Húa học cỏc hợp chất thiờn nhiờn núi chung và đặc biệt là húa học cỏc hợp chất cú hoạt tớnh sinh học núi riờng đó và đang được thu hỳt bởi sự quan tõm của cỏc nhà khoa học vỡ những ứng d
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trờng Đại học Vinh
********** **********
đoàn chí hiếu
góp phần nghiên cứu thành phần hoá học từ
Quả cây giác đế miên (goniothamus
Trang 2Lời cảm ơn
Luận văn này đợc hoàn thành tại trờng Đại Học Vinh –
Viện Hoá Học và Công Nghệ Việt Nam
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin chân
thành cảm ơn.
PGS TS Lê Văn Hạc đã giao đề tài, giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Cảm ơn các thầy giáo: PGS TS Hoàng Văn Lựu, TS
Nguyễn Xuân đã đóng góp nhiều ý kiến quí báu cho đề
tài.
NCS.ThS Trần Đăng Thạch đã giúp đỡ tận tình trong quá
trình làm thí nghiệm, phân tích kết quả.
Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn tập thể quý
thầy cô của khoa Hoá học - Đại Học Vinh cùng anh chị cao học
khoá 16 cũng nh bạn bè đồng nghiệp
Cảm ơn ban giám hiệu trờng THPT Cờ Đỏ đã giúp đỡ cho
tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Trang 3DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
* Các phương pháp sắc ký:
CC : Column Chromatography (sắc ký cột)
TLC : Thin Layer Chromatography (sắc ký lớp mỏng)
* Các phương pháp phổ :
MS : Mass Spectroscopy (phổ khối lượng)
EI - MS: Electron Impact Mass Spectroscopy (phổ khối va chạm
DEPT : Distotionless Enhancement by polarisaton Transfer
HSQC: Heteronuclear Single Quantum Correlation (Phổ tương quan đa
lượng tử )
HMBC: Heteronuclear Multiple Bond Correlation (Phổ tương quan dị hạt
nhân qua nhiều liên kết )
COSY: Correlated Spectroscopy
Trang 4d: dublet
t: tritplet
TMS: Tetramethylsilan
DMSO: DimethylSulfoxide
Mục lục
Trang
Mở đầu
4
1 Lí do chọn đề tài 4
2. Nhiệm vụ nghiên cứu .5
3 Đối tợng nghiên cứu .
5
Chơng I: Tổng quan 1.1 Họ Na (Annonaceae)
6
1.1.1 : Đặc điểm thực vật
.6
1.1.2 ứng dụng của một số cõy thuộc họ Na
.9
1.1.3 Sơ lợc lịch sử nghiên cứu về họ Na
.10
1.2 Sơ lợc về chi Goniothalamus - Giác đế họ Na .
11
Trang 5
Ch¬ng ii: Ph¬ng ph¸p nghiªn cøu vµ thùc nghiÖm
2.1 Phương pháp nghiên cứu
Trang 62 2.1.2 Dụng cụ và thiết bị .
.28
2.2.2 Nghiên cứu tách hợp chất từ quả cây giác đế miên 29
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Xác định cấu trúc hợp chất A 30
3.1.1 Phổ EI – MS của hợp chất A 30
3.1.2 Phổ 1H- NMR của hợp chất A 32
3.1.3 Phổ 13C – NMR của hợp chất A 33
3.1.4 Phổ DEP của hợp chất A 34
3.1.5 Phổ COSYGP của hợp chất A .35
3.1.6 Phổ giản của hợp chất A 36
3.1.7 Phổ HSQC của hợp chất A 41
3.2 Xác định cấu trúc hợp chất B .46
3.2.1 Phổ EI – MS của hợp chất B … 46
3.2.2 Phổ khối lượng của hợp chất B 46
3.2.3 Phổ 1H- NMR của hợp chất B 47
3.2.4 Phổ 13C – NMR của hợp chất B 49
3.2.5 Phổ DEP của hợp chất B 51
3.2.6 Phổ COSYGP của hợp chất B .52
3.27 Phổ HSQC của hợp chất B 54
3.2.8 Phổ HMBC của hợp chất B 55
3.2.9 Phổ NOESY của hợp chất B 58
KẾT LUẬN .63
Trang 7
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
A Tiếng Việt .64
B Tiếng Anh 64
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa,
cận xích đạo, độ ẩm cao, ma nhiều, có thảm thực vật
phong phú và đa dạng vì lẻ đó ngành hóa học đặc biệt là
hóa học với các hợp chất thiên nhiên ở đây đợc phát triển
mạnh mẽ Dựa trờn nền tảng tri thức hiện đại đó đạt được nhiều thành tựu to
lớn Húa học cỏc hợp chất thiờn nhiờn núi chung và đặc biệt là húa học cỏc
hợp chất cú hoạt tớnh sinh học núi riờng đó và đang được thu hỳt bởi sự quan
tõm của cỏc nhà khoa học vỡ những ứng dụng quý bỏu của những hợp chất
này trờn các lĩnh vực khoa học và môi trờng
Với nguồn thảo dược đúng vai trũ rất quan trọng với 10884 loài thuộc
2257 chi và 305 họ trong đú khoảng 1850 loài cõy phõn bố trong 244 họ thực
vật khỏc nhau Theo số liệu thống kờ gần đõy, hệ thực vật học Việt Nam cú
trờn 10.000 loài trong đú cú khoảng 3.200 loài cõy được sử dụng trong y học
dõn tộc và 600 loài cõy cho tinh dầu Đú là nguồn nguyờn liệu trực tiếp hoặc
những chất dẫn đường để tỡm kiếm cỏc loại biệt dược mới Cú khoảng 60%
cỏc loại thuốc đang được lưu hành hiện nay hoặc đang trong giai đoạn thử
nghiệm đều cú nguồn gốc từ cỏc hợp chất thiờn nhiờn [4]
Họ Na (Annonaceae) là họ lớn nhất của bộ Mộc Lan (Magnoliales)
Với khoảng 2.300 đến 2.500 loài trong 120 - 130 chi (Magnoliales) Cỏc
chi điển hỡnh của họ này là (Annona) (na, móng cầu xiờm),
Goniothalamus (dẻ, lan tõy) Họ này sinh trưởng chủ yếu ở vựng nhiệt đới,
Trang 8
và chỉ cú một ớt loài sinh sống ở vựng ụn đới Khoảng 900 loài ở Trung và
Nam Mỹ, 450 loài ở chõu Phi, và cỏc loài khỏc ở chõu Á.[4]
Bờn cạnh đú, một số loài như Hoàng Lan (Cananga odorata)
cũn chứa tinh dầu thơm và được sử dụng trong sản xuất nước hoa hay đồ gia
vị, thuốc chữa bệnh như nhiễm trựng, bệnh gan, tiờu chảy, cỏc loài cõy thõn
gỗ cũn dựng làm củi.[4] Vỡ vậy mà tụi chọn đề tài: “Gúp phần nghiờn cứu
thành phần hoỏ học từ quả cõy giỏc đế miờn ( Goniothalamus tamirensis
Pierre ) ở Nghệ An”.
2 Nhiệm vụ nghiờn cứu:
Trong luận văn này, chỳng tụi cú nhiệm vụ sau:
- Lấy quả giác đế miên tại Quỳ Châu- Nghệ An, ngâm , chiết
chọn lọc với cỏc loại dung mụi thớch hợp để thu được hỗn hợp cỏc hợp chất từ
quả cõy giỏc đế miờn (Goniothalamus tamirensis Pierre)
3 Đối tượng nghiờn cứu:
Dịch chiết phần quả cõy giỏc đế miờn (Goniothalamus
tamirensis Pierre) thuộc họ Na (Annonaceae)
Trang 9
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ HỌ NA (ANNONACEAE) 1.1 Họ Na (Annonaceae)
1.1.1 : Đặc điểm thực vật
Họ Na (Annonaceae) cũn được gọi là họ Móng cầu, là một họ
khoảng 2.300 đến 2.500 loài trong 120 - 130 chi, đõy là họ lớn nhất của bộ
cầu xiờm) Họ này sinh trưởng chủ yếu ở vựng nhiệt đới, và chỉ cú một ớt loài
sinh sống ở vựng ụn đới Khoảng 900 loài ở Trung và Nam Mỹ, 450 loài ở
Các loài thuộc họ Na (Annonaceae) có lá đơn , mọc so
le (mọc cách), có cuống lá và mép lá nhẵn Lá mọc thành
hàng dọc theo thân cây Thờng thấy rõ mạch dẫn nơi vết
sẹo của đính lá Cành mọc zíczắc Không có các lá bẹ Hoa
đối xứng xuyên tâm và thờng là lỡng tính Hoa thờng có 6
cánh màu nâu hoặc vàng nhiều nhụy Mỗi nhụy có bầu nhụy
dạng một ngăn chứa một hay nhiều tiểu noãn.[5]
Trang 10
ở Việt Nam, theo Nguyễn Tiến bân đã xác định đợc họ
Na có 29 chi, 179 loài, 3 phân loài và 20 thứ
Trong họ Na hầu như gặp tất cả cỏc dạng sống chủ yếu, chỉ trừ cỏc cõy
thõn cỏ và cỏc dạng sống phụ sinh và ký sinh Trong số cỏc cõy mọc đứng,
thường gặp cỏc cõy gỗ nhỏ, hiếm khi là cõy bụi rất nhỏ hoặc ngược lại, lỏ cỏc
cõy thõn gỗ lớn [1]
Trong số các chi có ở chõu Á, dạng dây leo thân gỗ hoặc
cây bụi đợc đặc trng cho các chi: Anomianthus,
Artabotrys, Cyanthostemma, Desmos, Fissistigma,
Friesodielsia, Melodorum, Mitrella, Uvaria [2].
Lá của tất cả các loài họ Na không có lá kèm, mọc cách,
đơn, nguyên, mép lá nguyên, với gân lông chim (hiếm khi là
lông chân vịt) Gân chính nổi rõ ở mặt dới và thờng lõm ở
mặt trên, nhng ở các chi Artabotrys, Cyathocalyx,
Stelechocarpus,. gân chính lại nổi rõ ở hai mặt.
Hoa ở họ Na thờng là lỡng tính, hiếm khi hoa đơn tính
(Stelechocarpus, Pseuduvaria), hoặc có khi hoa tạp tính;
hoa mọc đơn độc hoặc họp thành các dạng cụm hoa khác
nhau, ở nách lá hoặc ở ngoài nách lá, ở đỉnh cành hoặc hoa
mọc trên thân già không lá
Trong họ Na có hai kiểu nhị chính Kiểu thứ nhất đợc
gọi là "kiểu Uvarioid", trong kiểu này, trung đới khá dày và
dài vợt quá bao phấn để tạo thành mào trung đới Kiểu thứ
hai là "kiểu Millusiod" có trung đới mỏng và hẹp, khiến cho
bao phấn lồi lên so với trung đới
Trang 11
Phần lớn các loài họ Na có bộ nhụy gồm các lá noãn rời Từ
đó thấy cơ quan sinh sản cái gồm những lá noãn riêng biệt Mỗi
lá noãn đợc chia thành bầu, vòi nhụy và núm nhụy Sau khi thụ
phấn mỗi lá noãn tạo thành một quả riêng
Họ Na cú cỏc chi như sau:
Afroguatteria Alphonsea Ambavia Anaxagorea
Annickia Annona Anomianthus Anonidium
Artabotrys Asimina Asteranthe Balonga
Bocagea Bocageopsis Boutiquea Cananga
Cardiopetalu
m Cleistochlamys Cleistopholis Craibella
Cremastosper
ma Cyathocalyx Cyathostemma Cymbopetalum
Dasoclema Dasymaschalon Deeringothamnus Dendrokingstoni
a Dennettia Desmopsis Desmos Diclinanona
Dielsiothamn
us Disepalum Duckeanthus Duguetia
Ellipeia Ellipeiopsis Enicosanthum Ephedranthus
Exellia Fissistigma Fitzalania Friesodielsia
Froesiodendr
on Fusaea Gilbertiella Goniothalamus
Greenwayode Guamia Guatteria Guatteriella
Trang 12
Guatteriopsis Haplostichanthu
s Heteropetalum Hexalobus Hornschuchi
a Isolona Letestudoxa Lettowianthus
Malmea Marsypopetalum Meiocarpidium Meiogyne
Melodorum Mezzettia Mezzettiopsis Miliusa
Mischogyne Mitrella Mitrephora Mkilua
Monanthotaxi
s Monocarpia Monocyclanthus Monodora
Neostenanthe
ra Neo-uvaria Onychopetalum Ophrypetalum
Oreomitra Orophea Oxandra Pachypodanthiu
m Papualthia Petalolophus Phaeanthus Phoenicanthus
Piptostigma Platymitra Polyalthia Polyceratocarpu
s
Popowia Porcelia Pseudartabotrys Pseudephedrant
hus Pseudoxandr
a Pseuduvaria Pyramidanthe Raimondia
Reedrollinsia Richella Rollinia Ruizodendron
Trang 13
Sageraea Sanrafaelia Sapranthus Schefferomitra
Sphaerocoryn
e Stelechocarpus Stenanona Tetrameranthus
Toussaintia Tridimeris Trigynaea Trivalvaria
Unonopsis Uvaria Uvariastrum Uvariodendron
Uvariopsis Woodiellantha Xylopia
1.1.2: ứng dụng của một số cõy thuộc họ Na
Vỏ, lá và rễ đợc dân gian dùng để chữa bệnh nhiễm
trùng, bệnh ho, tiêu chảy Các nghiên cứu dợc lí đã tìm thấy
khả năng kháng nấm, kháng khuẩn và đặc biệt là khả năng
sử dụng trong hóa trị liệu của một số thành phần hóa học
của lá và vỏ Nghiên cứu bớc đầu về khả năng chữa bệnh ung
th ở Việt Nam thì trong đó cũng có một số lợng lớn cây họ
Na
*Chi Uvaria là một trong những chi lớn nhất của họ Na, ở
Việt Nam có khoảng 16 loài
- Kỳ hơng (Uvaria microcarpa) vỏ dùng làm thuốc chống
tiêu hóa
- Bù dẻ trờn (Uvaria microcarpa) Chứa hợp chất tonkinelin
có hoạt tính chống ung th bạch huyết
*Chi Polyalthia – quần dầu, Việt Nam có 26 loài
Trang 14
- Chùm rụm (Polyalthia intermedia), lá dùng chữa bệnh ho
*Chi desmos – hoa dẻ, ở việt nam có 5 loài
-Dẻ lông đen (Desmoscochinensis) lá uống tăng sự tiết
*Chi Fissistigma – Lãnh công, mật hơng, cách th Việt
Nam có khoảng 23 loài
- Dà dà (Fissistigma polyanthoides) chữa tiêu chảy
- Phát lãnh công (Fissistigma pêtloti) Dùng làm thuốc chữa
sốt rét
*Chi Annona – Na , mảng cầu : Việt Nam có khoảng 4
loài
- Na (Annona squamosa) Ăn quả chín, hạt độc dùng làm
thuốc diệt côn trùng , lá nghiền nát chữa khối u, ung nhọt
Trang 15
- Mảng cầu xiêm (Annona muricata) Ăn quả chín, lá dùng
làm da vị có tác dụng trấn an, trị cúm, ho, lỵ
- Lê(Annona glaba) Ăn quả chín.
*Chi cananga – ngọc Lan , Hoàng Lan : Việt nam có loài:
- Ngọc lan tây (Canangaodorate), hoa khô chữa sốt rét,
tinh dầu thơm của gỗ pha nớc uống chữa giun, sốt , ghẻ
*Chi Xypopia – giền : ở Việt Nam có cỏc loài:
- Giền đỏ (Xypopiavielana) lá sắc uống chữa đau lng, tê
thấp
- Giền trắng (Xypopia pierei).
*Chi goniothalamus - giác đế : ở Việt Nam có 19 loài
- Giác đế miên (Goniothalamus tamirensis) rễ thái
mỏng sao khô, sắc uống làm thuốc bổ kích thích tiêu hóa
1.1.3 Sơ lợc lịch sử nghiên cứu về họ Na
Năm 1855 đã đợc khảo sát lần đầu tiên ở Stehous, nhng
trong 2 thập kỉ gần đây thì rất it đợc ngiên cứu Năm 1970
họ Na bắt đầu đợc nghiên cứu kỹ Trong đó các đề tài chủ
yếu nghiên cứu về alkaloit nhng cây họ Na cũng chứa nhiều
alkaloidal (không phải là alkaloit ) có nhiều hoạt tính kháng
tế bào ung th và chữa bệnh tim mạch rất quan trọng Các
chất không phải là alkaloit của họ Na bao gồm Kauran,
lignan, acetogenin, steroit và các hợp chất thơm khác
1.2 Sơ lợc về chi Goniothalamus ( Blume) Hook f &
Thoms - Giác đế
Họ Na
Trang 16
1.2.1 - Phân loại
Chi Goniothalamus có các cây bụi hoặc gỗ nhỏ Hoa
l-ỡng tính Phân quả ngồi hoặc có cuống ngắn Có khoảng
110 loài, phân bố ở châu á đến Niu Ghinê, tập trung nhiều
ở Đông Nam A/ ở Việt Nam có 19 loài.[3]
Cỏc loài cõy này thường được sử dụng để trị bệnh thấp khớp, sốt, giảm
đau, kớch thớch tiờu hoỏ
1.2.2 Đặc điểm thực vật của một số loài thuộc chi
Goniothalamus (Blume) Hook f & Thoms - giác đế.
1) Goniothalamus albflorus Ban – giỏc đế hoa trắng.[1]
Phõn bố: Thừa thiờn Huế (Phỳ Lộc, Nam Đụng: Vũng Trũn, Khe Ao;
Lộc Trỡ, Hương Lộc, Hương Phỳ, Hương Giang), Kon Tum (Đỏc Giõy, Đỏc
Mụn)
Dạng sống và sinh thỏi: Gỗ nhỏ, cao 5 – 7m Mọc rải rỏc dưới tỏn rừng
ra hoa thỏng 4 – 5 mang quả thỏng 6 – 7
2) Goniothalamus multiovulatus Ast – giỏc đế nhiều noón.[1]
Phõn bố: Mới thấy ở Thựa Thiờn Huế (Hội Mớt), Đà Nẵng ( Tourane)
Dạng sống và sinh thỏi: Gỗ nhỏ, cao 8 – 10m, nhỏnh chữ chi, kịch cơm
khụng lụng Lỏ cú phiến to, dài 30 - 40cm, khụng lụng, mặt trờn lỏng, nõu
đạm lỳc khụ, gõn phụ 16 - 20 cặp, cuống 1,2cm, to, khụng lụng Hoa cụ độc ở
trờn nỏch lỏ, rộng 1cm, cú 6 tiền diệp ở đỏy, cỏnh hoa cao 1,5cm, cỏnh hoa
trong nhỏ dớnh nhau hỡnh thỏp, trỏi chin dài 4,5 – 5,5cm, hạt 2- 4, màu tươi
Ra hoa thỏng 2 – 4, cú quả thỏng 5 - 7 Mọc rải rỏc trong rừng nguyờn sinh và
rừng
3) Goniothalamus Gabriacianus (Baill) Ast – Oxymitra gabria ciana
Baill – Goniothalamus saigonensis Pierre ex Fin & Gagnep - giỏc Đế Sài
Gũn
Trang 17
Phân bố: Quảng Trị (A Lưới, A Đớt), Đà Nẵng (đèo Hải Vân), Quảng
Nam (Cù Lao Chàm), Khánh Hoà (Ninh Hoà, Vọng Phu), Ninh Thuận (Cà
Ná), Kon Tum (Kon Plong, Tân Lập), Gia Lai (Kon Hà Nừng), Đắc Lắc (Đắc
Mil, Nam Hà, Đức Minh), Tây Ninh, Bình Dương (Thủ Dầu Một), Đồng Nai
(Chứa Chan), TP Hồ Chí Minh (Sài Gòn, Thủ Đức), Bà Rịa Vũng Tàu (Bà
Rịa, núi Đính, Côn Đảo), Kiên Giang (Hà Tiên, Thuận Yên) Còn có ở Trung
Quốc (Hải Nam), Lào, Campuchia
Dạng sống và sinh thái: bụi nhỏ, cao 1 – 4m, nhánh non có long, Lá có
nhiều phiến tròn dài, dai dai không lông, dạng lá trà, cuống 5mm Hoa cô độc,
trên cọng ngăn, cánh hoá trong nhở hơn cánh hoa ngoài, dính nhau ở trên đỉnh
tháp, tiệu nhụy nhiều, bao phấn có vách ngăn ngang, tâm bì nhiều, 1 noãn, trái
xoan dài 11mm, hột 1-2mm Mọc rải rác trong rừng núi đất, ở độ cao 100 –
800m Ra hoa tháng 12 – 5 (năm sau), mang quả từ tháng 6 – 11thứ sinh.[1]
4) Goniothalamus elegans Ast – giác đế thanh lịch.
Phân bố: Quảng Bình ( La Mâm)
Dạng sống và sinh thái: bụi nhỏ, cao 2 – 4m, nhánh xám đen, lá có
phiến hẹp thon, lúc già không lông, gân phụ 10 – 12 cặp, cuống 4 - 6mm Hoa
cô độc ở nách lá, cánh hoa trong nhỏ hơn cánh hoa ngoài, chóp dính nhau
hình tháp, tiểu nhôy nhiều, bao phấn với nhiều ngăn ngang, tâm bì nhiều, 1
noãn Mọc rải rác trong rừng thứ sinh Ra hoa tháng 4 – 6 cã qu¶ th¸ng 6
– 7 [1]
5) Goniothalamus expansus Craib – giác đế xoè.
Phân bố: Ở Gia Lai (Kon Hà Nừng) Còn lại gặp ở Thái Lan
Dạng sống và sinh thái : bụi nhỏ cao kho¶ng 3m Mọc rải rác trong
rừng nguyên sinh Ra hoa tháng 4 – 7.[1]
6) Goniothalamus donnaiensis Fin & Gagnep – giác đế nhung, giác đế đồng
nai
Trang 18
Phân bố: ở Khánh Hoà (Nha Trang), Kon Tum (Sa Thầy, Mo Ray), Đắc
Lắc (Đắc Nông, Phú Quảng, Krông Pắc, Hoà Lễ, Khê Ngọc Điền), Lâm Đồng
(Bảo Lộc), Ninh Thuận (Cà Ná), Đồng nai (Chao Shan)
Dạng sống và sinh thái: Bụi nhỏ, cao 1 – 5m Nhánh có lông hoe, lá có phiến
nón ngược, chóp mũi, đáy từ từ hẹp, có lông ở mặt dưới, hoa ở nách hay
nhánh vừa rụng lá, cánh hoa trong nhỏ hơn và dính nhau ở trên, dài 2 –
2,5cm, tiểu nhụy có ngăn ngang ở buồng phấn, tâm bì có lông, noãn 1 – 2
Mọc rải rác trong rừng nguyên sinh hoặc rừng thứ sinh, nơi ẩm Ra hoa tháng
4 – 6, có quả tháng 11 – 12.[1]
7) Goniothalamus gracilipes Ban – giác đế cuống dài.
Phân bố: Mới thấy ở Đắc Lắc (Đắc Mil, Đức Minh, Thuận An)
Dạng sống và sinh thái: bụi nhỏ, cao 3 – 4m Mọc rải rác trong rừng núi
đất, ở độ cao dưới 300m.[1]
8) Goniothalamus Macrocalyx Ban – Màu cau trắng, tai nghé, bồ câu đất,
giác đế đài to
Phân bố: Bắc cạn (Ba Bể, rừng bản cám), Hà Tây (Chùa Hương ), Hoà
Bình (Chợ Bờ, Núi biều), Thanh Hoá (Thạch Thành, Phố Cát)
Dạng sống và sinh thái: Gỗ cao 10 – 15m, thân to 20 – 25cm, nhánh
mảnh không, lá có phiến bầu dục xoan ngược, to đến 25x10cm, đáy tù tù
nhọn, không lông, gân phụ 12 -13 cặp, cuống 1,5 cm Hoa cô độc ở nách lá
rụng, cánh hoa liền mảnh, cánh hoa trong nhỏ hơn, tiểu nhôy nhiều, dài,
buồng phấn có ngăn ngang, tâm bì nhiều, 1-2 noãn Trái thành cụm dày to
5cm, vàng lúc chÝn, không lông, 2 hạt Loài hiếm, rất đặc trưng bởi có lá dài
to và dạng lá (đường kính 2 – 3cm) Mọc rải rác ở rừng nguyên sinh, nơi ẩm,
vùng núi đất, ở độ cao dưới 300m
Đây là loài hiếm được ghi vào sách đỏ Việt Nam
Trang 19
Công dụng: Gỗ phẩm chất trung bình, dùng đóng gỗ gia dụng, làm
guốc, làm bao bì.[1]
9) Goniothalamus chartaceus – cây chân kiềng, giác đế giấy.
Phân bố: Quảng Ninh (Đầm Hà, Lung Vân), Lạng Sơn (Hữu Lũng,
Minh Sơn)
Dạng sống và sinh thái: Gỗ nhỏ, cao 4 – 6 m, nhánh không lông, lá có
phiến thon thon – ngược hẹp, to 11-17x1,7-2,8 cm, dai dai, đáy nhọn, gân phụ
10 -12 cặp, cuống 5mm Hoa cô độc mọc ở nách lá, hoa - phụ 2, lá đài 9x4
mm, cánh hoa ngoài hẹp, cao 1,8 cm, cánh hoa trong cao 1cm, tiểu nhụy
nhiều, tâm bì nhiều, có lông nâu , mọc rải rác trong rừng thứ sinh Ra hoa
tháng 5 – 6, có quả khoảng tháng 7 – 8.[1]
10) Goniothalamus ninhianus Ban – giác đế Lâm Đồng.
Phân bố: Mới thấy ở Lâm Đồng ( Lạc Dương: Suối vàng)
Dạng sống và sinh thái: Bụi nhỏ, cao 1 – 2m Ra hoa tháng 5 Mọc rải
rác trong rừng nguyên sinh
11) Goniothalamus takhtajani Ban – giác đế Tam Đảo.
Phân bố: Mới thấy ở Vĩnh Phúc ( Tam Đảo)
Dạng sống và sinh thái: Bụi nhỏ, cao 1 – 3m Mọc rải rác ven khe suối
trong rừng nguyên sinh ở độ cao 400 – 500m Ra hoa tháng 3 – 4, có quả
tháng 5 – 6
Loài này đặc trưng bởi thân 3 – 4 cạnh (Gần như thành cánh), l¸ gần
như không cuống, có gốc phiến hình tim, núm nhôy mang một nhúm l«ng ở
đỉnh Loài này rất hiếm, lại mọc trong rừng ẩm nơi có suối, rất dễ bị tuyệt
chủng nếu môi trường sống bị huỷ hoại Loài này đã đưa vào Sách Đỏ Việt
Nam.[1]
12) Goniothalamus chinencis Merr & Chun – giác đế Trung Hoa
Trang 20
Phân bố: Lào Cai (Sa Pa), Hà Giang ( Bắc Quang, Đồng Tâm, Quảng
Ninh (Ba Mùn) Còn có ở Trung Quốc (Quảng Tây, Quảng Đông, Hải Nam)
Dạng sống và sinh thái: Bụi nhỏ, cao 2 – 3m Mọc rải rác ở trong rừng
nguyên sinh, vùng núi đất Ra hoa tháng 5 – 7, mang quả tháng 8 – 9.[1]
13) Goniothalamus tenuifolius King, 1892 - Gonithalamus Kunstleri King,
1892 – Goniothalamus caudifolius Ridl, 1914 – Giác đế lá mỏng.
Phân bố: Kon Tum ( Đắc Glây, Đác môn), còn có ở Malaixia
Dạng sống và sinh thái: Bụi hoặc gỗ nhỏ, cao 2 – 7m Ra hoa tháng 3 –
6, có quả tháng 5 - 7 Mọc rải rác trong rừng thứ sinh.[1]
14) Goniothalamus touranensis Ast, 1938 - giác đế Đà Nẵng.
Phân bố: Đà Nẵng (Đèo Hải Vân, Tourane), Quảng Nam (Cù Lao
Chàm), Khánh Hoà (Hòn Tre), Đắc Lắc (Đắc Nông, Đạo Nghĩa), Lầm Đồng
(Bảo Lộc, Lộc Tân)
Dạng sống và sinh thái: Gỗ nhỏ, cao 2 – 5m, nhánh có lông hoe, rồi đen
đen Lá bầu dục dài, dài 20cm, có đuôi dài vài cm, gân phụ rất mịn, 14-15
cặp, cuống 1cm, đen đen Hoa cô độc ở nách lá, cọng ngắn, lá đài cao, cánh
hoa trong nhở hơn, đính nhau ở trên thành tháp, tiểu nhuỵ nhiều, tâm bì nhiều,
1-2 noãn Trái tròn dài, dài 2cm, đầu nhọn, hột 2, màu tươi Mọc rải rác trong
rừng nguyên sinh ở độ cao 100 – 800.[1]
15) Goniothalamus touranensis Ast, 1938 - giác đế Đà Nẵng.
Phân bố: Đà Nẵng (Đèo Hải Vân, Tourane), Quảng Nam (Cù Lao
Chàm), Khánh Hoà (Hòn Tre), Đắc Lắc (Đắc Nông, Đạo Nghĩa), Lầm Đồng
(Bảo Lộc, Lộc Tân)
Dạng sống và sinh thái: Gỗ nhỏ, cao 2 – 5m, nhánh có lôn hoe, rồi đen
đen Lá bầu dục dài, dài 20cm, có đuôi dài vài cm, gân phụ rất mịn, 14-15
cặp, cuống 1cm, đen đen Hoa cô độc ở nách lá, cọng ngắn, lá đài cao, cánh
hoa trong nhỏ hơn, đính nhau ở trên thành tháp, tiểu nhụy nhiều, tâm bì nhiều,
Trang 21
1-2 noãn Trái tròn dài, dài 2cm, đầu nhọn, hột 2, màu tươi Mọc rải rác trong
rừng nguyên sinh ở độ cao 100 – 800m.[1]
16) Goniothalamus undulatus Ridl.1920 – Goniothalamus latestigma Fiche,
1927 – giác đế lượn sóng
Phân bố: Đắc Lắc (Đắc Nông, Đạo Nghĩa) Còn có ở Myanma, Thái lan
Dạng sống và sinh thái: Bụi hoặc gỗ nhỏ, cao 5 – 10m Mọc rải rác trong
rừng nguyên sinh ở độ cao 200 – 300 Ra hoa tháng 5 - 7 , mang quả tháng 8
– 10.[1]
17) Goniothalamus vietnamensis Ban - bổ béo đen.
Phân bố: Mới thấy ở Cao Bằng (Quảng Hoà, Mỹ Hưng), Quảng Ninh
(Móng Cái, Pò Hèn), Phú Thọ (Cầu Hai), Hà Tây (Ba Vì, Minh Quang)
Dạng sống và sinh thái: Bụi nhỏ, cao 2 – 3 m Mọc rải rác trong rừng
thứ sinh ở độ cao 200 – 300 Ra hoa tháng 4 - 6, mang quả tháng 7 – 10.[1]
18) Goniothalamus wightii Hook F & Thoms 1855 – giác đế Ấn Độ.
Phân bố: Đà Nẵng (Sơn Trà), Khánh Hoà (Ninh Hoà), Ninh Thuận
(Phan Rang, Cà Ná), Gia Lai (Kon Hà Nừng), Đồng Nai ( Núi Chứa Chan,
Biên hoà, Xóm Trường), còn có ở Ấn Độ, Thái Lan, Campuchia
Dạng sống và sinh thái: Bụi hay gỗ nhỏ, cao 1 – 6 m Mọc rải rác trong
rừng nguyên sinh và thứ sinh Ra hoa tháng 5 - 8, mang quả tháng 9 – 12.[1]
19) Goniothalamus yunanensis W T Wang, 1954 - giác đế Vân Nam.
Phân bố: Lào Cai (Sapa, Sang Ta Van), Sơn La (Mộc Châu, Mường
Sang, Chiềng ve) Lạng Sơn (Hữu Lũng, Đồng Tâm), Hoà Bình (Chợ Bờ), Hà
Tây (Chùa Hương) Còn có ở Vân Nam – Trung Quốc
Dạng sống và sinh thái: Gỗ nhỏ, cao 10 m Mọc rải rác trong rừng vùng
núi đất, trên độ cao 350m Ra hoa tháng 4 - 6.[1]
1.2.3 C¸c nghiªn cøu vÒ thµnh phÇn hãa thùc vËt của
Goniothalamus tamirensis Pierre ex Fin & Gagnep – giác đế.
Trang 22
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về hoá học của một số loài về chi
Goniothalamus ( giác đế), và đã phát hiện được nhiều hîp chÊt, cụ thể như
(2)
Chất hydroxyltetrahydrofuran (3)từ cây (goniothalamus donnaiens):
donnaienin A
Trang 23Năm 2005, Chatchai Wattanapiromsakul cùng các cộng sự ở Thái Lan
đã tách được Goniothalamin từ rễ và thân cây Goniothalamus macrophyllus
(Blume) Hook và Thomson Goniothalamin (6) cho thấy một cytoxicity hứa
hẹn đối với tế bào ung thư ruộtt kết và đã xác định được cấu trúc của nó như
sau:[7]
Trang 24
Ở Anh, năm 1998 Darren J Dixon, Steven V Ley đã phân lập
từ lá và cành của (sesquipedalis goniothalamus) được chất Goniodiol 1 (7)
có cấu trúc như sau:
(7)
Chất này có hoạt tính sinh học chọn lọc chống lại sự phát triển của tế
bào ung thư phổi.[8,11]
Ở Malayxia, Aryanti Abdullah, đã phát hiện trong trái cây của Peel
(Goniothalamus scortechinii) ở Malayxia các chất sau: pinocembrine (8),
altholactone (9), goniofufurone (10), goniotriol (11) vµ goniopypyrone
(12):[10]
Trang 25
Ở Brazil các tác giả Patriciade A Amaral, Julien Petrignet, Nicolas
Gouault, Taciane Agustini, Françoise Lohézic-Ledévéhat, Alexandre Cariou,
René Grée, Vera L Eifler-Lima, Michèle David đã cùng nhau phát hiện
được các hoạt tính gây độc với tế bào của các chất có trong thân v c a câyỏ ủ
arvensis goniothalamus kavain (13), methysticin (14),
desmethoxyyangonin (15), dihydrokavain (16), dihydromethysticin (17) và
Trang 26Ở Trung Quốc vào năm 2002, các tác giả Si Wang cùng các cộng sự
của mình đã phân lập và xác định cấu trúc của các chất từ rễ của cheliensis
goniothalamus, có hai chất mớ là: iso-goniopypyrone (19) và
Trang 27
Đến năm 2003, Qing Mu, Yi Neng He, cùng các cộng sự đã phân lập
được 2 chất leiocarpin E 1 (21) iocarpin E 2 (22) từ cây goniothalamus
leiocarpus có cấu trúc như sau:[12]
Ở Thái Lan, vào năm 2009 tác giả Pradit Pradupsri, Chatchanok
oetchutinat cùng các cộng sự đã phân lập và phát hiện ra hoạt tính chống ung
thư của styrylpyrone (23) từ lá và cành của goniothalamus maewongensis.
Một số được phát hiện có cấu trúc như sau:
Trang 28Goniodiol có khả năng bắt giữ các tế bào ung thư.[8,11]
1.3 Cây giác đế miên ( Goniothalamus tamirensis Pierre)
1.3.1 Thực vật học
Cây giácđế miên có tên khoa học là goniothalamus tamirensis Pierre
phân bố: Nghệ An (Quỳ Châu, Kẻ Cạn), Quảng Trị (A Lưới), Thừa Thiên
Huế (Bô Giang, Huế, Phú Lộc, Nam Đông, Hương phú, Lộc Trì), Đà Nẵng
(Liên Chiểu), Khánh Hoà (Ninh Hoà), Đắc Lắc (Đắc Mil, Nam Đàn; Đắc
Nông, Quảng Phú), Đồng bằng song cửu long Ngoài ra nó còn có ở Lào,
Campuchia
Nó là bụi cao, cao 4 – 6m, nhánh non đầy lông hoe đỏ Lá có phiến bầu dục
dài, dài 12 -17cm, lúc non có lông như nhung ở gân, lúc già mặt dưới đầy
lông hoe, gân phụ 14 cặp, cuống 8mm Hoa 1-2 ở nách, cọng ngắn, lá dài rời
nhau, tam giác có lông sát mặt ngoài, canh hoa dài kho¶ng 1cm, thon hay
hình bánh bò, cao 1cm, cánh hoa trong nhỏ, có lông hoe, tiểu nhuỵ nhiều, tâm
bì nhiều, không lông, noãn 1-2 Trái xoan nhọn 1,5cm, trên cộng dài 1-2,5cm,
hột 1 Ra hoa tháng 2 – 4, có quả tháng 5 - 6 Mọc rải rác trong rừng nguyên
sinh.[1]
Trang 29
Ảnh: Quả của cõy giỏc đế miờn - (Goniothalamus tamirensis Pierre)
1.3.2 Thành phần húa học
Ở Việt Nam chưa cú nhiều nghiờn cứu về thành phần hoỏ học của cỏc
cõy thuộc chi Goniothalamus Năm 2009, Trần Đăng Thạch, Phạm Văn
Cờng, Đoàn Thị Mai Hơng đó tỏch và phõn lập được 10 chất từ lỏ của
cõy giỏc đế miờn.Trong khuôn khổ báo này các tác giả đã thông
báo về việc phân lập đợc 10 hợp chất từ cặn dịch không
chứa ancaloit của lá cây giác đế Tamir Kết quả thử hoạt tớnh sinh
học sơ bộ cho thấy dịch chiết EtOAc của lỏ cõy ức chế 67,5 % dũng tế bào
ung thư KB ở nồng độ 1 g/ml Cấu trúc của các chất đợc xác định
là : goniothalamin(25) axit cinnamic , (26) axit p
-methoxycinnamic (27)axit-3,4 -đimethoxycinnamic
(28)syrngaldehyde (29) vanilline (30)
Trang 30
hydroxybenzaldehyde (31) axitprotocatechuic (32)
2,4,6-trimethoxyphenol (33) vµ 1- hexatriacontanol (34): [5]
(25) (26)
(27) (28)
(29) (30)
Trang 31
(31) (32)
(33) (34)
Năm 2010, Trần Đăng Thạch, Phạm Văn Cờng, Đoàn Thị Mai
Hơng, Trần Văn Hiệu, Nguyễn Văn Hựng, Chõu Văn Minh đó cụng bố về
việc phõn lập và xỏc định cấu trỳc húa học của 10 hợp chất từ lỏ của cõy Giỏc
đế Tamin Trong khuụn khổ bỏo này tỏc giả trỡnh bày việc phõn lập và xỏc
định cấu trỳc húa học của 10 ancaloit từ lỏ cõy (goniothalamus tamirensis
Pierre)Cấu trúc của các chất đợc xác định là N- nornuciferine
(35) Norisocorydine (36), Isocorydine (37), 3-hydroxynornucefrine (38),
O-methylisopiline (39), Annonaine (40), Roemeroline (41), Glaunine (42) và
Liriodenine (43) [6]
Trang 32
(41) (42) (43) (44)
(45)
Ở Đại học Vinh, TS Trần Đình Thắng cùng các cộng sự cũng đã công
bố về việc phân lập và xác định cấu trúc 3 hợp chất từ lá cây Giác đế Miên đó
là: aristolactam BII (46), aristolactam BI (47), aristolactam AII (48) [7]
Trang 33
(46) (47) (48)
Năm 2010, Bui Huu Tai, Vu thi Huyen, Tran Thu Huong, Nguyen xuan
Nhiem, Eun-MiChoi,, Jeong Ah Kim, Pham Quoc Long, Nguyen Manh
Cuong, and Young Ho Kim đã công bố về việc phân lập và xác định cấu trúc
hóa học của 4 chất là: (+) 8-epi-9- deoxygoniopypyrone (1), 9-
deoxygoniopypyrone (2), deoxygoniopypyrone (3), (-) 8-epi-9-
deoxygoniopypyrone (4) [11]
(3) (4)
Trang 34
CHƯƠNG 2PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THỰC NGHIỆM
2.1 Phương pháp nghiên cứu
2.1.1 Phương pháp lấy và xử lý mẫu
Mẫu được thu hồi vào ngày 6 /2009 tại Quỳ Châu , Nghệ An, gồm
phần quả Mẫu tươi sau khi thu về được phơi khô tự nhiên ở nơi thoáng mát
Khi mẫu đã khô, tiến hành xay nhỏ và ngâm mẫu với dung môi metanol tinh
khiết
Mẫu được xử lý tiếp bằng phương pháp chiết chọn lọc với các dung môi
thích hợp để thu được hỗn hợp các chất dùng cho nghiên cứu được trình bày ở
Trang 35 Sắc ký cột (CC)
Sắc ký lớp mỏng (TLC)
Các phương pháp kết tinh phân đoạn
2.1.3 Phương pháp khảo sát cấu trúc các hợp chất
Cấu trúc các hợp chất được xác định nhờ sự kết hợp các phương pháp phổ:
Phương pháp khối phổ
Phương pháp cộng hưởng từ hạt nhân proton 1H - NMR
Phương pháp cộng hưởng từ hạt nhân cacbon 13C – NMR
Phương pháp DEPT
Phổ hai chiều DMSO – COSYGP
Phổ hai chiều DMSO – HSQC
Phổ hai chiều DMSO – HMBC
2.2 Thực nghiệm
2.2.1 Hóa chất và thiết bị
2.2.1.1 Hóa chất
Các dung môi để ngâm chiết mẫu thực vật đều dùng loại tinh khiết
(pure), khi dùng cho các loại sắc ký lớp mỏng, sắc ký cột nhanh sử dụng loại
tinh khiết phân tích (PA)
Dung môi ngâm chiết:
Trang 36- Máy quay cÊt ch©n kh«ng cña BuchiRotavapor R- 134
- M¸y ®o ®iÓm ch¶y, cột sắc ký, bình cầu, ống nghiệm…
- Các phương pháp sắc ký:
Sắc ký cột: Sử dụng silicagen 254 (Merck), cỡ hạt silicagen chạy cột là 0,04 –
0.06 mm
Sắc ký bản mỏng: Sắc ký bản mỏng phân tích được tiến hành trên bản mỏng
kính silicagen Merck 60 F254, độ dày 0,5 mm
Hiện màu: hơi iot và đèn UV 254nm
Tinh chế các hợp chất bằng kết tinh phân đoạn, rửa trong các dung môi khác
nhau
- Các phương pháp phổ:
Phổ khối lượng EI – MS (positive, negative) được ghi trên máy HP
5989B – MS, năng lượng bắn phá ở 70eV
Phổ 1H –NMR được đo trên máy BRUKER 500 MHz, dung môi CDCl3
Phổ 13C – NMR, DEPT, COSYGP, HSQC, HMBC được đo trên máy
BRUKER 125 MHz dung môi CDCl3
Các phép đo trên thưc hiện tại Viện Hóa học – Viện Khoa học Tự nhiên
và Công nghệ Quốc gia
2.2.2 Nghiên cứu tách hợp chất từ quả cây giác đế miên ( Goniothalamus
tamirensis Pierre) - Họ Na
Mẫu lá và quả cây giác đế miên thu hái vào tháng 6/2009 ở Quỳ Châu
-Nghệ An được định danh bởi TS Nguyễn Quốc Bình – Viện Sinh thái và Tài
nguyên sinh học Việt Nam
Quả cây được rửa sạch, phơi khô nhẹ trong bóng râm, xay nhỏ, ngâm
với metanol khoảng 30 ngày Cất thu hồi dung môi được cao metanol
Chiết lần lượt cao metanol với dung môi có độ phân cực tăng dần:
n-Hexan, clorofom, etylaxetat, metanol thu hồi các cao tương ứng
Trang 37
Cao etylaxetat được phân tích bằng sắc ký cột:
+) Hệ dung môi rửa giải: clorofom: metanol = 100%: 0% đến 0%: 100%
thu được 24 phân đoạn
- Phân đoạn 6 được phân tích bằng sắc ký cột với hệ dung môi rửa giải
clorofom: metanol là 100%: 0% đến 0%: 70 %, thu được 9 phân đoạn
Phân đoạn F 7.5 dùng bản mỏng điều chế, thu được 2 chất rắn màu
trắng Tinh chế và kết tinh lại nhiều lần bằng các dung môi khác nhau thu
được chất A và B.
Trang 38
Sơ đồ 1: Quá trình ngâm, chiết, tách hợp chất từ quả cây giác đế miên
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN3.1 Xác định cấu trúc hợp chất A
Chất A là một chất rắn màu trắng,độ quay cực Nhiệt độ nóng
chảy 201 – 2030C
3.1.1 Phổ EI – MS của hîp chất A
Phổ khối lượng phun mù electron (ESI - MS) negtive [M+H]+ cho pic 335,
positive [M-H]- cho pic 333 Vậy hợp chất A có khối lượng phân tử 334, ứng
với công thức C13H14 O4.
Trang 39
Hình 1 : phổ khối lượng của hîp chất A positive [M-H]
-Hình 2 : phổ khối lượng của hîp chất A negtive [M+H]+