Nâng cao nhận thức về vai trò của công tác giáo dục ý thức nghề nghiệpcho học sinh hệ trung cấp Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay...49..
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-NGUYỄN PHƯỚC TRỌNG
GIÁO DỤC Ý THỨC NGHỀ NGHIỆP CHO HỌC SINH HỆ TRUNG CẤP TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Tp Hồ Chí Minh, năm 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-NGUYỄN PHƯỚC TRỌNG
GIÁO DỤC Ý THỨC NGHỀ NGHIỆP CHO HỌC SINH HỆ TRUNG CẤP TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THỰC PHẨM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PPDH BỘ MÔN GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
Trang 3Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, khoa Đào tạo sau đại học, khoaGiáo dục Chính trị, cùng toàn thể các thầy, cô giáo Trường Đại học Vinh đãnhiệt tình giảng dạy, truyền đạt cho tôi những kiến thức lý luận chính trị quýbáu, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập.
Tôi xin trân trọng cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Đoàn Minh Duệ đã trựctiếp hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, phòng Công tác học sinh, sinhviên, khoa Lý luận Chính trị và học sinh – sinh viên Trường Đại học Côngnghiệp Thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh luôn chia sẻ, động viên, tạo điềukiện cho tôi cả về tinh thần và vật chất trong suốt quá trình học tập
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè vàngười thân đã động viên, giúp đỡ tôi trong cuộc sống, học tập và công tác
Tp Hồ Chí Minh, năm 2012
Tác giả
Nguyễn Phước Trọng
Trang 5MỤC LỤC
Trang
A MỞ ĐẦU 1
B. NỘI DUNG 8 Chương 1 Cơ sở lý luận của công tác giáo dục ý thức nghề nghiệp cho học sinh hệ trung cấp ở các trường đại học, cao đẳng 8 1.1 Ý thức nghề nghiệp và giáo dục ý thức nghề nghiệp 8
1.2 Những nội dung cơ bản của giáo dục ý thức nghề nghiệp cho học sinh hệtrung cấp ở các trường đại học, cao đẳng 131.3.Vai trò của giáo dục ý thức nghề nghiệp cho học sinh hệ trung cấp ở cáctrường đại học, cao đẳng trong giai đoạn hiện nay 22Kết luận chương 1 26
Chương 2 Thực trạng công tác giáo dục ý thức nghề nghiệp cho học sinh
hệ trung cấp Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh 27
2.1 Một số nét khái quát về Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm thànhphố Hồ Chí Minh 272.2 Thực trạng ý thức nghề nghiệp của học sinh hệ trung cấp Trường Đại họcCông nghiệp Thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh 312.3 Công tác giáo dục ý thức nghề nghiệp cho học sinh hệ trung cấp TrườngĐại học Công nghiệp Thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh hiện nay 41Kết luận chương 2 47
Chương 3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục ý thức nghề nghiệp cho học sinh hệ trung cấp Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay 48
3.1 Nâng cao nhận thức về vai trò của công tác giáo dục ý thức nghề nghiệpcho học sinh hệ trung cấp Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm thành phố
Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay 49
Trang 63.2 Giáo dục ý thức nghề nghiệp cho học sinh thông qua công tác giảng dạy
các môn học: Chính trị, Pháp luật, An toàn lao động 52
3.3 Giáo dục ý thức nghề nghiệp thông qua các hoạt động ngoại khóa, thực tập, các hoạt động của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội sinh viên và các hoạt động VHVN, TDTT 61
3.4 Giáo dục ý thức nghề nghiệp thông qua kỷ niệm các ngày lễ, ngày hội việc làm 68
3.5 Giáo dục ý thức nghề nghiệp thông qua phối hợp chặt chẽ ba môi trường giáo dục: gia đình, nhà trường, xã hội 70
3.6 Giáo dục ý thức nghề nghiệp thông qua quá trình tự giáo dục của học sinh 72
Kết luận chương 3 73
C. KẾT LUẬN 75
D. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 7A MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta đang bước vào thời kỳ CNH, HĐH với nền kinh tế mở, năngđộng bao gồm nhiều thành phần kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sựquản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Sự phát triển nhanhchóng của nền kinh tế trong những năm qua cùng với sự hội nhập mạnh mẽtrong khu vực và thế giới, đã có những tác động to lớn đến mọi mặt của đời sống
xã hội Đồng thời vấn đề phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH,HĐH đã và đang trở thành một nhiệm vụ cấp thiết được Đảng, Nhà nước, xã hộiquan tâm Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản
Việt Nam nhấn mạnh: “Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất
là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, … Đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đa dạng, đa tầng của công nghệ và trình độ phát triển của các lĩnh vực, ngành nghề Thực hiện liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp, cơ sở sử dụng lao động, cơ sở đào tạo và Nhà nước để phát triển nguồn nhân lực theo nhu cầu xã hội Thực hiện các chương trình, đề án đào tạo nhân lực chất lượng cao đối với các ngành, lĩnh vực chủ yếu, mũi nhọn Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, phát huy nhân tài; đào tạo nhân lực cho phát triển kinh tế tri thức” [10; 130] Điều đó có nghĩa là coi yếu tố con người là trọng tâm của sự
phát triển - yếu tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Vìvậy, việc nâng cao chất lượng giáo dục ý thức nghề nghiệp cho thế hệ trẻ để họ
có được sự lựa chọn nghề nghiệp phù hợp trong tương lai, có những phẩm chất
và năng lực nghề nghiệp vững chắc đáp ứng được nhu cầu của các hoạt độngkinh tế - xã hội, khoa học, công nghệ là một vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quantrọng mang tính chiến lược Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng Cộng sản Việt
Nam lần thứ XI (2011), chỉ rõ: “Phát triển mạnh và nâng cao chất lượng dạy nghề và giáo dục chuyên nghiệp Rà soát, hoàn thiện quy hoạch và thực hiện
quy hoạch mạng lưới trường đại học, cao đẳng và dạy nghề trong cả nước” [10;
131] Chỉ đạo này cũng cho thấy, hoạt động nâng cao chất lượng giáo dục ý thức
Trang 8nghề nghiệp cho học sinh giữ một vị trí, vai trò và nhiệm vụ rất quan trọng Đây
là một trong những mặt giáo dục nhằm phát triển toàn diện nhân cách cho họcsinh Nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp nhằm mục đích giúp cho họcsinh có được hiểu biết cơ bản về nghề nghiệp trong tương lai, hình thành hứngthú và năng lực nghề và ra sức phấn đấu góp phần vào công cuộc xây dựng, pháttriển đất nước ngày một giàu đẹp hơn
Trong các trường TCCN, cao đẳng và đại học hiện nay, việc nâng caochất lượng giáo dục ý thức nghề nghiệp được thực hiện thông qua nhiều hìnhthức: sinh hoạt đầu khóa, hoạt động ngoại khóa, tích hợp và lồng ghép vào cáchoạt động khác,…Tuy nhiên, so với các mặt giáo dục khác thì việc nâng cao ýthức nghề nghiệp chưa được sự quan tâm đúng với vị trí, vai trò của nó Điềunày làm cho giáo viên và học sinh đều coi việc nâng cao chất lượng giáo dục ýthức nghề nghiệp không thật sự là một hoạt động chính yếu của quá trình dạyhọc và giáo dục trong nhà trường Bên cạnh đó, như đã nói ở trên, nền kinh tế thịtrường ở nước ta cùng với các quy luật của nó đang phát triển rất mạnh và đangtrên đà hoàn thiện, dẫn đến sự phát triển, biến đổi quá nhanh và “nóng” của khoahọc và công nghệ cùng nhiều lĩnh vực khác của đời sống xã hội đã làm cho địnhhướng giá trị của giới trẻ có nhiều thay đổi Điều này đã tác động trực tiếp đếnđộng cơ, xu hướng và ý thức về nghề nghiệp của họ Tất cả những điều đó khiếnphần lớn học sinh có tâm lý hoang mang, dao động về nghề nghiệp trong tươnglai của mình, dẫn đến tình trạng chán nản, học tập không tiến bộ, bỏ học, tiếp tụcthi vào trường khác, … Điều này đã gây ra nhiều vấn đề phức tạp cho xã hộinhư: chất lượng học tập kém, rèn luyện kém dẫn đến chất lượng nguồn nhân lựcyếu, làm lãng phí của cải, thời gian, công sức cho cả cá nhân học sinh, cho giađình và cho xã hội Bên cạnh những hình thức quen thuộc nhằm nâng cao chấtlượng giáo dục ý thức nghề nghiệp cho học sinh ở các trường chuyên nghiệphiện nay thì thông qua giảng dạy các môn học đại cương, chẳng hạn như mônChính trị cũng là một kênh thông tin hữu ích, giúp học sinh nâng cao ý thứcnghề nghiệp của mình, để đào tạo ra được một nguồn nhân lực có chất lượngcao đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Từ những lý do trên,
Trang 9tôi quyết định chọn vấn đề: “Giáo dục ý thức nghề nghiệp cho học sinh hệ trung cấp Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học thạc sỹ
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục ý thức nghề nghiệp cho học sinh,sinh viên hiện nay đã được một số tác giả, nhà lãnh đạo, các nhà hoạch địnhchính sách, các nhà quản lý, giới lý luận ở nước ta quan tâm, nghiên cứu, tìmhiểu, đã có nhiều văn bản hướng dẫn thực hiện vấn đề này, cụ thể: Thủ TướngChính phủ, Quyết định số 37/2008/QĐ- TTg ngày 12 tháng 03 năm 2008 củaThủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật từnăm 2008 đến năm 2012 Với mục tiêu nâng cao chất lượng và hiệu quả côngtác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ
về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật và hành vi chấp hành pháp luật của nhàgiáo, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục và người học, góp phần ổn định môi trườnggiáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện Bộ Lao động – Thương binh
và Xã hội và Bộ Giáo dục và Đào tạo, Thông tư số 03/LĐ-TT, ngày 24 tháng 05năm 1974 về Giáo dục ý thức ngành nghề và hướng dẫn học sinh đi học nghề.Quy định và hướng dẫn việc giáo dục ý thức ngành nghề và vận động học sinhthôi học đến tuổi lao động hăng hái tự nguyện đi học nghề để đào tạo thành côngnhân các ngành, các địa phương Bộ Giáo dục và Đào tạo, Quyết định số50/2007/QĐ-BGDĐT, ngày 29 tháng 08 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục
và Đào tạo về Công tác giáo dục phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống cho học
sinh, sinh viên trong các đại học, học viện, trường đại học, cao đẳng, TCCN với
các nội dung: giáo dục lòng yêu nước, lý tưởng Cộng sản, niềm tin đối với sựlãnh đạo của Đảng, bản lĩnh chính trị; giáo dục ý thức chấp hành các chủ trương,đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; giáo dục nhữnghành vi đạo đức, đạo đức nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động;giáo dục trách nhiệm của cá nhân trước tập thể và cộng đồng …
Trang 10Đã có nhiều nhà khoa học công bố các công trình, bài viết nghiên cứu cóliên quan đến công tác giáo dục ý thức nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên, cụthể như:
GS.TS Phạm Tất Dong trong cuốn "Giúp bạn chọn nghề”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội – năm 1989, đã định nghĩa năng lực nghề nghiệp là
sự tương ứng giữa những đặc điểm tâm sinh lý của con người với những yêu cầu
do nghề nghiệp đặt ra
GS.VS Phạm Minh Hạc “Phát triển giáo dục, phát triển con người phục
vụ phát triển kinh tế xã hội", Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1996; Mạc Văn Trang trong bài báo “Thử đề xuất một quan niệm về nhân cách trong cơ chế thị trường” Tạp chí Tâm lý học số 04 năm 2000, tác giả đã đưa ra quan
điểm: Giá trị của nghề nghiệp là ở tri thức chuyên môn, kỹ năng hành nghề, thái
độ phục vụ, đó cũng chính là cái làm nên giá trị hàng hoá sức lao động
PGS.TS Cao Văn Sâm, Phó Tổng Cục trưởng Tổng Cục Dạy nghề,
“Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hướng nghiệp trong các cơ sở dạy nghề”.
Theo tác giả, cần giáo dục ý thức lựa chọn nghề đúng đắn cho học sinh, đồngthời giúp các em có định hướng nghề nghiệp tương lai, chuẩn bị các yếu tố cầnrèn luyện đối với yêu cầu của nghề dự định sẽ chọn Chính vì vậy, trong giaiđoạn này, hướng nghiệp giúp học sinh hình thành về chất khả năng nhận thứcnghề nghiệp và mối quan hệ khăng khít giữa nhu cầu xã hội với tiềm năng pháttriển bản thân
Nguyễn Đăng Lập, “Kiến thức và kỹ năng vào nghề của tuổi trẻ ngày nay”, Nhà xuất bản Giáo dục năm 2009, theo tác giả để có một nghề ổn định và
sống trọn vẹn với nó trong suốt cuộc đời là một mơ ước chính đáng, trên đời này
có nhiều người đã cống hiến cả đời mình cho một nghề mà họ đã chọn, đem lạilợi ích cho xã hội…
Một số Luận văn nghiên cứu: Luận văn thạc sỹ “Những giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường Cao đẳng y tế Nghệ An” của tác giả Nguyễn Trung Dũng ; Luận văn thạc sỹ “Nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho học sinh trường Trung cấp y tế
Trang 11Đồng Tháp” của tác giả Võ Minh Hiếu, hoặc Luận văn thạc sỹ “Giáo dục ý thức nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên trường Cao đẳng nghề Đồng Tháp trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Huỳnh Nhựt Thăng ,…
Nhìn chung tất cả các nghiên cứu trên rất phong phú, có giá trị sâu sắc,
đã giúp tôi trong quá trình tìm tòi, tham khảo, xây dựng cơ sở lý luận về giáodục ý thức nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên để tôi có định hướng trong quátrình sưu tầm, tích lũy tư liệu chuẩn bị viết đề tài Tuy vậy, tôi cũng hiểu rằngnhững vấn đề lý luận và thực trạng trong các luận văn thạc sỹ đã nêu trên dẫu rấtphong phú nhưng vẫn là những phác thảo ở các trường bạn Trong thực tế, vấn
đề nâng cao chất lượng giáo dục ý thức nghề nghiệp cho học sinh hệ trung cấp ởTrường Đại học Công nghiệp Thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh chưa có tácgiả nào quan tâm Vì vậy, tôi lựa chọn và nghiên cứu vấn đề này nhằm tìm ranhững phương hướng, giải pháp phù hợp, góp phần nâng cao chất lượng giáodục
ý thức nghề nghiệp cho học sinh hệ trung cấp chuyên nghiệp của Trường trong giai đoạn hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những nội dung cơ bản về ý thức nghề nghiệp của học sinh hệtrung cấp và đề ra một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ýthức nghề nghiệp cho học sinh hệ trung cấp Trường Đại học Công nghiệp Thựcphẩm thành phố Hồ Chí Minh
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận của việc giáo dục ý thức nghề nghiệp cho học sinh
hệ trung cấp thuộc các trường cao đẳng, đại học
- Làm rõ thực trạng của vấn đề giáo dục ý thức nghề nghiệp cho học sinh
hệ trung cấp Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ý thức
nghề nghiệp cho học sinh hệ trung cấp Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩmthành phố Hồ Chí Minh
Trang 124 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi vận dụng phương pháp luận của chủnghĩa Mác- Lênin cũng như các ngành khoa học xã hội, ngoài ra tôi đặc biệt sửdụng kết hợp một số phương pháp sau:
- Phương pháp điều tra xã hội học;
- Phương pháp phỏng vấn;
- Phương pháp tổng hợp, phân tích và thống kê;
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm…
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là biện pháp nâng cao chất lượng giáodục ý thức nghề nghiệp cho học sinh hệ trung cấp Trường Đại học Công nghiệpThực phẩm thành phố Hồ Chí Minh
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: nghiên cứu việc giáo dục ý thức nghềnghiệp học sinh trung cấp Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm thành phố
Hồ Chí Minh
6 Giả thuyết khoa học
Nếu các giải pháp đưa ra của đề tài được thực hiện tốt sẽ góp phần giáodục ý thức nghề nghiệp cho học sinh hệ trung cấp Trường Đại học Công nghiệpThực phẩm thành phố Hồ Chí Minh
7 Đóng góp của đề tài
Xác lập cơ sở khoa học làm luận chứng cho việc giảng dạy, giáo dục, rènluyện ý thức nghề nghiệp cho học sinh hệ trung cấp Trường Đại học Côngnghiệp Thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh
8 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luậnvăn được chia làm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận của công tác giáo dục ý thức nghề nghiệp chohọc sinh hệ trung cấp ở các trường đại học, cao đẳng
Trang 13Chương 2 Thực trạng công tác giáo dục ý thức nghề nghiệp cho học sinh
hệ trung cấp Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục ý thứcnghề nghiệp cho học sinh hệ trung cấp Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩmthành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay
Trang 14B NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC GIÁO DỤC Ý THỨC NGHỀ NGHIỆP CHO HỌC SINH HỆ TRUNG CẤP Ở CÁC TRƯỜNG
ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG 1.1 Ý thức nghề nghiệp và giáo dục ý thức nghề nghiệp
1.1.1 Ý thức nghề nghiệp
1.1.1.1 Ý thức
Theo Giáo trình Triết học: “Ý thức là sự phản ánh hiện thực kháchquan vào bộ óc con người thông qua lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xãhội ý thức là sản phẩm xã hội, là một hiện tượng xã hội” [16; 87]
Ý thức là một trong hai phạm trù thuộc vấn đề cơ bản của triết học Nó làhình thức cao của sự phản ánh của thực tại khách quan, hình thức mà riêng conngười mới có Theo VI.Lênin: ý thức con người là cơ năng của cái “khối vậtchất đặc biệt phức tạp mà người ta gọi là bộ óc con người” Tác động của ý thức
xã hội đối với con người là vô cùng to lớn Nó không những là kim chỉ nam chohoạt động thực tiễn mà còn là động lực thực tiễn Sự thành công hay thất bại củathực tiễn, tác động tích cực hay tiêu cực của ý thức đối với sự phát triển của tựnhiên, xã hội chủ yếu phụ thuộc vào vai trò chỉ đạo, định hướng của ý thức conngười mà biểu hiện ra bên ngoài là vai trò của khoa học, văn hoá và tư tưởng
Ý thức là sự nhận thức bằng trí tuệ, trực giác, cảm xúc và toàn bộ các trigiác và thông tin từ thế giới bên ngoài mà con người có được vào mọi khoảnhkhắc của cuộc đời, được sắp xếp lại theo cách của mỗi người Ý thức ra đờitrong quá trình con người hoạt động cải tạo thế giới, cho nên quá trình phảnánh hiện thực khách quan vào bộ óc người là quá trình năng động sáng tạo,thống nhất ba mặt sau:
Một là, trao đổi thông tin giữa chủ thể và đối tượng phản ánh, sự trao
đổi này mang tính chất hai chiều, có định hướng, có chọn lọc các thông tin cầnthiết
Hai là, mô hình hóa đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh
Trang 15thần Thực chất, đây là quá trình "sáng tạo lại" hiện thực của ý thức theonghĩa mã hóa các đối tượng vật chất thành các ý tưởng tinh thần phi vật chất.
Ba là, chuyển mô hình từ tư duy ra hiện thực khách quan, tức quá trình
hiện thực hóa tư tưởng, thông qua hoạt động thực tiễn biến cái quan niệm thànhcái thực tại, biến các ý tưởng phi vật chất trong tư duy thành các dạng vật chấtngoài hiện thực Trong giai đoạn này, con người lựa chọn những phương pháp,phương tiện, công cụ để tác động vào hiện thực khách quan nhằm thực hiện mụcđích của mình
Tính sáng tạo của ý thức là sáng tạo của sự phản ánh, theo quy luậtcủa sự phản ánh mà kết quả bao giờ cũng là những khách thể tinh thần Sángtạo và phản ánh là hai mặt thuộc bản chất ý thức Ý thức là sự phản ánh vàchính thực tiễn xã hội của con người tạo ra sự phản ánh phức tạp, năng động,sáng tạo của bộ óc Ý thức là một hiện tượng xã hội, sự ra đời, tồn tại của ý thứcgắn liền với hoạt động thực tiễn, chịu sự chi phối không chỉ các quy luật sinhhọc mà chủ yếu là của quy luật xã hội, do nhu cầu giao tiếp xã hội và các điềukiện sinh hoạt hiện thực của con người quy định Ý thức mang bản chất xã hội
Để hình thành bản chất người và ý thức của con người, cá nhân phải tiếpthu được những sản phẩm và giá trị tinh thần được xã hội tạo ra Song vì các cánhân đều có những đặc điểm riêng của mình về xuất thân, sinh hoạt, giao tiếp,kinh nghiệm, học vấn, năng lực…, nên có thể tiếp thu quan điểm này, phản ứnglại quan niệm kia, đã ảnh hưởng trở lại đối với ý thức xã hội theo những chiềuhướng khác nhau Nếu ý thức xã hội bắt nguồn từ tồn tại xã hội, thì ý thức cánhân bắt nguồn từ tồn tại xã hội của mỗi cá nhân Ý thức của mỗi cá nhân, nhất
là của những cá nhân ưu tú, tiêu biểu nhất tuy mất đi cùng với từng cá nhân,nhưng lại gia nhập vào kho tàng văn hoá chung của nhân loại
Trang 16thức và kỹ năng lao động mà người lao động có được trong quá trình huấnluyện chuyên môn hoặc qua thực tiễn, cho phép người đó có thể thực hiệnđược một loại hoạt động nhất định trong hệ thống phân công lao động xã hội.Cùng với quá trình phát triển kinh tế và khoa học - kỹ thuật, việc phân ngành,phân nghề ngày càng mở rộng và chuyên sâu Người lao động, do vậy phảiđược đào tạo nghề nghiệp một cách cơ bản và chuyên sâu Tuy nhiên, khôngthể coi nhẹ việc nâng cao kỹ năng lao động thông qua môi trường hoạt độngthực tiễn trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, nhất là trong một số nghề nghiệp
mà kỹ năng, kỹ xảo dựa nhiều vào sự khéo léo, hay dựa vào kinh nghiệmtruyền thống
Nghề nghiệp là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ đượcđào tạo, người lao động có được những tri thức, tay nghề, những kỹ năng đểlàm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được nhữngnhu cầu của xã hội Nghề nghiệp trong xã hội không phải là một cái gì cố định,cứng nhắc Nghề nghiệp cũng giống như một cơ thể sống, có sinh thành, pháttriển và tiêu vong Chẳng hạn, do sự phát triển của kỹ thuật điện tử nên đã hìnhthành công nghệ điện tử, do sự phát triển vũ bão của kỹ thuật máy tính nên đãhình thành cả một nền công nghệ tin học đồ sộ bao gồm việc thiết kế, chế tạo
cả phần cứng, phần mềm và các thiết bị bổ trợ…, các ngành dịch vụ, du lịchtiếp nối ra đời
1.1.1.3 Ý thức nghề nghiệp
Ý thức nghề nghiệp là ý thức của cá nhân người lao động, là khả năngvận dụng những kiến thức thu nhận được qua quá trình đào tạo, trau dồi mộtcách tự giác, hiệu quả vào một công việc, một lĩnh vực nhất định Ý thức nghềnghiệp của mỗi cá nhân thể hiện ở sự hiểu biết về ngành nghề, những quy địnhđối với ngành nghề và thái độ đối với nghề Ý thức nghề nghiệp hay năng lựcnghề nghiệp là sự tương ứng giữa những thuộc tính tâm, sinh lý của con ngườivới những yêu cầu do nghề nghiệp đặt ra Ý thức nghề nghiệp được biểu hiệnqua các nội dung chủ yếu:
Trang 17Thứ nhất, sự hiểu biết về nghề mà người học đã lựa chọn; đây là yếu tố rất
quan trọng giúp người học tích lũy về những tri thức, những quy định về nghềnghiệp, xác định khả năng sở trường của mình là phù hợp với nghề đã chọntrong quá trình học tập, rèn luyện ở nhà trường, đặc biệt là các trường dạy nghề.Bất cứ ngành nghề nào dù đơn giản hay phức tạp cũng đều có những quy định,bắt buộc chúng ta trong quá trình học tập, làm việc phải tuân thủ những quyđịnh đó
Thứ hai, thái độ đối với nghề, đây là một trong những nội dung mà tất cả
những nhà tuyển dụng đều rất quan tâm trong quá trình tuyển việc làm; nhữngcông việc dù quan trọng hay chỉ là bình thường cũng luôn đòi hỏi những người
có thái độ làm việc tích cực Trong quá trình tuyển dụng, nhà tuyển dụng đánhgiá rất cao những ứng viên nào có tinh thần tích cực, luôn nhiệt tình trong côngviệc và thường thì họ xem đây là một trong những tiêu chí để tuyển chọn laođộng Cho nên, trong nhà trường, đặc biệt đối với các trường dạy nghề, cần phảixem trọng công tác giáo dục nhận thức, thái độ đối với nghề nghiệp cho học sinhđang học tập, nghiên cứu tại trường Cụ thể, là giáo dục những giá trị và nhữngyếu tố hấp dẫn của nghề được chọn, hình thành cho người học niềm tin, lòng tựhào, yêu mến về nghề nghiệp của mình đã chọn, từ đó giúp cho người học thamgia học tập, nghiên cứu một cách hứng thú, tích cực hơn và đạt kết quả cao hơn
Ý thức nghề nghiệp được hình thành và phát triển qua hoạt động học tập,rèn luyện, lao động và trong hoạt động nghề nghiệp Chúng ta có thể khẳng địnhrằng, học hỏi và lao động không mệt mỏi là con đường phát triển năng lực nghềnghiệp của mỗi cá nhân
1.1.2 Giáo dục ý thức nghề nghiệp
Giáo dục ý thức nghề nghiệp là hệ thống những biện pháp dựa trên cơ sởtâm lý học, giáo dục học, xã hội học tác động đến người học; là toàn bộ các quátrình học tập, rèn luyện của con người và những tích lũy về những tri thức, quyđịnh về nghề nghiệp, kỹ năng và thái độ đối với nghề Giáo dục ý thức nghềnghiệp được hiểu là toàn bộ quá trình hoạt động, được triển khai theo cá nhânhay tập thể, một cách ngẫu nhiên hay có tổ chức
Trang 18Giáo dục ý thức nghề nghiệp là một bộ phận không thể thiếu trong nhàtrường, đặc biệt là các trường đại học, cao đẳng, TCCN hiện nay Giáo dục ýthức nghề nghiệp là biện pháp thực hiện nguyên lý giáo dục: học đi đôi vớihành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội.Còn đối với các trường là biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu: “đào tạo nghề,
đào tạo người”
Nội dung của giáo dục ý thức nghề nghiệp rất đa dạng, phong phú đượcbiểu hiện trên nhiều phương diện khác nhau, cơ bản phải tập trung đào tạo nănglực thực hành nghề nghiệp, coi trọng giáo dục đạo đức, rèn luyện sức khoẻ, rènluyện kỹ năng theo yêu cầu đào tạo của từng nghề, nâng cao trình độ học vấntheo yêu cầu đào tạo Đối với các trường, nội dung chủ yếu của công tác giáodục ý thức nghề nghiệp cần tập trung vào giáo dục ý thức chấp hành pháp luật;giáo dục tác phong công nghiệp; giáo dục kỷ luật lao động, học tập; ý thức tráchnhiệm và tinh thần cầu tiến; rèn luyện các kỹ năng cho học sinh
Phương pháp giáo dục ý thức nghề nghiệp phải kết hợp rèn luyện kỹnăng thực hành với giảng dạy lý thuyết, các hoạt động ngoại khóa… để giúpngười học có khả năng hành nghề và phát triển nghề nghiệp theo yêu cầu củatừng công việc Giáo dục ý nghề nghiệp được thể hiện qua ý thức của người học,
là một trong những yếu tố quyết định đến chất lượng đào tạo nghề Nếu ngườihọc thiếu tinh thần trách nhiệm trong việc học, tay nghề sẽ không cao Vì thế đãxác định đi học nghề, người học cần phải nghiêm túc trong suốt quá trình học, tựxác định với nghề đó cần phải học những kiến thức gì từ đó tập trung thời giantìm tòi, học hỏi Kinh nghiệm của những công nhân có tay nghề giỏi cho thấythời gian thực hành rất quan trọng, tất cả yêu cầu của công việc đều thể hiện rõ ởphần này, cho nên càng nhiều thời gian thực hành người học càng nâng cao taynghề Mục tiêu của giáo dục ý thức nghề nghiệp là đào tạo, bồi dưỡng cho ngườihọc có kiến thức về những quy định của nghề nghiệp, kỹ năng và thái độ đối vớinghề nghiệp ở các trình độ khác nhau, có đạo đức và lương tâm nghề nghiệp, cósức khoẻ, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, ý thức rèn luyện các kỹ năng;bảo đảm sau khi tốt nghiệp ra trường, người học có khả năng hành nghề, trang bị
Trang 19những điều kiện tốt nhất cho người học có cơ hội và khả năng tìm việc làm,nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
Đối với học sinh, những kiến thức đã được học trong trường phổ thông,học sinh có thể khẳng định được cho mình con đường lập nghiệp, tuy nhiên vẫnchưa đủ hiểu biết và chưa có nhiều cơ hội để thử sức với nghề đã chọn Khi đó,chính tại các cơ sở dạy nghề, họ có cơ hội tìm hiểu sâu hơn về nghề, thử sức vớinghề và khẳng định tính đúng đắn của việc chọn nghề Giáo dục nghề nghiệpcho học sinh trong các cơ sở dạy nghề chủ yếu tập trung giúp các em tìm hiểusâu về nghề, giáo dục lòng yêu nghề, tạo điều kiện để các em nhanh chóng thíchứng với nghề, hào hứng trong quá trình học nghề và an tâm với nghề đã chọn
Giáo dục ý thức nghề nghiệp giúp cho người học hình thành quan điểm,thái độ đúng với lao động, quý trọng mọi công việc có ích cho xã hội, lao động
có tổ chức, kỷ luật, năng suất và hiệu quả; cung cấp cho học sinh học vấn kỹthuật tổng hợp, những tri thức cơ bản về kinh tế, kinh doanh; phát triển tư duy
kỹ thuật hiện đại; định hướng nghề nghiệp, giúp cho học sinh biết lựa chọn đúngđắn nghề thích hợp và tích cực chuẩn bị đi vào ngành nghề đó; rèn luyện cho họnhững kỹ năng, kỹ xảo trong lao động; tổ chức cho họ lao động vừa sức, gópphần sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội
1.2 Những nội dung cơ bản của giáo dục ý thức nghề nghiệp cho học sinh hệ trung cấp ở các trường đại học, cao đẳng
1.2.1 Giáo dục ý thức pháp luật
“ Ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội được hình thành mộtcách tự giác chủ yếu thông qua chương trình giáo dục pháp luật ở các cấp học,bậc học và giáo dục của xã hội” [10; 6] Ý thức pháp luật là tổng hợp nhữngquan điểm, tư tưởng, học thuyết thể hiện thái độ của con người, các nhóm xã hội,giai cấp đối với pháp luật, pháp chế cũng như những quan điểm của họ về sựhợp pháp và không hợp pháp Sự thể hiện tập trung của ý thức pháp luật là mộthình thái ý thức xã hội, là hệ tư tưởng pháp luật, tức là hệ thống các quan điểmpháp luật dựa trên những lập trường khoa học và xã hội nhất định Ý thức phápluật có các nội dung chủ yếu: sự hiểu biết về pháp luật; thái độ đối với pháp luật;
Trang 20khả năng thực hiện và áp dụng pháp luật Ý thức pháp luật gắn bó mật thiết vớivăn hoá pháp luật và văn hoá nói chung Nâng cao ý thức pháp luật của mọi thànhviên trong xã hội, biến việc tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật thành niềm tin nộitâm ở mỗi người, là bộ phận cấu thành của giáo dục đối với công dân ở Việt Namhiện nay Trong xã hội Việt Nam, ý thức pháp luật thống trị là ý thức pháp luậtcủa giai cấp công nhân và nhân dân lao động Cùng với sự phát triển của xã hộiViệt Nam, ý thức pháp luật của giai cấp công nhân và nhân dân lao động sẽ trởthành một hệ thống tư tưởng và quan điểm pháp luật chung thống nhất của toàn
xã hội
Ý thức pháp luật của mỗi cá nhân thể hiện ở sự hiểu biết về pháp luật, ởthái độ đối với pháp luật, ở cả khả năng thực hiện và khả năng động viên mọingười xung quanh thực hiện pháp luật Sự phát triển của ý thức pháp luật là biểuhiện của sự phát triển văn hóa Xã hội càng phát triển, đòi hỏi ý thức pháp luậtcủa mọi người càng cao Đây cũng chính là điều kiện cho sự phát triển của xã hội
Cốt lõi của ý thức pháp luật nước ta là tư tưởng về một chế độ xã hộimới của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Do đó, giáo dục ý thức pháp luậtkhông chỉ nhằm làm cho các thế hệ công dân tuân theo pháp luật, duy trì trật tự
xã hội mà còn có ý nghĩa sâu sắc đối với giáo dục ý thức dân tộc và văn hóa dântộc, giáo dục đạo đức mới và lối sống mới
Giáo dục ý thức pháp luật trở thành nội dung cơ bản của giáo dục chínhtrị Nhận thức sâu sắc về pháp luật không chỉ là nhận thức về quyền, nghĩa vụ,lợi ích và trách nhiệm mà còn thể hiện lòng tự hào của mỗi công dân về chế độ
xã hội mới Từ đó, công dân có ý thức thực hiện pháp luật như thực hiện mộtnghĩa vụ thiêng liêng đối với Tổ quốc, nhân dân; sẵn sàng đấu tranh khôngkhoan nhượng với những hành vi vi phạm pháp luật, trái với chế độ dân chủ củanhân dân, lợi ích của dân tộc
1.2.2 Giáo dục tác phong công nghiệp
Tác phong công nghiệp là việc người lao động chấp hành và tuân thủnghiêm ngặt các quy định, nguyên tắc làm việc trong môi trường sản xuất công
Trang 21nghiệp Tác phong công nghiệp có thể hiểu là cách ứng xử, cách làm việc, cáchgiao tiếp… của con người trong công việc Ví dụ: tác phong làm việc đúng giờ,tác phong làm việc cẩn thận, tính kỷ luật, tinh thần hợp tác trong công việc, tínhnăng động, sáng tạo Do vậy, đối với bất cứ ai đã, đang làm việc hoặc chuẩn bịtham gia cũng cần phải biết và rèn luyện về tác phong công nghiệp trong quátrình học tập Tác phong công nghiệp là một yêu cầu không thể thiếu của nềnsản xuất công nghiệp Người có tác phong công nghiệp thể hiện rõ qua nhữngđặc trưng cơ bản sau đây:
Tính khẩn trương, năng động: người có tác phong công nghiệp luôn khẩntrương nhanh nhẹn, đúng giờ, tuân theo nội quy, kỷ luật lao động, vì họ khôngthể tách mình ra khỏi hệ thống đã có sự phân công, hợp tác
Tính kế hoạch và hợp lý hóa: người có tác phong công nghiệp luôn suynghĩ theo những đòi hỏi khách quan của đời sống và biết chủ động tổ chức cuộcsống một cách hợp lý nhất Từ việc chi tiêu, lập gia đình, việc tiếp tục học lên,đến chương trình nghỉ ngơi, giải trí đều được suy tính, lập kế hoạch chứ khôngđại khái, tùy tiện theo cảm hứng nhất thời Và việc sắp đặt, lên kế hoạch đó cũngkhông cứng nhắc mà thường được cải tiến, tổ chức lại cho phù hợp với nhữngđiều kiện đã thay đổi
Tính trách nhiệm, kỷ luật và tôn trọng luật pháp: người có tác phong côngnghiệp luôn tuân thủ giờ giấc làm việc, tuân theo nội quy, kỷ luật lao động, vì họkhông thể tách mình ra khỏi hệ thống đã có sự phân công, hợp tác Phải tuân thủtheo tiến trình của dây chuyền sản xuất, phải tập trung chú ý cao độ vào côngviệc để đạt hiệu quả cao nhất
Tính thân thiện với mọi người dựa trên các quan hệ hợp tác và phâncông: tác phong công nghiệp tạo nên mối quan hệ giữa người với người cũnggiản dị, khẩn trương, thiết thực hơn, bỏ qua nhiều cái lệ phiền toái Quan hệtrong công việc phải nghiêm ngặt tuân theo những nguyên tắc, quy chế chínhthức; còn trong giao tiếp ngoài công việc thì thoải mái, cởi mở, chân thành đivào thực tế vấn đề, tránh làm cản trở, gây phiền phức cho người khác
Trang 22Đánh giá con người chủ yếu dựa trên kết quả công việc: người có tácphong công nghiệp biết nhìn nhận mọi người với con mắt phân công và hợp táctrong mọi vấn đề Và vì vậy, họ dễ thân thiện, đoàn kết, phối hợp với nhau trên
cơ sở khách quan hơn là kiểu tình cảm cá nhân, kéo bè kéo cánh, cục bộ, chia rẽ
Họ cũng đánh giá con người chủ yếu trên việc làm và kết quả hành động hơn làdựa trên những cảm xúc yêu ghét chủ quan hay thành kiến hẹp hòi Họ biết quýtrọng, học tập người nào có sáng kiến, cải tiến hợp lý hóa sản xuất làm cho laođộng và cuộc sống nhẹ nhàng thảnh thơi hơn mà năng suất cao, hiệu quả hơn
Giáo dục tác phong công nghiệp là giáo dục cho người học tính khẩntrương, năng động; tính kế hoạch và hợp lý hóa; tính trách nhiệm, kỷ luật và tôn trọng luật pháp ngay khi còn học ở ghế nhà trường, nhất là các trường đào tạo nghề Để thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục tác phong công nghiệp, chúng
ta có thể tập trung vào những việc sau đây: nhà trường (bao gồm cả phổ thông
và chuyên nghiệp, dạy nghề) duy trì nghiêm nội quy, kỷ luật, chú trọng xâydựng và giáo dục nề nếp, tác phong cho học sinh; xây dựng và đưa nội dunggiáo dục tác phong công nghiệp trước khi giới thiệu việc làm cho các em; bảnthân học sinh phải nâng cao ý thức rèn luyện tác phong công nghiệp cho chínhmình trong lúc còn học tập, rèn luyện
Như vậy, trong sự nghiệp CNH, HĐH hiện nay ở nước ta, tác phongcông nghiệp rất quan trọng đối với mọi người lao động, đặc biệt là học sinhđang trong quá trình học tập, rèn luyện ở nhà trường Ngoài rèn luyện giỏi vềchuyên môn và tay nghề, tác phong công nghiệp là hành trang vô cùng quantrọng trên bước đường tìm việc làm sau khi tốt nghiệp ra trường Để có được tácphong công nghiệp phải mất cả quá trình khổ công học tập, rèn luyện, tích lũylâu dài trong suốt quá trình học tập trong nhà trường và làm việc sau này
1.2.3 Giáo dục ý thức kỷ luật lao động
Theo quy định tại Điều 82 Bộ luật Lao động, “Kỷ luật lao động là nhữngquy định về việc tuân theo thời gian, công nghệ và điều hành sản xuất, kinhdoanh thể hiện trong nội quy lao động” [21; 18]
Khi tham gia vào quan hệ lao động, người lao động phải có nghĩa vụ
Trang 23chấp hành Cụ thể là:
- Chấp hành thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi;
- Chấp hành mệnh lệnh điều hành sản xuất, kinh doanh hợp pháp củangười sử dụng lao động;
- Chấp hành quy trình công nghệ, các quy định về nội quy an toàn laođộng và vệ sinh lao động;
- Bảo vệ tài sản và giữ bí mật công nghệ, kinh doanh thuộc phạm vi tráchnhiệm được giao;
- Chấp hành những quy định khác trong nội quy lao động mà người sửdụng lao động đề ra không trái pháp luật
Những nghĩa vụ này của người lao động được thể hiện trong nội quy laođộng do người sử dụng lao động ban hành sau khi tham khảo ý kiến của Banchấp hành Công đoàn cơ sở Người lao động có nghĩa vụ thực hiện nghiêm túc
và phải chịu trách nhiệm về những hành vi vi phạm của mình trước người sửdụng lao động
Giáo dục kỷ luật lao động là giáo dục những quy tắc làm việc mà trongquan hệ lao động, mỗi người lao động đều phải chấp hành, nhằm đảm bảo trật tựlao động sản xuất Kỷ luật lao động bao gồm những quy định về: chấp hành thờigiờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, chấp hành mệnh lệnh điều hành sản xuất kinhdoanh của người sử dụng lao động, chấp hành quy trình công nghệ, các quy ðịnh
về an toàn lao ðộng, vệ sinh lao ðộng, bảo vệ tài sản và bí mật công nghệ kinhdoanh thuộc phạm vi trách nhiệm ðýợc giao, ðảm bảo công việc kinh doanh củadoanh nghiệp Giáo dục kỷ luật lao động cho học sinh là giáo dục ý thức chấphành nội quy, những nguyên tắc phân công trong lớp học trong các giờ thựchành tại xưởng có thiết bị thực hành, cung cấp những kiến thức chung về an toànlao động, vệ sinh lao động, bảo vệ tài sản nhà trường
1.2.4 Giáo dục ý thức trách nhiệm và tinh thần cầu tiến
Giáo dục ý thức nghề nghiệp sẽ góp phần giáo dục ý thức trách nhiệm vàtinh thần cầu tiến đối với học sinh Đây là nội dung rất quan trọng, tạo chongười học khả năng thích ứng với môi trường làm việc và bất kỳ sự thay đổi nào
Trang 24trong quá trình làm việc Sự thích nghi nhanh với môi trường học tập, làm việccũng là một trong những thể hiện của tính chuyên nghiệp Nên chủ động vàchuẩn bị mọi điều kiện cần thiết cho người lao động khỏi phải lúng túng khi gặpnhững biến đổi bất ngờ từ môi trường làm việc năng động và hiện đại như ngàynay
Giáo dục ý thức trách nhiệm và tinh thần cầu tiến cho học sinh thể hiện qua giáo dục ý thức chấp hành nội quy nhà trường, ý thức về những việc làmcủa mình và sẵn sàng chịu trách nhiệm trước tập thể; luôn nêu cao tinh thần họchỏi, nghiên cứu độc lập, sáng tạo, mạnh dạn tham gia các hoạt động, tham giahợp tác và phân công công việc, luôn hoàn thành công việc được giao
Thiếu ý thức trách nhiệm, bảo thủ và không có tinh thần cầu tiến lànhững đức tính mà không một nhà quản lý hoặc doanh nghiệp nào muốn có ởngười lao động của mình Sự thiếu trách nhiệm sẽ dẫn đến cách làm việc qualoa, cẩu thả có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng Cho nên ngay từ khi còn ngồi
ở ghế nhà trường, phải hết sức quan tâm đến việc giáo dục, xây dựng cho họcsinh ý thức học tập và làm việc có trách nhiệm, các em phải xem công việc củatập thể như là công việc của chính mình và cố gắng hết sức để hoàn thành nhiệm
vụ một cách có hiệu quả cao nhất
1.2.5 Rèn luyện các kỹ năng
Hiện nay, kinh tế nước ta đang phát triển ổn định, đang trong giai đoạnđẩy mạnh quá trình CNH, HĐH Yêu cầu của tất cả các doanh nghiệp trongnước và nhiều nhà đầu tư nước ngoài hiện nay rất cần một nguồn lực qua đàotạo, phần lớn các doanh nghiệp đều có nhu cầu tuyển dụng lao động qua đào tạo
từ các trường chuyên nghiệp hay đào tạo từ các trường dạy nghề ngày càngnhiều
Nhưng thực tế, rất nhiều học sinh của các trường đào tạo nghề khi ratrường làm việc không đúng nghề, không đáp ứng được tiêu chuẩn của nghề,thiếu tiếp cận thực tiễn, thiếu các kỹ năng Vì vậy, đối với người học chỉ đápứng kiến thức chuyên môn là chưa đủ, mà người học phải tự đào sâu nghiên cứu,phải tự đào tạo, rèn luyện thêm những kỹ năng như ứng xử, giao tiếp, nhân văn,
Trang 25ngoại ngữ, tin học… tham gia các hoạt động phong trào; đây chính là những tiêuchuẩn mà người học cần trang bị để đáp ứng trước đòi hỏi của thực tế Bởi vìcác doanh nghiệp có thể tiếp tục đào tạo chuyên môn, huấn luyện thêm kinhnghiệm cho nhân viên, nhưng những kỹ năng tự đào tạo lại thuộc về năng lực riêng của mỗi người và đó cũng chính là tiêu chuẩn đánh giá của doanh nghiệpkhi tìm kiếm, tuyển chọn lao động Những kỹ năng tự đào tạo, rèn luyện cần chocông việc, giúp học sinh có khả năng hoàn thành nhiệm vụ một cách chủ động,sáng tạo, đáp ứng hầu hết các tiêu chuẩn nghề nghiệp hiện nay, đó là:
1.2.5.1 Kỹ năng tư duy
Kỹ năng tư duy là khả năng nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, nhận biếtvấn đề Hiểu nguyên nhân, hiểu được tính lôgic, tính hệ thống khi xem xét,nghiên cứu vấn đề cần được xử lý Giải quyết nhiệm vụ một cách linh hoạt, sángtạo, thích hợp với từng hoàn cảnh, điều kiện trong thực tiễn Giúp chúng ta tìm
ra các phương án, biện pháp thích hợp để kích hoạt khả năng sáng tạo và để tăngcường khả năng tư duy của một cá nhân hay một tập thể cộng đồng làm việcchung về một vấn đề hay lĩnh vực Trong bối cảnh nền kinh tế tri thức đang tácđộng mạnh mẽ đến sự phát triển của lực lượng sản xuất thì việc rèn luyện khảnăng tư duy cho học sinh là điều hết sức cần thiết Bởi lúc này, tri thức đã trởthành quyền lực, thành chìa khóa để mở cánh cửa vào tương lai
Đối với giáo dục và đào tạo nói chung, giáo dục và đào tạo tại cáctrường đại học, cao đẳng nói riêng, đổi mới phương pháp dạy học nhằm tăngcường khả năng tư duy của học sinh vừa là một thách thức lớn, nhưng cũngmang đến nhiều cơ hội… nâng cao chất lượng đào tạo Quan tâm, chú trọng đếnphương pháp rèn luyện tư duy trong giáo dục hiện nay mang một ý nghĩa vôcùng quan trọng Nếu được giáo dục, rèn luyện và phát triển đúng hướng sẽ xóa
bỏ được tình trạng dạy học thụ động, phát huy được tính sáng tạo của người học,giúp người học biết đánh giá thông tin, có quan điểm phản biện, làm rõ vấn đề.Giáo viên không phải là người trình bày tất cả mà phải biết kích thích sự “độngnão” từ phía người học, phải tập cho học sinh có khả năng phản bác vấn đề sai
và khẳng định vấn đề đúng
Trang 261.2.5.2 Kỹ năng hành động
Kỹ năng hành động là khả năng của con người vận dụng kiến thức vào trong công việc một cách có hiệu quả với tư cách là một thành viên trong tậpthể bất cứ công việc gì, ở đâu Người có kỹ năng hành động phát triển cao làngười có đủ nhạy cảm đối với những nhu cầu và động cơ của công việc, có thểđánh giá những phản ứng có thể và những hậu quả của những cách hành độngkhác nhau Cho nên, có khả năng tổ chức thực hiện công việc hiệu quả, hoànthành nhiệm vụ trong điều kiện thực tiễn phức tạp, thực hiện công việc một cáchchủ động, tự tin, linh hoạt và thành thạo, có khả năng tự chủ, chịu trách nhiệmtrong công việc, bảo đảm không để xảy ra sai sót, có tinh thần đồng đội, làmviệc theo nhóm
Trong quá trình học tập, nên tạo nhiều cơ hội cho học sinh tham gianhiều chương trình, hoạt động thực tiễn bổ ích để từ đó hình thành cho họ ýthức, thái độ tích cực, rèn luyện bản lĩnh trước đám đông, vận dụng nhiều ở cáctiết học thực hành Phải tạo điều cho học sinh có những cơ hội được rèn luyện,được va chạm với đời sống thực, giúp cho học sinh có ý thức, sống trách nhiệmhơn, làm việc có hiệu quả hơn, dạy cho học cách sống tự thân vận động, tự tinbước về phía trước
1.2.5.3 Kỹ năng giao tiếp, thuyết phục
Kỹ năng giao tiếp, thuyết phục là năng lực, khả năng chuyên biệt của conngười trong cư xử, giải quyết các tình huống trong cuộc sống, công việc Kỹnăng giao tiếp tốt là một thế mạnh đối với bất cứ ai trong công việc
Giao tiếp là phương tiện cho phép chúng ta xây dựng cầu nối với đồngnghiệp, bạn bè, thuyết phục người khác chấp nhận ý kiến của mình và bày tỏđược nhu cầu của mình để giải quyết công việc một cách nhanh chóng, hiệu quả.Nhiều điều nhỏ nhặt chúng ta đã từng thực hiện hàng ngày, có thể có những điều
mà mình không từng nghĩ đến nhưng lại có một sự ảnh hưởng rất lớn tới kỹnăng giao tiếp trong cuộc sống và trong giải quyết công việc Cho nên cần phải
để ý nhiều tới cách sử dụng từ ngữ của mình để tạo ấn tượng với người đốithoại Cũng đừng quên rằng một trong những kỹ năng giao tiếp là biết lắng nghe
Trang 27và thể hiện thái độ bình tĩnh và tạo sự tự tin cho người khác Kinh nghiệm thực
tế cho thấy, trong hầu hết các trường hợp khi giao tiếp, muốn gây ấn tượng vớimọi người, thì sự tự tin là một thái độ mang lại hiệu quả cao nhất
Hiện nay, đa phần học sinh đang trong quá trình học tập đều nhận thấyrằng, việc các bạn có điều kiện giao tiếp và tiếp xúc với môi trường thực tế cònquá ít Do nhà trường cũng như bản thân các học sinh quá chú trọng vào học tập,nghiên cứu chuyên môn của mình, làm cho tính năng động trong môi trườnggiao tiếp còn yếu, rất nhiều học sinh không biết cách bắt đầu một câu chuyện dù
đó là câu chuyện đơn giản nhất Không biết ứng xử và thể hiện thế mạnh củamình khi đứng trước nhà tuyển dụng Sự cần thiết phải tăng cường việc rènluyện khả năng giao tiếp, thuyết phục cho học sinh có ý nghĩa rất quan trọng,nếu giao tiếp hiệu quả, thuyết phục, sẽ mang lại cảm hứng cho mọi người cùng
hỗ trợ, khuyến khích, giúp đỡ, xây dựng niềm tin, cùng hoàn thành công việc
1.2.5.4 Kỹ năng tiếp thu, sáng tạo và phát triển
Kỹ năng tiếp thu, sáng tạo và phát triển là một trong những kỹ năngmang tính thử thách nhất và cũng chính là kỹ năng gây ấn tượng nhất đối vớingười lao động khi tiếp xúc với mọi người, nhất là nhà tuyển dụng Khả năngứng xử trước lời phê bình phản ánh của người khác và quan trọng là ở thái độsẵn sàng cải thiện của mình Đồng thời có khả năng đánh giá, nhận xét mangtính xây dựng đối với công việc của những người khác cũng mang lại ý nghĩa rấtquan trọng
Chúng ta biết rằng, ngày nay tất cả các nghề đều được kiến trúc trên nềntảng sáng tạo, kỹ thuật Ngay cả những nghề truyền thống quen thuộc thì phầnlớn cũng đã được thế giới công nhận là các nghề thuộc về sự sáng tạo, đưa nólên tầm nghệ thuật Còn những nghề mới như xử lý hình ảnh, kỹ thuật tự động,thông tin, viễn thông, quảng cáo… thì đương nhiên đòi hỏi cao về kỹ năng nghềnghiệp Đòi hỏi người lao động phải rèn luyện khả năng tiếp thu kiến thức, xử lýthông tin; trong quá trình thực hiện công việc, luôn luôn tìm tòi những ý tưởngmới, sáng tạo trong cách thức thực hiện công việc và giao tiếp với mọi người,
Trang 28phải có khát vọng phát triển Như thế mới đáp ứng yêu cầu của công việc ngàycàng phức tạp của thời đại ngày nay.
1.3 Vai trò của giáo dục ý thức nghề nghiệp cho học sinh hệ trung cấp ở các trường đại học, cao đẳng trong giai đoạn hiện nay
Giáo dục ý thức nghề nghiệp cho học sinh có vai trò to lớn, nhất là đốivới các trường đại học, cao đẳng nói chung và ở Trường Đại học Công nghiệpThực phẩm thành phố Hồ Chí Minh hiện nay Qua công tác này sẽ góp phần đàotạo người học có kiến thức chuyên môn, rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp ở cáctrình độ khác nhau, có đạo đức, có sức khoẻ, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷluật, tác phong công nghiệp Tạo điều kiện cho học sinh có khả năng phát triểntay nghề và cơ hội tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học tập nâng caotrình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội Vai tròcủa giáo dục ý thức nghề nghiệp cho học sinh được thể hiện:
Thứ nhất, nâng cao ý thức cho học sinh về chấp hành pháp luật của Nhà
nước, nội quy nhà trường
“Công tác học sinh là một trong những công tác trọng tâm của cáctrường TCCN, nhằm bảo đảm thực hiện mục tiêu đào tạo con người Việt Namphát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp;hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đápứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [1; 2]
Công tác giáo dục ý thức nghề nghiệp cho học sinh là một trong nhữngnhiệm vụ quan trọng của công tác học sinh trong các trường đại học, cao đẳng
và TCCN hiện nay Công tác này góp phần nâng cao ý thức của người học về:
- Chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhànước, cũng như thực hiện nghiêm nội quy, quy chế nhà trường;
- Tôn trọng nhà giáo, cán bộ và nhân viên; đoàn kết, giúp đỡ nhau trongquá trình học tập và rèn luyện, thực hiện tốt nếp sống văn minh;
- Thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện theo chương trình, kế hoạch đàotạo của trường, chủ động tích cực tự học, nghiên cứu, sáng tạo và tự rèn luyệnđạo đức, lối sống;
Trang 29- Giữ gìn và bảo vệ tài sản của nhà trường, của cơ sở sản xuất nơi thựchành, thực tập, góp phần xây dựng, bảo vệ và phát huy truyền thống tốt đẹp củanhà trường;
- Tham gia lao động và hoạt động xã hội, hoạt động bảo vệ môi trườngphù hợp với năng lực và sức khoẻ theo yêu cầu của nhà trường; tuân thủ các quyđịnh về an toàn và vệ sinh lao động;
- Thực hiện đầy đủ quy định về việc khám sức khoẻ khi mới nhập học vàkhám sức khoẻ định kỳ trong thời gian học tập theo quy định
- Chấp hành nghĩa vụ làm việc có thời hạn theo sự điều động của Nhànước khi được hưởng học bổng, chi phí đào tạo do Nhà nước cấp hoặc do nướcngoài tài trợ theo hiệp định ký kết với Nhà nước Nếu không chấp hành phải bồihoàn học bổng, chi phí đào tạo theo quy định;
- Tham gia phòng, chống tiêu cực, gian lận trong học tập, thi cử và cáchoạt động phong trào của học sinh; kịp thời báo cáo với khoa, phòng, bộ phậnchức năng, hoặc cơ quan, đơn vị có thẩm quyền khi phát hiện những hành vi tiêucực, gian lận trong học tập, thi cử, nội quy, quy chế theo quy định; hoặc nhữnghành vi vi phạm pháp luật…
- Tham gia phòng chống tội phạm, tệ nạn ma tuý, mại dâm và các tệ nạn
xã hội khác, tuân thủ những quy định pháp luật của Nhà nước trong suốt thờigian học tập, rèn luyện
Thứ hai, hình thành tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động.
Nước ta đang trong quá trình hội nhập và phát triển, vấn đề giáo dục tácphong công nghiệp, kỷ luật lao động cho học sinh càng đặt ra cho chúng tanhiều thách thức mới Trong nhiều năm qua, phần lớn học sinh của chúng ta vẫn
bị các nhà doanh nghiệp, đặc biệt doanh nghiệp nước ngoài đánh giá không cao
về tác phong công nghiệp và cho đó là điểm yếu Muốn rèn luyện tác phongcông nghiệp, chúng ta cần rèn luyện cho người học ngay từ khi còn ngồi trênghế nhà trường Việc chấp hành nội quy đi học đúng giờ, muốn phát biểu phảigiơ tay, không nói chuyện riêng trong lớp, giờ nào việc nấy như thế đã bướcđầu rèn cho học sinh chấp hành ý thức tổ chức kỷ luật và tác phong công nghiệp
Trang 30Điều cần quan tâm hiện nay là các trường chuyên nghiệp và dạy nghề đều cóquy định việc rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp, nhưngtriển khai thực hiện chưa đồng bộ, chưa đạt kết quả cao
Nước ta có lợi thế về nguồn nhân lực dồi dào, thông minh, cần cù, khéoléo, tiền công rẻ Tuy nhiên, trình độ chuyên môn và tay nghề còn thấp, tính tổchức, kỷ luật chưa cao so với lao động các nước, cũng như không đáp ứng yêucầu của nền công nghiệp hiện đại Nếu chúng ta xây dựng được tác phong côngnghiệp, kỷ luật lao động cho người học và người lao động, thì đây là một lợi thế
để thu hút đầu tư rất lớn từ trong nước và đầu tư nước ngoài, góp phần cải thiệnđời sống, thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, sớm đưa nước ta trở thành mộtnước công nghiệp phát triển theo hướng hiện đại
Thứ ba, rèn luyện các kỹ năng cho học sinh
Rèn luyện các kỹ năng cho học sinh là một trong những nội dung rấtquan trọng trong công tác đào tạo tại các trường chuyên nghiệp, nhất là đối vớicác trường đại học, cao đẳng, TCCN hiện nay Bất kỳ ngành nghề nào hiện naycũng cần lao động có trình độ đáp ứng được một số tiêu chuẩn của nghề đó.Đồng thời, vấn đề việc làm có bảo đảm hay không, có ổn định hay không, nókhông chỉ phụ thuộc vào tính chất của ngành nghề mà còn phụ thuộc vào nănglực của bản thân người học Ngoài kiến thức ngành nghề, chuyên môn, tay nghềthì các yếu tố khác như kỹ năng giao tiếp, sự nhạy bén, linh hoạt trong việc ứngphó với các tình huống phát sinh, kỹ năng tham gia hoạt động xã hội, có năngkhiếu…là rất quan trọng Chúng ta có quá nhiều thời gian bị lãng phí để họcnhững kiến thức không sử dụng được, vì các cơ sở giáo dục không thể theo kịpcông nghệ hiện đại Tuy nhiên, cùng với kiến thức chuyên môn, chính khả năng
tự đào tạo, tự học, biết thích nghi và sáng tạo sẽ giúp học sinh nâng cao năng lực
để có thể đáp ứng được các tiêu chuẩn nghề nghiệp hiện đại Cho nên, thay vìtìm hiểu ngành nghề nào đang cần lao động có trình độ nhiều nhất, thì ngýời họchãy xác định khả năng, sở trường của mình để chọn ngành nghề cho phù hợp vớimình thì tốt hơn Bởi nghề nào cũng có người thành công hay thất bại và nhu
Trang 31cầu nhân lực ngành nghề nào cũng có thể thay đổi do những thay đổi và biếnđộng của kinh tế thị trường hiện nay
Trong xã hội ngày nay, một số nghiên cứu cho thấy tất cả các ngànhnghề, ngoài kiến thức chuyên môn, việc chuẩn bị các kỹ năng là rất quan trọngcho người học và người lao động Một số nghề đòi hỏi khả năng ứng phó trướccác tình huống hiệu quả, hợp lý thì lại quyết định sự thành công nhiều hơn làkiến thức chuyên môn nghề nghiệp Bởi vì, do sự biến động và thay đổi liên tục,khó lường của tình hình phát triển kinh tế hiện nay Thực tế hiện nay, rất nhiềungười lao động kể cả đã qua đào tạo tại các trường đại học, cao đẳng chuyênnghiệp, dạy nghề, vấn đề hạn chế là thiếu kỹ năng sống, thiếu tính tự tin, họ luôn
tỏ ra rụt rè khi có cơ hội thể hiện mình trước tập thể, trước các phương tiệnthông tin, hoặc không biết cách xử lý tình huống, đó chưa nói gì đến việc tự giảiquyết vấn đề…đang là những cản trở lớn cho họ trong bước đường tìm việc làm.Cần thiết phải tạo ra một môi trường thuận lợi để thu hút, hướng dẫn học sinhtham gia, hoặc tạo điều kiện cho họ có thể tự rèn luyện mình, rèn luyện những
kỹ năng sống cơ bản để hỗ trợ tốt cho bản thân trong học tập, trong cuộc sống.Qua đó, góp phần giáo dục cho học sinh trở thành những công dân phát triểntoàn diện, năng động, sáng tạo hòa nhập cùng cộng đồng, và có ích cho xã hội
Kết luận chương 1
Giáo dục ý thức nghề nghiệp cho học sinh ở các trường đại học, caođẳng, TCCN là một trong những nội dung quan trọng, nhằm phát triển nguồnnhân lực toàn diện đáp ứng quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập kinh tếquốc tế của nước ta trong giai đoạn hiện nay
Giáo dục ý thức nghề nghiệp cho học sinh trong các trường đại học, caođẳng, TCCN là giáo dục ý thức pháp luật; tác phong công nghiệp; kỷ luật laođộng; ý thức trách nhiệm và tinh thần cầu tiến; rèn luyện các kỹ năng nghềnghiệp, hình thành thái độ, lòng yêu nghề, tạo điều kiện cho học sinh nhanhchóng thích ứng với nghề, tạo sự hứng thú, tích cực trong quá trình học tập vàrèn luyện tay nghề Đó là cơ sở để học sinh khẳng định tính đúng đắn của nghề
Trang 32mà mình đã lựa chọn, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đấtnước hiện nay.
Chương 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC Ý THỨC NGHỀ NGHIỆP CHO HỌC SINH HỆ TRUNG CẤP TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP
THỰC PHẨM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Một số nét khái quát về Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh
Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh đượcthành lập trên cơ sở nâng cấp Trường Cao đẳng Công nghiệp Thực phẩm thànhphố Hồ Chí Minh, trực thuộc Bộ Công thương, là cơ sở giáo dục đại học cônglập, có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng Trường hoạt động theođiều lệ trường đại học ban hành kèm theo Quyết định số 153/2003/QĐ-TTgngày30/7/2003 của Thủ tướng Chính phủ
Quá trình xây dựng và phát triển của trường đã trải qua những giai đoạnnhư sau:
Năm 1982, Trường được thành lập theo quyết định số 986/CNTP, ngày09/09/1982 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp với tên gọi: Trường Cán bộ Kinh tế
Kỹ thuật Công nghiệp Thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh
Năm 1987, Trường được đổi tên thành Trường Trung học Công nghiệpThực phẩm thành phố Hồ Chí Minh theo quyết định số 25 CNTP/TCCB ngày03/05/1987 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp
Trang 33Năm 2001, Trường được nâng cấp lên Trường Cao đẳng Công nghiệpThực phẩm thành phố Hồ Chí Minh theo quyết định số 18/QĐ-BGD&ĐT -TCCB ngày 02/01/2001 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo.
Năm 2010, Trường chính thức trở thành Trường Đại học Công nghiệpThực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh theo Quyết định số 284/QĐ-TTg, thành lậpTrường Đại học Công nghiệp Thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh của Thủtướng Chính phủ
Hiện nay, Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh có nhiệm vụ đào tạo cán bộ kỹ thuật, công nhân kỹ thuật các ngành côngnghệ (trong đó chú trọng công nghệ chế biến nông sản thực phẩm) cho khu vựcphía Nam Hàng năm, Trường có khả năng đào tạo trên 5.000 học sinh - sinhviên với hơn 20 chuyên ngành đào tạo theo hướng công nghệ, kế toán, quản trịkinh doanh, thương mại và du lịch bao gồm: Công nghệ thông tin, Kỹ thuậtđiện, Kỹ thuật điện tử, Kỹ thuật nhiệt - điện lạnh, Cơ điện tử, Cơ khí chế tạomáy, Công nghệ hóa học, Hóa phân tích, Công nghệ thực phẩm, Kỹ thuật nấu
ăn, Công nghệ chế biến thủy sản, Công nghệ sinh học, Kỹ thuật môi trường,Công nghệ may, Thiết kế thời trang, Công nghệ giày, Hướng dẫn du lịch, Kếtoán, Quản trị kinh doanh, Công nghệ hóa nhựa Trong đó đào tạo các bậc baogồm các ngành:
Bậc đào tạo đại học chính quy: 12 ngành: Công nghệ Thực phẩm, Đảmbảo chất lượng và an toàn Thực phẩm, Công nghệ sinh học, Công nghệ kỹ thuậtHóa học, Công nghệ chế biến Thủy sản, Tài chính ngân hàng, Công nghệ kỹthuật môi trường, Công nghệ kỹ thuật điện - điện tử
Bậc đào tạo cao đẳng chính quy: 15 ngành: Công nghệ thông tin, Côngnghệ kỹ thuật điện - điện tử, Công nghệ kỹ thuật cơ khí, Công nghệ kỹ thuật hóahọc, Công nghệ thực phẩm, Công nghệ chế biến thủy sản, Kế toán, Công nghệsinh học, Công nghệ kỹ thuật môi trường, Công nghệ May, Công nghệ Giày,Quản trị kinh doanh, Việt Nam học (chuyên ngành du lịch), Công nghệ kỹ thuậtnhiệt, Công nghệ vật liệu
Trang 34Bậc đào tạo trung cấp chuyên nghiệp: 9 ngành: Kế toán doanh nghiệp,Quản trị kinh doanh, Cơ khí, Điện – Điện tử, Công nghệ thực phẩm, Du lịch,Sinh học và Môi trường, Tin học, Công nghệ May và Da giày.
Bậc đào tạo cao đẳng nghề: 11ngành: Lập trình máy tính, Kỹ thuật chếbiến món ăn, Kiểm nghiệm chất lượng lương thực, thực phẩm, Điện côngnghiệp, Điện tử công nghiệp, Quản trị doanh nghiệp vừa và nhỏ, Tài chính – Tíndụng, Chế tạo thiết bị cơ khí, Kế toán doanh nghiệp, Thiết kế thời trang, Quảntrị nhà hàng
Hệ đào tạo liên thông: từ trung cấp lên cao đẳng các ngành: Công nghệthông tin, Công nghệ kỹ thuật điện – điện tử, Công nghệ kỹ thuật cơ khí, Côngnghệ kỹ thuật hóa học, Công nghệ thực phẩm, Công nghệ chế biến thủy sản, Kếtoán, Công nghệ sinh học, Công nghệ kỹ thuật môi trường, Quản trị kinh doanh,Việt Nam học (hướng dẫn du lịch) Từ cao đẳng lên đại học các ngành: Côngnghệ chế tạo máy, Công nghệ sinh học, Công nghệ thực phẩm, Quản trị kinhdoanh Ngoài ra, Trường còn bồi dưỡng, đào tạo văn hóa cho hệ TCCN (4 năm),
…
Học sinh sau khi tốt nghiệp từ trường Đại học Công nghiệp Thực phẩmthành phố Hồ Chí Minh có khả năng làm việc trong các nhà máy, công ty, xínghiệp, trường học, bệnh viện, trung tâm,
Ngoài ra, nhà trường còn liên kết với Đại học Bách khoa Hà Nội đào tạobậc đại học chuyên ngành Công nghệ thực phẩm và tổ chức các lớp đào tạo thạc
sỹ đối với các ngành: Công nghệ thực phẩm, điện tử - viễn thông, quản trị kinhdoanh, công nghệ thông tin Liên kết với Trường Đại học Khoa học Huế đào tạothạc sỹ các ngành: Toán – tin, Toán tin ứng dụng, Điện tử Viễn thông Với quy
mô đào tạo ngày càng phong phú, đa dạng, nhà trường đã ngày càng đầu tư xâydựng, mở rộng cơ sở vật chất, đào tạo và nâng cao chất lượng đội ngũ giảngviên
Cho đến nay nhà trường đã có 3 cơ sở giảng dạy với các phòng học lýthuyết, thực hành được trang bị các phương tiện và thiết bị hiện đại để áp dụngcác phương pháp giảng dạy tiên tiến vào hoạt động dạy học trong nhà trường
Trang 35Cơ sở chính: Với diện tích 11000 m2, tại 140 Lê Trọng Tấn, phường TâyThạnh, quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh Cơ sở này có 73 phòng học, 2giảng đường (sức chứa 500 chỗ), 27 phòng làm việc, 1 phòng khách, 1 thư viện,
Ngoài ra, trường còn có một cơ sở đào tạo tại tỉnh Trà Vinh, với diện tích
35 ha, phục vụ công tác đào tạo nguồn nhân lực cho khu vực Đồng bằng sôngCửu Long Nhận thức được tầm quan trọng của công tác đào tạo nguồn nhân lựcchất lượng cao cho khu vực phía Nam và cả nước, nhà trường đã đẩy mạnh đầu
tư trong năm học 2011 - 2012, với cơ cấu gồm:
- Ban Giám hiệu
- 12 khoa: Công nghệ Thực phẩm, Công nghệ Sinh học và Kỹ thuật Môitrường, Công nghệ Hóa học, Công nghệ Thông tin, Điện – Điện tử, May – Thiết
kế thời trang và Da giầy, Cơ khí, Tài chính Kế toán, Đào tạo Trung học, Quảntrị Kinh doanh và Du lịch, Khoa học cơ bản, Lý luận Chính trị
- 12 phòng chức năng: Tổ chức - Hành chính, Đào tạo, Công tác chính trị
- học sinh, sinh viên, Kế hoạch tài chính, Thiết bị vật tư, Văn phòng Hiệutrưởng, Khảo thí và Đảm bảo chất lượng, Đầu tư xây dựng và sữa chữa, Thanhtra đào tạo, Tuyển sinh và phát triển nguồn nhân lực, Khoa học công nghệ, Đốingoại và hợp tác quốc tế
- 05 Trung tâm: Ngoại ngữ, Công nghệ thông tin, Thí nghiệm Thựchành, Thư viện, Giáo dục Thể chất – Quốc phòng
Nhà trường cũng đã phát triển một đội ngũ giảng viên trẻ có năng lực kếthợp với những giảng viên có kinh nghiệm Cụ thể là 60% đội ngũ giảng viên cơhữu có trình độ sau đại học (đặc biệt trong đó 70% giảng viên dạy các môn
Trang 36chuyên ngành có trình độ sau đại học) Ngoài đội ngũ giảng viên cơ hữu hơn
300 người, Trường còn mời thỉnh giảng gần 200 giảng viên có kinh nghiệm vàtrình độ cao, đến từ các trường đại học trong nước, ngoài nước, viện nghiên cứu
và công ty, nhà máy,…
Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh phấnđấu trở thành cơ sở đào tạo tiên tiến, hội nhập quốc tế, đáp ứng yêu cầu côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trở thành trung tâm nghiên cứu khoa học, kỹthuật công nghệ phục vụ các yêu cầu phát triển của Việt Nam và khu vực
Xây dựng môi trường văn hoá, thân thiện, nhân văn trong nền kinh tế tríthức Áp dụng công nghệ tiến tiến trong dạy - học, tạo cơ hội để người học tựhọc suốt đời Cung ứng các dịch vụ giáo dục đáp ứng ngày càng cao yêu cầuchất lượng nguồn nhân lực của xã hội Về chính sách chất lượng:
Đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao về chuyên môn, tin học, ngoại ngữ,các kỹ năng tác nghiệp, tư duy, giao tiếp, làm việc theo nhóm trong nền kinh tếtrí thức vì lợi ích của cộng đồng và xã hội
Tiếp cận các dịch vụ giáo dục khu vực và thế giới, đào tạo theo hệ thốngtín chỉ, cải tiến liên tục chương trình, phương pháp dạy - học và cách quản lýcủa Trường
Áp dụng công nghệ thông tin vào dạy - học, vào quản lý hướng tới yêucầu (nhu cầu và mong đợi) của người học, người sử dụng lao động và xã hội Thường xuyên cải thiện đời sống của giáo viên và cán bộ viên chức trongTrường Phát huy mọi tiềm năng và sự công hiến của tất cả các thành viên, xâydựng Trường thành một tập thể trong sạch, minh bạch, vững mạnh, gia tăng vịthế cạnh tranh của Trường trong khu vực và trên thế giới
2.2 Thực trạng ý thức nghề nghiệp của học sinh hệ trung cấp Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh
2.2.1 Tình hình học sinh Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh
2.2.1.1 Trình độ và chất lượng đầu vào của học sinh
Trang 37Hàng năm, Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm thành phố Hồ ChíMinh được giao chỉ tiêu tuyển sinh theo các bậc học: đại học chính quy, caođẳng chính quy, cao đẳng nghề và hệ trung cấp chuyên nghiệp (2 năm và 4năm), được phân bố theo bảng sau:
Bảng 1 Chỉ tiêu tuyển sinh Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm
Nguồn: Số liệu lưu trữ tại phòng Đào tạo Trường Đại học Công nghiệpThực
phẩm thành phố Hồ Chí Minh qua 4 năm (2008-2011).
Từ năm 2009, Trường đặc biệt chú trọng đào tạo nguồn nhân lực chấtlượng cao thuộc các ngành nghề: công nghệ, thực phẩm, để đáp ứng theo yêucầu của xã hội Ngoài ra, Trường còn liên kết với các doanh nghiệp, công ty đềđào tạo theo địa chỉ: Công ty sữa Vinamik, Công ty Thuốc lá Sài Gòn, Công ty
Cổ phần Chương Dương,…Về chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm cũng có sự biếnđộng theo yêu cầu và tình hình thực tế: năm 2010 khi Trường được nâng cấp lênĐại học theo Quyết định số 284/QĐ-TTg thì chỉ tiêu tuyển sinh của Trườngngoài các hệ cao đẳng, TCCN còn có hệ đại học Năm đầu tiên được nâng cấplên đại học, Trường chưa áp dụng thi tuyển sinh đại học mà xét tuyển nguyệnvọng 2, nguyện vọng 3 và từ năm 2011 Trường tổ chức thi tuyển sinh cho cả hệđại học và cao đẳng Cũng từ kỳ tuyển sinh 2012 theo quy định mới của BộGiáo dục & Đào tạo thì các trường đại học sẽ giảm dần chỉ tiêu tuyển sinh hệTCCN, vì vậy Trường cũng đã giảm chỉ tiêu tuyển sinh ở bậc TCCN, thay vào
đó chỉ tiêu tuyển sinh ở bậc đại học sẽ được nâng lên Tuyển sinh đầu vào ở bậcTCCN trước đây chủ yếu là xét tuyển học sinh tốt nghiệp THPT với thời gianđào tạo là 2 năm, học sinh tốt nghiệp THCS thời gian đào tạo là 4 năm
Trang 38Bảng 2 Kết quả tuyển sinh TCCN theo trình độ học vấn
Trường Đại học Công Nghiệp Thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh giai
đoạn 2005 – 2010
tuyển sinh
Kết quả tuyển sinh
Nguồn: Số liệu do tác giả điều tra, tháng 5-2012.
Nhìn vào bảng thống kê công tác tuyển sinh hàng năm của Trường, trong
đó bình quân hàng năm có khoảng hơn 50% số học sinh được tuyển sinh đầu vào có trình độ tốt nghiệp THPT, còn lại 50% học sinh tốt nghiệp THCS Quakhảo sát chất lượng học sinh đầu vào, có hơn 90% học lực trung bình, yếu chỉ
có hơn 7% học lực khá Đa số học sinh được tuyển vào học là học sinh tốtnghiệp THCS, rớt tốt nghiệp THPT hoặc là học sinh sau khi thi trượt không vàođược cao đẳng, đại học Cho nên, quá trình đào tạo gặp rất nhiều khó khăn, đây
là tình trạng chung của các trường trong việc đào tạo bậc TCCN ở cả nước
Bên cạnh đó, việc thành lập các trường đại học, cao đẳng ồ ạt trong thờigian qua cũng là một nguyên nhân dẫn đến công tác tuyển sinh và chất lượngđầu vào chưa đạt chất lượng cao Ngoài ra, học sinh và gia đình có suy nghĩ
Trang 39chưa đúng về chất lượng đào tạo TCCN nên họ quyết tâm phải cho con em vàohọc ở hệ cao đẳng, đại học thì sẽ tốt hơn.
2.2.1.2 Chất lượng đầu ra của học sinh
Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh đưa ramục tiêu, chất lượng là phải đào tạo đội ngũ lao động có tay nghề vững chắc, cótác phong công nghiệp, tinh thần kỷ luật, sáng tạo trong công việc và có đạo đứcnghề nghiệp để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
Là một trường có thế mạnh về đào tạo nghề và các ngành then chốt hiệnnay như: Công nghệ thực phẩm, Sinh học, Thủy sản, Hàng năm, học sinh tốtnghiệp ra trường đều xin được việc làm chủ yếu tại các doanh nghiệp trên địabàn thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh lân cận Qua đánh giá của một sốdoanh nghiệp đối với học sinh qua đào tạo, cho rằng tất cả đều có kiến thức, kỹnăng tay nghề, khả năng làm việc độc lập, làm việc theo nhóm nhưng chỉ ở mứctrung bình Tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động và việc chấp hành nội quytrong quá trình thực tập, làm việc tại các doanh nghiệp, giờ giấc làm tương đốitốt Số doanh nghiệp trực tiếp nhận lao động tốt nghiệp tại trường không nhiều,
đa số học sinh khi tốt nghiệp phải tự tìm việc làm, điều này phản ánh chất lượngtốt nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu doanh nghiệp Nhà trường có quan tâm xâydựng mối quan hệ với doanh nghiệp nhằm nắm bắt nhu cầu tuyển dụng để cóbước điều chỉnh quá trình đào tạo tại trường, nhưng mức độ chưa cao, chưa
thường xuyên Các buổi hội thảo, giới thiệu việc làm đã đưa lại hiệu quả nhấtđịnh, giúp học sinh có quá trình tiếp cận thực tế doanh nghiệp đòi hỏi những gì,một số kinh nghiệm khi phỏng vấn, làm việc,…nhýng cũng chỉ hổ trợ phần nàonhu cầu tìm việc làm của học sinh khi tốt nghiệp ra trường
Bảng 4 Kết quả học sinh hệ TCCN tốt nghiệp ra trường
Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm thành phố Hồ Chí Minh năm học
2010 - 2011
T
T Lớp
Sĩ số
Tốt nghiệp
Không TN S
S
Trang 40Qua bảng thống kê chất lượng đầu ra của học sinh năm học 2010-2011,
đa số học sinh đều tốt nghiệp ra trường, chiếm tỷ lệ 95,8% Tuy nhiên, tỷ lệ họcsinh không tốt nghiệp ra trường (17 học sinh), chiếm tỷ lệ 4,2% Mặc dù nhàtrường, đặc biệt là giáo viên đã có nhiều cố gắng, tích cực trong quá trình giảngdạy kể cả lý thuyết và thực hành nghề, tích cực trong ôn tập cho kỳ thi tốtnghiệp Nhưng do trình độ văn hóa của các em quá yếu, nên năng lực thực hànhtrên các thiết bị dạy nghề còn rất yếu, đặc biệt là những học sinh hệ trung cấp 4năm, các em không theo kịp tiến độ đào tạo, cuối cùng không vượt qua kỳ thi tốtnghiệp ra trường, đây là vấn đề vô cùng khó khăn cho nhà trường và bản thânhọc sinh Bởi vậy, các em không thể xin được việc làm đúng với nghề mà mình
đã lựa chọn và được đào tạo
Thực tế, đất nước ta trong thời gian qua đã có sự chuyển mình đáng kể,đặc biệt là trên lĩnh vực kinh tế, cụ thể là rất nhiều doanh nghiệp trong và ngoàinước đã xúc tiến đầu tư Qua đó, mở ra cơ hội tốt cho những học sinh khi tốtnghiệp ra trường sẽ có một việc làm phù hợp với khả năng, trình độ đã được đàotạo Tuy nhiên, do chưa nhận thức đúng đắn về vai trò của đào tạo nghề nên một