Giáo dục khoa cử Nho học Đức Thọ đã tạo ra đợc nét rất riêngcho Đức Thọ cũng nh chính con ngời Đức Thọ nên các trí thức Nho học đã để lại những tấm gơng sáng về khổ học cũng nh những đón
Trang 1Trờng đại học vinh Khoa lịch sử -.*. -
Để hoàn thành khoá luận tốt nghiệp: “Giáo dục khoa cử nho học
ở Đức Thọ thời Nguyễn (1802 - 1919)”, tôi đã nhận đợc sự công tác
của quý thầy cô, các ban ngành cùng toàn thể bạn bè.
Trớc hết tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới Th.S Hồ Sĩ Huỳ là ngời trực tiếp hớng dẫn đề tài khoá luận cuối khoá này Tôi cũng xin đợc tỏ lòng cảm ơn tới các thầy cô giáo khoa Lịch sử đã quan tâm giúp đỡ, tạo mọi
điều kiện thuận lợi cho công trình nghiên cứu khoa học quan trọng trong
4 năm sinh viên này.
Trang 2Tôi xin gửi lời cảm ơn tới: Th viện Đại học Vinh, Th viện khoa Lịch sử, Th viện tỉnh Nghệ An, UBND Tỉnh Hà Tĩnh, Sở Giáo dục đào tạo tỉnh Hà Tĩnh, Sở văn hoá thông tin Hà Tĩnh, UBND huyện Đức Thọ, Phòng giáo dục huyện Đức Thọ và nhiều cơ quan đoàn thể khác.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự động viên giúp đỡ của gia đình, bạn
bè đã cộng tác với mình trong thời gian qua.
Tác giả
Nguyễn Thị Vị
Mục lục
Trang:
A Phần mở đầu 03
1 Lý do chọn đề tài 03
2 Lịch sử vấn đề 04
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu 04
4 Phơng pháp nghiên cứu 05
5 Bố cục luận văn 05
B Nội dung 06
Ch ơng 1 : Khái quát vị trí địa lý, lịch sử văn hoá và lịch sử giáo dục khoa cử huyện Đức Thọ trớc thời Nguyễn 07
1.1 Điều kiện địa lý tự nhiên Đức Thọ 07
1.1.1 Điều kiện tự nhiên 07
1.1.2 Các đơn vị hành chính của Đức Thọ dới thời Nguyễn 08
1.2 Điều kiện lịch sử văn hoá 10
1.2.1 Con ngời Đức Thọ 10
Trang 31.2.2 Điều kiện lịch sử văn
hoá 11
1.3.Truyền thống giáo dục khoa cử Đức Thọ trớc thời Nguyễn.17 1.3.1 Khái quát về các vị khoa bảng 17
1.3.2 Bốn gơng mặt tiêu biểu 23
Ch ơng 2 : Giáo dục khoa cử Đức Thọ thời Nguyễn 29
2.1 Vài nét về tình hình giáo dục khoa cử nho học Hà Tĩnh thời Nguyễn 29
2.2 Hệ thống trờng lớp và tình hình thầy trò Đức Thọ thời Nguyễn 32
2.3 Những làng và những dòng họ tiêu biểu 36
2.4 Các nhà khoa bảng Đức Thọ thời Nguyễn 39
2.4.1 Tiểu sử tóm tắt các vị đại khoa 39
2.4.2 Danh sách các vị đỗ cử nhân đời Nguyễn 44
2.4.3 Một số gơng mặt tiêu biểu 50
2.4.4 Một số đặc điểm giáo dục khoa cử Nho học ở Đức Thọ thời Nguyễn 60
C Kết luận 63
Phụ lục 63
Tài liệu tham khảo 73
Trang 4A Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Nguồn lực con ngời đã và đang trở thành động cơ hàng đầu cho
sự phát triển của mỗi quốc gia Nhận rõ tầm quan trọng đó, trên con ờng xây dựng và phát triển đất nớc hiện nay Đảng và Nhà nớc ta xemgiáo dục là quốc sách hàng đầu Tuy nhiên việc học và thi hiện nay đangtrở thành vấn đề nổi cộm, vì vậy chọn đề tài giáo dục khoa cử đang làmột vấn đề rất cần thiết
đ-Nghệ Tĩnh nói chung và Đức Thọ nói riêng là vùng đất học nổitiếng từ xa đến nay Mỗi một chúng ta ai cũng đợc sinh ra và lớn lên trênquê hơng của mình, tôi mang trong mình bầu khí của niềm tự hào đó, nótrở thành một động cơ cho tôi nghiên cứu đề tài này
Hiện nay khi xã hội đã bớc vào nền văn minh hậu công nghiệp,hay còn gọi là nền kinh tế tri thức Kẻ làm chủ nhân loại là kẻ làm chủtri thức con ngời đang vơn tới những đỉnh cao mới, nhng chúng ta khôngthể quên đợc quá khứ là bệ phóng cho hôm nay và là điểm tựa cho ngàymai Bên cạnh đó thì vì cuộc sống đang quay trong quỹ đạo mới, con ng-
ời ta dễ quên lãng đi những giá trị văn hoá của chính mình Với mongmuốn tìm về quá khứ, khơi dậy trong thế hệ trẻ niềm tự hào về quê hơngcủa mình cũng nh muốn cung cấp cho các em một số hiểu biết về lịch sửquê hơng Đức Thọ, đặc biệt là trên lĩnh vực giáo dục nên tôi chọn đề tàinày phần nào đó nhằm đạt đợc ớc muốn nhỏ nhoi này
Giáo dục khoa cử Nho học Đức Thọ đã tạo ra đợc nét rất riêngcho Đức Thọ cũng nh chính con ngời Đức Thọ nên các trí thức Nho học
đã để lại những tấm gơng sáng về khổ học cũng nh những đóng góp tolớn của họ cho quê hơng đất nớc Bởi thế nó cũng trở thành một
trong những nội dung quan trọng cần thiết cho ngời giáo viên dạy sử để góp vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay
Chế độ giáo dục khoa cử Nho học ở Đức Thọ bên cạnh những mặttích cực vẫn còn có những mặt tiêu cực cần đợc đánh giá thật khách
Trang 5quan Dới thời Nguyễn Đức Thọ là mảnh đất địa linh nhân kiệt, với số ợng khoa bảng đứng đầu Hà Tĩnh lúc bấy giờ với những tên tuổi lu danhmuôn đời nh Phan Đình Phùng, Lê Văn Huân, Lê Thớc trở thành niềm
l-tự hào của mọi ngời dân Đức Thọ
2 Lịch sử vấn đề
Giáo dục khoa cử Nho học dới thời phong kiến đã đợc các sĩ phughi chép Tuy nhiên về giáo dục khoa cử huyện Đức Thọ dới thờiNguyễn là một đề tài với phạm vi nghiên cứu hẹp nên rất ít tài liệuchuyên sâu mặc dù đã đợc đề cập ít nhiều ở một số tài liệu liên quan từcác bình diện khác nhau
Đối với phạm vi rộng thì đã có các công trình nghiên cứu toàn
diện nh: “Tìm hiểu nền giáo dục Việt Nam trớc Cách mạng tháng
Tám/1945” của Vũ Ngọc Khánh, Nxb Giáo dục, HN 1985 “Sự phát triển giáo dục và chế độ thi cử ở Việt Nam thời phong kiến” của Nguyễn
Tiến Cờng, Nxb Giáo dục, 1998 “Nho học ở Việt Nam giáo dục và thi
cử” của Nguyễn Thế Long, Nxb Giáo dục, HN, 1995 các tác phẩm này
đã nghiên cứu chế độ giáo dục khoa cử một cách khá toàn diện song cònnằm ở tầm khái quát
Một số tác phẩm nghiên cứu cụ thể hơn về các nhà khoa bảng
Việt Nam, trong đó có các công trình lớn: “Các vị trạng nguyên, bảng
nhãn, thám hoa” của Trần Hồng Đức, Nxb Văn hoá thông tin, 2002;
“Các nhà khoa bảng Việt Nam” của Ngô Đức Thọ, Nxb Văn học, 1993;
“Những ông nghè, ông cống triều Nguyễn” của nhóm tác giả Bùi Hạnh
Cẩn, Nguyễn Loan, Lan Phơng, Nxb Văn hoá thông tin, 1995 ở cáctác phẩm này đã đề cập một cách khá chi tiết về tiểu sử các nhà khoabảng Việt Nam trong đó có cả các nhà khoa bảng Đức Thọ
Gần gũi hơn có các công trình nghiên cứu nh: “Danh nhân Nghệ
Tĩnh”, “Làng cổ Hà Tĩnh”, “Lịch sử Đảng bộ Hà Tĩnh” ở các tác phẩm
này đã cụ thể hoá hơn về Đức Thọ, tuy nhiên vẫn còn mang tính kháiquát nội dung giáo dục khoa cử còn ít
Gần đây có một số tác phẩm đề cập đến tình hình giáo dục khoa
cử Đức Thọ nh: “Giáo dục Hà Tĩnh - một thế kỷ xây dựng và phát triển”
do Hà Quảng và Bùi Thân chủ biên, Nxb Giáo dục đào tạo Hà Tĩnh,
2001; “Địa chí huyện Đức Thọ” do Thái Kim Đỉnh chủ biên, Nxb Hà Nội, 2004; “Lịch sử Đảng bộ Đức Thọ” (tập 1) do Nguyễn Trọng Văn
Trang 6chủ biên, trong đó có phần phụ lục 3 đa lên danh sách các vị đại khoacủa Đức Thọ Tuy nhiên tình hình giáo dục khoa cử vẫn cha đợc nghiêncứu một cách toàn diện.
Từ các nguồn t liệu trên cùng với việc tiếp cận với báo chí, các tạpchí nghiên cứu lịch sử, các khoá luận trớc đó về đề tài giáo dục khoa cử,với mong muốn dựng lại bức tranh giáo dục khoa cử huyện nhà thời kỳkhởi sắc nhất
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Đây là một đề tài hẹp với trọng tâm nghiên cứu giáo dục khoa cử
Đức Thọ dới thời Nguyễn (1802 - 1919) Tức là từ khi triều Nguyễn
đ-ợc xác lập cho đến khi chấm dứt khoa thi chữ Hán trên phạm vi cả nớc
Để tìm hiểu sâu sắc về nền giáo dục khoa cử thì công việc trớctiên là chúng tôi đề cập đến điều kiện địa lý tự nhiên, lịch sử văn hoá của
Đức Thọ, trên cơ sở đó hình thành nên nét độc đáo, đặc điểm nổi bật của
4 Phơng pháp nghiên cứu
ở đề tài này chúng tôi sử dụng phơng pháp lịch sử để trình bày sựkiện, nhân vật để thống kê đợc kẻ sĩ Đức Thọ thời Nguyễn Đồng thời sửdụng phơng pháp lôgic để rút ra bản chất sự kiện lịch sử, qua đó có cáinhìn từ khái quát đến cụ thể rút ra nét độc đáo Ngoài ra chúng tôi còn
sử dụng phơng pháp đối chiếu, so sánh để xử lý số liệu và tiến hànhnghiên cứu
5 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, luận văn gồm 2 chơng:
Ch
ơng 1 : Khái quát về vị trí địa lý, lịch sử văn hoá và lịch sử giáo
dục khoa cử huyện Đức Thọ trớc thời Nguyễn
Trang 7ơng 2 : Giáo dục khoa cử Nho học ở Đức Thọ thời Nguyễn.
B Phần nội dung
Ch ơng 1 Khái quát về vị trí địa lý, lịch sử văn hoá và giáo dục khoa cử huyện đức thọ trớc thời nguyễn
1.1 Điều kiện địa lý, tự nhiên Đức Thọ
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Nếu xét toạ độ của xứ Nghệ là 14053’50’’ đến 20000’10” vĩ Bắc
và 103050’25’’ đến 105040’30’’ Kinh Đông thì Đức Thọ nằm vào khuvực trung tâm với toạ độ 18,180 đến 18,350 vĩ Bắc, 103,380 đến 105,450Kinh Đông Phía Bắc giáp hai huyện Hng Nguyên và Nam Đàn, phía
Đông giáp Thị xã Hồng Lĩnh, phía Nam giáp Hơng Khê và Can Lộc,phía Tây giáp Vụ Quang và Hơng Sơn
Đức Thọ có điều kiện tự nhiên thuận lợi vào loại nhất xứ Nghệvới một cảnh quan địa lý riêng biệt, là vùng châu thổ sông La, sông Lam
và đợc bao bọc bởi các dãy núi nổi tiếng nhất xứ Nghệ là Hồng Lĩnh,Thiên Nhẫn, Trà Sơn Bởi cảnh quan địa lý ấy mà Đức Thọ có lắm danhlam thắng cảnh nên thơ và rất hùng vĩ dào dạt nên thơ bởi La Giang,Lam Giang, Ngàn sâu hùng vĩ và bởi núi cao, mây trắng, trời xanh củaTrà Sơn, Thiên Nhẫn Vị trí địa lý ấy đã tạo nên thế ổn định về địa giới
và địa danh, cũng chính nhờ vị trí địa lý ấy mà tạo nên một nét riêng củacon ngời Đức Thọ
Hệ thống sông ngòi ở Đức Thọ rất thuận lợi cho việc tới tiêu pháttriển kinh tế, giao thông đờng thuỷ Phía Bắc là sông Lam nơi hội tụ tất
Trang 8cả các sông suối của miền Tây Bắc xứ Nghệ đổ về trung tâm của vùng
đất Đức Thọ là Sông La nên thơ từ bao đời này, sông La là hợp lu củasông Ngàn Sâu và sông Ngàn Phố Hai con sông này gặp nhau tại ngã baLinh Cảm tạo thành một con sông lớn là sông La (con sông lớn nhất HàTĩnh) Chỉ tính riêng sông La mỗi năm chở về đây 6 tỷ m3 nớc và 1 triệutấn phù sa đảm bảo cho sự màu mỡ của ruộng đồng Đức Thọ, từ trớc tớinay nếu tính cả tỉnh Hà Tĩnh và xứ Nghệ thì Đức Thọ vẫn là vùng đất phìnhiêu nhất, Đức Thọ luôn đợc xem là vựa lúa của Hà Tĩnh
Về giao thông: ngoài giao thông đờng thuỷ thì đờng bộ và đờngsắt rất thuận lợi với huyện Đờng sắt qua huyện với chiều dài 25 km, đ-ờng 8A từ thị xã Hồng Lĩnh qua Đức Thọ lên Hơng Sơn để sang Lào.Con đê lớn nhất của Hà Tĩnh cũng nằm trên đất Đức Thọ, đó là con đê
La Giang với chiều dài 19,5 km từ Linh Cảm đến sát chân núi HồngLĩnh vừa có tác dụng chống lũ lụt vừa là con đờng giao thông quantrọng
Nh vậy điều kiện thự nhiên thuận lợi, vị trí địa thông thơng đợcvới các vùng khác một cách dễ dàng, giao lu đợc cả với trung tâm Vinh -Bến Thuỷ và thông đợc sang cả nớc bạn Lào Với sự u đãi ấy của thiênnhiên là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển kinh tế ở vùng đất nàycũng nh tạo ra nét rất riêng của c dân nơi đây
Bên cạnh những thuận lợi ấy thì cũng không ít khó khăn Đức Thọcũng nh toàn tỉnh Hà Tĩnh nằm trong vùng khí hậu khô hanh kéo dài,chịu ảnh hởng của gió Lào, nhiệt độ rất cao vào mùa nóng lại chịu lợngnớc lớn từ sông Ngàn Sâu, Ngàn Phố đổ về nên thờng tạo nên ngập lụt ởmột số xã ven đê nh Đức Ninh, Đức Tùng, Đức La, Liên Minh đã làm
ảnh hởng đến sản xuất cũng nh sinh hoạt của c dân nơi đây Chính trong
điều kiện này đã tạo nên ý chí sự vơn lên chiếm lĩnh tri thức mới đểchống chọi với thiên nhiên mu cầu sự sinh tồn
1.1.2 Các đơn vị hành chính của Đức Thọ dới thời Nguyễn
Vào thời dựng nớc Hà Tĩnh ngày nay thuộc bộ Cửu Đức, “là mộttrong 15 bộ của nớc Văn Lang - Âu Lạc mà Đức Thọ là một huyện nhỏnằm trong 15 bộ ấy” [9; 122]
Trong 1000 năm Bắc thuộc dới thời Tần - Hán vùng Đức Thọ nằm trong địa phận huyện Hàm Hoan, là một huyện rộng lớn thuộchuyện Cửu Chân Sau cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trng, Bà Triệu nhà Ngô tổchức lại bộ máy hành chính, vào thời điểm này Đức Thọ ngày nay mộtphần nằm ở huyện Việt Thờng Đến đời nhà Tần Đức Thọ ngày nay nằm
Trang 9trong địa phận huyện Cửu Đức Năm Vũ Đức thứ 9 thời Đờng Cao tổ đặtthêm ba huyện Yên Viễn, Đàm La và Quang Yên Đến năm thứ 13 lấyQuang Yên và Yên Viên thuộc vào huyện Cửu Đức Nên theo Bùi DơngLịch có lẽ cái tên La Sơn là từ hai chữ “Đàm La” và “Đức La” [9; 20]
mà có
Bớc sang kỷ nguyên độc lập tự chủ qua các triều đại phong kiếnViệt Nam thì vùng đất Nghệ Tĩnh về địa giới, địa danh trong khu vựchành chính này có nhiều thay đổi
Thời Gia Long, La Sơn đợc ghi là một trong bốn huyện thuộc phủ
Đức Quang Năm Minh Mạng thứ 3 (1822) vì đúng với tên huý nhà vuacho đổi tên Đức Quang thành Đức Thọ [9; 125]
Năm Minh Mệnh tứ 8 (1826) nhà vua cho cắt hai huyện phíangoài chuyển sang phủ Anh Sơn
Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) nhà vua cắt 2 phủ Đức Thọ và HàHoa từ tỉnh Nghệ An lập ra một tỉnh mới - tỉnh Hà Tĩnh, địa danh HàTĩnh có từ đó Riêng phủ Đức Thọ có 8 tổng: Việt Yên, Thịnh Cảo, Yên
Hồ, Hoa Lâm (Văn Lâm), Lai Thạch, Tự Đồng, Thợng Bồng, ĐồngCông
Năm Tự Đức thứ 6 (1853) cắt phủ Hà Hoa lập riêng đạo Hà Tĩnhchuyển phủ Đức Thọ về tỉnh Nghệ An Lúc bấy giờ Đức Thọ có 5 tổnggồm: Việt Yên, Thịnh Cảo, Yên Hồ, Hoa Lâm (Văn Lâm), Lai Thạch,còn 3 tổng là: Tự Đồng, Thợng Bồng, Đồng Công đã cắt về huyện HơngSơn
Đến năm Tự Đức 28 (1875) Tự Đức lại lập lại tỉnh Hà Tĩnh vớiquy mô nh thời vua Minh Mạng, từ đó tên đại danh phủ Đức Thọ -huyện La Sơn đợc giữ ấn định, về địa giới còn đợc chuyển đến rồi sápnhập cắt ra nhiều lần nữa
Đến năm Duy Tân thứ 9 (1915) chuyển tổng Đồng Công củahuyện Hơng Sơn về Đức Thọ
Năm Khải Định thứ 6 (1921) tổng Lai Thanh mới thuộc huyện
Đức Thọ chuyển về huyện Can Lộc gồm 4 xã: Lai Thanh, Nguyệt Ao,Phúc Hải và Hằng Nga
1.2 Điều kiện lịch sử văn hoá
1.2.1 Con ngời Đức Thọ.
Trong tổng thể tính cách ngời dân Hà Tĩnh thông minh, cần cù,chịu khó, hiếu học, tình nghĩa, yêu nớc, can trờng nhng có phần gân
Trang 10guốc, khô khan, rắn rỏi của nghị lực và lý trí Về cơ bản ngời Đức Thọmang trong mình đầy đủ phẩm chất, đạo đức, tâm lý ấy Tuy nhiên nétnổi bật của ngời dân Đức Thọ là tính cơng trực, nghĩa hiệp, vì nghĩa lớn,
đồng thời cũng có một tâm hồn rất sâu sắc, nên thơ nhờ bến Tam Soa,con sông La và dãy Trà Sơn - Thiên Nhẫn, hùng vĩ
Ngợc dòng lịch sử ta thấy mỗi khi Tổ quốc lâm nguy, dân ĐứcThọ lại cùng nhau đứng lên xả thân vì dân vì nớc Đặng Dung vàNguyễn Cảnh Dị lại chọn vùng Chi La để đặt hành dinh của nhà hậuTrần mà cái căn bản còn bởi yếu tố nhân hoà vì các thủ lĩnh hiểu rất rõtinh thần của c dân nơi đây Đức Thọ là địa bàn chiến lợc của cuộc khởinghĩa Lam Sơn Núi Tùng Lĩnh, ngã ba Tam Soa là cứ điểm chủ yếu ánngự đờng lên Hơng Sơn Nhiều ngời dân Đức Thọ đã lu danh sử sáchtrong lịch sử dân tộc nh : Trần Đạt, Trần Duy, Lê Bôi, Phan Đán
Nói đến tính cơng trực của ngời dân Đức Thọ là nói đến tinh thầntrung quân ái quốc nh Lê Ninh, Phan Đình Phùng, Lê Văn Huân Ngời
Đức Thọ cơng trực, gặp việc dám nói, rất nhiều ngời đã nhận xét ngời
Đức Thọ không chịu quy luỵ một ai, ví nh Phan Điện ở làng Tủng ảnh
đã chửi cả quan lẫn Tây sau đó kiện Tây rồi về làng
Bên cạnh đó, do điều kiện tự nhiên thuận lợi lại có quang cảnhnên thơ, ngời Đức Thọ có đời sống vật chất khá ổn định, học hành, đi ranhiều, lại có tính hào hoa nên rất đa cảm và nồng nàn:
Ai về Đức Thọ thì về Nớc trong gạo trắng dễ bề làm ăn (Ca dao)
Phụ nữ Đức Thọ thì rất đảm đang, chung thuỷ nh tấm gơng bà ĐồThản vợ của nhà yêu nớc Phạm Văn Thản ở Đức Yên đã ra tận nhà tùCôn Đảo để nuôi chồng và có đợc một đứa con trai Ngời Đức Thọnghiêng về cuộc sống tình cảm, có những ngời theo cho đến tận cùngnguyện vọng của mình nên phần nào thể hiện tính cực đoan Tuy nhiên,ngời dân Đức Thọ lại rất nhạy cảm, tỉnh táo và thông minh, chính nhữngphẩm chất này phản ánh ngời dân ở nơi đây có năng lực sáng tạo và hìnhthành dần sự lãng mạn trong t duy Tất cả những phẩm chất và tính cách
đó là nguồn lực nội sinh cho các thế hệ Đức Thọ kế tiếp nhau xây dựngnên truyền thống văn hoá riêng của mình Những phẩm chất đó đã tạo
Trang 11nên những nhân cách lớn tiêu biểu nh: Nguyễn Biểu, Phan Đình Phùng,Bùi Dơng Lịch, Trần Phú, Hoàng Xuân Hãn, Lê Văn Thiêm, Lê Thớc,Phan Anh và triệu ngời con cháu trong thời hiện đại.
1.2.2 Điều kiện lịch sử văn hoá
Đức Thọ là vùng đất có lịch sử văn hoá từ lâu đời Vào nền vănhoá Bàu Tró thì di chỉ Bàu Tró nằm bên một bàu nớc gần thị xã ĐồngHới, phân bố khá rộng rãi ở một số tỉnh Nghệ, Tĩnh, Bình, Trị ở HàTĩnh dấu vết văn hoá Bàu Tró đợc tìm thấy trong nhiều cồn sò điệp ởThạch Lâm , Thạch Lạc thuộc Thạch Hà và ở Cẩm Thạch, Cẩm Hoàthuộc Cẩm Xuyên Đặc biệt đã phát hiện ra rìu đá mài và gốm đáy tròn ở
Rú Dầu (Đức Đồng - Đức Thọ) Vào năm 1974, trờng Đại học Tổnghợp Hà Nội đã phát hiện ra xởng chế tác đá của ngời nguyên thuỷ ở RúDầu, trên sờn núi ngời ta nhặt đợc rất nhiều rìu, những phác vật rìu ở RúDầu có kích thớc khá lớn Trong số phác rìu nguyên vẹn, chiếc bé nhấtdài 9,6 cm, dày khoảng 2 - 3 cm; có những chiếc dài 16 cm, rộng từ 6 -
Dấu vết của văn hoá Đông Sơn cũng tìm thấy ở mạn Bắc Sông La
ở dặm Đồng Thới thuộc xã Đức Châu nhân dân làm thuỷ lợi đã nhặt đợcnhiều mảnh gốm có hoa văn chải và ở Đức Tùng Ngoài các mảnh gốm
nh vậy ngời ta còn nhặt đợc rìu xéo đồng Đông Sơn và hạt chuỗi bằng đángọc
Nh thế từ thời đá mới đến thời kim khí, con ngời đã tụ c sinh sống
và là chủ nhân của các di chỉ đồ đá ở Rú Dầu và chắc chắn con ng ời đãxuất hiện ở đây sớm hơn
Dới thời Bắc thuộc thì vùng Đức Thọ là quận trị quận Cửu Đức ởCửu Đức số ngời Hán đến đây cũng đông, theo Viện bảo tàng Hà Tĩnhthì nhân dân đi phát hiện ra mộ ngời Hán ở vùng Đức Hoà (Đức Thọ) vàvùng Phợng Thành thuộc xã Đức Long ở các dăm nh Cồn Mỏ, NơngHói ngời ta đã tìm thấy nhiều ụ gạch có thể là những ngôi mộ thời ấy
Trang 12Gần đây nhân dân lại phát hiện ở một số ngôi mộ cổ có cây kiếm sắt,một số khúc gỗ, nhẫn vàng, bạc và tiền đồng Theo các nhà khảo cổ thì
đây có thể là mộ của ngời Hán
Dựa vào các tài liệu về dân số của vùng đất tơng ứng với Nghệ Tĩnh lúc bấy giờ, chúng ta biết đợc thời Bắc thuộc (Hán - Tuỳ - Đờng)con ngời c trú trên vùng đất Đức Thọ ngày nay còn tha thớt, thế nhngchắc chắn đã có nhiều tụ điểm những làng xã vài chục nóc nhà ven sông
La, sông Lam
Đến thời tự chủ (thế kỷ X) rồi đến đời Trần (thế kỷ XIII - XIV)
c dân ở vùng Đức Thọ đã sinh sống khá nhiều nh trong bài “Trung Lễ
khiếu khổ văn” của Lê Trọng Đôn viết về lai lịch đất Trung Lễ cho rằng:
“duyên đất xa là tự đời Đinh”
Trong hai thế kỷ XIII - XIV dới thời Trần, việc khai phá đấthoang mở rộng vùng c trú ở Chi La diễn ra rất mạnh Theo gia phả củadòng họ nh trạng nguyên Đào Tiêu đã đến Bà Hồ (Yên Hồ) vào thế kỷXIII Rồi đến thuỷ tổ Nguyễn Biểu cũng đến đây từ rất sớm Còn theogia phả của họ Hoàng cho thấy thuỷ tổ của họ là Hoàng Viết Nghiêm,ngời Thanh Hoá thấy Kẻ Trổ - Chi La có thế đẹp nên đã chuyển c về
Đến khởi nghĩa Lam Sơn, Trần Đạt, Trần Duy đã tham gia vàoviệc quân lơng về khai phá vùng đất từ phía Đông dãy núi Thiên Nhẫncùng với vùng đất Đức Châu ngày nay Rồi đến Trạng nguyên Sử HyNhan cũng lên dựng trại ở vùng Kẻ Tràng thuộc Tùng ảnh ngày nay
Đến thời Lê - Nguyễn ( Thế kỷ XV - XIX ) cùng với việc khaikhẩn đất hoang ở vùng này ngày càng đợc tiến hành mạnh mẽ, dân sốtăng lên nhanh chóng
Trang 13Đến đời Tự Đức có năm Tổng: Việt Yên, Thịnh Cảo, Yên Hồ,Hoa Lâm (Văn Lâm), Lai Thạch với 52 đơn vị thôn xã thì trên mảnh đấtChi La cùng với ngời Việt còn có con cháu của ngời Chăm, ngời Hoatheo tớng Lê Khôi thì ông đã đợc ngời Chăm về lập 5 làng ở ven sôngLam, trong đó có một làng thuộc huyện Đức Thọ.
Với vị trí địa lý tự nhiên thuận lợi, c dân đến vùng đất Chi La từrất sớm và dĩ nhiên tạo thành một vị trí mang tính quân sự, chính trị.Cảnh quan Đức Thọ là đồng bằng có nhiều sông ngòi, lại đợc bao bọcbởi các dãy núi lớn Đức Thọ là địa bàn trung tâm của xứ Nghệ SôngLam - sông La gần nh phân thành Nam - Bắc xứ Nghệ bởi vì có vị tríchiến lợc vô cùng quan trọng Nếu từ Bắc tràn xuống phải vợt qua đợcsông Lam, sông La Còn hớng Nam tràn ra nếu đã qua đèo Ngang rồi thìcũng khó khăn mới vợt qua sông La, sông Lam
Trong lịch sử trung đại, đặc biệt là trong các cuộc đấu tranhchống phong kiến phơng Bắc, Hà Tĩnh nói chung, Đức Thọ nói riêng là
điểm lùi của các cuộc kháng chiến.Còn trong cuộc “Nam tiến” mở mang
bờ cõi, khai hoang lập làng thì vùng đất này vừa là điểm tiến, vừa là
điểm tựa làm bàn đạp của các triều đại phong kiến
Năm 1409 Trần Quý Khoáng đặt hành dinh ở bờ sông Lam - sông
La phần ngã ba sông Tam Soa và sông Minh Lơng thuộc xã Yên Hồngày nay Nhà Hậu Trần đã dựa vào Hà Tĩnh mà trực tiếp là Đức Thọ đểphát triển cuộc khởi nghĩa chống lại giặc Minh
Trong khởi nghĩa Lam Sơn, Đức Thọ là vùng đất chiến lợc để cho
Lê Lợi cùng với bộ chỉ huy nghĩa quân Lam Sơn đứng chân, phản công
và giành thắng lợi Núi Tùng Lĩnh là vị trí tiền đồn chiến lợc của nghĩaquân
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lợc thì cuộckhởi nghĩa Cờ Vàng của Trần Quang Cán, Nguyễn Huy Điển mà địa bàn
là Hơng Sơn và Đức Thọ Sau đó là Lê Ninh cùng với căn cứ Trung Lễ ớng lên ngọn cờ Cần Vơng đầu tiên Đức Thọ trở thành trung tâm củaphong trào Cần Vơng chống Pháp với vị lãnh tụ xuất sắc ngời Đức Thọ
x-là Đình nguyên tiến sĩ Phan Đình Phùng
Khi phong trào Cần Vơng thất bại cho đến Cách mạng tháng Támgiành thắng lợi thì nhân dân Đức Thọ với địa hình ấy luôn luôn là địa
Trang 14bàn của những hoạt động yêu nớc nh phong trào Duy Tân đến phongtrào Đông Du rồi đến phong trào chống thuế năm 1908 và hội Phục Việt
đến Tân Việt cách mạng Đảng và Xô Viết Nghệ Tĩnh Đến khi giànhthắng lợi chính quyền, nhân dân Đức Thọ đã lần lợt ghi tên mình vàotrang sử vẻ vang của dân tộc với những tên tuổi nh: Lê Võ, Lê VănHuân, Linh mục Đậu Quang Lĩnh, Mai Lão Rạng, Kiều Văn Đoàn, TrầnPhú, Phan Trọng Bình và nhiều chiến sĩ vô danh khác
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, Đức Thọ làmột địa bàn quan trọng trong thế trận chiến tranh nhân dân Các dòngsông: sông La, sông Lam, những con đờng 8A, 15A là những tuyến đờngquan trọng để vừa nối liền bạn Lào, vừa là thông thơng với chiến trờngMiền Nam
Đến ngày nay, với vị trí tự nhiên thuận lợi với một nền văn hoá có
ý nghĩa, Đức Thọ vẫn đang và sẽ tiếp tục là một vùng địa - chính trị,quân sự, kinh tế quan trong với cả Hà Tĩnh
Đức Thọ đã góp mình vào nền văn hoá của dân tộc với những sắcthái rất riêng, đó là nền văn hoá dân gian đậm đà Trớc hết phải kể đến làtín ngỡng, ở đây tục thờ thần Nông rất thịnh, rồi đến tục thờ thần Mẫu
mà thể hiện đậm nét là xã nào cũng có đền chùa Vào thời hậu kỳ trung
đại thì đạo Ki tô đã du nhập vào đây, theo lịch sử Giáo hội địa phậnVinh cho thấy ở Hà Tĩnh đạo Ki tô xâm nhập sớm nhất là ở Đức Thọ, tậptrung vào các làng ven sông La mà trung tâm điểm là Giáo xứ Thọ Ninh
Sự du nhập của đạo Ki tô vào Đức Thọ đã làm phong phú thêm đời sốngtâm linh của c dân nơi đây và đã có những đóng góp nhất định lao tronglịch sử dân tộc nh các linh mục yêu nớc Đậu Quang Lĩnh, Vơng Đình
ái
Ngoài nghề trồng lúa nớc bởi có ruộng đồng màu mỡ thì ngời dân Đức Thọ cũng có một số nghề phụ nh nghề làm nón chợ Hạ, “nónmang tinh xảo phụ nữ” cả nớc đều dùng
Nón Hạ mà buộc quai thao Lng ong thắt đáy trai nào chẳng a (Ca dao)
Rồi đến nghề làm mộc ở Thái Yên, làm lụa ở chợ Hạ, nghề rèn ởYên Hồ, làm mía đờng ở Đức Châu, Đức Tùng
Trang 15Nh vậy, nhìn vào chiều dài lịch sử văn hoá Đức Thọ, ta thấy nổilên một số đặc điểm nổi bật nh: con ngời xuất hiện ở đây từ rất sớm(sớm nhất Hà Tĩnh), cùng với nó là quá trình di c, cộng c lâu dài tạo nêncác làng xóm sầm uất với điều kiện tự nhiên trù phú nên tính cách conngời nơi đây cơng nghị, rắn rỏi, mang tính lãng mạn trong t duy, thuỷchung trong tình cảm nhng lại cơng trực yêu nớc hết mình ở Đức Thọ
đời sống văn hoá, tín ngỡng, tôn giáo rất phong phú Bên cạnh kinh tếnông nghiệp lúa nớc thì c dân nơi đây đã có một số làng nghề truyềnthống nổi tiếng Điều đặc biệt chú ý là so với các địa phơng khác, nói
đến Đức Thọ là nói đến sự đóng góp của đội ngũ tri thức đông đảo, kể cảtri thức bình dân và tri thức khoa bảng với các tên tuổi nổi danh nh:
Đoàn Xuân Lôi, Nguyễn Biểu, Hoàng Trừng, Bùi Dơng Lịch, Phan NhậtTỉnh, Phan Đình Phùng, Phan Văn Thản, Lê Thớc, Hoàng Xuân Hãn, LêVăn Thiêm và nhiều trí thức vô danh khác Họ đã trở thành niềm tựhào và là chỗ dựa, là động lực cho sự phát triển của Đức Thọ ngày nay
Ngời Hà Tĩnh nói riêng và ngời nớc Việt nói chung đang tụt hậu
so với vòng quay của sự phát triển xã hội, khi loài ngời đã bớc vào kỷnguyên của kinh tế tri thức, Đức Thọ cha theo kịp nhịp độ ấy trong điềukiện ruộng đồng phì nhiêu của mình, tài nguyên ít ỏi, các cơ sở côngnghiệp còn quá non yếu và tha thớt, du lịch cha phát triển là những khókhăn và những thách thức mới cho Đảng bộ và nhân dân Đức Thọ Vậyngời dân Đức Thọ phải vợt qua thách thức ấy bằng cách nào? Thiết nghĩkhông có cách nào khác là bằng cái nền đã có, là trí tuệ và bề dày lịch sửvăn hoá Nhân dân Đức Thọ hãy lấy đó làm bệ phóng cùng với đờng lối
đúng đắn của Đảng bộ, c dân nơi đây phải vơn lên với những tầm caomới của trí tuệ để xứng đáng với vùng đất khoa bảng Chi La - Đức Thọ
Nghiên cứu giáo dục khoa cử, tôi cũng có mục đích muốn gópmình vào công cuộc ấy, hi vọng góp một ít t liệu tham khảo để bạn đọcnhìn sâu hơn những gì là điểm mạnh của mình, cái cần phải đạt đợc Từ
đó có một giải pháp sáng suốt, mạnh mẽ hoạch định cho hiện tại và hớngtới một triển vọng ở tầm cao mới
1.3 Truyền thống giáo dục khoa cử Đức Thọ trớc thời Nguyễn.
1.3.1 Khái quát về các vị khoa bảng
Châu mặc thành Sơn văn học đa
Trang 16Son mực thành noi chữ nghĩa nhiều (Thơ Bùi Dơng Lịch)
Nghĩa là: Châu Phong, Mặc Phong - Rú Son, rú Mực lại còn tựsơn Rú chữ nhất đợc coi là “văn tinh” của đất Tùng La Điều chú ý ở
đây là không phải vì rú ấy mà lắm ngời có chữ mà lắm ngời chữ nghĩa nhiều, đậu đạt khoa bảng nên rú ấy đợc tôn vinh
Hà Tĩnh nói chung, Đức Thọ nói riêng là nơi việc học phát triểnkhá muộn Vào thời Lý và buổi đầu Trần thì Thanh - Nghệ - Tĩnh là đấttrại Lúc bấy giờ ở Thăng Long và các vùng phụ cận Nho học đã pháttriển rất thịnh
Theo các tài liệu cho biết thì các quan lại đến đây cai quản và cácnhà tu hành đến truyền đạo chính là hai con đờng chủ yếu đa Nho học
đến vùng đất này Các triều đại phong kiến đầu tiên rất cần những ngờibiết chữ để giúp việc triều đình, họ đến Chi La làm việc quan và buộc họphải lập trờng để dạy con em mình, có khi chính họ là thầy học Cùngvới con đờng này thì còn có việc các nhà tu hành đến đây để truyền Lãogiáo, Phật giáo cũng cần chữ nghĩa làm phơng tiện nên chùa quán trởthành trờng học và Thiền s, đạo sĩ trở thành thầy dạy
Đến đời Trần, việc học ở La Sơn bắt đầu khởi sắc, theo “Lịch sử
Đảng bộ Đức Thọ” (tập 1) [28; 326 - 332] thì trong các triều đại phongkiến, các nhà khoa bảng Đức Thọ gồm:
Triều Trần
1 Đào Tiêu: Quê xã Bình Hồ, huyện La Sơn, nay là xã Yên Hồ
huyện Đức Thọ đỗ Trạng nguyên khoa thi Thái học sinh năm ất Hợiniên hiệu Bảo Phù 3 (1275) đời Trần Thái Tông Sau khi mất ông đợcphong Phúc Thần Nên chú ý là Đào Tiêu đỗ Trạng nguyên đầu tiên của
Hà Tĩnh
2 Sử Hy Nhan: Quê xã Ngọc Sơn, nay là xã Đức Thuận Ông thi
đỗ Trạng nguyên năm 1363 đời Trần Duệ Tông, ông làm quan tới chứcHành Khiển
3 Sử Đức Huy: Quê xã Ngọc Sơn, nay thuộc xã Đức Thuận đỗ
Trạng nguyện năm 1383
4 Nguyễn Biểu: Quê xã Bình Hồ, nay là xã Yên Hồ đậu Tiến sĩ
(xem mục 1.3.2.1)
Triều lê
Trang 171 Nguyễn Tắc Trung (1450 - ?)
Quê xã La Giang, nay thuộc xã Đức La Năm 23 tuổi đỗ Tiến sĩkhoa Nhâm Thìn niên hiệu Hồng Đức 3 (1472) đời Lê Thánh Tông , làmquan đến chức Đô cấp sự trung
4 Nguyễn Doãn Huy (1454 - ?)
Quê xã La Giang, nay là xã Đức La Năm 31 tuổi thi đỗ Tiến sĩkhoa Giáp Thìn niên hiệu Hồng Đức 15 (1484), đời Lê Thánh Tông làmquan đến chức Tham chính
5 Phạm Nại (1462 - ?)
Quê xã Bình Hồ, nay là xã Yên Hồ, Năm 26 tuổi thi đỗ Tiến sĩkhoa Đinh Mùi, niên hiệu Hồng Đức 18 (1487), đời Lê Thánh Tông làmquan đến chức Phụng thiên phủ doãn
6 Trần Tớc.
Quê xã Cổ Ngu, nay là xã Đức Lâm Đỗ Tiến sĩ khoa Bính Thìnniên hiệu Hồng Đức 27 (1497), đời Lê Thánh Tông lúc đầu ông làm Trihuyện, sau đợc thăng đến chức Giám sát ngự sử
7 Hoàng Trừng
Quê xã Ngãi Lăng , nay thuộc xã Đức Yên Đỗ Tiến sĩ năm 38 tuổi, là cháu ngoại của Nguyễn Biểu đỗ Đệ nhị giáp (Hoàng Giáp) khoa
Kỷ Mùi niên hiệu Cảnh Thống 2 (1499), đời Lê Hiến Tông làm đến chức
Lễ bộ tả thị lang, Tham chởng hàn lâm viện sứ Hoàng Trừng tự nhấtthanh hiệu Lỗ Hiên có tác phẩm nổi tiếng là “Nghĩa sĩ truyện”
8 Trần Dực (1465 - ?)
(Xem mục 1.3.2.2)
9 Nguyễn Chiêu (1524 - ?)
Trang 18Quê xã Việt Yên thợng, nay là xã Đức yên Năm 31 tuổi ông đỗ
Đệ nhị giáp (Hoàng Giáp) khoa Giáp Dần, niên hiệu Thuận Bình 6(1554) đời Lê Trung Tông, làm quan đến chức cấp sự trung
10 Hồ Bỉnh Quốc
Quê xã Bình Lãng, nay là xã Đức Thuận Thi đỗ Đệ nhị giáp Chếkhoa khoa Đinh Sửu niên hiệu Gia Thái 5 (1577) đời Lê Thế Tông, theoNghệ An ký: Năm ất Mùi niên hiệu Quang Hng (1595) ông giữ chứcHữu thị lang bộ hộ, sau bổ chức Thừa chính xứ Thanh Hoa Năm BínhThân (1596) ông cùng Phạm Hồng Nho làm đặc phái viên của Hàn lâmviện đi quan sát việc đo đạc ruộng đất, phân định ngạch thuế của các địaphơng, sau đó ông đợc thăng Tả thị lang bộ lại, Tớc lễ cung nam Saukhi mất đợc tặng chức Thợng th tớc quận công
11 Nguyễn Phong (1559 - ?)
Quê xã Bình Hồ, nay là xã Yên Hồ Ông thi đỗ Đệ Nhị giáp(Hoàng Giáp) khoa Quý Mùi niên hiệu Quang Hng 6 (1583) đời Lê ThếTông Trong “Liệt truyện đăng khoa bị khảo” ghi: “Ông đỗ năm 25 tuổi,
ông làm quan đến chức Thái thờng tự khanh, khi mất ông đợc tặng chứcTả thị lang”
12 Trần Phúc Hựu
Quê xã Việt Yên hạ, nay là xã Đức Yên Năm 25 tuổi ông thi đỗ
Đệ nhị giáp (Hoàng Giáp) khoa Quý Mùi niên hiệu Quang Hng (1583)
đời Lê Thế Tông, làm quan đến chức Đại lý tự khanh Khi mất đợc tặngchức Hữu thị lang, tớc nam
13 Nguyễn Đệ (1577 - ?)
Quê xã Minh Lơng, nay là xã Trung Lơng Năm 47 tuổi thi đỗTiến sĩ khoa Quý Hợi, niên hiệu Vĩnh Tộ 5 (1623) đời Lê Thần Tông
ông làm quan đến chức Tham chính, Tớc bá
14 Phan Hng Tạo (cũng có tên là Phan Hng Vận)
Quê xã Bình Lãng, nay là xã Đức Thuận, năm 45 tuổi đổ tiến sĩ khoa Canh Dần, niên hiệu Khánh Đức 2 (1650) đời Lê Thần Tông NămThịnh Đức 3 (1655) ông giữ chức Thái bộc tự khanh cùng với đốc suất
Đào Quang Nhiêu đem quân đánh chúa Nguyễn xâm phạm Nghệ An
Do có công lao ông đợc tặng tớc hầu, trong các trận đánh sau ông đợc
Trang 19phong chức Đốc thị Tử trận trong khi giao chiến với quân chúa Nguyễn.Sau khi mất ông đợc tặng chức Tả thị lang tớng Quận công.
15 Lê Đắc Toàn (1622 - ?) (Xem mục 1.3.2.3)
16 Trần Lê Thoan (1691 - ?)
Quê xã Phi Tảo Trong “Liệt truyện Đăng khoa bị khảo” ghi tênxã là Phi Túc Còn theo “Nghệ An ký” và “Bia tiến sĩ” số 1317 ghi tên làPhi Tảo Tên Phi Tảo không còn tìm thấy trong bản đồ mà theo suy luậnkhả năng là tên huý của Tảo Thịnh, vua Huyền Tông nên đổi tên là
“Quả” “Phi” đỗ thành “Thịnh”, tức là xã Thịnh Quả, nay là xã ĐứcTùng Năm 22 tuổi ông thi đỗ Tiến sĩ khoa Nhâm Thìn, niên hiệu VĩnhThịnh 8 (1712) đời Lê Dụ Tông, ông làm quan đến chức Khoa cấp sựtrung Sau khi mất ông đợc thăng chức Tham chính
Quê xã Yên Trung, nay là xã Đức Yên Đỗ Tiến sĩ năm 1733
20 Phan Khiêm Thụ (1722 - ?)
Quê xã Việt Yên Hạ, nay là xã Đức Châu Năm 36 tuổi ông thi đỗTiến sĩ khoa Đinh Sửu niên hiệu Cảnh Hng 8 (1757) đời Lê Hiến Tông,
ông làm quan đến chức Cấp sự trung
21 Phan Bảo Định (1747 - ?)
Quê xã An Toàn, nay là xã Đức Yên, năm 41 tuổi đỗ Tiến sĩ khoa
Đinh Mùi niên hiệu Chiêu Thống 1 (1787) đời Lê Mẫn Đế, dới thời LêChiêu Thống ông làm quan Công khoa đô cấp sự trung Dới triều TâySơn ông đợc vời vào làm việc Tu th ở Viện sùng chính tại Phú Xuân đợcmột thời gian rồi xin về quê nhà Đầu đời Nguyễn ông đợc bổ làm chức
Đốc học Thanh Hoa, sau đổi về Đốc học Nghệ An,
22 Bùi Dơng Lịch (1758 - 1828)
Trang 20Đời Trần - Hồ có tổng là 16 khoa thi với 438 vị đỗ thái học sinhtiến sĩ thì ở Đức Thọ 4 khoa có 4 ngời đỗ Đời Lê có 101 khoa thì với1.278 vị đỗ tiến sĩ, đồng tiến sĩ thì ở La Giang có 18 ngời đỗ tại 17 khoathi và tính cả tổng Lai Thạch thì lên tới 23 ngời.
Mở đầu cho khoa bảng ở Chi Lai và cũng là cho cả Hoan Châulúc bấy giờ là Trạng nguyên Đào Tiêu
“Tiến vi quan, thối vi s” là mục tiêu đạt khoa danh của các nho sĩxa: Tiến lên thì làm quan, thờ vua giúp đời, lùi về thì làm thầy truyền
đạo thánh hiền Hàng ngàn học trò La Sơn hăm hở vào con đờng cửnghiệp với sự giúp đỡ, cổ vũ của gia đình, làng xóm Nhiều làng xã đã
đặt học điền ghi vào hơng ớc những quy định đề cao và u đãi nho sĩ,khuyến khích việc học “Sinh con trai phải cho đi học con trai không đihọc đến tuổi trởng thành phải vào sổ, chịu việc làng Ngời có học, thi đỗthì cũng vào sổ nhng tha cho mọi tạp dịch của làng ” [9; 120]
Bất cứ ngời dân bình thờng nào cũng mong ớc cho con cái kiếmdăm ba chữ thánh hiền cho sáng mắt và cao hơn nữa là mở mày mở mặtvới thiên hạ Các bà vợ, bà mẹ chịu khó nuôi chồng, nuôi con ăn học nh
bà mẹ ông Phạm Văn Ngôn với chiếc khung cửi và những ống suốt đãtần tảo nuôi 3 con ăn học nên ngời
Sống trong môi trờng nh thế, học trò La Sơn nổi tiếng là chăm
học và học rất giỏi Trong “Nghệ An ký” có câu:
“Việt Yên Thi Lai Thạch Văn”
( Thơ Việt Yên và văn Lai Thạch)với nhiều gơng mặt tiêu biểu cho truyền thống cần cù chịu thơngchịu khó dùi mài kinh sử lu truyền mãi cho đến ngày nay
Trang 21đã vạch trần những kẻ mạnh mà ức hiếp dân lành Theo Đại Hiệp sử kýtoàn th, năm 1413 tớng Minh là Trơng Phụ đánh vào xứ Nghệ, vua chạy
về Châu Hoá sai Đài quan là Nguyễn Biểu làm sứ cầu phong mang sảnvật địa phơng đến Nghệ An, Trơng Phụ giữ lại, Nguyễn Biểu tức giậnmắng Phụ, vì thế Phụ đem giết
Theo “Nghĩa sĩ truyện” của Hoàng Trừng lại cho rằng: khiNguyễn Biểu lên đờng, vua Trùng Quang có bài thơ đa tiễn tỏ lòng tincậy đối với vị sứ giả của mình và hi vọng việc nớc một mai công ngỏnvẹn “Gác luôn muôn tiếng dõi lâu xa” Nguyễn Biểu hoạ lại thơ vuakhiêm tốn nói: “Khổ mình vả thiếu tài nguyên đối” Nhng cũng bày tỏlòng trung thành quyết tâm: “Dịch lộ ba nghìn dám ngại xa” Tiện đờngghé thăm nhà bài yết tổ tiên, sắm sửa đồ lễ rồi mới sáng Lam Thanh
Đến dinh Trơng Phụ bị hạch sách, Nguyễn Biểu đã không đổi sắc mặt,
đối đáp cứng cỏi, Phụ tỏ ý nể lu lại đãi cơm nhng khi nhìn thấy trênmâm cơm có chiếc đầu luộc chín, biết Phụ định uy hiếp mình ông đãthản nhiên nói: “A! ngời Nam lại đợc ăn đầu ngời Bắc” rồi cầm đũa móchai con mắt chấm tơng ăn Ăn xong bữa tiệc kỳ quái này ông liền đọcbài thơ: “Ăn cỗ đầu ngời”, Phụ rất cảm phục nên đối xử tử tế mà cho về.Nhân đó Phụ hỏi Viên hàng thần là Phan Lu “Nguyễn Biểu là ngời nhthế nào?” Liêu vốn đã có nhiều hiềm khích với ông bèn nói: “Ngời ấy làhào kiệt ở phơng Nam, ngài muốn lấy nớc Nam mà tha cho ngời ấy thìsao đợc?” Thế là Phụ sai ngời bắt ông trở lại và buộc ông phải lạy hắn.Thế mà Nguyễn Biểu vẫn đứng không hề thay đổi sắc mặt Phụ mắng
ông là vô lễ, còn ông lại vạch trần tội ác và âm mu của Phụ Y tức giậnsai ngời đa ông ra trói chân ở cầu Lam trớc chùa Yên Quốc Ông lấymóng tay vạch vào cột cầu 8 chữ: “Thất nguyệt, sơ thất nhật, NguyễnBiểu tử” (Ngày 1/7 Nguyễn Biểu chết) nhng ba ngày liền thuỷ triều
Trang 22không lên đến nơi và suốt ba ngày liền ông chửi giặc không ngớt Phụcho là ông đợc thần phù trợ bèn đa ông về trớc chùa Yên Quốc để đánhchết Mặc dù đánh chết Nguyễn Biểu nhng Trơng Phụ vẫn kính phụcnghĩa khí của ông bèn cho đem thi hài của ông về mai táng ở quê nhàBình Hồ Khi vua Trùng Quang hay tin Nguyễn Biểu bị đánh chết thì hếtsức thơng xót sai làm bài văn Dụ tế Nhà s chùa Yên Quốc cúng làm lễcầu siêu cho ông.
Theo truyền thuyết khi Bình Định vơng Lê Lợi đánh quân Minh ởBình Thao, ông báo mộng sẽ âm phù nên sau ngày đại địch Nguyễn Biểu
đợc phong là: “Nghĩa sĩ linh ứng uy linh trợ thuận chi thần” và con ôngthì đợc truy lục ban quan tớc, còn vua Lê Thánh Tông sai lập miếu thờnghĩa sĩ ở Bình Hồ, ban ruộng tế cho lấy trong dân sở tại một lễ tang vàhai tự thừa trông nom việc thờ cúng, lại giao cho Trấn quan Nghệ Anmỗi năm một lần về tế
Về sau, tuy không có lệ “quốc tế” ấy nữa nhng các triều đại đềuphong sắc và nhân dân vẫn hơng khói phụng thờ cho đến ngày nay
1.3.2.2 Trần Dực (1465 - 1542)
Ngời xã Ngãi Lăng, nay là xã Đức Yên, là học trò nghèo phải đi
ở chăn trâu để kiếm cơm ăn nhng rất ham học, vừa chăn trâu vừa kèmtheo sách để học Ngời làng thấy thế thì giúp thêm cho cơm áo và cứ thế
20 năm dùi mài kinh sử, văn chơng thành thạo và bắt đầu tham gia các
kỳ tập văn và luôn luôn đợc xếp hạng u Trên 30 tuổi Trần Dực đi thi đỗHơng cống và chuẩn bị cơm gạo ra Thăng Long để thi Hội Bà con đãgom góp gạo tiền để đủ chi dùng đi đờng Khi còn nhỏ ông thờng chăntrâu ở cầu Khóng (Đức Bùi), vì thế sau khi thi đậu ông liền cho xuất khokhai thông ngọn khe ấy, nớc dâng đầy, nhân dân đợc thế ấy mà làm ăn
Ông lại cho bắc cầu qua khe, cầu có tên là: “Cầu Thị Lang”, trên cầu códựng bia gọi là bia Thị Lang, hiện nay dấu tích đang còn Ông Bùi TồnTrai có vịnh thơ rằng:
Dĩ tơng tính tự đăng hiền bảng Bất bã văn chơng ỷ lý kiều Qui khứ trinh vân d địa tích Hồng tuỳ bạc vũ thớng thiên yên Thụ hoành khúc gián, ng long tịch,
Trang 23Mạch tú dao trù, dã điểu nghiêu Trù tớng vô liêu hành khách tứ Tớc vi thợng ký nhận triên triều
Dịch thơ:
Bảng vàng từng đã ghi tên họ, Há phải văn chơng dựa xóm này.
Rùa đuổi mây lành, nâng cốt đất, Mống theo ma bụi, vắt lng trời Cầu thông, cá lặn im khe hói Lúa tốt, chim ca rộn bãi đồi Qua lại, ngời ngời lòng ngẫm nghĩ Nhìn bia, nhớ kẻ đã qua đời
(Bản dịch của Võ Hồng Huy)
Điều chú ý ở đây là trong khi chuẩn bị lều chõng và đồ dùng sinhhoạt để thi thì ông gặp đợc một ông Cống con nhà giàu nên ông liều giấu
họ tên, tung tích xin theo hầu để có cơm ăn Ngày vào trờng thi, khi ôngCống đi rồi ông mới sửa soạn để đi, còn thi xong về thì cố về sớm hơn,kịp thay đồ áo hầu hạ ông chủ Trong khoa thi ấy Trần Dực đậu hộiNguyên Tiến sĩ, một thời gian sau lại đỗ đầu khoa Đông Các, làm quan
đến Thị lang Bộ hộ kiêm Đông các hiệu th
Chính tấm gơng này là hình ảnh thu nhỏ của đất học Chi La, ở
đây việc học nh trở thành “cái đạo” và nó trở thành nhiệm vụ chung củalàng nớc, trong tâm can mỗi một ngời luôn nung nấu ý chí quyết tâm vợtlên tất cả để đạt đợc ớc nguyện của mình
1.3.2.3 Lê Đắc Toàn
Ngời xã Bình Hồ, nay là xã Yên Hồ Cũng là một học trò nghèothụ giáo với một thầy học ở Ngọc Sơn, không có tiền qua đò, đi về ôngphải tìm đến chỗ khuất cởi áo quần bơi qua sông, mùa giá rét cũng thế.Một lần ông lái đò gần đó biết chuyện nên đã gọi bảo xuống đò Lê ĐắcToàn chần chừ, ông hiểu ý nói rằng: “Tôi biết anh không có tiền nhng
đừng ngại, từ nay trở đi tôi sẽ cho anh sang sông, anh cần phải giữ sức
mà học” Sau khi đỗ Tiến sĩ làm quan về quê hỏi thăm biết ông lái đò đã
Trang 24qua đời, ông đã tậu một ít ruộng giao cho gia đình ông lão để lo việc h
-ơng khói nên dân làng gọi đám ruộng đó là: “Ruộng tiền đò”
1.3.2.4 La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp (1723 - 1804)
Ngời làng Nguyệt Ao, huyện La Sơn, nay là huyện Đức Thọ Ông
đỗ Hơng cống đời Lê, làm huấn đạo và Tri huyện Thanh Chơng, sau đóloạn lạc nên ông về ở ẩn tại núi Thiên Nhẫn, sau đó thì phò Quang Trungnên đã lập Sùng chính th viện, dịch sách tiểu học, dịch tứ th ra chữ Nôm.Sau khi vua Quang Trung mất ông đã về sống ẩn dật không chịu ra làmquan nữa
Nguyễn Thiếp lấy t tởng đức trị làm biện pháp trị nớc và giảiquyết căn bệnh của xã hội, tức là phải thực hiện 4 điều: vua, quan, lòngngời và phép giáo hoá dân Trong đó ông quan tâm nhất là giáo hoá nhândân bằng sự học hành, theo đạo của Nguyễn Thiếp là: “Những lẽ thờngtheo để làm ngời”
Nguyễn Thiếp kịch liệt phê phán lối học từ chơng, khoa cử, chủtrơng khôi phục chính học Ông đã đề nghị với Vua Quang Trung hạchiếu thi cho trờng Phủ, Huyện, khiến thầy trò các trờng t, con cháu cácnhà văn võ, thuộc lai ở trấn cựu triều, đâu tiện thì đi học Có nh vậy mới
đào tạo đợc nhiều nhân tài
T tởng học thuật của Nguyễn Thiếp là nghiêng về nghĩa lý, ôngnghiên cứu sâu vào lý học đời Tống Ông cho rằng dù là vua cũng phải
có đức, muốn tu đức có tài vua cũng phải học Ông nói: “Từ xa thánhhiền không có ai không bởi sự học mà có đức” Còn đối với dân sự giáohoá cũng phải thông qua sự học hành
Những tấm gơng tiêu biểu này thể hiện truyền thống hiếu học củangời dân Đức Thọ Việc học trên mảnh đất này đã trở thành “cái đạo” ở
đây cả làng đều xem việc học nh là việc chung của mình, bởi thế họ đãdần hình thành cho mình một vùng đất khoa bảng của Hà Tĩnh
Chính những tấm gơng này là động lực, là bệ phóng cho các thế
hệ sau của c dân nơi đây ở mọi thời, mọi thế hệ, đặc biệt là vào thời kỳkhởi sắc của khoa cử Hà Tĩnh dới triều Nguyễn (1802 - 1919)
Trang 25Ch ơng 2 Giáo dục khoa cử nho học ở đức thọ thời nguyễn
2.1 Vài nét về tình hình giáo dục khoa cử Nho học ở Hà Tĩnh thời Nguyễn
Bớc vào thế kỷ XVI - XVII, các cuộc cách mạng t sản nổ ra ởChâu Âu đã từng bớc phá vỡ chế độ phong kiến trên phạm vi toàn châulục và cũng từ đó chủ nghĩa t bản Âu Mĩ đua nhau đi tìm thị trờng thếgiới mà đối tợng không ai khác là các nớc kém phát triển ở phơng Đông
bị đe doạ một cách nghiêm trọng, trật tự phong kiến ở Châu á đang bịlung lay, các cuộc khởi nghĩa của nông dân liên tục nổ ra chống lại chế
độ phong kiến, thêm nạn ngoại xâm hoành hành Hầu hết các nớc Châu
á hoặc trở thành thuộc địa hoặc nửa thuộc địa phong kiến, hoặc lệthuộc, duy chỉ Nhật Bản giữ đợc độc lập nhờ Minh Trị Duy Tân và TháiLan cũng giữ đợc độc lập tuy chỉ mang tính giả hiệu, nhờ chính sáchngoại giao “Ngọn cây tre” Qua đó ta thấy đợc bối cảnh chung và cáchgiải quyết riêng của mỗi nớc đa đến kết cục không phải là không có cáchgì để tránh khỏi số phận mất nớc
ở nớc ta năm 1802 Nguyễn ánh lên ngôi, lấy niên hiệu là GiaLong lập ra triều Nguyễn Cũng nh các triều đại phong kiến trớc, triềuNguyễn đã phải giải quyết hàng loạt các vấn đề về chính trị, kinh tế, xãhội Mà muốn đáp ứng đợc điều đó thì phải có “hiền tài”, đội ngũ quanlại đông đảo phụ trách mọi công việc từ trung ơng đến địa phơng, songtrong thời gian đầu triều Nguyễn cha thể mở các khoa thi đợc nên chủyếu là dùng chỉ dụ cầu hiền tài ra giúp việc nớc Đến năm Đinh Mão GiaLong thứ 6 (1807) mới tổ chức khoa thi Hơng đầu tiên, đến 1822 mới tổchức thi Đại khoa, tuy nhiên, trớc đó vào năm 1821 có cho mở thi Ânkhoa Do áp dụng lệ “tứ bất” (Bốn điều không: không lập Tể tớng, khôngphong vơng ngoài hoàng tộc, không lập Hoàng hậu, không lấy Trạng
Trang 26nguyên) Vì thế, học vị dới thời Nguyễn không có Trạng nguyên nhnglại định thêm Phó bảng.
Hệ thống trờng học đợc mở rộng, trờng công đợc mở đến phủhuyện Ngoài ra còn có các quan trông coi việc học tập, ở huyện cóHuấn đạo, trờng Phủ có Giáo thụ, trờng tỉnh có Đốc học, các viên quannày thờng là những ngời có học vị, có đạo đức, và uy tín mới đợc bổdụng Bên cạnh đó thì trờng t cũng mọc lên rất nhiều: trờng t xứ Nghệcủa Nguyễn Đức Đạt hay trờng t ở xứ Thanh nh trờng Nghi Am
Nội dung học trong các trờng nhà Nguyễn thực ra là mô phỏngtheo nhà Lê đợc phản ánh qua chơng trình từ các sách nh: Tam tự kinh,Sơ học vấn tân, ấu học ngũ ngôn, Minh đạo gia huấn Đây là những sáchdạy vỡ lòng giúp cho con em biết chữ và sơ lợc về học thuyết Nho giáo
mà thôi Còn để dự thi các kỳ thi Hơng, Thi Hội thì phải học các sáchkinh điển của Nho gia là: Tứ th, Ngũ kinh, Bắc sử
Nhà Nguyễn cũng lấy con đờng khoa cử để tuyển dụng ngời tài làchủ yếu và các lễ nghi chiêu đãi hiền sĩ vẫn giống nh thời Lê
Nhìn theo chiều lịch đại và sự phát triển của giáo dục khoa cửNho học ở nớc ta cho thấy tính từ thời Lý Nhân Tông khoa thi đầu tiên
đợc tổ chức vào năm ất Mão (1075) đã đánh dấu một bớc tiến của Nhohọc và đến khoa thi cuối cùng vào năm Kỷ Mùi (1919) ta thấy: Nếu nh ởthế kỷ XV, nền giáo dục khoa cử Nho học đang bộc lộ tính u việt của nóbởi phù hợp với yêu cầu của đất nớc về công tác nội trị và trục xoaychung của thế giới thì đến thế kỷ XIX, khi thế giới đã ở thời đại vănminh công nghiệp thì chế độ giáo dục khoa cử nho học đã trở nên gánhnặng cho sự nghiệp bảo vệ đất nớc Song bên cạnh đó những thành tựu
mà nhà Nguyễn đã đóng góp cho dân tộc thì không thể không nhắc đến.Trong đó nền giáo dục khoa cử Nho học đã góp một phần vào vờn hoavăn hoá ấy
Dới triều Nguyễn nền giáo dục khoa cử Nho học đợc chấn chỉnh
và đặc biệt là sự luân chuyển các trung tâm khoa bảng, vào thời kỳ nàyviệc học hành thi cử ở xứ Nghệ đợc đẩy mạnh
Các trờng công, trờng t đợc chú ý xây dựng Dới triều Tự Đức, ở
xứ Nghệ có tới 8 trờng học
Trang 27Các văn miếu đợc xây dựng rồi đến Văn chỉ thờ đức Khổng Tử vàcác bậc tiên hiền, hàng năm lễ tế trọng thể Văn chỉ của vùng nào thì th-ờng là do dân vùng đó góp công, góp của mà xây dựng nên nh cụ Cửnhân trực học sĩ Nguyễn Hữu Tố (huyện Đô Lơng - Nghệ An) có con làTiến sĩ Nguyễn Nguyên Thành đã cúng tới 300 quan tiền để xây dựngvăn chỉ huyện.
Nhân dân Hà Tĩnh vốn có truyền thống hiếu học nên rất khuyếnkhích việc mở trờng t dạy học Các Hơng ớc, lệ làng đều u ái cho học tròtrọng vọng con đờng khoa cử, tạo mọi điều kiện cho con em học tập, lạicòn có lệ miễn giảm su dịch cho học trò, còn khi thi thì làng đều tổ chức
lễ cầu xin phù hộ cho con em làng mình, rồi lễ “Vinh quy bái tổ” trởthành việc chung của làng xã
Học trò Hà Tĩnh lại thông minh nh Hải thợng Lãn Ông (HơngSơn - Hà Tĩnh) chỉ đọc sách liếc mắt qua là hiểu hết, hay nh La sơn phu
tử Nguyễn Thiếp, Bùi Thức Kiên (Đức Thọ), Nguyễn Du (Nghi Xuân)
So với một số vùng miền khác thì Hà Tĩnh là nơi việc học diễn ramuộn màng hơn song đến thời Nguyễn thì thực sự khởi sắc và trở thành
đất học nổi tiếng trong các nớc Ví nh làng Đông Thái (Đức Thọ), xã
Đức Yên (Đức Thọ), Sơn ấp nay là Sơn Hoà (Hơng Sơn), làng Tiên Điền(Nghi Xuân) Trong thời Nguyễn có tổng là 5.252 cử nhân thì Hà Tĩnh
có tới 283, chiếm 5,4%, chỉ sau Nghệ An, Nam Định, Thanh Hoá vàThừa Thiên Còn Đại khoa vào thời Nguyễn Hà Tĩnh có tới 44 vị trêntổng số 558 vị, chiếm 7,7% toàn quốc, chỉ sau Nghệ An (91 vị, chiếm16,4%) và Thừa Thiên (60 vị, chiếm 10,81%)
Trên đây là những con số biết nói phải ánh sự khởi sắc của giáodục khoa cử Nho học của Hà Tĩnh dới thời Nguyễn Trong sự phát khoa
ấy của Hà Tĩnh thì Đức Thọ lại trở thành vùng đất học nổi tiếng nhất
2.2 Hệ thống trờng lớp và tình hình thầy trò ở Đức Thọ thời Nguyễn.
Đức Thọ vốn là vùng đất có truyền thống khoa bảng, đến thờiNguyễn thì giáo dục khoa cử ở đây đã thực sự khởi sắc Theo Đại Namnhất thống Chí thì dới thời Tự Đức, xứ Nghệ có tới 8 trờng học trong đó
có 1 trờng Tỉnh ở Nghệ An, có 3 trờng phủ thì một trờng đóng ở ĐứcThọ mà các sĩ tử ở Đức Thọ không chỉ học ở các trờng nhà mà còn theo
Trang 28học các trờng lân cận ở Nghi Xuân, Nam Đàn Bởi vậy nên số lợng họcsinh theo học rất động.
Vào thời Nguyễn, ở Đức Thọ còn xuất hiện các thầy đồ nổi tiếng
nh con trai Bùi Quốc Toại là Bùi Dơng Lịch (1757 - 1827) tên tự là Tồn
Thành Tồn Trai, hiệu là Thạch Phụ, quê làng An Toàn, nay là làng ĐôngThái, xã Tùng ảnh Năm Cảnh Hng thứ 35 (1774) Bùi Dơng Lịch đậu h-
ơng cống (nh cử nhân thời Nguyễn) sau đó đỗ tam trờng thi hội, đến
1785 đợc bổ làm huấn đạo phủ Lý Nhân nhng ông cáo từ không nhậnchức (thời Lê huấn đạo là chức quan phụ trách việc giáo dục một phủ, ởhuyện là giáo thụ, thời Nguyễn thì đổi ngợc lại) Trong thời gian này ông
đã dạy học ở làng Sét (Thịnh Liệt) ngay ở kinh thành Thăng Long, vừadạy học vừa tiếp tục “sôi kinh nấu sử” Vì thế một năm sau ông đã đỗ
đình nguyên Hoàng Giáp năm (1887)
Khi quân Tây Sơn ra Bắc, ông đã chạy vào Thanh Hoá, đến nămQuang Trung thứ 4 (1890) ông đợc vời vào giúp việc ở Sùng chính viện,
ông đã cùng với các nhà khoa bảng khác dịch sách ra chữ Nôm
Đến đời Nguyễn Gia Long (1805) triều Nguyễn đã bổ ông làm
đốc học Nghệ An (1805 - 1808) sau đó ông về quê dạy học và viết sách
Văn thơ của Bùi Dơng Lịch đợc tập hợp lại trong tập “ốc lậu
thoại” (Lời nói trong ngôi nhà trống) Tập thơ này gồm nhiều tác phẩm
đợc sáng tác trong các khoảng thời gian khác nhau Theo các nhà nghiêncứu văn học Việt Nam thì thơ văn của ông thờng có khuynh hớng thuyết
lý về đạo đức, thứ đạo đức phong kiến chính thống lúc bấy giờ nênkhông tránh khỏi khô khan, cha thật đặc sắc Tuy vậy, khi đọc lời bạt
của ông viết cho tập thơ Thu dơng lục của Trần Xuân Hải (một tập thơ
tập hợp những bài thơ về tình yêu vợ chồng của một ngời bạn tác giả),thấy ý kiến của ông không phải không có chỗ đáng chú ý:
“ Ôi! cái đạo của ngời quân tử, nói cho cùng là quan hệ vợ chồng
Vợ chồng là sự bắt đầu của luân lý làm ngời Huống chi lại biết cái âncủa vợ chồng, coi trọng cái mệnh của vợ chồng, hàm tình nồng đợm liêntục nh dây đàn nối không phải là t tình mà là đại hiếu vậy!
Buồn bã lắm thế đến đau thơng cuối cùng dừng lại ở lễ nghĩa Đócũng là cái hứng của thơ Nếu nói do tình sinh ý, do ý sinh chữ bởi cái
Trang 29này mà có cái kia, cũng là thế cả ” (Tồn Trai ốc lậu thoại thi văn Bản
dịch của Trần Lê Sáng)
Trên lĩnh vực giáo dục, Bùi Dơng Lịch có soạn cuốn sách giáo
khoa “Bùi gia huấn hài” (Sách dạy trẻ của gia đình họ Bùi) Sách này
đ-ợc soạn trong thời gian ông dạy học ở Thăng Long với mục đích nhằmdạy cho trẻ con kiến thức phổ thông, tóm tắt những điều cốt yếu nh việcsinh ra trời, đất, ngời, vật Đặc biệt là phơng pháp học của trẻ em, BùiDơng Lịch đã phê phán phơng pháp dạy trẻ thời đó là phần nhiều cho
học thuộc lòng quyển: “Thiên tự” của Chu Hng Tự, ngời thời Lơng ở
Trung Quốc biên soạn là chẳng ích lợi gì, hoặc lấy các sách Hiếu kinh
và Tiểu học câu đặt dài ngắn không đều là rất khó học Theo ông: “Trẻcon tuy có tri thức tốt nhng hiểu biết còn ít, nếu không đặt theo cách luật
đọc, không thuận miệng mà dễ sinh nản lòng, không bảo rõ ý nghĩa thìlòng thêm mập mờ, nhận định không đợc đúng” [12; 131] Đây là mộttrong số hiếm hoi những sách giáo kho do ngời Việt Nam biên soạn thờiphong kiến mà chúng ta thấy rõ lòng tự tin dân tộc đáng trân trọng củatác giả Mặt khác đây còn là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứulịch sử giáo dục học Việt Nam
Ngoài ra Bùi Dơng Lịch là một nhà trớc tác lớn, ông là tác giả các
cuốn : “ốc lậu thoại thi văn”, “Lê quý dật sử”, “Yên Hội thôn chí”,
“Nghệ An ký” Bùi Dơng Lịch là ngời có công đặt nền móng cho phơng
pháp soạn sách địa chí ở xứ Nghệ Ông đã có thành tựu và cống hiến
quan trọng trong lĩnh vực này, ở tập sách “Nghệ An ký” ông đã giới thiệu
khí hậu, đất đai (cơng vực, duyên cách, sông núi, hồ, đầm, khơi ) conngời (tiểu truyện các danh nhân xứ Nghệ, văn nhân, võ tớng có tên trong
sử sách, đồng thời luận bàn về tâm tính, thể chất con ngời địa phơng).Phần quan trọng của tác phẩm này là lịch sử cuối Lê sang triều Tây Sơn
Tác giả viết theo lối sách xa, nên dẫn nhiều sách cũ và có nguyệnvọng muốn thuật lại lịch sử thời ông Đây có lẽ là tài liệu xa nhất viết vềgốc tích Tây Sơn ở làng Thái Lão (Hng Nguyên - Nghệ An) ghi lờiNguyễn Nhạc tự nói: Ông tổ 4 đời mình đã từ Thái Lão đi vào trại SơnTây huyện Phù Linh phủ Quy Nhơn
Tác phẩm này không chỉ có giá trị tham khảo về lịch sử địa phơng
mà còn là nguồn t liệu quý cho các nhà nghiên cứu khoa học xã
hội trên cả nớc