người mới chỉ dừng lại hiểu biết về môi trường và mong muốn được sống trongmôi trường trong lành còn bản thân cần làm gì để góp phần bảo vệ môi trườngthì chưa rõ.” Vì vậy, cần phải nâng
Trang 1DƯƠNG THỊ HIỆP
GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
CHO HỌC SINH THPT Ở HUYỆN TÂN HỒNG,
TỈNH ĐỒNG THÁP (QUA KHẢO SÁT MỘT SỐ TRƯỜNG THPT TẠI HUYỆN TÂN HỒNG,
TỈNH ĐỒNG THÁP)
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
Đồng Tháp, 2012
Trang 2GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
CHO HỌC SINH THPT Ở HUYỆN TÂN HỒNG,
TỈNH ĐỒNG THÁP (QUA KHẢO SÁT MỘT SỐ TRƯỜNG THPT TẠI HUYỆN TÂN HỒNG,
TỈNH ĐỒNG THÁP)
Chuyên ngành: LL và PPDH Bộ môn Chính trị
Mã số: 6014.10
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS: Đoàn Minh Duệ
Đồng Tháp, 2012
Trang 3Tôi xin trân trọng cám ơn sâu sắc đến PGS.TS Đòan Minh Duệ, Trưởngkhoa Luật, Trường Đại học Vinh, đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đở tôihoàn thành luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, khoa đào tạo Sau Đại học,khoa Giáo dục chính trị, cùng toàn thể các thầy, cô giáo Trường Đại học Vinh
đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt cho tôi những kiến thức lý luận chính trị quýbáu, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
Tôi xin trân trọng cám ơn Phòng THPT của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnhĐồng Tháp, Ban Giám Hiệu trường THPT Giồng Thị Đam, Trường THPT TânHồng, Tổ Văn, Sử, Địa, Giáo dục công dân Trường THPT Giồng Thị Đam đãđộng viên, tạo điều kiện cho tôi cả về tinh thần và vật chất trong suốt quá trìnhhọc tập
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè vàngười thân đã động viên, giúp đỡ tôi trong cuộc sống, học tập và công tác
Đồng Tháp, tháng 7 năm 2012
Tác giả Dương Thị Hiệp
Trang 4CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 5B NỘI DUNG
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của nâng cao ý thức bảo vệ môi
trường cho học sinh THPT trong giai đoạn hiện nay.
1.1 Cơ sở lý luận của giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh THPT 81.2 Cơ sở thực tiễn của việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinhTHPT ở huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp 33Kết luận chương 1 49
Chương 2 Quan điểm và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học THPT trên địa bàn huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp giai đoạn hiện nay.
2.1 Quan điểm của Đảng ta về môi trường và bảo vệ môi trường 50
2.2 Một số giải pháp nhằm giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh
THPT trên địa bàn huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp giai đoạn hiện nay 59Kết luận chương 1 79
C KẾT LUẬN
D DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hàng ngày, con người cần hít thở không khí, ăn, ở, mặc, đi lại, phát triểnkinh tế, văn hóa, xã hội Điều đó chứng tỏ rằng: cuộc sống của con người và xãhội loài người đều liên quan đến môi trường Tách khỏi môi trường con người sẽkhông tồn tại và nếu môi trường bị tổn hại thì cuộc sống của con người cũng bị
đe dọa Con người tồn tại trong môi trường, hoạt động trong môi trường và conngười cũng là nhân tố của môi trường
Bất cứ một hành động nào của con người cũng đều ảnh hưởng đến môitrường Trồng cây xanh trên đường làng, nơi bãi đất hoang làm cho không khítrong lành, vứt một mảnh giấy vụn, một bọc nylon cũng làm cho môi trường bị ônhiễm
Từ xa xưa khi cuộc sống còn hoang dã thì sự tồn tại của thiên nhiên tươngđối ổn định, đất đai màu mỡ, động thực vật phong phú, đa dạng
Bùng nổ dân số, sự phát triển của Khoa học- Công nghệ cùng với sự tácđộng của công nghiệp và nhu cầu sinh hoạt của con người ngày càng đa dạng,con người đã lạm dụng quá mức nguồn tài nguyên thiên nhiên, làm cho môitrường ngày càng xấu đi, diện tích rừng bị thu hẹp, trái đất nóng lên, khí hậu thấtthường, băng tan, lũ lụt, hạn hán…Điều đó đã làm cho cuộc sống của con người
bị đe dọa
Việt Nam là một quốc gia đang trong quá trình mở cửa và hội nhập Bêncạnh sự gia tăng dân số là xu hướng đô thị hóa ngày càng diễn ra mạnh mẽ đãlàm cho tình hình ô nhiễm môi trường ngày càng thêm trầm trọng mà nguyênnhân chủ yếu là từ nhận thức con người
Theo ông Mai Ái Trực, nguyên Bộ trưởng Bộ tài nguyên và Môi trường:
“Thời gian qua công tác tuyên truyền nhất là các phương tiện thông tin đạichúng nhận thức về môi trường trong nhân dân đã được nâng lên Các hành vigây tác hại cho môi trường vẫn hàng ngày diễn ra, cho thấy nhận thức của mọi
Trang 7người mới chỉ dừng lại hiểu biết về môi trường và mong muốn được sống trongmôi trường trong lành còn bản thân cần làm gì để góp phần bảo vệ môi trườngthì chưa rõ.” Vì vậy, cần phải nâng cao nhận thức để “ tạo sự chuyển biến đếnmức có thể thay đổi hành vi của mọi người theo hướng có lợi cho môi trường”[7; 6].
Hiện nay, công tác giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh, đặcbiệt là học sinh THPT đã được triển khai Nhưng thực tế ở một số trường họctình trạng ít cây xanh hoặc không có cây xanh vẫn còn phổ biến; học sinh vứtrác bừa bãi vẫn còn diễn ra hàng ngày Ngay bên trong một số trường học, dù đã
có những thùng đựng rác lớn nhưng rác vẫn vứt bừa bãi, nhà vệ sinh công cộnghôi thối…
Những năm gần đây, việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho họcsinh THPT trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp nói chung, trên địa bàn huyện Tân Hồngnói riêng bước đầu đã đạt được những thành tựu quan trọng Nhận thức về bảo
vệ môi trường của học sinh ở một số trường học đã được nâng lên, tình trạng hôithối và ô nhiễm quanh khu vực trường học đã được cải thiện Tuy nhiên, tìnhtrạng vứt rác trong lớp học và sân trường vẫn còn diễn ra, nhà vệ sinh công cộngvẫn còn hôi thối, bãi đỗ rác công cộng chưa được xử lí … Hơn nữa, việc giáodục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh THPT còn mang tính hình thức vàchưa được coi trọng đúng mức mà chỉ dừng lại ở việc lồng ghép ở một số mônhọc như: Văn, Sử, Địa, Sinh, Kỹ thuật, Giáo dục công dân Điều đó cho thấy,công tác giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh THPT trên địa bànhuyện Tân Hồng nói riêng và tỉnh Đồng Tháp nói chung chưa thực sự hiệu quả
Xuất phát từ những yêu cầu thực tế nêu trên, chúng tôi chọn vấn đề “Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh trường THPT ở huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp (qua khảo sát một số trường THPT tại huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp)” để làm đề tài luận văn tốt nghiệp.
Trang 82 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Hiện nay tình hình ô nhiễm môi trường đã đến mức báo động và bảo vệmôi trường là vấn đề cần thiết, và hữu ích
Nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường trong côngcuộc xây dựng đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương phát triển kinh tế
đi đôi với bảo vệ môi trường và ổn định xã hội đảm bảo sự phát triển bền vữngcủa đất nước Vì vậy, nhiều văn bản đã được ban hành nhằm thể chế hóa côngtác bảo vệ môi trường như: Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ
VI, VII, VIII, IX và X đề cập đến vấn đề môi trường và xem việc bảo vệ môitrường là một trong những vấn đề quan trọng và có ý nghĩa to lớn trong sựnghiệp phát triển bền vững của đất nước; Chỉ thị số 36 - CT/TW của Bộ Chính
trị Về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ CNH, HĐH được
ban hành năm 1998; Nghị quyết số 41 - NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 15 tháng
11 năm 2004 về Bảo vệ môi trường thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tiếp theo đó là Chỉ thị 29 - CT/ TW ngày 21/1/2009 của Ban Bí thư ban
hành nhằm đẩy mạnh việc thực hiện triệt để các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ
và giải pháp của Nghị quyết số 41- NQ/TW Chỉ thị và Nghị quyết đã góp phầntạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức của các, các ngành và nhân dân, mức
độ suy thoái và ô nhiễm môi trường đã từng bước được hạn chế, đồng thời Chỉthị và Nghị quyết cũng đánh giá lại mức độ và hiệu quả của quá trình triển khai.Trên cơ sở đó, Chị thị và Nghị quyết đưa ra những giải pháp nhằm khắc phụcnhững mặt hạn chế, nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục ý thức bảo vệ môitrường cho các tầng lớp nhân dân trong thời gian tới Quyết định số 1363/QĐ –TTg ngày 17 tháng 10 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt
dự án Đưa nội dung bảo vệ môi trường vào trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Quyết định đưa ra nội dung và phướng thức giáo dục bảo vệ môi trường là phảiđảm bảo tính toàn diện từ bậc học Mầm non cho đến bậc THPT và “thực hiệntheo phương thức khai thác triệt để tri thức về môi trường hiện có ở các môn học
Trang 9trong nhà trường Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường còn được thực hiệnngoài nhà trường dưới nhiều hình thức khác nhau nhằm nâng cao nhận thức vàtrách nhiệm bảo vệ môi trường cho toàn cộng đồng” (12; 1), Quyết định số256/2003/ QĐ- TTg ngày 02 tháng 12 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ về
việc phê duyệt Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 đã nhấn mạnh bảo vệ môi trường là một bộ phận không
thể tách rời của chiến lược phát triển kinh tế và là cơ sở đảm bảo sự phát triểnbền vững của đất nước, đây cũng là nhiệm vụ chung của các cấp, các ngành, các
tổ chức, cộng đồng và của người dân.
Ngoài ra vấn đề này được các tác giả đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu ở dướicác góc độ khác nhau, một số bài viết đã đề cập đến khía cạnh này hay khía cạnhkhác của vấn đề, cụ thể như:
Hỏi đáp về môi trường sinh thái của nhóm tác giả Phan Nguyên Hồng,
Trần Thị Thu Hương, Nguyễn Phương Nga, NXB Giáo dục, 2005 Các tác giảbiên soạn dưới dạng hỏi đáp về môi trường nhằm giúp các em học sinh có thêmhiểu biết về môi trường, về sinh thái, thấy được sự hài hòa của thiên nhiên, đồngthời nắm được những tác hại đến tài nguyên và môi trường do con người gây ra;
Môi trường và ô nhiễm của Lê Văn Khoa, NXB Giáo dục, 2005, đã đề cập đến
tình hình môi trường và ô nhiễm môi trường hiện nay, nguyên nhân dẫn đến ônhiễm môi trường, trên cơ sở cảnh tỉnh và kêu gọi mọi người chung tay bảo vệ
môi trường; Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong việc bảo vệ môi trường vì
sự phát triển bền vững của tác giả Thu Hiền được đăng trên báo điện tử của Bộ
Giáo dục và Đào tạo, trang Giáo dục bảo vệ môi trường, đã nêu lên tấm gươngđạo đức Hồ Chí Minh về bảo vệ môi trường Từ đó, tác giả nhấn mạnh cần phảihọc tập tấm gương đạo đức của Hồ Chí Minh về bảo vệ môi trường trong giai
đoạn hiện nay; Kỷ yếu hội thảo dạy tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường môn Giáo dục công dân cấp THPT của Sở giáo dục và đào tạo tỉnh Đồng
Tháp, 2010, Kỷ yếu tập hợp một số bài viết của các giáo viên trong tỉnh về kinh
Trang 10nghiệm tích hợp nội dung giáo dục môi trường qua một số bài học của môn Giáo
dục công dân Trên Bản tin giáo dục môi trường của Bộ Giáo dục và Đào tạo – Giáo dục môi trường trong trường phổ thông Việt Nam – VIE/98/018, số 15, 16,
2003 và số 17, 18, 2004 tập hợp những bài viết của nhiều tác giả viết về môitrường, về cách thức giáo dục bảo vệ môi trường của học sinh ở một số nơitrong và ngoài nước thông qua những việc làm cụ thể, trên cơ sở đó bản tin nêulên những kết quả đạt được trong công tác giáo dục môi trường cho học sinh phổthông ở một số trường trong nước
Mặc dù, đã có nhiều công trình nghiên cứu về môi trường và giáo dục ýthức bảo vệ môi trường, tuy nhiên do đặc điểm kinh tế - xã hội của các vùng,miền khác nhau, vì vậy cách sống và cách nghĩ cũng khác nhau Do đó, các bàiviết này chưa đưa ra những giải pháp cụ thể cho từng đơn vị nhằm giáo dục ýthức bảo vệ môi trường cho học sinh THPT của từng đơn vị trường học
Hiện nay, việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh THPT nóichung và học sinh THPT trên địa bàn huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp nóiriêng hầu như chưa có tác giả nào đề cập đến Nhằm giúp học sinh Đồng Thápnói chung và học sinh huyện Tân Hồng nói riêng hiểu biết sâu sắc bản chất cácvấn đề môi trường, trên cơ sở đó hình thành thói quen, ý thức bảo vệ môitrường, biết lựa chọn phong cách sống phù hợp với việc sử dụng một cách hợp
lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên để có thể tham gia có hiệu quả việc phòngngừa và giải quyết các vấn đề môi trường, vì vậy chúng tôi chọn vấn đề “Giáodục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh THPT ở huyện Tân Hồng, tỉnh ĐồngTháp (Qua khảo sát một số trường THPT trên địa bàn huyện Tân Hồng, tỉnhĐồng Tháp) làm đề tài luận văn cao học thạc sỹ
Trang 113 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Tìm hiểu thực trạng ý thức bảo vệ môi trường của học sinh THPT trên địabàn huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp, từ đó nêu ra một số giải pháp nhằm nângcao ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh THPT trên địa bàn huyện Tân Hồng,tỉnh Đồng Tháp
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ thực trạng nhận thức BVMTcủa học sinh THPT trên địa bànhuyện Tân Hồng, Tỉnh Đồng Tháp
- Đề xuất một số giải pháp nhằm giáo dục ý thức bảo vệ môi trường chohọc sinh THPT ở huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp một cách có hiệu quả
4 Phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu học sinh khối 10 của hai trường THPTtrên địa bàn huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp hiện nay là: Trường THPT GiồngThị Đam và Trường THPT Tân Hồng
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Ý thức bảo vệ môi trường của học sinh THPT trên địa bàn huyện TânHồng tỉnh Đồng Tháp
5 Phương pháp nghiên cứu
Ngoài phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, tác giả sử dụngmột số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau: Phương pháp lịch sử, phươngpháp phân tích tổng hợp, phương pháp quan sát, thu thập thông tin, phươngpháp điều tra
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Nếu đề tài nghiên cứu thành công sẽ có ý nghĩa sâu sắc cả về mặt lýluận và thực tiễn:
Trang 12+ Góp phần làm rõ thực trạng ý thức bảo vệ môi trường của học sinhtrung học phổ thông ở huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp
+ Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo
và nghiên cứu cho lãnh đạo nhà trường và các bạn học viên cao học khóa sau
7 Giả thuyết khoa học
Nếu giáo dục tốt ý thức BVMT cho học sinh THPT sẽ góp phần quan
trọng trong việc cải thiện môi trường trên địa bàn huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng
Tháp giai đoạn hiện nay
8 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,nội dung chính của đề tài được cấu thành 02 chương, 4 tiết
Chương1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của giáo dục ý thức bảo vệ môi
trường cho học sinh THPT trong giai đoạn hiện nay
Chương 2 Quan điểm và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo
dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh THPT trên địa bàn huyện Tân Hồng,tỉnh Đồng Tháp giai đoạn hiện nay
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH THPT TRONG GIAI ĐOẠN
HIỆN NAY 1.1 Cơ sở lý luận của giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh THPT
là cơ quan vật chất của ý thức Ý thức là chức năng của bộ óc con người Ý thứcphụ thuộc vào hoạt động bộ óc người, do đó khi bộ óc bị tổn thương thì hoạtđộng của ý thức sẽ không bình thường Vì vậy, không thể tách rời ý thức ra khỏihoạt động của bộ óc Ý thức không thể diễn ra, tách rời hoạt động sinh lý thầnkinh của bộ óc người
Khoa học đã xác định, con người là sản phẩm cao nhất của quá trình pháttriển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp của vật chất vận động, đồng thời
đã xác định bộ óc của con người là một tổ chức sống đặc biệt có cấu trúc tinh vi
và phức tạp bao gồm khoảng 14 -15 tỷ tế bào thần kinh Các tế bào này có liên
hệ với nhau và với các giác quan, tạo thành vô số những mối liên hệ thu nhận,điều khiển hoạt động của cơ thể trong quan hệ với thế giới bên ngoài qua cácphản xạ không điều kiện và có điều kiện Quá trình ý thức và quá trình sinh lý
Trang 14trong bộ óc không đồng nhất, không tách rời, không song song mà là hai mặtcủa một quá trình sinh lý thần kinh mang nội dung ý thức.
Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học - kỹ thuật đã tạo ra nhữngmáy móc hiện đại nhưng dù máy móc có hiện đại và thông minh đến đâu thì nócũng được tạo ra từ chính con người do bộ óc của con người tạo nên Tuy nhiên,nếu chỉ có bộ óc người mà không có sự tác động của thế giới bên ngoài để bộ ócphản ánh lại tác động đó thì cũng không thể có ý thức
Phản ánh là thuộc tính chung, phổ biến của mọi đối tượng vật chất Phảnánh là năng lực giữ lại, tái hiện lại của hệ thống vật chất này những đặc điểmcủa hệ thống vật chất khác
Trong quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất, thuộc tính phảnánh của vật chất cũng phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp
Phản ánh vật lý: Là hình thức phản ánh đơn giản nhất ở giới vô sinh, thểhiện qua các quá trình biến đổi cơ, lý, hoá
Phản ánh sinh học: Là những phản ánh trong sinh giới trong giới hữu sinhcũng có nhiều hình thức khác nhau ứng với mỗi trình độ phát triển của thế giớisinh vật Phản ánh sinh học được thực hiện thông qua các hình thức của sự kíchthích do tác động của môi trường ở thực vật, các phản xạ ở động vật có hệ thầnkinh và tâm lý ở động vật cấp cao có bộ óc
Tâm lý động vật là trình độ cao nhất của sự phản ánh ở động vật Tuynhiên, tâm lý động vật chưa hình thành ý thức mà chỉ có tính chất bản năng donhu cầu trực tiếp của sinh lý cơ thể và do qui luật sinh học chi phối
Như vậy, ý thức bắt nguồn từ một thuộc tính của vật chất - thuộc tínhphản ánh - phát triển thành Ý thức ra đời là kết quả phát triển lâu dài của thuộctính phản ánh của vật chất Nội dung của ý thức là thông tin về thế giới bênngoài, về vật được phản ánh Ý thức là sự phản ánh thế giới bên ngoài vào đầu
óc con người Bộ óc người là cơ quan phản ánh, song chỉ có bộ óc thôi thì chưathể có ý thức Không có sự tác động của thế giới bên ngoài lên các giác quan và
Trang 15qua đó đến bộ óc thì hoạt động ý thức không thể xảy ra Như vậy, bộ óc người(cơ quan phản ánh về thế giới vật chất xung quanh) cùng với thế giới bên ngoàitác động lên bộ óc - đó là nguồn gốc tự nhiên của ý thức.
Để ý thức có thể ra đời, bên cạnh nguồn gốc tự nhiên thì điều kiện quyếtđịnh cho sự ra đời của ý thức là nguồn gốc xã hội, thể hiện ở vai trò của laođộng, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội
Quá trình tồn tại và phát triển buộc con người phải lao động, tác động vàothế giới khách quan, biến đổi các yếu tố của thế giới khách quan nhằm tạo ra cácvật phẩm để nuôi sống mình Nhờ vào quá trình cải tạo thế giới khách quan mà ýthức của con người được hình thành và ngày càng hoàn thiện Tuy nhiên, quátrình hình thành ý thức của con người không diễn ra một cách thụ động màchính nhờ vào quá trình lao động, con người đã buộc thế giới khách quan bộc lộnhững thuộc tính, kết cấu, qui luật vận động của nó để con người nhận thức.Nhờ có quá trình lao động bộ não của con người ngày càng hoàn thiện làm chokhả năng tư duy của con người ngày càng cao
Trong quá trình lao động, ở con người xuất hiện nhu cầu trao đổi kinhnghiệm, trao đổi tư tưởng với nhau, từ đó ngôn ngữ xuất hiện
Ăngghen viết: “Đem so sánh con người với các loài vật, người ta sẽ thấy
rõ rằng ngôn ngữ bắt nguồn từ trong lao động và cùng phát triển với lao động,
đó là cách giải thích duy nhất đúng về nguồn gốc của ngôn ngữ” [30; 645]
Như vậy, ngôn ngữ do nhu cầu của lao động và nhờ lao động mà hìnhthành Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức Không cóngôn ngữ thì ý thức không thể tồn tại và thể hiện được Ngôn ngữ vừa là phươngtiện giao tiếp trong xã hội, đồng thời là công cụ của tư duy nhằm khái quát hóa,trừu tượng hóa hiện thực Nhờ ngôn ngữ mà con người tổng kết được thực tiễn,trao đổi thông tin, trao đổi tri thức từ thế hệ này sang thế hệ khác Ý thức khôngphải thuần túy là hiện tượng cá nhân mà là một hiện tượng xã hội, do đó không
có phương tiện trao đổi xã hội về mặt ngôn ngữ thì ý thức không thể hình thành
Trang 16và phát triển được Vậy, nguồn gốc trực tiếp quan trọng nhất quyết định sự rađời và phát triển của ý thức là lao động, là thực tiễn xã hội Ý thức phản ánhhiện thực khách quan vào bộ óc con người thông qua lao động, ngôn ngữ và cácquan hệ xã hội Ý thức là sản phẩm xã hội, là một hiện tượng xã hội.
sự phản ánh thế giới bởi bộ não con người
Ý thức là sự phản ánh sáng tạo thế giới: Ý thức là sự phản ánh hiện thựckhách quan vào trong bộ óc con người, là hình ảnh chủ quan của thế giới kháchquan Tuy nhiên, không phải thế giới khách quan tác động vào bộ óc người là tựnhiên trở thành ý thức Ngược lại, ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo vềthế giới, do nhu cầu của việc con người cải biến giới tự nhiên quyết định vàđược thực hiện thông qua hoạt động lao động
Kết cấu của ý thức phân thành hai chiều:
Theo chiều ngang: bao gồm các yếu tố cấu thành như tri thức, tình cảm,niềm tin, lý trí…trong đó tri thức là nhân tố cơ bản là cốt lõi; đó là kết quả củaquá trình con người nhận thức thế giới, là sự phản ánh thế giới khách quan Ýthức mà không bao hàm cả tri thức, không dựa vào tri thức thì ý thức sẽ trốngrỗng không giúp ích cho con người trong thực tiễn
Sự hiểu biết của con người không chỉ đem lại hiểu biết về thế giới bênngoài mà còn đem lại tình cảm cho họ Tình cảm một dạng đặc biệt của sự phản
Trang 17ánh tồn tại, nó phản ánh quan hệ giữa con người với con người và quan hệ giữangười với thế giới khách quan.
Theo chiều dọc: trong quá trình nhận thức thế giới xung quanh, con ngườiđồng thời tự nhận thức bản thân mình Đó chính là tự ý thức Tự ý thức là hìnhthức của con người về những hành vi, những tình cảm, tư tưởng, động cơ, lợi íchcủa mình, về địa vị của mình trong xã hội Tự ý thức là ý thức hướng về bảnthân mình thông qua quan hệ thế giới bên ngoài
Tiềm thức là những hoạt động tâm lý tự động diễn ra bên ngoài sự kiểmsoát của chủ thể, song lại có liên quan trực tiếp đến các hoạt động tâm lý đangdiễn ra dưới sự kiểm soát của chủ thể ấy
Vô thức là những hiện tượng tâm lý không phải do lý trí điều khiển Lĩnhvực vô thức là lĩnh vực các hiện tượng tâm lý nằm ngoài phạm vi của lý trí mà ýthức không kiểm soát được trong một lúc nào đó
Từ việc phân tích nguồn gốc, bản chất, kết cấu của ý thức chúng ta đi đếnkhái niệm: Ý thức là sự phản ánh thế giới xung quanh vào bộ óc con người, cókết cấu phức tạp bao gồm các yếu tố cơ bản như: cảm xúc, nhu cầu, ý chí, trithức… trong đó tri thức là quan trọng nhất và là phương thức tồn tại của ý thức
Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan
*Ý thức xã hội
Ý thức xã hội là mặt tinh thần của đời sống xã hội, bao gồm toàn bộnhững quan điểm, tư tưởng cùng những tình cảm, tâm trạng, của những cộngđồng xã hội, nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong nhữnggiai đoạn phát triển nhất định
Ý thức cá nhân và ý thức xã hội có sự khác nhau một cách tương đối Ýthức cá nhân là thế giới tinh thần của những con người riêng biệt, cụ thể Ý thức
cá nhân đều phản ánh tồn tại xã hội với những mức độ khác nhau Do đó, nókhông thể không mang tính xã hội Song, ý thức cá nhân không bao giờ cũng thể
Trang 18hiện quan điểm, tư tưởng, tình cảm của một cộng đồng, một tập đoàn xã hội,một thời đại xã hội nhất định.
Ý thức, trước hết, mang tính cá nhân, song, trong ý thức bao giờ cũng cónội dung mà mọi người, hoặc cao hơn là các nhóm xã hội, đều có Khi các nhucầu, mục đích, của các cá nhân, cộng đồng xã hội nào đó định hướng vào nộidung ý thức của một chủ thể xác định thì đó là lúc bộc lộ sự đồng tâm và đồng
tư tưởng giữa các chủ thể Như vậy thì ý thức không còn mang tính cá nhân, màmang tính xã hội Ý thức xã hội là yếu tố cần thiết cho sự hoạt động của cácnhóm xã hội riêng biệt cũng như của toàn thể xã hội Mặt khác, toàn bộ hệ thống
xã hội chỉ có thể hoạt động một cách ổn định khi nội dung của ý thức xã hội, trênmột quy mô lớn, được tái tạo thường xuyên và phù hợp với hệ thống đó
Trong sự phát triển của mỗi cá nhân, ngoài các yếu tố thuận về chủ thể, họcòn bị chi phối bởi quan điểm, tư tưởng, tình cảm, tâm trạng, truyền thống củacộng đồng, tức là bị chi phối bởi ý thức xã hội Vì vậy, khi ý thức xã hội tiến bộ,lành mạnh sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của cá nhân và ngược lại
Công lao của C.Mác và Ph.Ăngghen là phát triển chủ nghĩa duy vật đếnđỉnh cao, xây dựng quan điểm duy vật về lịch sử và giải quyết khoa học về sựhình thành và phát triển của ý thức xã hội Hai ông đã chứng minh rằng, đờisống tinh thần của xã hội hình thành và phát triển trên cơ sở đời sống vật chất,không thể tìm nguồn gốc của tư tưởng, tâm lý xã hội trong bản thân của nó
CNDV chỉ rõ, tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, ý thức xã hội là sựphản ánh của tồn tại xã hội, phụ thuộc vào tồn tại xã hội Mỗi khi tồn tại xã hội,nhất là khi phương thức sản xuất biến đổi thì những tư tưởng và lý luận xã hội,những quan điểm về chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, văn hóa, nghệthuật v.v sớm hay muộn sẽ biến đổi theo Tuy nhiên, tồn tại xã hội quyết định ýthức xã hội không phải một cách đơn giản trực tiếp mà còn phải thông qua mắckhâu trung gian Không phải bất cứ tư tưởng, quan niệm, lý luận hình thái ý thức
xã hội nào cũng phản ánh rõ ràng và trực tiếp những quan hệ kinh tế của thời
Trang 19đại, mà chỉ khi nào xét đến cùng chúng ta mới thấy rõ những mối quan hệ kinh
tế được phản ánh bằng cách này hay cách khác trong các tư tưởng ấy Tuynhiên, ý thức xã hội không phản ánh tồn tại xã hội một cách thụ động mà ngượclại ý thức xã hội có tính độc lập tương đối Ý thức xã hội tồn tại dưới các hìnhthái khác nhau Nhưng trong phần nghiên cứu này, luận văn chỉ đề cập đến hìnhthái ý thức đạo đức
Ý thức đạo đức là toàn bộ những quan niệm về thiện, ác, tốt, xấu, lươngtâm, trách nhiệm, hạnh phúc, công bằng… và về những quy tắc đánh giá, điềuchỉnh hành vi ứng xử cá nhân với xã hội, giữa cá nhân với cá nhân trong xã hội.Đạo đức là một trong những quan hệ chủ yếu của đời sống xã hội và ý thức đạođức là một hình thái giá trị tinh thần cơ bản của con người và xã hội Là yếu tốcốt lõi của tính cách con người, đạo đức đóng vai trò rất quan trọng trong đờisống xã hội và đời sống của mỗi con người Lịch sử hình thành và phát triển đạođức gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của xã hội loài người, đặc biệt
là gắn liền với các phương thức sản xuất xã hội Trong lịch sử phát triển tưtưởng nhân loại đã tồn tại nhiều kiểu đạo đức khác nhau phản ánh trình độ pháttriển của xã hội qua các thời đại lịch sử
Sự ý thức về lương tâm, danh dự và lòng tự trọng… phản ánh khả năng tự chủcủa con người là sức mạnh đặc biệt của đạo đức, là biểu hiện bản chất xã hội của conngười Ý thức đạo đức gồm hệ thống tri thức về giá trị và định hướng giá trị đạođức, tình cảm và lý tưởng đạo đức, trong đó tình cảm đạo đức là yếu tố quantrọng nhất, nếu thiếu nó thì những khái niệm, phạm trù và mọi tri thức đạo đứcthu nhận được bằng con đường lý tính không thể chuyển hóa thành hành vi đạođức Trong quá trình phát triển xã hội đã hình thành những giá trị đạo đức mangtính toàn nhân loại, tồn tại trong mọi xã hội và ở các hệ thống đạo đức khácnhau Đó là những quy tắc đơn giản nhằm điều chỉnh hành vi của con người, cầnthiết cho việc giữ gìn trật tự xã hội chung và sinh hoạt thường ngày của mọingười
Trang 20Sự hình thành đạo đức mới - đạo đức cộng sản, là một quá trình lâu dài.Thắng lợi của cách mạng vô sản chỉ là nền móng đầu tiên cho sự xác lập đạođức cộng sản Như vậy, tính chất và nội dung của đạo đức mới - đạo đức cộngsản, được quy định bởi yêu cầu của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa cộng sản.Đồng thời, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa cộng sản làm cho phạm vi thể hiệnhiện thực của nền đạo đức mới này trở nên phổ biến hơn bao giờ hết Nó đượcthể hiện trong toàn bộ hoạt động tinh thần - thực tiễn của con người và trở thànhmột thành tố, một phương diện (phương diện đạo đức) của hoạt động đó Đạođức cộng sản được hình thành trong cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp côngnhân, bắt nguồn từ đạo đức cách mạng của giai cấp công nhân Đạo đức kế thừanhững giá trị đạo đức tốt đẹp của loài người, cụ thể là của nhân dân lao động.Đạo đức cộng sản đòi hỏi mỗi người phải giác ngộ ý thức đoàn kết dân tộc, đoànkết quốc tế, tích cực tham gia vào công cuộc xây dựng bảo vệ Tổ quốc củamình; đồng thời góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân các dân tộctrên thế giới, vì hòa bình độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Đối với nước ta, khi lựa chọn con đường xây dựng đất nước theo chế độ
xã hội chủ nghĩa tiến tới chủ nghĩa cộng sản là quá trình hết sức khó khăn vàphức tạp, đòi hòi lòng kiên trì, sự quyết tâm, ý chí của Đảng cộng Sản và toànthể dân tộc Việt Nam Để đạt được điều đó thì việc xây dựng ý thức đạo đức chocon người trong xã hội này là vấn đề cần thiết Một trong những vấn đề cần thựchiện là giáo dục ý thức bảo vệ môi trường, bởi vì, BVMT là một trong nhữngyêu cầu cơ bản nhằm đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước Pháttriển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà khônglàm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sởkết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội vàbảo vệ môi trường
Ngày nay, vấn đề bảo vệ môi trường không còn là vấn đề riêng của mộtquốc gia hay dân tộc nào mà nó đã trở thành vấn đề của toàn nhân loại Giáo dục
Trang 21ý thức là giáo dục đạo đức để tiến tới xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội lànhiệm vụ chung của mọi người Nếu cá nhân nào cũng có đạo đức thì cá nhân đó
sẽ có ý thức tốt trong việc bảo vệ môi trường Môi trường được đảm bảo thì cánhân sẽ an toàn, xã hội phát triển lành mạnh
1.1.1.2 Môi trường
“Trong từ điển Tiếng Việt” của Hoàng Phê đưa ra khái niệm: Môi trường
là toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên, xã hội trong đó con người haymột sinh vật tồn tại phát triển, trong quan hệ với con người, với sinh vật ấy [28;635]
Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 đưa ra khái niệm: “Môi trườnggồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo bao quanh con người, cóảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại phát triển của con người và sinh vật”[26; 2]
Theo định nghĩa của UNESCO (1981) thì môi trường của con người baogồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, nhữngcái hữu hình (tập quán, niềm tin ) trong đó con người sống và lao động, họ khaithác các tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thỏa mãn những nhu cầu củamình
Môi trường được chia thành:
Môi trường tự nhiên: bao gồm Mặt trời, khí quyển, thời tiết, khí hậu, biển
cả, sông ngòi, ao, hồ, đồi núi, đất đai, động thực vật, vi sinh vật, con người….Môi trường này tồn tại khách quan, độc lập với ý thức của con người nhưng ảnhhưởng đến cuộc sống của con người Mọi hoạt động hàng ngày của con ngườiđiều liên quan đến môi trường như: ăn, uống, hít thở không khí, nhà ở, điều kiệnvui chơi giải trí… Như Mác đã nói: “ về mặt thể xác con người chỉ sống bằngnhững sản phẩm tự nhiên ấy, dù là dưới hình thức thực phẩm, nhiên liệu, áoquần, nhà ở… về mặt thực tiễn tính phổ biến của con người biểu hiện ra ở chínhcái phổ biến toàn bộ giới tự nhiên thành thân thể vô cơ của con người [36; 135]
Trang 22Như vậy, môi trường tự nhiên gắn liền với cuộc sống của con người chi phốimọi hoạt động của con người, tách khỏi môi trường ấy con người không thể tồntại được.
Trong quá trình sản xuất thiên nhiên cung cấp cho con người những yếu
tố sau:
Rừng: cung cấp cho con người nhiều loại gỗ quý, nơi phòng chống lũ lụt,giúp điều hòa khí hậu, bảo vệ sự sống Những tán cây xanh của rừng có tácdụng thanh lọc không khí, cung cấp dưỡng khí Đặc biệt, rừng là khu bảo tồnthiên nhiên vô cùng quý giá với nhiều loài chim thú quý hiếm, là nguồn đề tàinghiên cứu của các nhà sinh học
Đối với dân tộc Việt Nam, rừng còn gắn chặt với từng chặng đường lịch
sử Trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm rừng trở thành “ rừng che bộđội rừng vây quân thù” Trong thời bình, rừng là nơi nghỉ ngơi, an dưỡng, làđiểm tham quan du lịch của mọi người Rừng đem lại nhiều nguồn lợi ích nêncon người ra sức khai thác nguồn lợi quý giá từ rừng Bọn lâm tặc săn gỗ khắpnơi, cùng với việc đốt rừng làm nương rẫy đã thu hẹp diện tích rừng Nguy hạinhất là việc phá hoại vành đai rừng phòng hộ, dẫn đến hiểm họa sạt núi, lỡ đất
và những cơn lũ quét không thể ngăn chặn được
Khai thác rừng để phục vụ cuộc sống là việc làm cần thiết, nhưng muốnhưởng lợi ích lâu dài từ rừng thì đòi hỏi con người phải biết bảo vệ rừng Nếukhai thác không đi đôi với việc giữ gìn và bảo vệ thì chẳng mấy chốc rừng sẽcạn kiệt
Nước: nước là nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng quyết định sự tồn tạicủa tất cả sự sống của các sinh vật trên trái đất này Nước tham gia vào quá trìnhtái sinh giới hữa cơ, trao đổi chất, là nơi phản ứng lý hóa học, là dung môi củanhiều chất và đóng vai trò dẫn đường cho các muối đi vào cơ thể
Trong khu dân cư, nước phục vụ cho mục đích sinh hoạt, nâng cao đờisống tinh thần cho dân, đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông, công
Trang 23nghiệp Hiện nay, do sự phát triển của khoa học công nghệ, sự biến đổi khí hậu
và sự gia tăng dân số đã làm cho nguồn nước sạch của con người ngày càng bị ônhiễm thậm chí ở một số quốc gia còn xảy ra tình trạng thiếu nước sạch như cácnước ở khu vực Bắc Phi, Trung Đông, Nam Á…Vì vậy đòi hỏi tất cả mọi ngườiphải biết sử dụng tiết kiệm và hợp lý nguồn tài nguyên này để chúng ta luôn cónước sạch để sử dụng
Động vật và thực vật:
Thực vật: Có vai trò quan trọng trong việc quang hợp, điều hòa khí hậu, lànguồn dinh dưỡng của loài người Một số loài thực vật có mạch, được coi là câythân gỗ hay cây bụi, sản sinh ra các thân gỗ và là nguồn vật liệu xây dựng quantrọng Một số các loài cây khác được sử dụng với mục đích làm cảnh hay trangtrí, bao gồm nhiều loại cây hoa Như vậy, có thể cho rằng thực vật là yếu tố cơbản của sự sống trên Trái Đất Không có thực vật thì nhiều sinh vật khác cũngkhông thể tồn tại, vì các dạng sinh vật cao hơn đều trực tiếp hoặc gián tiếp phụthuộc vào thực vật và về cơ bản đều sử dụng thực vật như là nguồn thức ăn.Trong khi đó, hầu hết mọi thực vật đều có thể sử dụng ánh sáng Mặt Trời tự tạothức ăn cho mình
Động vật: có vai trò quan trọng trong cuộc sống của con người; là nguồnthức ăn cho con người, là nguồn gen vô cùng quan trọng trong việc nghiên cứucũng như cung cấp những loại thuốc quý hiếm phục vụ cho công tác chữa bệnh,một số loài động vật góp phần quan trọng trong việc phòng chống sâu bệnh chomùa màng phục vụ trong công tác sản xuất, đồng thời còn góp phần quan trọngtrong việc làm phong phú các thảm thực vật
Hiện nay, tình trạng phá rừng làm nương rẫy và khai thác những loại câyquý hiếm cũng như việc săn bắt thú đã làm cho một số loài có nguy cơ tuyệtchủng Bên cạnh việc quản lý của các ngành chức năng, đòi hỏi ý thức của mọingười cùng chung tay bảo vệ rừng, bảo vệ các loài thú quý hiếm
Trang 24Khí hậu: Tài nguyên khí hậu và cảnh quan bao gồm các yếu tố về thờitiết khí hậu (khí áp, nhiệt độ, độ ẩm, bức xạ mặt trời, lượng mưa ) địa hình,không gian trống Các yếu tố khí hậu có vai trò to lớn trong đời sống và sự pháttriển của sinh vật và con người Tác động của khí hậu đến con người trước hếtthông qua nhịp điệu của chu trình sống: nhịp điệu ngày đêm, nhịp điệu mùatrong năm, nhịp điệu tháng và tuần trăng Các nghiên cứu của các nhà khoa họccho thấy, tình trạng sức khoẻ, tốc độ phát triển của sinh vật phụ thuộc vào thờiđiểm của các chu trình sống trên Cường độ và đặc điểm của bức xạ mặt trời cótác động mạnh mẽ tới sự phát triển của sinh vật và tăng trưởng sinh khối.
Khí hậu thời tiết có ảnh hưởng mạnh mẽ tới tình trạng sức khoẻ conngười, tạo ra sự tăng độ tử vong ở một số bệnh tim mạch, các loại bệnh tật theomùa v.v Trong giai đoạn phát triển hiện nay của nền kinh tế và giao lưu xã hội,khí hậu, thời tiết đang trở thành một dạng tài nguyên vật chất quan trọng của conngười Khí hậu, thời tiết thích hợp tạo ra các khu vực du lịch, nuôi trồng một sốsản phẩm động thực vật có giá trị kinh tế cao (hoa, cây thuốc, các nguồn genquý hiếm khác.)
Khoáng sản: Tài nguyên khoáng sản là tích tụ vật chất dưới dạng hợp chấthoặc đơn chất trong vỏ trái đất, mà ở điều kiện hiện tại con người có đủ khảnăng lấy ra các nguyên tố có ích hoặc sử dụng trực tiếp chúng trong đời sốnghàng ngày
Tài nguyên khoáng sản thường tập trung trong một khu vực gọi là mỏkhoáng sản Tài nguyên khoáng sản có ý nghĩa rất quan trọng trong sự phát triểnkinh tế của loài người và khai thác sử dụng tài nguyên khoáng sản có tác độngmạnh mẽ đến môi trường sống Một mặt, tài nguyên khoáng sản là nguồn vậtchất để tạo nên các dạng vật chất có ích và của cải của con người Bên cạnh đó,việc khai thác tài nguyên khoáng sản thường tạo ra các loại ô nhiễm như bụi,kim loại nặng, các hoá chất độc và hơi khí độc (SO2, CO, CH4 v.v )
Trang 25Cũng chính quá trình lao động sản xuất và tồn tại con người buộc phảithải vào môi trường một lượng chất thải Chất thải dưới tác động của vi sinh vật
và môi trường sẽ phân hủy nuôi sống các cây và nhiều sinh vật khác Tuy nhiên,
do quá trình đô thị hóa và sự gia tăng dân số con người đã thải vào môi trườnglượng chất thải ngày càng nhiều làm cho sự phân hủy của sinh vật trở nên quásức Điều đó, đã dẫn đến sự quá tải, gây sức ép cho môi trường và làm cho môitrường ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe vàđời sống của con người cụ thể như: sự biến đổi khí hậu, băng tan, lũ lụt, hạnhán, dịch bệnh…
Như vậy môi trường là nơi chứa các chất thải của đời sống và sản xuất.Tuy nhiên, nếu con người không biết xử lý và có ý thức bảo vệ môi trường thìcon người sẽ hủy hoại cuộc sống của chính mình
Mặc khác, môi trường trái đất được coi là nơi lưu trữ và cung cấp thôngtin cho con người bởi vì chính môi trường trái đất là nơi cung cấp sự ghi chép vàlưu trữ lịch sử địa chất, lịch sử tiến hoá của vật chất và sinh vật, lịch sử xuấthiện và phát triển văn hoá của loài người Cung cấp các chỉ thị không gian vàtạm thời mang tính chất báo động sớm các nguy hiểm đối với con người và sinhvật sống trên trái đất như các phản ứng sinh lý của cơ thể sống trước khi xảy racác tai biến thiên nhiên và hiện tượng thiên nhiên đặc biệt như bão, động đất,v.v Lưu trữ và cung cấp cho con người sự đa dạng các nguồn gien, các loàiđộng thực vật, các hệ sinh thái tự nhiên và nhân tạo, các vẻ đẹp và cảnh quan cógiá trị thẩm mỹ, tôn giáo và văn hoá khác Đồng thời, các thành phần trong môitrường có vai trò trong việc bảo vệ đời sống cho con người và các sinh vật tránhkhỏi những tác động từ bên ngoài như: tầng Ôzon trong khí quyển có nhiệm vụhấp thụ và phản xạ trở lại các tia cực tím từ năng lượng mặt trời
Môi trường nhân tạo: bao gồm những gì con người tạo dựng nên như:làng mạc, thành phố, công trường, nhà máy… Trong quá trình tồn tại và pháttriển trong môi trường tự nhiên, con người không ngừng cải tạo tự nhiên, buộc
Trang 26tự nhiên bộc lộ những thuộc tính để con người nhận thức Chính nhờ vào quátrình đó, con người đã tách mình ra khỏi thế giới của loài vật, chuyển sang thếgiới của loài người Từ đó con người tạo ra xã hội của chính con người
Từ những khái niệm trên, chúng ta đi đến khái niệm môi trường của họcsinh gồm: nhà trường với thầy giáo, bạn bè, nội quy của trường, lớp học, sânchơi, phòng thí nghiệm, vườn trường, tổ chức xã hội như Đoàn, Đội với các điều
lệ …
1.1.1.3 Ý thức bảo vệ môi trường
Hiện nay, xã hội ngày càng phát triển, đời sống vật chất và tinh thần ngàycàng được nâng lên Tuy nhiên, đối lập với nó là môi trường ngày càng đixuống, diễn biến môi trường ngày càng phức tạp đe dọa trực tiếp đến đời sốngcủa con người Bảo vệ môi trường là vấn đề sống còn, không phải thuộc tráchnhiệm của bất kỳ đất nước, cơ quan tổ chức hay cá nhân riêng biệt Nó là tráchnhiệm, bổn phận của tất cả các sinh vật sống và tồn tại trên hành tinh này Giảipháp tốt nhất là xây dựng ý thức bảo vệ môi trường cho mọi người, để ý thức đó
ăn sâu vào tâm trí của mọi người Dù nền văn minh có hiện đại hay cuộc sốnggiàu sang tiện nghi nhưng tất cả sẽ chấm hết nếu trái đất không còn Khi chưathấy rõ tác hại của ô nhiễm môi trường đối với Trái đất, thì ý thức bảo vệ vẫncòn khá hời hợt và chưa rõ rệt Chúng ta luôn sống trong sự thờ ơ và vô tráchnhiệm đối với sự ô nhiễm môi trường cho đến khi nó thực sự ảnh hưởng đến tínhmạng của tất cả các sinh vật sống trên Trái đất
Ý thức bảo vệ môi trường là ý thức của cá nhân trong việc giữ gìn và bảo
vệ môi trường Từ việc ý thức được vai trò của môi trường đối với cuộc sống,đến việc chuyển ý thức thành hành động cụ thể trong việc bảo vệ môi trường, cónhững hành động và cách ứng xử văn minh với môi trường, biết yêu quý và giữcho môi trường trong lành, đồng thời biết sống có trách nhiệm với môi trường.Chúng ta không thể hoàn thành sứ mạng này nếu như tồn tại một cá nhân không
ý thức được việc bảo vệ môi trường Sức mạnh to lớn nhất đó chính là sự đồng
Trang 27lòng, chung tay và quyết tâm vì một hành tinh xanh, ngôi nhà chung của nhânloại Để thức tỉnh được ý thức của tất cả mọi người chúng ta cần sử dụng cácphương tiện đại chúng để gửi các thông điệp, hình ảnh và vạch ra viễn cảnhtương lai sẽ xảy ra Bên cạnh đó, cần có sự hỗ trợ của báo chí và các đài phátthanh, treo các áp phích, băng rôn, cũng như bảng hiệu kêu gọi người dân mộtcách rộng rãi
Trong học đường, chúng ta nên đưa vào giáo trình những bài học, kiếnthức bảo vệ môi trường, giáo dục các em một cách khoa học và thiết thực hơn sovới những bài học lý thuyết xa vời Trong tổ chức đoàn thể phải lấy việc giáodục ý thức bảo vệ môi trường làm một trong những tiêu chí hoạt động Khi cánhân đã ý thức được thì ý thức đó phải được nâng lên thành hành động cụ thểthông qua những việc làm cụ thể Các tổ chức, cơ quan nhà nước, các đoàn thể
và nhà trường cần phải hỗ trợ, động viên, thúc đẩy để mọi người tích cực trongviệc bảo vệ môi trường
Rác thải là một vấn đề lớn ở các cụm dân cư Vì vậy, cần phải kêu gọimọi người nghiêm chỉnh thực hiện giữ gìn vệ sinh, phân loại rác tại nhà Ngoài
ra, các cơ quan đoàn thể, doanh nghiệp cũng nên có những chính sách thực hiện
và hưởng ứng nghiêm chỉnh, vận động và kêu gọi cán bộ công nhân viên cùngtham gia như tổ chức quyên góp cho quỹ bảo vệ môi trường, tắt các thiết bịkhông cần thiết và hạn chế trong việc sử dụng máy lạnh hay điều hòa Chúng tacũng có thể vận động toàn dân phủ xanh trái đất với việc trồng cây xanh; có thểtrồng ở nhà, ở đường, trường học…trên mỗi thước đất, kêu gọi ý thức trong việc
sử dụng bao nilon và các vật dụng ảnh hưởng đến môi trường…
Cái cuối cùng mà chúng ta vươn tới đó chính là ý thức bảo vệ môi trườngcủa tất cả mọi người Vậy ngay từ bây giờ cần phải ươm mầm ý thức bảo vệ môitrường để nó lan tỏa khắp nơi và đâm hoa kết trái trên khắp các hành tinh củachúng ta để kêu gọi mọi người BVMT, bảo vệ Trái đất
Trang 281.1.1.4 Giáo dục môi trường
Giáo dục môi trường là quá trình tạo dựng cho con người những nhậnthức và mối quan tâm đối với môi trường và các vấn đề môi trường sao cho mỗingười đều có đầy đủ kiến thức, thái độ, ý thức và kỹ năng để có thể hoạt độngmột cách độc lập hoặc phối hợp nhằm tìm ra giải pháp cho vấn đề môi trườngcủa hiện tại và ngăn chặn những vấn đề nảy sinh trong tương lai
Giáo dục môi trường tập trung vào năm mục tiêu sau chính như sau:
Về kiến thức: cung cấp cho các cá nhân và cộng đồng những kiến thứccũng như sự hiểu biết cơ bản về môi trường và mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhaugiữa con người với môi trường
Về nhận thức: thúc đẩy các cá nhân, cộng đồng và xã hội tạo dựng nhậnthức và sự nhạy cảm đối với vấn đề môi trường cũng như các vấn đề môitrường
Về thái độ: khuyến khích các cá nhân, cộng đồng xã hội tôn trọng và quantâm tới tầm quan trọng của môi trường, thúcj họ tham giục họ tham gia tích cựcvào việc cải thiện và bảo vệ môi trường
Về kỹ năng: cung cấp các kỹ năng trong việc xác định, dự đoán, ngănngừa và giải quyết các vấn đề môi trường
Về sự tham gia: cung cấp cho các cá nhân và cộng đồng xã hội cơ hộitham gia tích cực trong việc giải quyết các vấn đề môi trường cũng như đưa racách giải quyết các vấn đề môi trường cũng như đưa ra các quyết định môitrường
Đối với học sinh THPT thì việc giáo dục môi trường cho các em là vấn đềmang tính chất thời sự và cần thiết
Với đối tượng này thì việc giáo dục có thể thông qua các môn học, cáchoạt động trong nhà trường nhằm để trang bị cho các em những kiến thức cơbản về: yếu tố môi trường, vai trò của môi trường đối với con người và tác độngngược lại con người đối với môi trường, phát triển kỹ năng bảo vệ và gìn giữ
Trang 29môi trường nơi học sinh đang học tập và sinh sống tại gia đình Đây là nhữngviệc làm góp phần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường học sinh nhằm giúp các
em nhận thấy được sự cần thiết phải có trách nhiệm giữ gìn vệ sinh trường lớp,tôn tạo cảnh quan trường thật sự xanh - sạch - đẹp được chú trọng, xây dựng môitrường giáo dục an toàn, lành mạnh và mọi người được hít thở không khí tronglành
Tuy nhiên, chúng ta cũng cần nhận thấy rằng: việc giáo dục môi trườngtrong nhà trường hiện nay đôi lúc còn mang tính lý thuyết, chưa chú trọng yếu tốthực tiễn một cách sâu sắc, nghĩa là chưa thực hiện tốt phương châm “Học phải
đi đôi với hành; lý luận phải gắn liền với thực tiễn ” Việc giáo dục môi trường
cần phải thực hiện thông qua những hoạt động cụ thể hơn, sinh động hơn, dầndần tiến tới không chỉ nâng cao về mặt nhận thức mà còn hình thành các thóiquen tốt trong bảo vệ môi trường cho học sinh Từ đó, các em được giáo dục chuđáo, hiểu sâu sắc về ý nghĩa bảo vệ môi trường và có thể các em sẽ trở thànhnhững cộng tác viên, tuyên truyền viên nhỏ tuổi trong cộng đồng về bảo vệ môitrường tại địa phương và trong trường học
1.1.1.5 Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường
Quá trình tồn tại và phát triển của con người luôn găn bó mật thiết vớithiên nhiên, từ ăn, ở mặc, đi lại, phát triển…tất cả đều thông qua hoạt động laođộng và sử dụng công cụ lao động tác động vào tự nhiên, biến đổi các yếu tố của
tự nhiên để phục vụ lại cho chính cuộc sống của con người Nhờ vào quá trình
đó, cuộc sống của con người ngày càng được nâng lên Tuy nhiên, song song vớiquá trình đó, con người đã vi phạm các qui luật của tự nhiên làm cho qui luậtcủa tự nhiên mất dần sự cân bằng, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của conngười Môi trường đất, nước, khí quyển…đều bị ô nhiễm nặng nề Các nguồn tàinguyên có nguy cơ cạn kiệt do khai thác bừa bãi, thời tiết, khí hậu thất thường,băng tan, lũ lụt hạn hán…
Trang 30Các nhà khoa học đã cảnh báo nếu con người tiếp tục hủy hoại môitrường sống thì loài người có nguy cơ bị hủy diệt.
Ô nhiễm môi trường đã trở thành vấn đề nóng bỏng của nhân loại Bảo vệmôi trường ( BVMT) là trách nhiệm của tất cả các quốc gia, dân tộc; là lươngtâm, là trách nhiệm đạo đức của mỗi người Để cứu lấy môi trường, cứu lấy tráiđất ngay từ bây giờ cần giáo dục BVMT cho mọi người
Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên là giữ cho môi trường tronglành, sạch đẹp, bảo đảm cân bằng sinh thái ,cải thiện môi trường; ngăn chặn,khắc phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra; khai thác, sửdụng hợp lý, tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên
Theo điều 3 của Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 có nêu: Hoạt động bảo
vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòngngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắcphục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụnghợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên thiên nhiên bảo vệ đa dạng sinh học
Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên là vấn đề cần thiết và cấpbách nhất Đây là quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của tất cả mọi người Nhữnghành vi gây tổn hại cho môi trường cần phải nghiêm trị Bảo vệ môi trường làbảo vệ nguồn sống của con người
Giáo dục bảo vệ môi trường (BVMT) nhằm giúp cho mỗi cá nhân vàcộng đồng có sự hiểu biết và nhạy cảm về môi trường cùng các vấn đề của nó(nhận thức); những khả năng cơ bản về môi trường và BVMT (kiến thức) nhữngtình cảm; mối quan tâm trong việc cải thiện và BVMT (thái độ, hành vi), những
kỷ năng giải quyết cũng như cách thuyết phục các thành viên khác cùng thamgia (kỹ năng) tinh thần, trách nhiệm trước những vấn đề về môi trường và cónhững hành động thích hợp giải quyết vấn đề ( tham gia tích cực)
Hiện nay, do tình hình ô nhiễm môi trường đã đến mức báo động gây ảnhhưởng đến chất lượng cuộc sống của một bộ phận dân cư trên Trái đất Nguyên
Trang 31nhân là do sự thiếu hiểu biết về môi trường và giáo dục BVMT đã gây nên sựsuy thoái và ô nhiễm môi trường Do đó giáo dục BVMT phải là một nội dunggiáo dục quan trọng nhằm đào tạo những con người có đạo đức về môi trường
và xử lý các vấn đề môi trường trong thực tiễn
Ở Việt Nam, chương trình giáo dục môi trường được triển khai trong cácbậc học; từ mầm non cho đến đại học Đối với chương giáo dục BVMT cho họcsinh THPT cần tập trung cụ thể vào mục tiêu sau:
Thứ nhất: hiểu biết bản chất các vấn đề môi trường: tính phức tạp, quan
hệ nhiều mặt, nhiều chiều, tính hữu hạn của tài nguyên thiên nhiên và khả năngchịu tải của môi trường, quan hệ chặt chẽ giữa môi trường và phát triển, giữamôi trường địa phương, vùng, quốc gia với môi trường khu vực và toàn cầu
Thứ hai: nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của các vấn đề môitrường như môt nguồn lực để sống, lao động và phát triển của mỗi cá nhân, cộngđồng quốc gia và quốc tế Từ đó có thái độ, cách cư xử đúng đắn các vấn đề môitrường, xây dựng quan niệm đúng về ý thức trách nhiệm, về giá trị nhân cách đểdần hình thành kỹ năng thu thập dữ liệu và phát triển sự đánh giá thẩm mỹ
Thứ ba: có tri thức, kỹ năng, phương pháp, hành động để nâng cao nănglực lựa chọn phong cách sống, thích hợp với việc xử lý hợp lý và khôn ngoancác nguồn tài nguyên thiên nhiên, có thể tham gia có hiệu quả vào việc phòngngừa và giải quyết các vấn đề môi trường bằng những hành động cụ thể ở nơisinh sống, học tập
Ngoài mục tiêu trên thì theo qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì việcgiáo dục cần tuân theo các nguyên tắc sau:
Một là, giáo dục BVMT không phải là ghép thêm vào chương trình môn
học như một bộ môn riêng biệt hay một chủ đề nghiên cứu mà nó là một hướnghội nhập vào chương trình Giáo dục BVMT là cách tiếp cận xuyên bộ môn
Hai là, mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục phải phù hợp với
mục tiêu đào tạo của cấp học, góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo của cấp hoc
Trang 32Ba là, giáo dục BVMT phải trang bị cho học sinh một hệ thống kiến thức
tương đối đầy đủ về môi trường và kỹ năng BVMT, phù hợp với tâm lý lứa tuổi
Hệ thống kiến thức và kỹ năng được triển khai qua các môn học và các hoạtđộng theo hướng tích hợp nội dung qua các môn học, thông qua chương trìnhdạy học chính khóa và các hoạt động ngoại khóa, đặc biệt coi việc coi trong việcđưa vào các chương trình Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Bốn là, nội dung giáo dục BVMT phải chú ý khai thác tình hình thực tế
môi trường của từng địa phương
Năm là, nội dung và phương pháp giáo dục BVMT phải chú trọng thực
hành, hình thành các kỹ năng, phương pháp hành động cụ thể để học sinh có thểtham gia có hiệu quả vào các hoạt động BVMT của địa phương, của đất nướcphù hợp với độ tuổi
Sáu là, cách tiếp cận cơ bản của giáo dục BVMT là: Giáo dục về môi
trường, trong môi trường và vì môi trường, đặc biệt là giáo dục vì môi trường.Coi đó là thước đo cơ bản hiệu quả của giáo dục BVMT
Bảy là, phương pháp giáo dục BVMT nhằm tạo cho người học chủ động
tham gia vào quá trình tham gia vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho học sinhphát hiện các vấn đề môi trường và tìm cách giải quyết vấn đề dưới sự tổ chức
và hướng dẫn của giáo viên
Tám là, tận dụng các cơ hội để giáo dục BVMT nhưng phải đảm bảo cơ
bản kiến thức của môn học, tính logic của nội dung, không làm quá tải lượngkiến thức và tăng thời gian của bài học
Việc giáo dục ý thức BVMT cho học sinh đặc biệt là học sinh THPTkhông phải là chủ để mới Tuy nhiên, nó là nghệ thuật, là kỹ năng riêng của mỗithầy cô giáo, nhưng đích đến cuối cùng là hiệu quả của việc giáo dục Vì vậy,tùy vào đặc điểm của từng vùng, từng nơi mà có cách giáo dục khác nhau miễnsao đem lại hiệu quả tốt nhất
Trang 331.1.1.6 Vai trò của ý thức đối với bảo vệ môi trường
Trong lịch sử, những thế hệ trước đây đã không nhận thức hết vai trò, ýnghĩa của môi trường đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội Vì vậy, ngay từđầu, họ đã không có các biện pháp cần thiết để có thể bảo vệ môi trường sốngmột cách có hiệu quả Đó là nguyên nhân sâu xa của tình trạng ô nhiễm môitrường hiện nay Như vậy, nếu như con người chưa có được nhận thức đúng đắn
về môi trường và tầm quan trọng của môi trường thì tình trạng ô nhiễm môitrường sẽ ngày càng gia tăng và ngày càng đe dọa đến sự sinh tồn của tất cả cácsinh vật sinh sống trên trái đất
Việc nhận thức đầy đủ và sâu rộng những vấn đề về môi trường của mọithành viên trong xã hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc ngăn ngừa vàgiải quyết những vấn đề ô nhiễm môi trường hiện nay Những kiến thức, sự hiểubiết của các nhà khoa học về môi trường sinh thái, các chủ trương, chính sáchbảo vệ môi trường… chỉ có tác dụng khi chúng được phổ biến, truyền thông vàthấm sâu vào các thành viên trong xã hội Nếu các thành viên của cộng đồng đều
có ý thức đầy đủ, đúng đắn về môi trường, tự giác tham gia giải quyết chúng thì
đó là một đảm bảo hàng đầu, một điều kiện hết sức cơ bản và tiên quyết cho việcgiải quyết có hiệu quả các vấn đề ô nhiễm như hiện nay Muốn làm được đềunày, trước hết cần có sự thay đổi một cách căn bản trong ý thức của mọi người,
về mối quan hệ giữa môi trường sinh thái và hiện đại hoá xã hội Sự thiếu hiểubiết về mối quan hệ này trong xã hội trước đây đã để lại nhiều hậu quả tiêu cựccho môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển kinh tế, hiện đại hoá xã hội
và đến chính con người Cần tạo ra ý thức bảo vệ môi trường cho cả cộng đồngtrong quá trình hiện đại hoá xã hội Khi con người đã ý thức đầy đủ về vai tròcủa môi trường thì sẽ giúp cho cộng đồng có khả năng xử lý tốt hơn những vấn
đề về quan hệ con người - xã hội - tự nhiên trong tất cả các lĩnh vực của đờisống xã hội
Trang 34Vào những năm 70 của thế kỷ XX, những biến đổi của môi trường đã tácđộng đến ý thức của con người Loài người đã nhận thấy rằng, tốc độ phát triểncủa xã hội không còn là vấn đề chính yếu mà sự tồn tại của xã hội và loài ngườiđang bị đe dọa bởi những vấn đề môi trường Sự tác động của môi trường đã bắtđầu thức tỉnh được ý thức của con người Hàng loạt các tổ chức quốc tế về môitrường ra đời và đang hoạt động như: Chương trình môi trường của Liên hợpquốc với gần 150 thành viên, Uỷ ban liên chính phủ về thay đổi khí hậu, Liênminh bảo vệ tài nguyên và thiên nhiên, Cơ quan môi trường toàn cầu, Tổ chứchòa bình xanh, Quỹ quốc tế về bảo vệ thiên nhiên,v.v Sự ra đời và hoạt độngcủa các tổ chức đó cho thấy tính chất cấp bách của vấn đề môi trường đang tănglên; đồng thời, các điều kiện, khả năng và tiền đề mới cho việc tạo lập một tưduy mới, một thái độ ứng xử mới với giới tự nhiên của con người và cộng đồngquốc tế cũng đã bắt đầu xuất hiện.
Ở Việt Nam, tình hình ô nhiễm môi trường hiện nay đã và đang diễn biếnngày càng phức tạp, những thảm họa của môi trường đã tác động đến sự tồn tại
và phát triển kinh tế - xã hội của loài người Vì vậy, các văn bản luật, nghịquyết, nghị định ra đời nhằm thức tỉnh ý thức của người dân như: Văn kiện Đạihội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI, VII, VIII, IX và X, Luật Bảo vệ môitrường năm 2005, Chỉ thị số 29, 36, Nghị quyết số 41 - của Bộ Chính trị , Quyếtđịnh số 1363/QĐ – TTg của Thủ tướng chính phủ, Quyết định số 256/2003/ QĐ,
….việc ban hành Luật bảo vệ môi trường, các Nghị quyết, Chỉ thị cho thấy rằng
ý thức về bảo vệ môi trường của các cấp lãnh đạo đã được nâng lên và điều cầnlàm tiếp theo đó là tác động đến ý thức của người dân trong việc giữ gìn và bảo
vệ môi trường Nếu như trong cộng đồng dân cư đều có ý thức và trách nhiệmtốt về vấn đề này, thì việc bảo vệ môi trường sẽ không còn là vấn đề khó khăncủa đất nước ta
Sau khi Luật Bảo vệ môi trường và các Chỉ thị, Nghị quyết được ban hànhthì “nhận thức về bảo vệ môi trường trong các tầng lớp nhân dân đã được nâng
Trang 35lên; mức độ gia tăng sự ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường đã từng bướcđược hạn chế; công tác bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học đã đạt đượcnhững tiến bộ rõ rệt Những kết quả đó đã tạo tiền đề tốt cho công tác bảo vệmôi trường trong thời gian tới” ( Nghị quyết 41 của Bộ chính trị - 2004) Nhưvậy từ nhận xét trên ta thấy rằng vai trò của ý thức có ý nghĩa rất lớn trong việcbảo vệ môi trường Khi ý thức về bảo vệ môi trường nó ăn sâu vào trong tâmthức thì nó sẽ trở thành niềm tin, và là sức mạnh giúp cá nhân có thể thực hiệntốt vấn đề môi trường Tuy nhiên, hiện nay, vấn đề bảo vệ môi trường chỉ dừnglại ở chổ mọi người chỉ thấy được vai trò và tác động của nó đến cuộc sống củachính mình, họ thấy được điều đó, đồng thời cũng mong muốn bản thân sốngtrong môi trường trong lành Nhưng, bản thân họ chưa biết phải làm gì để bảo vệmôi trường Thực chất, các văn bản của nhà nước, báo đài thậm chí ngành giáodục đang ra sức tìm cách để tác động đến ý thức bảo vệ môi trường của mọingười Tuy nhiên, đây là việc làm cần phải có thời gian thì tác dụng của nó mớiđược phát huy.
Việc bảo vệ môi trường là việc chung của tất cả mọi người, nó không loạitrừ cá nhân nào mà là trách nhiệm chung của toàn nhân loại Nếu từng cá nhânđều có ý thức tốt trong việc bảo vệ môi trường, đồng thời biết hành động nhưthế nào cho phù hợp với môi trường thì nhân loại không phải quá lo lắng về sựgia tăng ô nhiễm của nó như hiện nay
1.1.2 Sự cần thiết phải giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh THPT giai đoạn hiện nay
1.1.2.1 Ý thức bảo vệ môi trường của học sinh THPT.
Hiện nay, việc bảo vệ môi trường đã trở thành vấn đề cấp thiết: sự suythoái tính đa dạng sinh học và sự biến đổi khí hậu do ô nhiễm môi trường cùngnhiều hệ lụy mà con người phải gánh chịu Thực tế đang diễn ra là, cuộc sốngngày càng hiện đại, phát triển, đời sống vật chất của người dân ít nhiều được cảithiện thì tình trạng ô nhiễm môi trường lại có những diễn biến phức tạp Ở nông
Trang 36thôn cũng như thành thị, miền núi cũng như miền biển, nước và không khí đều
bị đe dọa về sự ô nhiễm Theo các nguồn tài liệu của các tổ chức bảo vệ môitrường, ở nước ta, 70% các dòng sông, 45% vùng ngập nước, 40% bãi biển đã bị
ô nhiễm, huỷ hoại về môi trường Cùng với đó, tình trạng nước biển xâm nhậpvào đất liền; đất trống, đồi núi trọc và sự suy thóai các nguồn gien động thực vậtđang có chiều hướng gia tăng là hệ quả của nạn chặt phá rừng bừa bãi Mặc dùcác ngành chức năng ra sức tìm cách khắc phục nhưng, nhìn chung số rừng đượcphục hồi không bù lại được diện tích rừng đã bị tàn phá Tình trạng phá rừngvẫn diễn ra, những cánh rừng, bao gồm cả rừng phòng hộ bị triệt hạ, không chỉ
gỗ, lâm sản bị khai thác đến cạn kiệt, không những cuộc sống các loài động vậthoang dã bị đe doạ mà còn gây ra lũ lụt, hạn hán Thành phố bị ô nhiễm vì khói,bụi, rác, nước bẩn, tiếng ồn, tình hình môi trường ở các vùng nông thôn cũng bị
ô nhiễm nghiêm trọng Theo số liệu điều tra của các tổ chức môi trường, có đếngần 70% các làng nghề ở nông thôn đang đứng trước nguy cơ ô nhiễm nghiêmtrọng, đặc biệt là các làng nghề sản xuất tiểu thủ công nghiệp, các xưởng sảnxuất thực phẩm, hàng ăn…
Đề cập đến sự tàn phá không thương tiếc đối với môi trường trong quátrình phát triển không bền vững Trong những năm gần đây, nước ta xuất hiệnnhững căn bệnh chết người đặc biệt là bệnh ung thư Với những nghiên cứubước đầu, các nhà khoa học đã tìm ra mối liên hệ nhân quả giữa tình trạng ônhiễm môi trường sống, nhất là ô nhiễm đất, nguồn nước, không khí đã tạo ranhững tác nhân dẫn đến căn bệnh nan y này
Bảo vệ môi trường hơn bao giờ hết đã trở thành nhiệm vụ cấp bách khôngcủa riêng ai Hiện nay, việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinhTHPT đã được Bộ giáo dục triển khai bằng cách tích hợp vào các môn học như:Văn, Sử, Địa, Giáo dục công dân, Sinh học, Kỹ thuật và các buổi sinh hoạtngoại khóa Điều đó đã tác động ít nhiều đến ý thức bảo vệ môi trường của các
em học sinh Tuy nhiên, ở một số trường THPT thì công tác này chưa thực sự
Trang 37được chú trọng đúng mức Vì vậy, ý thức bảo vệ môi trường vì thế chưa hìnhthành rõ nét trong tầng lớp học sinh, sinh viên và thậm chí cả ở một số giáo viên.
Thực trạng đang diễn ra là một số nơi, cơ sở vật chất được trang bị đầy đủtuy nhiên, cảnh quan môi trường ở các đơn vị trường học thì bị ô nhiễm nghiêmtrọng Tình trạng trường học ít cây xanh hoặc không có cây xanh vẫn còn phổbiến; học sinh vứt rác bừa bãi, hút thuốc lá khi đến trường vẫn còn, xung quanhtrường học vẫn nhìn thấy bọc nylon, hộp nhựa vứt khắp nơi Những điểm côngcộng ở gần các trường học: bến xe, chợ…hiện tượng xả rác bừa bãi Tình trạng
sử dụng điện, nước lãng phí trong nhà trường cũng đã trở nên khá phổ biến,thậm chí ở một số trường học các em không tự làm vệ sinh mà tự bỏ tiền ra thuêmướn lao công của trường vệ sinh phòng học cho lớp mình Điều đó cho thấy ýthức bảo vệ môi trường chưa thực sự thấm sâu vào trong nếp sống, và suy nghĩcủa các em, tư tưởng yêu thiên nhiên, yêu lao động trong các em chưa thực sự
đủ lớn Đồng thời, qua đó cho ta thấy ý thức bảo vệ môi trường và công tác giáodục bảo vệ môi trường của lãnh đạo nhà trường, của giáo viên ở nơi đây chưađược chú trọng Trong khi một số quốc gia phát triển đã có hẳn môn học riêng
về môi trường thì ở nước ta, ngoại trừ các môn học chuyên ngành về môi trường
ở bậc cao đẳng, đại học thì bảo vệ môi trường chưa được xem là một môn học
mà ở các cấp học phổ thông mới chỉ được lồng ghép trong các môn Sinh học,Giáo dục công dân, Địa lý, Văn, Công nghệ và một số tiết học ngoại khoá Một
số cuộc thi bảo vệ môi trường đã được tổ chức trong trường học song, nhìnchung, vẫn còn mang nặng tính hình thức
Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong nhà trường là một trong nhữngbiện pháp quan trọng, góp phần xây dựng môi trường học đường thân thiện,cũng như mang lại những lợi ích trước mắt và lâu dài
Trang 381.1.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh THPT.
Môi trường bị ô nhiễm đe dọa trực tiếp đến sự phát triển kinh tế xã hội và
sự tồn tại của loài người Các nhà khoa học cho rằng một trong những nguyênnhân là do sự thiếu hiểu biết, thiếu ý thức của con người
Để khắc phục sự suy thoái và ô nhiễm môi trường thì một trong nhữnggiải pháp hữu hiệu nhất là giáo dục ý thức cho mọi người Đây là việc làm mangtính chất thường xuyên và lâu dài tốn nhiều công sức và tiền của Để làm đượcđiều đó có một lực lượng quan trọng và cần thiết là tầng lớp học sinh, sinh viên
Hiện nay, việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường đã được Bộ Giáo dục
và Đạo tạo triển khai trong tất cả các bậc học Điều này cho thấy việc bảo vệmôi trường đã trở nên rất cấp bách và lực lượng học sinh, sinh viên giữ một vaitrò nhất định đối với công tác này Bởi vì đây là những người có đủ trình độ vànăng lực trong việc thực hiện tuyên truyền, vận động gia đình, người thân, bạn
bè thực hiện tốt việc BVMT, cứ như vậy sức ảnh hưởng và lan tỏa trong cộngđồng dân cư sẽ ngày to lớn góp phần tích cực vào sự nghiệp chung của nhânloại Huyện Tân Hồng hiện có 15.810 học sinh ở các bậc học chiếm 18.4% trong
đó học sinh THPT là 2033 em chiếm 2.4% so với 86.137 số dân thực tế (số liệuthống kê của Sở giáo dục và Đào tạo Đồng Tháp năm 2012) Như vậy đây cũng
là lực lượng khá đông đảo Ngoài bản thân các em biết giữ gìn vệ sinh, BVMTcác em còn là những tuyên truyền viên nhỏ tuổi đối với gia đình, bạn bè, đồngthời là người anh, người chị gương mẫu để các em nhỏ noi theo Chúng tôi tinrằng đối tượng này sẽ tạo nên những chuyển biến tích cực trong việc bảo vệ môitrường của huyện nhà trong thời gian tới Vì vậy, chúng ta cần phải tìm ra nhữnggiải pháp thích hợp để giáo dục ý thức BVMT cho những đối tượng này Vàngay từ bây giờ chúng ta phải hành động, phải làm cho các em học sinh thấyđược vai trò của môi trường, giáo dục cho các em để các em biết yêu quý và trân
Trang 39trọng đối với môi trường, xem bản thân là thành phần của môi trường, từ đógiúp các em không những nghĩ mà còn hành động vì môi trường.
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh THPT ở huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.
1.2.1 Khái quát về các trường THPT trên địa bàn huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp
1.2.1.1 Điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế- xã hội của huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp
Tân Hồng là một huyện vùng sâu, vùng xa ở phía Bắc của tỉnh Đồng Táp,được tách ra từ huyện Hồng Ngự vào ngày 01 tháng 06 năm 1989 Huyện TânHồng cách thành phố Cao Lãnh trung tâm của tỉnh là 75km Những ngày mớithành lập, Tân Hồng khởi đầu từ ba không: không đường, không trường, khôngtrạm Điều đó đã nói lên những khó khăn, thách thức của một huyện vùng sâu –biên giới
Vị trí địa lý của huyện : Phía Bắc tiếp giáp với huyện Premcho, tỉnhPreyveng (Campuchia), phía Đông tiếp giáp với huyện Tân Hưng (Long An),phía Tây giáp với huyện Hồng Ngự (Đồng Tháp) và phía Nam giáp với huyệnTam Nông (Đồng Tháp) Tân Hồng có 08 xã và 01 thị trấn, trong đó có 03 xãbiên giới tiếp giáp với các nước bạn Camphuchia thuộc diện khu vực kinh tế đặcbiệt khó khăn ( xã Bình Phú, Tân Hộ Cơ và Thông Bình) Tân Hồng có diện tích
tự nhiên là 291,5km2 , là huyện thuộc vùng trũng ngập lụt sâu của tỉnh với kênh,rạch chằng chịt có nhiều sông rạch chạy qua Nguồn nước nơi đây phụ thuộctrực tiếp vào nguồn nước từ sông Cửu Long, hàng năm đều có lũ lụt từ thượngnguồn sông Mê Kông đỗ về nên giao thông đi lại khó khăn, đặc việt là vào mùamưa, lũ Từ đó khái niệm sống chung với lũ được hình thành Điều này nói lên ýthức về việc phải tạo sự ổn định và phát triển, khẳng định thêm ý chí đoàn kết vàquyết tâm của Đảng, chính quyền và nhân dân huyện Tân Hồng
Trang 40Dân số của huyện năm 2010 là 86.137 người Mật độ dân số bình quân là
295 người/ km2 (làm tròn số), phân bố không đồng đều và chủ yếu tập trung ởthị trấn và theo các kênh rạch Dân cư sống chủ yếu bằng nghề nông Trên địabàn Huyện có ba dân tộc sinh sống gồm: dan tộc Kinh, hoa và Khơme Đa số làdân tộc sinh Có 05 tôn giáo chính: Phật giáo, Hòa hảo, Công giáo, Tin lành,Cao đài, Phật giáo Hòa hảo Người dân Tân Hồng nhiệt tình, cởi mở và mếnkhách Tân Hồng có 02 di tích lịch sử và văn hóa cấp Quốc gia và 01 cửa khẩuDinh Bà nằm ở xã Tân Hộ Cơ, là chiến lược quan trọng trong việc phát triển vềkinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng vững chắc
Về kinh tế: kinh tế chủ yếu của huyện là Nông Nghiệp và nuôi trồng thủysản
Về thương mại dịch vụ: thương mại dịch vụ của Huyện còn khá khiêmtốn Lãnh đạo Huyện và lãnh đạo của tỉnh Đồng Tháp, đang kêu gọi các nhà đầu
tư, đầu tư vào Khu kinh tế cửa khẩu Quốc Tế Dinh Bà của huyện Ngòai ra,huyện cũng đang hình thành khu công nghiệp Tân Thành B, ưu tiên cho sản xuấtthức ăn gia súc và sản xuất công nghiệp
Tân Hồng có nguồn nhân lực dồi dào, đất đai màu mỡ do lượng phù sa từsông Cửu Long bồi đấp hàng năm nên rất thuận lợi cho việc phát triển nôngnghiệp, chủ yếu là cây lúa Huyện Tân Hồng có mối quan hệ với bên ngoài rấtthuận lợi thông qua các tuyến giao thông chính : quốc lộ N1, quốc lộ 30, đường
ĐT 102 nối liền với đường Xuyên Á đi qua cửa khẩu quốc tế Dinh Bà, đường
ĐT 842 và ĐT 843 nối liền trung tâm huyện với các huyện, thị, thành phố trongtỉnh và với tỉnh Long An, đường thuỷ Hồng Ngự- Tân Hồng- Tân Hưng (LongAn) nối liền sông Tiền (sông Cửu Long) với sông Vàm Cỏ Tây,…đó là nhữngnguồn lực tạo nên sự phát triển về kinh tế - văn hoá- xã hội cho huyện TânHồng
Nhìn chung, cơ cấu kinh tế về sản xuất nông nghiệp còn cao, đây cũng làđiểm bất cập ảnh hưởng đến nền kinh tế của huyện vì giá cả và đầu ra của sản