mô tả dẫn tới nhu cầu sắp xếp, phân loại các sự kiện thu đợc, vì vậy sinh họcbắt đầu bằng phân loại học và từ đó xuất hiện hàng loạt tác phẩm về Thựcvật.Theophraste 371-268 T.cn là ngời
Trang 1Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Bộ môn Thực vật Khoa Sinh học đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài.
Xin chân thành cảm ơn !
Vinh, ngày 06 tháng 05 năm 2005
Sinh viên
Bạch Thị Thu Hiền
Trang 2Mở đầu
1 Đặt vấn đề
Vờn quốc gia Pù Mát nằm ở sờn Đông của dải Trờng Sơn với toạ độ địa
lý 18026’ vĩ độ bắc và 104024’ độ kinh đông, thuộc địa giới hành chính của 3huyện: Anh Sơn, Con Cuông và Tơng Dơng của tỉnh Nghệ An, cách thành phốVinh khoảng 120km Đờng ranh giới phía nam của Vờn quốc gia chạy dọc theobiên giới Việt-Lào
Vờn quốc gia Pù Mát có diện tích 91.113 ha, đợc xem là khu vực có diệntích rừng tự nhiên rộng nhất miền bắc Việt Nam với những môi trờng sống củarừng nhiệt đới cha bị tác động Đây là một trong những khu vực đợc u tiêntrong công tác bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam, khu vực và quốc tế Phầnlớn diện tích của Vờn quốc gia là rừng nguyên sinh với các kiểu môi trờng sốngkhác nhau nh: Rừng lá rộng á nhiệt đới nguyên sinh, rừng hỗn giao lá rộng xenlẫn lá kim, rừng thứ sinh, rừng hỗn giao tre nứa Theo số liệu điều tra năm 2002thì hiện nay Pù Mát có 1.758 loài thực vật có mạch thuộc 159 họ, 545 chi đặcbiệt còn có các loại thực vật quý hiếm nh: Pơ Mu, Sa Mu, Phong Lan, Sao HảiNam,
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về hệ thực vật Pù Mát tuy nhiên cáccông trình chủ yếu tập trung nghiên cứu về sự đa dạng thực vật của các taxonbậc cao nh lớp, ngành… ít có công trình nghiên cứu sâu về các taxon bậc thấp ít có công trình nghiên cứu sâu về các taxon bậc thấphơn nh bộ, họ, chi Theo hớng nghiên cứu các taxon bậc thấp và cũng để gópphần cung cấp thêm dẫn liệu về hệ thực vật Vờn quốc gia Pù Mát, chúng tôi đã
tiến hành đề tài: Góp phần điều tra thành phần loài cây họ đậu tại V“ Góp phần điều tra thành phần loài cây họ đậu tại V ờn quốc gia Pù Mát-Nghệ An”.
Mục tiêu đề tài:
- Thống kê thành phần loài và lập danh lục cây họ đậu tại Vờn quốc gia PùMát-Nghệ An
- Đánh giá sự đa dạng của các taxon nh chi, loài của họ đậu tại khu vựcnghiên cứu
- Xác định giá trị sử dụng của các loài cây họ đậu điều tra đợc
Chơng I
Tổng quan tài liệu
1 Sơ lợc về tình hình nghiên cứu thực vật trên thế giới
và ở Việt Nam 1.1.Trên thế giới
nghiên cứu các hệ Thực vật trên thế giới đã có từ rất lâu, đầu tiên có ở
Ai Cập (3.000 năm T.cn) và ở Trung Quốc (2.200 năm T.cn) Từ sự quan sát,
Trang 3mô tả dẫn tới nhu cầu sắp xếp, phân loại các sự kiện thu đợc, vì vậy sinh họcbắt đầu bằng phân loại học và từ đó xuất hiện hàng loạt tác phẩm về Thựcvật.Theophraste (371-268 T.cn) là ngời đầu tiên đề xớng ra phơng pháp phân
loại học thực vật trong 2 tác phẩm Lịch sử thực vật“ Góp phần điều tra thành phần loài cây họ đậu tại V ” và Cơ sở thực“ Góp phần điều tra thành phần loài cây họ đậu tại V vật” trong
đó ông mô tả gần 500 loài cây Tiếp đến là Plinus (79-24 T.cn) viết bộ Lịch sử“ Góp phần điều tra thành phần loài cây họ đậu tại V
tự nhiên” đã mô tả gần 1.000 loài cây Diocside(20-60 S.cn) đã nêu đặc tính của hơn 500 loài cây trong tác phẩm D “ Góp phần điều tra thành phần loài cây họ đậu tại V ợc liệu học ” Phân loại học phát triểnmạnh vào thế kỷ 15-16 nh là: Sự phát sinh tập bách thảo (herbier) vào thế kỷ16
và thành lập các vờn bách thảo (thế kỷ 15-16) biên soạn cuốn Bách khoa toàn“ Góp phần điều tra thành phần loài cây họ đậu tại V
th” về thực vật [19] Nhng ngời đợc mệnh danh là Ông tổ"“ Góp phần điều tra thành phần loài cây họ đậu tại V của phân loại họcphải kể đến là Cac Linnee, nhà tự nhiên học Thuỷ Điển (1707-1778) Trong tác
phẩm Hệ thống tự nhiên“ Góp phần điều tra thành phần loài cây họ đậu tại V ” của mình ông đã mô tả 10.000 loài cây và sắp xếpchúng vào một hệ thống nhất định Ông lấy cơ quan sinh sản của cây làm cơ sở
để phân loại, đồng thời ông đã đề xuất ra cách gọi tên loài bằng 2 chữ la tinh,lập nên hệ thống phân loại gồm 7 đơn vị: Giới, ngành, họ, bộ, giống, loài [22]
Sau Linnee là các hệ thống phân loại của Bernard jussieu(1699-1777) vàAntoine laurent de jusieu (1748-1836) đã sắp xếp trình tự thực vật từ thấp đếncao Decandol (1778-1841) đã mô tả đợc 161 họ và đa phân loại trở thành một
bộ môn khoa học Robert brown(1773-1858) đã tách rời 2 nhóm hạt trần và hạtkín Gophmeister đã phân chia thực vật có hoa và không có hoa xác định đợc vịtrí hạt trần nằm giữa quyết và thực vật hạt kín [19]
Đến thế kỷ 19 việc nghiên cứu hệ thực vật phát triển mạnh, mỗi QuốcGia có 1 hệ thống phân loại riêng và các cuốn thực vật chí lần lợt ra đời: ở Nga
có hệ thống Kuznetxov, Bouch, Kursanov, Takhtajan Đức có hệ thống Engler,Metz Anh có hệ thống Hutchison, Rendle ở Mỹ có hệ thống Besey,Dulle[19] Từ những nghiên cứu của các nhà khoa học, năm 1993 Walters vàHmilton thống kê đợc trong các tác phẩm thì trong 2 thế kỷ qua đã có 1,4 triệuloài sinh vật đã đợc mô tả và đặt tên Cho đến nay ở vùng nhiệt đới đã xác định
đợc khoảng 90.000 loài, trong lúc đó ở vùng ôn đới Bắc Mỹ và Âu á đã có50.000 loài đợc xác định, điều đó chứng tỏ hệ thực vật ở vùng nhiệt đới rất đadạng và phong phú [20]
1.2 ở Việt Nam
Lịch sử phát triển môn phân loại học và các công trình nghiên cứu vềphân loại thực vật từ trớc còn cha đợc tập hợp đầy đủ Thời gian đầu chủ yếu là
sự thống kê của các danh y về những loài cây dùng làm thuốc chữa bệnh Trong
đó đặc biệt là Tuệ Tĩnh (1417) Ông đã mô tả đợc 759 loài cây làm thuốc trong
Trang 4cuốn Nam d“ Góp phần điều tra thành phần loài cây họ đậu tại V ợc thần hiệu” Lê Quý Đôn ( thế kỷ 16) trong bộ Vân đài loại“ Góp phần điều tra thành phần loài cây họ đậu tại V
ngữ” đã phân chia thực vật thành nhiều loài cây cho hoa, cho quả, cây ngũ cốc,
rau, cây loại mộc, loại thảo, cây mọc theo mùa khác nhau [19]
Trong thời kỳ Pháp thuộc, tài nguyên thực vật nớc ta phong phú với hệthống rừng rậm nhiệt đới Việt Nam đã thu hút rất nhiều công trình nghiên cứu
của các tác giả nớc ngoài Điển hình có Loureiro (1790) trong tác phẩm Thực“ Góp phần điều tra thành phần loài cây họ đậu tại V
vật Nam Bộ” mô tả gần 700 loài cây Pierre(1879) trong “ Góp phần điều tra thành phần loài cây họ đậu tại VThực vật rừng Nam Bộ” đã mô tả khoảng 800 loài cây gỗ [19] Một công trình nổi tiếng là nền tảng cho việc đánh giá tính đa dạng thực vật Việt Nam Đó là bộ Thực vật chí đại“ Góp phần điều tra thành phần loài cây họ đậu tại V
cơng Đông Dơng” do H.lecomte và một số nhà thực vật học ngời Pháp biên
soạn (1907 - 1943) gồm 7 tập chính đã thống kê và mô tả đợc hơn 7.000 loàithực vật có mặt ở Đông Dơng [19]
Năm 1965, Pocs Tamas tuy không nghiên cứu hệ thực vật Miền Bắc,
nh-ng dựa trên bộ thực vật chí Đônh-ng Dơnh-ng đã thốnh-ng kê đợc 5.190 loài ở hệ thực vậtmiền Bắc Viêt Nam và còn rất nhiều các nhà khoa học nớc ngoài khác nghiêncứu về hệ thực vật Đông Dơng với nhiều mục đích khác nhau nh xuất khẩu đểlàm giàu cho chính quốc [theo 6]
ở trong nớc, các tác giả Việt Nam cũng đã nghiên cứu thành công rất
nhiều công trình có giá trị nh Thảm thực vật rừng Việt Nam“ Góp phần điều tra thành phần loài cây họ đậu tại V ” của Thái VănTrừng (1963 - 1978) đã thống kê đợc 7.004 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc1.850 chi và 289 họ ở Việt Nam Trong công trình này ông cũng khẳng địnhtính u thế của ngành hạt kín trong hệ thực vật Việt Nam với 6.336 loài thuộc1.727 chi 239 họ [23]
Tiếp đó là công trình nghiên cứu về Cây cỏ th“ Góp phần điều tra thành phần loài cây họ đậu tại V ờng thấy ở Việt Nam”
gồm 6 tập do Lê Khả Kế chủ biên đã mô tả rất nhiều loài cây có mặt tại Việt
Nam [11] Năm (1970 - 1972) Phạm Hoàng Hộ với công trình Cây cỏ miền“ Góp phần điều tra thành phần loài cây họ đậu tại V
nam Việt Nam” đã công bố 5.326 loài thực vật trong đó có 5.246 loài thực vật
có mạch chiếm u thế [8] Phan Kế Lộc 1973 trong công trình: B “ Góp phần điều tra thành phần loài cây họ đậu tại V ớc đầu thống
kê số loài cây đã biết ở miền bắc Việt Nam” thống kê đợc 5.609 loài thực vật
thuộc 1.660 chi và 140 họ trong đó ngành hạt kín chiếm u thế 5.069 loài còncác ngành khác 540 loài
Năm 1984, Nguyễn Tiến Bân, Trần Đình Đại, Phan Kế Lộc cùng tập thể
các tác giả khác cho ra đời tập Danh lục thực vật Tây Nguyên“ Góp phần điều tra thành phần loài cây họ đậu tại V ” công bố 3.754loài thực vật bậc cao có mạch, bằng một nửa số loài của hệ thực vật Việt Nam
[theo 6] Gần đây với bộ Cây cỏ Việt Nam“ Góp phần điều tra thành phần loài cây họ đậu tại V ” của Phạm Hoàng Hộ (1991 1993) đã mô tả 10.500 loài thực vật bậc cao có mặt ở Việt Nam, gần đạt đếncon số 12.000 loài theo dự đoán của nhiều nhà thực vật học và là cuốn đợc
Trang 5-dùng để nghiên cứu sau này khi điều tra nghiên cứu một vùng thực vật nào đó[9] Theo hớng nghiên cứu bảo tồn thực vật năm 1996 các nhà thực vật Việt
Nam đã xuất bản cuốn Sách Đỏ Việt Nam“ Góp phần điều tra thành phần loài cây họ đậu tại V ” mô tả 356 loài thực vật quý hiếm ởnớc ta có nguy cơ giảm sút về số lợng hoặc bị đe dọa tuyệt chủng cần đợc bảo
vệ [theo 6] Lê Trần Chấn và cộng sự 1999 trong công trình "Một số đặc điểm cơ bản của hệ thực vật Việt Nam" đã thống kê đợc 10.440 loài thực vật [3] Hệ
thực vật Việt Nam ngày càng đợc nghiên cứu qui mô, việc thành lập các khubảo tồn các Vờn quốc gia với mục đích bảo tồn, khoanh vùng bảo vệ đã tạo
điều kiện rất thuận lợi cho nghiên cứu và từ đó một loạt công trình nghiên cứu
về đa dạng thực vật cho các Vờn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên ra đời Nh
các công trình của Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự : Đánh giá tính đa dạng“ Góp phần điều tra thành phần loài cây họ đậu tại V
thực vật ở Cúc Phơng, Đa dạng thực vật có“ Góp phần điều tra thành phần loài cây họ đậu tại V mạch ở vùng núi cao Sa Pa Phansipan ,” (1996) công bố 1.750 loài thuộc 680 chi và 210 họ, hệ thực vậtkhu bảo tồn Na Hang 680 loài, 236 chi và 117 họ, hệ thực vật Vờn quốc gia PùMát với 1.144 loài thuộc 545 chi và 159 họ Năm 1997, Nguyễn Nghĩa Thìn
-đã thống kê toàn bộ hệ thực vật Việt Nam bao gồm 11.373 loài thực vật bậc caothuộc 2.524 chi của 387 họ trong đó có 10.580 thực vật bậc cao có mạch [20]
ở nớc ta mỗi nhà nghiên cứu, nhà khoa học đều có các hớng nghiên cứu khácnhau nhng vẫn cùng mục đích đó là sự tìm hiểu sự phân bố các loài, chi, họ đểtìm ra con số chính xác cụ thể cho hệ thực vật Việt Nam, đồng thời tìm hiểumột số giá trị sử dụng, giá trị kinh tế đáp ứng yêu cầu con ngời, vừa bảo tồn cácloài hiện có
1.3 Về họ Đậu (Fabaceae)
Nghiên cứu cây họ đậu (Fabaceae) là một mảng nhỏ trong việc nghiêncứu hệ thực vật trên thế giới và đã có rất nhiều nhà khoa học trên thế giới quantâm nghiên cứu nh: Cac linnee, H.lecomete, F.Gagnepain et all (1907-1951),Petlot(1952-1954), Baker(1963-1968), Aubreville (1960 - 1987), Pocs (1965).[Theo 16] tuy nhiên theo những tài liệu có đợc thì họ đậu chủ yếu mới đợcnghiên cứu ở một số loại cây trồng hay cây lơng thực
Theo bảng danh lục của Vavilov phần lớn cây trồng bắt nguồn từ Châu átrong số hơn 600 cây gần 100 cây có nguồn gốc từ Châu Mỹ, còn hơn 400 câyphát sinh ở Châu á [20]
Năm 1970, Jukovsky đã khẳng định có 12 trung tâm cây trồng của thếgiới đó là:
- Trung tâm Trung Hoa-Nhật Bản: Với tổng số 88 loài đợc ghi vào danhmục, trong đó có một số cây trồng quan trọng nh hạt ngũ cốc và đậu đỗ: Lúa
Trang 6(Oryza sativa), đại mạch (Hordeum vulgare), đậu đỏ (Phaseolus angularis), đỗ tơng (Glycine hispida).
- Trung tâm Đông Dơng-Indonesia: Gồm 41 loài cây trong đó có hạt cốc
và đậu đỗ
- Trung tâm Châu úc: Gồm 20 loài trong đó cũng có cây họ đậu mà chủ
yếu là các loài keo (Acacia spp.).
- Trung tâm ấn Độ: Gồm 30 loài cũng gồm hạt cốc và đậu đỗ nh: Đậu
mỏ két (Cicer arietinum), Đậu đũa (Vigna sinensis) và các trung tâm khác đều
có cây họ đậu [20] qua đó chứng tỏ cây họ đậu cũng đợc nghiên cứu nhiều trênthế giới Tuy nhiên hiện nay việc nghiên cứu, sắp xếp các loài cây họ đậu còncha thống nhất Một số nhà khoa học đã phân bộ đậu chỉ có 1 họ với 3 phân họ( mà nhiều tác giả tách thành 3 họ có quan hệ rất gần gũi với nhau) [19]:
+ Phân họ trinh nữ (Mimoideae)
+ Phân họ vang (Caesalpinioideae)
+ Phân họ đậu (Faboideae)
ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến các cây họ
đậu, công trình nghiên cứu phân loại học đầu tiên về họ đậu (Fabaceae) ở cáctỉnh phía Bắc Việt Nam là của Drakedel Castillo (1891) sau đó nhiều nhà thựcvật ngời Pháp tiếp tục nghiên cứu đã đến bán đảo Đông Dơng để thu thập mẫu
và Gagnepain đã định loại 409 loài thuộc 71 chi họ đậu và mô tả chúng trong
bộ "Flore génerale de L , indochine" tập hai do H.lecomte chủ biên (1913
-1920) về thực vật Đông Dơng Trong đó ở Việt Nam có 287 loài thuộc 62 chi
và có 3 chi, 76 loài mới đối với khoa học Phần lớn thuộc các chi cây rừng nhMillettia, Ormosia Đây là một công trình nghiên cứu lớn cho đến nay vẫn làloại tài liệu cơ sở để nghiên cứu họ đậu ở Việt Nam nói riêng và thực vật nóichung [theo 16]
Tuy nhiên số liệu này còn cha đầy đủ vì còn nhiều vùng có diện tíchrừng rộng lớn, có vùng cây rậm rạp với thành phần loài phong phú nhng cácnhà thực vật Pháp cha đề cập tới trong đó có vùng tây Thanh - Nghệ - Tĩnh ở
đây chắc chắn còn rất nhiều loài mới cha đợc phát hiện
Năm 1935, khi hiệu đính lại tên khoa học của 61 loài họ đậu màLoureiro (1970) đã mô tả Merriell cũng đã đính chính lại tên khoa học của 15loài họ đậu ở miền bắc Việt Nam mà Gagnepain đã xác định sai và bổ sung hai
Trang 7loài mới đối với hệ thực vật Việt Nam [theo 16], những nghiên cứu này còn chaqui mô mà chỉ phục vụ cho lợi nhuận và xuất khẩu.
ở trong nớc, các tác giả Việt Nam cũng nghiên cứu thành công rất nhiều
công trình có giá trị nh: Lê Khả Kế và cộng sự (1969 - 1976) trong bộ Cây cỏ“ Góp phần điều tra thành phần loài cây họ đậu tại V
thờng thấy ở Việt Nam" đã mô tả đợc 120 loài 46 chi [11] Phạm Hoàng Hộ (1970) mô tả 125 chi 697 loài họ đậu 6 tập "Cây cỏ Việt Nam" trong đó:
+ phân họ trinh nữ: 85 loài 16 chi
+ phân họ vang: 124 loài 23 chi
+ phân họ đậu: 488 loài 86 chi
Ngoài một số công trình nghiên cứu về thành phần loài, các taxon bậc
họ, chi thì một số nhà khoa học khác còn nghiên cứu với mục đích phục vụ conngời và làm thuốc, phân bón, thực phẩm Điển hình có Võ Văn Chi (1973)trong cuốn "Từ điển cây thuốc Việt Nam" cũng đã xác định đợc, họ Đậu có 262loài 97 chi làm thuốc [5] Đáng kể nhất là Nguyễn Đăng Khôi sau nhiều nămnghiên cứu đã công bố hàng loạt công trình về họ đậu ở Việt Nam (1974_1979)
nh : Phân vùng trồng một số cây phân xanh bộ đậu ở miền bắc Việt Nam, Gópphần nghiên cứu phân loại một số chi họ đậu ở các tỉnh phía bắc Việt Nam,Một số cây bộ đậu thân bò và thân leo làm thức ăn giàu prôtêin cho gia súc củamiền bắc Việt Nam [theo 16] Những công trình này đã góp phần hoàn chỉnhviệc nghiên cứu phân loại họ đậu Trong đó quan trọng nhất là việc tu chỉnhdanh pháp xác định tên khoa học đúng đắn cho 21 loài mà các tác giả trớc đây
đã xác định sai, bổ sung nhiều loài mới cho hệ thực vật Việt Nam (24 loài ở cáctỉnh phía bắc) [theo16]
Nguyễn Tiến Bân (1997) trong cuốn “ Góp phần điều tra thành phần loài cây họ đậu tại VCẩm nang tra cứu và nhận biết các
họ thực vật hạt kín” đã tổng kết các nghiên cứu trớc đây về họ đậu và kết luận:Phân họ trinh nữ có 60 chi gần 2800 loài phân bố ở nhiệt đới và cận nhiệt đới,
ở Việt Nam 14 đến 15 chi, 60 loài, trong phân họ này có chi Acacia (keo) phổbiến ở vùng nóng Châu Phi và Châu úc là chi lớn nhất có tới 500 loài và có
Trang 8Phân họ vang có 150 chi gần 2800 loài phân bố chủ yếu ở nhiệt đới và cậnnhiệt đới, phân họ này cho nhiều gỗ quý, làm thuốc, ở Việt Nam có trên 20 chigần 120 loài Phân họ đậu có 500 chi gần 12000 loài phân bố ở khắp thế giớicòn ở Việt Nam có khoảng 60 chi, trên 450 loài phân họ này có nhiều côngdụng, thực tế đa số cây làm thực phẩm có giá trị cho dầu, bột, một số dùng làmthuốc quý, ngoài ra có nhiều loại cây trồng làm thức ăn cho gia súc, làm phânxanh, cải taọ đất tốt vì nhiều cây rễ có nốt sần trong đó có loại vi khuẩn cố định
đạm cộng sinh [2]
Dựa trên cơ sở những công trình nghiên cứu trong nớc và trên thế giới đãcông bố gần đây, Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) đã thống kê các họ đa dạng nhấtcủa hệ thực vật Việt Nam trong đó họ đậu (Fabaceae) có 400 loài đứng thứ 3sau các họ Orchidaceae (800 loài) và Euphorbiaceae (422 loài) [20].Nhữngnghiên cứu về loài cây họ đậu của các nhà khoa học trên mới chỉ ở mức thống
kê từ các tài liệu cuả các tác giả trớc, rất ít công trình nghiên cứu riêng về cây
họ Đậu Song mặc dù cây họ đậu đợc nghiên cứu trong các công trình nghiêncứu chung về thực vật thì số lợng loài cây họ đậu có đợc cũng chứng tỏ sự đadạng phong phú về thành phần loài cũng nh giá trị của chúng Năm 1999, LêTrần Chấn trong cuốn "Một số đặc điểm cơ bản của hệ thực vật Việt Nam "thống kê đợc 10.440 loài thực vật trong đó có 628 loài thuộc 116 chi của họ
đậu và lập bảng so sánh số loài ở các vùng địa lý khác nhau (Bảng 1)
Bảng1 So sánh các loài cây họ đậu ở các vùng khác nhau [3]
Họ Đậu Hàn đới Ôn đới
Cận nhiệt
Và trong đó họ đậu cũng đợc coi là một họ trong 10 họ giàu loài nhất của
hệ thực vật ở một số vùng địa lý của bán cầu Bắc Điều đó chứng tỏ sự phongphú của họ đậu nói riêng và thực vật nói chung là do Việt Nam nằm trong khu
Trang 9vực khí hậu nhiệt đới gió mùa nắng nhiều, ma nhiều, độ ẩm cao là những nhân
tố thuận lợi đối với sự phát triển của thực vật nhiệt đới [3]
Nghiên cứu gần đây về cây họ đậu của Hồ Thị Liễu (1998) “ Góp phần điều tra thành phần loài cây họ đậu tại VĐiều trathành phần loài cậy họ đậu ở Khu bảo tồn Sơn Trà Đà Nẵng và vùng phụ cận)
đã thống kê đợc 106 loài, 53 chi Đó mới chỉ là nghiên cứu ở một khu vực nhỏtrong lúc đó cây họ đậu phân bố khắp mọi nơi ở vùng nhiệt đới, nhất là nớc tavới khí hậu nhiệt đới gió mùa rất đa dạng về thành phần loài cây hạt kín nóichung và cây họ đậu nói riêng.Vì vậy, cần có nhiều công trình nghiên cứu hơnnữa về thành phần loài cây họ đậu nhằm một mặt cung cấp thêm các dẫn liệu
về thành phần loài, một mặt là dẫn liệu cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo[ theo 16]
1.4 ở Vờn quốc gia Pù Mát Nghệ An
Để làm cơ sở cho việc thành lập Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát, năm
1993 các chuyên gia của Viện điều tra quy hoạch rừng thuộc Bộ lâm nghiệp đã
điều tra nghiên cứu hệ thực vật Pù Mát và đã cho thấy họ Đậu là một trongnhững họ đa dạng nhất tại khu vực này Năm 1998 đến năm 2001, dự án SFNC
do cộng đồng Châu Âu tài trợ kết hợp với các nhà khoa học trong và ngoài nớc[18] đã tiến hành điều tra về thành phần loài thực vật tại Vờn quốc gia trong đó
đã xác định đợc có 51 loài thuộc 20 chi thuộc họ đậu gồm có:
+10 loài 4 chi thuộc họ trinh nữ
+15 loài 5 chi thuộc họ vang
+ 26 loài 11chi thuộc họ đậu
Năm 1998 trong đề tài"Thực trạng thảm thực vật trong phơng thức canhtác của ngời Đan Lai vùng đệm Pù Mát- Nghệ An" Nguyễn Văn Luyện đã công
bố 251 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 178 chi trong đó có 16 loài chi 12thuộc họ đậu ở vùng đệm Pù Mát[14] Năm 1999, trong cuốn "Một số kết quảban đầu về điều tra thành phần loài thực vật Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát-Nghệ An" thì Đặng Quang Châu, Nguyễn Văn Luyện đã thống kê đợc 144 họthực vật bậc cao có mạch ở Pù Mát, trung bình một họ chiếm 302 chi và 5,8loài Số họ có loài nhiều nhất là họ đậu (Fabaceae ) với 66 loài (8,0%) tiếp đến
họ thầu dầu (Euphorbiaceae) 51 loài (6,1%) Xét sự đa dạng về chi khu hệ thựcvật Pù Mát có 460 chi thực vật bậc cao có mạch, các họ có chi nhiều nhất là họ
đậu 31 chi, tiếp đến họ lúa (Poaceae), 26 chi và đã chứng tỏ họ đậu ở đâykhông chỉ có đa dạng về loài mà còn rất đa dạng về chi
Năm 1999 Đặng Quang Châu và cộng sự với đề tài cấp bộ "Góp phầnnghiên cứu một số đặc trng cơ bản của hệ thực vật Pù Mát -Nghệ An" thống kê
đợc 24 loài 11 chi thuộc họ Đậu theo hứơng dân tộc học, năm 1999 Nguyễn
Trang 10Thị Hạnh trong công trình nghiên cu cây thuốc của đồng bào dân tộc Thái vùngtây nam Nghệ An, các tác giả đã mô tả 544 loài thực vật bậc cao làm thuốc 363chi của 12 họ trong đó họ Đậu có 49 loaì 27 chi chiếm hơn 9% so với các loàithực vật bậc cao làm thuốc khác [7] trong đó phân họ đậu 34 loài thuộc 19 chi,phân họ vang 8 loài 5 chi, phân họ trinh nữ 7 loài 4 chi Cũng trong năm 1999Phạm Hồng Ban cũng đã thống kê đợc 44 loài 21 chi thuộc họ đậu trong công
trình "Nghiên cứu đa dạng sinh học của hệ sinh thái sau nơng rẫy ở vùng tây nam - Nghệ An” Tác giả đã nghiên cứu, theo dõi trong một thời gian khá dài
thấy rằng cây họ đậu có khả năng tái sinh rất lớn sau một thời gian bị chặt phá,
điều đó chứng tỏ rằng điều kiện tự nhiên đất đai, khí hậu ở đây rất thích hợpcho các loài cây họ đậu phát triển [1]
Tiếp đó năm 2002, Nguyễn Anh Dũng trong công trình "Nghiên cứu tính
đa dạng hệ thực vật bậc cao có mạch tại xã Môn Sơn vùng đệm Vờn quốc gia
Pù Mát - Nghệ An" đã thống kê đợc 497 loài thuộc 319 chi thực vật bậc cao cómạch trong đó có 42 loài 20 chi thuộc họ đậu [6] tác giả cũng đã nghiên cứucác cây họ đậu về phổ dạng sống, yếu tố địa lí để xác định đặc điểm thích nghi
và nguồn gốc phân bố của từng loài cây
Mới đây năm 2004 trong cuốn "Nghiên cứu đa dạng thực vật ở khu bảotồn Pù Mát - NA" Nguyễn Nghiã Thìn và cộng sự đã thống kê 144 loài 46 chithuộc bộ đậu trong đó có 38 loài 11 chi thuộc họ vang, 83 loài 29 chi thuộc họ
đậu, 23 loài 6 chi thuộc họ trinh nữ, đây đợc xem là danh lục thực vật đầy đủnhất từ trớc tới nay của Vờn quốc gia Pù Mát - NA về đa dạng thực vật nóichung và về thành phần loài họ đậu nói riêng [21] Nh vậy chỉ trong 6 năm trởlại đây (1998-2004) đã có khá nhiều công trình nghiên cứu lớn đối với hệ thựcvật nói chung và họ đậu nói riêng của VQGPM Điều đó cho thấy rằng Pù Máthiện nay là địa điểm rất đợc quan tâm về mặt đa dạng sinh học Mặc dù vậy,theo chúng tôi những công trình nghiên cứu trên đây còn là con số khiêm tốn
so với tiềm năng đa dạng sinh học nơi đây Những con số thống kê thành phầnloài mới chỉ dừng lại ở mức độ thấp hơn nhiều so với những dự đoán của cácnhà khoa học và nhất là cha có tác giả nào nghiên cứu riêng về cây họ đậu, đâycũng là một trong những lý do khiến chúng tôi chọn đề tài này
Trang 11Chơng ii điều kiện tự nhiên và xã hội tại Vờn quốc gia Pù Mát
1 Điều kiện tự nhiên
Vờn quốc gia Pù Mát nằm trên sờn đông của dải Trờng Sơn Do có địahình phức tạp và dốc nên dải Trờng Sơn vẫn còn một diện tích rừng bao phủ lớnmặc dù có rất nhiều khu vực đã bị tàn phá nghiêm trọng bởi các hoạt động khaithác gỗ và các hoạt động khác của con ngời Là một trong những khu rừng đặcdụng đợc thiết lập trên dải bắc Trờng Sơn.Vờn quốc gia Pù Mát là một trong 12khu trên mặt đất đợc xếp vào hạng giá trị sinh học loại “ Góp phần điều tra thành phần loài cây họ đậu tại VA” với diện tíchnguyên sinh lớn, có số lợng loài động vật và thực vật tự nhiên rất phong phú.Hiện nay Vờn quốc gia Pù Mát là một khu vực bảo vệ rộng và ít có sự tác độngnhất còn tồn tại, tầm quan trọng của nó đã đợc biết đến ngày một nhiều trongnhững năm gần đây[18]
1.1.Vị trí địa lý
Vờn quốc gia Pù Mát nằm ở 180 46 ‘’ - 19012’’ vĩ độ bắc và 1040 24’’
-104056’’ độ kinh đông, thuộc vào địa giới hành chính của 3 huyện: Anh Sơn,Con Cuông, Tơng Dơng thuộc tỉnh Nghệ An Đờng ranh giới phía nam của Vờnquốc gia Pù Mát chạy dọc theo đờng biên giới quốc tế Việt Lào Phía đông giápvới các xã Phúc Sơn, Hội Sơn (huyện Anh Sơn), phía tây giáp với các xã Tamhợp, Tam Đình, Tam Quang ( huyện Tơng Dơng), phía bắc giáp với các xãChâu Khê, Lục Dạ, Môn Sơn (huyện Con Cuông) Vờn quốc gia Pù Mát đợcthành lập năm 2001 và đợc chia làm 2 vùng: Vùng nghiêm ngặt ( Vùng lõi)91.113 ha và vùng đệm 86.000 ha, Pù Mát là tên gọi của đỉnh núi cao nhất(1.841m)
Trang 121.3 Địa chất
Tuỳ thuộc các kiểu địa hình đất đai có sự khác nhau có 3 loại chính nh sau:Kiểu điạ hình núi đất xen kẽ núi đá ở độ cao 500-1000m độ dốc 200-350gồm có:
+ Đá: Nền cấu tạo cơ bản bởi đá xâm nhập thành phần chủ yếu là granit hạtvừa và lớn, granit hạt mica, granit bo xit
+ Đất feralit có màu vàng nâu chiếm đại bộ phận
+ Đất feralit có màu nâu đỏ phát triển trên sản phẩm phong phú của đá vôi.Thành phần cơ giới trung bình đến trung bình nặng phân bố chủ yếu ở Khe
Bu, Khe Mọi, giáp Phuhi, Phuloong và tiếp giáp Môn Sơn
Kiểu địa hình thung lũng, dọc 3 suối lớn Khe Thơi, Khe Choăng, KheKhặng từ độ cao 200-450m độ dốc trung bình 200-300, đất feralit, sản phẩm dốc
tụ tầng dày phát triển trên đá phiến và đá sa thạch PH: 4,5-5
Kiểu địa hình núi đá vôi chiếm một diện tích không lớn hơn 1.200 ha chủyếu là feralit vàng đỏ và feralit đỏ trên sản phẩm phong hoá đá vôi, đất khô vàtích tụ trong một số khe nhỏ và khe có nhiều lộ đầu, đất bị rửa trôi mạnh nênhàm lợng mùn rất thấp (<2%) và còn có hiện tợng đá ong hoá
ở độ cao từ 800m trở lên, khí hậu lạnh ẩm đã hình thành loại đất feralit mùntrên núi, loại đất này có tỷ lệ đá lẫn cao, thành phần cơ giới nhẹ đến trung bìnhvới tầng thảm mục dày[18]
1.4 Khí hậu
Miền núi trung du Nghệ An nói chung và Vờn quốc gia Pù Mát nói riêngnằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, có một mùa đông lạnh chịu ảnh hởng sâusắc của gió mùa đông bắc lạnh và gió mùa tây nam (gió Lào) Các yếu tố khíhậu mang tính phân cực mạnh hình thành 2 mùa rõ rệt, mùa nóng ẩm từ tháng 4
đến tháng 10 mùa khô từ tháng 11-3 năm sau Nhiệt độ trung bình 23,60C caonhất tuyệt đối 42,70C, thấp nhất tuyệt đối 1,70C, nhiệt độ trung bình thấp nhất là17,00C (tháng 1) nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là 28,70C (tháng 7) số giờnắng trong năm từ 1.500-1.700 giờ nhiệt năng từ 8.500-8.7000 /năm Địa hìnhdãy Trờng Sơn ảnh hởng đến hoàn lu khí quyển đã tạo ra các vùng sinh tháikhác nhau Từ tháng 4 đến tháng 9 gió mùa tây nam (gió Lào) có nguồn gốc từvịnh Ben Gan tạo ma ở sờn tây khi qua dãy Trờng Sơn đã hình thành ở sờn
đông nhiều luồng khí khô và nóng độ ẩm có lúc xuống dới 50%
Về mùa đông từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau chịu ảnh hởng của gió mùa
đông bắc từ phơng bắc tràn xuống đã gây nên các hiện tợng ma phùn, hanh vàsơng muối ở sờn đông, đặc biệt là vùng núi cao ở miền núi trung du vào mùa
đông nhiệt độ tối thấp có thể xuống tới 20C Thậm chí có thể tới 0,50C, trung
Trang 13bình từ 5 –6 0C điều đó cho thấy mùa đông ở đây lạnh hơn nhiều so với miềnxuôi cùng tỉnh.
1.5 Thuỷ văn
Lợng ma trung bình hàng năm 1.791mm, năm cao nhất là 2.287mm nămthấp nhất 1.190mm số ngày ma bình quân là 140 ngày Trên 70% lợng ma tậptrung vào các tháng 8,9,10 và tháng 5 (ma tiểu mãn-trung bình 93 ngày ma vớitổng lợng ma đạt 1050mm) nên thờng gây lũ lụt Những tháng còn lại chỉ còn30% lợng ma và phân bố không đều dẫn tới hạn hán (trung bình khoảng 40ngày ma với tổng lợng ma là 209mm)
Vờn quốc gia Pù Mát có 4 lu vực khe chính:
Khe Choang, Khe Bu ( nhánh của Khe Choang) nằm giữa Vờn quốc gia PùMát
Khe Thơi nằm phía bắc Vờn quốc gia Pù Mát
Khe Khặng nằm phía nam Vờn quốc gia Pù Mát, là nhánh của sông Giăngchạy qua địa phận xã Môn Sơn Nhờ hệ thống sông này mà tạo nên hệ thực vậtven suối rất đa dạng và phong phú về loài, góp phần hạn chế xói mòn trong ma
lũ Nớc của tất cả các hệ thống sông suối đều đổ vào sông Cả nằm phía đôngVờn quốc gia Pù Mát
T: Biên nhiệt độ trung bình, S: Hệ số giờ nắng, U: Độ ẩm
[ Nguồn: Niên Giám thống kê huyện Con Cuông, Anh Sơn, Tơng Dơng năm 1999.]
Tình hình gió bão:
+ Gió mùa đông bắc thờng xuất hiện từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau
+ Gió mùa nóng ẩm và gió Lào thờng xuất hiện từ tháng 4 đến tháng 11
+ Bão thờng xuất hiện vào tháng 8 đến tháng 10 kèm theo áp thấp nhiệt đới kéotheo ma lũ gây ra nhiều đợt lũ lớn
1.6 Điều kiện giao thông khu vực Vờn quốc gia Pù Mát
Có 5 con đờng dẫn từ Quốc Lộ 7 tới vùng nghiêm ngặt và 3 trong số đó dẫnvào tận rìa của vùng nghiêm ngặt, 1 con đờng khác xa hơn đi vào vùng đệm.Trong Khu bảo tồn có rất nhiều các đờng mòn dễ dàng đi lại, chủ yếu dọctheo các đỉnh dốc hay đáy thung lũng và các con suối Có rất nhiều đờng mòn
Trang 14đợc thiết lập dẫn tới các con đờng chính đợc sử dụng trong các hoạt động sănbắt và thu lợm lâm sản Những con đờng qua biên giới quốc tế ít đợc sử dụng.Dân địa phơng thờng dùng các bè nứa nhỏ để xuôi dòng trên một số consông lớn, những bè nứa này đợc sử dụng với mục đích vẫn chuyển lâm sản đinhiều nơi hơn là mục đích đi lại [20]
2 Điều kiện xã hội
90 làng bản thuộc 16 xã và một thị trấn của 3 huyện :Anh Sơn 38.163 nhânkhẩu 6.938 hộ, Con Cuông 39.419 nhân khẩu, 7.167 hộ và Tơng Dơng 15.753nhân khẩu, 2.849 hộ.Trung bình mỗi hộ gia đình có từ 5-6 nhân khẩu, số ngờisinh con thứ 3 và 4 vẫn còn phổ biến Dân số trong khu vực phân bố không
đều.Theo hớng tây bắc mật độ dân số giảm dần 133 ngời/km2 còn 18 ngời/km2.Phần lớn dân c (Kinh, Thái chiếm gần 87% ) sống vùng thấp gần quốc lộ 7, cácdân tộc còn lại đều sống ở vùng kề cận của Vờn quốc gia Đặc biệt có 265 hộvới 1.494 khẩu thuộc tộc ngời Đan Lai sống ngay trong Vờn quốc gia Ngời
Đan Lai sống trong vùng bảo vệ nghiêm ngặt sống dựa vào canh tác nôngnghiệp trên đất dốc của Vờn, có lối sống gắn liền với lối sống hoạt động săn bắtthu hái sản phẩm rừng
2.3 Thực trạng những ngành kinh tế và cơ sở hạ tầng
Các hoạt động sản xuất tập trung chủ yếu vào 16 xã vùng đệm với 3 lâm ờng Tơng Dơng, Con Cuông và Anh Sơn trong các lĩnh vực sản xuất nông
Trang 15tr-nghiệp, lâm nghiệp và một số hoạt động khác Diện tích đất lâm nghiệp trongvùng đệm là 52.241 ha, chiếm 61% tổng diện tích đất tự nhiên Đặc biệt có một
số xã nằm trong vùng lõi có diện tích đất lâm nghiệp lên tới 70%, trong khi đódiện tích đất nông nghiệp chỉ đạt 2,5% và phân bố không đều, tập trung ở cácvùng thấp Nh vậy tiềm năng phát triển lâm nghiệp rất lớn và đây là một trongnhững chiến lợc phát triển kinh tế của vùng
Sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi thuỷ sản ngời dân ở đây chủ yếu sốngnhờ vào nông nghiệp hay bán nông nghiệp và rất nghèo Các nguồn thu nhậpthêm từ việc khai thác gỗ, tre nứa, song mây và các sản phẩm săn bắn động vậthoang dã Phần lớn nguồn thu nhập đều tập trung cho chăn nuôi Dân sốngtrong vùng đệm sản xuất tập trung vào việc làm rẫy và trồng lúa nớc
Sản xuất lâm nghiệp: Năm 1998 nhà nớc chủ trơng giao đất lâm nghiệp chongời dân lâu dài từ 30-50 năm, biện pháp trên làm hạn chế tiêu cực của ngờidân đối với rừng Tuy nhiên mức sống ở đây không tăng lên bao nhiêu, ngờidân phải lo đối phó với lơng thực hàng ngày trong khi đó để thu nhập từ khoanhnuôi rừng phải đợi một thời gian lâu dài và điều này làm tăng nguy cơ tác độngvào thiên nhiên quanh họ Tuy nhiên đời sống của ngời dân vùng đệm có mốiquan hệ chặt chẽ với việc bảo vệ tài nguyên ở đây, một khi đời sống của họ cònthấp thì việc bảo vệ tài nguyên rừng còn gặp nhiều khó khăn, để giải quyết đợcvấn đề này cần phải song song tiến hành nâng cao đời sống cho ngời dân cả vềmặt vật chất, lẫn văn hoá tinh thần
Sản xuất công nghiệp trên toàn địa bàn vẫn cha có một cơ sở sản xuất côngnghiệp nào lớn ngoại trừ một số cơ sở sản xuất thủ công, quy mô nhỏ nh: Khaithác đá, nung gạch, sản xuất dụng cụ cầm tay, sản xuất đồ mộc gia dụng… ít có công trình nghiên cứu sâu về các taxon bậc thấpBên cạnh đó y tế, giáo dục: Cơ sở vật chất y tế còn gặp nhiều khó khăn thiếuthốn, đa số các xã cha có sản xuất kiên cố hoàn chỉnh, cha có bác sĩ, chỉ có y sĩ
và y tá là ngời có tay nghề, khả năng kinh nghiệm kỹ thuật cao nhất Vậy ởvùng miền núi Pù Mát còn đang gặp nhiều khó khăn về vật chất lẫn tinh thần
Trang 16chơng iii Đối tợng, Nội Dung và phơng pháp nghiên cứu
1 Đối tợng nghiên cứu
Nghiên cứu tất cả những loài cây họ đậu tại VQG Pù Mát
2 Địa điểm và phạm vi nghiên cứu
* Điạ điểm nghiên cứu
Tại phòng thí nghiệm Bộ môn thực vật Khoa Sinh học Trờng Đại học Vinh
*Phạm vi nghiên cứu
Tất cả số mẫu đợc thu trong các đợt thực tập thiên nhiên các khoá 41,42,43Khoa Sinh học, Đại học Vinh và đã đợc xử lý sơ bộ Tông số mẫu đợc lọc rathuộc họ đậu là 70 mẫu, trong đó chỉ có một số ít mẫu đã đợc định loại đến họ
3 Thời gian nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu từ tháng 9\2004 đến 5\2005 Thời gian phân
* Xây dựng bảng danh lục thành phần loài cây họ đậu tại VQGPM
* Phân tích sự đa dạng về thành phần loài các taxon phân họ, chi
* Xác định giá trị sử dụng của các loài cây họ đậu điều tra đợc
5 Phơng pháp nghiên cứu
5.1 Xử lý mẫu
Tất cả số mẫu thu đợc xử lý sơ bộ tại thực địa, chúng tôi tiến hành bớctiếp theo tại phòng thí nghiệm nh: Sấy khô, cắt tỉa, ép phẳng và đợc bảo vệtrong báo Chúng tôi sử dụng phơng pháp xử lý mẫu vật của Klein 1978 [12] vàNguyễn Nghĩa Thìn,1997[ 20]
5.2 Phơng pháp định loại
Chúng tôi sử dụng phơng pháp hình thái so sánh Sử dụng khoá định loạicùng với các bản mô tả trong các tài liệu:
+ "Cây cỏ Việt Nam" Phạm Hoàng Hộ, quyển 1 tập 2,1991.`
+ "Từ điển cây thuốc" Võ Văn Chi,1999.
+ " Cây cỏ thờng thấy ở Việt Nam" Lê Khả Kế (1969-1973).
5.2.1 Phân chia mẫu theo họ và chi