Trong thời gian qua, ngoài sự nổ lực của bản thân, đề tài luận văn đợc hoàn thành nhờ sự gợi ý và hớng dẫn tận tình, chu đáo của Thầy giáo: PGS Hoàng Văn Lân; Luận văn còn có sự giúp đỡ
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng Đại Học Vinh
Trang 2Trong thời gian qua, ngoài sự nổ lực của bản thân, đề tài luận văn đợc hoàn thành nhờ sự gợi ý và hớng dẫn tận tình, chu đáo của Thầy giáo: PGS Hoàng Văn Lân;
Luận văn còn có sự giúp đỡ về tài liệu và những ý kiến góp ý của các thầy giáo thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam; khoa sau
Đại học; quý thầy cô giáo khoa Lịch sử trờng Đại học Vinh, các
đồng chí lãnh đạo huyện Đức Thọ, các vị bô lão, tộc trởng các dòng
họ khoa bảng tại huyện Đức Thọ.
Xin trân trọng gửi tới quý thầy cô giáo, các đồng chí lãnh đạo huyện, các vị bô lão, tộc trởng lời biết ơn chân thành và sâu sắc của tác giả.
Tuy có nhiều cố gắng trong su tầm, xử lí tài liệu, biên soạn, song luận văn chắc chắn còn nhiều thiếu sót Chúng tôi rất mong nhận đợc những góp ý của các thầy cô giáo và bạn đọc.
Xin cảm ơn!
Vinh, tháng 12 năm 2006
Tác giả:
Võ Thị Tố Nh
Mục lục
Trang
A Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài……… ……… 4
2 Lịch sử vấn đề……… … 5
3 Phơng pháp nghiên cứu……… ……… 6
4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu……… … 7
5 Đóng góp của luận văn……… … ……… 7
Trang 36 Bố cục của luận văn……… ………… 8
B Nội dung.
Chơng 1 Tình hình giáo dục và khoa cử của đức thọ từ thế kỷ
XV đến cuối thế kỷ XVIII.
1.1 Đức thọ - điều kiện tự nhiên, con ngời và truyền thống
lịch sử văn hóa……… ……… 9
1.1.1 Địa lý tự nhiên:……….9
1.1.2 Duyên cách địa lí và tên gọi qua các thời kỳ ………… ………… .13
1.1.3 Truyền thống Lịch sử, Văn hóa của c dân Đức Thọ ……… …… .26
1 2 Giáo dục và khoa cử Đức Thọ từ thế kỷ XV đến cuối thế
đến cuối thế kỷ XVIII ……… 41
Chơng 2 Giáo dục và khoa cử Đức Thọ dới thời Nguyễn (1802 – 1919) 2.1 Khái quát những chính sách giáo dục và khoa cử thời
Nguyễn……… 62
2.2 Tình hình giáo dục và khoa cử của Đức Thọ dới thời Nguyễn 67
Trang 42.2.1 Tình hình giáo dục Nho học của Đức Thọ từ 1802 đến 1919……….67
2.2.2 Kết quả khoa cử của sĩ tử Đức Thọ từ 1802 đến 1919……… 71
2.2.2.1 Kết quả thi Hội, thi Đình……… ……… …… 71
2.2.2.2 Kết quả thi Hơng………78
Chơng 3 Đóng góp của tầng lớp Nho sĩ Đức Thọ đối với quốc gia quân chủ Đại Việt 3.1 Củng cố chế độ phong kiến……… 101
3.2 Góp phần cổ vũ Nho học phát triển……… ……… 109
3.3 Góp phần xây dựng phát triển Văn hoá nớc nhà……… 113
3.3.1 Vai trò của kẻ sĩ trong các làng xã……… 113
3.3.2 Những Nho sĩ tiêu biểu có nhiều đóng góp cho sự phát triển Văn hoá nớc nhà………117
3.4 Kế thừa và phát huy truyền thống yêu nớc chống ngoại xâm……… ……… 122
C Kết luận 127
Tài liệu tham khảo 132
Phụ lục 138
Trang 5a Mở Đầu:
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Thời Bắc thuộc Nho giáo đã vào Việt Nam, cùng đó là nền giáo dục Nho
học theo lối trờng lớp, nhng cho đến năm 1075 trở đi, giáo dục khoa cử Nho học đãtrở thành con đờng tuyển chọn nhân tài giúp việc nớc Dới các triều đại phong kiếnViệt Nam, các triều vua đã không ngừng tổ chức và cải thiện chế độ khoa cử ngàymột chặt chẽ Đó là một chính sách đúng đắn và hiệu quả, nó đã giúp cho các triềuvua có một đội ngũ trung thần gúp việc Triều vua nào chọn đợc lắm ngời tài giỏi vàtrọng dụng ngời tài thì triều đó thịnh, điều đó cũng nói lên đợc ý nghĩa của hoạt
động giáo dục này Nhng lối học xa có những hạn chế nhất định nh nội dung vàcách thức đào tạo… tuy vậy nó đã mở ra một con đờng cho nhân tài Việt Nam xâydựng quốc gia dân tộc thịnh vợng, ngang tầm với nhiều quốc gia dân tộc bấy giờ
1.2 Là một vùng quê thuộc vùng đất Nghệ – Tĩnh, Hà Tĩnh là nơi học vấn
khoa cử phát triển Thời nào, địa phơng nào cũng có ngời học vấn, khoa giáp đỗ đạt,ngời làm tôi có tiếng tốt giúp nớc, có đức hiền giúp dân Và nổi bật nhất trong lịch
sử giáo dục Hà tĩnh lúc bấy giờ là huyện Đức Thọ, con ngời nơi đây đã xem hoạt
động giáo dục Nho học nh là một hoạt động xã hội không thể thiếu đợc hàng thế kỷ
Với truyền thống hiếu học dù trong hoàn cảnh khó khăn nhất, sỹ tử Đức Thọ
đã vơn lên trong học tập, dành lấy kết quả cao trong các kỳ khoa cử, với tên tuổi màcả nớc biết tới nh Đào Tiêu, Nguyễn Thiếp, Nguyễn Biểu, Phan Đình Phùng, HoàngXuân Hãn và hàng trăm con ngời khác Những con ngời ấy đã có nhiều đóng góp
đối với quê hơng đất nớc trên nhiều lĩnh vực nh chính trị, t tởng, văn hoá v.v làmphong phú thêm nền Văn hiến lâu đời của dân tộc Việt Nam Ngày nay ngời dân
Đức Thọ vẫn không ngừng kế thừa và phát huy truyền thống đó
Bởi vậy việc tìm hiểu về Giáo dục và khoa cử Nho học của sỹ tử Đức Thọ làmột điều bổ ích và lý thú, nó không chỉ giúp chúng ta hiểu phần nào về giáo dục và
Trang 6khoa cử Việt Nam thời Phong kiến, mà cụ thể hơn là truyền thống hiếu học trên quêhơng Đức Thọ.
1.3 Với tấm lòng trân trọng và niềm tự hào về xứ Nghệ, về “ ông Đồ nghệ”,
về La sơn - Đức Thọ trong trang sử quê hơng, tôi mạnh dạn chọn đề tài : “Giáo dục
và khoa cử Đức Thọ dới chế độ phong kiến Việt Nam từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XX
“ làm luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ, chuyên nghành Lịch sử Việt Nam, mong giớithiệu quá trình hình thành và phát triển giáo dục khoa cử ở La sơn - Đức Thọ;Nguyên nhân nào giúp sĩ tử Đức Thọ dành đợc kết quả cao trong khoa cử, và duy trìtruyền thống hiếu học đó cho đến ngày nay Và đóng góp của sĩ tử Đức Thọ trên cáclĩnh vực Kinh tế, t tởng, văn hóa, Chính trị đối với quốc gia dân tộc, đối với làng xã
Đặc biệt cũng qua công trình nghiên cứu này chúng tôi mong làm sống lạitruyền thống hiếu học của ngời dân nơi đây, để con cháu lấy làm niềm tự hào vàhãnh diện Đồng thời cùng rút ra những hạn chế và điểm yếu của nền giáo dục đơngthời, đa ra phơng pháp giáo dục hiệu quả nhất cho nền giáo dục ngày nay
Do còn nhiều hạn chế về kinh nghiệm nghiên cứu, khai thác nguồn tài liệunên bản thân sẽ không tránh khỏi thiếu sót Rất mong đợc sự đóng góp ý kiến củaHội đồng khoa học, quý thầy cô giáo và đồng nghiệp để tôi tiếp tục tu chỉnh, bổsung cho đề tài này
2 Lịch sử vấn đề.
Vấn đề giáo dục và khoa cử Đức Thọ dới Xã hội phong kiến đã có một số tácphẩm cùng một số công trình nghiên cứu đề cập đến, song cha có một công trìnhchuyên sâu tìm hiểu về sự nghiệp Giáo dục và thành quả khoa cử của sĩ tử Đức Thọtrong giai đoạn từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XX
Nhng đã có những tác phẩm đề cập tới các nhà khoa bảng Đức Thọ – Hàtĩnh, tiêu biểu là:
Sách Đăng khoa lục Việt nam, tìm hiểu những ngời đỗ đạt trong cả nớc quacác kỳ thi dới xã hội phong kiến (1076 – 1919) trong đó các sĩ tử Đức Thọ Nhngcông trình này cha nghiên cứu cách tổ chức dạy học, nội dung học tập của Đức Thọcũng nh trong cả nớc
Tác phẩm “ Những ông Nghè, ông Cống triều Nguyễn” là một công trình khácông phu, đã tìm hiểu những ngời đỗ đạt qua các kỳ thi Hơng, thi Hội, thi Đình, vớihơn một nghìn trang đã liệt danh những ngời đỗ đạt trong cả nớc, trong đó có nhữngngời quê hơng La sơn - Đức Thọ, nhng công trình nghiên cứu này chỉ mang tínhchất nh một cuốn từ điển để ngời đọc dễ tra cứu trong giai đoạn lịch sử từ năm 1807
đến năm 1919
Trang 7Công trình nghiên cứu mới nhất là cuốn “ Các nhà khoa bảng Hà tĩnh” củatác giả Thái Kim Đỉnh, tác giả đi sâu vào nghiên cứu và đã tập hợp đợc những néttiểu sử chính yếu nhất của những vị đỗ đạt quê Hà Tĩnh trong các kỳ thi qua cáctriều đại phong kiến Việt Nam Còn ngiên cứu riêng về La sơn - Đức Thọ trongtruyền thống Nho học Hà Tĩnh thì cha đề cập tới, nhng trong công trình này các nhàkhoa bảng Đức Thọ đã đợc tổng hợp trình tự từ thời Trần cho tới thời Nguyễn Tuyvậy các vị Tú tài và Sinh đồ còn cha đợc thống kê, cần phải bổ sung thiếu sót này.
Ngoài ra một số tác phẩm cũng có nhắc tới sỹ tử Đức Thọ đậu đạt từ thế kỷ
XV đến đầu thế kỷ XX nh: “ Trạng nguyên – Tiến sỹ – Hơng cống Việt Nam”,
“Khoa cử và giáo dục Việt Nam ”, “Địa chí huyện Đức Thọ”, “Lịch sử giáo dục Hàtĩnh” có nhắc tới sĩ tử Đức Thọ đỗ đạt, trình bày thể lệ thi cử, tuy vậy cha có côngtrình chuyên sâu về giáo dục và khoa cử Đức Thọ trong giai đoạn lịch sử này
Bởi vậy bằng các tài liệu thu thập đợc, đặc biệt là tài liệu gốc, tôi cố gắng táihiện lại bức tranh về Giáo dục và khoa cử ở Đức Thọ với mong muốn góp sức vàoviệc khơi dậy truyền thống hiếu học phát triển thành Đạo học trên mảnh đất Lịch sửnày, và đồng thời gửi tới bạn đọc một cái nhìn bao quát về giáo dục và khoa cử ở
Đức Thọ dới các triều đại phong kiến quân chủ Việt Nam từ thế kỷ XV đến đầu thế
kỷ XX trong bối cảnh chung của Xã hội Việt Nam lúc bấy giờ
3 Phơng pháp nghiên cứu:
Để giải quyết những nội dung mà đề tài đặt ra chúng tôi đã sử dụng phơngpháp Lôgic, phơng pháp thống kê, phơng pháp phân tích để xử lý những loại t liệugốc nh văn bia, gia phả của các dòng họ khoa bảng còn lu giữ, cùng các bộ sách,những công trình nghiên cứu về giáo dục khoa cử Việt Nam nói chung, Hà tĩnh nóiriêng, những bài viết đăng trên Tạp chí Văn Hoá Hà tĩnh từ năm 1996 trở lại nay
Chúng tôi tiến hành điền dã, gặp gỡ các nhân chứng lịch sử để bổ sung t liệu
Để nghiên cứu đề tài này chúng tôi sử dụng phơng pháp luận sử học Mác xít
và t tởng Hồ Chí Minh làm sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình thực hiện nhằm tái dựnglại bức tranh sinh động, phong phú trong lĩnh vực giáo dục và khoa cử của sỹ tử ĐứcThọ từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XX một cách có hệ thống và khoa học nhất
4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu:
Là một vùng quê Việt Nam trải qua bao thăng trầm của lịch sử, Đức Thọ vẫngiữ cho mình những truyền thống văn hoá tốt đẹp nh: truyền thống yêu nớc chốnggiặc ngoại xâm, đoàn kết, hiếu học, tơng thân tơng ái v.v trong đó tiêu biểu nhất làtruyền thống hiếu học, tôn s trọng đạo của ngời dân nơi đây đã đợc kế thừa và pháthuy hàng thế kỷ Và với đề tài này tôi tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:
Trang 8Tình hình giáo dục khoa cử Nho học ở Đức Thọ từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷXX.
Các nhà khoa bảng quê Đức Thọ từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XX
Các dòng họ khoa bảng, làng khoa bảng ở Đức Thọ
Chính sách khuyến học, nội dung học tập, thi cử, và hệ thống trờng học ở
Đức Thọ
Truyền thống học tập đợc phát huy và kế thừa đến ngày nay
Đóng góp của sỷ tử Đức Thọ trên các lĩnh vực đối với quốc gia dân tộc, vớilàng xã
5 Đóng góp của lận văn:
- Luận văn “Giáo dục và khoa cử Đức Thọ (Hà Tĩnh) từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XX “ giúp bạn đọc hệ thống một cách toàn diện về quá trình hình thành và
phát triển chế độ giáo dục và khoa cử Đức Thọ từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XX
- Đánh giá thành tựu khoa cử của sĩ tử Đức Thọ trong giai đọan này
- Làm rõ nguyên nhân nào giúp sĩ tử Đức Thọ đạt thành tích cao trong khoacử
- Khơi dậy truyền thống hiếu học, tôn s trọng đạo, niềm tự hào của ngời dân
Đức Thọ trải qua hàng thế kỷ
- Luận văn này sẻ còn là tài liệu tham khảo để ngời đọc rút ra những điểmmạnh, điểm hạn chế của nền Giáo dục khoa cử Nho học thời phong kiến, suy ngẫmnhững chủ trơng, biện pháp về việc khuyến học, khuyến tài ở quê hơng Đức Thọ, noigơng ngời xa trong việc đào tạo nhân tài, vợt khó học tập, và hơn thế nữa là cónhững chính sách giáo dục ngày nay cho phù hợp
Trang 9B Nội dung.
Chơng 1 Tình hình giáo dục và khoa cử của Đức Thọ từ thế kỷ
XV đến cuối thế kỷ XVIII.
1.1 Đức Thọ - Điều kiện tự nhiên, con ngời và truyền thống lịch sử văn hóa 1.1.1 Điều kiện tự nhiên:
Đức Thọ là một huyện nằm ở phía Bắc tỉnh Hà Tĩnh, có vị trí tự nhiên thuận lợi
và bậc nhất tỉnh: Hệ thống sông ngòi thuận lợi cho việc tới tiêu, phát triển kinh tế
và giao thông đờng thuỷ Các con sông lớn nhỏ chằng chịt tựa nh gân lá, trên cácngã đờng cứ dăm bảy cây số lại gặp một cây cầu hoặc một bến đò
Sông Ngàn Sâu (dài 25km, chảy về hơng Khê đổ về qua 10 xã của huyện),
Sông Ngàn Phố (chảy từ Hơng Sơn về Đức Thọ qua địa phận xã Trờng Sơn), sôngNgàn Sâu và sông Ngàn Phố hợp nhau lại tại ngã ba sông Linh Cảm tạo thành mộtcon sông lớn gọi là sông La chảy qua địa phận chín xã của huyện Đức Thọ vớichiều dài 12 km Sông La gặp sông Lam tại ngã Ba phủ nhập với sông cả tiếp tụcchảy qua 5 xã: Đức Trung, Đức Quang, Đức Châu, Đức La, Đức Lĩnh xuôi về Vinh -Bến Thuỷ đổ ra cửa Hội
Sông La là một con sông không nguồn cũng không cửa, từ xa xa vẫn đợc sử
sách ghi nhận là một trong những con sông lớn nổi tiếng danh thắng một Châu Về
địa danh, chữ "La" trong các sách đều chép thống nhất một từ La là Lụa, hẳn nó đợcgọi tên theo hình ảnh mợt mà mềm mại theo dòng chảy của dòng sông ấy Hàngnăm sông La không quên bồi đắp cho đồng ruộng huyện này những lớp phù sa màu
mỡ, tạo nên những cánh đồng phì nhiêu đạt mức nhất nhì trong tỉnh
"Ai về Đức Thọ thì về
Nớc trong gạo trắng dễ bề làm ăn."
Câu ca không chỉ phản ánh đơn thuần về đời sống văn hoá mà chúng đợc chắtlọc từ những yếu tố thuận lợi về ruộng đồng, sông nớc của huyện này
Ngoài ra Đức Thọ còn có những sông nhỏ không kém phần quan trọng trongviệc phát triển kinh tế của huyện Và cũng chính từ các con sông nhỏ, lớn này, ng ờidân Đức Thọ tận dụng khai thác nguồn thực phẩm phong phú với các đặc sản nhTôm, Cá, Hến, Trai
Sông Mênh - Minh Giang nối với sông Lam ở cuối xã Đức Vịnh, đến ngã ba
Mênh, qua cống Trung Lơng đi các xã Yên Hồ, Đức Thịnh, Thái Yên (Đức Thọ)
Trang 10Sông Hói Trúc (Trúc Khê) từ vùng chợ giấy (Đức Dũng) xuống, chảy qua các
xã Đức Lâm, Trung Lễ, Đức Thuỷ, đến Thái Yên thì đổ vào sông Mênh (thờng gọi
là "kênh nhà Lê")
Sông Lam còn gọi là sông Cả, chảy theo hớng Tây Bắc, Đông Nam nhng
đến chỗ hợp lu với sông La thì sông Lam chuyển đổi dòng chảy theo hớng Tây Nam
- Đông Bắc Qua eo Bến Thuỷ, sông tách thành 2 dòng, bồi đắp lên thành một bãinổi giữa dòng sông, có tên Cồn Mộc, tức thôn Ngọc Lâm sau này
Thiên nhiên u đãi cho Đức Thọ không chỉ có sông mà còn có núi, đó là dãy
núi Thiên Nhẫn chạy từ bến Tam Soa đến Nam Đàn, núi Trà Sơn từ Linh Cảm kéo
dài đến giáp hai huyện Can Lộc và Hơng Khê Ngoài hai dãy núi trên, ở một số xãcòn có đồi núi thấp xen kẻ với đồng ruộng Chính hệ thống đồi núi này đã tạo chonền kinh tế Đức Thọ phát triển đa dạng, đặc biệt là sự kết hợp đa dạng giữa nôngnghiệp trồng lúa với chăn nuôi đại gia súc, trồng cây công nghiệp trồng rừng Dãy núi Thiên Nhẫn chạy dài trên địa phận 4 huyện: Thanh Chơng, Nam Đàn,
Đức Thọ và Hơng Sơn Bùi Dơng Lịch đã tả về vị trí và hình tợng của ngọn núi này
"Đất nối ba sông hiểm
Núi nh muôn ngựa phi"
Dãy Trà Sơn khởi đầu từ ngọn Tùng Lĩnh, đi theo hớng Đông Nam - Tây Bắc
kéo dài trên địa phận 5 huyện từ Đức Thọ cho tới Can Lộc, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh,nối với Đèo Ngang Trên địa bàn Đức Thọ, Trà Sơn trải dài theo địa phận 10 xã và ởmỗi xã có những tên gọi khác nhau
Núi Thông, tên Hán Việt là Tùng Lĩnh Khi có ngôi Đền thờ Đinh Lễ đợc
dựng trên núi, núi còn có tên gọi là núi Linh Cảm, theo thần hiệu đợc phong là LinhCảm đại vơng Núi thuộc địa phận làng Việt Yên, nay là xã Tùng ảnh Dới chân núithông, trớc bến đò Tam Soa, thiên nhiên điểm xuyết thêm hai cảnh đẹp hiếm thấy:
Ghềnh đá Tam Soa: Về phía Tây Nam chân núi, một mạch đá đi chìm phóng
xuống dòng sông Các sách địa chí đều gọi đó là "Tam Soa Thạch" - ghềnh đá TamSoa nh một thi đàn"
Bài bồi Ngu Chữ: Về phía Đông Bắc chân núi, bên ngã ba sông, hai nguồn
n-ớc Sâu - Phố gặp nhau tại sông La, đẩy cát bồi tích thành một bãi nổi hình thoi dọcsông, dài khoảng 1.5km, đoạn giữa lòng phình rộng khoảng 400m
Trong lịch sử đấu tranh, Tùng Lĩnh có vị trí quan trọng, nhng thời gian khônglàm thay đổi dáng vẻ của ngọn núi này Nhà thơ Phan Anh ca ngợi rằng:
Trang 11Trải qua bao cuộc bể dâu.
“
Tùng Mai vẫn giữ sắc màu Tùng - Mai"
Núi Tàng: Dới chân núi là làng Kẻ Tùng, tên gọi của núi hẳn là bởi thế Núi
còn có tên là núi Tợng, bởi hình núi giống con voi đang phủ phục bên bờ sông Trênnúi có ngôi đền thờ vị công thần, là vị thần tổ lập ra làng này Núi Tàng đợc gắn với
sự nghiệp vẻ vang của hai vị trạng nguyên Sử Hy Nhan và Sử Đức Hy: Hai cha concùng đỗ trạng nguyên và đợc nhà vua ban cho họ đầu tiên ở nớc ta, sau đó hai quantrạng tự mình đi lập ấp
Núi Vua: Trớc khi bà Hoàng Bạch Ngọc về đây, núi này cha có tên Mấy trăm
ngời theo bà vào đây khai hoang kiếm sống quen gọi bà là "vua bà" Thuận miệngngời ta cũng gọi núi này là núi Vua Bà
Núi Am: Hẳn trên núi có sẵn ngôi chùa cổ, nên núi có tên gọi nh thế Núi
Am có đỉnh chóp cao, mái núi dốc nên có nhiều khe, khe tạo ra một hệ thống hồ, tạo
ra một cảnh quan sầm uất, thoáng mát
"Róc rách giọng đàn ngâm dới suối Lô nhô đá bậc nổi trên dòng"
(Vịnh Cảnh khe Bung)
Núi Nê đợc ca ngợi bởi hai câu đối:
"Cao nhạc lửng lờ mây, vững yên miếu điện Thâm Giang cuồn cuộn nớc, thịnh vợng triều đờng".
(Võ Hồng Duy dịch)Sách Yên Hội thôn chí coi nó là "nhất phợng chi vọng", một ngọn núi tiêubiểu, mục tiêu nhìn ngắm cho cả một vùng
Bên cạnh những thuận lợi về điều kiện tự nhiên nh vậy Đức Thọ còn có nhữngkhó khăn nhất định Nằm trong vùng tiểu khí hậu khu vực Vinh - Bến Thuỷ, ĐứcThọ hàng năm có gió mùa khô hanh, có mùa ma, mùa nắng, mùa khô hanh kéo dài
từ tháng 1 đến tháng 3, tháng có gió Đông bắc Mùa nắng kéo dài từ tháng 4 đếntháng 8 thờng có gió phơn Tây Nam nóng bức, hạn hán kéo dài làm ảnh hởng đếnsản xuất nông nghiệp và chăn nuôi, đến sức khoẻ con ngời Mùa ma thờng kéo dài
từ tháng 9 đến tháng 12, lợng ma cao nhất năm là 2.300 mm, năm thấp nhất là1.400mm, lợng ma trung bình hàng năm là 1.925mm, ngoài ra bão lụt thờng xảy ravào tháng 8, 9, 10 Mỗi khi có lũ lụt, nớc sông dâng lên rất nhanh, lụt úng lan rộng,
Trang 12kéo dài gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp, giao thông vận tải và đời sống củanhân dân."Hây hẩy gió nồm Đông" là luồng gió đa hơi mát từ Đại Dơng vào lục địa,góp phần xua đuổi "cái nóng bức nung ngời" của gió Nam Lào, gió gắt cùng với bãolụt làm ngời ta phải than rằng "Tháng 5 năm tật, tháng 10 mời tật", đúng vậy bởi đây
là vùng có khí hậu khắc nghiệt trong dãy đất miền Trung
Trong điều kiện núi rừng xen kẽ lẫn sông ngòi, và một lợng ma dồi dào trongnăm thì ở Đức Thọ đất đợc dùng vào nông nghiệp là khoảng 9.445ha, bằng 46.55%
đất tự nhiên, đất dùng vào lâm nghiệp 1.807ha, bằng 8.91%; đất chuyên dùng2.352ha, bằng 11.59%; đất thổ c 690ha, bằng 3.40%; và đất cha sử dụng là 5.993 ha,bằng 29.54% tổng số diện tích đất của huyện
Với điều kiện tự nhiên khí hậu đặc trng của dãi đất miền Trung đã tác độngkhông nhỏ tới tính cách ngời dân Đức Thọ, những con ngời cần cù, chịu thơng chịukhó, khắc phục thiên nhiên, vợt qua khó khăn để xây dựng nên một huyện Đức Thọnổi bật trong toàn tỉnh không chỉ về sản xuất mà còn cả về truyền thống vợt khó họcgiỏi, thành tích đỗ đạt cao, danh thơm khắp cả nớc trong suốt chiều dài lịch sử dântộc
1.1.2 Duyên cách địa lí và tên gọi qua các thời kỳ:
Đức Thọ là một huyện nằm ở phía Bắc tỉnh Hà Tĩnh, trên toạ độ từ 18,180 đến18.350 vĩ Bắc, 105.38 đến 105.450 kinh Đông, cách thị xã Hà Tĩnh 35km về địa giới.Phía Bắc giáp hai huyện Hng Nguyên và Nam Đàn (tỉnh Nghệ An), phía Đông giápthị xã Hồng Lĩnh, phía Nam giáp hai huyện Can Lộc và Hơng Khê, phía Tây giáphuyện Hơng Sơn
Nằm trong tiến trình dựng nớc và giữ nớc hàng ngàn năm của dân tộc, huyện
Đức Thọ đã có nhiều lần thay đổi tên gọi và ranh giới địa lý Thủa Hùng Vơng dựngnớc huyện Đức Thọ thuộc bộ Cửu Đức, một trong 15 bộ của Văn Lang - Âu Lạc Vào thời kỳ đất nớc ta bị đô hộ, mỗi triều đại phong kiến phơng Bắc, do thiếtchế tổ chức bộ máy cai trị có khác nhau, nên địa giới địa danh các phủ huyện luôn
bị xáo trộn, thay đổi
Mở đầu là quan uý họ Triệu nhà Tần, tiếp đó là Hán, chúng chia cắt nớc ta từ
15 bộ thành 2 quận rồi 3 quận, đem sát nhập với một số quận huyện của Hán ở vùngHoa Nam, quyết biến nớc ta thành "nội thuộc" Tần - Hán" Nớc ta lúc này gồm 3quận: Giao chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam Thời ấy Đức Thọ nằm trong địa phậnhuyện Hàm Hoan, một huyện rộng lớn, bao gồm gần nh toàn bộ phần đất của cả haitỉnh Nghệ Tĩnh, thuộc vào quận Cửu Chân (Cửu Chân gồm 7 huyện: Tứ Phố, CửPhong, Đô Lung, D Phát, Hàm Hoan, Vô Thiết, Vô Biên)
Trang 13Sau cuộc khởi nghĩa của Bà Trng, Bà Triệu, biết không dễ gì "đồng hoá nổidân tộc này”, nhà Ngô (Tam Quốc-thế kỷ III) buộc phải cắt riêng ba quận vốn thuộc
đất nớc ta lập thành Giao Châu, tách riêng phần đất phía Nam quận Cửu Chân, lậpthành quận Cửu Đức và chia quận này thành 6 huyện: Hàm Hoan, Cửu Đức, ViệtThờng, Phù Lĩnh, Dơng Thành và Khúc T Vùng Đức Thọ bấy giờ một phần nằm ởhuyện Việt Thờng
Khi nhà Tấn thống nhất Trung Quốc (280), thế Tam quốc Nguỵ, Thục Ngôkhông còn Để tăng cờng ách thống trị của chính quyền đô hộ đối với Âu Lạc, nhàTấn đã mở rộng thêm địa giới quận Cửu Đức vào đến dãy Hoành Sơn lập thêm haihuyện mới là Năm Lăng và Đô Giao Đức Thọ thời bấy giờ vẫn nằm trong địa phậnquận Cửu Đức
Nhà Tấn bị tiêu diệt, Trung Quốc xuất hiện cục diện Nam - Bắc Triều, đất nớc
ta bị chia cắt dới ách đô hộ của Nam Triều, (gồm các triều Tống, Tề, Lơng, Tần) từ
420 - 589 Năm 523 nhà Lơng đổi quận Cửu Đức thành Đức Châu, và Đức Thọ bấygiờ thuộc Đức Châu và trong thời gian này Lý Bôn, còn gọi là Lý Nam Đế, vốn quê
ở Tây Sơn, giữ chức quản quân ở quận Cửu Đức, nhận thấy chính sách hà khắc củanhà Lơng, ông đã về quê tổ chức lực lợng khởi nghĩa, đánh đuổi quân Lơng, giảiphóng đất nớc ông xng đế và đa đất nớc ta giành quyền độc lập tự chủ trên một nửathế kỷ
Năm 607 nhà Tuỳ đánh bại nớc Vạn Xuân, tiếp tục đặt ách đô hộ trực tiếp đốivới nhân dân ta Nhà Tuỳ đổi Đức Châu thành Hoan Châu, có 8 huyện Riêng haihuyện Cửu Đức và Việt Thờng vẫn đợc giữ nguyên Quận lỵ vẫn đợc đặt ở huyệnCửu Đức - Đức Thọ
Vào năm 618, Lý Uyên lập ra triều Đờng, kết thúc cục diện cát cứ ở TrungQuốc Thái Thú của nhà Tuỳ là Khâu Hoá, giữ Giao Châu xin thuần phục nhà Đờng
Từ đó nớc ta bị quân Đờng đô hộ, với chế độ cai trị "An Nam tổng quản" đổi quậnNhật Nam thành Châu Nam Đức Sau đó không lâu đổi lại Đức Châu Sau khi đặt
"An Nam đô hộ phủ", nhà Đờng lấy Đức Châu (cả vùng Nghệ Tĩnh) chia làm 3châu: Châu Hoan, Châu Diễn, Châu Phúc Lộc Trong đó Châu Hoan có 4 huyện:Cửu Đức, Việt Thờng, Phố Dơng và Hoài Hoan
Năm Vũ Đức thứ 9 (Đờng cao tổ - 629) đặt thêm 3 huyện : Yên Viễn, Đàm La
và Quang Yên Đến năm thứ 13 lấy Quang Yên và Yên Viễn thuộc vào huyện Cửu
Đức Các huyện khác sau đó đều bỏ Trong sách Yên hội thôn chí, Bùi Dơng Lịchcho rằng, có lẽ cái tên La Sơn là từ 2 chữ "Đàm La" mà có 36; 20
Trang 14Theo sách Nguyên Hoà Chí chép trong Đại Việt D địa chí toàn biên thì phủNghệ An lĩnh 4 châu là Châu hoan, Châu Nam Tĩnh, Châu Trà Lung, Châu Ngọc Ma
và 13 huyện là Nha Nghi, Cổ La, Phi Lộc, Thổ Du, Kệ Giang, Châu Phúc, Cổ Xá,Thổ Hoàng, Đồng Ngàn, Thạch Đờng, Bàn Thạch, Kỳ La và Hà Hoa Và Cổ La tênhuyện Đức Thọ xuất hiện từ đó
Bớc sang kỷ nguyên độc lập, nhà Đinh chia nớc ta thành 10 đạo, rồi nhà Tiền
Lê chuyển đạo thành Lộ và Châu Vùng đất Nghệ Tĩnh thời ấy đặt thành 2 châu:Châu Hoan và Châu Diễn, Đức Thọ thuộc Châu Hoan (1009 - 1225) thời nhà Lý,
Đức Thọ gọi là Cổ La, đến Triều Trần, trong cuộc khởi nghĩa " kháng Minh - PhùTrần" Hai thủ lĩnh chủ chốt của nhà Hậu Trần là Đặng Dung và Nguyễn Cảnh Đị đãchọn đất đặt hành dinh tại Chi La, Chi La tên gọi huyện Đức Thọ xa, một lần nữa đ-
ợc ghi vào sử sách
Nhà Minh đô hộ, cả nớc ta bị chia thành 18 phủ, dới phủ là châu, huyện Haitỉnh Nghệ Tỉnh bấy giờ chúng đặt 2 phủ, phủ Diễn Châu và Phủ Nghệ An, phủ Nghệ
An có 12 Châu và 16 huyện, trong đó có huyện Chi La (tức Đức Thọ)
Sang thời Hậu Lê vẫn gọi tên La Sơn thuộc phủ Đức Quang cho đến thời GiaLong
Đến năm Minh Mệnh thứ 3 (1822), nhà Vua đổi tên Đức Quang thành phủ
Đức Thọ
Năm thứ 7 (1826) nhà vua cho chia cắt hai huyện phía ngoài chuyển sang phủAnh Sơn - Nghệ An, giữ cho địa bàn phủ Đức Thọ có điều kiện địa lý tự nhiên hợplý
Năm thứ 12 (1831) nhà Vua cắt hẳn hai phủ Đức Thọ và Hà Hoa từ tỉnh Nghệ
An, thành lập một tỉnh mới - tỉnh Hà Tĩnh, địa danh tỉnh Hà Tĩnh có từ đây
Năm Tự Đức thứ 6 có sự thay đổi về địa giới hành chính, nhng cha đầy haichục năm thì lập lại quy mô nh thời vua Minh Mạng
Từ đó địa danh phủ Đức Thọ - huyện La Sơn đợc giữ ổn định, nhng về địa giớicòn tiếp tục có sự chuyển đổi, tách nhập khá nhiều lần
Năm Duy Tân thứ 9 (1915) chuyển tổng Đồng Công của huyện Hơng Sơnnhập về Đức Thọ
Năm Khải Định thứ 6 (1921) tách tổng Lai Thạch vốn thuộc Đức Thọ chuyển
về huyện Can Lộc
Trang 15Sau cách mạng tháng Tám, cấp hành chính còn có cấp bộ khu Từ 1959, Nhànớc ta chủ trơng xây dựng bộ máy hành chính bốn cấp thống nhất (cấp Trung ơng,cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã), bỏ các cấp trung gian (xứ hoặc bộ, khu, phủ, tổng), vàhuyện Đức Thọ một địa danh mới thay cho phủ Đức Thọ và huyện La Sơn cũ, kế tục
đảm đơng chức trách nhiệm vụ một huyện hạt trong kỷ nguyên dới chế độ mới
Từ thời gian đó cho tới bây giờ, do mục đích phục vụ công cuộc đổi mới, địagiới huyện Đức Thọ đã có nhiều thay đổi, đến năm 2000 huyện Đức Thọ có diệntích là 203 km2 với một thị trấn là thị trấn Đức Thọ và 27 xã: Bùi Xá, Đức An, ĐứcChâu, Đức Dũng, Đức La, Đức Hoà, Đức Lạng, Đức Lâm, Đức Lập, Đức Lạc, ĐứcLong, Đức Nhân, Đức Quang, Đức Thanh, Đức Thịnh, Đức Thuỷ, Đức Tùng, ĐứcVịnh, Đức Hơng, Tân Hơng, Thái Yên, Trung Lễ, Trờng Sơn, Tùng ảnh và Yên Hồ
1.1.3 Truyền thống lịch sử văn hoá của c dân Đức Thọ :
" Trong các huyện hạt Nghệ Tĩnh, không có một huyện nào là không có ítnhiều kỷ niệm lịch sử, một bức thành đất đã khởn mẻ, một toà đền, một ngôi mộ,một tấm bia, dấu vết của những nhân vật hiển hách đời xa Ngời xứ Nghệ tự hào
về những di tích, danh thắng và những nhân vật lẫy lừng của xứ sở " (Đặng ThaiMai)
La Sơn - Đức Thọ một trong những huyện có tiếng văn vật của xứ Nghệ cổkính, là nơi "Thuý Nghiễn thơng ba điểm xuyết gian" (Nớc biếc non xanh trải mộtvùng), lại là nơi " Cao phong minh vũ trụ - chính khí tác sơn hà" - (phong tiếtvang trời đất, khí phách dậy non sông)
Quả vậy, cảnh thiên nhiên nơi nào cũng đẹp, và mỗi ngọn núi dòng sông, mỗicánh đồng làng xóm đều gắn với một sự kiện hào hùng, một nhân vật anh kiệt
Đến nay lịch sử còn ken dày trên mặt đất những công trình, những dấu tích vật thểbình dị mà tôn nghiêm và lu lại trong lòng ngời những ký ức đau thơng hay hùngtráng Đất Hồ – Trổ "bình yên", 600 năm trớc là thủ đô kháng chiến của nhà HậuTrần mà dấu vết còn lại là những cồn án, cồn Nhoi, dăm mã Chúa, dăm mã tù, làngDài, xóm Chi Lẫm ở Yên Phúc - Kẻ Dê và ngôi miếu Nghĩa Vơng ở Nội Diên là đất
mở đầu và đứng đầu về học hành, khoa bảng ở La Sơn (và Hà Tĩnh) với hai quantrạng dân ta phụng thờ - Trạng nguyên Đào Tiêu, khôi nguyên Đoàn Xuân Lôi và vịthái học sinh Nguyễn Biểu, vị Hoàng giáp Hoàng Trừng và các vị tiến sỹ Phạm Nại,Nguyễn Phong, Lê Đắc Toàn thời Lê mà ngày nay con có nhà thờ, sắc phong vàcác dòng họ đông đúc; là phủ lị Đức Thọ đời Nguyễn với các đội đồng mang tênCửu Phủ, Nền Hát
Trang 16Một dãy núi đồi hẻo lánh vùng Thợng Đức, từ Trại Cốc, Ngũ Khố xuống ĐồngLạc, Hoà Yên, Nhân Chi, Cẩn Kỵ là vùng khẩn điền lập ấp của bà Hoàng HậuBạch Ngọc, cung đốn lơng thảo cho nghĩa quân Lam Sơn, vùng hoạt động của tớngquân công thần Bùi Bị Những tên xóm, tên làng, những dòng họ Trần, Bùi,Nguyễn dị duệ của những ngời khai hoang và những nghĩa quân buổi ấy, và những
Rú Am, Rú Vua, những chùa Diên Quang , chùa Tiên Lữ, những đền Ngũ Long(Hoà Yên), Phợng Hoàng (kính kỵ), đền Cả, đền Hạ (Mỹ Xuyên) gợi lại bao sử tíchthần kỳ
Dãy rú Tợng (hình) con voi phục, có "bành" đà trên lng gọi là lèn Ngũ Lão, nơi
xa kia nho sỹ thờng lên du ngoạn, uống rợu, đánh cờ, ngâm vịnh Đây là đất xã Huệ
ốc đối diện Long ốc Súng ốc bên bờ Bắc, vùng cha con trạng sử Hy Nhàn lên ẩnnáu, chiêu dân lập ấp đầu thế kỷ XV Trên núi có đền thờ công thần Sử Đức Hy và
xa hơn có đên Hạ Hoà thờ Vua Lê Thái Tổ, Miếu Lỗ thờ Lê Hoàng Hậu, đền TrạiTrấn thờ công thần Minh Quận Công Bùi Ban, cùng nhiều đền miếu khác
Ngọn Rú Thông soi bóng xuống ngã ba Tam Soa là thắng cảnh bậc nhất đất LaSơn, trên núi xa là dinh trại của tớng lĩnh Đinh Lễ, và xa hơn là quan dinh của em
ông, tớng Đinh Liệt ở trại Võ Lâm Về sau nhân dân ta lập đền thờ linh Cảm Đại
V-ơng (Đinh Liệt) ở làng Yên Nội Dới núi lại có ngôi chùa Huyền Lâm (Chùa Đá)nay còn ngọn tháp cao, một công trình kiến trúc nghệ thuật thời Hậu Lê
Xa hơn về phía Đông, trên vùng đồi bãi quyết Việt (Yên Việt) là đất phong củacác công thần khai quốc Triều Lê: Phan Đán, Lê Bôi (Nguyễn) Võ Lộng và phíaBắc sông La, ở Thợng Thôn (Thịnh Quả), cách bãi Ba Liệt (Bãi soi) lại là đất phongthần của công thần Trần Duy, anh trai bà Bạch Ngọc mà chứng tích là ngôi đền côngthần Chiêu Phúc, và ngôi đền Tứ Phi, cũng gọi là đền Ngũ Long, thờ em gái và cáccháu chắt giá Trần Duy
Một bến đò giò, một cây cầu Khống vẫn nhắc chuyện hai ngời học trò nghèo
Lê Đắc Toàn, Trần Dực, với tinh thần vợt khó đã trở thành nhà khoa bảng Một dichỉ học đờng bên Mai Hồ, một chợ Giấy ở làng Yên Vợng đang lu truyền tài đứccủa hai vị s mô Bùi Sằn, Phan Phúc Cẩn Một ngôi miếu nhỏ bên rú đất (Việt Sơn)ghi danh ngời thợ dác nghĩa quân Lam Sơn, một xóm nhỏ Yên Hồ kể chuyện ngờithợ rèn Lê Quyên, nghĩa quân chống Pháp
Các đaị đồn Trung Lễ, đại đồn Đông Thái của cuộc Cần Vơng và những trờnghọc Thái Yên, bãi cát Quang Dụ di tích các cuộc đấu tranh thời Xô Viết NghệTĩnh rồi những trờng Trung học, xởng vũ khí, quán quân nhân, bến phà, ngã đờng,trận địa phòng không thời kháng chiến chống Pháp chống Mỹ
Trang 17Khó mà kê cứu đủ, ghi chép hết những dấu vết tự nghìn năm xa đến bây giờ
mà lịch sử để lại trên đất La Sơn - Đức Thọ Chúng ta biết rằng dới thời gian và sựdốt nát, sự vô trách nhiệm của con ngời đã xoá đi vô số chứng tích lịch sử, thì nhữnggì còn lại cũng không đến nổi quá ít Đó là những cái vô giá cần đợc giữ gìn cho maisau
Bản tính của ngời dân Đức Thọ nói riêng và ngời dân xứ Nghệ nói chung làthông minh cần cù, chịu khó, hiếu học, tình nghĩa, yêu nớc, can trờng, nhng có phầngân guốc, khô khan, rắn rỏi của nghị lực và lý trí, về đại thể, ngời Đức Thọ xa nayhội đủ các phẩm chất và đặc trng tâm lý Nét tính cách nổi bật nhất của ngời ĐứcThọ có lẽ là yêu nớc và cơng trực, nghĩa hiệp Trải từ thời nay sang thời khác mỗikhi Tổ quốc lâm nguy, ngời Đức Thọ lại cùng nhau đứng lên xả thân vì đất nớc.Chắc không phải là vì yếu tố địa lợi mà Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị lại chọn vùngChi La để đặt hành dinh của nhà Hậu Trần mà căn bản còn bởi yếu tố nhân hoà.Các vị thủ lĩnh này biết rất rõ, hiểu rất sâu về tinh thần và truyền thống đấu tranhcủa ngời dân nơi đây
Đức Thọ là vùng quê có nền văn hoá dân gian phong phú về loại hình, thể loại
đa diện và sâu sắc về nội dung, xứng đáng là cái nôi của văn hoá dân gian xứ Nghệ.Hơn nữa văn hoá dân gian ở vùng này có những nét riêng so với các địa phơng khác.Nào là ngày hội Yên Lão và Lễ Tế Sống, tục cúng "hậu Trần", tục chia phần cúng,
tế Nhng cơ bản các phong tục tập quán thuần hậu của ngời dân xứ Nghệ đã truyền
từ bao đời không có gì thay đổi, vẫn là những phong tục của ngời dân nông nghiệp,sống quây quần gắn bó khi tối lửa tắt đèn, trong làn hơi ấm nớc chè xanh, đỏ thắmnhững miếng trầu, củ khoai củ sắn Ngày đêm tranh thủ đồng áng, rỗi đồng áng thìtranh thủ bán lặt vặt trong vờn, có làng có thêm nghề truyền thống nh dệt vải, làmmiến, nghề rèn, nghề mộc cùng với các nghề này, hoạt động buôn bán cũng diễn
ra khá nhộn nhịp ở La Sơn - Đức Thọ xa
C dân trong làng chủ yếu là cày cấy, ruộng đất là nguồn cung cấp mọi thứ cầnthiết, họ lao động trên mảnh ruộng của mình bằng công cụ thô sơ vì thế hiệu lực sảnxuất hạn chế, ruộng đất thì đợc chia nhỏ thành từng mảnh để canh tác điều đó cũnglàm cho hiệu quả sản xuất thấp, cơ bản một ngời lao động chỉ đủ nuôi một đến haingời
Ngời nông dân quanh năm quần quật với ruộng đất, cũng vì thế những con
ng-ời này đành phải bằng lòng với cái hiện có và họ không có mơ ớc gì cao xa ngoàimong ớc ma thuận gió hoà, thu hoạch đợc mùa, vậy mà mơ ớc đó có lúc lại trở nênquá lớn lao trớc cái khắc nghiệt của thiên nhiên
Trang 18Mỗi làng ở Đức Thọ - cũng nh bao làng xã khác của nông thôn Việt Nam - Đó
là một đơn vị cộng c của những c dân làm nông nghiệp, ở đầu mỗi làng có cổng làngsáng mở tối đóng, xung quanh làng đợc bao bọc bởi luỹ tre lâu đời, nó nh là một bứcthành dù nhẹ nhàng đa theo làn gió, nhng lại là bức thành trì vững chắc bảo vệ dânlàng trớc bão, gió, trớc nạn giặc giã Trong mỗi làng có ít nhất một cái giếng lớn - lànơi dân trong làng tập trung gánh nớc, giếng làng còn là địa điểm sinh hoạt đầm ấmcủa ngời dân, gánh nớc, trò chuyện, thăm hỏi, trai gái tỏ tình hẹn hò, nhất là vàonhững đêm trăng sáng, giếng làng trở nên nhộn nhịp hơn
Làng có điếm canh, có ao làng, cánh đồng làng thẳng cánh cò bay, có chợlàng, và quan trọng nhất là có đình làng, nơi bàn bạc việc làng việc nớc Trong làng
có nhiều nhà thờ họ, dòng họ nào có nhiều ngời đỗ đạt, hay đỗ đạt cao thì có nhàthánh nh dòng họ Hoàng ở Đức Nhân, họ Phan ở Tùng ảnh, nhà này là biểu trng sựghi nhận của dòng họ, của làng về công lao học tập của kẻ sỹ, và đó cũng là một nơisinh hoạt trở thành truyền thống của ngời dân Đức Thọ với tâm niệm khích lệ thế hệcon cháu noi gơng học tập và là sự tự hào của ngời dân trong họ, trong làng
Để đảm bảo trị an của làng nh mùa màng, tài sản của dân, của làng, thì tronglàng đợc tổ chức canh gác thay phiên ngày và đêm, và điếm canh đợc đặt ở đầu làng,
ở ngã ba, ngã t, nơi tụ họp đông ngời Xung quanh mỗi làng đợc bao bọc bởi luỹ tredày kín, hai đầu làng có cổng chắc chắn và gác canh Rồi công tác tuần phòng đ ợcthực hiện nghiêm cẩn do những ngời tuần đinh đảm nhiệm, đứng đầu các tuần đinh
là khán thủ, đến ngày mùa họ phải đi tuần ở ngoài đồng nhằm bảo vệ mùa màng chodân làng
ở trong một làng ngời dân thờng tổ chức ra hội đoàn kết nhỏ nh hội Võ phảgồm những ngời võ quan, hội Đồng môn gồm những ngời học trò của một thầy giáo,hội T văn gồm những ngời có tớc danh khoa danh, hội văn phả gồm những ngời Nhohọc không phẩm hàm gì
Là đơn vị mang tính tự trị cao, cho nên đối với việc công nhà nớc chỉ biết toànxã chứ không biết từng ngời Chẳng hạn mời ngời dân phải làm nghĩa vụ tạp dịch,thuế má cho Nhà nớc để làm tròn bổn phận của ngời Thần dân trớc Hoàng đế Nhng
để nộp thuế Nhà nớc chỉ bổ cho làng một số nhất định rồi làng tự lo phân bổ cho dântheo cách tuỳ ý, miễn là thu đủ số định mức mà nộp vào cho quốc khố Tất cả nhữngviệc trong làng thờng do dân làng bàn định, Nhà nớc ít can thiệp đến Đôi lúc sự canthiệp vô hiệu quả vì bên cạnh phép Vua còn có quy định lệ làng, là những công cụpháp luật hữu hiệu và quan trọng nhất
Nh vậy làng xã là một đoàn thể tự trị ở trong phạm vi quốc gia, đối với Nhà
n-ớc chỉ cần làm trọn nghĩa vụ nộp thuế, làm lao dịch, ngoài ra còn có thể tự do xử lý
Trang 19công việc trong làng, Nhà nớc không can thiệp đến Vấn đề nặng nề nhất trong làngxã lúc bấy giờ là thuế, trong đó có hai thứ thuế chủ yếu là thuế đinh và thuế điền, vềsau có thêm các loại thuế buôn bán và thuế biệt tạp Không nộp thuế bằng tiền màbằng hiện vật (nh thợ rèn nộp đồ sắt, sơn tràng nộp gỗ ) và đối với thuế ruộng đất
ở Đức Thọ, theo sách Yên hội thôn chí thì thời Lê Trung Hng, lúc đầu chỉ thu thuếruộng công, không thu thuế ruộng t Năm Giáp Tuất, niên hiệu Chính Hoà thứ 15
đời Lê Hy Tông (1694) trở về sau thì ruộng t cũng bị thu thuế và nhiều hơn ruộngcông
Đối với ngời nông dân, ruộng đất là t liệu sản xuất chính, bởi thế suốt cuộc đời
họ luôn gắn bó với ruộng đất và những t liệu sản xuất thô sơ nh cái cuốc, cái cày, cáibừa
ở La Sơn Đức Thọ ruộng đất công không nhiều lắm Ví dụ nh làng yên Hội,
đầu đời Nguyễn, đất t có 118 mẫu 4 sào, đất công chỉ chiếm 10% diện tích cònruộng đất t đã đợc Nhà nớc thừa nhận cùng với quyền mua bán và nghĩa vụ đóngthuế ruộng đất t từ thời Lý, thế kỷ X Tình trạng chiếm hữu ruộng đất từ thế kỷ XV
về sau ngày càng gia tăng, đầu thế kỷ XX địa chủ phú nông chiếm tới 60% ruộng
đất trong huyện
Sống trong vùng khí hậu khắc nghiệt của Miền Trung, ngời dân Đức Thọ phảigánh chịu những tai ơng của thiên tai, ngoài cái nắng thiêu ngời cùng với gió lào củamùa hè, cái rét cắt da của mùa đông thì ở đây còn phải chịu đựng những cơn bảo,cơn lũ có lúc quét sạch cả nhà cữa, ruộng vờn…Nhng con ngời Đức thọ vẫn bền bỉ,vợt qua khó khăn, cải tạo thiên nhiên nâng cao đời sống vật chất của gia đình bằngcách huy động sức dân xây dựng hệ thống tới tiêu, sản xuất thâm canh để năng caonăng suất, trồng thêm hoa màu, cải tạo công cụ sắc bén để dễ dàng trong lao động.Ngoài ra để ổn định đời sống thì ngời dân Đức Thọ còn làm thêm các nghề thủ công
nh Nón, nấu Vôi, Miến bột, Men rợu, làm Bún, Đan lát, Rèn, Mộc…Bởi vậy trongcác làng xã ở Đức Thọ lúc bấy giờ về cuộc sống vật chất so với các huyện khác thìkhông phải là quá nghèo khổ, mà ta lại thấy ở Đức Thọ những cánh đồng bao la lúavàng ơm vào mùa thu hoạch Chính điều đó cũng là một yếu tố làm cho ngời dân ở
đây có điều kiện học hành hơn so với các huyện trong tỉnh Cho đến ngày nay khi
đặt chân lên huyện Đức Thọ chúng ta cũng thấy đợc sự sung túc vào ngày mùa nhthế nào Phải nói đó là thành quả của ngời dân nơi đây trải qua bao thế kỷ khắc phụcthiên nhiên, cải tạo mùa màng để cuộc sống đợc no đủ Cho đến ngày nay nó đã trởthành truyền thống của ngời dân Đức Thọ mà con cháu tiếp tục phát huy
Rồi con ngời Đức Thọ còn đợc biết tới bởi tinh thần quật cờng , lòng yêu nớcnồng nàn và căm thù giặc sâu sắc Dới thời nhà Trần chống xâm lợc, bao nhiêu sức
Trang 20ngời sức của và tính mạng của ngời dân La Sơn đã đổ xuống cho độc lập dân tộc.Trong đó nổi bật nhất là tấm gơng oanh liệt Nguyễn Biểu, từng đỗ thái học sinh thờinhà Trần, giữ chức điện tiền thi nghị sử, là ngời cơng trực, gặp việc dám nói Ông đã
đem hết tài năng để đóng góp cho cuộc khởi nghĩa và đã khẳng khái hi sinh khiến kẻthù phải khiếp sợ kính nể
Trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418), vùng đất La Sơn - Đức Thọ là một địabàn chiến lợc quan trọng của nghĩa quân Núi Tùng Lĩnh, ngã ba Tam Soa là cứ
điểm trọng yếu án ngự đờng lên Đồ Gia (Hơng Sơn) Nhiều ngời dân Đức Thọ đã
đ-ợc lu danh sử sách vì đã có những đóng góp lớn cho cuộc khởi nghĩa nh Trần Đạt,Trần Duy, Lê Bôi, Phan Đán Những ngời này về sau đã đợc xếp vào hạng côngthần khai quốc và trở thành thuỷ tổ của các dòng họ ở Đức Thọ ngày nay
Nói đến tinh thần yêu nớc, tính cách cơng trực của ngời Đức Thọ không thểnêu gơng đình nguyên Tiến sỹ Phan Đình Phùng Cuộc đời sự nghiệp của ông xứng
là đại diện xuất sắc của những phẩm chất tiêu biểu của ngời Đức Thọ, ngời Hà Tĩnh,ngời xứ Nghệ, ông không chỉ thông minh mà con hiếu học, không chỉ trung quân
mà còn ái quốc, không chỉ nhân nghĩa mà còn cơng trực ông đã làm dấy lên cuộckhởi nghĩa dới chiếu Cần Vơng trên đất miền Trung kéo dài hơn 10 năm, đẩy thựcdân Pháp vào bế tắc và hoang mang trong những ngày đầu đặt ách đô hộ Và bêncạnh ông, noi gơng ông, trong thế kỷ XX đầy biến động còn có biết bao tấm gơngyêu nớc, cơng trực khác nh Lê Ninh, Lê Văn Huân, Lê Văn Thiêm, Hoàng XuânHãn, Lê Thiệu Huy, Hoàng Quốc Tam, Trần Phú
Rất nhiều ngời khác huyện khác xứ vẫn thờng có nhận xét: ở Đức Thọ lắm
ng-ời ngang, bất bất chẳng chịu ai Nhận xét này hồ nh có khen có chê, thực ra đó là docái cơng trực, không chịu quy lụy mà ra
Dù thế ngời La Sơn - Đức Thọ rất thông minh, có chí tiến thủ và tinh thần cầuthị Tất cả những phẩm chất và tính cách đó, là tiền đề, là nguồn lực nội sinh chocác thế hệ ngời Đức Thọ kế tiếp nhau xây dựng, vun đắp truyền thống văn hoá, vănhiến của mình Phẩm chất đó,tính cách đó đã sinh thành nên những con ngời với đạo
đức và tài năng có thể sánh với ngời trong thiên hạ nh Nguyễn Biểu, Phan ĐìnhPhùng, Hoàng Xuân Hãn, Trần Phú và trăm ngàn ngời khác là những con ngời nhthế
ở La Sơn - Đức Thọ, ai ai cũng biết đến một nét đẹp trong đời sống văn hoátinh thần tỏa sáng suốt chiều dài lịch sử của quê hơng này đó là tinh thần hiếu học.Dới các triều đại phong kiến La Sơn - Đức Thọ nổi tiếng là "đất học" Khi lốihọc hành thi cử Nho học còn thịnh hành, dù phải ăn rau, ăn cháo, nhiều gia đình ở
Trang 21đây vẫn dành dụm, chung nhau góp tiền góp gạo nuôi thầy cho con cháu ăn học đểbiết chữ, biết đối nhân xử thế, biết đạo thánh hiền, và hơn thế nữa trong mơ ớc củabao ngời cha ngời mẹ là con đỗ đạt làm rạng danh gia đình, gia tộc Khát vọng ấy đãhun đúc từ sự nuôi dỡng trởng thành của bao thế hệ thanh niên với lý tởng "Tu thân,
tề gia, trị quốc, bình thiên hạ", với tâm thức phải là ngời quân tử, phải là "làm traicho đáng nên trai", "Phải có danh gì với núi sông" Khát vọng ấy đã giúp cho conngời Đức Thọ vợt qua đợc khó khăn gian khổ, miệt mài với đèn sách để đợc ghi têntrên bảng vàng trong các khoa thi
ở Đức Thọ thời bấy giờ, hầu hết các làng đều có trờng dạy học chữ Hán, dù đó
là Trờng t, ngoài các trờng công do Nhà nớc lập ra ở lộ phủ Nhờ có lòng hiếu họcnên Đức Thọ là nơi có số đông các sỹ tử dự các kỳ thi Hơng, thi Hội, thi Đình.Trong các kỳ thi Hơng, thi Hội, thi Đình sỹ tử Đức Thọ thờng chiếm tỉ lệ cao hơn
so với các huyện khác trong tỉnh Theo thống kê dới chế độ phong kiến, từ khoa thi
đầu tiên (1075) đến khoa thi cuối cùng (1919) toàn tỉnh Hà Tĩnh có 148 ngời đậu
đại khoa, Đức Thọ chiếm 45 vị Dới triều Trần xã Đức Thuận có hai ngời đỗ trạngnguyên đó là Sử Hy Nhan và Sử Đức Huy Trong suốt thời phong kiến, làng Yên Hồ
có một trạng nguyên, hai Hoàng Giáp, ba Tiến sĩ, xã Đức Yên có 4 Hoàng Giáp, 5phó bảng, tám Tiến sĩ Những vùng có tiếng học hành đỗ đạt nhất Đức Thọ là
Đông Thái, Yên Hồ, Trung Lễ, Đức Yên, Đức Châu
Đã từ ngàn xa, việc học hành thi cử ở Đức Thọ đã trở thành phong trào thi đuatrong mọi tầng lớp nhân dân Không riêng gì con nhà quyền quý giàu sang mà nhiềuNho sỹ bần hàn cũng không hề chịu thua kém trên con đờng cử nghiệp Tiêu biểucho tấm gơng nghị lực và ý chí học tập phi thờng là ngời học trò nghèo Trần Dực(1465-1542) ở xã Ngãi Lăng huyện La Sơn, phải đi ở chăn trâu để kiếm cơm ăn, vừachăn trâu vừa học, ngời làng thơng nên cho cơm áo Hơn 30 tuổi ông đậu HơngCống, rồi ông đi thi Hội, bà con góp gạo góp tiền cho ông đi thi, nhng chỉ đủ ăn đi
đờng, đến kinh thì hết May thay ông gặp một ông Cống con nhà giàu, ông dấu tên,dấu tung tích, xin theo hầu để có cơm ăn Và ngày thi tới, ông dậy sớm lo cơm n ớc,tiễn ông Cống kia đi thi, rồi vội về quán trọ thay quần áo vào trờng, rồi lại về trớc locơm nớc Khoa ấy Trần Dực đỗ Hội nguyên, nhị giáp tiến sĩ, còn ông Cống kia đỗhạng thấp hơn Rồi chuyện ông cụ Đoàn Tử Quang (Đức Hoà - Đức Thọ) khoaCanh Tý đời Thành Thái (1900) tuổi đã 82, vợ vừa mất 3 tháng trớc, mẹ già 97 tuổi,vẫn lều chõng xuống trờng Nghệ dự thi, và cụ đã đỗ Lúc vào hành cung bái mạngrồi dự yến tiệc, cụ gói một ít bánh trái bỏ vào tay áo, ai cũng tởng là cụ đa về chocháu, hỏi ra mới biết cụ đa về kính mẹ già
Tuy vậy, việc học hành thi cử vẫn không phải là con đờng tiến thân và là mục
đích duy nhất của những sỹ tử ở đây Có nhiều ngời thi đỗ nhng không ra làm quan
Trang 22mà chọn nghề làm thuốc, dạy học, sống gần gũi chan hoà với bà con lao động Cóngời tuy uyên thâm về chữ nghĩa nhng không chịu ràng buộc lởi những lễ giáophong kiến Không ít ngời đã kịch liệt chống lại mọi quyền uy trái với đạo lý, tráivới tinh thần truyền thống của dân tộc, sẵn sàng khớc từ công danh phú quý để loviệc đại nghĩa ích nớc, lợi dân.
Những tấm gơng hiếu học ở Đức Thọ đã đợc lịch sử và bao thế hệ con cháu ghinhận, với ngời dân Đức Thọ đó là niềm tự hào hãnh diện mãnh liệt, là chất xúc tác
để con cháu đời sau luôn phấn đấu cố gắng tiếp tục duy trì truyền thống hiếu học.Còn đối với ngời Hà Tĩnh thì Đức Thọ là đất học, là tấm gơng sáng cho bao lớp trẻnoi theo, học tập
* Với những điều kiện tự nhiên thuận lợi và khó khăn, cùng với truyền thốngVăn hóa phong phú nh kiên trì bền bỉ trong lao động sản xuất cải tạo thiên nhiên,truyền thống yêu nớc…đã tạo nên những con ngời Đức Thọ kiên cờng, không ngạikhó khăn đói khổ để vơn lên trong học tập, thay đổi số phận bằng con đờng cửnghiệp… điều đó đã hun đúc nên truyền thống hiếu học của con ngời nơi đây Ngàynay chúng ta nhìn lại truyền thống hiếu học của ngời dân La Sơn - Đức Thọ Khôngchỉ là nhắc lại những ngời con sau bao năm "ăn rau, ăn cháo" để một ngày đợc ban
áo mũ, vinh quy bái tổ mà là khơi dậy truyền thống tốt đẹp, khơi dậy những tấm
g-ơng sáng, chắt lọc những giá trị nhân văn sâu đậm của nền giáo dục xa, lòng hiếuhọc của con ngời xa, để khắc phục những hạn chế và tồn tại của nền giáo dục ViệtNam hiện tại, một nền giáo dục trong xã hội tiến bộ đang phục vụ sự nghiệp côngnghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc Không còn ăn rau, ăn cháo để học, không còn vừachăn trâu vừa học, sao đỗ đạt không bằng ngày xa còn đói khổ!
1.2 Giáo dục và khoa cử Đức Thọ từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XVIII: 1.2.1 Khái quát tình hình giáo dục và khoa cử nớc ta từ thế kỷ XV đến cuối thế kỹ XVIII :
1.2.1.1 Tình hình giáo dục:
Vào những năm trớc Công nguyên, Nho Giáo đợc du nhập vào nớc ta, songsong với học thuyết Nho giáo là một hệ thống giáo dục theo lối trờng lớp NhngGiáo dục Nho học này chỉ dành cho "lớp trên " nên cha đợc phổ biến rộng rãi trongdân chúng vì mục đích thống trị của nhà nớc phong kiến phơng Bắc
Đến thời kỳ đất nớc dành quyền tự chủ thì Nho giáo vẫn đang bám trụ, tìm chomình chổ đứng trong Xã hội Đại Việt, bởi vậy Giáo dục Nho học cha phổ biến rộngrãi, mà còn bó hẹp ở một lực lợng nhỏ lớp trên của xã hội
Trang 23Cho đến thế kỷ X, dới triều Lý thì Giáo dục Nho học theo lối trờng lớp mớithực sự đi vào hoạn lộ, và trở thành nền giiáo dục chính thống của Xã hội Việt Namthời kỳ Phong kiến, tuy vậy nó không hoàn toàn giống nh Nho học phơng Bắc mà nó
bị khúc xạ, thay đổi theo từng bớc thăng trầm của lịch sử dân tộc, đặc biệt là từ saunhững năm tháng thống trị của phong kiến Trung Hoa
Vào năm 1070, Vua Lý Thánh Tông (1054-1072) đã cho xây dựng Văn Miếu
đầu tiên ở Kinh đô Thăng Long, cho đắp tợng Khổng Tử, Chu Công và Tứ Phối, vẽhình 72 ngời hiền để cúng tế 4 mùa, tỏ lòng sùng kính Nho học
Rồi năm 1076, nhà Lý cho xây dựng Quốc Tử Giám để cho con em quý tộcnhà Lý vào học Nho giáo Đây là trờng công cao nhất của nớc ta lúc này, cũng từ
đây nền giáo dục Đại học của nớc ta đợc khai sinh
Sang thời nhà Trần, trong hào khí của Triều đại có công lớn đánh bại 3 lầnxâm lợc của quân Nguyên Mông, nhà Trần đã mở rộng việc học tập trong nhân dân
từ trung ơng đến địa phơng, đồng thời mở rộng thi cử, đặt thêm nhiều học vị đểkhuyến khích học tập, đa thi cử Nho học sang một giai đoạn cao hơn về nội dung vàhình thức Năm 1253 Trần Thái Tông (1225-1298) đã thành lập "Quốc học viện" đểgiảng "Tứ Th", "Ngũ kinh " và giảng võ đờng để luyện tập võ nghệ tại Kinh đôThăng Long
Năm 1397 về đời Trần Thuận Tông (1388-1398), Hồ Quý Ly đặt thêm họcquán tại Lộ, Phủ, Châu; ở Lộ có quan đốc học, ở Phủ Châu có quan giáo thọ, đồngthời cấp bổng lộc, ruộng đất cho học quan này
Bớc sang giai đoạn đất nớc bị nhà Minh đô hộ, thì việc học hành thi cử bị cấm
đoán
Cho đến cuộckhởi nghĩa của nghĩa quân Lam Sơn dành thắng lợi, đất nớc ta lạibớc vào kỷ nguyên độc lập tự chủ thì Nho học lại đợc chú trọng, Lê Thái Tổ đã quantâm chăm lo đến sự nghiệp giáo dục học tập ở Kinh đô và các Lộ, Phủ trực thuộctrung ơng, lấy con cái các quan lại và những ngời tuấn tú trong nhân dân vào học,
đồng thời tiến hành mở nhà Lộ học và đặt quan dạy học ở các lộ và các phủ Vàonăm 1428, năm Kiến Nguyên thứ nhất, Lê Thái Tổ đã cho mở lại Quốc Tử Giám, và
để mở rộng hơn nữa công việc dạy học nhằm tạo ra đội ngũ trí thức cho chính quyềnNhà nớc thì nhà Lê mở thêm Tam quán thuộc ba trờng học dành cho con cháu quanlại, hoàng thân quốc thích, (Tam quán bao gồm: Sùng văn quán, Nho lâm quán và
Tú lâm cục) Ngoài ra còn mở Trung Th giám, chọn con cái các quan viên vào học,
có Ngự tồn cận thị chi hậu cục, có các trờng lớp của con cháu hoàng tộc nhà Lê Saucuộc cải cách hành chính của Vua Lê Thánh Tông (1460-1497) năm 1466, đơn vị lộ
Trang 24không còn, chuyển thành đơn vị phủ, thì lúc này các trờng học đợc mở ở phủ, chứcgiáo thụ đợc thay bằng huấn đạo, giáo thụ chỉ còn ở Quốc Tử Giám Với chính sách
"cầu hiền" năm 1467 Vua Thánh Tông đã đặt chức bác sỹ dạy 5 kinh, mỗi ngờinghiên cứu một kinh để giảng dạy Hàng năm Nhà nớc cho in và ban cho các trờng ởphủ các sách Ngũ kinh, Tứ th, Đăng khoa lục, Ngọc đờng văn phạm, Văn kiến thốngkhảo, Văn Tuyển Nội dung học tập đợc quy định đầy đủ, rõ ràng, có học quan đ-
đứng ra mở, học sinh đông Các loại hình trờng t này khá phổ biến, đặc biệt là t gia,một "xã hội hoá" về giáo dục đã thực sự phát triển dới thời Lê
Sau một thời gian thịnh trị của triều đại Lê Sơ, đến đời Vua Lê Uy Mục 1509) thì đất nớc rơi vào khủng hoảng, không kế nghiệp đợc tổ tiên Kế nghiệp Lê
(1505-Uy Mục là Lê Tơng Dực (1510-1516) không làm thay đổi đợc tình hình, thậm chícòn làm cho xã hội rối ren hơn khi ông Vua này hoang dâm vô độ Bởi thế triều đạiHậu Lê đi vào ngõ cụt, trong tình hình này nền giáo dục cũng bị bỏ rơi, giá trị đạo
đức Nho giáo bị sa sút, các thế lực phong kiến nhũng nhiễu, dân tình thì đói khổ, lytán, một xã hội đầy biến loạn với sự đấu đá của các thế lực đã diễn ra và kéo dài suốtmấy trăm năm
Mở đầu cho cuộc nội chiến là chiến tranh giữa Lê-Mạc, từ năm 1533 đến năm
1592 nhà Lê- Mạc đã đánh nhau nhiều trận lớn, cảnh binh đao, khói lửa đã làm cho
sự nghiệp giáo dục bị chắp nối và xuống dốc
Tình trạng Nam Triều - Bắc Triều chấm dứt cha đợc bao lâu thì xảy ra sự phânchia Đàng trong - Đàng ngoài, một cuộc chiến tranh mới lại bùng nổ Chúa Nguyễn
Đàng trong - Vua Lê Chúa Trịnh đàng ngoài lâm vào cảnh tơng tán không kém phầngay gắt
Với bối cảnh chính trị xã hội nh vậy thì vấn đề giáo dục Nho học cũng khôngthể quy cũ, nghiêm túc nh trớc đây ở Đàng ngoài giáo dục vẫn đợc duy trì nhng sơsài, quan lại vẫn đợc tuyển chọn qua khoa cử, nhng không chặt chẽ nh thế kỷ XV,ngoài ra hình thức bảo cử đợc Chúa Trịnh nhiều lần sử dụng Thêm vào đó, Chúa
Trang 25Trịnh cũng thực hiện việc cho dân nộp thóc thay tiền để đợc bổ dụng tri phủ hay trihuyện Sử cũ có lúc đã nhận định.
" Bấy giờ quan chức nhũng lạm, phức tạp, một lúc cất nhắc bổ dụng đến hơn
1000 ngời làm quan cầu may, viên chức thừa thải, không còn phân biệt gì cả"
Còn chính quyền Chúa Nguyễn đàng trong, nửa đầu thế kỷ XVII, quan lại đợc
bổ nhiệm theo tiến cử, thân tộc, giáo dục bị coi nhẹ, thậm chí sang thế kỷ XVIII, chế
độ mua quan bán tớc bắt đầu phát triển Nh Lê Quý Đôn nhận xét: "Mọi ngời tranhnhau nộp tiền để lĩnh bằng Đến nay (cuối thế kỷ XVIII) một xã mà có đến 16-17tớng thần, hơn 20 xã trởng cùng làm việc"
Nh vậy trong suốt gần 200 năm ròng rã, đất nớc ta lâm vào cảnh xung đột, chia
ba xẻ bốn, dân tình phiêu tán, đói khổ, chết chóc tang thơng, nền kinh tế suy sụp cha có lúc nào đất nớc lại lâm vào bế tắc cảnh "nồi da xáo thịt" kéo dài nh lúc này.Chính sự bất ổn về chính trị này đã làm cho xã hội nh bị xáo trộn, các bậc thang giátrị đạo đức cũng bị đảo lộn, và giáo dục lâu nay vẫn là con đờng chủ yếu đi vào hoạn
lộ cũng nh là phơng tiện chủ yếu phổ cập Nho giáo trong nhân dân tuy rất đợc nhândân tôn trọng và đề cao, nhng nay đang ngày càng xuống cấp, chính sách khoa cửthì lỏng lẻo, đầy rẫy bất công, số lợng khoa thi và ngời đậu đạt cũng nh chất lợng kẽ
sĩ bị giảm sút Giá trị đạo đức Nho giáo có lúc bị xói mòn trầm trọng
Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn dành thắng sau hơn 20 năm, đã lật đổ chính quyềncai trị Chúa Nguyễn Đàng Trong, lật đổ chính quyền Vua Lê Chúa Trịnh Đàngngoài, đồng thời đánh bại sự xâm lợc của quân Xiêm và Mãn Thanh, đa đất nớc đivào ổn định, lập nên hệ thống chính quyền mới trên đất nớc ta ở ba vùng từ 1789
đến 1801 - Triều Đại Quang Trung
Cũng nh các Triều đại phong kiến trớc, chính quyền Quang Trung vẫn tônsùng Nho giáo nhng tỏ ra rộng rãi với các Tông giáo khác, nhng khác với các triều
đại trớc là Vua Quang Trung rất đề cao chữ viết chính thức của dân tộc - chữ Nôm
ông chủ trơng đa chữ Nôm vào giáo dục và khoa cử
Năm 1791, ông cho thành lập Viện sùng Chính, mời La Sơn phu tử NguyễnThiếp làm viện trởng Một số nhà Nho giỏi đợc đa vào đây để chuyên dịch các sáchthi, th ra chữ Nôm chuẩn bị làm tài liệu giáo dục cho nhân dân cả nớc Quang Trungcũng ban "chiếu lập học" lệnh cho các xã thành lập nhà xã học, chọn ngời hay chữ
và có đức hạnh làm thầy giáo Một số chùa cũng đợc dùng làm chổ dạy học Phơngpháp học của ngời học cũng đợc chấn chỉnh theo đúng tinh thần kết hợp học vớihành nh đề nghị của Nguyễn Thiếp "theo điều học biết mà làm, hoạ may nhân tài
Trang 26mới có thể thành tụ, Nhà nớc nhờ đó mà đợc vững yên" Những "sinh đồ 3 quan" đời
Lê - Trịnh sau khi thi lại mà không đỗ thì bị thải về quê
Nh vậy sau một thời gian loạn lạc, đến Triều đại Quang Trung giáo dục Nhogiáo vẫn đợc chú trọng, "Chiêu hiền đãi sĩ" vẫn là sách lợc của các lực lợng thống trịnằm tập trung bên mình những trợ thủ uyên thâm và có tầm nhìn trong thiên hạ Nh-
ng trong Triều đại Quang Trung đã bùng lên ý thức dân tộc khác với các Triều đạiphong kiến trớc và nó đợc thể hiện đầu tiên trên lĩnh vực giáo dục, khoa cử, văn hoá
1.2.1.2 Tình hình khoa cử:
Với ngời xa việc thi cử đã góp phần cho Nhà nớc trong việc gây dựng cơ cấuxã hội và xây dựng đất nớc Nhân tài là tinh hoa của đất nớc, khoa cử đặt ra cốt đểkén chọn nhân tài cho Nhà nớc
Từ thời Bắc thuộc, chữ Hán đã đợc các quan lại cai trị Trung Hoa dạy cho ngờiViệt, nhng chỉ nhằm đào tạo những tay sai với tính cách thực dụng hơn là truyền bávăn hoá Bởi vậy, suốt thời Bắc thuộc giáo dục khoa cử ở đất đô hộ không đợc chútrọng, kẻ sĩ nớc Nam muốn đợc thành danh qua con đờng khoa cử thì phải lặn lộisang kinh đô Trung Hoa để dự thi, đơn cử nh: "Lý Cầm, Trơng Trọng đỗ mẫu tài,hiếu liêm đợc dùng làm quan ở Trung Quốc" Còn ở đất An Nam lúc bấy giờ họchành đã đợc chú trọng, nhà chùa trở thành trờng học nhng chỉ có học chứ không
có thi cử, không có hệ thống phân cấp học vị
Đến thời tự chủ, các Triều Ngô, Đinh, Tiền Lê phải lo chỉnh đốn nội bộ và gâydựng cơ nghiệp và hơn nữa các triều ấy quá ngắn ngủi không có thời gian nhiều đểchăm lo học hành, thi cử Việc dạy chữ Hán đều phó thác cho các nhà s, bằng chứng
là mỗi lần tiếp sứ Trung Hoa là triều đình phải nhờ đến các vị s tinh thông Hán học
và kinh điển lo công việc thù tiếp các sứ giả nớc ngoài
Bớc vào Triều đại Lý (1010-1225), tình trạng trên đợc khắc phục khi Nho học
ở nớc ta trở nên thịnh đạt và phổ cập Sau hàng loạt công trình công nhận sự có mặt
và vai trò của Nho giáo trên đất nớc ta, thì vào năm ất Mão (1075) Lý Nhân Tông
đã mở khoa thi Tam Trờng để kén chọn ngời học rộng, sáng suốt và thông kinh điển
ra làm quan, đó là kỳ thi đầu tiên ở nớc ta Số thí sinh trúng tuyển kỳ này là 10 ngời,ngời đỗ đầu khoa thi là Lê Văn Thịnh, ngời làng Đông Cừu, phủ Gia Định thuộctỉnh Hà Bắc bây giờ, về sau ông làm tới chức Thái s Khoa cử nớc ta bắt đầu từ đấy
và danh xng học vị Thái học sinh (gồm 3 giáp) bắt đầu có từ điểm này
Năm Bính Dần (1086) Triều đình mở khoa thi chọn ngời Văn học vào HànLâm Viện để nghiên cứu kinh sách và giảng tập văn bài cho Nhà Vua nghe
Trang 27Năm ất Tỵ (1185) đời Vua Lý Cao Tông, nhà Vua lại mở khoa thi chọn nhữngnhân sĩ trong nớc ta từ 19 tuổi trở lên thông kinh thi, kinh th vào chầu giảng ở Nghị
điện
Năm 1152 đời Vua Lý Anh Tông (1138-1157) nhà Lý mở kỳ điện thi dành chohọc trò trong nớc về kinh đô học thi Năm 1165 triều đình cho mở kỳ thi học sinh đểkén chọn ngời giỏi ra làm quan
Năm 1195 Vua Lý Cao Tông (1176-1210) mở khoa thi Tam Giáo: Nho giáo,Phật giáo và Lão giáo để kén chọn nhân tài
Sang thời nhà Trần (1225-1400) phép thi có phần quy cũ hơn Triều nhà Lýnhiều Nhà Trần phỏng theo lối thi của nhà Minh bên Trung Hoa Năm Nhâm Thìn(1232) Vua Trần Thái Tông cho mở khoa thi Thái học sinh sau này gọi là Tiến sĩ.Những thí sinh trúng tuyển cao thấp đợc xếp thành ba giáp: Đệ nhất giáp, Đệ nhịgiáp và Đệ tam giáp
Năm Kỷ Hợi (1239) Triều đình lại ấn định cứ 7 năm thi Hội 1 lần Năm Đinh
Tỵ (1247) Vua Trần Thái Tông cho mở khoa thi Thái học sinh và đặt ra lệ Tam khôihọc vị, ngời đỗ cao nhất khoa thi Thái học sinh gồm: Trạng nguyên, Bảng nhãn,Thám hoa Cũng năm này nhà Trần lại mở khoa thi và phân ra làm tứ chánh, ng ờiBắc đậu thì có danh hiệu "Trạng nguyên kinh" còn ngời Thanh Hoá, Nghệ An (tứcChâu Hoan, Châu ái) thì có danh hiệu "Trạng nguyên trại" Năm ất Hợi (1275) VuaTrần Thánh Tông mở đại khoa
Năm Giáp Thìn (1304) Vua Trần Anh Tông ấn định phép thi ra làm 4 kỳ: kỳthứ nhất ám tả chuyên mục, thiên tử và thiên y quốc; kỳ thứ nhì kinh nghĩa và thiphú, về kinh nghĩa bàn về nghĩa lý hoặc chỗ nghi ngờ của truyện kinh; kỳ thứ 3, chế,chiếu, biểu; kỳ thứ 4 một bài văn sách Và đặt thêm học vị mới là Hoàng Giáp.Năm Giáp Dần (1374), thời Vua Trần Duệ Tông (1374-1377) bắt đầu mở khoathi tiến sĩ Danh hiệu tiến sĩ chính thức có từ thời này (1374) Những thí sinh trúngtuyển tuỳ theo cao thấp đựơc phân chia làm 3 giáp rõ rệt: Giáp đầu là đệ nhất Giáptiến sĩ cập đệ gồm có Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa; Giáp thứ 2 là Đệ nhịgiáp Tiến sĩ xuất thân là Hoàng Giáp và Giáp thứ 3 là Đệ Tam giáp đồng Tiến sĩxuất thân tức là các vị Tiến sĩ, thờng những ngời trúng tuyển thi Hội, thi Đình đềugọi chung là Tiến sĩ
Năm 1936 phép thi Hơng đợc định rõ và ai đỗ thi Hơng thì gọi là cử nhân
Đến thời nhà Hồ (1400-1407) Hồ Quý Ly sửa sang việc thi cử bằng cách lấythêm môn toán pháp để cho thí sinh thi thêm một trờng nữa Những ngời đã đồ kỳthi Hơng, sang năm sau phải vào Bộ lễ, ai đỗ mới đợc bổ ra làm quan Qua năm sau,
Trang 28những ngời đỗ kỳ thi Hơng để dự kỳ thi Hội, ai đỗ kỳ thi này đợc gọi là Thái họcsinh Nh vậy nhà Hồ đã ban hành nhiều thể lệ thi chặt chẽ, nhng nhà Hồ tồn tại quángắn ngủi nên mới chỉ tổ chức đợc một khoa thi Hơng Và hoạt động giáo dục khoa
cử ở nớc ta bị gián đoạn suốt từ năm 1407-1427 khi quân Minh xâm lợc và đô hộ(1414-1427)
Sau khi đánh bại quân Minh xâm lợc, Lê Lợi đã dựng nên Triều Lê sơ và chútrọng phát triển quốc gia về mọi mặt Trong đó đặc biệt chú trọng vào giáo dục khoa
cử "Chiêu hiền" ra giúp nớc Vua Lê Thái Tổ (1428-1433), lo sửa sang việc học vàlập trờng Quốc Tử Giám ở kinh đô, đặt thầy dạy học ở các châu, huyện
Năm 1429, triều đình mở khoa thi Minh kinh để cho các quan từ tứ phẩm trởxuống, quân nhân cùng nhân sĩ ẩn dật thông kinh sử và võ nghệ về kinh đô thi Hội,quan văn thi kinh sử, quan võ thi võ kinh
Năm Bính Thìn 1434, có lệ định c 5 năm thi Hơng và sáu năm thi Hội một lần
Từ năm 1438 lại sửa đổi cứ ba năm thi Hội một lần và những ngời trúng tuyển đềuliệt vào hàng Tiến sĩ xuất thân Lệ cứ ba năm thi một lần, sau trở thành thông lệ cứnăm Tý, Mão, Ngọ, Dậu thi Hơng, còn các năm Sửu, Thìn, Mùi, Tuất thi Hội
Theo phép thi đời này, kỳ thứ nhất làm một bài kinh nghĩa, bốn bài Tứ thnghĩa, mỗi bài phải từ ba trăm chữ trở lên Kỳ đệ nhị thi các bài: chế, chiếu, biểu -
Kỳ đệ tam làm thi, phú, và kỳ đệ tứ làm một bài văn sách từ 1000 chữ trở lên
So với các Triều đại trớc, thì ở Triều Lê chế độ khoa cử rất nghiêm, nhất là dớithời Hồng Đức (1470-1479) Vào năm 1462 Vua Lê Thánh Tông (1460-1497) địnhlại lệ thi Hơng nh sau: Trờng nhất thi năm đạo Kinh nghĩa, trờng nhì thi Chế, Chiếu,Biểu theo lối tứ lục và cổ thế; trờng ba thi dùng Luật Đờng thi, Phú cổ thể và Taotuyển bài phải dài trên 300 chữ mới đợc chấm, cha nói đậu hay hỏng, hoặc hay dở
Đến năm Nhâm Thìn (1472) đời Hồng Đức, phép thi Hội sửa đổi lại: Trờngnhất ra mỗi kinh ba bài Kinh nghiã, học trò chọn lấy mỗi kinh một bài, riêng kinhXuân thu phải làm cả và hợp thành một bài làm, mỗi truyện hai bài nghĩa, thí sinhlựa lấy mỗi truyện một bài mà làm Trờng nhì thí sinh thi Chế, Chiếu, Biểu, mỗi thứ
3 bài, Trờng ba gồm thi phú, mỗi thứ một bài, Trờng t thi một bài về Văn sách hỏi
về ý nghĩa kinh sách và chính trị lịch triều
Và đến năm Giáp Thìn (1484) Vua Lê Thánh Tông ra lệnh ghi tên tuổi các vịTiến sĩ vào bia dựng ở Trờng Quốc Tử Giám Lệ ghi bia khởi đầu từ năm này
Có thể nói chế độ thi cử của nhà Lê rất chặt chẽ, muốn đi thi phải qua khảohạch cấp cơ sở Rồi đến cấp huyện thi qua một vòng khảo, lên Thừa Tuyên thi lầnnữa ở cấp tỉnh gọi là hạch Những ngời vợt qua khảo hạch đợc đi thi, thi Hơng đậu
Trang 29thì đợc thi Hội, đậu từ thi Hơng thì nớc miễn tạp dịch và thuế thân trong một thờigian, đồng thời đợc bổ vào làm việc trong bộ máy hành chính ở làng Thậm chínhững ngời thi lại cũng lấy những ngời đã đợc khảo hạch này, vì thế tầng lớp sĩ phutrong xã hội ngày càng đông Đồng thời nhà Lê thực hiện những chính sách khuyếnkhích ngời học nh đặt lệ xớng danh, treo bảng, ban mũ áo, phẩm tớc, dựng bia Tiến
sĩ và lệ vinh quy bái tổ Những biện pháp nói trên đã góp phần quan trọng phát triểngiáo dục trong nớc Theo sử cũ, khoa thi hội năm 1463 có 1.400 thí sinh, năm 1514
số ứng thi lên đến 5700 ngời Tính riêng trong 38 năm dới triều Vua Lê ThánhTông, Nhà nớc đã mở 12 khoa thi Hội, lấy đỗ 501 tiến sĩ, trong đó có 9 trạngnguyên
Có thể xem thời Lê Sơ, đặc biệt là Triều vua Lê Thánh Tông là thời phát triểncực thịnh của giáo dục khoa cử phong kiến Nhà sử học Phan Huy Chú nhận xét:"Khoa cử các đời, thịnh nhất là đời Hồng Đức (1470-1497) Cách lấy đỗ rộng rãi,cách chọn ngời công bằng, đời sau càng không thể theo kịp Trong nớc không đểsót nhân tài, triều đình không dùng lầm ngời kém" 9 - 12
Dới triều Mạc, vẫn tiếp tục theo phép kén chọn nhân tài nh các đời trớc Bằngcách cứ 3 năm mở một khoa thi nh dới thời Lê, phép thi không có gì thay đổi Vìvậy giáo dục nớc ta ở vùng do nhà Mạc quản lý vẫn tiếp tục phát triển nh trớc dùtrong điều kiện có chiến tranh Đồng thời nhà Mạc ý thức đợc sự cần thiết ủng hộcủa kẻ sĩ đối với vơng triều, nên đều đặn mở các khoa thi Tiến sĩ Trong 66 năm ởThăng Long đã mở đợc 22 kỳ thi Đại khoa, số lợng lấy đậu tiến sĩ cũng tơng đối
đông từ 16 cho đến 30 ngời một khoa, với chính sách đó taọ điều kiện cho kẻ sĩtham gia chính quyền càng đông đảo
Đời Lê Trung Hng (1533-1786) vẫn giữ phép thi của Triều Hậu Lê Năm GiápDần (1554) mới bắt đầu thi Chế khoa cho đậu hạng Tiến sĩ xuất thân và Tiến sĩ đồngxuất thân
Năm Kỷ Sửu (1598) đời vua Lê Chế Tông (1573-1599) Triều đình mở khoa thiHội ở Tây Đô Từ đó trở đi cứ lệ 3 năm mở khoa, nhng phép thi xét ra còn sơ lợchơn Triều Hậu Lê nhiều lắm
Năm Giáp Thìn (1664), đời Vua Lê Huyền Tông (1740-1786) lệ thi Hơng đợc
ấn định lại gồm những điều mục rõ ràng Từ đó cứ ba năm mở một kỳ thi H ơng tạicác tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ An, Sơn Nam, Kinh Bắc, Hải Dơng, Thái Nguyên, HngHoá, Tuyên Quang, Yên Quảng Theo sử chép việc thi Hơng lúc bấy giờ không cònnghiêm nh đời Hồng Đức dới Triều vua Lê Thánh Tông nữa
Trang 30Dới triều vua Lê Dụ Tông (1706-1729), niên hiệu Bảo Thái (1720-1729) triều
đình vì thiếu tiền nên đặt ra lệ ai đi thi thì phải nộp tiền Minh Kinh để lấy tiền làmtrờng học và chi phí cho quan trờng chấm thi
Đến năm Canh Ngọ (1750) đời vua Lê Hiển Tông (1740-1786) quốc khố thiếuhụt vì phải lo chiến tranh, triều đình lại đặt lệ thông kinh nghĩa, hễ ai nộp ba quanthì đợc thi mà không phải khảo hạch Thành ra nơng theo tệ đoan ấy, những ngời íthọc nh những kẻ chuyên làm ruộng, đi buôn bán thịt đều nộp quyển để chờ ngày dựthi Trờng thi thời này đã hết nghiêm minh và đã biến thành cảnh chợ búa Quan tr-ờng, khảo quan thông đồng với thí sinh, ngời ta tranh nhau vào trờng thi khiến phảidẫm đạp lên nhau gây nên chết ngời Trong trờng thi ngời ta thuê ngời làm bài mớn,
kẻ mang tài liệu cùng sách vở, quan trờng bày cho thí sinh
Dới thời Lê Trung Hng, ngoài các khoa thi thờng xuyên triều đình còn mởnhững khoa thi bất thờng nh khoa Sỹ vọng, khoa Đông các, khoa Hoành từ, khoaTuyển cử
Trong thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh (1533-1788), Chúa Nguyễn hùng cứ
ở phơng Nam, chăm lo việc nội trị, khai khẩn đất hoang xét cho kỹ, khoa cử dớithời Chúa Nguyễn chỉ nhằm đào tạo chuyên viên và quan lại cho Nhà nớc hơn là đàotạo nhân tài lỗi lạc có cái học uyên bác nh các đời trớc
Năm Đinh Hợi (1674) Chúa Nguyễn mở khoa thi Chính đồ và Hoa văn Rồinăm ất Hợi (1695), Chúa Nguyễn Phúc Chu mở khoa thi Văn chức và Tam ty ởtrong phủ Chúa Đến năm Canh Thân (1740) Chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765)
định lại phép thi nh sau: Những ngời đậu kỳ đệ nhất gọị là Nhiêu học và đợc miễnsai 5 năm, đậu kỳ đệ nhị và đệ tam thì đợc miễn sai suốt đời, đậu kỳ đệ tứ gọi là H-
ơng Cống sẽ đợc bổ làm tri phủ, tri huyện
Nh vậy thì phép thi cử dới thời các Chúa Nguyễn còn sơ sài và khiếm khuyết,không nh các triều đại trớc đây Đó cũng là điều dễ hiểu vì lúc này tình hình chia cắt
đất nớc, tranh dành quyền lực, việc tập trung vào giáo dục khoa cử còn rất hạn chế.Khi đất nớc thống nhất, chấm dứt tình trạng phân tranh quyền lực, triềuNguyễn Tây Sơn (1788-1802) đợc xác lập Vua Quang Trung rất chú trọng tới giáodục khoa cử, và đặc biệt chú trọng tới sắc thái văn hoá dân tộc nên Vua QuangTrung khuyến khích việc dùng chữ Nôm trong văn tự và ông đã tổ chức đợc mộtkhoa thi Hơng ở Nghệ An, tiếc thay nhà Vua mất sớm, nên những chính sách tiến bộ
về giáo dục khoa cử cha đợc thực hiện nh mong muốn
Giáo dục khoa cử dới triều Nguyễn ánh mới thực sự trở về quy cũ và đợc đặcbiệt chú trọng
Trang 311.2.2 Giáo dục và khoa cử Đức Thọ từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XVIII 1.2.2.1 Tình hình giáo dục ở Đức Thọ từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XVIII:
La Sơn - Đức Thọ là vùng đất thuộc Hoan Châu dới thời Bắc Thuộc, khi đất
n-ớc độc lập tự chủ thì nó là vùng thuộc "cơng vực" của Nhà nn-ớc Đại Cổ Việt Vậynơi "phên dậu" xa xôi hẻo lánh đã đón nhận nền giáo dục Nho học từ lúc nào cho
đến nay cha có một t liệu nào xác định rõ Nho giáo và Hán học vào Hoan Châu từbao giờ
Đến Triều Lý (1010-1225), miền Hà Tĩnh đợc coi là đất "đầu sóng ngọn gió"của phơng Nam, nhng có lỵ sơ phát triển và vua quan thờng kinh lý qua lại, bởi vậygiáo dục cũng phát triển theo Hơn nữa do nhu cầu tính toán công việc làm ăn, donhu cầu điều hành lỵ sở cần ngời văn th và nhu cầu giao lu trao đổi thông tin thúc
đẩy giáo dục phát triển, kẻ sĩ đợc trọng dụng, u đãi, các trơng học đợc tăng dần ởcác làng xã Tuy vậy nền giáo dục ở La Sơn - Đức Thọ (thuộc Hoan Châu) đầu đời
Lý là nền giáo dục dân lập Không có giáo dục công lập vì triều đại này cha mở ờng công đến cấp Lộ, Phủ, Xã Tuy vậy Nho học làng xã ở "vùng đất trại" vẫn pháttriển theo xu thế khách quan, không thể cỡng nổi nhu cầu học tập trong các cộng
tr-đồng c dân làng xã
Ngay từ khi nhà Trần vừa mới dựng nghiệp, Trần Thái Tông (1225-1258) đãnhanh chóng nắm lấy vùng biên viễn Đại Việt, và nhanh chóng bổ sung thiếu sótcủa các triêu đại trớc là xây dựng một nền giáo dục quy cũ Bởi vậy ngay đời vuaTrần Thái Tông trong khoa thi Bính Thìn (1256) đã tổ chức thi cử rộng rãi cho cả
"vùng trại" và "vùng kinh" quy định lấy hai Trạng Nguyên
Qua nhiều thử thách "Cá vợt Vũ Môn", trong các khoa thi, đặc biệt khoa thiHội, sĩ tử vùng Hoan Diễn đã tỏ rõ tài năng không thua kém sĩ tử vùng kinh nên nhàTrần thấy không cần phải phân biệt "kinh" và "trại" trong thi cử nữa Bởi thế trongkhoa thi ất Hợi (1275) Trạng Nguyên Đào Tiêu quê ở Chi La (Đức Thọ) đã đỗ đầu,khai khoa cho lịch sử khoa cử ở Hà Tĩnh nói chung, Chi La nói riêng trong thời Nhohọc phong kiến
Nh vậy một nền tảng giáo dục Nho học đã đợc tạo dựng trên đất Chi La (ĐứcThọ) với tấm gơng mà nhân dân Chi La - La Sơn tự hào đó là Trạng Nguyên ĐàoTiêu Sự đỗ đạt của vị Trạng nguyên đầu tiên này đã chứng tỏ một sức sống âm ỉtrong ý thức "thành danh" bằng con đờng khoa cử của sĩ tử Đức Thọ xa Dù chỉ họctrờng t, học thầy đồ tại nhà nhng tỉ thí với sĩ tử kinh kỳ thì sức học không thua kém
Trang 32Đến năm 1281, hệ thống giáo dục phong kiến mới phát triển rộng khắp, trờngcông lập mới đợc mở ở các phủ, huyện, bố trí thầy dạy, lập quy chế tuyển chọn sinh
đồ, đào tạo nhiều nhân tài Và La Sơn, ngay lập tức chứng minh sức học của mìnhtrớc chính sách giáo dục mới của triều đình, đó là Sử Hy Nhan đỗ Trạng nguyên
Ông đợc Vua thán phục, và liền ban cho họ "Sử", còn họ thật của ông là họ "Trần"
Đây không chỉ là một vinh dự lớn của gia tộc Sử Hy Nhan, của làng Ngọc Sơn (nay
là Đức Thuận - Đức Thọ), mà là niềm tự hào lớn của vùng "đầu sóng ngọn gió" này.Bớc sang thế kỷ XV, nhà Hồ (1400 - 1407) đã có những cải cách giáo dục và
ảnh hởng không nhỏ tới vùng "phên dậu" nh ở La Sơn - Đức Thọ Chính sách cảicách giáo dục vơn tới Lộ, Phủ với chức giáo thụ trông coi việc học, lập học điền từ
12 đến 15 mẫu và sự mệt mài chăm học đã giúp Nguyễn Biểu (La Sơn - ĐứcThọ) đậu Thái học sinh Mặc dù số lợng sĩ tử đậu trong thời gian này không nhiều
do đời sống kính tế thấp, nên cha bắt kịp bằng vùng châu thổ sông Hồng, nhng chắcchắn tinh thần học hỏi ở các thầy đồ, các trờng t trong làng La Sơn - Đức Thọ rất sôinổi, có thế mới đậu cao trong hoàn cảnh khách quan và chủ quan khó khăn
Khi quân Minh xâm lợc, Hoan Châu trở thành vùng đất nóng bỏng của cáccuộc khởi nghĩa quý tộc Trần và sự đàn áp của quân Minh nên việc học hành đãphải gác lại trong một thời gian dài
Đến nhà Lê sơ (1428-1527), thời kỳ phát triển rực rỡ của xã hội phong kiếnViệt Nam, giáo dục đặc biệt đợc quan tâm với nhiều cải cách lớn từ Trung ơng đến
địa phơng Và ở La Sơn - Đức Thọ lúc bấy giờ, ngoài hình thức học ở nhà (t gia) tứcgia đình nuôi thầy dạy con cái, thì việc học ở làng xã cũng diễn ra sôi nổi do các h-
ơng s phụ trách và các gia tộc cho các danh Nho trong dòng họ các quan về dạy họctrò Thời gian này ở La Sơn có nhà khoa bảng Trần Dực (1465-1512) đã miệt màigiúp đỡ học sinh nghèo hiếu học trong làng Ngoài ra con em La Sơn tham gia học ởtrởng tổng, trờng phủ do Nhà nớc lập ngày càng một đông
Thời kỳ ổn định lâu dài của đất nớc Đại Việt thời Lê Sơ cùng với chính sáchgiáo dục tổ chức trờng lớp từ Trung ơng đến địa phơng đã tạo điều kiện phổ biến t t-ởng Nho giáo và Hán học đối với đông đảo kẻ sĩ Đức Thọ, cũng chính thời gian này
"cơng vực" đợc chú trọng hơn bao giờ hết, đã có cơ hội toả sáng nền văn hoá quê
h-ơng, khẳng định một nền văn hoá gióp phần không nhỏ vào sự thịnh vợng văn hoádân tộc, mà công lao lớn thuộc về sĩ tử La Sơn đã không quản gian truân, miệt mài
đèn sách, sôi kinh nấu sử, sánh vai với sĩ tử kinh kỳ
Cuối triều Lê Sơ, các thế lực phong kiến nổi dậy, đẩy nớc ta vào giai đoạn lịch
sử đầy biến động với bao mất mát, gián đoạn sự phát triển Giáo dục khoa cử lúc này
Trang 33cũng có những thay đổi đáng kể bởi tình hình đất nớc chia cắt dới thế lực Vua LêChúa Trịnh - Mạc phân tranh, rồi Lê Trịnh đàng ngoài, Chúa Nguyễn đàng trong.
La Sơn - Đức Thọ lúc này thuộc vùng quản lý của Vua Lê Chúa Trịnh (từThanh Hoá đến Thuận Hoá) và giáo dục chịu ảnh hởng lớn bởi triều Lê mà quyềnlực trong tay Chúa Trịnh Do đó sự quản lý trực tiếp của Nhà nớc có phần hạn chế sovới giai đoạn Lê Sơ Lúc này sự quan tâm lớn nhất của Vua Lê Chúa Trịnh là tậptrung binh lực để chống nhà Mạc nên rất chủ quan trong việc thu hút nhân tài, đàotạo kẻ sĩ
Đến đời Lê Trung Hng, Nhà nớc có nhiều chính sách và biện pháp để khôiphục lại hệ thống giáo dục quốc gia, nhng sự ổn định hiếm hoi đã không tạo điềukiện nhiều cho giáo dục khoa cử Tàn quân Mạc gây loạn rồi lại sự xuất hiện cụcdiện Đàng trong, Đàng ngoài, tang thơng mất mát lại tiếp diễn, kéo dài mãi tới khicuộc khởi nghĩa Tây Sơn dành thắng lợi
Dù trong suốt thời gian dài lịch sử dân tộc đầy biến động, giáo dục ở làng xã ít
đợc quan tâm, giá trị bậc thang Nho học có phần suy giảm, nhng trong tâm thức vàsinh hoạt văn hoá của ngời dân La Sơn - Đức Thọ vẫn không coi thờng việc học Bởinhững con ngời sinh ra trên mảnh đất khô cằn, thiên nhiên khắc nghiệt, xa xôi kinh
kỳ họ luôn có sự khao khát vơn lên từ sự học, vơn lên không chỉ để thành danh,
mà vì còn những mục đích rất giản dị, thuần hậu nh "Tiến vi quan, thối vi s" Tiếnlên thì làm quan thờ vua giúp đời, lùi về thì làm thầy, truyền đạo thánh hiền
Nhằm mục tiêu ấy, hàng nghìn học trò La Sơn - hăm hở lao vào con đờng cửnghiệp, với sự cổ vũ, giúp đỡ của gia đình, làng xóm Nhiều làng xã đặt "học điền",ghi vào hơng ớc những quy định đề cao và u đãi Nho sĩ để khuyến khích việc học.Sách Yên hội thiên chí, phần dân tục chí chép:
"Sinh con trai phải cho đi học con trai không đi học đến tuổi thành đinh phảivào sổ, chịu việc làng Ngời có học, thi đỗ, thì cũng vào sổ, ngời cha thi đỗ, dù làtráng trởng, vẫn để ngoài sổ nhng thu cho mọi tạp dịch của làng "
ở La Sơn lúc này còn lập ra các hội, trong đó có "Hội đồng môn" Mục đíchcủa hội chủ yếu là chăm sóc, giúp đỡ thầy khi sống cũng nh khi chết Còn bà con,làng xóm rất quan tâm tới sự học của con em, ngời giúp giấy bút, ngời giúp tiền gạocho học trò nghèo đi thi Nhng gia đình mới là nơi đầu tiên và quan trọng nhất trong
sự nghiệp học hành của con cháu Bất cứ ngời dân bình thờng nào cũng mong ớc chocon cái "kiếm dăm ba chữ của thánh hiền cho sáng mắt" và cao hơn là đợc "mở mày
mở mặt với thiên hạ" Đặc biệt là các bà mẹ, ngời vợ chịu khó thơng nuôi con, nuôichồng ăn học Hình ảnh ngời vợ đợc khắc hoạ trong câu ca:
Trang 34"Canh một dọn cửa, dọn nhà Canh hai dệt cửi, canh ba đi nằm, Canh t cho đến canh năm, Thức chàng dậy học còn nằm làm chi!"
Sống trong môi trờng nh vậy, học trò La Sơn nổi tiếng chăm học và học giỏi ởThăng Long xa từng có câu: "Bánh dẻo nh văn Hoàng Trừng", còn trong "Nghệ anngũ tuyệt" thì La Sơn có "Việt Yên Thi" và "Lai Thạch Văn" đó là những vùng
"Đất học" nổi lên từ trong hoàn cảnh lịch sử thời kỳ này
Cũng nh nhiều làng xã khác của vùng đất An Tĩnh trong thời gian này, vịêchọc hành đợc diễn ra sôi nổi ở trờng công lập, trờng t, đặc biệt là ở ngay trong mỗilàng, mỗi xóm, làng học đợc hình thành, rồi có những gia đình Nho học, các thế hệcon cháu kế tiếp nhau nối nghiệp học, từ đó hình thành nên những dòng họ khoabảng nổi tiếng, những dòng họ có trong nhà nơi nào cũng có sách, hình thành nhmột th viện gia đình, La Sơn - Đức Thọ có th viện gia đình họ Hoàng ở Châu Phong,
họ Lê ở Trung Lễ, họ Phan ở Yên Đồng các th viện gia đình này đã góp phầnkhông nhỏ hình thành nên những nhân cách lớn, những danh nhân văn hoá, chiến sĩyêu nớc ở Hà Tĩnh qua các thời kỳ mà tên tuổi đến nay vẫn đợc mọi ngời trọngvọng, tự hào
Qua gia phả các dòng họ hiện còn giữ lại thì thời Lê Trung Hng ở Đức Thọ, ờng học t gia là phổ biến (nói là "trờng" nhng thực chất đây là những lớp học tại gia)
tr-và là nơi đào tạo cho đất nớc nhiều nhân tài nổi tiếng, góp phần tạo nên phong hoácho vùng quê này nói riêng và Hà Tĩnh nói chung, nổi bật nhất trong thời gian này
ở La Sơn có trờng Bảo Khê Hoàng Dật, Trờng ông học trò đông nhiều ngời thành
đạt La Sơn Nguyễn Thiếp là học trò chịu nhiều ảnh hởng ở ông
Khi chiến tranh kết thúc, triều đại Tây Sơn đợc dựng lên, dù tồn tại rất ngắn(1789-1802) chỉ có 13 năm, nhng vua Quang Trung đã có những ý tởng táo bạo.mạnh dạn trong cải cách giáo dục theo hớng thực học, thực tiễn, muốn xây dựngmột nền giáo dục thực sự không quá bắt chớc khuôn phép nền giáo dục Nho học ởTrung Quốc Nhà Vua đã uỷ cho La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp (ngời làng Mật Thôn,xã Nguyệt Ao, huyện La Sơn) làm viện trởng Sùng Chính Viện, và cử một số bậckhoa bảng Nghệ an dịch một số sách Tứ th, Ngũ kinh ra chữ Nôn làm sách giáokhoa dạy ở trờng làng và Phủ, Huyện, Trấn Nhng việc này cha làm đợc triệt để thìtriều Tây Sơn sụp đổ
Trớc sự góp sức của La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp vào cải cách giáo dục TriềuTây Sơn thì dân vùng quê ông (La Sơn - Đức Thọ) cũng chịu ảnh hởng không nhỏ tr-
Trang 35ớc sự trọng dụng này, mà điều trớc tiên đó là niềm tự hào, một khát vọng mới trêncon đờng khoa cử khi đất nớc ổn định.
Thời gian dù ngắn, có 13 năm, nhng sự hiếu học, tích cực tham gia thi cử củacon em La Sơn không dễ gì bị ngắt quảng Và tuy nhà Tây Sơn có những cải cáchnhng trong làng xã chủ yếu vẫn là nền giáo dục Nho học nh trớc đây, không dễ thay
đổi trong một khoảng khắc ngắn ngủi này Và một hiện trạng phân hoá trong bộphận Nho sĩ về thái độ đối với triều Tây Sơn cũng đã diễn ra ảnh hởng tới chí hớngcủa sĩ tử, đây là hiện tợng tơng đối phổ biến đối với làng xứ Nghệ lúc bấy giờ Còn ở
La Sơn, con em phần lớn vẫn miệt mài đèn sách, vẫn đến học ở các thầy đồ nổi tiếng
và chờ khoa thi Tiêu biểu cho trờng t ở La Sơn - Đức Thọ lúc này là Trờng Bùi
D-ơng Lịch
Học sinh ở trờng t đủ mọi lứa tuổi, mọi cấp bậc Có ngời thì mới học khai tâm,
có ngời làm bài mẫu đã thành thạo, có ngời mới biết chữ, có ngời đã làu Tứ th, Ngũkinh chờ ngày ứng thi Nói chung trờng lớp ở làng xã là nơi đào tạo đầu tiên,trang bị kiến thức cơ bản cho sĩ tử trớc khi đi thi, có mấy ai ra trớc thiên hạ để tỉ thí
mà cha một lần qua trờng làng, cha một lần bị thầy đồ gõ đầu
1.2.2.2 Thành quả giáo dục và khoa cử của sĩ tử Đức Thọ từ thế kỷ XV
đến cuối thế kỷ XVIII.
Vào thời Lý, Thăng Long và phụ cận, Nho học đã rất thịnh, thì Thanh - Nghệcòn là đất trại xa xôi Nếu lấy việc thi cử làm mốc, thì xứ Nghệ đi sau xứ Bắc đúnghai thế kỷ Tuy vậy sĩ tử Đức Thọ nói riêng và Ngệ tĩnh nói chung đã nỗ lực vơn lênsánh vai cùng sĩ tử kinh kỳ, không thua kém trong các kỳ khoa cử bởi thế mà thànhquả đỗ đạt rất cao Với vùng quê Đức Thọ thì đã đi vào sử sách với tên gọi của “lànghọc”, “làng khoa bảng”
Trên cơ sở các tài liệu có đợc, có thể khẳng định rằng trong suốt thời gian từ
đầu thế kỷ XV, rõ nhất là từ triều Lê sơ trở về sau, sĩ tử Đức Thọ đã lập thành tíchlớn trong khoa cử, rất nhiều ngời đã đậu đại khoa trong các khoa thi triều đình tổchức, tên họ đợc ghi nhận trên những bia đá lu truyền từ triều đại này qua triều đạikhác Rồi còn những sỉ tử đậu trung khoa tiểu khoa đợc sử sách ghi nhận Tuy vậy
do nguồn tài liệu lu giữ cho đến nay không còn đầy đủ, nên khi nêu tên các sĩ tử đậu
đạt hẳn sót rất nhiều
Theo các tài liệu, có thể tổng hợp số ngời La Sơn - Đức Thọ đỗ đạt trong kỳ thiHội thi Đình nh sau:
Trang 361 Nguyễn Tắc Trung: (1450-?) ngời xã La Giang, nay thuộc xã Đức La - năm
23 tuổi ông đỗ Tiến sĩ khoa Nhâm Thìn, niên hiệu Hồng Đức 3 (1472), đời LêThánh Tông Ông làm đến chức Đô cấp sự trung
2 Phan Thúc Cẩn: (1458-?) ngời xã Việt Yên Hạ nay là xã Tùng ảnh Năm
18 tuổi ông thi đỗ khoa ất Mùi, niên hiệu Hồng Đức 6 (1475) đời Lê Thánh Tông
từ nhỏ ông đã nổi tiếng "thần đồng" ông làm quan đến chức tham chính Ông là anhruột tiến sĩ Phan D Khánh, hai anh em làm quan đồng triều
3 Phan D Khánh (1461-?) quê xã Yên Việt nay là xã Tùng ảnh, năm 21 tuổi
ông đỗ tam giáp đồng tiến sĩ, khoa Tân Sử niên hiệu Hồng Đức 12 (1481) đời LêThánh Tông Ông làm quan đến chức Hiến sát sứ
4 Nguyễn Doãn Huy (1454-?) Quê xã La Giang nay là xã Đức La, năm 31
tuổi ông thi đỗ khoa Giáp Thìn, niên hiệu Hồng Đức 15 (1481) đời Lê Thánh Tông
Ông làm đến chức Tham chính
5 Phạm Nại: (1462-?) quê xã Bình Hồ nay là xã Yên Hồ, năm 26 tuổi, ông thi
đỗ tiến sĩ khoa Đinh Mùi, niên hiệu Hồng Đức 18 (1487) đời Lê Thánh Tông, ônglàm quan đến chức phụng Thiên phủ doãn
6 Trần Tớc: (?-?) quê xã Cổ Ngu nay là xã Trung Lễ ông thi đỗ tiến sĩ khoa
Bính Thìn, niên hiệu Hồng Đức 27 (1496), đời Lê Thánh Tông Lúc đầu ông làm trihuyện, sau đợc thăng đến chức Giám sát ngự sử
7 Hoàng Trừng: (1470-?) Quê xã Bình Lỗ, nay là xã Đức Nhân huyện Đức
Thọ, là cháu ngoại của Nguyễn Biểu, ông thi đỗ Đệ nhị giáp (Hoàng Giáp) khoa KỷMùi, niên hiệu Cảnh Thống 2 (1499), đời Lê Hiến Tông Ông làm quan đến chức Lễ
bộ tả thị lang, tham chởng Hàn Lâm Viên sự Hoàng Trừng tự Nhất Thanh, hiệu LỗHiên, ông có tác phẩm nối tiếng là Nghĩa sĩ truyện
8 Trần Dực (1465-1542) ngời xã Ngãi Lăng, nay là xã Đức Yên Năm 38 tuổi
ông thi đỗ Hội nguyên, Đệ nhị giáp (Hoàng Giáp), khoa Nhâm Tuất, niên hiệu CảnhThống 5 (1502), đời Lê Thánh Tông Sau này lại đỗ khoa Đông Các, làm quan đếnchức Hộ bộ t thị lạng Ông giỏi thơ phú quốc âm (Nôm), khoảng năm Canh Ngọniên hiệu Hồng Thuận (1510) ông giữ chức Đông các hiệu th, thờng đợc dự cácbuổi xớng hoạ với nhà vua, th ông thờng đợc vua khen, ban thởng nhiều lần rất trọnghậu
Mùa hè năm Nhân Dần (1542) ông cùng với Khang quận công Trần Nghĩa
đem quân ra đánh dẹp ở Nghệ an, không may bị sóng gió chìm thuyền, tử nạn
Trang 379 Nguyễn Chiêu: (1524-?) ngời xã Việt Yên Thợng, nay là xã Yên Hồ, năm
31 tuổi ông đỗ Đệ nhị giáp (Hoàng giáp) khoa Giáp Dần, niên hiệu Thuận Bình 6(1554) đời Lê Trung Tông, ông làm quan đến chức cấp sự trung
10 Hồ Bỉnh Quốc: (?-?) Quê xã Bình Lăng nay là xã Đức Thuận, ông thi đỗ
Đệ nhị giáp (Hoàng Giáp) khoa Đinh Sửu, niên hiệu Gia Thái 5 (1577), đời Lê ThếTông
Theo Nghệ An ký: Năm ất Mùi, niên hiệu Quang Hng (1595) ông giữ chứcHữu Thi Lang bộ Hộ, đợc sung vào giám khảo khoa thi Hội, sau bổ chức Thừa chính
Sứ Thanh Hoa Năm Bính Thân (1596), ông cùng Phạm Hồng Nho làm đặc pháiviên của Hàn Lâm viện đi quan sát đo đạc ruộng đất, phân định ngạch thuế của địaphơng Sau đó ông đợc thăng Tả thị lang bộ Lại, tớc Lễ cung nam Sau khi mất, ông
đợc tặng chức Thợng Th, tớc quận công
11 Nguyễn Phong: (1559-?) có sách chép là Nguyễn Tấn Phó) quê xã Bình
Hồ xã Yên Hồ, ông thi đỗ Đệ Nhị Giáp (Hoàng Giáp) khoa Quý Mùi, niên hiệuQuang Hng 6 (1583), đời Lê Thế Tông, ông thi đỗ năm 25 tuổi Ông làm quan đếnchức Thái Thờng Tự Khanh, khi mất ông đợc thăng chức Tả Thị Lang, tớc Nam (ông
là cháu bốn đời của thái học sinh Nguyễn Biểu - Thái Kim đỉnh chú)
12 Trần Phúc Hựu: (1551-?) quê xã Yên Việt Hạ, nay là xã Đức Yên, năm
33 tuổi, ông thi đỗ Đệ nhị giáp (Hoàng Giáp) khoa Quý Mùi, niên hiệu Quang Hngthứ 6 (1583) đời Lê Thế Tông, ông làm quan tới Đại lý Tự khanh, khi mất ông đ ợctặng chức Hữu Thị Lang, tớc Nam
13 Nguyễn Đệ: (1577-?) quê xã Minh Lang, nay là xã Trung Lơng, năm 47
tuổi ông thi đỗ tiến sĩ khoa Canh Dần, niên hiệu Vĩnh Tộ 5 (1623), đời Lê ThầnTông Ông làm quan đến chức Tham chính
14 Phan Hng Tạo, sau này đổi tên là Phan Hng Vận (1606 - ? ) Quê xã Bình
Lãng, nay thuộc xã Đức Thuận Năm 45 tuổi ông đỗ Tiến sĩ khoa Canh Dần, niênhiệu Khánh Đức 2 (1650 ) đời Lê Thần Tông
Năm ất Mùi đời Thịnh Đức 3 (1655), ông phụng chiếu Nam Chinh (đánh vớiChúa Nguyễn), lĩnh chức công chính đốc thị, cùng với Đốc suất Đào Quang Nhiêu
đóng quân ở Yên Trờng Mùa hè Bính Thân (1656) ông cầm quân đánh địch ởhuyện Thạch Hà, tự mình đi hàng đầu tớng sĩ, phá đợc giặc thắng lớn, bắt sống tùbinh rất nhiều Ông đợc thăng chức Thị Lang, tớc hầu Sau triều đình lại giao chophú quân công thống lĩnh các tớng hợp binh với Tiết chế Ninh Quốc công (TrịnhToàn) cùng đi đánh giặc, bèn phong cho ông giữ chức Đốc Thị Lâm trận ông chếttrong quân, đợc tặng Lại bộ Tả thị Lang, tớc quận công
Trang 3815 Lê Đắc Toàn (1622- ?) Quê xã Bình Hồ, nay thuộc xã Yên Hồ Năm 31
tuổi ông đỗ tiến sĩ khoa Nhâm Thìn, niên hiệu Khánh Đức 4(1652) đời Lê ThầnTông Ông từng giữ chức tham chính xứ Sơn Nam, Đốc thị Nghệ An, sau đợc thăngchức Thiêm đô ngự sử, tớc Tử Sau khi mất ông đợc tặng chức Hữu thị Lang bộcông
16 Tần Lê Thoan (1691-?) Quê xã phi cảo nay là xã Đức Tùng, năm 23 tuổi
ông đỗ Tiến sĩ khoa Nhâm Thìn, niên hiệu Vĩnh Thịnh 8 (1712) đời Lê Dụ Tông
Ông làm quan đến chức Lại khoa cấp sự trung Sau khi mất đợc tặng hàm Thamchính
17 Phan Nh Khuê (1693.?) Quê xã Yên Trung nay là thị trấn Đức Thọ Năm
41 tuổi, ông thi đỗ Tiến sĩ khoa Quý Sửu, niên hiệu Long Đức 2 (1733) đời LêThuần Tông Ông làm quan đến chức Hiến sát sứ
18 Lê Cận: (1667-?) Quê xã Tờng Xá nay là xã Đức Châu, ông thi đỗ Tiến sĩ
khoa ất Mùi, niên hiệu Vĩnh Thịnh 11 (1715) đời Lê Dụ Tông
19 Phan Nh Phúc (khúc) quê xã Yên Trung nay là thị trấn Đức Thọ ông thi
đỗ Tiến sĩ năm 1733
20 Phan Khiêm Thụ (1722?), ngời xã Yên Việt Hạ nay là xã Tung ảnh
-năm 36 tuổi ông thi đỗ Ttiến sĩ khoa Đinh Sửu -năm Cảnh Hng thứ 18 (1757), đời LêHiển Tông Ông làm quan đến chức Cấp sự trung
21 Phan Bảo Định (1747-?) Quê xã Yên Toàn nay là xã Tùng ảnh Năm 41
tuổi ông thi đỗ Tiến sĩ khoa Đinh Mùi, niên hiệu Chiêu Thống1 (1787), đời Lê Mẫn
Đế Dới thời Lê Chiêu Thống, ông làm quan công khoa đô cấp sự trung D ới triềuTây Sơn, ông đợc vời vào làm việc tu th ở viện Sùng Chính tại Phú Xuân một thờigian rồi xin về quê nhà Đầu đời Nguyễn, ông đợc bổ chức Đốc học Thanh Hoá, sau
đổi về Đốc học Nghệ An
22 Bùi Dơng Lịch (1758-1828) Quê xã Yên Toàn, nay là xã Tùng ảnh Năm
30 tuổi, ông thi đỗ Hội Nguyên, Đình Nguyên, Đệ Nhị Giáp (Hoàng Giáp) khoa
Đinh Mùi niên hiệu Chiêu Thống 1(1787) đời Lê Mẫn Đế
Trớc khi thi đỗ, ông đợc bổ chức Nội hàm cung phụng sử, hàm Viên ngoạilang Khi Chiếu Thống lánh khỏi Thăng Long, ông theo làm Thị thần một thời gian,sau khi vua Quang Trung lên ngôi ông dùng các nhân sĩ Bắc Hà trong đó có La Sơnphu tử Nguyễn Thiếp, Tiến sĩ Phan Bảo Định đợc vời vào viện Sùng Chính ở PhúXuân để làm việc tu th, đợc một thời gian ông xin quay về dạy học
Trang 39Đầu đời Gia Long, đợc vời ra làm quan nhng ông khẩn khoản từ chối, sau nhậnchức đốc học ở Nghệ An (khoảng 1805-1808) Sau đó ông đợc triệu về Phú Xuânlàm phó Đốc học Quốc Tử Giám (1812), nhng một năm sau lại xin quay về dạy học,
ông mất tại quê năm Mậu Tý (1828)
Bùi Dơng Lịch, tự Tôn Thành và Tồn Trai, hiệu Thạch Phủ, là nhà giáo, và làhọc giả có danh tiếng đầu thế kỷ XIX, ông đã để lại những công trình có giá trị nh :Nghệ An ký, Bùi gia huấn bài, ốc lậu thoại, Yên hội thôn chí
Trên đây là danh sách các sĩ tử đậu đại khoa thuộc vùng La Sơn xa Bên cạnhdanh sách này tôi muốn phụ chép thêm danh sách các vị đậu Đại khoa quê LaiThạch - Nguyệt Ao
Cũng nh các vùng quê thuộc La Sơn xa, Lai Thạch chịu ảnh hởng không nhỏ
về phong trào Nho học của ngời La Sơn, cũng đợc đào tạo từ những trờng t, những
ông đồ nổi tiếng ở La Sơn và gần 10 thế kỷ cái tên Lai Thạch gắn với tên gọi vàmảnh đất La Giang - La Sơn Từ trong vùng quê này ngời Lai Thạch đã cùng vơn lênvợt cái khó để đa danh dự, tiếng thơm về cho mảnh đất La Sơn, góp phần cùng baolàng quê ở La Sơn tạo nên đất học, đất khoa bảng nổi tiếng không chỉ ở Hà Tĩnh màcòn vang danh cả nớc Vào năm Khải Định thứ 6 (1921) trớc những cải cách hànhchính thì Lai Thạch đợc tách ra khỏi La Sơn (Đức Thọ nay)
Danh sách phụ chép này một phần tôi muốn làm sống lại phong trào giáo dụcNho học ở La Sơn xa với bằng chứng là thành quả khoa bảng từ năm 1400 đến 1919(tức trớc thời gian Lai Thạch tách ra) để ngời đọc dễ hình dung việc tách rời giữadanh sách chính và phụ chép cũng là cơ sở để bạn đọc phân biệt đợc La Sơn xa (trớc1921) với La Sơn - Đức Thọ ngày nay (Lai Thạch ngày nay thuộc huyện Can Lộc)
Danh sách các vị đại khoa đời Lê Tổng Lai Thạch, (Từ gia phả các dòng họ)
1 Nguyễn Tâm Hoằng: (1434-?) ngời Trai Thạch, huyện La Giang (nay thuộc
huyện Can Lộc) 45 tuổi đỗ Tam giáp Đồng tiến sĩ, khoa Mậu Tuất, năm Hồng Đứcthứ 9 (1478) Ông làm quan đến Tá lý công thần, Tả thị Lang bộ lễ
2 Nguyễn Hành: (1701-?) ngời xã Nguỵệt Ao huyện La Sơn, tổ tiên vốn ở xã
Cờng Gián, huyện Nghi Xuân học trờng Quốc Tử Giám, dự thi theo danh sách giámsinh, 33 tuổi đỗ Tam Giáp đồng tiến sĩ khoa Quý Sửu (1733) làm quan đến ĐôngCác Hiệu Th, sau làm Hiến sát sứ trấn Thái Nguyên
3 Phạm Kính (1715-1761) ngời xã Lai Thạch, huyện La Sơn, 29 tuổi đỗ Nhất
giáp tiến sĩ đệ tam danh (Thám Hoa), khoa Quý Hợi, năm Cảnh Hng thứ 4 đời LêHiển Tông (1743), thơ phú cả trong hai kỳ thi Hơng, thi Hội đều đợc xếp thứ nhất
Ông làm quan đến Thừa chính sứ có phụng chiếu đi dẹp giặc ở Hng Hoà, chết trong
Trang 40quân, đợc tặng Hình bộ tả Thị lang, tớc bá Lúc trớc khi ông giữ chức Đốc đồng xứTuyên Quang, triều đình giao cho ông đi dẹp giặc, có thêu cờ ngũ sắc sai sứ đếngiao, trên cờ viết bốn chữ lớn "Bắc dẫu dĩ Nam", khi ông mất lại có đề thơ viếng nhsau: "Lỡng đồ văn hữu võ - vạn lý hiểm vi di".
4 Nguyễn Huy Oánh (1713 - 1789), ngời xã Lai Thạch, 31 tuổi đỗ Nhất giáp
Tiến sĩ đệ tam danh (Thám Hoa) khoa Mậu Thìn, năm Cảnh Hứng thứ 9 (1948).Năm ất Dậu (1765) ông đợc bổ Đông các Đaị học sĩ, sung Chính sứ tuế cống nhàThanh; ông làm đến Hữu thị lang bộ Lại tớc lĩnh bá xin trí sĩ, sau lại có chiếu khởidụng, thăng Đô ngự sử, đổi sang Thợng th bộ hộ, thọ 77 tuổi Ông là anh NguyễnQuýnh, anh em làm quan đồng triều, con trai ông là Nguyễn Huy Tự
5 Nguyễn Quýnh: (1734 - 1785) quê xã Lai Thạch, thi Hơng đỗ giải nguyên,
39 tuổi đỗ Tam Giáp đồng tiến sĩ, khoa Nhâm Thìn, năm Cảnh Hng lần thứ 33(1772) Sau ông đổi tên là Trực, hiện là Phùng hiên, làm quan đến Hàn lâm Thi chế.Khi chúa Trịnh đi đánh Thuận - Quãng, ông đợc giao giữ chức Đốc Thị, chết trongquân
Ngoài ra còn các vị Đại khoa đời Lê, mà số liệu còn thiếu, cần xác minh lại,tôi mạn phép nêu lên đây để các bạn góp ý Những t liệu có đợc chỉ những vị này làngời thuộc La Giang - La Sơn, tham gia một số vị trí trong Triều Lê
1 Bùi Tiên Sinh (? - ?) Quê Tờng Xá, nay thuộc Đức Châu, Đức Thọ, đậu
tiến sĩ, làm Hữu Tham Nghị, nghĩa Lâm nam
2 Nguyễn Văn Nhã (? - ?) Quê Thái Yên, nay thuộc Đức Lâm - Đức Thọ.
Đậu tiến sĩ, làm Thợng th bộ hộ, làm Mậu Lâm lang
3 Phan Nhân Thọ (?- ?) Quê Thái Yên, nay thuộc Đức Lâm - Đức Thọ Đậu
tiến sĩ, làm thợng th bộ Hộ Văn Phúc Hầu
4 Phan Nhân Kính (? - ?) Quê Thái Yên, nay thuộc Đức Lâm - Đức Thọ Đậu
tiến sĩ, làm Thợng th bộ lễ, Tứ Xuyên hầu
5 Phan Khắc Kỷ (? - ?) Quê Yên Việt Hạ, nay thuộc Tùng ảnh - Đức Thọ,
Đậu tiến sĩ năm 1486
6 Phan Khắc Hoan (? - ?) Quê Phụng Công, nay thuộc Đức Hoà - Đức Thọ.
Đậu Tiến sĩ
7 Phan Hoa Quốc (Có sách chép là Phan Quốc Hoa) (? - ?) Quê ở Yên Việt
Hạ nay là Tùng ảnh - Đức Thọ Đậu Tiến sĩ khoa ất Mùi (1535), làm Huấn Đạo HàHoa