1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo dục nghệ an trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá giai đoạn 1996 2005

69 516 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo dục Nghệ An Trong Quá Trình Công Nghiệp Hoá - Hiện Đại Hoá Giai Đoạn 1996 - 2005
Tác giả Cao Thị Hằng
Người hướng dẫn GVC. ThS. Nguyễn Thị Bình Minh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
Thể loại Khóa luận
Năm xuất bản 2007
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 706 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, để phát huy truyền thống cao đẹp của ngời dân Xứ Nghệ và đa Nghệ An thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, tụt hậu so với các tỉnh khác về kinh tế, xã hội, Đảng bộ, nhân dân Nghệ An phả

Trang 1

Trêng §¹i häc vinh

Trang 2

Vinh, 05/2007 Trêng §¹i häc vinh

Trang 3

đình, bạn bè và đặc biệt tôi xin cảm ơn cô giáo Nguyễn Thị Bình Minh đã hết lòng giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này

Vinh, tháng 5 năm 2007

Sinh viên

Cao thị hằng

Trang 4

Mở đầu

1 lý do chọn đề tài

Giáo dục giữ một vai trò quan trọng, vị trí hết sức to lớn đối với sự phát triển của đất nớc Phát triển giáo dục đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp CNH - HĐH, là điều kiện phát huy nguồn nhân lực con ngời - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trởng kinh tế nhanh và bền vững, bởi một nền giáo dục tốt sẽ là cơ sở cho việc khai thác hiệu quả nguồn lực con ngời, cho sự phát triển kinh tế xã hội mỗi quốc gia trên chặng đờng đi tới

Đặc biệt các nớc đang phát triển nh Việt Nam thì việc phát triển giáo dục - đào tạo đóng vai trò quan trọng trong việc mở đờng cho sự phát triển lành mạnh và bền vững cả về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, bảo đảm cho quá trình CNH - HĐH đất nớc theo đúng định hớng XHCN

Trong giai đoạn đất nớc bớc vào quá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá Việc phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dỡng nhân tài là vấn đề bức thiết cần phải quan tâm

Nghệ An - quê hơng của nhiều truyền thống cao đẹp, đặc biệt là truyền thống ham học hỏi, tôn s trọng đạo

Do đó, để phát huy truyền thống cao đẹp của ngời dân Xứ Nghệ và đa Nghệ An thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, tụt hậu so với các tỉnh khác về kinh

tế, xã hội, Đảng bộ, nhân dân Nghệ An phải có giải pháp đồng bộ, trong đó đổi mới giáo dục đào tạo là một trong những giải pháp chính nhằm đào tạo con ng-

ời, đội ngũ tri thức, đáp ứng đợc nhu cầu phát triển đất nớc nói chung và Nghệ

An nói riêng

Vì vậy, việc lựa chọn mảng đề tài về giáo dục, lại là giáo dục vừa diễn ra trong thời kì CNH - HĐH là một việc làm cấp thiết

Trang 5

Qua việc nghiên cứu Giáo dục Nghệ An trong quá trình Công nghiệp hóa - Hiện đại hoá giai đoạn 1996 - 2005, từ đó tìm ra những mặt đã làm đợc và cha làm đợc, để phát huy mặt tích cực, mặt mạnh và tìm cách khắc phục những khó khăn của giáo dục Nghệ An, là góp một phần nhỏ vào việc làm sáng rõ lịch sử

địa phơng Với ý nghĩa đó tôi lựa chọn đề tài " Giáo dục Nghệ An trong quá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá giai đoạn 1996-2005" để làm khoá luận tốt nghiệp của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nghiên cứu tình hình giáo dục Nghệ An là một trong những nội dung quan trọng của lịch sử Nghệ An và là vấn đề cơ bản để bớc đầu nâng cao nhân lực phục vụ cho đất nớc và tỉnh nhà trong thế kỷ XXI Trong những năm gần đây, giáo dục đào tạo là vấn đề đợc nhiều nhà nghiên cứu chính trị xã hội quan tâm,

có nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục nh: "Tìm hiểu nền giáo dục Việt Nam trớc Cách mạng Tháng Tám 1945" của Vũ Ngọc Phan; "Giáo dục Việt Nam trớc ngỡng cửa thế kỷ XXI" Nhà xuất bản Chính trị năm 1999 đã bàn về…giáo dục trên các phơng diện khác nhau và nhất là các tác phẩm nghiên cứu về giáo dục Nghệ An, các báo cáo tổng kết từng năm học của Sở Giáo dục, các

"Đề án nâng cao chất lợng giáo dục phục vụ Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá","

60 năm ngành giáo dục và đào tạo Nghệ An" tuy nhiên vẫn còn chung…chung và mang tính khái quát

Từ các nguồn t liệu trên cùng với việc tiếp cận với các tạp chí nh Nghiên cứu giáo dục, Giáo dục thời đại, các tạp chí Nghiên cứu lịch sử, các khoá luận trớc đây về đề tài giáo dục, chúng tôi mong muốn tìm hiểu một cách tổng quát

về giáo dục Nghệ An trong thời kì Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá

3 Đối tợng phạm vi nghiên cứu

Trang 6

Thời gian : Giáo dục Nghệ An từ 1996 - 2005

Với đề tài này, tôi đi vào khái quát giáo dục Nghệ An từ những năm đầu tiên của nhà nớc mới và đi sâu vào tìm hiểu giáo dục trong suốt quá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá từ 1996 - 2005, từ đó rút ra những nét độc đáo riêng, những bài học kinh nghiệm quý báu qua những công cuộc đổi mới của giáo dục nhằm phục vụ cho sự nghiệp giáo dục tỉnh nhà, cũng nh những thành tựu đã đạt

Nguồn t liệu nh: "Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII,

IX, X " Hồ Chí Minh toàn tập" của nhà xuất bản Chính trị Quốc gia

Nguồn tài liệu lịch sử địa phơng: "Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Nghệ

An khoá XIV, XV", "Trí thức Nghệ An trong quá trình Công nghiệp hoá- Hiện

đại hoá ", " 60 năm nghành giáo dục đào tạo Nghệ An", các báo cáo của Tỉnh

uỷ, Uỷ ban Nhân dân tỉnh, Sở Giáo dục …

Tài liệu chuyên khảo về giáo dục Việt Nam nói chung và Nghệ An nói riêng;" Giáo dục Việt Nam trớc ngỡng cửa thế kỷ XXI" nhà xuất bản Chính trị Quốc gia năm 1999, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục

Bên cạnh đó, tôi còn tham khảo các ý kiến của các đồng chí lãnh đạo Sở Giáo dục để khai thác các tài liệu một cách chính xác, sao cho đa vào khóa luận

đạt kết quả tốt

Trang 7

4.2 Phơng pháp nghiên cứu

Để hoàn thành đề tài này tôi chủ yếu sử dụng : Phơng pháp lịch sử, phơng pháp logic, cùng các phơng pháp bổ trợ ; phơng pháp phỏng vấn, phơng pháp

điều tra xã hội học

Mặt khác, khi làm đề tài này bản thân tôi cũng cố gắng kết hợp su tầm, so sánh phân tích tìm ra những nét hợp lý có tính hệ thống để khai thác đề tài theo hiểu biết của mình

5 Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận, phục lục và tài liệu tham khảo, nội dung chính của đề tài đợc thực hiện trong 3 chơng sau:

Chơng 1 : Khái quát giáo dục Nghệ An từ 1945 đến 1986

Chơng2 : Giáo dục Nghệ An trong thời kì Công nghiệp hóa - Hiện đại hoá giai đoạn 1996-2000

Chơng3 : Giáo dục Nghệ An trong thời kì Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá giai đoạn 2000- 2005

Trang 8

1.1 Điều kiện tự nhiên - xã hội Truyền thống lịch sử - văn hóa:

1 1.1 Điều kiện tự nhiên và xã hội:

Nghệ An là một bộ phận lãnh thổ lâu đời của đất nớc Việt Nam, một tỉnh

đất rộng, dân đông, có vị trí chiến lợc, vị trí địa lí kinh tế quan trọng, có nền văn hiến lâu đời Ng… ời xa đã có nhận xét :" Nghệ An núi cao, sông sâu, phong tục trọng hậu, cảnh tợng tơi sáng, gọi là đất có danh tiếng hơn cả ở năm châu Ngời thì thuần hoà mà chăm học, sản vật thì nhiều thức quý của lạ , đ… ợc khí tốt của núi sông nên sinh ra nhiều bậc danh hiền , thực là nơi hiểm yếu nh… thành

đồng, ao nóng của nớc và là then khoá của các triều đại " [ Phan Huy Chú (lịch triều hiến chơng loại chí)]

Nghệ An nằm trong toạ độ 18°35'00" đến 20°00'10" vĩ bắc và từ

103°50'25" đến 105°40'30" kinh đông, phía Bắc giáp tỉnh Thanh Hoá, phía Nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía Đông là Biển Đông, phía Tây giáp các tỉnh Xiêng khoảng, Pôly khăm xay, Hủa phăn thuộc nớc Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào với đờng biên giới dài 419,5 km

Diện tích tự nhiên của Nghệ An có 16.487 km2, đứng thứ nhất trong cả

n-ớc Địa hình rất đa dạng, núi đồi, trung du chiến phần lớn đất đai toàn tỉnh Nằm trong vùng kiến tạo đặc biệt từ tuổi địa chất già đến trẻ, trong lòng đất Nghệ An chứa nhiều khoáng sản nh vàng, thiếc, chì, kẽm, mangan và nhiều khoáng sản phi kim loại nh các loại đá quý, các loại đất sét làm gạch ngói Đặc biệt đá vôi có trữ lợng rất lớn, phân bố ở nhiều nơi, là nguồn nguyên liệu dồi dào trong xây dựng

Đất đai tuy rộng, nhng độ phì nhiêu của đất kém màu mỡ, nhất là vùng miền núi, nên bị xói mòn rửa trôi khá nghiêm trọng

Rừng Nghệ An có hầu hết các loài thực vật, động vật của vùng nhiệt đới và

á nhiệt đới Thảm rừng rộng, hệ thực vật rừng phong phú về chủng loại; trong

đó rừng lá nhiệt đới là phổ biến nhất Trữ lợng gỗ lớn với nhiều loại gỗ quý nh pơ mu, lát hoa, a mộc, sến, lim, táu, gụ, săng lẻ và nhiều loại dợc liệu…

Trang 9

Biển: bờ biển Nghệ An có chiều dài 92 km, có rất nhiều cửa lạch nh: lạch Cờn, lạch Vạn, Cửa Lò, Cửa Hội Độ mặn trung bình là 3,4 - 3,5% Nhờ độ mặn nh vậy mà nghề làm muối có sản lợng cao trong mùa nắng Biển rất giàu hải sản nh cá chim, cá thu, tôm, cua, mực Ven các cửa lạch có nhiều bãi lầy,…

đầm phá, có thể khai thác nuôi trồng thuỷ sản

Nghệ An có khu nghỉ mát, du lịch Cửa Lò hấp dẫn với những bãi tắm đẹp, ngày càng thu hút khách du lịch trong và ngoài nớc

Sông ngòi: Nghệ An có con sông lớn nhất là sông lam( tức sông cả), bắt nguồn từ thợng Lào, chảy về biển theo hớng Tây bắc - Đông nam, dài 523 km

Hệ thống sông đó cung cấp một lợng phù sa màu mỡ, nguồn nớc phong phú cung cấp cho một vùng nông nghiệp trù phú

Khí hậu mang tính chất nhiệt đới, lợng ma trung bình cao 1.800 - 2000

mm nên nguồn nớc dồi dào, có bốn mùa rõ rệt Bên cạnh những thuận lợi đó,…

điều kiện thời tiết khắc nghiệt, khí hậu mùa hạ nóng kèm theo gió Lào, sơng muối và hạn hán, mùa đông thì quá rét, tình trạng rét đậm ma lũ kéo dài thờng xuyên xảy ra đã làm tổn hại không ít đến mùa màng, ảnh h… ởng đến đời sống nhân dân

Với nhiều vùng tiểu khí hậu, nhiều loại đất đai khác nhau, Nghệ An có

điều kiện phát triển nền kinh tế đa dạng

Giao thông vận tải: Nghệ An có Quốc lộ 1A xuyên Việt ở phía đông, Quốc

lộ 15A xuyên Việt ở phia tây, đi suốt chiều dài bắc nam của tỉnh Quốc lộ 7 xuất phát từ ngã ba Diễn Châu, đi theo hớng bắc sang tận Xiêng Khoảng ( Lào) Có đờng Sắt bắc nam đi suốt chiều dài của tỉnh, ngoài ra còn có đờng sông, đờng biển, đờng hàng không

Sự đa dạng về tự nhiên là điều kiện để Nghệ An phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và của nhân dân tạo điều kiện để phát triển giáo dục

1.1.2 Truyền thống lịch sử - văn hóa

Trang 10

Ngợc dòng lịch sử, từ trớc công nguyên cho đến nay, vùng đất này đã trải qua nhiều thay đổi về đơn vị hành chính với nhiều tên gọi khác nhau Thời Nguyễn, đơn vị là Trấn bị bải bỏ, cả nớc đợc chia làm 29 tỉnh, trực thuộc triều

đình Năm Minh Mệnh thứ 12( 1831), Nhà Nguyễn cắt hai phủ Đức Thọ và Hà Hoa, lập thành một tỉnh mới là Hà Tĩnh Từ năm 1831 đến nay, về địa giới tỉnh Nghệ An không thay đổi Song về cấp dới tỉnh, sau Cách mạng Tháng Tám năm

1945, các đơn vị hành chính là cấp phủ đợc đổi thành huyện, còn cấp tổng bị

bải bỏ

Sau khi nớc nhà thống nhất, từ năm 1976 đến năm 1991, Nghệ An và Hà Tĩnh đợc hợp nhất thành tỉnh Nghệ Tĩnh Từ tháng 9 năm 1991, Nghệ An đợc tái lập Hiện nay, Nghệ An có Thành phố Vinh, Thị xã Cửa Lò và 17 huyện.Theo kết luận của giới sử học qua di chỉ Thẩm ồm ( Quỳ Châu), trên đất Nghệ An đã có ngời vợn c trú cách ngày nay khoảng 20 vạn năm Ngoài di chỉ Thẩm ồm, giới khảo cổ học đã phát hiện ra các di chỉ thời đại cuối đồ đá cũ thuộc Văn hóa Sơn Vi; các di chỉ Văn hóa Hòa Bình, Văn hóa Quỳnh Văn, Văn hóa Đông Sơn

Dân số Nghệ An đến nay có khoảng 3 triệu ngời, chủ yếu là dân tộc Kinh, ngoài ra còn 34 dân tộc khác, trong đó một số dân tộc đông dân nh: Thái, Thổ, Khơ Mú, H' mông Các dân tộc ở Nghệ An đã gắn bó keo sơn đoàn kết với…nhau, chung lng đấu cật trong đấu tranh giải phóng dân tộc xây dựng quê hơng

và bảo vệ Tổ Quốc

Dân số đông, lực lợng lao động chủ yếu làm nông nghiệp, trình độ dân trí còn thấp, việc tiếp thu và ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vẫn còn yếu, cha tiếp cận với cơ chế thị trờng, tính công nghiệp trong sản xuất cha cao Trong thời kỳ đổi mới đội ngũ cán bộ có trình độ khoa học kỹ thuật tơng đối nhiều Song, phần nhiều chạy theo cơ chế, đội ngũ trí thức giỏi của Nghệ An sau khi đợc đào tạo tập trung ở các thành phố lớn

Trang 11

Nghệ An có kho tàng văn hoá dân gian rất phong phú, đa dạng, thơ, ca dao, tục ngữ, câu đối, câu đố rất hàm súc, giàu hình t… ợng Các làn điệu dân ca Nghệ Tĩnh trầm lắng mênh mang, đậm đà chất trữ tình Nghệ An có nhiều công trình kiến trúc cổ với kĩ thuật chạm khắc tinh vi nh ở Đền Cờn, Đền Bạch Mã,

Nghệ An không chỉ là một tỉnh rộng, có tiềm lực về điều kiện tự nhiên, hơn thế trong tiến trình phát triển của lịch sử, Nghệ An còn là cái nôi đào tạo nhân tài, là vùng "Địa linh nhân kiệt" Từ vùng đất này đã sinh ra biết bao hiền tài, làm rạng danh non sông đất nớc Con ngời Nghệ An trong suốt chiều dài lịch sử, do sự tác động của các điều kiện địa - chính trị và địa - kinh tế, cũng

nh các điều kiện xã hội khác, đã tạo nên một bản sắc văn hoá và thuyền thống riêng, mang đậm những giá trị tích cực

Nghệ Tĩnh là một vùng đất cổ của non nớc ta, một bộ phận của cực Nam gắn bó máu thịt với Tổ quốc ngay từ buổi sơ khai Song, cũng là vùng đất học, một vùng đất khoa bảng nổi tiếng thì phải đợi đến thế kỉ XVII về sau, mà từ thế

kỉ thứ XV từ thời Lê Sơ, đánh dấu sự chuyển mình Các lớp lớp thế hệ đông đảo

ông Đồ xứ Nghệ, những nhà nho xứ Nghệ để lại một hình ảnh đậm nét trong lòng nhân dân cả nớc, nói lên cái hiếu học, cái khổ học của xứ nàychủ yếu xuất hiện từ thế kỷ XVII trở về sau." Từ thế kỷ thứ XVIII việc học hành của Nghệ Tĩnh đã đuổi kịp " tứ chiếng" Và từ đầu thế kỷ thứ XIX đến đầu thế kỷ XX, tức

là dới triều Nguyễn, khi kinh đô đợc đặt ở Huế, số ngời đỗ tiến sỹ ở Nghệ Tĩnh chiếm 1/6 tổng số tiến sỹ của cả ba vùng Bắc Trung Nam".[Trích " Các vùng văn hóa Việt Nam", trang 140 GS Đinh Gia Khánh, Cù Huy Cận]

Có thể tìm thấy ở nơi đây không ít gia đình "Cha đỗ, con đỗ, cháu đỗ, đỗ cả nhà ", nhng có đợc thành đạt ấy đâu có dễ, họ đã phải " mai khoai, tra khoai, tối khoai, khoai ba bữa "

Theo thống kê của công trình " Các nhà khoa bảng Vịêt Nam" từ khi có kì thi đầu tiên dới thời Lý Nhân Tông tổ chức tháng 3 - 1057, đến hết chiến tranh

Trang 12

thế giới thứ nhất, các bia đá ở Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội, Văn Miếu ở Huế, hoặc các cuốn Đăng khoa lục, thì cả nớc có 2898 vị đại khoa từ Phó bảng

đến Trạng Nguyên, trong số đó có 278 vị đại khoa ngời Nghệ An, chiếm gần 1/10 số đại khoa cả nớc

Có một số trờng hợp cha con đồng khoa nh năm 1592 có Ngô Trí Tri và con Ngô Trí Hoà ở Diễn Kĩ, Diễn Châu đều đi thi thì cha đỗ Tiến sĩ con đỗ Hoàng giáp, có kì thi 3 đại khoa đều là ngời Nghệ nh khoa thi 1871; Nguyễn Xuân Ôn ở Diễn Thái, Nguyễn Đúc Quý ở Khánh Sơn, Nam Đàn, Dơng Phúc Hạp ở Quỳnh Đôi, Quỳnh Lu, hoặc khoa thi năm 1907, Nghệ An có 2/4 ngời đỗ Hoàng giáp và khoa thi 1910 Nghệ An có 2/4 ngời đỗ Tiến sĩ …

Con ngời Nghệ An yêu lao động, cần cù chịu khó, giàu truyền thống cách mạng, đặc biệt là truyền thống hiếu học, học giỏi Thời nào cũng vậy con ngời

Xứ Nghệ đều có vị trí và vai trò xứng đáng trong mỗi lĩnh vực chính trị, xã hội, quân sự của đất n… ớc Quê hơng này đã sản sinh ra và nuôi dỡng nhiều bậc hiền tài nh; Phan Bôi Châu, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Văn

Cừ , trong đó tiêu biểu nhất là chủ tịch Hồ Chí Minh, ng… ời con u tú của quê

h-ơng, lãnh tụ vĩ đại của cả dân tộc, Danh nhân Văn hoá Thế giới

Nhân dân nghệ An có bề dày truyền thống yêu nớc và cách mạng rất đáng

tự hào Từ cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trng năm 40 cho đến cuộc khởi nghĩa Lý Bí năm 542, trong hơn năm thế kỷ ấy, nhân dân vùng đất này luôn luôn là lực lợng

và chỗ dựa tin cậy Đến thế kỷ VIII, dân Hoan Diễn ( bao gồm Nghệ An và Hà Tĩnh ngày nay) đã vùng dậy chống ách cai trị của Nhà Đờng Cuộc khởi nghĩa

do Mai Thúc Loan lãnh đạo Nghệ An đã từng là "đất đứng chân" của nhà Lê…Sơ chống giặc Minh, giải phóng đất nớc Đặc biệt khi ngời anh hùng áo vải Quang Trung dừng chân tại nghệ An để tuyển quân, hàng vạn trai tráng Xứ Nghệ đã sẵn sàng gia nhập nghĩa quân Tinh thần yêu nớc ngời dân Xứ Nghệ còn thể hiện rõ trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Khi thực dân Pháp xâm lợc nớc ta, nhân dân Nghệ An đã thực hiện quyết tâm "đánh cả

Trang 13

Triều lẫn Tây" Đất Nghệ An có rất nhiều vị anh hùng đã cống hiến trí tuệ, nhiệt huyết cho đất nớc nh: Phan Bội Châu, Lê Hồng Phong, Nguyễn Minh Khai, Phan Đăng Lu và đặc biệt là Nguyễn … ái Quốc - Hồ Chí Minh.

Có thể nói Nghệ An là một tỉnh lớn, có tiềm năng dồi dào về đất đai, sông ngòi, biển, có điều kiện phát triển kinh tế Con ngời Xứ Nghệ thông minh, cần

cù, nhiệt tình, hăng say với công việc, ham học những tiền đề đó là điều kiện…quan trọng giúp Nghệ An có tiềm lực thu đợc nhiều kết quả trong công việc xoá

đói giảm nghèo, vơn lên thành một tỉnh có nền kinh tế tơng đối khá, tạo đà để

đuổi kịp và vợt xa các tỉnh bạn trong sự nghiệp CNH - HĐH

Trên đây, ta thấy Nghệ An là non xanh nớc biếc, vừa non xanh vừa hiểm trở "Biển nh núi cuốn, núi sừng sững, non Bắc non Nam ngàn bạt ngàn"( Cao Bá Quát) Điều kiện ấy vừa tạo thuận lợi cho ngời dân Xứ Nghệ song lại đòi hỏi con ngời một nghị lực phi thờng để vợt qua, để đa Nghệ An phát triển trong t-

Đối với nhân dân ta, từ địa vị nô lệ lên làm chủ một đất nớc độc lập Đất nớc

b-ớc vào kỉ nguyên mới - Kỉ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội

Sau Cách mạng tháng Tám nớc ta có gặp muôn vàn khó khăn, kinh tế kiệt quệ, tài chính khô cạn, nạn đói đe doạ hơn 90% dân số mù chữ, thù trong giặc ngoài …

Trang 14

Đứng trớc tình hình đó Trung ương Đảng, Chính phủ Lâm thời và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có sự quan tâm đặc biệt và trăn trở tìm mọi giải pháp đa

đất nớc thoát khỏi khó khăn Ngày 03 - 09 - 1945 trong phiên họp đầu tiên của chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra " 6 biện pháp cấp bách" để giải quyết những khó khăn trong đó có biện pháp chống giặc dốt, và theo Hồ Chí Minh " Giặc đói Giặc dốt là bạn đồng hành của giặc ngoại xâm ", vấn đề

mở trờng học, xoá nạn mù chữ đợc Đảng và Nhà nớc và Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức quan tâm Nhân ngày khai trờng đầu tiên của nớc VNDCCH, ngời đã gửi th cho các học sinh " Non sông Việt Nam có trở nên tơi đẹp hay không, dân tộc Việt nam có bớc tới đài vinh quang để sánh vai với các cờng quốc năm châu

đợc hay không, chính là nhờ một phần lớn ở phần lớn ở công học tập của các

đẳng nhng đã nhiệt tình tham gia Đến tháng 3 - 1946 Nghệ An đã mở đợc 2.200 lớp học với 31.369 học viên và 7.780 giáo viên cha kể lớp học ở nhà, tiêu biểu nh xã Diễn Trung, huyện Diễn Châu Tổ chức các tuần lễ Bình dân học vụ,

đến ngày 19-5-1949 Nghệ An đã có 6 huyện miền xuôi đã thanh toán nạn mù chữ, hai huyện Quỳnh Lu, Anh Sơn gần hoàn thành [18,23]

Cùng với việc tổ chức các lớp Bình dân học vụ, chiến dịch chống mù chữ

đợc triển khai nhanh chóng Trên cơ sở xoá mù chữ cho nhân dân, từng bớc đã

Trang 15

hình thành đội ngũ giáo viên ngời địa phơng theo mức " ngời biết chữ dạy cho ngời cha biết chữ" và đã đạt đợc những thành tựu đáng kể Cuối năm 1946 xóm thợ Trờng Thi đợc Ty Bình dân học vụ cấp giấy chứng nhận đơn vị thanh toán nạn mù chữ, đây là tiền đề cho việc thanh toán nạn mù chữ giai đoạn tiếp theo.

Kế hoạch 3 năm thanh toán nạn mù chữ đợc thực hiện và thu đợc nhiều kết quả: tháng 12 năm 1958, Nghệ An đợc công nhận là tỉnh " hoàn thành căn bản xoá bỏ nạn mù chữ cho lớp ngời từ 12 đến 50 tuổi ở miền xuôi và huyện Nghĩa

Đàn " Tỷ lệ ngời biết chữ trong dân số ở độ tuổi 12 - 5 0 của Nghệ An là 94%,

đứng thứ 6 trên 21 tỉnh, thành Theo thống kê xoá nạn mù chữ: Năm 1957 đợc 29.489 ngời, năm 1958 đợc 67.307 ngời Chính phủ đã tặng Huân chơng Lao

động và Bằng khen cho tỉnh và một số xã đạt thành tích xuất sắc …

Giáo dục tiền học đờng

Là cơ sở và tiền đề để phát triển giáo dục cho nên ngay từ những ngày đầu xây dựng nền giáo dục mới Nghệ An đã mở các ấu trĩ viên ( vờn trẻ ), Dục Anh Viện, cho đến năm 1950, các huyện đồng bằng, mỗi huyện có một lớp ấu trĩ viên kiểu mẫu và đến đầu năm 1951 chủ trơng ấu trĩ viên thành lớp mẫu giáo Cùng với quá trình mở các lớp học, việc đào tạo huấn luyện đội ngũ giáo viên đ-

ợc chú trọng, sau các lớp huấn luyện, các giáo viên đợc chuyển về các địa

ph-ơng Nghệ An đã huấn luyện giáo viên vỡ lòng cho các huyện đồng bằng, và trong 9 năm kháng chiến chống pháp Nghệ An có 2.133 lớp vỡ lòng với 52.577 học sinh Đến năm 1957 Bộ Giáo dục có chủ trơng phổ cập giáo dục vỡ lòng,

Ty giáo dục Nghệ An đã tổ chức phát động thi đua thực hiện chủ trơng này, và

số lợng cũng nh chất lợng giáo dục đợc nâng lên nhanh chóng; năm học

1955-1956 số học sinh vỡ lòng là 30.810 với 1.050, thì đến năm học 1964 - 1965 số học sinh vỡ lòng là 60.980 em với 2.070 giáo viên và đến năm học 1973 - 1974

số học sinh vỡ lòng là 69.180 với 2.160 giáo viên.[18,56] Để nâng cao chất lợng

đào tạo và đáp ứng nhu cầu giáo viên, tỉnh mở trờng S phạm mẫu giáo và bớc

đầu đáp ứng đợc nhu cầu giáo viên cho các huyện, xã

Trang 16

- Giáo dục phổ thông

Với truyền thống hiếu học, ngay từ năm đầu tiên của cuộc kháng chiến chống Pháp, nhân dân Xứ Nghệ đã xây dựng nên sự nghiệp giáo dục phổ thông của mình, hệ thống trờng phổ thông mới ra đời gồm: bậc Tiểu học 4 năm, từ lớp năm đến lớp nhất ; Bậc Trung học từ đệ nhất đến đệ tứ niêm 4 năm ; bậc Trung học chuyên khoa gồm 3 ban: Văn, Toán, Lý và Sinh vật Chơng trình học với những nội dung đảm bảo tính chất: Dân tộc, khoa học, đại chúng

Hệ thống trờng phổ thông 9 năm

Cấp 1: ở miền xuôi mỗi xã có một trờng; ở miền núi nhiều xã mới có một trờng Số học sinh qua từng năm tăng nhanh: năm học 1946 - 1947 gần 45.000

em, 1948 - 1940 gần 50.000 em và đến năm học 1953 - 1954 gần 75.000 em.Cấp 2: Số học sinh cấp 2 không ngừng phát triển, năm học 1948 - 1949 gần 6.500 em, đến năm học 1953 - 1954 gần 13.000 em; ở các huyện miền xuôi

có một trờng cấp 2 quốc lập toàn cấp và một vài trờng cấp 1 có lớp 5 nhô và một vài trờng T thục ở miền núi ( huyện Anh Sơn có các trờng T thục Hồ Tùng Mậu, T thục Phan Thanh, huyện Yên Thành có trờng T thục Phan Đăng Lu ).Cấp 3: Trờng trung học chuyên khoa Huỳnh Thúc Kháng từ năm 1947 đến

1949 đóng ở Đức Thọ, Hà Tĩnh, sau đó mở thêm một số trờng

Năm học 1945-1946, các trờng tiểu học trong tỉnh đã đợc mở ra khắp các làng, xã Các trờng trung học cũng đợc mở rộng nh; Trờng trung học Đặng Thúc Hứa ở Thanh Chơng, Trờng trung học Nguyễn Xuân Ôn ở Diễn Châu… Cùng với việc mở rộng trờng lớp việc nâng cao chất lợng cho học sinh cũng đợc chú trọng, các môn học ngày càng nhiều hơn, Tiếng Pháp trở thành chuyên ngữ

để học tất cả các môn ngay từ bậc tiểu học Từ năm 1945 đến 1949, trong 5 năm đầu tiên này giáo dục phổ thông đã trởng thành một bớc rõ rệt về nhiều mặt, cả số lợng và chất lợng, phát triển về trờng lớp cũng nh nội dung dạy học Hoà bình lập lại giáo dục Nghệ An đợc giao nhiệm vụ khá nặng nề là đón nhận

và nuôi dạy 2.000 học sinh miền Nam tập kết ra Bắc, hàng trăm cán bộ quản lý

Trang 17

và giáo viên đợc huy động vào công tác giảng dạy, trong khói lửa chiến tranh Giáo dục không những duy trì mà còn phát triển và đã phát triển mạnh mẽ, phát triển theo quy mô lớn Đến năm học 1974-1975 quy mô giáo dục phổ thông là: cấp 1 có 472 trờng với 243.090 học sinh, cấp 2 có 397 trờng với 147.620 học sinh , cấp 3 là 26 trờng với 27.680 học sinh và đội ngũ giáo viên đông, giáo…viên dạy cấp 2 là 5.310 giáo viên , cấp 3 là 1.240 giáo viên [18,71]

Tóm lại, trong chặng đờng 30 năm 1945-1975 giáo dục phổ thông Nghệ

An đã phấn đấu và đạt đợc những thành tựu đáng kể trên tất cả các nghành học trên tất cả các mặt, số lợng, quy mô cũng nh chất lợng đào tạo

có 3 nông trờng thuộc tỉnh, 7 nông trờng thuộc Trung ơng, đợc công nhận học

bổ túc văn hoá Đến năm 1975 toàn tỉnh Nghệ An có 50 xã hoàn thành phổ cập trình độ văn hoá cấp 1 cho nhân dân; trình độ văn hoá của đối tợng 1: hết lớp 4 trở lên 70%, hết cấp 2 trở lên 50%; trình độ văn hoá của đối tợng3: hết lớp 3 trở lên 80%, hết cấp 2 trở lên 15%.[18,67]

Tóm lại trong chặng đờng 30 năm ( 1945-1975) giáo dục Nghệ An đã phấn đấu và đạt đợc những thành tựu đáng kể trên tất cả các ngành học về số l-ợng, quy mô cũng nh chất lợng đào tạo

Hạn chế, nguyên nhân

Trang 18

Tuy đã đạt đợc những thành tựu nhng giáo dục Nghệ An còn những hạn chế nh:

Mạng lới trờng lớp, cơ sở vật chất tuy đã đợc xây dựng song còn mang tính tạm bợ, nên khi thời tiết khó khăn phải nghỉ học, các trờng chủ yếu xây dựng ở

đồng bằng và thành phố Vinh nên việc tổ chức dạy học không đồng bộ

Chất lợng giáo dục tuy đợc chú trọng song không đồng đều, sách giáo khoa, đồ dùng học tập cha nhiều nên gây khó khăn cho việc dạy và học Đội ngũ giáo viên còn thiếu, nhất là ở các huyện miền núi công tác quản lý giáo dục còn thấp, cha có sự quan tâm đúng mức của các ban nghành chức năng, tính chất bao cấp trong giáo dục là chủ yếu

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là: sau khi cách mạng thành công,

đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, không có điều kiện đầu t cho giáo dục, chiến tranh diễn ra liên miên, cơ sở vật chất bị phá hỏng, cha có điều kiện để

đào tạo đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục …

1.2.2 Giáo dục Nghệ An giai đoạn 1975-1986

Thành tựu

Sau khi kết thúc chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đất nớc ta hoàn toàn giải phóng, Bắc Nam sum họp một nhà, đất nớc bớc vào thời kì xây dựng mới Trong tình hình, đó giáo dục có điều kiện để vơn lên đáp ứng yêu cầu cách mạng đặt ra Giáo dục Nghệ Tĩnh cùng giáo dục cả nớc thực hiện nhiệm vụ cải cách, để đa giáo dục phát triển đi lên phù hợp điều kiện đất nớc.Tỉnh ủy, ủy ban Nhân dân, Sở Giáo dục cùng nhân dân toàn tỉnh bắt tay vào xây dựng sự nghiệp giáo dục và đã đạt đợc những thành tựu đáng khích lệ:

* Tổ chức tổng kết đúc rút kinh nghiệm

Để đa việc giáo dục cho mọi tầng lớp nhân dân, nâng cao chất lợng giáo dục, ngành giáo dục đã tiến hành tổng kết rút kinh nghiệm ở các huyện đã hoàn thành phổ cập cấp 1 cho toàn dân trong độ tuổi thuộc 2 khu vực tập thể và nhà nớc nh: Kỳ Anh và Nông trờng 3-2 đã lôi cuốn các huyện thành thị khác trong

Trang 19

tỉnh và các ngành phấn đấu cho việc phổ cập cấp 1 cho nhân dân trong độ tuổi

và phổ cập cấp 2 cho đối tợng cán bộ, Đảng viên, đoàn viên và thanh niên Tiến hành tổng kết hoạt động của trờng cấp 1, cấp 2 Nghĩa Đồng, một trờng tiến tiến lâu năm ở miền núi phía tây Nghệ An Tổ chức tổng kết bài học kinh nghiệm tr-ờng cấp 1, cấp 2 Kỳ Tân, trờng tiên tiến xuất sắc về thể dục, vệ sinh đã có tác dụng thúc đẩy các trờng trong tỉnh trong việc chăm sóc sức khỏe cho học sinh Thông qua công tác tổng kết kinh nghiệm giáo dục toàn tỉnh rút ra đợc những kinh nghiệm và những bài học để phát triển giáo dục trong toàn tỉnh

* Quy mô và chất lợng đào tạo mầm non và trung học

Mạng lới trờng học ngày càng đợc mở rộng, cơ sở vật chất bớc đầu đợc trang bị Chất lợng đào tạo đợc tăng cờng, ngành học mẫu giáo tập trung xây dựng các đơn vị tiên tiến xuất sắc nhất nh; Đức Bùi - Đức Thọ, Diễn Minh - Diễn Châu, Nông trờng 1 - 5 Nghĩa Đàn

Tháng 12 năm 1978, 19 huyện đã hoàn thành phổ cập cấp 1 cho toàn dân trong độ tuổi, đợc ghi nhận là tỉnh hoàn thành phổ cập cấp 1 sớm nhất cả nớc Cuối năm học 1978 - 1979, trờng cấp 1 Nông trờng 1-5, Huyện Nghĩa Đàn đợc Chính phủ tặng cờ luân lu Cũng trong thời gian này, Nhà nớc đã tặng Huân ch-

ơng Lao động hạng Ba cho ngành Phát hành, Th viện của giáo dục Nghệ Tĩnh

Đặc biệt là xã Cẩm Bình đã đợc giải thởng quốc tế xóa nạn mù chữ của UNESCO [ 18,93]

Trong khi toàn tỉnh còn gặp nhiều khó khăn và đối mặt với những thử thách do thiên tai mang đến cũng nh cuộc chiến tranh Tây Nam 1978, Biên Giới

1979 Nhng nhân dân Nghệ Tĩnh không chùng bớc, quyết tâm vợt mọi khó khăn vơn lên thực hiện mọi chủ trơng của Đảng và Nhà nớc và đã đạt nhiều thành tích

Số lợng học sinh các cấp học ngày càng đông, năm học 1979 - 1980, mẫu giáo có 139.557 cháu, so với năm học 1974 - 1975 tăng 61.165 cháu, phổ thông cơ sở có 703.045 học sinh, so với năm học 1974 - 1975 tăng 116.970 học sinh,

Trang 20

phổ thông trung học có 60.124 so với năm học 1974 - 1975 tăng 18.520 Học sinh tốt nghiệp 10 năm, năm học1978 - 1980 lên tới 13.687 ngời Số lợng giáo viên và chất lợng giáo viên đợc nâng lên rỏ rệt, giáo viên mẫu giáo 5.721 ngời, giáo viên cấp 1 có 13.651 ngời, giáo viên cấp 2 có 10.315 ngời.[18,94]

Kết thúc năm học 1979 - 1980, giáo dục Nghệ Tĩnh đợc Chính phủ trao tặng Huân chơng Lao động hạng Nhì về bổ túc văn hóa

Thực hiện Nghị quyết 14 về Cải cách giáo dục của Bộ Chính trị đã đợc Bộ Giáo dục, Tỉnh ủy, ủy ban Nhân dân tỉnh chỉ đạo Sở Giáo dục triển khai thực hiện Hệ thống trờng học đợc sắp xếp lại: Nhập trờng cấp 1 và trờng cấp 2 thành trờng phổ thông cơ sở, trờng cấp 3 gọi trờng phổ thông trung học [18,95] Hớng

bố trí giáo viên cũng thay đổi, cải cách giáo dục đợc tiến hành đồng bộ

Bổ túc văn hóa: Thực hiện giáo dục cho mọi đối tợng và toàn xã hội, giáo dục bổ túc văn hóa đạt một số thành tựu nh; hai huyện miền núi Con Cuông và Quỳ Hợp căn bản xóa xong nạn mù chữ, 2 huyện Kỳ Anh và Diễn Châu báo cáo xin tỉnh kiểm tra công nhận hoàn thành phổ cập cấp 2 cho đối tợng 1 và 2 Trong kỳ thi bổ túc văn hóa cấp 3 vào tháng 6 - 1980 số học sinh dự thi lên tới 5.386 thí sinh Số giáo viên bổ túc văn hóa cấp 1,2 có 852 ngời, giáo viên bổ túc văn hóa cấp 3 có 532 ngời.[ 18,94]

* Triển khai xã hội hóa giáo dục

Để nâng cao chất lợng giáo dục, phát triển và bồi dỡng học sinh có năng khiếu văn chơng, Sở giáo dục và đào tạo đã mở lớp bồi dỡng sáng tác thơ văn cho học sinh, năm đầu tiên mở tại Cẩm Xuyên (1983), năm 1985 mở tại Cửa

Lò, năm 1986 mở tại trờng phổ thông Dân tộc Nội trú Tỉnh

Bồi dỡng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý, ngoài các hình thức bồi dỡng thờng xuyên, chủ trơng thi tay nghề để đạt giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh, cấp huyện Công việc này đợc tiến hành thờng xuyên, và trở thành phong trào phấn

đấu mạnh mẽ trong các nhà trờng Cùng với phong trào này, đã xuất hiện phong

Trang 21

trào" mỗi thầy cô giáo là tấm gơng cho học sinh noi theo" và cuộc vận động "

kỷ cơng, tình thơng, trách nhiệm".[18,97]

* Đẩy mạnh phát triển giáo dục miền núi

Cùng với việc phát triển giáo dục ở các huyện đồng bằng, giáo dục các huyện miền núi cũng đợc chú trọng phát triển Các lớp mẫu giáo đợc xây dựng hầu khắp các xã vùng thấp, một số xã vùng xa xôi hẻo lánh, vùng núi cao ở các công, nông, lâm trờng, xí nghiệp, cơ quan

Việc phát triển, xây dựng trờng lớp phổ thông ở miền núi đã kết hợp giữa phân tán và tập trung theo phơng châm trờng gần dân, quy mô nhỏ, phù hợp với

đặc điểm địa lý dân cơ miền núi, đặc biệt vùng cao, vùng xa xôi hẻo lánh Các huyện vùng cao đều có trờng trung học phổ thông, hệ thống trờng lớp phổ thông phát triển mạnh, đều khắp đáp ứng nhu cầu học tập của con em các dân tộc Giáo dục phổ thông miền núi phát triển nhanh chóng, số lợng học sinh dân tộc tăng nhiều Năm học 1973- 1974 miền núi có 47113 học sinh tiểu học, trong đó

có 23459 học sinh dân tộc, 17.228 học sinh trung học cơ sở trong đó học sinh dân tộc có 379 em, đến năm 1982- 1984, có 2.436 học sinh tiểu học, 10.696 học sinh trung học cơ sở, trong đó học sinh dân tộc có 5.660 em; 1.944 học sinh trung học phổ thông, trong đó học sinh dân tộc 659 em.[18,99]

Hạn chế, nguyên nhân:

Giáo dục của tỉnh Nghệ An còn non yếu và bất cập, nhất là về chất lợng và hiệu quả, cha đáp ứng đợc yêu cầu ngày càng cao về dân trí, nhân lực của công cuộc đổi mới kinh tế - xã hội

Số ngời mù chữ còn nhiều, mất cân đối về cơ cấu trình độ trong đội ngũ lao động

Công tác quản lý giáo dục còn nặng về sự vụ, kinh nghiệm, kỷ cơng nề nếp cha nghiêm, nhất là trong thi cử ảnh hởng đến sự phát triển toàn diện của học sinh và trong quan hệ thầy trò Các lớp bổ túc mở nhiều nhng cha chặt chẽ, chất lợng thấp

Trang 22

Đội ngũ giáo viên vừa thừa, vừa thiếu và vừa yếu, mới chú ý dạy chữ, ít quan tâm dạy làm ngời và làm việc Trình độ kiến thức, kỷ năng thực hành, ph-

ơng pháp t duy khoa học, khả năng vận dụng kiến thức vào sản xuất, đời sống

đa số học sinh còn yếu Đáng lo ngại là bộ phận học sinh đạo đức yếu, thiếu ý chí lập thân, lập nghiệp, mờ nhạt về lý tởng

Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học thiếu thốn, bị h hỏng nhiều, đa số ờng học cha đợc trang bị phòng thí nghiệm

tr-Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do: T tởng bao cấp trong công tác giáo dục còn nặng nề, các ngành các cấp cha coi đầu t cho giáo dục là đầu t cho phát triển

Phơng pháp giáo dục còn chậm đổi mới, cha phát huy tính sáng tạo của học sinh Nội dung cha gắn với cuộc sống Cha kết hợp giáo dục với lao động sản xuất

Đời sống của giáo viên còn khó khăn nên không có thời gian và điều kiện

để nâng cao trình độ

Các Cấp ủy Đảng cha quan tâm đúng mức, cha có chủ trơng để phát triển giáo dục toàn diện và nhất là ở các huyện miền núi Cha kết hợp đồng bộ trách nhiệm nhà nớc, các đoàn thể xã hội và gia đình, công tác xây dựng Đảng trong trờng học

Trải qua một chặng đờng dài từ ngày đất nớc giành đợc độc lập, nền giáo dục mới ra đời cho đến công cuộc đổi mới đất nớc, giáo dục Nghệ An đã phấn

đấu đạt đợc nhiều thành tựu trên tất cả các ngành học, chất lợng giáo dục toàn diện, chất lợng học sinh giỏi đi lên Hoạt động giảng dạy và các hoạt động khác

đã gắn với đời sống sản xuất chiến đấu Những thành tựu trên tạo đà cho công cuộc đổi mới đất nớc trên mọi lĩnh vực, nhất là trong giáo dục nói chung và Nghệ An nói riêng ở giai đoạn sau

Trang 23

Chơng 2 giáo dục nghệ an trong thời kì công nghiệp

hóa - hiện đại hoá giai đoạn (1996 - 2000)

2.1 Giáo dục Nghệ An bớc vào công cuộc đổi mới 1986 - 1996

Ngày 15-12-1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng khai mạc tại thủ đô Hà Nội đã đề ra đờng lối đổi mới toàn diện đất nớc trên tất cả các lĩnh vực "Cùng với những quan điểm, chủ trơng đổi mới kinh tế Đảng ta

đặc biệt quan tâm tới đổi mới giáo dục và đào tạo, coi đây là nhu cầu không thể thiếu của nhân dân, một yếu tố để thúc đẩy công cuộc đổi mới Báo cáo chính trị của Đảng nêu rỏ: Giáo dục nhằm mục tiêu hình thành và phát triển toàn diện nhân cách xã hội chủ nghĩa của thế hệ trẻ, đào tạo đội ngũ lao động có kỹ thuật, phù hợp với yêu cầu phân công lao động của xã hội Sự nghiệp giáo dục là một nội dung quan trọng của chính sách xã hội, góp phần quan trọng vào quá trình hội nhập và phát triển kinh tế xã hội của đất nớc trong quá trình thực hiện đờng lối đổi mới".[6, 245-246]

Dới ánh sáng của Nghị quyết Đại hội Đảng, tỉnh uỷ, Uỷ ban Nhân dân, Sở Giáo dục & Đào tạo Nghệ An đã tiến hành đổi mới trong giáo dục và đã đạt đợc những thành tựu to lớn nh:

2.1.1 Thành tựu

Giáo dục Mần non

Các trờng lớp đã thực hiên tốt việc chăm sóc trẻ: Mô hình trờng lớp Mẫu giáo bán trú đợc mở rộng nên tại những nơi này dạy đủ và đúng chơng trình, các chuyên đề chữ cái, âm nhạc, vệ sinh đợc thực hiện tốt, tỷ lệ số cháu đợc ăn

và đợc theo dõi sức khoẻ tại nhà trẻ và mẫu giáo tăng lên

Số lợng học sinh đi nhà trẻ năm học 1992-1993 là 36.645 cháu, đến năm học 1994 - 1995 là 28.455 cháu số lợng học sinh mẫu giáo ngày một tăng, từ

Trang 24

năm 1992 - 1993 là 96.843 học sinh đến năm 1994 - 1995 tăng 120.394 học sinh, mô hình trờng, lớp bán trú đợc mở rộng…

Giáo dục Tiểu học

Có sự tiến bộ rõ rệt trong việc thực hiện nội dung giáo dục toàn diện, năm học 1994 - 1995 là năm đầu tiên giảng dạy đủ 9 môn học; Học sinh giỏi Tiểu học phải thi cả hai môn: Tiếng Việt, Toán, giáo viên dạy giỏi Tiểu học cũng phải dạy giỏi hai môn Toán và Tiếng Việt năm học ( 1994 - 1995 ) tiếp nhận " công nghệ giáo dục" tại 4 trờng tiểu học tại thành phố Vinh, cũng là năm đầu tiên tổ chức dạy Tiếng Pháp từ lớp 1; Nhiều trờng đã tổ chức học bán trú( 2 buổi / ngày) cho học sinh

Để thực hiện phổ cập giáo dục Tiểu học, biện pháp chủ yếu xây dựng một nền Tiểu học phát triển cao, trong đó mấu chốt nhất là huy động 100% trẻ em đi học đúng độ tuổi, đảm bảo chất lợng, khắc phục triệt để hiện tợng bỏ học và lu ban nhiều Quán triệt đến tận cơ sở, trớc hết là cấp uỷ, chính quyền và đoàn thể các cấp về tinh thần và nội dung của Luật phổ cập giáo dục Tiểu học về những chủ trơng và biện pháp cần thực hiện để làm tốt việc phổ cập giáo dục Tiểu học.Toàn ngành giáo dục đã tập trung vào trọng tâm và mấu chốt của công việc là xây dựng vững mạnh các trờng Tiểu học để huy động tốt học sinh đi học

và đảm bảo chất lợng dạy và học Có thể nói rằng sau một thời gian ngắn bộ mặt của đại bộ phận trờng Tiểu học thay đổi nhanh chóng Vì vậy số lợng và chất lợng đều chuyển biến tích cực, yêu cầu của việc phổ cập giáo dục Tiểu học

đến hết năm 1995, các huyện đồng bằng và miền núi thấp đã cơ bản đạt tiêu chuẩn phổ cập giáo dục Tiêu học

Hệ thống trờng lớp đã có 543 trờng với số lợng học sinh từ năm 1992 -1993 là 399.838 học sinh đến năm học 1994 - 1995 lên tới 451.793 học sinh [18,102-103]

Giáo dục Trung học

Trang 25

Thực hiện công tác cải cách giáo dục phổ thông một cách đồng bộ, không chỉ các huyện đồng bằng, thành phố mà các huyện miền núi cũng đợc chú trọng ở miền núi mạng lới trờng lớp phổ thông đã kết hợp giữa phân tán và tập trung theo phơng châm trờng gần dân, quy mô nhỏ, phù hợp với đặc điểm địa lý dân cơ miền núi, đặc biệt vùng cao, vùng xa xôi hẻo lánh Các huyện vùng cao

đều có trờng trung học phổ thông, hệ thống trờng lớp phổ thông phát triển mạnh, đều khắp, đáp ứng nhu cầu học tập của con em các dân tộc

Sau công cuộc đổi mới của Đảng, Nhà nớc, giáo dục Nghệ An tập trung thực hiện theo 4 quan điểm của Nghị quyết hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ơng Đảng ( khóa VII ) về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo:

- Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực thúc đẩy và điều kiện cơ bản đảm bảo các mục tiêu kinh tế xã hội, xây dựng và bảo vệ đất nớc

Từ đó, coi đầu t cho giáo dục là một hớng chính của đầu t phát triển

- Mục tiêu của giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dỡng nhân tài, đào tạo những con ngời có kiến thức văn hóa, khoa học, có

kĩ năng nghề nghiệp v.v Phải mở rộng quy mô, đồng thời chú trọng nâng cao chất lợng, hiệu quả giáo dục, gắn học với hành, tài với đức

- Giáo dục đào tạo phải gắn chặt với yêu cầu phát triển đất nớc và phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại

- Giáo dục đào tạo phải đa dạng hóa các hình thức đào tạo và phải thực hiện công bằng hóa trong giáo dục

Trên cơ sở 4 quan điểm chỉ đạo trên, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ

An đã ra quyết định số 07 ngày 02-6-1993 và chỉ thị số 16- CT/TV ngày

4-6-1993 về " Chơng trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 của Ban chấp hành Trung ơng Đảng( khóa VII)"

Sau 2 năm nghị quyết đi vào cuộc sống sự nghiệp giáo dục và đào tạo phát triển rõ rệt, nhanh hơn, và đã có nhiều chuyển biến khởi sắc Quy mô tăng nhanh, số lợng học sinh ngày càng đông từ năm học 1992 - 1993 với 131.410

Trang 26

học sinh trung học và trung học cơ sở đến năm học 1994 - 1995 lên tới 190.648 học sinh trong đó có 154.404 học sinh trung học cơ sở và 36.244 học sinh trung học.

Các huyện tiến hành tách trờng phổ thông cơ sở thành trờng tiểu học và trung học cơ sở, hệ thống trờng phổ thông cơ sở là 56 trờng, quy mô các trờng trung học cơ sở đang lớn dần, hệ thống trờng trung học phổ thông ổn định

Loại hình trờng dân lập đã phát triển lên 3 trờng, bao gồm một trờng phổ thông và 2 trờng trung học phổ thông ( Trờng phổ thông dân lập Herman Gmeiner Vinh, Trờng trung học phổ thông dân lập Nguyễn Trờng Tộ, Trờng trung học phổ thông dân lập Lê Quý Đôn) Trong đó có trờng phổ thông dân lập Nguyễn Trờng Tộ đang tạo đợc niềm tin cho học sinh và phụ huynh, làm xuất hiện một khả năng mới trong việc đáp ứng nhu cầu học sinh trung học phổ thông đang tăng nhanh trong xã hội mà điều kiện đáp ứng của nhà nớc cha thể thoả mãn

So với mục tiêu đào tạo và nhu cầu của phát triển kinh tế - xã hội, chất ợng đã có những chuyển biến tích cực, kể cả chất lợng đại trà cũng nh chất lợng mũi nhọn, việc dạy Ngoại ngữ và Tin học tuy đang gặp nhiều khó khăn nhng đã

l-có sự cố gắng lớn Với mục tiêu đào tạo và nhu cầu của sự phát triển kinh tế - xã hội, năm học 1994 - 1995 có 154.405 học sinh Trung học cơ sở và 36.244 học sinh THPT Việc dạy Tin học và Ngoại ngữ ngày càng đợc tăng cờng, đã có 29.526 học sinh Trung học cơ sở chiếm 19% và 14.270 học sinh Trung học phổ thông, chiếm 39% đợc học ngoại ngữ, có 40 trờng tổ chức dạy Tin học, trong đó

có 9 trờng trang bị máy vi tính.[18,105]

Giáo dục Chuyên nghiệp

Các nhà trờng đã khẳng định sự tồn tại của mình, nên chất lợng đào tạo nhiều cơ sở đợc xây dựng theo hớng phù hợp hơn với điều kiện và nhu cầu của ngời học, loại hình đào tạo ngắn hạn với hình thức tích luỷ theo mô đun kiến thức đang đem lại hiệu quả thiết thực, thực hiện tinh giản lý thuyết tăng rèn

Trang 27

luyện thực hành và bổ sung nội dung mới vào chơng trình để phục vụ kịp thời nhu cầu của ngời học Hệ thống trờng chuyên nghiệp - dạy nghề đợc sắp xếp lại với 9 trờng trung học và chyên nghiệp, 10 trờng dạy nghề, 1 trờng trung học nghề và 12 trung tâm dạy nghề.[18,103] Với số lợng học sinh đông, năm học

1992 - 1993 có 19.600 học sinh, đến năm học 1994 - 1995 lên tới 25.000 học sinh Chất lợng đào tạo có chuyển biến tốt, nội dung đào tạo đợc theo hớng phù hợp hơn với điều kiện và nhu cầu của ngời học …

Mặc dầu còn khó khăn, nhng bên cạnh việc mở rộng quy mô số lợng, đẩy mạnh việc xây dựng đổi mới cơ cấu trờng học, nghành giáo dục đã có những phấn đấu lớn về nội dung chất lợng dạy và học đã đạt đợc hiệu quả khả quan và

đang cố gắng phát triển theo xu thế hiên đại

Trang 28

Sự phân cực học sinh ngày càng cao nhất là thành thị và nông thôn, miền xuôi và miền núi, giữa học sinh giỏi và học sinh yếu, do chênh lệch về kinh tế,

điều kiện sống và học tập ngày càng khắc biệt

Các trờng phổ thông phần lớn cha đợc trang bị kiến thức ngoại ngữ, tin học nên đã ảnh hởng đến việc chuẩn bị nguồn lực cho thời kì mới Cha thực hiện tốt các vần đề về giáo dục nh; thi cử cha đợc nghiêm tức, việc tổ chức học thêm, dạy thêm trà lan

Việc dạy đủ, dạy đúng chơng trình còn gặp nhiều khó khăn do thiếu giáo viên THCS, không đồng bộ và một số giáo viên trình độ còn bất cập Một số tr-ờng giáo viên và học sinh cha coi trọng đồng đều chất lợng môn học nhất là các lớp cuối cấp phải thi tốt nghiệp, thi vào Cao đẳng - Đại học

Việc cải tiến phơng pháp dạy tuy đã đợc đề ra từ các cấp quản lý, nhng cha

có biện pháp chỉ đạo bài bản thiết thực nên hiệu quả còn thấp, kinh phí thiếu nên tổ chức bồ dỡng cho giáo viên khó khăn

Công tác quản lý giáo dục còn hạn chế từ hiệu trởng, trong quản lý còn nặng về kinh nghiệm, nặng về sự vụ Quản lý chất lợng giáo dục cha có chiều sâu, cha gắn với cuộc sống xã hội quản lý kỉ cơng còn nhiều thiếu sót

Hiệu quả quản lý giáo dục cha ngang tầm với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội

Chất lợng giáo dục Đạo đức, giáo dục Thể chất, giáo dục Lao động của học sinh cha cao, măc dù đã có nhiều biện pháp và đã có chuyển biến rỏ trong nhận thức các cấp quản lý giáo dục

Nguyên nhân

Không có chính sách thu hút vào ngành s phạm, nên không có học sinh khá thi vào ngành s phạm, từ đó chất lợng đào tạo của các trờng s phạm thấp kém Giáo viên ít đợc bồ dỡng chuyên môn nghiệp vụ, đời sống giáo viên thấp.Cơ chế quản lý sử dụng kinh phí giáo dục, quản lý tổ chức và cán bộ giáo dục cha hợp lý Kinh phí cha tập trung hết về ngành giáo dục để có quy hoạch

Trang 29

tổng thể và sử dụng hết cho giáo dục, trên địa bàn quản lý không thống nhất, gây khó khăn trong quản lý giáo dục.

Cha kết hợp đồng bộ trách nhiệm nhà nớc - xã hội - gia đình Nguồn lực cho giáo dục không đáp ứng yêu cầu phát triển Cha có cơ chế gắn giáo dục đào tạo với phát triển kinh tế - xã hội trong đó giáo dục phải đi trớc

Một số chủ trơng chính sách giáo dục và sự chỉ đạo của Trung ơng cha hợp lý

2.2 Giáo dục Nghệ An trong thời kì Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá giai đoạn 1996 - 2000

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã đánh giá kết quả 5 năm thực hiện nghị quyết TW VII và 10 năm thực hiện đờng lối đổi mới, đã đạt đợc những thành tựu quan trọng song còn nhiều mặt hạn chế Tăng trởng kinh tế còn chậm, lạm phát còn cao, nhiều vấn đề xã hội mới nảy sinh, Mỹ vẫn bao vây cấm vận Một số thế lực thù địch đẩy mạnh hoạt động hòng gây mất ổn định chính trị, phá rối an ninh quốc gia sau những biến cố chính trị ở Liên Xô và Đông Âu,…chủ nghĩa xã hội tạm thời lâm vào thoái trào các mâu thuẫn cơ bản trên thế…giới vẫn tồn tại và phát triển, đấu tranh đân tộc và đấu tranh giai cấp diễn ra dới nhiều hình thức

Cách mạng khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển nhanh với trình độ ngày càng cao, thúc đẩy quá trình chuyển dịch kinh tế thế giới

Trong quan hệ quốc tế, hoà bình, ổn định và hợp tác để phát triển ngày càng trở thành đòi hỏi bức thiết của các dân tộc và quốc gia trên thế giới Các n-

ớc dành u tiên cho phát triển kinh tế, coi phát triển kinh tế có ý nghĩa quyết

định đối với việc tăng cờng sức mạnh tổng hợp của quốc gia …

Trớc mắt chúng ta là cả thời cơ lớn và thách thức lớn, chính vì thế chúng ta phải làm thế nào để vợt qua những thách thức đó

Xuất phát từ kết quả 10 năm đổi mới, từ những tiền đề đã đợc tạo ra, Đảng

ta nhận định nớc ta đã chuyển sang thời kì phát triển mới, thời kì đẩy mạnh

Trang 30

công nghiệp hoá, hiện đại hoá Mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá xây dựng nớc ta thành một nớc công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện

đại và đến năm 2020, ra sức phấn đấu đ… a nớc ta cơ bản trở thành một nớc công nghiệp, để thoát khỏi tình trạng nớc nghèo, kém phát triển

Đảng và Nhà nớc ta đã tiến hành quá trình Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá trên tất cả các mặt, trong đó giáo dục đợc xem là nhiệm vụ quan trọng để thực hiện quá trình Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá đất nớc

2.2.1 Chủ trơng của Đảng về giáo dục trong thời kì Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nớc

Mỗi chúng ta đều thấy rằng giáo dục đào tạo có vai trò, vị trí hết sức to lớn

đối với sự phát triển của đất nớc Phát triển giáo dục đào tạo là một trong những

động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá, là điều kiện phát huy nguồn nhân lực con ngời - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trởng kinh tế nhanh và bền vững, bởi một nền giáo dục tốt sẽ là cơ sở cho việc khai thác hiệu quả nguồn lực con ngời, cho sự phát triển kinh tế xã hội mỗi quốc gia trên chặng đờng đi tới Đặc biệt các nớc đang phát triển nh Việt Nam thì việc phát triển giáo dục - đào tạo đóng vai trò quan trọng trong việc mở đờng cho sự phát triển lành mạnh và bên vững cả về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, bảo đảm cho quá trình Công nghiệp hoá- Hiện đại hóa đất nớc theo đúng

định hớng XHCN nh chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói " Muốn có CNXH trớc hết phải có con ngời XHCN"[4, 11] Đồng thời phát triển giáo dục - đào tạo cũng là tiền đề cần thiết để có thể nắm bắt những thành tựu khoa học công nghệ hiện đại, rút ngắn khoảng cách với các quốc gia phát triển trên thế giới, từ đó nâng cao vị thế Việt Nam trên trờng quốc tế

Ngày nay, hớng tới thế kỷ XXI, thế kỷ của tri thức, thế kỷ mà trình độ dân trí và tiềm lực khoa học công nghệ đã trở thành nhân tố quyết định sức mạnh và

u thế của mỗi quốc gia trên thế giới Chăm lo sự nghiệp giáo dục - đào tạo con ngời là công việc của Đảng và của toàn xã hội, với t tởng chỉ đạo đặt con ngời

Trang 31

vào vị trí trung tâm của công cuộc xây dựng CNXH chính vì thế mà Đảng, Nhà nớc đã có những chủ trơng chính sách nhằm phát triển giáo dục - đào tạo.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII với Nghị quyết Hội nghị TW2 ( khoá VIII) về Giáo dục & Đào tạo đã quán triệt các quan điểm trên đồng thời trên cơ

sở đánh giá thực trạng nền giáo dục khoa học công nghệ trong những năm đầu thập kỷ 90 Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành TW Đảng (khoá VIII) đã xác định t tởng chỉ đạo phát triển giáo dục - đào tạo và định hớng chiến lợc phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nớc, cũng nh mục tiêu nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu của sự nghiệp giáo dục - đào tạo và khoa học công nghệ đến năm 2000

Nội dung của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành TW Đảng (khoá VIII) tập trung mọi cố gắng làm, dành u tiên cao nhất cho phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học công nghệ, thể hiện trên các mặt Chính sách đội ngũ cán bộ và tổ chức quản lý Làm cho việc phát triển giáo dục - đào tạo và khoa…học công nghệ trở thành sự nghiệp của toàn dân Bớc vào thời kỳ mới, phải nêu cao tinh thần độc lập tự chủ, ý chí tự lực tự cờng đi đôi với mở rộng quan hệ quốc tế phát triển, phát huy đầy đủ năng lực nội sinh của dân tộc, lấy phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học công nghệ làm yếu tố cơ bản coi đó là khâu đột phá [4, 9] Nghị quyết khẳng định: Gắn chiến lợc phát triển giáo dục với chiến lợc phát triển kinh tế, xã hội, " đổi mới nền giáo dục với cách làm thích hợp, trên tất cả các mặt tổ chức và quản lý, dạy và học, nghiên cứu và ứng dụng Quan tâm đến cả mặt bằng lẫn đỉnh cao dân trí, coi trọng giáo dục nhân cách, lý tởng và đạo đức, trí tuệ và thể lực, gắn học với hành, lý thuyết với thực tiễn Đó

là nền giáo dục thấm nhuần sâu sắc tính nhân dân, tính dân tộc và tính hiện đại

"[ 4,10]; Xây dựng và phát triển tiềm lực Khoa học Công nghệ của quốc gia, tiếp thu và ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ thế giới, từng bớc hình thành một nền khoa học công nghệ Việt Nam hiện đại, đủ sức giải quyết những

đòi hỏi của quá trình phát triển Tuy nhiên đầu t cho giáo dục - đào tạo vẫn là

đầu t cơ bản nhất cho sự phát triển toàn diện của đất nớc

Trang 32

Xây dựng những con ngời và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cờng xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc; Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nớc, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại [ 4,29]

Thực sự coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu, nhận thức sâu sắc giáo dục - đào tạo cùng với khoa học công nghệ là yếu tố quyết định tăng trởng kinh tế và phát triển xã hội, đầu t cho giáo dục là đầu t cho phát triển

Giáo dục - đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, của nhà nớc và của toàn dân Mọi ngời phải đi học thờng xuyên, học suốt đời, phê phán thói lời học, mọi ngời phải chăm lo giáo dục

Phát triển giáo dục - đào tạo gắn với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, những tiến bộ khoa học công nghệ và cũng cố quốc phòng an ninh

Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục - đào tạo, tạo điều kiện để ai cũng đợc học hành, ngời nghèo đợc nhà nớc và cộng đồng giúp đỡ để học tập,

đảm bảo cho những ngời học giỏi phát triển tài năng

Giữ vai trò nòng cốt của các trờng công lập đi đôi với đa dạng hoá các loại hình giáo dục - đào tạo, trên cơ sở nhà nớc quản lý từ nội dung chơng trình quy chế học, thi cử văn bằng

2.2.2 Giáo dục Nghệ An trong giai đoạn 1996-2000

- Chủ trơng của Đảng bộ Nghệ An và Sở Giáo dục đào tạo

Dới ánh sáng của Nghị quyết Trung ơng lần thứ 4 (khoá VII) về tiếp tục

đổi mới giáo dục đào tạo và Nghị quyết hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ơng Đảng (khoá VIII), Tỉnh uỷ, Hội đồng Nhân dân và Uỷ ban Nhân dân tỉnh, đã ban hành nhiều Quyết định, Nghị quyết, nhiều chủ trơng chính sách để phát triển Giáo dục

Trong giai đoạn 1996 - 2000 Đại hội Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XIV, luôn luôn xác định và coi giáo dục là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để phát

Trang 33

triển Sau khi có Nghị quyết TW 2 và chỉ thị 02/GDĐT ngày 22/2/1997 của Bộ, ngành giáo dục và đào tạo Nghệ An đã có chơng trình triển khai thực hiện Nghị quyết TW 2, chỉ thị, Nghị quyết đổi mới nội dung, chơng trình học, thay sách giáo khoa mới, xây dựng các Đề án nhằm nâng cao chất lợng giáo dục và đào tạo phục vụ cho sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá Ngoài ra, Tỉnh uỷ, Hội đồng Nhân dân và Uỷ ban Nhân dân tỉnh, Sở Giáo dục & Đào tạo cũng có những nghị quyết thực hiện nhiệm vụ từng năm học, một số chủ trơng chính sách nhằm nâng cao chất lợng đội ngũ giáo viên, chế độ chính sách khuyến khích học tập, Đề án xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị trờng học Đó là những tiền đề, là cơ sở để đ… a giáo dục Nghệ An phát triển.

- Thành tựu

* Giáo dục Mầm non

Quy hoạch mạng lới trờng lớp, thống nhất chỉ đạo trong toàn tỉnh từ năm

1995 đến 1998, hoàn thành việc sát nhập nhà trẻ và trờng mẫu giáo thành trờng mầm non, mạng lới trờng mẫu giáo, mầm non đợc mở rộng, số lợng phòng học ngày một nhiều từ năm học 1996 - 1997 có 434 trờng mẫu giáo, 254 nhà trẻ đến năm học 1999 - 2000 có 481 trờng mầm non Việc nâng cấp thiết bị, sách giáo khoa đợc cung ứng đáp ứng nhu cầu dạy và học, xây dựng hệ thống trờng mầm non trọng điểm

Số lợng và chất lợng đào tạo ngày càng đa dạng hơn, từ thống kê ở bảng 1 phần phụ lục ta thấy, số cháu đi nhà trẻ và mẫu giáo nhà trẻ và mẫu giáo năm học 1995 - 1996 là 114.809 cháu mẫu giáo đến năm học 1999 - 2000 lên tới

115526 cháu Để nâng cao chất lợng dạy, học năm học 1995 - 1996 giáo dục Nghệ An đã áp dụng chơng trình phù hợp với điều kiện từng vùng, đổi mới hình thức chăm sóc trẻ, thực hiện các chuyên đề Về chơng trình, Nghệ An đã áp dụng các loại chơng trình: Chơng trình chăm sóc - giáo dục trẻ Mẫu giáo, Ch-

ơng trình chỉnh lý nhà trẻ, Chơng trình Mẫu giáo 5 tuổi 26 tuần, Chơng trình Mẫu giáo 36 buổi Về chuyên đề đã triển khai có chất lợng các chuyên đề: Giáo

Trang 34

dục Âm nhạc, giai đoạn 1995 - 1999, giáo dục Lễ giáo giai đoạn 1996 - 1999; Hoạt động tạo hình, giai đoạn 1997 - 2000, Giáo dục An toàn giao thông giai

đoạn 1997 - 2002; Nâng cao chất lợng hoạt động vui Tháng 10 năm 1999 ngành giáo dục Mầm non Nghệ An đã vinh dự đợc Bộ Giáo dục và Đào tạo chọn làm điểm tổ chức trong việc tổ chức Hội nghị tuyên dơng điển hình tiên tiến giáo dục Mầm non toàn quốc trong thời kì đổi mới Đại diện các trờng Mầm non Quỳnh Diễn, Quỳnh Lu trờng Mầm non Nghĩa Bình, huyện Nghĩa

Đàn đã đợc đi dự hội thi này Vào tháng 3 năm 2000 Nghệ An đợc vụ giáo dục Mầm non chỉ đạo tổ chức Hội nghị phát triển Mầm non nông thôn tại Hng Nguyên Để nâng cao chất lợng giáo dục thì việc đào tạo đội ngũ giáo viên đợc quan tâm đúng mức, số lợng giáo viên đông với 3.050 giáo viên nhà trẻ và 5.561 giáo viên mẫu giáo ( năm học 1999 - 2000), điều đó đợc thể hiện rỏ ở bảng số liệu 1 phần phụ lục Trình độ đội ngũ giáo viên đạt chuẩn là 769, tỷ lệ 27,5% giáo viên nhà trẻ, 2634 tỷ lệ 47,7% giáo viên mẫu giáo năm học 1999 - 2000.[2]

* Giáo dục Tiểu học

Suốt gần một thập kỉ từ năm 1990 đến năm 1998, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Nghệ An mà lực lợng chủ chốt là cán bộ quản lý và giáo viên Tiểu học đã phấn đấu hết mình cho mục tiêu phổ cập giáo dục Tiểu học và Chống mù chữ Trớc thời điểm kế hoạch 2 năm, ngày 12/12/1998 Bộ trởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra quyết định số 4984/QĐ-BGD và ĐT công nhận Nghệ An đạt mục tiêu này

Từ cuối năm 1998, Nghệ An tiếp tục phấn đấu nâng cao chất lợng phổ cập giáo dục Tiểu học, thực hiện phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi theo quyết

định số 28/QĐ - BGD&ĐT ngày 23 - 6 - 1999 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, chất lợng đào tạo không ngừng đợc nâng cao một cách toàn diện, số học sinh tốt

Ngày đăng: 18/12/2013, 20:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Đảng cộng sản Việt Nam, văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII. NXB Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, năm 1996 Khác
4. Đảng cộng sản Việt Nam, văn kiện Hội nghị lần thứ 2, ban chấp hành Trung ơng( khóa VIII). NXB Chính trị Quốc gia HCM, năm 1997 Khác
5. Đảng cộng sản Việt Nam văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, năm 2001 Khác
6. Đảng cộng sản Việt Nam những tìm tòi và đổi mới trên con đờng lên Chủ nghĩa xã hội ( 1986-2005). NXB lý luận Chính trị Khác
7. Đảng cộng sản Việt Nam văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, năm 2006 Khác
8. Giáo dục đào tạo là con đờng quan trọng nhất để phát huy nguồn lùc con ngêi. NXB GD - HCM, n¨m 1996 Khác
9. Góp phần tìm hiểu t tởng Hồ Chí Minh. NXB Lao động, 2000 Khác
10. Kết luận của ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung Ương 2( khóa VIII) về giáo dục và đạo tạo và phơng hớng, nhiệm vụ phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2010, số 12 năm 2002 Khác
11. Phát triển giáo dục, phát triển con ngời phục vụ công nghiệp hóa- hiện đại hóa. NXB khoa học xã hội, Hà Nội 1996 Khác
12. Sở Giáo dục và đào tạo báo cáo đánh giá tình hình 2001- 2005 và nhiệm vụ 2006- 2010. Số 190 năm 2005 Khác
13. Trí thức Nghệ An trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. NXB Nghệ An, năm 2005.14. Tạp chí giáo dục15. Tạp chí Đảng cộng sản Khác
16. Văn kiện Đại hội đại biểu tỉnh, Đảng bộ Nghệ An lần thứ XIV. NXB Nghệ An, tháng 5 -1996 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Đánh giá kết quả xây dựng trờng Tiểu học đạt chuẩn quốc gia Năm học: 2005-2006 - Giáo dục nghệ an trong quá trình công nghiệp hoá   hiện đại hoá giai đoạn 1996 2005
Bảng 2 Đánh giá kết quả xây dựng trờng Tiểu học đạt chuẩn quốc gia Năm học: 2005-2006 (Trang 66)
Bảng 3: Số lợng học sinh trung học từ năm học 2000-2001 đến năm học  2004-2005 - Giáo dục nghệ an trong quá trình công nghiệp hoá   hiện đại hoá giai đoạn 1996 2005
Bảng 3 Số lợng học sinh trung học từ năm học 2000-2001 đến năm học 2004-2005 (Trang 67)
Bảng 4 số lợng học sinh giỏi bậc tiểu học từ năm học 1996 - 1997 đến năm  học 2004-2005 - Giáo dục nghệ an trong quá trình công nghiệp hoá   hiện đại hoá giai đoạn 1996 2005
Bảng 4 số lợng học sinh giỏi bậc tiểu học từ năm học 1996 - 1997 đến năm học 2004-2005 (Trang 67)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w