 62 ]

Còn đại bộ phận đông đảo trong xã hội là nông dân, đối với họ tronghoàn cảnh lúc bấy giờ quyền lợi dân tộc cao hơn hết thảy Với truyền thôngyêu nớc bao đời, họ đã tạm gác mối thù giai cấp để đánh đuổi thực dân Phápxâm lợc Khi mà trên các mặt trận Gia Định, Nam Kỳ hay Cầu Giấy quanquân triều đình Nguyễn đều bạc nhợc thua chạy thì trong từng căn nhà, từngxóm làng đâu đâu tiếng súng kháng Pháp của nhân dân vẫn tiếp tục nổ ra làmcho quân Pháp hoang mang Và trái ngợc với thái độ ơn hèn của triều đìnhNguyễn là những chiến công vang dội của nhân dân kháng Pháp Toàn dân giàtrẻ gái trai đều xung vào đoàn quân ấy Chính sức mạnh của quần chúng đãlàm cho thực dân Pháp “phải thừa nhận một sự thực hiển nhiên là tinh thần

độc lập dân tộc vần tồn tại trong dân chúng An Nam” [7, 44]

Cuộc kháng chiến chống xâm lợc của quần chúng nhân dân ngay từbuổi đầu đã góp phần tô điểm cho lịch sử chống ngoại xâm kiên cờng, anhdũng của dân tộc khi bớc vào thời kỳ Cận Đại - thời kỳ kháng chiến chốngngoại xâm quyết liệt Đó là hiện thân của những tấm gơng về lòng quả cảm,chí căm thù giặc sâu sắc của Trơng Định - ông đã đi theo chính nghĩa, sátcánh đứng về phía nhân dân kháng Pháp, đợc dân phong là “Bình Tây ĐạiNguyên soái” dới lá cờ “Phan lâm mãi quốc triều đình khí dân” đã tung baymột giải Gò Công, Gia Định… gây cho địch nhiều tổn thất Đó còn làNguyễn Trung Trực, một nông dân cha bao giờ biết đến thuyền hơi súng máy,vậy mà trớc sự xâm lợc của giặc Pháp đã biết vận dụng lối đánh du kích đốtcháy con tàu Hy Vọng (esperasue) của địch trên sông Nhật Tảo Ngoài ra còn

có nhiều sỹ phu yêu nớc luôn giữ khí phách, không chịu khuất phục trớc quânxâm lợc nh Nguyễn Tri Phơng, Hoàng Diệu…

Trang 11

Tuy vậy trớc sự đàn áp của đội quân thiện chiến cộng với thái độ bạcnhợc của triều đình đã đi từ nhợng bộ này đến nhợng bộ khác và kết quả làthực dân Pháp đã chính thức đặt ách cai trị lên đất nớc ta, lần lợt các phongtrào đấu tranh của nhân dân tạm thời lắng xuống Nhng với tinh thần “bao giờngời Tây nhổ hết cỏ nớc Nam thì mới hết ngời Nam đánh Tây” trong câu nói

đầy khảng khái của Nguyễn Trung Trực thì vẫn luôn âm ỉ cháy

Cùng với phong trào đấu tranh của quần chúng thì trong nội bộ giai cấpphong kiến đã diễn ra sự phân hoá sâu sắc, sau hai bản hàng ớc 1883,1884triều đình Huế ký với thực dân Pháp đã làm cho “lơng tri và tiết tháo” của một

bộ phận nhỏ trong giai cấp phong kiến bị chà đạp, họ chính là tầng lớp vănthân, sỹ phu đang giữ đợc khí tiết, chủ trơng đánh Pháp

Đúng nh đồng chí Lê Duẩn, sau này nhận xét bộ phận này họ “thâyquyền lợi của phong kiến cũng là quyền lợi làm tay sai cho đế quốc” nên đã

đứng dậy đấu tranh “Nhng tinh thần phản đế cứu nớc của tầng lớp này cănbản không phải dựa trên một phần nào sinh khí còn sót lại của chế độ phongkiến mà dựa vào tinh thần độc lập dân tộc trên cơ sở văn hóa hàng ngàn nămcủa dân tộc đang sống trong lòng những trí thức, trong quần chúng nhân dânlao động và có dịp bộc phát dới ngọn cờ Cần Vơng”

1.2 Phong trào yêu nớc chống Pháp ở Hà Tĩnh trớc khi có chiếu Cần Vơng

1.2.1 Đất nớc và con ngời Hà Tĩnh

Cha ông ta có câu “thiên thời, địa lợi, nhân hoà”, và đây chính là ba yếu

tố quan trọng hội tụ đủ ở mảnh đất Hồng Lam, và là điều kiện thuận lợi trongcuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc trải qua trờng kỳ lịch sử

Hà Tĩnh là một tỉnh thuộc khu vực Bắc Trung Bộ, phía Bắc có dãy HùngLĩnh uy nghi, nối tiếp với dãy Thiên Nhẫn trùng điệp và tiếp giáp với tỉnhNghệ An Phía Đông giáp biển Đông với các cửa biển lớn: Cửa Hội, Cửa Sót,Cửa Nhợng Phía Nam là dãy Hoành Sơn với Đèo Ngang hiểm trở, chia địaphận với tỉnh Quảng Bình Phía Tây là dãy Trờng Sơn hùng vỹ tạo nên mộtbức tờng thành tự nhiên dai 150 Km chạy dọc biên giới với nớc bạn Lào

Trang 12

Là một vùng đất nhỏ hẹp khoảng 6.055 km2 (chiếm 1,7% diện tích cả ớc), trong đó miền rừng núi chiếm 40%, trung du 40% và 20% là đồng bằng.

n-Hà Tĩnh có những dãy núi bao quanh: Núi Hồng Lĩnh với 99 ngọn cao vút,day Thiên Nhẫn 999 ngọn chạy dọc theo sông Ngàn Phố nh nghìn ngựa phi,tiếp sau là dãy Đại Hàm, cũng từ đây có thể nhìn thấy núi Giăng Màn, có thác

Vũ Môn và dọc bờ biển là Hoành Sơn một dải Ngoài ra địa bàn Hà Tĩnh còn

có một hệ thống sông ngòi với các con sông lớn nh sông Ngàn Sâu, Ngàn Trơi(thuộc huyện Hơng Khê), sông Ngàn Phố (Hơng Sơn), sông La (Đức Thọ)…Tất cả tạo cho Hà Tĩnh một địa thế hiểm trở, trở thành những chiến luỹ có thểlợi dụng đợc trong kháng chiến chống ngoại xâm

Con ngời nơi đây chăm chỉ, chịu thơng chịu khó, tự lực tự cờng Sốngtrên một vùng đất thiên nhiên khắc nghiệt: lũ lụt, hạn hán, gió lào, mất mùa,

đói kém, là một mảnh đất nghèo nhng hiếu học Nơi đây đã sinh ra và nuôi ỡng cho đất nớc nhiều nhà khoa bảng, nhà sử học nổi tiếng nh : sử Hy Nhan,nhà y học lỗi lạc Hải Thợng Lãn ông Lê Hữu Trác; nhà thơ, nhà quân sự, nhàkhai hoang thuỷ lợi Nguyễn Công Trứ; hay Đại thi hào Nguyễn Du với tácphẩm Truyện Kiều bất hủ…

d-1.2.2 Nhân dân Hà Tĩnh chống xâm lợc

Với tinh thần yêu nớc nồng nàn, tinh thần quật khởi, nhân dân Hà Tĩnh

đã hoà vào sức mạnh dân tộc đứng lên chống ngoại xâm kiên cờng và anhdũng Từ thế kỷ thứ II, đã có những cuộc đấu tranh liên tục chống phong kiếnphơng Bắc Đầu thế kỷ thứ VII, Mai Thúc Loan đã đứng lên tập hợp ChâuHoan liên kết với Lâm ấp, Chân Lạp chống bọn xâm lợc nhà Đờng Trongcuộc kháng chiến chống quân Minh đầu thế kỷ XIV, ngời Hà Tĩnh từ traitráng đến cụ già đã dũng cảm tham gia chiến đấu góp phần quan trọng tạonên khí thế “chẻ tre” Kháng chiến thắng lợi Lê Lợi đã gọi xứ Nghệ là “thắng

địa”, lính xứ Nghệ “thắng binh” Đến thể kỷ XVIII, hai lần quân Tây Sơn raBắc một số sỹ phu nh Nguyễn Thiếp, Phan Huy ích…đã cùng nhân dân hănghái tham gia lập nhiều chiến công Năm 1802 Nguyễn ánh lên ngôi lập ratriều Nguyễn thiết lập lại chế độ quân chủ chuyến chế, nhân dân Hà Tĩnh lại

Trang 13

tiếp tục nổi dậy chống phong kiến ở nhiều nơi, dới nhiều hình thức… Chínhmảnh đất núi Hồng, sông La này đã sinh ra những ngời con u tú làm rạngdanh những trang sử chống ngoại xâm của dân tộc.

Và nh một sự tiếp nối của truyền thống lịch sử, khi thực dân Pháp nổsúng xâm lợc nớc ta, từ buổi đầu nhân dân Hà Tĩnh đã tham gia kháng chiếnchống xâm lợc

Khi liên quân Pháp - Tây Ban Nha nổ súng tấn công ở cửa biển ĐàNẵng, lão tớng Nguyễn Công Trứ (Nghi Xuân - Hà Tĩnh) đã về hu vần hănghái xin đợc cầm quân đánh giặc Năm 1862 triều đình ký với Pháp điều ớcNhâm Tuất, cùng với ngọn cờ của Trơng Định “Phan Lâm mãi quốc, triều

đình khí dân” ở Nam Kỳ, văn thân sỹ phu Hà Tĩnh cùng với văn thân sỹ phuNghệ An đã sôi nổi họp mặt tại Võ Liệt (Thanh Chơng) thành lập “Nghĩa sỹ

đoàn” luyện tập võ nghệ chuẩn bị công cuộc cứu nớc

Năm 1868, cùng với việc góp tiền bạc, sắm vũ khí, những ngời yêu nớc

ở Nghệ Tĩnh đã viết th kêu gọi sỹ phu và nhân dân các tỉnh bạn họp bàn chốngPháp… “Việc đánh Tây chúng tôi đã nhiều lần tâu bày nhng bị triều định bãi

bõ Nay toàn thể chúng tôi đã đoàn kết đợc các văn thân quyên góp đợc 2.050lạng bạc đang rèn đúc khí giới chuẩn bị khởi sự” [9, 210]

Trong khi những cố gắng của sỹ phu và nhân dân Nghệ Tĩnh đều bịtriều đình Tự Đức khớc từ, thì thực dân Pháp đã chiếm đợc thành Hà Nội(1873) và các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, hành động này của thực dân Pháp cànggây nên sự căm phẫn trong nhân dân

Tại Nghệ Tĩnh trớc áp lực của nhân dân Tổng đốc An Tĩnh (Tôn ThấtTriệt) đã phải họp văn thân sỹ phu toàn vùng để bàn kế hoạch chống Pháp.Hội nghị đã nhất trí cử Trần Tấn, Đặng Nh Mai (Nghệ An), và Nguyễn Huy

Điền, Trần Quang Cán (Hà Tĩnh) đứng ra lo việc chống Pháp

Khi triều đình Huế ký thêm hàng ớc Giáp Tuất (1874) thừa nhận quyềnchiếm đóng của thực dân Pháp ở ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ thì phong trào đấutranh của nhân dân Hà Tĩnh càng bốc cao hơn.Phong trào nhân dân chuẩn bịkhởi nghĩa cũng rầm rộ khắp trong tỉnh, cùng với các sớ, tấu của các sỹ phu

Trang 14

gửi lên chất vấn Tự Đức, với những lý lẽ sắc bén đã đập lại luận điệu của Tự

ở đây nhng sáu thao ba lợc rất nhiều bậc làm tớng có tài Thần Nữ Cát Bà đãvắng, nhng bốn chính tám không hiếm ngời cầm quân dũng cảm Trongkhoảng mời bớc còn có cơ thêm, rộng nh đất hai kỳ há lại thiếu ngời lạ Víphỏng trên miếu đờng nghe theo trí dũng, ngoài cờng trờng mu tính kịp thời…lấy trung tín làm gơm đao, lấy nhân nghĩa làm súng đạn, đất u, kế, ngân, hạ,khôi phục khó gì…

Hiện nay quân khá hoàn bị, tớng khá đầy đủ, khí giới tinh xảo, gơmgiáo sắc bén, quân lính cùng đồng lòng dốc sức hẹn lấy lại non sông… có thật

là yếu đâu” [9, 210]

Nh vậy, từ trong truyền thống lịch sử của quê hơng, những ngày đầucủa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lợc, nhân dân Hà Tĩnh đãcùng với nhân dân cả nớc đứng lên chống kẻ thù xâm lợc

Ch ơng 2

Tổ chức lực lợng và xây dựng căn cứ khởi nghĩa

Phan Đình Phùng

2.1 Phong trào Cần Vơng bùng nổ

Vào khoảng những thập niên cuối thế kỷ XIX, lịch sử nớc ta đã phải trảiqua những cơn chuyển biến lớn lao Trớc sự xâm lợc của thực dân Pháp bè lũvua quan bất lực của triều đình Huế ngày càng đi sâu vào con đờng bạc nhợc,hàng giặc trong lúc phong trào kháng chiến của nhân dân vẫn diễn ra mạnh

mẽ và quyết liệt Trớc thái độ bạc nhợc của triều đình nhà Nguyễn, thực dânPháp ngày càng hành động trắng trợn hơn, nhất là từ những năm1880 trở đi,chủ nghĩa t bản Pháp đang bớc nhanh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa nên

Trang 15

càng thôi thúc bọn thực dân ráo riết hơn âm mu xâm lợc toàn bộ nớc ta Năm

1883 lợi dụng cái chết của vua Tự Đức từ Đà Nẵng thực dân Pháp kéo quân raHuế, kết quả buộc triều đình Huế ký với Pháp hoà ớc 1883 và năm sau lại kýtiếp hoà ớc Patơnôt ( 6/1884) Đây là hai văn kiện chính thức đặt nền thống trịcủa Pháp trên đất nớc ta, biến Việt Nam từ nớc phong kiến độc lập trở thànhmột nớc thuộc địa nửa phong kiến

Và cũng từ sau các hoà ớc đó thì mâu thuẫn trong nội bộ triều đìnhphong kiến càng trở nên sâu sắc Phái chủ hoà đứng đầu là Trần Tiến Thành -

Đệ nhất đại thần trong Hoàng Triều phụ chính đã ngã hẳn về phía giặc và lôikéo một bộ phận lng chừng khác Ngợc lại, phải chủ chiến do Tôn ThấtThuyết đứng đầu là một trong ba phụ chính đại thần, đợc sự ủng hộ của nhândân vẫn một mực kiên trì chống Pháp : “ Phen này ta quyết sống thác với Tâymới đợc”

Sau khi triều đình Huế ký với Pháp hoà ớc 1884, Tôn Thất Thuyết cànghành động tích cực hơn Một mặt ông phế truất những tên vua nhu nhợc, thânPháp, thẳng tay trừng trị những phần tử đầu hàng, mặt khác ông ráo riết sailập các sơn phòng ở Bắc - Trung - Nam kể cất giữ lơng thực, vũ khí và dùngkhi lui quân, đồng thời tích cực chuẩn lực lợng vũ trang, tăng cờng quân đội

để phản công địch ở Huế

Sau khi chuẩn bị xong, vào đêm 4 rạng ngày 5/7/1985 Tôn Thất Thuyết

tổ chức cuộc tấn công vào toán quân đồn trú của Pháp ở đồn Mang Cá, đây lànơi hiểm yếu của kinh thành, là chỗ đóng quân, chứa khí giới của triều đìnhnay Pháp chiếm giữ tức là chặn mất cuống họng kinh thành… Nhng cuộcphản công của Tôn Thất Thuyết không thành, trớc tính hình đó Tôn ThấtThuyết quyết định đa xa giá của vua Hàm Nghi rời khỏi kinh thành đến căn cứTân Sở - Quảng Trị, sự kiện này đi vào lịch sử gọi là “vụ biến kinh thànhHàm Nghi xuất bôn ”nhng kế hoạch lên Tân Sở không thực hiện đợc,với sựgiúp đỡ của nhân dân Quảng Trị, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Tôn Thất Thuyết đavua qua đèo Quỳ Hợp ( nay thuộc huyện Hơng Khê - Hà Tĩnh ) Sơn phòng sứ

Hà Tĩnh là Nguyễn Chánh đem quân đón nhà vua về ở ấu Sơn, tại đây đợc sự

Trang 16

giúp đỡ của sĩ phu, văn thân và nhân dân Nghệ Tĩnh, Tôn Thất Thuyết mộthêm quân, lập doanh trại, xây đồn luỹ phòng dự những nơi hiểm yếu và thudụng một số sỹ phu văn thân từ Quảng Bình trở ra có tinh thần chốngPháp, trong đó có Phan Đình Phùng, Phan Trọng Mu, Hoàng Xuân Phong,Nguỵ Khắc Kiều, Phan Quang Cự… Đồng thời nhân danh vua Hàm Nghi, hạchiếu Cần Vơng: … “ hiện nay đánh thì cha có cơ hội giữ thì rất khó lòng,còn hoà thì quân giặc đòi hỏi không biết thế nào là chán Trớc sự thể muônvàn khó khăn, trẫm cực chẳng đã phải tòng quyền rời xà giá đi nơi khác, đốivới việc tự cờng tự trị còn cha có thì giờ để mu tính tới Đã thế bọn Tây ápbức mỗi ngày mỗi tăng, bình quyền của chúng kéo đến càng đông, làm khó dễ

đủ thứ Tiếp đãi chúng theo lễ thờng nhất định chúng không chịu Mọi ngờitrong đô thành đều lo sợ, có nguy tai buổi sớm, buổi chiều Các vị đại thần lotoan việc nớc đã tìm hết mu kế để giữ cho triều đình đợc yên, xả tắc khỏi bịlung lay, tính rằng cứ cúi đầu theo mệnh lệnh của chúng bỏ qua cơ hội chibằng nhòm thấy cơ sự, phải đứng dậy trớc để ứng phó kịp thời Mặc dầu việclàm không có việc nào khác, còn có cuộc đứng dậy ngày nay để mong kết quảtốt sau này Âu đó cũng là thời thế phải thế

… Trẫm nay đức bạc gặp cơn biến cố, không thể hết sức xoay xở để cho

đô thành bị chìm đắm, xa giá của Thái Hậu phải long đong tội ấy ở trẩm thật

là xấu hổ Nhng luân thờng sàng buộc các quan lại sỹ phu bất kỳ lớn nhỏ đềukhông bỏ trẩm Ngời tài hiến mu, ngời mạnh hiến sức, ngời giàu thì bỏ sứcgiúp quân nhu, ai nấy không trừ gian hiểm …

Nếu có ngời nào yêu tính mạng của mình hơn yêu vua, lo cho nhà hơn

lo cho nớc, quan thì mợn cớ lánh xa,lính thì bỏ hàng ngũ đi trốn, dân thìkhông biết theo nghĩa gánh vác việc chung, kẻ thì bỏ sáng theo tối Nh vậynếu có đợc sống thừa ở trên đời, mặc áo đội mũ mà thân mình cầm thú thìcòn có ra gì …”

Tờ chiếu làm cho lòng dân phiến động Các bậc khoa bảng các nhàphú hào, kẻ có thế, ngời có tiền đồng thời mộ dân phu đổi nhà mình làm tr-ờng diễn võ, mang cơ nghiệp giúp làm quân lơng Bọn dăm chục ngời, vài

Trang 17

trăm ngời, bỏ cày cuốc ra cầm gơm, đổi bút lông lấy sứ, rong ruổi lên miềnHơng Khê Mấy trái núi u tĩnh ở ấu Sơn bị thời cơ đổi làm chiến trờng Sờnnúi là thành, chân núi là trại, lá cờ Cần Vơng vợt lên núi non phấp phới.

Chiếu Cần Vơng ban ra đã làm dấy lên làn sóng chống Pháp sôi nổitrong cả nớc Suốt từ Bắc chí Nam, miền xuôi lên miền ngợc ở đâu cũng cóphong trào ứng nghĩa của nhân dân tề tựu Cần Vơng Dới sự lãnh đạo củavăn thân sỹ phu yêu nớc, phong trào “ phò vua giúp nớc ” do Phan ĐìnhPhùng kéo dài hơn 10 năm ( 1885 - 1896 ) đợc ghi nhận là giai đoạn đấutranh quyết liệt, anh dũng trong lịch sử 80 năm chống Pháp của dân tộc

Tiêu biểu nhất trong phong trào Cần Vơng chống Pháp đó là khởi nghĩaPhan Đình Phùng Nó tiêu biểu về quy mô, địa bàn hoạt động rộng lớn cũng

nh thời gian tồn tại trong hơn 10 năm và quy định những tính chất tiêu biểu

đó chính là sự tổ chức lực lợng và xây dựng căn cứ của cuộc khởi nghĩa

Truyền thống nối tiếp truyền thống, âm hởng từ cuộc khởi nghĩa GiápTuất ( 1874 ) phản đối triều đình Huế bạc nhợc phản bội lại quyền lợi dân tộc, đến đây theo tiếng gọi “ Cần Vơng”, từ những sỹ phu Phan Đình Phùng đếnngời nông dân áo vải Cao Thắng đã đứng ra ứng nghĩa Hà Tĩnh chính làmảnh đất “ không lúc nào vắng hào kiệt, thiếu anh hào” , xứng đáng là vùng

“địa linh nhân kiệt” Và đó chính là cái mà thực dân Pháp cho mà “khuyết

điểm lớn nhất” là “bớng bỉnh”, là “chống đối” của ngời dân Nghệ - Tĩnh thựcchất đó là lòng yêu nớc nồng nàn, tinh thần thiết tha với độc lập dân tộc, ý chíquật khởi chống ngoại xâm

Khởi nghĩa Phan Đình Phùng nổ ra trong hoàn cảnh thực dân Pháp đangtiến hành công cuộc bình định, đàn áp phong trào kháng chiến của nhân dân

để tiến tới xác lập nền cai trị của chúng lên đất nớc ta Và sau khi Hàm Nghixuất bôn, Đồng Khánh lên ngôi trở thành vua bù nhìn và là công cụ tay sai

đắc lực cho Pháp trấn áp phong trào quần chúng đang lên

Dới sự lãnh đạo của tầng lớp văn thân sỹ phu nhân dân cả nớc cũng nh

ở Hà Tĩnh đã dấy lên phong trào kháng pháp sôi nổi hởng dụ Cần Vơng

Trang 18

Chính thực dân Pháp cũng phải thừa nhận khi chúng đặt chân đến thì “ Cáctỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh đều sục sôi lên” [17].

Dới ngọn cờ Cần Vơng Phan Đình Phùng đã chọn vùng rừng núi phíaTây của tỉnh Hà Tĩnh (huyện Vũ Quang ngày nay) dựng cờ khởi nghĩa

Chủ nghĩa Mác Lê nin bên cạnh đề cao quần chúng nhân dân thì cũngkhông hề hạ thấp vai trò của cá nhân trong lịch sử Nếu nh quần chúng là ng-

ời sáng tạo ra lịch sử thì cá nhân chính là ngời quyết định chiều hớng pháttriển của lịch sử xã hội Bởi mỗi khi lịch sử dân tộc hay thời đại đặt ra vấn đềphải quyết thì bao giờ trong nhân dân cũng sẽ xuất hiện những cá nhân kiệtxuất, làm thủ lĩnh của nhân dân, của phong trào cách mạng, là ngời định h-ớng, thống nhất hành động cho quần chúng đấu tranh Đó là những nhà hoạt

động những lãnh tụ xuất sắc, những con ngời nắm bắt đợc những vấn đề cănbản trớc những biến thái của thời cuộc một cách khoa học và mang ý nghĩathực tiễn cao Họ chính là những con ngời nguyện hy sinh cho lợi ích của dântộc, cho con đờng cách mạng đúng đắn mà họ đã lựa chọn

Vai trò cá nhân trong lịch sử rất quan trọng nhng dù tài năng bao nhiêu,lãnh tụ hay cá nhân đó cũng không thể thay đổi hoặc đi ngợc quy luật pháttriển lịch sử khách quan Với những hoạt động tích cực hoặc tiêu cực của cánhân chỉ có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm tiến trình phát triển tự nhiên của

Trang 19

lịch sử Đối với lãnh tụ của phong trào cách mạng hay là ngời chỉ huy cuộckhởi nghĩa thì t tởng chủ quan của họ thờng có ảnh hởng lớn sự thành bại củaphong trào và đến sinh mệnh của hàng triệu con ngời Bởi vậy để đánh giávai trò cá nhân trong lịch sử, cần đặt cá nhân đó vào hoàn cảnh cụ thể củathời đại mà cá nhân đó đang sống, từ việc làm, hoạt động của họ để nhậnthức Đó có thể là nghệ thuật tổ chức lực lợng, xây dựng căn cứ, cách tổ chứctrận đánh, tài nghệ chỉ huy, uy tín … và cao hơn là kết quả mà phong tràohay cuộc khởi nghĩa đó mang lại.

Khi tìm hiểu quá trình tổ chức lực lợng trong khởi nghĩa Phan ĐìnhPhùng dới ngọn cờ Cần Vơng thì trớc hết cần tìm hiều về lực lợng lãnh đạocủa cuộc khởi nghĩa Với sự gắn liền với các tên tuổi: Phan Đình Phùng, CaoThắng, Nguyễn Duy Trạch, Nguyễn Duy Chanh, Ngô Quảng, Cao Đạt… họ

là những thủ lĩnh, là những văn thân sĩ phu phong kiến tiêu biểu cho tinh thầnkháng pháp hoà vào phong trào yêu nớc diễn ra vào cuối thế kỷ XIX

* Phan Đình Phùng.

Phan Đình Phùng đợc xem là linh hồn của cuộc khởi nghĩa

Những t tởng chính trị của Cụ đã có ảnh hởng mạnh mẽ đến hoạt động

tổ chức lực lợng và xây dựng căn cứ khởi nghĩa

Phan Đình Phùng sinh năm Đinh Mùi (1847), quê làng Đông Thái(thuộc Đức Thọ - Hà Tĩnh) trong một gia đình nhà nho có dòng dõi khoabảng Cha là cụ Phan Đình Tuyển, đậu phó bảng năm Giáp Thìn (1844) dới

đời vua Thiệu Trị Từng giữ chức Phủ Doãn Thừa Thiên, sau đó ra Bắc làmTán lý quân vụ dẹp giặc ở Lam Sơn và tử trận Mẹ cũng xuất thân từ gia

đình quan lại , sinh đợc năm ngời con, cụ Phan là ngời con thứ t

Phan Đình Phùng là một văn thân lớn, đỗ Đình Nguyên tiến sỹ khoathi Đinh Sửu (1877) dới triều vua Tự Đức, sau đó đợc bổ làm tri huyện YênKhánh (Ninh Bình ) Là một ngời khảng khải, cơng trực, nổi tiếng là một nhànho thanh liêm, “ thấy việc gì sai trớc mắt là mạnh bạo làm ngay dẫu biếtviệc đó có hại đến bản thân hoặc nguy hại đến tính mạng cũng mặc” [1, 18],bởi vậy Cụ đợc mọi ngời kính nể

Trang 20

Năm 1883 vua Tự Đức băng hà, Dục Đức vừa lên kế vị đã có lòng thânPháp nên bị Tôn Thất Thuyết và những ngời trong phe chủ chiến phế bỏ Docha hiểu hết ý nghĩa cấp bách và cần thiết trong việc làm của phải chủ chiếmlúc bấy giờ, Phan Đình Phùng đã lên tiếng phản đối ngay ở triều nghị, chonên bị Tôn Thất Thuyết cách chức, cho về quê (1883) Dù vậy vẫn cảm phụclòng ngay thẳng, cơng trực của ông

Tại quê nhà, cụ Phan đã chuẩn bị lực lợng chống Pháp, lập trại làng ởChâu Sơn ( nay thuộc Tùng ảnh - Đức Thọ) để mu cầu việc nớc Và chínhTôn Thất Thuyết đã nhận ra rằng “Cụ Phan Đình Phùng chỉ có ttởng giết vua là khác ông còn t tởng khác thì thật cảm hợp với ông, ấy là t t-ởng kháng Pháp đến cùng” Sau đó Tôn Thất Thuyết cho cụ giữ chức thambiện sơn phòng sứ Hà Tĩnh, chuẩn bị tổ chức lực lợng chống Pháp khi thời cơ

đến

Dới chân núi Châu Sơn, Phan Đình Phùng lập trại cày cấy, phát canhthu tô Đồng thời chiêu mộ nghĩa binh, ngày đêm luyện tập và họp đồng chí,bạn bè bàn bạc việc nớc Và chính ngọn lửa khởi nghĩa đã đợc nhen nhóm từ

đây

Sau sự kiện kinh thành Huế thất thủ , tháng 9/1885 vua Hàm Nghi ra

đến Sơn phòng (Phú Gia - Hơng Khê - Hà Tĩnh ), ra chiếu Cần Vơng lần thứhai: tuổi trẻ nối ngôi gặp cơn nguy biến, muốn khôi phục đất nớc để chuyểnloạn làm trị, chuyển nguy làm an Đợc tin, Cụ Phan vội vàng cùng một sốvăn thân khác kéo nhau lên yết kiến và khóc rằng : “ Để cho thành tan, nớcmất, thánh thợng nhuộm cát bụi là tội ở lũ hạ thần Xin thánh thợng yên lòng,

lũ hạ thần nguyện hết sức Cần Vơng cứu nớc, dù chết cũng không từ” Rồi

Cụ đợc vua Hàm Nghi giao cho trọng trách “ thống đốc quân vụ đại thần”

đặt trách nhiệm lãnh đạo phong trào chống Pháp trên 4 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ

An, Hà Tĩnh, Quảng Bình

Chiếu Hàm Nghi ban ra làm lòng ngời phiến động Các bậc khoa bảng,các nhà phú hào, kẻ có thế, ngời có tiền đồng thời việc dân phu đổi nhà mìnhlàm trờng diễn võ, mang cơ nghiệp giúp bàn quân lơng Bọn dăm chục ngời,

Trang 21

bọn cái trăm ngời, họ bỏ cày cuốc ra cầm gơm, đổi bút lông lấy súng, rongruổi lên miền Hơng Khê Mấy trái núi u tĩnh ở ấu Sơn bị thời cơ đổi làmchiến trờng Sờn núi là thành, chân núi là trại, là cờ Cần Vơng vợt lên núi nonphấp phới” Và Phan Đình Phùng là một trong những văn thân phụng mệnhCần Vơng, mộ quân tập hợp lực lợng cho khởi nghĩa

Tháng 10/1885 Phan Đình Phùng đã tổ chức làm lễ tế cờ tại làng ĐôngThái ( Châu Phong - Đức Thọ ), ngay ở làng mình tuyên bố tiếng súng khángPháp của khởi nghĩa Phan Đình Phùng chính thức bùng nổ Lời hịch của Cụtruyền đi khắp nơi, Cụ nói : Phụng mệnh vua, cử nghĩa binh để chống cờng

địch, cứu lại quốc gia, song việc đó là việc chung của mọi ngời làm dân, tựmình Cụ không thể gánh vác nổi Vậy xin những bậc anh hùng chí sĩ ở trongbốn biển chín châu cùng ra cứu nớc mới đợc

Lời hịch văn đơn sơ mà thống thiết, khiến cho ai nghe cũng phải độngmối thơng tâm Vì thế mới có đến năm sáu ngàn ngời theo Cụ hởng ứng côngcuộc Cần Vơng cứu nớc Nhân dân thì mừng rỡ dắt trâu, gạo khao quân, phá

đờng, tăng viện ngày đêm Dới sự chỉ huy của Cụ đã biến quang cảnh quênhà vắng vẻ trở thành một nơi không khí hung tráng, khí phách vô cùng Cácvăn thân chí sỹ bốn phơng ,từ ngời trong làng nh tiến sỹ Phan Trọng Mu,

ông cử Phan Cát Su, Phan Quang Đạt, đến văn thân trong tỉnh Nghệ An, HàTĩnh Thám Hoa Nguyễn Đức Đạt, Hoàng Giáp Nguyễn Quý, Tiến sỹ NguyễnXuân Ôn, Đinh Văn Chất, cử nhân Nguyễn Hạnh hai anh em ấm Ninh,…

đều ứng nghĩa nhờ vậy mà thanh thế của khởi nghĩa Phan Đình Phùng rất lớn

Phan Đình Phùng tiểu biểu cho tầng lớp văn thân sỹ phu phong kiếngiữ đợc ý chí kiên cờng, ý thức cao về độc lập dân tộc, đã thôi thúc ông khởinghĩa - Chính lòng yêu nớc là động cơ, là nhân tố đầu tiên có tính quyết

định để Cụ lôi kéo, tập hợp lực lợng khởi nghĩa, Hoàng Cao Khải một tên bùnhìn trong triều cũng phải thú nhận từ lúc ngoài khởi nghĩa khí trong quân

đều rất rõ rệt ở tai mắt ngơì ta…” ở Phan Đình Phùng t tởng yêu nớc luôngắn liền với “ trung quân” , vua “ nhuốm cát bụi” thì Cụ đã “ hết sức Cần V-

ơng dù chết cũng không từ ” chứng tỏ lập trờng và động cơ xuất thân của Cụ

Trang 22

không vợt ra khỏi ý thức hệ phong kiến, với khẩu hiệu “ hộ giá Cần Vơng đểbình tây hịch” hay “phụng mệnh vua cử nghĩa binh chống giặc” Và còn đợcbộc lộ rõ trong th gửi Hoàng Cao Khải : “ nớc ta mấy ngàn năm chỉ lấy vănhiến truyền nối nhau đời này đến đời kia, đất chẳng rộng, quân lính chẳngmạnh, tiền của chẳng giàu, duy có chỗ ý thị dựa vơng pò nớc là cái gốc vua-tôi, cha - con theo nắm đạo thờng mà thôi ”{1, 170].

Mặc dầu còn hạn chế về giai cấp xuất thân từ “ cửa Khổng, sân Trình”nhng với lòng yêu nớc, vì độc lập dân tộc, muốn “ chuyển loạn làm trị,chuyển nguy làm an ” Phan Đình Phùng đã trực tiếp lãnh đạo tổ chức lực lợng

và xây dựng căn cứ cho cuộc khởi nghĩa diễn ra trong suốt hơn 10 năm

Thành công trớc hết bởi Cụ tin vào dân, dựa vào dân Cụ đã trả lời TônThất Thuyết “ thời cuộc bấy giờ khó khăn nhng mang đợc thứ khí giới cònmạnh ấy là lòng ngời, lòng ngời dù sao vẫn còn có thể tin cậy đợc” Việc lớn

nh thế phải có “ thiên thời, địa lợi, nhân hoà” duy chỉ có “ nhân hoà ” làquý hơn cả Xuất phát từ sự nhận thức đó mà Phan Đình Phùng đã tập hợp đ-

ợc đông đảo văn thân yêu nớc, quần chúng lao động tụ nghĩa Cần Vơng, yếu

tổ làm nên sức mạnh vô địch cho cuộc khởi nghĩa Cụ đã ra Bắc liên kết vớiphong trào ngoài đó từ buổi đầu đồng thời tạo nên một thế trận liên hoàngiữa 4 tỉnh Thanh - Nghệ - Tĩnh - Bình để “chia cái mảnh đất của lính bảo

hộ đi “ [ 1, 93] và khi phong trào ở các nơi tan rã, thì căn cứ kháng chiếncủa cụ trở thành trung tâm tụ nghĩa của các thủ lĩnh bốn phơng

Việc tổ chức lực lợng khởi nghĩa chính quy, còn nhờ Cụ biết chọn tớngtài Các thủ lĩnh nh Cao Thắng, Nguyễn Duy Trạch, Nguyễn Duy Thanh, NgôQuảng… đều xuất thân từ nông dân nhng ở họ có tinh thần dũng cảm, mu trí

và điều cốt yếu đó là tấm lòng yêu nớc nhiệt thành, giúp vua cứu dân Phan

Đình Phùng đã không phân biệt địa vị, tiền tài, danh vọng chỉ mong có tinhthần tiết nghĩa

Ngoài ra, Cụ Phan còn chú trọng trang bị vũ khí cho nghĩa quân,

“ lòng ngời là vũ khí nhng nếu ngời ta đa súng ra mà bắn vào mình thì lấygìchống đỡ Thế tiết mình phải có khí giới, nhng khí giới của ta sao địch đợc

Trang 23

Muốn đánh phải có một thứ súng đạn ngang với họ mới đợc, và kết quả đó

là việc Cao Thắng cớp mẫu súng của Pháp, chế tạo thành công súng kiểu

1874 Sau đó Cụ cho ngời sang Lào, Xiêm để mua thuốc súng trong điềukiện địch bao vây gắt gao

Nhờ vậy lực lợng của nghĩa quân Phan Đình Phùng đã dần đi vàochính quy, phối hợp chặt chẽ Hoạt động đầu tiên, đó là sự phối hợp với quândân Trung Lễ ( Đức Thọ) của Lê Ninh trừng trị bọn việt gian ở vùng ThọNinh, Thọ Tờng tiến công đại đồn Đông Thái Sau đó rút quân về PhụngCông ( nay thuộc Đức Hoà - Đức Thọ ) củng cố lực lợng và hội quân vớinghĩa quân của Cao Thắng nghĩa quân Phan Đình Phùng lớn mạnh nhanhchóng làm cho địch lúng túng Dới sự lãnh đạo của Cụ Phan, thực dân Phápcũng phải kính nể: “ Lúc đó chủ tớng cầm đầu 4 tỉnh Trung Kỳ nổi lên đánhbại binh lính ta, chứng tỏ một ngời có tài tổ chức lạ lùng… ợc dân quy phục đhết thảy”

Để cắt nghĩa, ngoài tài năng, sự mu lợc của cụ Phan còn phải kể đếntấm lòng tiết nghĩa của một con ngời yêu nớc biết hy sinh lợi ích cá nhân vì

đại nghĩa Khi bị kẻ thù tra tấn giết anh Cụ, khai quật mồ mả… songnhững thủ đoạn thâm độc ấy không khiến Cụ đừng: “nay tôi chỉ có một ngôi

mộ rất to nên giữ lại là đất Việt Nam, tôi chỉ có một ngời ông anh rất to

đang bị lâm nguy, đó là cả muốn triệu đồng bào Nếu về mà sửa sang loạiphần mồ của mình thì ngôi mộ cả nớc kia, rồi anh em trong nớc ai cứu …”.Những lời nói của Cụ đã toát lên nghĩa khí của một tấm lòng” ái quốc củamột nhân sĩ, là một biểu trng của chủ nghĩa yêu nớc Việt Nam Cụ không baogiờ chịu khuất phục trớc khó khăn thử thách mà trái lại luôn lạc quan, tin t-ởng:

Ba canh không ngủ lòng còn giận

Muôn dặm xa nhà chốn nghỉ ngơi Máu của giặc hẹn ngày hoà rợu uồng Khúc ca chiến thắng tấc vua hay

Trang 24

Danh vọng không thể cám dỗ, uy quyền cũng không thể làm Cụ lunglay, “dẫu sấm sét búa rìu cũng không làm cho tôi thay lòng đổi chí đợc”.

Dẫu vậy qua nhiều trận đánh, tơng quan lực lựơng, vũ khí quá chênhlệch, đặc biệt sau trận Vũ Quang ( 28/12/1895) ,trong một trận giao chiến ácliệt tại núi rừng Hơng Khê, Phan Đình Phùng- vị thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa

và của phong trào Cần Vơng Trung Kỳ đã hy sinh trên núi Quạt lúc 49 tuổi

Phan Đình Phùng mất đi nhng tên tuổi của Cụ luôn sống với phong tràoCần Vơng kháng Pháp vào những năm cuối thế kỉ XIX Tên tuổi của Cụ trởthành một biểu trng đẹp cho khí tiết “trung quân ái quốc” của bộ phận sỹ phuphong kiến vào buổi xế chiều của chế độ phong kiến Việt Nam Và sự hy sinhcủa Cụ Phan ngay trên mảnh đất trung tâm của phong trào Cần Vơng, chính

là lúc đặt dấu chấm hết, kết thúc sứ mạng lãnh đạo công cuộc kháng Pháp củagiai cấp phong kiến

* Cao Thắng:

Nói đến khởi nghĩa Phan Đình Phùng trong phong trào Cần Vơngchống Pháp cuối thế kỉ XIX không thể không nhắc đến Cao Thắng Đối vớiPhan Đình Phùng, Cao Thắng “là tay chân, là hình ảnh của Cụ” [1], đối với kẻthù “Đề Thắng là một trong những tớng lĩnh của quân phiến loạn” “Tronglịch sử của họ Phan chống mệnh, Cao Thắng có một địa vị rất quan trọng chonên muốn biết rõ cụ Phan không thể không biết đến Cao Thắng”

Cao Thắng tiêu biểu cho những ngời nông dân áo vải tham gia phongtrào kháng Pháp Khi cụ Phan dấy nghĩa, hào kiệt bốn phơng kéo về phầnnhiều có võ nghệ, tài năng, nhng có trí, có dũng, có ân, có mu và thao lợc củamột vị thủ lĩnh hơn cả thì Cao Thắng đợc xem là tiêu biểu nhất

Ông sinh năm Giáp Tý (1864), tại xóm Nhà Nàng, thôn Yên Đức, xãTuần Lễ, tổng An ấp (nay thuộc xã Sơn Lễ - Hơng Sơn) Xuất thân trong mộtgia đình nông dân nghèo, cha là Cao Quý đã từng đi dạy học ở Phúc Dơng,sau đó về quê làm ruộng và mất sớm

Trang 25

Cao Thắng vốn thông minh, hiếu học, từ nhỏ đã thích luyện tập võnghệ Năm Giáp Tuất (1874), khi Trần Quang Cán (hay còn gọi là Đội Lu)ngời cùng quê nổi lên “chống cả Triều lẫn Tây”, Cao Thắng bấy giờ còn íttuổi những đã theo nghĩa quân làm nhiệm vụ liên lạc Những cũng trong năm

đó, cuộc khởi nghĩa của Đội Lu - sử phong kiến gọi là “giặc cơ vàng” bị dậptắt, vua Tự Đức ra lệnh “giết sạch những ai đã tham gia phong trào”, CaoThắng đợc Phan Đình Thuật (anh cụ Phan) đang giữ chức Giáo Thụ che chởnên thoát chết

Năm 1881 Cao Thắng tạm về quê và ở quê nhà ông đã chống bọn cờnghào địa phơng cớp đất của dân nên bị bắt giam ở nhà lao Hà Tĩnh hai năm(1884 - 1886) Khi Lê Ninh khởi nghĩa đánh thành Hà Tĩnh giải thoát nhữngngời bị giam trong đó có Cao Thắng

Vào lúc phong trào chống Pháp ứng nghĩa Cần Vơng đang diễn ra mãnh

mẽ trên khắp toàn tỉnh, Cao Thắng vội về quê, cùng em là Cao Nữu và ban làNguyễn Đình Kiểu tổ chức nghĩa quân chống Pháp Căn cứ Cồn Chùa đợcchọn để xây dựng lực lợng kháng chiến Năm 1886 khi nghe tin Phan ĐìnhPhùng khởi nghĩa anh em Cao Thắng đem 60 nghĩa binh từ Sơn Nghĩa về núiPhụng Công xin hội quân Và cụ Phan đã phong cho Cao Thắng giữ chứcQuản Cơ, phụ trách việc xây dựng lực lợng

Từ đây sự nghiệp cứu nớc của ngời nông dân Cao Thắng gắn với khởinghĩa Phan Đình Phùng

Năm 1887 Cụ Phan ra Bắc bàn việc liên kết với phong trào ngoài đó,Cao Thắng đợc giao toàn quyền chỉ huy khởi nghĩa Ông chủ trơng “khôngbạo động mà tiếp tục xây dựng lực lợng chuẩn bị cho cuộc chiến đấu lâu dài”.Ngoài ra ông còn liên hệ chặt chẽ với đội quân của Lê Ninh, của Nguyễn DuyTrạch, Nguyễn Duy Chanh, Trần Hữu Châu, Nguyễn Huy Thuận trên địa bàn

Hà Tĩnh và khởi nghĩa của Nguyễn Xuân Ôn ở Nghệ An Bởi vậy sau ba năm(1887 - 1889) Cao Thắng đã tập hợp đợc một lực lợng đông đảo đi theo ngọn

cờ Cần Vơng kháng Pháp

Trang 26

Cao Thắng không chỉ là ngời chỉ huy mu lợc trong tổ chức chiến đấu

mà còn là ngời đã nghiên cứu, chế tạo ra vũ khí cho nghĩa quân Theo CaoThắng để thắng giặc chỉ có tinh thần yêu nớc, ý chí chiến đấu dũng cảm hysinh thì cha đủ mà còn cần phải có vũ khí tốt và nhiều Cao Thắng đã chủ tr-

ơng cớp súng của giặc Pháp để lấy mẫu trong trận phục kích giặc từ Nghệ Anlên đồn Phố (Hơng Sơn) đã cớp đợc 17 khẩu súng, đạn và tiền bạc Sau đó ôngtập hợp toàn bộ thợ rèn ở hai làng Trung Lơng, Vân Tràng (Can Lộc) để rèn

vũ khí Nhân dân đã ủng hộ nồi, mâm đồng, sắt vụn, cày cuốc h hỏng… bởivậy đã tạo nên một căn cứ rèn đúc vũ khí nh một công xởng Sau ba tháng đãchế tạo đợc 350 khẩu súng theo kiểu 1874 của Pháp, chính quân Pháp cũng đãphải thừa nhận Cao Thắng là một kỹ s có tài Một sỹ quan Pháp nói rằng: “Tôi

đã đem nhiều khẩu súng đó về bên Pháp, nó giống về mọi mặt nh của cáccông binh xởng nớc ta chế tạo… chỉ khác là lò xo yếu và lòng súng có rãnhxoắn, đạn đi không xa và không mạnh” [10]

Trong nhân dân có những vần thơ đề tựa Cao Thắng:

Khen thay Cao Thắng tài to

Lấy ngay súng giặc về kho lò rèn

Đêm ngày tỷ mỉ mở xem Lại thêm có cả đội quân cũng tài Xởng trong cho chí xởng ngoài Thợ rèn các tỉnh đều mời hội công Súng ta đúc đạn vừa xong

Đem ra vừa bắn nức lòng lắm thay…”

Trang 27

Cuối năm 1893 trớc tình hình quân Pháp vẫn giữ đợc vòng vây, CaoThắng đã đề nghị với cụ Phan mở đợt tiến công ra đồng bằng, trớc hết đánhvào tỉnh lị Nghệ An - nơi tập trung lực lợng chỉ huy của địch và đồng thờinhằm khai thông con đờng ra Bắc Nhng trong kế hoạch này, sau khi bị phụckích Cao Thắng đã hy sinh lúc mới 29 tuổi.

Cao Thắng hy sinh, nghĩa quân mất đi một ngời chỉ huy mu lợc, cụPhan mất đi một vị thủ lĩnh kiên trung, quả cảm Đây là tổn thất to lớn đối vớicuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng cũng nh phong trào Cần Vơng cả nớc

* Cao Đạt:

Là một thủ lĩnh địa phơng tham gia khởi nghĩa, đợc cụ Phan tin tởng

Ông sinh năm 1860 tại làng Bàu, tổng Tình Diện (xã Sơn Quang - Hơng Sơnngày nay) Cha là Cao Nựu Ông thích học võ nghệ, đậu cử nhân, từng làmquan nhỏ ở triều đình

Năm 1885 khi xa giá của vua Hàm Nghi ra đến Quảng Trị, Cao Đạt đợcNguyễn Chí uỷ nhiệm chỉ huy một toán quân đón vua ở đèo Quỳ Hợp ra sơnphòng (xã Phú Gia - Hơng Khê) Hộ giá theo vua sang Lào, tổ chức thu gom

vũ khí chuẩn bị lực lợng để khởi nghĩa

Năm 1886 tại Bãi Cồn quê ông, Cao Đạt chỉ huy làm lễ tế cờ nổi dậyCần Vơng chống Pháp Sau khi Phan Đình Phùng lên xây dựng căn cứ khởinghĩa ở vùng rừng núi Vũ Quang, Cao Đạt đã đem nghĩa binh hội quân vớiPhan Đình Phùng và Cao Thắng

Cao Đạt tham gia khởi nghĩa Phan Đình Phùng chỉ huy quân thứ Diễnthứ, giữ còn đờng liên lạc với Lào, Xiêm để mua thuốc súng, đạn… Cao Đạttham gia chỉ huy trận tập kích đồn Phố, chống càn ở Đại Hàm năm 1894

* Hai anh em Nguyễn Duy Chanh, Nguyễn Duy Trạch :

Vốn xuất thân từ một gia định nông dân nghèo ở lang Gia Hanh, ĐổngNga Khê (xã Nhân Lộc - Can Lộc) Hai ông chuyên nghề đi rừng lấy củi, đốtthan, đêm đến thì rủ bạn bè kéo nhau đi lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo

Trang 28

Khi đợc tin vua Hàm Nghi ra chiếu Cần Vơng, hai ông đã tề tựu đợc 50

- 60 ngời gan dạ trong đám lục lâm lên Rú Chè (Trà Sơn - Can Lộc) ăn thề,bàn chuyện khởi nghĩa, ai nấy đều háo hức đi đánh Tây

Năm 1890 hai ông lập mu trá hàng giặc, giết lính tập, cớp vũ khí, rồikéo cờ xin gia nhập nghĩa quân cụ Phan Nguyễn Duy Trạch đợc giao chỉ huyquân thứ Can thứ (Can Lộc), Nguyễn Duy Chanh chỉ huy quân thứ Kỳ thứ(Kỳ Anh)

* Ngô Quảng:

Ngô Quảng quê ở Nghi Lộc - Nghệ An Lúc đầu ông dấy binh ởquê nhà, về sau hội quân với Đề Mâu, Hà Văn Mĩ (Tiên Điền - Nghi Xuân) và

đợc giao chỉ huy quân thứ Nghi Xuân

Ông từng làm nhiều nghề, tinh thông binh pháp, lại có phép “tàng hình”nên nhân dân hay gọi ông là “Cố thần”

Địa bàn hoạt động của ông là vùng Ngàn Hống, sau khi Cần Vơng gặpkhó khăn, ông vẫn tiếp tục lặn lội, mong gây dựng lại cơ đồ Khắp một vùngNgàn Hống, Truông Bát, Truông Vắt (Hơng Khê) ông thuộc nh lòng bàn tay

Ông thờng đội nón mê, mình vác súng, đi nhanh nh gió, nhiều lần bị giặc búavây nhng ông đầu thoát đợc, bọn chúng gọi ông là “thằng giặc già”

* Nguyễn Huy Thuận:

Ngời làng Xuân Giang, xã Thợng Nhất (Nghi Xuân - Hà Tĩnh), là một

địa chủ nhà giàu ông bỏ tiền ra mua chức bá hộ nên nhân dân hay gọi ông làbá hộ Thuận

Hởng ứng chiếu Cần Vơng, ông đã nổi dậy đánh Pháp từ năm 1885, đến

1889 thì đem lực lợng hội quân với nghĩa binh Phan Đình Phùng Và Phan

Đình Phùng đã phong ông giữ chức Tán dơng quân vụ, giao cho chỉ huy quânthứ Thạch thứ (Thạch Hà) sau đó ông bị Pháp bắt và giết

Trang 29

* Cầm Bá Thớc:

Tiêu biểu cho thủ lĩnh đồng bào dân tộc ít ngời Sau khi phong trào CầnVơng ở Thanh Hoá gặp khó khăn (từ năm 1892), Tôn Thất Thuyết bị bắt thấykhông thể chiến đấu đơn độc, tháng 3/1892 Cầm Bá Thớc đã liên hệ, hội quânvới khởi nghĩa Phan Đình Phùng Cầm Bá Thớc đợc giao nhiệm vụ chỉ huyquân thứ Thanh thứ (Thanh Hoá) để gây dựng phong trào Cần Vơng trở lại và

để phối hợp với Phan Đình Phùng khởi nghĩa

Qua tìm hiểu lực lợng lãnh đạo khởi nghĩa Phan Đình Phùng, từ thủ lĩnhtối cao của nghĩa quân là Phan Đình Phùng, Cao Thắng đến hệ thống các tớnglĩnh là các ông Đề, ông Đốc, ông Bang, ông Lãnh… tiêu biểu nh Phan CátTựu, Cao Đạt, Lê Trực, Hoàng Bá Xuyên hay những ngời nông dân nhNguyễn Duy Trạch, Nguyễn Duy Chanh, Nguyễn Huy Thuận, Ngô Quảng, địachủ Nguyễn Huy Thuận… gồm nhiều thành phần nhng họ là những văn thân

sỹ phu, đứng ra Cần Vơng cứu nớc Họ là những trí thức phong kiến còn giữ

đợc khí tiết, họ đứng lên kháng Pháp không phải dựa vào sinh lực của chế độphong kiến còn sót lại mà là dựa vào tinh thần độc lập dân tộc, vào truyềnthống yêu nớc hàng ngàn năm của dân tộc, đứng về phía nhân dân tập hợp vàlãnh đạo quần chúng kháng Pháp Hay nói cách khác, động lực thúc đẩynhững bậc hu quan, những quan lại nhỏ, ít đặc quyền, đặc lợi đứng ra “phòvua cứu nớc” không còn xuất phát từ thế và lực của giai cấp phong kiến đãmất vai trò lịch sử mà nó bắt nguồn từ sức sống của một dân tộc với nhữngtrang sử vẻ vang về truyền thống dựng nớc và giữ nớc qua hàng ngàn năm

Nhng do hạn chế về ý thức giai cấp và thời đại mà con đờng các bậc vănthân sỹ phu lựa chọn không thể chệch bánh khỏi quỹ đạo phong kiến Hành

động yêu nớc trung quân, tiết nghĩa của họ chẳng qua cũng chỉ là bỏ vua bánnớc theo vua yêu nớc đứng ra ứng nghĩa Cần Vơng

Họ đứng về phía nhân dân, đợc nhân dân truyền cho bầu nhiệt huyết,sinh khí để có thể kéo dài cuộc khởi nghĩa suốt hơn 10 năm, họ nhận thức đợcrằng, lẽ “trung quân ái quốc” bảo vệ độc lập dân tộc là trên hết Đồng thời họcòn nhận ra rằng “vua là đại diện cho tinh thần dân tộc quốc gia, nhng dù vua

Trang 30

mất, cái tinh thần quốc gia ấy cũng không vì cá nhân ông vua mà tiêu diệt”[11,141] Bởi vậy sau khi vua Hàm Nghi bị bắt (1888) thì khởi nghĩa Phan

Đình Phùng vẫn tiếp tục phát triển và diễn ra nhiều trận đánh lớn

Điều đó nói lên rằng bộ phận sỹ phu tham gia khởi nghĩa Phan ĐìnhPhùng nói riêng và phong trào Cần Vơng cả nớc nói chung, khi tổ quốc bịxâm lăng thì họ đã đứng trên lập trờng yêu nớc hơn là lập trờng Cần Vơng

Phong trào yêu nớc của nhân dân cuối thế kỷ XIX thừa nhận sự lãnh

đạo của những văn thân sỹ phu cũng có nghĩa là “cái tinh thần uỷ mị của đámvua tôi thất trận đã đợc bồi dỡng bằng chí khí giết giặc cứu nớc cuả hàng vạnnhà nho nghèo địa phơng, của hàng triệu nông dân bị tàn phá làng mạc, cớpruộng trở thành vong gia bất hủ” (Trần Huy Liệu), với mục đích “dân tộc độclập là trền hết Do đó “khẩu hiệu Cần Vơng bị bó hẹp những vẫn nằm trongphạm vi dân tộc”

Bên cạnh những mặt tích cực, thì bộ phận lãnh đạo khởi nghĩa Phan

Đình Phùng nói riêng và phong trào Cần Vơng cả nớc nói chung đang thiêúhẳn một đờng lối kháng chiến, ngọn cờ Cần Vơng cứu nớc của họ giơng caomới chỉ để “chuyển loạn làm trị, chuyển nguy làm an” Do hạn chế về giaicấp, họ đang lẫn lỗn giữa bạn và thù, giữa kẻ đi xâm lợc và ngời chống xâm l-

ợc… do đó mà không tập hợp lực lợng đông đảo tham gia Họ đúng đắn khi

đ-a rđ-a khấu hiệu “Bình Tây” thì lại sđ-ai lầm với khẩu hiệu “sát tả”, điều này đãphá hoại khối đoàn kết dân tộc đang còn đợc củng cố và thắt chặt

Vào buổi “quá độ” của lịch sử dân tộc, khi giai cấp cũ đã mất hết vaitrò, giai cấp mới cha đủ điều kiện ra đời, trớc tiếng súng xâm lợc, bộ phận vănthân sỹ phu lãnh đạo phong trào còn có những hành động tự phát Bên cạnh sựchỉ huy của văn thân là những thủ lĩnh nông dân cũng tham gia lãnh đạo khởinghĩa, họ là những ngời có võ nghệ mu trí có uy tín, có tài chỉ huy đợc các sỹphu tin tởng nh Cao Thắng, Cao Đạt, Ngô Quảng… sự có mặt của những thủlĩnh nông dân đã làm cho việc tổ chức lực lợng khởi nghĩa đợc dễ dàng vàquan trọng hơn là làm cho cuộc khơỉ nghĩa Phan Đình Phùng không còn bị bóhẹp trong khuôn khổ

Trang 31

2.2.2 Lực lợng chiến đấu

Muốn tiến hành chiến tranh vũ trang, hay khởi nghĩa vũ trang trớc hếtphải có lực lợng chiến đấu Lực lợng chiến đấu mạnh hay yếu là nhân tố trựctiếp đa đến sự thành bại trên chiến trờng Vì vậy, nghiên cứu “tổ chức lực lợngkhởi nghĩa Phan Đình Phùng, ngoài việc tìm hiểu lực lợng lãnh đạo, lực lợngchiến đấu cũng có ý nghĩa không kém phần quan trọng

Trong khởi nghĩa vũ trang, sức mạnh của nó đợc biểu hiện trong lực ợng chiến đấu Lực lợng chiến đấu bao gồm sinh lực và phơng tiện chiếntranh, sức mạnh và trí tuệ của con ngời kết hợp với vũ khí chiến đấu, trong đócon ngời là sức mạnh to lớn quan trọng nhất Ăng ghen đã từng cho rằng :

l-“Xét cho cùng quyết định số phận của chiến tranh là con ngời chứ không phải

là kỉ thuật” Và Lê Nin cùng nhấn mạnh: “Bất cứ cuộc chiến tranh nào, suycho cùng là do quần chúng đổ máu trền chiến trờng quyết định”

* Thành phần tham gia khởi nghiã:

Khởi nghĩa Phan Đình Phùng là một cuộc đấu tranh nhằm giải phóngdân tộc, là một cuộc khởi nghĩa vũ trang chính nghĩa của một dân tộc nhỏ yếuchống chiến tranh xâm lợc phi nghĩa của một tên thực dân đến từ một nớc tbản có kỷ thuật hiện đại đó là t bản Pháp Bởi vậy cuộc khởi nghĩa đã quy tụ

đông đảo các thành phần tham gia, bởi chiến tranh bảo vệ độc lập dân tộc “xétcho đến cùng là chiến tranh nhân dân” Chỉ có thể vì mục đích độc lập dân tộcmới khơi dậy đợc sức mạnh của quần chúng, nếu “đa quần chúng vào chiếntranh ăn cớp thì không thể mong chờ vào sự nhiệt tình của quần chúng đợc”.Quần chúng là ngời sáng tạo ra lịch sử, là nhân tố quyết định sự phát triển và

đồng thời là lực lợng nòng cốt của bất kỳ một cuộc khởi nghĩa vũ trang nào

Nhận thức từ những vấn đề lý luận trên cũng nh đợc đúc rút từ tronglịch sử, mà cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng thành phần tham gia chủ yếu lànông dân “Nông dân tiêu biểu cho đạo quân chủ yếu của phong trào dân tộc

Ngày đăng: 18/12/2013, 20:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1- Đào Trinh Thất : Phan Đình Phùng nhà lãnh đạo 10 năm kháng chiến (1886 - 1895) ở Nghệ Tĩnh. NXB Văn Hoá thông tin TP Hồ Chí Minh 1996 Khác
2- Đinh Xuân Lâm. Cao Thắng với phong trào yêu nớc chống Pháp xuân lợc cuối XIX. Nghiên cứu lịch sử số 164 (tháng 10năm 1975) Khác
3- Đinh Xuân Lâm - Trịnh Nhu (1985 ). Từ Ba Đình đến Hùng Lĩnh. NXB Thanh Hoá Khác
4- Hoàng Văn Lân - Ngô Thị Chính ( 1979 ): Lịch sử Việt Nam ( 1858 - cuối XIX ). Q III. Tập 1. NXB giáo dục Hà Nội Khác
5- Kỷ niệm 70 năm ngày thắng trận Vũ Quang của nghĩa quân Hơng Khê do Phan Đình Phùng chỉ huy 26/10/1894 Khác
6- Nguyễn Bá Thành : Hơng Khê 135 năm ( 1865 - 2000 ), NXB KHXH & NV. Hà Nội 2000 Khác
7- Nguyễn Khánh Toàn chủ biên ( 1989 ): Lịch sử Việt Nam .Tập 2 -NXB Khoa học xã hội Khác
8- Lịch sử Đảng bộ huyện Hơng Khê. NXB chính trị quốc gia Hà Nội 1999 Khác
9- Lịch sử Nghệ Tĩnh -Tập 1. NXB Nghệ Tĩnh 1984 Khác
10- Phan Đình Phùng: NXB quân đội (1960) . 11- Phan Trần Chức : Vua Hàm Nghi Khác
12- Thái Kim Đỉnh : Cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng qua truyện kể lu truyền ở Nghệ Tĩnh. Tài liệu nghiên cứu, khảo cứu văn hoá dân gian. Sở VHTT Hà Tĩnh - Năm 1986 Khác
13- Thái Kim Đỉnh . Cao Thắng nhà tổ chức chỉ huy quân sự tài năng. Tạp chí văn hoá thông tin Hà Tĩnh (tháng 8/1982) Khác
14- Trần Huy Liệu : Cuộc khởi nghĩa Phan Đình Phùng tiêu biểu của phong trào văn thân ( 1885 - 1896 ) .Tạp chí Văn - Sử - Địa số 45 tháng 10/1958 Khác
15- Trần Huy Liệu (1957) : Lịch sử 80 năm chống Pháp. NXB Văn- Sử - Địa Hà Nội Khác
16- Trần Tiến Thành : Di tích danh thắng Hà Tĩnh. Sở VHTT Hà Tĩnh 1997 Khác
17- Trần Văn Giàu (1957 ). Chống xâm lăng - Q III: Phong trào Cần V-ơng. NXB Xây Dựng Hà Nội Khác
18- Tỉnh uỷ, UBND tỉnh Hà Tĩnh : Lịch sử Đảng bộ Hà Tĩnh tập 1. NXB Khoa học xã hội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w