Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu tìm hiểu về mối quan hệ giữa gian lận báo cáo tài chính và các chỉ số Z, chỉ số P để nhận dạng những tín hiệu về biểu hiện gian lận báo cáo tài chính thông qua các chỉ số này. Mời các bạn tham khảo!
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
TRẦN NGỌC TRÂM NGUYỄN ĐÌN
H HÙNG
PHÂN TÍCH NHỮNG BIỂU HIỆN GIAN LẬN BÁO CÁO TÀI CHÍNH THÔNG QUA SỰ KẾT HỢP CHỈ SỐ Z VÀ CHỈ SỐ P CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
PGS.TS VÕ VĂN NHỊ
Năm 2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
TRẦN NGỌC TRÂM NGUYỄN ĐÌN HÙNG
PHÂN TÍCH NHỮNG BIỂU HIỆN GIAN LẬN BÁO CÁO TÀI CHÍNH THÔNG QUA SỰ KẾT HỢP CHỈ SỐ Z VÀ CHỈ SỐ P CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi với sự hướng dẫn của Người hướng dẫn khoa học Tất cả các nguồn tài liệu tham khảo đã được công bố đầy đủ Nội dung của luận văn là trung thực
Tác giả luận văn Trần Ngọc Trâm
Trang 4Mục lục Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng, biểu đồ và hình vẽ
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN GIAN LẬN BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ VAI TRÒ CỦA CHỈ SỐ Z TRONG PHÁT HIỆN GIAN LẬN BCTC 6
1.1 Khái niệm 6
1.1.1 Gian lận 6
1.1.2 Gian lận báo cáo tài chính 7
1.2 Các nghiên cứu trước đây về gian lận và gian lận báo cáo tài chính 7
1.2.1 Về học thuật 7
1.2.2 Nghiên cứu của các tổ chức nghề nghiệp 11
1.2.3 Các trường hợp gian lận báo cáo tài chính điển hình tại Hoa Kỳ ……….14
1.3 Các hình thức gian lận báo cáo tài chính 19
1.3.1 Che giấu nợ phải trả và chi phí 19
1.3.2 Ghi nhận doanh thu không có thật 20
1.3.3 Định giá sai tài sản 20
1.3.4 Ghi nhận sai niên độ 20
1.3.5 Không công bố thông tin quan trọng 20
1.4 Z’Score và vai trò trong phát hiện gian lận báo cáo tài chính 21
1.4.1 Tác giả 21
1.4.2 Công thức tính 21
1.4.3 Các nghiên cứu trước Edward I.Altman 22
1.4.4 Tính chính xác 22
Trang 51.4.5 Z’Score và dự báo gian lận báo cáo tài chính 23
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 26
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH NHỮNG BIỂU HIỆN GIAN LẬN BÁO CÁO TÀI CHÍNH THÔNG QUA SỰ KẾT HỢP CHỈ SỐ Z VÀ CHỈ SỐ P CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM 27
2.1 Tổng quan về thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn từ năm 2000 - 2010 27
2.1.1 Các giai đoạn phát triển 27
2.1.2 Quy mô và đóng góp cho nền kinh tế 28
2.2 Khảo sát về gian lận BCTC thông qua chỉ số Z và kết hợp chỉ số P của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 29
2.2.1 Tổng quan về đối tượng khảo sát 29
2.2.2 Phân tích các chỉ số 32
2.2.3 Kết luận về kết quả khảo sát 49
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 50
CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG MÔ HÌNH NHẬN DIỆN GIAN LẬN BÁO CÁO TÀI CHÍNH THÔNG QUA BIẾN ĐỘNG VÀ TƯƠNG QUAN CỦA CHỈ SỐ Z KẾT HỢP CHỈ SỐ P 51
3.1 Quan điểm của các đề xuất 51
3.1.1 Dựa trên thực tiễn Việt Nam 51
3.1.2 Tôn trọng xu hướng hội nhập 52
3.2 Mô hình 53
3.2.1 Mô hình 53
3.2.2 Các khuyến nghị áp dụng 55
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 60
KẾT LUẬN 61
Danh mục tài liệu tham khảo
Phụ Lục
Trang 6Danh mục các chữ viết tắt
ACFE : Hiệp hội các nhà điều tra gian lận Hoa Kỳ
BBC : Công ty Cổ phần Bibica
BBT : Công ty Cổ phần Bông Bạch Tuyết
BCTC : Báo cáo tài chính
CEO : Giám đốc điều hành
CFO : Giám đốc tài chính
COSO : Ủy ban quốc gia về chống gian lận báo cáo tài chính của Hoa Kỳ DVD : Công ty Cổ phần Dược phẩm Viễn Đông
FBI : Cục Điều tra Liên Bang Hoa Kỳ
SEC : Ủy ban Chứng khoán và hối đoái của Hoa Kỳ
TRI : Công ty Cổ phần nước giải khát Sài Gòn - Tribeco
TP.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 7Danh mục các bảng, biểu đồ và hình vẽ
Danh mục các bảng
Bảng 1.1: Thống kê các trường hợp gian lận báo cáo tài chính tại Hoa kỳ 15
Bảng 2.1: Thông tin chung về các đối tượng khảo sát 30
Bảng 2.2: Quy mô vốn các đối tượng khảo sát 31
Bảng 2.3: Chỉ số Z của các công ty khảo sát 33
Bảng 2.4: Thống kê mô tả chỉ số Z 34
Bảng 2.5: Chỉ số Z qua 5 năm quan sát 34
Bảng 2.6: Tổng hợp xu hướng chỉ số Z qua 5 năm quan sát 36
Bảng 2.7: Tổng hợp so sánh chỉ số Z với ngưỡng khả năng phá sản 37
Bảng 2.8: Tổng hợp xu hướng (Z – 1,81) qua 5 năm quan sát 38
Bảng 2.9: Chỉ số P của các công ty khảo sát 39
Bảng 2.10: Thống kê mô tả chỉ số P 40
Bảng 2.11: Chỉ số P qua 5 năm quan sát 40
Bảng 2.12: Tổng hợp xu hướng chỉ số P qua 5 năm quan sát 42
Bảng 2.13: Hiệu số (∆P - ∆Z) của các công ty khảo sát 43
Bảng 2.14: Thống kê mô tả (∆P - ∆Z) 44
Bảng 2.15: Hiệu số (∆P - ∆Z) qua 5 năm quan sát 44
Bảng 2.16: Tổng hợp xu hướng (∆P - ∆Z) qua 5 năm quan sát 46
Bảng 2.17: So sánh hiệu số (∆P - ∆Z) với ngưỡng 0,37 47
Bảng 2.18: Tổng hợp xu hướng ((∆P - ∆Z) – 0,37) qua 5 năm quan sát 48
Bảng 3.1 Các dấu hiệu nhận diện khả năng gian lận BCTC 55
Danh mục các biểu đồ Biểu đồ 2.1: Xu hướng biến động chỉ số Z 35
Biểu đồ 2.2: Xu hướng biến động chỉ số Z so với ngưỡng 1,81 37
Biểu đồ 2.3: Xu hướng biến động chỉ số P 41
Trang 8Biểu đồ 2.4: Xu hướng biến động hiệu số (∆P - ∆Z) 45 Biểu đồ 2.5: Xu hướng biến động hiệu số (∆P - ∆Z) so với ngưỡng 0,37 47
Danh mục các hình vẽ
Hình 3.1: Mô hình nhận diện gian lận báo cáo tài chính……….53
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Gian lận báo cáo tài chính trên thế giới ngày càng gia tăng và trở thành vấn đề nghiêm trọng đối với các doanh nghiệp, chính phủ, và các nhà đầu tư Đặc biệt là tại các quốc gia có thị trường vốn, gian lận báo cáo tài chính đã đe dọa đến niềm tin của công chúng vào thông tin trên thị trường
Tại Hoa kỳ, chi phí của các tổ chức doanh nghiệp bị tổn hại liên quan đến gian lận hàng năm ước tính hơn 400 tỷ đôla, với gian lận lỗ trung bình của một doanh nghiệp là khoảng 6% trên tổng số doanh thu Trường hợp điển hình, gian lận báo cáo tài chính ở công ty Enron đã gây ra khoản lỗ 80 tỷ đôla trên thị trường vốn hóa của các nhà đầu tư bao gồm các tổ chức tài chính và các nhân viên nắm giữ cổ phiếu của công ty
Với số liệu trên, chúng ta thấy gian lận báo cáo tài chính gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng đối với thị trường vốn nói chung và đối với các công ty niêm yết nói riêng (bao gồm phá sản, những thay đổi quan trọng trong quyền
sở hữu, bị hủy niêm yết trên thị trường chứng khoán) Do đó, nghiên cứu gian lận báo cáo tài chính có giá trị lớn bởi vì tính hiệu quả và sức khỏe của thị trường vốn phụ thuộc vào chất lượng, tính trung thực, tính hữu ích, và tính đáng tin cậy của báo cáo tài chính được cung cấp trên thị trường Việc ngăn chặn và phát hiện gian lận báo cáo tài chính mang tính quyết định đối với sự phát triển nền kinh tế và sự hưng thịnh của một quốc gia
Tại Việt Nam, những gian lận báo cáo tài chính gần đây thông qua những tập đoàn kinh tế lớn, các công ty niêm yết đã được phát hiện và hậu quả gây ra cho thị trường và niềm tin của công chúng không nhỏ Vì vậy, việc phân tích những biểu hiện gian lận báo cáo tài chính để có những biện pháp ngăn chặn trước khi gian lận xảy ra và gây hậu quả nghiêm trọng là cần thiết
và đặc biệt đối với các đối tượng là các công ty niêm yết trên thị trường
chứng khoán Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài “Phân tích những biểu hiện
Trang 10gian lận báo cáo tài chính thông qua kết hợp chỉ số Z và chỉ số P của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” làm đề tài nghiên
cứu để đáp ứng sự cấp thiết và trong xu thế hội nhập hiện nay
Theo khảo sát của tác giả về các đề tài liên quan đến gian lận báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam thông qua cơ sở dữ liệu tại thư viện Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, các nghiên cứu trước đây cho thấy:
- Có 6 đề tài luận văn thạc sĩ nghiên cứu về gian lận báo cáo tài chính
từ năm 2001 đến năm 2013
- Nội dung các đề tài về gian lận báo cáo tài chính đều liên quan đến khía cạnh lĩnh vực kiểm toán, cụ thể là các thủ tục kiểm toán và vai trò của kiểm toán viên Cấu trúc tương tự nhau gồm 3 Chương trong
đó Chương 1 đề cập đến nội dung về khái niệm gian lận, gian lận báo cáo tài chính, các bài học rút ra từ gian lận báo cáo tài chính điển hình trên thế giới và ở Việt Nam, các phương pháp thực hiện gian lận báo cáo tài chính
- Các nghiên cứu trước đây đều tập trung vào việc hoàn thiện các thủ tục kiểm toán và nâng cao trách nhiệm của kiểm toán viên để phát hiện gian lận báo cáo tài chính trong cuộc kiểm toán báo cáo tài chính, chứ chưa đi vào việc quan sát sự biến động tương quan của các chỉ số tài chính trong các năm trước năm phát hiện ra gian lận báo cáo tài chính để từ đó xây dựng mô hình nhận diện gian lận báo cáo tài chính
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu tìm hiểu về mối quan hệ giữa gian lận báo cáo tài chính và các chỉ số Z, chỉ số P để nhận dạng những tín hiệu về biểu hiện gian lận báo cáo tài chính thông qua các chỉ số này
Trang 11- Công ty cổ phần Dược phẩm Viễn Đông (DVD)
- Công ty cổ phần nước giải khát Sài Gòn – Tribeco (TRI)
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Những biến động, tương quan của các chỉ số Z và chỉ số P của 04 trường hợp xảy ra gian lận báo cáo tài chính đã được phát hiện trên thị trường chứng khoán Việt Nam
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu bắt đầu bằng việc khảo sát lý thuyết về gian lận, gian lận báo cáo tài chính và các hình thức gian lận báo cáo tài chính đồng thời khảo sát các nghiên cứu trước đây trên góc độ lý thuyết và bài học kinh nghiệm về gian lận báo cáo tài chính để tìm ra mô hình tương quan giữa gian lận báo cáo tài chính và các chỉ số, tỷ số tài chính của doanh nghiệp
Trên cơ sở lý thuyết và các khảo sát về các nghiên cứu trước đây, nghiên cứu bài học kinh nghiệm từ các trường hợp gian lận báo cáo tài chính điển hình trên thế giới, nghiên cứu sẽ dựa trên giả thuyết nghiên cứu là gian lận báo cáo tài chính có mối quan hệ với các chỉ số, tỷ số tài chính của doanh nghiệp Trên cơ sở đó, câu hỏi nghiên cứu là:
Q1: Các trường hợp gian lận báo cáo tài chính tại Việt Nam có chứng minh được được giả thiết trên hay không?
Q2: Nếu giả thiết được chứng minh thì đặc điểm về biến động và tương quan của chỉ số Z và kết hợp với chỉ số P sẽ như thế nào?
Tiếp đến nghiên cứu sẽ tiến hành thu thập dữ liệu để tính toán chỉ số Z
và kết hợp với chỉ số P của 04 công ty niêm yết có gian lận báo cáo tài chính
Trang 12tại Việt Nam để tiến hành các phân tích, đánh giá, biện luận và đưa đến kết luận
Trên cơ sở kết luận nghiên cứu có thể đưa ra mô hình về nhận diện gian lận báo cáo tài chính thông qua nhận diện những đặc điểm về biến động, tương quan của chỉ số Z và kết hợp với chỉ số P
5 Đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn của đề tài
- Tính toán và trình bày được các biến động, tương quan của chỉ số Z
và chỉ số P của 4 trường hợp gian lận báo cáo tài chính điển hình tại Việt Nam để kết luận về tín hiệu gian lận báo cáo tài chính thông qua các chỉ số này
- Đề xuất các mô hình nhận diện rủi ro gian lận báo cáo tài chính cho các đối tượng có liên quan để sử dụng trong kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm soát trình bày thông tin tài chính
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và các danh mục, nội dung luận văn được chia thành ba chương:
Chương 1: Tổng quan gian lận báo cáo tài chính và vai trò của chỉ số Z
trong phát hiện gian lận báo cáo tài chính
Chương 2: Phân tích những biểu hiện gian lận báo cáo tài chính thông
qua sự kết hợp chỉ số Z và chỉ số P của các công ty niêm yết tại Việt
Nam
Trang 13Chương 3: Xây dựng mô hình nhận diện gian lận báo cáo tài chính
thông qua biến động và tương quan của chỉ số Z kết hợp chỉ số P
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN GIAN LẬN BÁO CÁO
TÀI CHÍNH VÀ VAI TRÒ CỦA CHỈ SỐ Z TRONG PHÁT HIỆN
GIAN LẬN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.1 Khái niệm
1.1.1 Gian lận
Gian lận là một họat động được thực hiện trong môi trường kinh tế, xã hội và gây ra hậu quả xấu cho nền kinh tế, doanh nghiệp và các cá nhân Có rất nhiều định nghĩa về gian lận, cụ thể như sau:
- Theo Hiệp hội các nhà điều tra gian lận Hoa Kỳ, gian lận là việc lạm dụng hoặc áp dụng sai một cách chủ tâm đối với tài sản hoặc nguồn lực của doanh nghiệp với mục đích tư lợi
- Cục điều tra liên bang Hoa kỳ (FBI) trình bày một định nghĩa rộng hơn nhưng hữu ích về gian lận Cụ thể về tội phạm văn phòng có những đặc tính như lừa dối, hành động che giấu, hoặc lợi dụng sự tin tưởng Những hành động gian lận được thừa nhận bởi cá nhân và tổ chức chứa đựng yếu tố liên quan đến tiền, bất động sản, hoặc dịch vụ,
để tránh trả tiền hoặc mất tiền, hoặc để bảo đảm thuận lợi cá nhân hoặc doanh nghiệp
- Theo chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 240 – Trách nhiệm của kiểm toán viên liên quan đến gian lận trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính, gian lận là hành vi cố ý do một hay nhiều người trong Ban quản trị, Ban giám đốc, các nhân viên hoặc bên thứ ba thực hiện, bằng các hành vi gian dối để thu lợi một cách bất chính hoặc bất hợp pháp
Tóm lại, gian lận là hành vi tư lợi, lạm dụng hoặc áp dụng sai một cách
cố ý, biển thủ tài sản hoặc nguồn lực của tổ chức gây thiệt hại cho tổ chức đó nói riêng và nền kinh tế nói chung
Trang 151.1.2 Gian lận báo cáo tài chính
Cũng như khái niệm về gian lận, gian lận báo cáo tài chính cũng có nhiều khái niệm khác nhau, cụ thể như sau:
- Theo Hiệp hội các nhà điều tra gian lận của Hoa Kỳ, gian lận báo cáo tài chính là báo cáo sai lệch do cố ý hoặc bỏ sót những nhân tố quan trọng, hoặc dữ liệu kế toán sai lệch, và hậu quả gây ra cho người đọc
có những quyết định hoặc đánh giá không chính xác khi xem xét các thông tin trên báo cáo tài chính
- Theo Báo cáo của Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia về chống gian lận trên báo cáo tài chính của Hoa Kỳ (Treadway Commission), gian lận báo cáo tài chính là sự kiểm soát thiếu thận trọng do cố ý hay vô ý dẫn đến kết quả báo cáo tài chính sai lệch nghiêm trọng
Tóm lại, gian lận báo cáo tài chính cũng mang những đặc điểm của gian lận tuy nhiên phạm vi thực hiện của nó nhỏ hơn chỉ giới hạn trong việc làm sai lệch các thông tin trên báo cáo tài chính
1.2 Các nghiên cứu trước đây về gian lận và gian lận báo cáo tài chính 1.2.1 Về học thuật
Tác giả sẽ tóm tắt các nghiên cứu điển hình về gian lận, gian lận báo cáo tài chính dưới góc độ học thuật về hai nội dung chủ yếu là phạm vi nghiên cứu và kết quả nghiên cứu Các nghiên cứu điển hình bao gồm:
1.2.1.1 Edwin H Sutherland (1883-1950)
- Phạm vi khảo sát
Hành vi gian lận được thực hiện bởi nhà quản lý đối với chủ sở hữu
- Kết quả nghiên cứu
Tội phạm học cũng cần phải được nghiên cứu bài bản, giống như toán học, lịch sử hay ngoại ngữ
Trang 16 Quá trình phạm tội thường thông qua một quá trình giao tiếp với xã hội, vì hành vi phạm tội không thể tiến hành nếu như không có sự tác động của yếu tố bên ngòai
Một tổ chức mà có các nhân viên không lương thiện sẽ ảnh hưởng ngay đến các nhân viên lương thiện
1.2.1.2 Donald R.Cressey (1919-1987)
- Phạm vi khảo sát
Phân tích gian lận dưới góc độ tham ô và biển thủ, thông qua khảo sát
200 trường hợp tội phạm kinh tế
- Kết quả nghiên cứu
Mô hình “Tam giác gian lận”, gồm ba nhân tố sau:
Áp lực: có thể là những bế tắc trong cuộc sống cá nhân như khó khăn
về tài chính, rạn nứt trong mối quan hệ giữa người chủ và người làm thuê… Qua khảo sát những hành vi gian lận, Donald R.Cressey đã tóm tắt về sáu trường hợp chính tạo nên áp lực như sau:
o Loại 1: Khó khăn về tài chính
o Loại 2: Hậu quả từ thất bại cá nhân
o Loại 3: Khó khăn về kinh doanh
o Loại 4: Bị cô lập
o Loại 5: Muốn ngang bằng người khác
o Loại 6: Mối quan hệ chủ - thợ
Cơ hội: Khi đã bị áp lực, nếu có cơ hội, họ sẵn sàng thực hiện hành vi
gian lận Có 2 yếu tố liên quan đến cơ hội là nắm bắt thông tin và kỹ năng thực hiện
o Nắm bắt thông tin: là khi nghe được, nhìn thấy được hành vi
gian lận của một người khác hay nhận thấy ở vị trí của mình
có thể thực hiện hành vi gian lận tương tự
Trang 17o Kỹ năng thực hiện: là cách thức để thực hiện hành vi gian
lận, kỹ năng này tùy thuộc vào vị trí của họ trong tổ chức
Thái độ, cá tính: Theo nghiên cứu của Donald R.Cressey, không phải
tất cả mọi người khi gặp khó khăn và có cơ hội cũng đều thực hiện gian lận, vì nó còn phụ thuộc rất nhiều vào thái độ hay cá tính của từng cá nhân Có những người dù chịu áp lực và có cơ hội thực hiện nhưng vẫn không hề thực hiện hành vi gian lận, và ngược lại
- Kết quả nghiên cứu
Xây dựng 50 dấu hiệu để chỉ dẫn về gian lận tập trung vào 2 đối tượng
là nhân viên và tổ chức
o Một số dấu hiệu đối với nhân viên:
Sống dưới mức trung bình
Nợ nần cao
Quá mong muốn có thu nhập cao
Có mối liên hệ thân thiết với khách hàng hay nhà cung cấp
Cảm giác được trả lương không tương xứng với sự đóng góp
Mối quan hệ chủ - thợ không tốt
Có mong muốn chứng tỏ là họ có thể vượt qua được sự kiểm soát của tổ chức
Có thói quen cờ bạc
Chịu áp lực từ gia đình hay phụ thuộc gia đình quá mức
Trang 18 Không được ghi nhận thành tích
o Một số dấu hiệu liên quan đến tổ chức:
Đặt quá nhiều lòng tin vào nhân viên chủ chốt
Thiếu thủ tục phê chuẩn thích hợp
Không yêu cầu công bố đầy đủ các khoản đầu tư và thu nhập cá nhân
Không tách biệt chức năng bảo quản tài sản và xét duyệt
Thiếu kiểm tra hay soát xét độc lập việc thực hiện
Không theo dõi chi tiết các hoạt động
Không tách biệt chức năng bảo quản tài sản với chức năng kế toán
Không tách biệt một số chức năng về kế toán
Thiếu chỉ dẫn rõ ràng về nhiệm vụ và quyền hạn
Thiếu sự giám sát của kiểm toán nội bộ
Mô hình bàn cân gian lận: gồm 3 nhân tố là hoàn cảnh tạo ra áp lực,
cơ hội và tính trung thực của cá nhân Khi hoàn cảnh tạo ra áp lực, cơ hội thực hiện gian lận cao cùng với tính liêm chính của cá nhân thấp, nguy cơ xảy ra gian lận là rất lớn Ngược lại, khi hoàn cảnh tạo ra áp lực, cơ hội thực hiện gian lận thấp cùng với tính liêm chính cao, nguy
cơ xảy ra gian lận là rất thấp
1.2.1.4 Richard C.Hollinger (1983)
- Phạm vi khảo sát
Nghiên cứu với cỡ mẫu lớn với hơn 10.000 nhân viên làm việc tại Hoa
Kỳ
- Kết quả nghiên cứu
Bốn vấn đề sau cần được các nhà quản lý tập trung để ngăn ngừa những hành vi ăn cắp trong tổ chức:
Trang 19 Quy định rõ ràng những hành vi không được chấp nhận trong tổ chức
Không ngừng phổ biến những thông tin hữu ích, những quy định của
tổ chức cho toàn thể nhân viên
Thực hiện việc phê chuẩn trong thực tế
Công khai các phê chuẩn
1.2.2 Nghiên cứu của các tổ chức nghề nghiệp
1.2.2.1 Hiệp hội các nhà điều tra gian lận Hoa Kỳ (ACFE) (1993-2012)
- Phạm vi khảo sát
Gửi bảng câu hỏi cho các đối tượng nhằm thu thập thông tin về các trường hợp gian lận mà họ từng chứng kiến từ năm 1993 đến năm
2012
- Kết quả nghiên cứu
Số trường hợp gian lận liên quan đến tài sản > tham ô, tham nhũng > gian lận báo cáo tài chính
Mức độ thiệt hại do gian lận liên quan đến tài sản < tham ô, tham nhũng < gian lận báo cáo tài chính
Người thực hiện gian lận do nhân viên > nhà quản lý > chủ sở hữu, nhà quản lý cấp cao
Mức độ tổn thất do nhân viên thực hiện gian lận < nhà quản lý < chủ
sở hữu, nhà quản lý cấp cao
Gian lận ở doanh nghiệp có quy mô nhỏ là cao nhất do kiểm soát không chặt chẽ
Bình quân lỗ do gian lận gây ra trong nghiên cứu mới nhất của ACFE trên báo cáo năm 2012 là khoảng 140.000 đôla Mỹ Hơn 1/15 các trường hợp này gây ra lỗ ít nhất 1 triệu đôla Mỹ
Báo cáo gian lận thường kéo dài bình quân khoảng 18 tháng trước khi
bị phát hiện theo báo cáo mới nhất của ACFE năm 2012
Trang 20 Phần lớn các ngành công nghiệp liên quan đến gian lận báo cáo tài chính là các ngành dịch vụ tài chính và ngân hàng, các cơ quan quản
lý công cộng, và các doanh nghiệp sản xuất
1.2.2.2 COSO (2010)
- Phạm vi khảo sát
Phân tích 347 báo cáo tài chính gian lận của các công ty ở Mỹ trong suốt 10 năm từ năm 1998 đến 2007
- Kết quả nghiên cứu
So với COSO 1999, số trường hợp gian lận ngày càng lớn hơn, liên quan đến các công ty lớn hơn (như Enron, WorldCom, …), liên quan đến CEO và CFO nhiều hơn, và liên quan đến khai khống doanh thu nhiều hơn Cụ thể, như sau:
Số tiền gian lận báo cáo tài chính gần 400 triệu đôla Mỹ cho một trường hợp, gấp 16 lần trường hợp gian lận trên báo cáo COSO 1999 chỉ có 25 triệu đôla Mỹ cho một trường hợp
Điểm bình quân gian lận là 12,05 triệu đôla Mỹ trong nghiên cứu hiện tại, gấp 3 lần điểm bình quân gian lận 4,1 triệu đôla Mỹ trên nghiên cứu COSO 1999
Các công ty gian lận báo cáo tài chính có điểm bình quân tài sản và doanh thu chỉ dưới 100 triệu đôla Mỹ, lớn hơn các công ty gian lận trên nghiên cứu COSO 1999, có điểm bình quân tài sản và doanh thu dưới 16 triệu đôla Mỹ
Số lượng CEO và CFO liên quan đến gian lận báo cáo tài chính chiếm 89%, tăng lên từ 83% trên nghiên cứu COSO 1999
Gian lận doanh thu chiếm hơn 60%, so với con số 50% trong nghiên cứu COSO 1999
Trang 21 26% công ty gian lận thay đổi kiểm toán giữa kỳ báo cáo tài chính sạch và báo cáo tài chính gian lận, ngược lại chỉ có 12% công ty không gian lận thay đổi kiểm toán trong cùng thời gian 60% công ty gian lận thay đổi kiểm toán trong suốt thời kỳ gian lận, trong khi vẫn duy trì 40% công ty gian lận thay đổi kiểm toán trong năm tài chính trước khi gian lận bắt đầu
1.2.2.3 KPMG (1999)
- Phạm vi khảo sát
Khảo sát 5.000 công ty nhà nước hàng đầu của Mỹ để xác định phạm
vi và tầm ảnh hưởng của gian lận trong tổ chức, bao gồm gian lận báo cáo tài chính, kiểm tra gian lận, trộm cắp hàng tồn kho
- Kết quả nghiên cứu
Gian lận có chi phí trung bình lớn nhất là gian lận báo cáo tài chính
Khoản lỗ bình quân của gian lận báo cáo tài chính là 1,24 triệu đôla
Mỹ
Kiểm soát nội bộ kém và quản lý tệ là hai điều kiện phổ biến nhất để gian lận xuất hiện
Việc cấu kết giữa nhân viên với đối tượng bên ngòai, cũng giống như
là giữa nhân viên với nhà quản lý được xem như là nguyên nhân quan trọng của gian lận
Áp lực tài chính cá nhân, theo sau là trộm cắp hay lạm dụng tài sản, được nhìn nhận là dấu hiệu quan trọng cho khả năng gian lận xuất hiện Những dấu hiệu khác là lời than phiền đối với tổ chức, căng thẳng tăng lên, áp lực nội bộ, kỳ nghĩ ngắn, và giờ giấc bất thường
Chiến lược ngăn chặn và phát hiện gian lận được đề nghị là sự cải tiến của kiểm soát nội bộ, tăng sự chú ý đến các nhà quản lý cấp cao bằng cách thiết lập tinh thần chung cho các cấp cao, cung cấp khóa huấn
Trang 22luyện trong việc ngăn chặn và phát hiện gian lận, thành lập một mã kiểm soát doanh nghiệp, kiểm tra nhân viên mới và cung cấp nội quy huấn luyện nhân viên
1.2.2.4 Ernst & Young (2000)
- Phạm vi khảo sát
Nghiên cứu 10.000 tổ chức ở 30 ngành công nghiệp khác nhau và ở 15 nước về gian lận
- Kết quả nghiên cứu
Phần lớn các nhà quản trị cấp cao (82%) chỉ ra rằng tất cả các gian lận
vi phạm bởi nhân viên và 28% là các nhà quản lý
Hầu như 2/3 các tổ chức có thể có gian lận trong vòng 12 tháng trước
Phần lớn các tổ chức (80%) biểu lộ sự quan tâm lớn đến khả năng gian lận nghiêm trọng trong tổ chức của họ
Gần 33% các tổ chức nói rằng xem xét gian lận được thực hiện gần đây trong tổ chức của họ
Hơn 40% các tổ chức chỉ ra sự thiếu hụt chính sách cụ thể liên quan đến báo cáo gian lận trong tổ chức của họ
1.2.3 Các trường hợp gian lận báo cáo tài chính điển hình tại Hoa Kỳ
Zabihollah Rezaee (2002), đã tiến hành thu thập và thống kê về các trường hợp gian lận báo cáo tài chính điển hình tại Hoa Kỳ từ những năm
1990 đến 2002, các thống kê về các trường hợp gian lận điển hình được tập hợp như sau:
Trang 23Bảng 1.1: Thống kê các trường hợp gian lận báo cáo tài chính
tại Hoa Kỳ
Tên Công Ty
Người thực hiện hoặc có liên quan
Kỹ thuật gian lận
Lĩnh vực hoạt động
Cendant
Corporation
Ba nhà sáng lập công ty
Khai khống doanh thu khoảng
500 triệu đôla Mỹ giữa năm 1995 và
1997
Bất động sản và công nghiệp du lịch
HBO &
Company
Hai nhà sáng lập, Chủ tịch và Giám đốc điều hành
Thổi phồng lợi nhuận khoảng hàng trăm triệu đôla Mỹ từ 1997 đến tháng 3/1999
Truyền hình cáp
và lĩnh vực truyền hình vệ tinh
Sunbeam
Corporation
Chủ tịch hội đồng quản trị, Giám đốc điều hành, và
4 nhà quản lý cấp cao
Ghi nhận doanh thu không có thực
Sản xuất thiết bị gia dụng điện
W.R.Grace &
Company
Giám đốc tài chính
Sử dụng bút toán đảo để thổi phồng lợi nhuận
Tập đoàn hóa chất
Trang 24Tên Công Ty
Người thực hiện hoặc có liên quan
Kỹ thuật gian lận
Lĩnh vực hoạt động
Enron
Corporation
Chủ tịch hội đồng quản trị, Giám đốc điều hành, Giám đốc tài chính
Khai khống doanh thu, giảm chi phí, khai khống nguồn vốn
Công ty về điện, khí gas tự nhiên, thông tin liên lạc, giấy
Digital
Lightware, Inc
Nhà sáng lập và các cổ đông lớn
Khai khống doanh thu
Cung cấp thiết bị kiểm tra và công nghệ cho ngành công nghiệp viễn thông
MicroStrategy,
Inc
Ba nhà điều hành đứng đầu trong
đó có Giám đốc tài chính
Thổi phồng doanh thu
Cung cấp dịch vụ kinh doanh thông minh, phần mềm điện thoại di động, dịch vụ dựa trên đám mây KnowledgeWare Giám đốc điều
hành và 6 nhà điều hành khác
Thổi phồng các báo cáo lợi nhuận
Công ty phần mềm
Informix
Corporation
Nhóm nhà quản
lý cấp cao và các nhà kiểm toán
Khai khống doanh thu
Công ty phần mềm máy tính
Trang 25Tên Công Ty
Người thực hiện hoặc có liên quan
Kỹ thuật gian lận
Lĩnh vực hoạt động
Thổi phồng doanh thu và thu nhập thuần
In ấn tem bưu chính và tiền tệ quốc gia
Livent, Inc Chín nhà quản lý
cấp cao, Giám đốc, và các nhân viên kế toán của Big-Five
Khai khống doanh thu, vốn hóa chi phí
Công ty giải trí
Aurora Foods,
Inc
Giám đốc tài chính, Giám đốc điều hành, nhà phân tích tài chính cấp cao, Giám đốc dịch vụ tài chính khách hàng
Khai khống báo cáo lợi nhuận, giảm chi phí thị trường với hơn 43 triệu đôla Mỹ
Sản xuất và tiếp thị các sản phẩm
có thương hiệu
Premier Laser
Systems, Inc
Phó chủ tịch hội đồng quản trị, Giám đốc tài chính
Khai khống doanh thu hàng quý
Cung cấp thiết bị
và trang thiết bị y
tế
Trang 26Tên Công Ty
Người thực hiện hoặc có liên quan
Kỹ thuật gian lận
Lĩnh vực hoạt động
Computone
Corporation
Chủ tịch và Giám đốc điều hành,
Bộ phận giám sát
và Giám đốc tài chính, Phó phòng tài chính, Phó bộ phận bán hàng
Khai khống doanh thu
Công ty dịch vụ
hệ thống thông tin
Cylink
Corporation
Giám đốc điều hành, Giám đốc tài chính, và các nhân viên quản lý khác
Khai khống doanh thu
Cung cấp dịch vụ
và hệ thống an ninh
Sirena Apparel
Group, Inc
Giám đốc điều hành, Giám đốc tài chính
Khai khống doanh thu
Công nghiệp may mặc, phụ kiện
Craig Consumer
Electronics
Giám đốc điều hành, Giám đốc tài chính
Thổi phồng các khoản phải thu, mức độ hàng tồn kho, khai khống lợi nhuận
Cung cấp thiết bị điện tử
Trang 27Tên Công Ty
Người thực hiện hoặc có liên quan
Kỹ thuật gian lận
Lĩnh vực hoạt động
First Merchants Chủ tịch hội đồng
quản trị, Giám đốc điều hành, Giám đốc tài chính
Khai khống lợi nhuận, giảm các khoản lỗ
Công ty cung cấp dịch vụ tài chính
Raintree
Healthcare
Corporation
Chủ tịch hội đồng quản trị, Giám đốc điều hành, Giám đốc tài chính, và Bộ phận kiểm soát
Khai khống doanh thu, giảm chi phí
Cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe
1.3 Các hình thức gian lận báo cáo tài chính
Thông qua những nghiên cứu thực chứng và các bài học về gian lận báo cáo tài chính đã phát hiện, gian lận báo cáo tài chính được thực hiện qua các phương pháp sau:
1.3.1 Che giấu nợ phải trả và chi phí
Che giấu nợ phải trả đưa đến giảm chi phí là một trong những kỹ thuật gian lận phổ biến trên báo cáo tài chính nhằm khai khống lợi nhuận Lợi nhuận trước thuế sẽ tăng tương ứng với số chi phí hay nợ phải trả bị che giấu Đây là phương pháp dễ thực hiện và khó phát hiện vì thường không để lại dấu vết
Trang 28Các phương pháp chính để che giấu nợ phải trả và chi phí là: không ghi nhận nợ phải trả và chi phí, vốn hóa các khoản chi phí không được phép vốn hóa, không lập dự phòng nợ phải trả
1.3.2 Ghi nhận doanh thu không có thật
Là việc ghi nhận vào sổ sách một nghiệp vụ bán hàng hay cung cấp dịch
vụ không có thực Thủ thuật thường sử dụng là tạo ra các khách hàng ma và lập chứng từ giả mạo nhưng hàng hóa không được giao và đầu niên độ sau sẽ lập bút toán hàng bán bị trả lại
Khai khống doanh thu còn được thực hiện thông qua việc cố ý ghi tăng các yếu tố trên hóa đơn như số lượng, giá bán … hoặc ghi nhận doanh thu khi các điều kiện giao hàng chưa hòan tất, chưa chuyển quyền sở hữu và rủi ro đối với hàng hóa (dịch vụ) hay không ghi nhận hàng bán bị trả lại vào các khoản giảm trừ doanh thu
1.3.3 Định giá sai tài sản
Việc định giá sai được thực hiện thông qua việc không ghi giảm giá trị hàng tồn kho khi hàng đã hư hỏng, không còn sử dụng được hay không lập đầy đủ các khoản dự phòng phải thu khó đòi, các khoản đầu tư ngắn hạn và dài hạn Các tài sản khác cũng thường bị định giá sai là các tài sản mua qua hợp nhất kinh doanh, tài sản cố định hữu hình, hoặc không vốn hóa đầy đủ các chi phí vô hình, phân loại không đúng tài sản
1.3.4 Ghi nhận sai niên độ
Doanh thu hay chi phí được ghi nhận không đúng kỳ, chẳng hạn doanh thu hoặc chi phí của kỳ này có thể chuyển sang kỳ kế tiếp hay ngược lại để làm tăng hoặc giảm thu nhập hay chi phí
1.3.5 Không công bố thông tin quan trọng
Việc không khai báo đầy đủ các thông tin nhằm hạn chế khả năng phân tích của người sử dụng báo cáo tài chính Các thông tin thường không được khai báo đầy đủ trong thuyết minh báo cáo tài chính, như các khoản nợ tiềm
Trang 29tàng, các sự kiện sau ngày kết thúc niên độ, thông tin về các bên liên quan, những thay đổi về chính sách kế toán
1.4 Z’Score và vai trò trong phát hiện gian lận báo cáo tài chính
1.4.1 Tác giả
Chỉ số Z dự đoán về khả năng phá sản đã được công bố vào năm 1968 bởi Edward I.Altman, người trợ giảng giáo sư về Tài chính tại Đại học New York Công thức có thể được sử dụng để dự đoán khả năng một công ty sẽ bị phá sản trong hai năm sắp tới hoặc có thể được sử dụng để dự đoán công ty
vỡ nợ và đồng thời cũng là thước đo kiểm soát tính toán tình trạng tài chính của doanh nghiệp
1.4.2 Công thức tính
Chỉ số Z là sự kết hợp của bốn hoặc năm tỷ số tài chính và điều chỉnh bởi các hệ số Các hệ số xác định tùy theo loại hình công ty, ngành công nghiệp Chỉ số Z đối với doanh nghiệp đã cổ phần hóa, ngành sản xuất được tính như sau:
Z = 1,2 T1 + 1,4 T2 + 3,3 T3 + 0,6 T4 + 1,0 T5
Trong đó:
T1= Vốn lưu động / Tổng tài sản
T2 = Lợi nhuận giữ lại / Tổng tài sản
T3 = Thu nhập trước lãi vay và thuế / Tổng tài sản
T4 = Giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu / Giá trị sổ sách của tổng các khoản nợ
T5 = Thu nhập thuần/ Tổng tài sản
Ý nghĩa kết quả chỉ số Z:
Z < 1,81: vùng nguy cơ phá sản
1,81 < Z < 2,99: vùng cảnh báo có thể có nguy cơ phá sản
Z > 2,99: vùng an toàn
Trang 301.4.3 Các nghiên cứu trước Edward I.Altman
Nghiên cứu của Edward I.Altman được xây dựng trên nghiên cứu của nhà nghiên cứu kế toán William Beaver và các cộng sự Trong những năm
1930, Mervyn và những cộng sự đã thu thập những chỉ số kế toán khác nhau xuất hiện trong các báo cáo tài chính của các công ty phá sản Chỉ số Z của Edward I.Altman là một kiểu trong kỹ thuật phân tích biệt số của R.A.Fisher (1936) Nghiên cứu của William Beaver công bố năm 1966 và 1968, lần đầu tiên áp dụng phương pháp thống kê, thực hiện T-test để dự đoán phá sản cho những trường hợp phù hợp của các công ty Beaver áp dụng phương pháp này
để đánh giá tầm quan trọng của mỗi chỉ số kế toán dựa trên phân tích đơn biến, sử dụng mỗi chỉ số một lần trong cùng một thời gian Sự cải tiến của Edward I.Altman so với nghiên cứu trước là áp dụng phân tích thống kê, phân tích biệt số, và có thực hiện đối với sự kết hợp đa dạng các khoản mục cùng lúc
1.4.4 Tính chính xác
Trong các thử nghiệm ban đầu, chỉ số Z của Edward I.Altman đã thể hiện chính xác 72% trong dự đoán phá sản trong hai năm trước các sự kiện này có thể xảy ra Hàng loạt thử nghiệm trong suốt ba thời kỳ khác nhau trong hơn ba mươi năm tiếp theo (cho tới năm 1999), mô hình đã được phát hiện với độ chính xác 80-90% trong việc dự đoán phá sản trong một năm đối với
sự kiện này có thể xảy ra và các gian lận liên quan đến BCTC cũng được phát hiện theo cách thức này
Từ 1985 trở đi, chỉ số Z đã được chấp nhận rộng rãi bởi kiểm toán viên,
kế toán quản trị, tòa án, và hệ thống dữ liệu sử dụng cho đánh giá cho vay Công thức tính đã được sử dụng đa dạng trong các tình huống và ở các nước, mặc dù ban đầu nó được thiết kế cho công ty sản xuất với tài sản hơn một triệu đôla Mỹ nhưng sau đó các thay đổi được tiến hành để thích hợp đối với công ty tư nhân và công ty phi sản xuất
Trang 31Cụ thể, đối với công ty tư nhân, công thức tính sẽ là:
1.4.5 Z’Score và dự báo gian lận báo cáo tài chính
Chỉ số Z’score kết luận rằng tổng tất cả tỷ số càng cao thì tình hình sức khỏe của công ty càng tốt Chỉ số Z có thể cho kết quả chắc chắn nếu so sánh với những công ty khác trong ngành công nghiệp Tuy nhiên, phương pháp tốt nhất để sử dụng chỉ số Z của Edward I.Altman là thể hiện chỉ số so sánh trên nhiều năm
Chỉ số Z’score cũng có một số mặt hạn chế, nó phải được sử dụng với mức độ cẩn trọng khi áp dụng đối với các công ty từ các ngành công nghiệp khác Các công ty ở các ngành công nghiệp khác có mức độ khác nhau về nguồn vốn và nhu cầu thanh khoản khác nhau (Kaplan & Peterson 1998) Theo Nowak & Grantham (2000), sẽ không hợp lý khi so sánh chỉ số Z của các công ty từ ngành công nghiệp phát triển phần mềm, ngành mà nguồn vốn tương đối thấp với ngành dầu và gas, ngành mà phải có vốn đầu tư lớn vào thiết bị khai thác, tinh chế Edward I.Altman đã phát triển vài công thức chỉ số
Z đối với các ngành công nghiệp khác để làm giảm vấn đề này
Theo Deloitte 2008, trên 50% trường hợp gian lận dựa trên thời điểm ghi nhận doanh thu không thích hợp hoặc gian lận với tài sản dài hạn như lợi thế thương mại Do đó, Igor Pustylnick, thuộc bộ phận kế toán và tài chính của
Trang 32đại học SMC ở Switzerland, đã tạo ra công thức bổ sung dựa trên phương trình chỉ số Z Chỉ số mới này được gọi là chỉ số P, thể hiện cách tính tương
tự chỉ số Z nhưng sử dụng doanh thu và vốn chủ sở hữu thay vì thu nhập thuần và vốn lưu động Cách tính của chỉ số P thể hiện theo cách sau:
P = 1,2 X1 + 1,4 X2 + 3,3 X3 + 0,6 X4 + 1,0 X5
Trong đó:
X1 = Vốn chủ sở hữu/ Tổng tài sản
X2 = Lợi nhuận giữ lại/ Tổng tài sản
X3 = Thu nhập trước lãi vay và thuế/ Tổng tài sản
X4 = Giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu / Giá trị sổ sách của tổng các khoản nợ
X5 = Doanh thu/ Tổng tài sản
Giá trị đơn lẻ vẫn được sử dụng trong cách tính của chỉ số P và chỉ số Z Tuy nhiên, việc quan sát những giá trị này trên kỳ 5 năm thể hiện chỉ số P và chỉ số Z có độ dốc góc khác nhau Thực tiễn cho thấy tất cả các công ty trong mẫu nghiên cứu là các công ty đã phát triển Đối với một công ty đã phát triển với dòng đời sản phẩm thiết lập, Igor Pustylnick nghiên cứu mong đợi độ dốc của chỉ số P và chỉ số Z phải giống hệt nhau Quan sát sự khác nhau quan trọng đã chỉ dẫn Igor Pustylnick kết luận rằng thông tin bổ sung có thể được
sử dụng bằng việc so sánh tỷ số thay đổi của giá trị P và Z ở các kỳ khi gian lận xuất hiện Để xác định kết quả, Igor Pustylnick giới thiệu 2 biến số mới:
∆P = [Pt – P(t-1)] / │P(t-1)│ (tỷ số thay đổi của P)
∆Z = [Zt – Z(t-1)] / │Z(t-1)│ (tỷ số thay đổi của Z)
Trong quá trình quan sát ban đầu có lưu ý rằng các kỳ chi phí cho gian lận kỳ trước đối với nhiều công ty thì độ dốc của chỉ số P dốc đứng hơn độ dốc của chỉ số Z Dựa trên kết quả quan sát, Igor Pustylnick giới thiệu giả
Trang 33thuyết sau: Trong các kỳ gian lận báo cáo tài chính ∆P > ∆Z là đúng cho tất
cả báo cáo khi gian lận xảy ra
Qua mẫu nghiên cứu gồm 29 công ty với lịch sử gian lận đã được biết đến, Igor Pustylnick đã so sánh độ lệch ∆P - ∆Z xuất hiện trong nhiều năm
Từ đó, Igor Pustylnick đã khẳng định giả thuyết chính của nghiên cứu rằng giá trị ∆P - ∆Z chỉ ra sự hiện diện của gian lận báo cáo tài chính Igor Pustylnick đã kết luận bất cứ kết quả tính toán cho các công ty tùy ý, mà kết quả con số lớn hơn ngưỡng 0,37 chỉ ra rằng báo cáo tài chính có hàm chứa các gian lận
Trang 34Trên cơ sở những vấn đề chung được đúc kết qua nghiên cứu về gian lận BCTC, tác giả kết hợp với việc tìm hiểu về chỉ số Z và chỉ số P từ góc độ quá trình xây dựng, phát triển công thức cho đến ứng dụng trong phát hiện ra gian lận, phá sản để từ đó kết luận về sự cần thiết và khoa học trong việc sử dụng các chỉ số này để tìm hiểu về các biểu hiện gian lận BCTC làm cơ sở cho khảo sát ở Chương 2
Trang 35CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH NHỮNG BIỂU HIỆN GIAN LẬN BÁO CÁO TÀI CHÍNH THÔNG QUA SỰ KẾT HỢP CHỈ SỐ Z VÀ CHỈ SỐ P
CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM
2.1 Tổng quan về thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn từ năm
2000 - 2010
2.1.1 Các giai đoạn phát triển
Theo Tạp chí Kinh tế và dự báo, chuyên san “Tổng quan kinh tế - xã hội Việt Nam”, số 2 tháng 6/2010 – Nguyễn Sơn đã có thống kê về 10 năm hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam như sau:
Đây là giai đọan khởi động của thị trường chứng khoán Với 2 công ty niêm yết khi đưa thị trường giao dịch chứng khoán Tp.HCM vào hoạt động, thị trường chứng khoán đã có mức tăng nhanh về giá do nguồn cung hàng hóa khan hiếm, chỉ số VN Index liên tục tăng và đạt tới đỉnh điểm là 571,04 điểm ngày 25/06/2001 Sau đó, thị trường đã liên tục sụt giảm trong suốt 3 năm sau
đó, trước khi tăng mạnh trở lại vào cuối năm 2003 Năm 2005, sau khi thị trường giao dịch chứng khoán Hà Nội đi vào hoạt động, tổng số các công ty niêm yết trên cả 2 thị trường là 44 công ty với tổng giá trị niêm yết là 4,94 nghìn tỷ đồng
Thị trường chứng khoán Việt Nam bắt đầu khởi sắc và đã có bước tăng trưởng mạnh mẽ cả về số lượng công ty niêm yết lẫn doanh số giao dịch Tính đến cuối năm 2009, đã có 541 doanh nghiệp niêm yết cổ phiếu trên cả 2 sàn giao dịch chứng khoán và 4 chứng chỉ quỹ đại chúng niêm yết, với tổng giá trị niêm yết đạt 127,489 nghìn tỷ đồng, tăng 66,5 lần so với cuối năm 2005 Tổng giá trị vốn hóa thị trường tính tại thời điểm ngày 31/12/2009 ước đạt 620,551 nghìn tỷ đồng tương đương với gần 38% GDP cả năm 2009
Trang 36Thị trường chứng khoán đã có sự tăng trưởng không chỉ về quy mô niêm yết mà cả về tính thanh khoản của thị trường Nếu như năm 2005, bình quân
có 667.600 cổ phiếu được giao dịch một phiên, thì năm 2006, con số này tăng lên 2,6 triệu đơn vị (tăng 3,93 lần), tiếp tục tăng lên 9,79 triệu và 18,07 triệu trong hai năm sau đó Tốc độ luân chuyển thị trường trong giai đoạn này liên tục tăng từ 0,43 lần (năm 2006) lên 0,64 lần (năm 2007), 0,68 lần (năm 2008)
và ước đạt 1,13 lần (năm 2009) Năm 2006-2009 cũng chứng kiến những kỷ lục của thị trường chứng khoán Việt Nam Tháng 3/2007, các chỉ số chứng khoán đạt được mức cao nhất VNIndex đạt mức 1.170,67 điểm và HASTC-Index đạt 459,36 điểm Trong khi đó, xét về khối lượng giao dịch, tháng 5/2009 là tháng có khối lượng giao dịch lớn nhất, bình quân có 77 triệu cổ phiếu được giao dịch mỗi phiên, với giá trị đạt 2.270,57 tỷ đồng
Mặc dù đã có những bước phát triển nhảy vọt nhưng thị trường giao dịch
cổ phiếu còn nhiều biến động và hạn chế về tính thanh khoản đặc biệt khi thị trường có dấu hiệu suy giảm Bên cạnh đó, hàng hóa niêm yết trên thị trường chứng khoán chưa đa dạng, chất lượng chưa cao, chưa đáp ứng nhu cầu đầu
tư và phòng ngừa rủi ro của nhà đầu tư (chưa có sản phẩm phái sinh, các sản phẩm đầu tư tập thể) Các dịch vụ tiện ích cho nhà đầu tư trên thị trường còn nghèo nàn (chưa có nghiệp vụ bán khống, vay ký quỹ, bán trước ngày hoàn tất giao dịch), tính minh bạch của thị trường chưa đáp ứng nhu cầu của công chúng đầu tư
2.1.2 Quy mô và đóng góp cho nền kinh tế
Quy mô thị trường có bước tăng trưởng mạnh mẽ, vững chắc, từng bước đóng vai trò là kênh dẫn vốn trung và dài hạn quan trọng, đóng góp tích cực cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Trong suốt thời kỳ từ
2000 – 2005, vốn hóa thị trường chỉ đạt trên dưới 1% GDP Quy mô thị trường đã có bước nhảy vọt mạnh mẽ lên 22,7% GDP vào năm 2006 và tiếp tục tăng lên mức trên 43% vào năm 2007 Trước biến động của thị trường tài
Trang 37chính thế giới và những khó khăn của nền kinh tế trong nước, chỉ số giá chứng khoán đã sụt giảm liên tục trong năm 2008 và làm mức vốn hóa thị trường giảm hơn 50%, xuống còn 18% Khi nền kinh tế trong nước và thế giới bắt đầu hồi phục nhẹ từ Quý II/2009, chỉ số giá chứng khoán đã bắt đầu tăng trở lại cùng với số lượng các công ty niêm yết trên thị trường cũng gia tăng nhanh chóng Giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu tính đến cuối năm 2009
đã đạt 37,71% GDP Tính đến cuối năm 2010 đạt từ 40-50% GDP
Hoạt động phát hành huy động vốn trên thị trường chứng khoán thực tế chỉ mới phát sinh từ năm 2006 trở lại đây Trong năm 2006, có 44 công ty cổ phần thực hiện việc chào bán hơn 203 triệu cổ phiếu và đến năm 2007, hoạt động phát hành mới thực sự bùng nổ, khi có gần 200 đợt phát hành của 192 công ty và 4 ngân hàng thương mại được đăng ký với Ủy ban chứng khoán nhà nước với tổng lượng vốn huy động lên đến gần 40.000 tỷ VND Trong năm 2008, do sự suy giảm của thị trường chứng khoán, tổng số vốn huy động chỉ đạt hơn 14.300 tỷ đồng thông qua hơn 100 đợt chào bán chứng khoán ra công chúng Thị trường hồi phục vào năm 2009 đã tạo điều kiện cho hoạt động phát hành qua thị trường chứng khoán, đặc biệt là phát hành cổ phiếu Tổng số vốn huy động qua phát hành cổ phiếu năm 2009 đã tăng hơn 50% so với 2008, đạt 21.724 tỷ đồng
2.2 Khảo sát về gian lận BCTC thông qua chỉ số Z và kết hợp chỉ số P của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 2.2.1 Tổng quan về đối tượng khảo sát
Số lượng công ty phát hiện gian lận báo cáo tài chính trong thời gian vừa qua được công bố chính thức là 4 công ty bao gồm:
- Công ty cổ phần Bông Bạch Tuyết
- Công ty cổ phần Dược phẩm Viễn Đông
- Công ty cổ phần Bibica