1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo dục khoa cử huyện nam đàn dưới thời nguyễn (1802 1919)

57 530 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo dục khoa cử huyện Nam Đàn dưới thời Nguyễn (1802-1919)
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử và Văn hóa
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 208 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Danh nhân Nghệ An”- NXB Nghệ An 1998 đã đi sâu vào nghiên cứu các danh nhân văn hoá trên quê hơng Nghệ An trong đó có Nam Đàn và nhiều tác…phẩm đề cập đến các lĩnh vực: kinh tế, đời sốn

Trang 1

mở đầu

1 Lý do chọn đề tài.

Trong chúng ta, mỗi ngời đều có một quê hơng để mà thơng mà nhớ Quê

h-ơng là nơi chôn rau cắt rốn, nơi ghi dấu bao kỷ niệm, cho dù đi đâu họ cũng nhớ về quê hơng với tấm lòng thiết tha trìu mến

Tìm về quê hơng của Chủ tịch Hồ Chí Minh - lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam - danh nhân văn hoá kiệt xuất của thế giới, nơi đây những tên làng, tên xã, tên núi, tên sông cũng gần gũi thân th… ơng nh nơi chôn rau cắt rốn của chúng ta:

Làng Sen nh thể quê chung vậy

Mấy dãy ao chung, mảnh đất phèn

Tìm về Làng Sen cũng là tìm về xứ Nghệ - một trong những vùng đất của

đất nớc Việt Nam Nơi đây thiên nhiên tuy có u đãi nhất định nhng hàng năm lũ lụt cùng với gió Lào khô ráo là những mối đe dọa thờng xuyên đến cuộc sống của ng-

ời dân Từ xa ngời dân xứ Nghệ phải vật lộn với thiên tai, đổ mồ hôi lẫn nớc mắt để tồn tại Vợt qua bao trở ngại khó khăn của cuộc sống, ngời dân xứ Nghệ vẫn cố gắng học tập và một trong những truyền thống nổi bật của con ngời xứ Nghệ khiến cả nớc phải nể trọng đó là truyền thống hiếu học, vợt khó vợt khổ để học

Nam Đàn là một trong những vùng đất của xứ Nghệ - là vùng đất có chiều dày lịch sử và bề rộng văn hoá Nơi có truyền thống yêu nớc chống giặc ngoại xâm, là mảnh đất đã nuôi dỡng, hun đúc nên ngời con yêu nớc Nguyễn Tất Thành - Ngời đã ra đi tìm đờng cứu nớc và suốt đời vì nớc vì dân, quê hơng lớn của Ngời là

đất nớc Việt Nam Trong tình cảm thiêng liêng ấy, Ngời còn có một quê hơng thân

Trang 2

thiết, Ngời vẫn luôn hớng lòng mình, dành tình cảm nồng hậu với quê hơng “nghĩa trọng tình cao”.

Có thể nói Nam Đàn là mảnh đất khoa bảng tiêu biểu của xứ Nghệ, tiêu biểu của Việt Nam Nơi đây đã đóng góp rất nhiều nhân tài cho tổ quốc Xuất phát từ niềm tự hào của ngời con xứ Nghệ, đồng thời từ tình yêu và lòng kính trọng đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, tôi đã quyết định chọn đề tài “Giáo dục khoa cử Huyện Nam Đàn dới thời Nguyễn” (1802-1919) làm luận văn tốt nghiệp Giai

đoạn này giáo dục khoa cử ở Nam Đàn có nhiều tên tuổi nổi bật, để lại nhiều tấm gơng sáng, nhiều kinh nghiệm giảng dạy học tập bổ ích cho sự nghiệp giáo dục

Để thực hiện đề tài này bản thân tôi cố gắng tìm tòi nghiên cứu tài liệu để tìm hiểu cụ thể vấn đề, đồng thời mạnh dạn bày tỏ nhận thức của mình về tình hình giáo dục khoa cử ở Nam Đàn thời phong kiến nói chung và thời Nguyễn nói riêng

2 Lịch sử vấn đề.

Nam Đàn là mảnh đất có truyền thống hiếu học, trọng đạo lý Nơi đây đã sản sinh ra nhiều danh nhân, nhiều nhà khoa học mà cả nớc và thế giới đều biết tiếng Nam Đàn là nơi chôn rau cắt rốn của Chủ Tịch Hồ Chí Minh vĩ đại Vì vậy viết về Nam Đàn xa nay đã có khá nhiều ngời dày công tìm tòi nghiên cứu về Nam Đàn trên nhiều lĩnh vực khác nhau: "Đại Nam Nhất thống chí"- Quốc Sử Quán triều Nguyễn - NXB Thuận Hoá 1997, phần viết về Nghệ An trong đó có Nam Đàn, đã

đề cập đến các lĩnh vực: dựng đặt và diên cách, trờng học, con ngời

"Nghệ An Ký"- Bùi Dơng Lịch - NXB Khoa học xã hội 1993, trong đó cũng

đề cập đến Nam Đàn khá cụ thể

“Nam Đàn xa và nay” là một công trình có tính tổng hợp nhiều lĩnh vực bao gồm về lịch sử huyện Nam Đàn qua các thời kỳ, vài nét về địa chí địa bàn tìm hiểu,

Trang 3

nghiên cứu về đăng khoa lục huyện Nam Đàn nhng mới chỉ tổng hợp danh sách những ngời đỗ đạt chứ cha nghiên cứu cụ thể về giáo dục khoa cử Nam Đàn.

“Nam Đàn - Quê hơng Chủ Tịch Hồ Chí Minh” - Ninh Viết Giao, Trần Thanh Tâm - viết về Nam Đàn qua các chặng đờng lịch sử trong đó có phần đề cập

đến truyền thống hiếu học của Nam Đàn

“Danh nhân Nghệ An”- NXB Nghệ An 1998 đã đi sâu vào nghiên cứu các danh nhân văn hoá trên quê hơng Nghệ An trong đó có Nam Đàn và nhiều tác…phẩm đề cập đến các lĩnh vực: kinh tế, đời sống, con ngời, lịch sử Nam Đàn…Tuy nhiên về lĩnh vực giáo dục nói chung và giáo dục Nam Đàn thời Nguyễn (1802-1919) nói riêng thì cha ai đề cập đến một cách toàn diện mà chỉ có một số tác phẩm nghiên cứu các lĩnh vực khoa bảng ở Nam Đàn thời phong kiến nh

“Khoa bảng Nghệ An 1075-1919”- Đào Tam Tỉnh đề cập đến các gơng mặt tiêu biểu, những ngời đậu Cử nhân, Phó bảng, Tiến sĩ của Nghệ An trong đó có Nam

Đàn

Nói tóm lại, với mong muốn tìm hiểu thêm về Nam Đàn trên phơng diện giáo dục khoa cử thời Nguyễn, bản thân đã tìm tòi, nghiên cứu vấn đề này một cách khá công phu để từ đó tiếp tục phát hiện những điều mới mẻ về giáo dục khoa cử Nam

Đàn thời Nguyễn Tuy vậy trong quá trình thực hiện chắc chắn sẽ có những thiếu sót Kính mong đợc sự quan tâm giúp đỡ tận tình của giáo viên hớng dẫn, các thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp góp ý kiến bổ sung Xin chân thành cảm ơn !

3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu.

Nam Đàn cũng nh nhiều địa phơng khác của xứ Nghệ là vùng đất có nhiều truyền thống quý báu Trong đó có hai truyền thống nổi bật đó là truyền thống giáo

Trang 4

dục khoa cử và truyền thống yêu nớc cách mạng Tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi chỉ đề cập đến truyền thống giáo dục khoa cử.

Qua việc khảo cứu các nguồn tài liệu, làm rõ tình hình giáo dục khoa cử ở Nam Đàn thời Nguyễn (1802-1919) ở các mặt: hệ thống trờng học, truyền thống hiếu học và tôn s trọng đạo, các dòng họ khoa bảng, những sản phẩm của nền giáo dục mang lại Từ đó nêu lên những đánh giá, nhận xét khái quát về tình hình giáo dục Nam Đàn thời phong kiến, khẳng định những đóng góp của khoa cử Nam Đàn

đối với đất nớc

4 Phơng pháp nghiên cứu

Trên cơ sở những nguồn sử liệu cụ thể, sử dụng phơng pháp chuyên nghành

nh đọc tài liệu, su tầm, thồng kê, tổng hợp tài liệu lịch sử thành hệ thống Từ đó

đánh giá một cách khách quan về chế độ khoa cử Nam Đàn thời Nguyễn, khôi phục lại bức tranh quá khứ của lịch sử đúng nh nó từng tồn tại

Đề tài này đợc sự giúp đỡ trực tiếp của cô giáo Hoàng Thị Nhạc - cảm ơn cô

đã giúp đỡ em hoàn thành luận văn

5 Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chơng:Chơng 1: Khái quát về vị trí địa lý, lịch sử và giáo dục khoa cử huyện Nam Đàn tr-

ớc thời Nguyễn

Chơng 2: Giáo dục khoa cử ở Nam Đàn thời Nguyễn (1802 - 1919)

Chơng 3: Dòng họ khoa bảng ở Nam Đàn thời Nguyễn (1802-1919)

nội dung

Trang 5

ơng 1 : khái quát về vị trí địa lý, lịch sử và giáo dục

khoa cử huyện nam đàn trớc thời Nguyễn

1.1 Đặc điểm vị trí địa lý, lịch sử Nam Đàn.

Nam Đàn là một trong những huyện của tỉnh Nghệ An, nằm ở hạ lu sông Lam Thời vua Hùng đây là trung tâm của một bộ tộc trải dài từ Thanh Hoá - Nghệ

An - Hà Tĩnh - Quảng Bình - Quảng Trị ngày nay với tên gọi là Bộ Việt Thờng Nhà Đờng cai trị nớc ta và chia Nghệ Tĩnh thành hai châu: Hoan Châu và Diễn Châu, vùng Nhạn Tháp (nay thuộc xã Hồng Long) là trị sở Hoan Châu thuộc An Nam đô hộ phủ của nhà Đờng

Thời Tiền Lê, sau khi lên ngôi Lê Đại Hành đã tiến hành sắp xếp các địa

ph-ơng hành chính trong cả nớc, chia thành lộ, phủ, huyện, châu Có những đơn vị đặt thêm, những đơn vị bớt đi và những đơn vị đổi sang tên khác Chính trong quá trình đó đã hình thành tiền thân chính thức đầu tiên của huyện Nam Đàn Thời Lý, Nam Đàn là đất của huyện Hoan Đờng Cho đến thời Trần - Hồ, Hoan Đờng đổi là Thạch Đờng Thời Hậu Lê, năm 1469 Lê Thánh Tông định lại bản đồ từ Nam chí Bắc để thông thuộc các châu, phủ, lộ và thời gian này huyện Nam Đàn đợc gọi là Nam Đờng và là một trong hai huyện của phủ Anh Đô, nằm ở tả ngạn sông Lam,

có địa vực khá rộng từ Hữu Biệt (nay thuộc xã Nam Giang) lên mãi Tam Sơn thuộc huyện Anh Sơn ngày nay

Dới thời Nguyễn, năm 1822 vua Minh Mạng đã đổi phủ Anh Đô vốn kiêm lý thuộc huyện Nam Đờng thành phủ Anh Sơn Đến thời Thiệu Trị, năm 1841 đã cắt bốn tổng của huyện Nam Đờng và một tổng của huyện Thanh Chơng thành tổng Lơng Sơn do phủ Anh Sơn kiêm lý Năm Đồng Khánh thứ 1 (1866) vì tránh tên

Trang 6

huý của Đồng Khánh là Nguyễn Phúc Đờng nên Nam Đờng đổi thành Nam Đàn

và tên gọi đó vẫn duy trì cho đến ngày nay

Thời Duy Tân (1910) địa vực của hai huyện Nam Đàn và Thanh Chơng có sự thay đổi lại Cắt Tổng Nam Hoa (sau đổi là Nam Kim) của huyện Thanh Chơng thuộc về huyện Nam Đàn và cắt hai tổng Xuân Lâm, Đại Đồng của huyện Nam

Đàn sát nhập vào huyện Thanh Chơng Cho đến thời điểm này Nam Đàn có bốn tổng: Trung Cần, Lâm Thịnh, Xuân Liễu, Xuân Khoa và lãnh thổ này đợc duy trì cho đến ngày nay

Huyện Nam Đàn kéo dài từ 18 0 34’ đến 18 047’ vĩ Bắc và trải rộng từ 105

024’ đến 105 037’ Kinh Đông Phía Đông giáp huyện Hng Nguyên, phía Tây giáp huyện Thanh Chơng, phía Nam giáp huyện Hơng Sơn và Đức Thọ thuộc tỉnh Hà Tĩnh, phía Bắc giáp huyện Đô Lơng Nam Đàn là vùng đất có khí hậu cận chí tuyến với nhiệt độ trung bình từ 22oC đến 37oC Khí hậu chia thành bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông Tuy vậy thời tiết và khí hậu của Nam Đàn khá khắc nghiệt

“Tháng Giêng gió Đông ma nhiều còn rét, tháng Hai khí hậu ôn hoà, tháng 3 trở

đi gió nam thổi mạnh, tháng t trong tiểu mạn thờng có ma lụt Tháng 5, tháng 6 khí trời nóng nực ít ma, tháng 8, tháng 9 thờng có gió to Mùa Thu mùa Đông…thờng nhiều ma lụt, có khi một tháng mấy lần” [27,145] Mỗi khi có lũ, nớc sông

và nớc ruộng trong ruộng đồng đều dâng nhanh nhng lại rút chậm làm cho nhà cửa thờng bị trôi, đồng ruộng hay bị tổn hại Tuy thế, Nam Đàn vẫn là vùng địa linh nhân kiệt với "non xanh nớc biếc nh tranh hoạ đồ"

Nam Đàn có ba dãy núi bao bọc lấy đồng bằng tựa nh ba bức tờng thành vây quanh một vựa thóc lớn của nhân dân trong vùng: dãy Thiên Nhẫn ở phía Nam, dãy Đại Huệ ở phía Bắc và Đông Bắc, núi Đụn ở phía Tây Bắc Ngoài các dãy núi đó, Nam Đàn còn có hàng chục hòn núi nhỏ xen lẫn với ruộng đồng làng mạc ở đây có sông Lam là con sông lớn nhất của Nghệ An

Trang 7

Sông Lam bắt nguồn từ Lào chảy qua nhiều huyện phía Tây, đến địa phận Nam Đàn nh một con rồng màu lam (Thanh Long), sông uốn lợn quanh co giữa một bên là núi Đụn và một bên là núi Thiên Nhẫn rồi trải dài trên cánh đồng theo hớng Đông Bắc về phía Tây Nam trớc khi ra khỏi huyện Chính sông, núi đã tạo ra cho Nam Đàn một địa hình đa dạng nhng cũng hết sức phức tạp: vừa đồng bằng vừa bán sơn địa Những phát hiện gần đây của khảo cổ học ở núi Trăn (Nam Xuân), núi Đài đã cho thấy ở Nam Đàn văn minh nông nghiệp đợc phát triển khá sớm.

Những khi lũ lụt, không đợc vụ mùa vụ thì ngời dân Nam Đàn thờng “trồng ngô để bổ cứu sự thiếu hụt đó” [21,220] Bên cạnh nông nghiệp lúa nớc thì ở Nam

Đàn hầu nh làng nào cũng có nghề thủ công truyền thống nh nghề trồng bông dệt vải đợc phát triển khắp các làng xã, nghề rèn và nghề đúc lỡi cày ở xã Vân Đồn ( Vân Diên), nghề làm gạch ngói ở Hữu Biệt (Nam Giang), ở Tràng Cát (Nam Cát), Trung Cần (Nam Trung) có nghề thợ mộc thợ nề nhng “những hàng ấy cũng

đã dùng trong dân gian mà ngời làm nghề cũng chỉ đủ ăn mà thôi” [21,221]

Sĩ tử Nam Đàn cũng đâu phải ngày đêm dùi mài kinh sử mà họ cũng phải đi buôn, gánh, phụ hồ, thợ xây điều này cho thấy sự cần cù và chịu khó của nhân…dân Nam Đàn vợt qua bao khó khăn của cuộc sống có bát cơm manh áo để học hành

Nam Đàn là một trong nhiều địa phơng của Nghệ An nổi tiếng với truyền thống chống giặc ngoại xâm Nơi đây từng là điểm xuất phát và là chỗ đứng chân của nhiều cuộc khởi nghĩa do các vị anh hùng cứu quốc tổ chức lãnh đạo Nh tác giả của "Nghệ An ký " đã nhận xét “ huyện Đông Thành và huyện Nam Đờng võ nhân đã nhiều mà khí chất cũng thiên về mặt hào hùng dũng cảm" [21,212]

Với tinh thần yêu nớc chống giặc ngoại xâm Nam Đàn đã đóng góp phần

đáng kể vào việc làm vững “phên dậu” cho nớc nhà “ Chỉ tại một mảnh đất nhỏ

Trang 8

của Nam Đàn mà bao nhiêu sự kiện trọng đại của lịch sử nớc nhà đã in dấu đi qua: hành cung Nam Hoa của Trần Trùng Quang, thành Lục Niên của Lê Lợi, Viện Sùng Chính của vua Quang Trung do Nguyễn Thiếp đứng đầu Những chứng tích…lịch sử khắc sâu vào lòng ngời, vào quê hơng những dấu son truyền thống, tạo cho con ngời Nam Đàn niềm tự hào sâu sắc” [18,69].

1.2 Giáo dục khoa cử Nam Đàn trớc thời Nguyễn

Nam Đàn là mảnh đất có truyền thống hiếu học và truyền thống đó đợc nối tiếp từ đời này qua đời khác Cũng nh nhiều địa phơng khác trên đất Nghệ An, đời sống của nhân dân Nam Đàn rất khổ cực Thiên nhiên khắc nghiệt, ngập lụt bất th-ờng, mất mùa luôn xảy ra, đa số nho sỹ của Nam Đàn rất nghèo có khi không đủ

ăn, hoặc ăn khoai: “sáng khoai, tra khoai, tối khoai khoai ba bữa” và họ nhận thức

đợc rằng chỉ có học hành mới thoát khỏi cuộc sống khổ cực

Dới thời đại nhà Lý - các ông vua cũng đã có những cố gắng trong việc khuyến khích tinh thần học tập Ban đầu chỉ mới chăm lo việc học trong các nhà chùa nh sử cũ chép:" bấy giờ cha có khoa cử, dầu ai thông minh sáng láng đến đâu cũng phải do đờng Phật giáo mà đợc lựa chọn đề bạt" [5,54], nhng sau đó nhà Lý

đã thấy nhu cầu đào tạo ra ngời có học để làm quan giúp vua cai trị đất nớc là quan trọng và năm 1070 nhà vua cho mở trờng, lập Văn Miếu tại kinh đô Thăng long và khoa thi Nho học đầu tiên ở nớc ta đợc mở vào năm 1075 gọi là khoa “ Minh kinh Bác học”

Dới thời Trần việc giáo dục, đào tạo nhân tài đợc coi trọng và tiến hành có quy cũ Nhà Trần đã đặt ra khoa thi “Thái học sinh”, định lệ cứ 7 năm tổ chức một khoa thi để tuyển chọn nhân tài, triều đình còn đặt lệ Tam Khôi (Trạng Nguyên, Bảng Nhãn, Thám Hoa)

Trang 9

Để khuyến khích việc học tập, các sĩ tử ở những nơi xa đế đô, nhà Trần đã quy định lấy hai Trạng Nguyên: một Trạng nguyên Kinh (giành cho bốn Trấn gần vùng kinh đô) và một Trạng nguyên Trại (cho vùng phía Nam Thanh Hoá - Nghệ An)

Trong suốt hai triều đại Lý - Trần, Nam Đàn cũng nh các huyện khác của Nghệ An là vùng biên trấn xa kinh đô nên vùng đất xứ Nghệ đợc gọi là đất Trại, việc đi đến kinh đô để thi cử gặp rất nhiều khó khăn nên số ngời đỗ đạt rất ít Đây

là một thiệt thòi lớn cho các sỹ tử xứ Nghệ so với các trấn gần kinh đô Nhng các

sỹ tử Nam Đàn vẫn không quản ngại khó khăn bằng ý chí và nghị lực đã ra sức học tập, dùi mài kinh sử để đi thi

Ngời mở đầu cho nền khoa bảng Nghệ An là Trại Trạng nguyên Bạch Liêu, ngời làng Nguyên Xá - huyện Đông Thành đỗ khoa Bính Dần đời vua Trần Thánh Tông niên hiệu Thiệu Long (1266) và ngời mở đầu cho khoa bảng Nam Đàn là Nguyễn Thiện Chơng ngời Hoành Sơn xã Nam Hoa Thợng, đậu tiến sỹ năm Kỷ Sửu (1469) đời Lê Thánh Tông Từ đó đến hết thời Hậu Lê, Nam Đàn có 11 ngời

đỗ đại khoa Đây là con số không phải là ít, ở Nghệ An từ khi nhà Lý mở khoa thi đầu tiên (1075) cho đến hết nhà Lê có 55 ngời đỗ đại khoa Trong số những ng-

ời thi đỗ tiến sỹ ở Nam Đàn nổi tiếng là những ngời sau:

- Nguyễn Thiện Chơng ngời xã Nam Hoa ( Nay là Nam Trung -Nam

Đàn) 18 tuổi, đỗ Tiến sỹ khoa Kỷ Sửu đời vua Lê Thánh Tông, niên hiệu Quang Thuận 9 (1469) Vì dâng lời can gián thẳng thắn với nhà vua nhng không đợc vua chấp nhận nên xin về nghỉ hu lúc mới 33 tuổi

- Tống Tất Thắng ngời làng Nam Hoa Thợng, 18 tuổi đỗ Tiến sỹ khoa

ất Dậu (1505) đời vua Lê Uy Mục, là ngời có văn võ song toàn lại thanh liêm chính trực, ông đợc giao đi bình định ở phía Tây, dẹp xong loạn, thắng lợi trở về giữa đờng ông bị bệnh và qua đời Ông đợc nhà vua tặng tớc Nghĩa Quận Công,

Trang 10

nhân dân Nam Đàn nhớ ơn nên đã lập đền thờ ở núi Ngũ Nhạc thuộc Quải Bát Sơn ( nay là xã Nam Lộc ).

- Bùi Hữu Nhẫm ngời xã Thanh Tuyền, 25 tuổi đỗ Tiến sỹ khoa Canh Thìn đời vua Lê Hi Tông (1700), ông là ngời có tính cơng trực, làm việc ngay thẳng không kiêng dè những kẻ có quyền thế

- Nguyễn Trọng Thờng ngời làng Trung Cần, đỗ Tiến sỹ khoa Nhâm Thìn đời vua Lê Dụ Tông (1712) Tính tình ngay thẳng, trung hậu, làm quan ở các tỉnh đều đợc nhân dân khen ngợi

ở Nam Đàn có rất nhiều làng nổi tiếng đăng khoa nh Trung Cần, Xuân Hồ, Hoành Sơn, Vân Sơn, Thịnh Lạc, Đan Nhiệm, Chung Cự, Thanh Thuỷ Các làng…này có rất nhiều ngời đỗ đạt nh làng Trung Cần dới triều Hậu Lê có 3 ngời đỗ Tiến

sỹ là Nguyễn Trọng Thờng, con rể Tiến sỹ Bùi Hữu Nhẫm, cha Tiến sĩ Nguyễn Trọng Đơng Đỗ khoa Nhâm Thìn (1712) đời vua Lê Dụ Tông niên hiệu Vĩnh Thịnh 8

Ngời thứ 2 là Nguyễn Trọng Đơng, con của Tiến sĩ Nguyễn Trọng Thờng,

đậu Tiến sĩ năm kỷ Sửu (1769), đời vua Lê Hiển Tông, niên hiệu Cảnh Hng 30.Ngời thứ 3 là Nguyễn Trọng Đờng, đậu Tiến sĩ năm Kỷ Hợi (1779), đời Lê Hiển Tông, niên hiệu Cảnh Hng 40

ở Xuân Hồ có gia đình phụ tử đăng khoa nh Nguyễn Đình Bá, đỗ Tiến sĩ khoa Mậu Tuất (1718), đời Lê Dụ Tông, niên hiệu Vĩnh Thịnh 14

Chính những con ngời nh vậy đã thúc đẩy tinh thần hiếu học của nhân dân Nam Đàn

Về hệ thống trờng học, đến trớc thời Lý, cả nớc cha có hệ thống trờng học

mà thờng nhà chùa vừa là nơi thờ Phật vừa là nơi dạy học Đến năm 1076 nhà Lý cho xây dựng Quốc Tử Giám ở Thăng Long, nhng ở thời kỳ này trờng học mới chỉ

Trang 11

phục vụ cho con em quý tộc vua chúa và chỉ mở ở kinh đô, riêng các lộ, phủ nhà

Lý không lập trờng học cho con em trong nhân dân đến học

Thời Trần, năm 1281 ngoài kinh đô có trờng Quốc học ra đã lập thêm trờng học ở phủ Thiên Trờng Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam ngoài kinh đô

có một địa phơng mở trờng quốc lập nhng từ đó về sau nhà Trần không mở thêm trờng học nào nữa

Sau một thời gian bị nhà Minh đô hộ, nhà Minh đã chủ trơng lập trờng học ở các phủ, huyện, châu hòng dùng việc mở mang văn hoá để che đậy bộ mặt xâm l-

ợc, nhng chúng đã vấp phải sức phản kháng của nhân dân ta nên không thực hiện

đợc chủ trơng này thậm chí không tổ chức nổi việc thi Hơng

Đánh thắng đợc quân Minh, Lê Lợi tổ chức ngay việc học ở kinh đô và các

lộ, phủ trực thuộc Trung ơng lấy con cháu các quan lại và những ngời tuấn tú trong nhân dân vào học Hầu nh tất cả các lộ, phủ đều tổ chức đợc trờng, đặt chức Giáo thụ để dạy học Vua Lê Thánh Tông cải cách hành chính đổi lộ thành phủ, xây dựng trờng học ở tất cả các phủ, đặt mỗi trờng hai viên Huấn đạo để dạy học Dới thời Lê Thái Tông (1434-1442), thì trờng thi Hơng mới đợc xây dựng ở Nghệ

An Trờng nằm ở phía Nam khu Lam thành (còn gọi là Hùng Sơn hoặc Rú Rum )

ở xã Nghĩa Liệt huyện Hng Nguyên

Trờng thi Hơng Nghệ An cũng nh các trờng khác trong cả nớc tham gia vào các kỳ thi để tuyển chọn nhân tài cho đất nớc, có rất nhiều sỹ tử Nam Đàn đã tham gia thi cử và có nhiều ngời đỗ đạt

Trong suốt 360 năm thời Hậu Lê, mặc dù con đờng thi cử có khi bị gián

đoạn nhng số ngời đỗ kì thi Hơng không phải là ít Theo cuốn "Nam Đàn xa và nay" đã thống kê đợc 11 ngời đỗ Tiến sỹ và 15 ngời đỗ Hội Tam tràng (thời Nguyễn gọi là Phó bảng) tuy nhiên đó là con số cha phải là đầy đủ, rất tiếc là

Trang 12

không có đăng khoa lục ghi những ngời đỗ Hơng cống mà theo các gia phả của một số dòng họ chúng ta mới biết đợc phần nào.

ở Nam Đàn có khá nhiều ngời mở trờng dạy học nổi tiếng dạy giỏi có nhiều học sinh đến học đông và có nhiều ngời đỗ đạt nh trờng của thầy Nguyễn Thiện Chơng ở làng Nam Hoa Thợng trong những năm cuối thế kỷ XV Ông làm quan một thời gian sau đó cáo quan về quê mở trờng dạy học và đã có hàng nghìn học trò đến học

Trờng thầy Bùi Hữu Nhậm ở làng Thanh Tuyền, ông đỗ Tiến sĩ khoa Canh Thìn, năm Chính Hoà 21, đời vua Lên Hy Tông Sử cũ chép: "Tính ông cơng trực, làm quan chẳng sợ những ngời quyền thế, ai cũng sợ lắm Con cháu ông nhiều đời

có ngời hay chữ, đậu Hơng cống, làm quan" [3,124] Sau khi thôi làm quan thì về quê mở trờng dạy học, học trò của ông có nhiều ngời đỗ đạt và cống hiến nhiều ngời giỏi cho đất nớc

Nh vậy, tính đến khi Gia Long lên ngôi vua giáo dục khoa cử ở Nam Đàn đã

có một quá trình phát triển đào tạo biết bao nhiêu nhân tài cho đất nớc xứng đáng

là niềm tự hào của nhân dân Nam Đàn

Ch

ơng 2: Giáo dục khoa cử ở Nam Đàn thời Nguyễn

(1802 - 1919) 2.1 Đặc điểm thi cử Nho học thời Nguyễn

Trang 13

Năm 1802, Nguyễn ánh lên ngôi hoàng đế đặt niên hiệu là Gia Long, mở

đầu triều Nguyễn

Triều Nguyễn đợc xác lập trong bối cảnh đặc biệt của đất nớc và trong tình hình thế giới có nhiều biến chuyển lớn Trên thế giới từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVII chế độ phong kiến Châu Âu đã phát triển đên giai đoạn cuối cùng của nó Hầu hết các cuộc cách mạng T sản đã nổ ra và giành đợc thắng lợi Từ thế kỷ XVIII, giai cấp t sản ở các nớc Châu Âu đã nắm chính quyền, công thơng nghiệp phát triển nhanh và mạnh trong thời kỳ chủ nghĩa t bản tự do cạnh tranh Các cuộc cách mạng công nghiệp đã bắt đầu diễn ra, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển, thúc đẩy sự phát triển nhanh chủ nghĩa t bản của các nớc Tây Âu đã nảy sinh một vấn đề đó là thị trờng và nguyên liệu Chủ nghĩa t bản phơng Tây đang đua nhau đi tìm kiếm thị trờng thế giới - Châu á là nơi nhòm ngó của t bản phơng Tây, vận mệnh của các dân tộc Châu á đang bị đe doạ Thế kỷ XVIII ở Châu á trật tự phong kiến đang lung lay trớc những mâu thuẫn đối kháng gay gắt không thể điều hoà đợc giữa giai cấp thống trị và giai cấp nông dân và mâu thuẫn gay gắt trong nội bộ giai cấp phong kiến Hàng loạt các nớc châu á lần lợt rơi vào tay các nớc phơng Tây, trở thành thuộc địa và nửa thuộc địa của chủ nghĩa t bản phơng Tây ý thức đợc hiểm hoạ đó Nhật Bản và trong một chừng mực nào đó là Thái Lan đã chọn con đờng duy tân đất nớc mà đã thoát khỏi hoạ mất nớc, đa đất nớc phát triển cờng thịnh theo con đờng t bản chủ nghĩa

Trong khi đó ở Việt Nam từ thế kỷ XVI, đất nớc rơi vào tình trạng chiến tranh giữa các thế lực phong kiến khác nhau: Lê - Mạc, Trịnh - Nguyễn Nhiều phong trào nông dân đứng lên chống lại tập đoàn phong kiến, thế kỷ XVII - XVIII

họ vùng dậy trong cuộc đấu tranh quyết liệt

Trang 14

Nh vậy, triều Nguyễn đợc thành lập trong bối cảnh lịch sử xã hội mất ổn định

và đầy biến động Triều Nguyễn đợc dựng lên là kết quả của cuộc chiến tranh các thế lực phong kiến suy đồi đợc t bản Pháp giúp sức phản kích lại phong trào Tây Sơn - một phong trào đấu tranh cho quyền lợi của nhân dân và dân tộc bởi vậy công việc đầu tiên mà nhà Nguyễn phải giải quyết đó là tập trung vào việc củng cố chế độ chính trị - xã hội, kinh tế, giáo dục Gia Long ra sức bảo vệ nền chuyên chế, vua là “con trời”, là ngời nắm mọi quyền lực, có uy quyền tuyệt đối Đội ngũ quan lại đợc đào tạo trong khuôn phép của giáo dục dới chế độ quân chủ đã trở thành “rờng cột” của quốc gia

Trong lịch sử dân tộc trải qua nhiều bớc thăng trầm, các vơng triều kế tiếp nhau ở nớc ta coi trọng giáo dục và khoa cử là một giải pháp hữu hiệu để duy trì quyền thống trị của mình Họ ý thức đợc rằng “nhân tài là nguyên khí của nhà n-

ớc, nguyên khí mạnh thì trị đạo mới thịnh” và “việc chính trị lớn của đế vơng không cần gì bằng nhân tài" [7, 5] Tiếp tục kế thừa và phát huy những kinh nghiệm của các vơng triều trớc đó, lên ngôi vua Gia Long cũng đã nhận thấy tầm quan trọng của chế độ khoa cử nên đã từng nói: "Khoa mục là con đờng bằng phẳng của học trò, thực không thể thiếu đợc, phải nên giáo dục thành tài, rồi sau khi thi Hơng, thi Hội lần lợt cử hành thì ngời hiền tài sẽ nối nhau lên giúp việc " [27, 78] bởi vậy sau khi lên ngôi Gia Long tìm mọi cách để duy trì và phát triển giáo dục trên toàn bộ lãnh thổ của đất nớc Song những năm đầu do tình hình chính trị cha ổn định nên nhà Nguyễn cha đào tạo ngay đợc nhân tài “Các địa ph-

ơng đã tiến cử những ngời có học, để triều đình bổ nhiệm" [2,17], bên cạnh đó nhà Nguyễn sử dụng những cận thần nhà Lê ẩn dật không chịu cộng tác với Tây Sơn

để phụ trách các công việc từ trung ơng đến địa phơng Tuy nhiên số ngời ra giúp việc không đợc bao nhiêu bởi vậy việc làm cấp bách nhất của của các vua nhà Nguyễn là phải tổ chức giáo dục, đào tạo nhân tài

Trang 15

Năm 1803, Gia Long cho dời Quốc Tử Giám từ Thăng Long vào Huế ở đây nhà vua giao cho Quốc Tử Giám nhiệm vụ khảo khoá học trò, chọn học trò giỏi ở các nơi khác gửi lên theo học để đào tạo thành những ngời có học vấn ra làm quan.Năm Gia Long thứ 6 (1807), vua xuống chiếu nói rõ tầm quan trọng của chế

độ thi cử : “ Nhà nớc cần nhân tài ắt nhằm khoa mục.Tiên triều ta chế độ khoa cử

đời nào cũng cử hành Nay thiên hạ đã định, Nam Bắc một nhà, cầu hiền chính…

là việc cần kíp " [27,323]

Nhà Nguyễn cho xây dựng ở tỉnh, phủ, huyện, trấn các trờng học để cho con

em quan lại và những ngời hiếu học vào học, đồng thời đặt các chức Giáo quan ở các địa phơng để trông coi việc học hành Dới thời Minh Mạng (1820-1840) và thời Thiệu Trị (1840-1847), bằng việc tổ chức các kỳ thi Hơng, thi Hội phần lớn

đội ngũ quan lại đã đợc thay thế những ngời có học hành đỗ đạt, nên giáo dục khoa cử phát triển thịnh đạt

Hệ thống trờng học (bao gồm cả trờng công và trờng t) phát triển mạnh, số học trò theo học ngày càng đông Nền giáo dục nhờ đó mà phát triển đến tận các làng xã và có ảnh hởng sâu rộng trong cộng đồng dân c

Trong suốt 117 năm (1802 - 1819), nội dung học và chế độ thi cử nhà Nguyễn nhìn chung không có gì khác so với các triều đại khác thậm chí còn bắt chớc mô phỏng một cách rập khuôn các triều đại trớc từ nội dung học, các môn thi, sách học, đề thi, cách thi đều giống nh thời Lê Sơ Thời Nguyễn cũng tổ chức các kỳ thi Hơng, thi Hội, thi Đình, cũng có lễ vinh quy bái tổ Tuy nhiên nhà Nguyễn cũng có một ít sửa đổi nh về nội dung học bên cạnh học Tứ Th, Ngũ kinh thì còn có học thêm Nam sử

Về học vị có sửa đổi “khoa Mậu Tý, Minh Mạng thứ 9 (1828) bắt đầu gọi

H-ơng cống là Cử nhân Sang năm Kỷ Sửu (1829) khoa thi Hội định lệ chấm Tiến…

Trang 16

sĩ và chia ra Chánh, Phó bảng” [2,19] Nhng do số lợng Tiến sỹ các khoa lấy ít, nên nhà Nguyễn lấy thêm những ngời có số điểm gần với hạng đệ tam giáp gọi là Phó bảng Lúc đầu, những ngời này không đợc dự thi Đình, không đợc vua ban mũ

áo, ngựa và không đợc khắc tên vào bia Văn Miếu Đến đời Tự Đức 1, khoa Mậu Thân (1848), đỗ Phó bảng mới đợc dự thi Đình, khoa Tân Sửu- Thành Thái 13 (1901) mới đợc cấp áo mũ và ngựa về vinh quy bái tổ nh Tiến sỹ Đến khoa Canh Tuất (1910) đời Duy Tân 4, Phó Bảng cũng đợc yến tiệc tại cung đình

Nhà Nguyễn còn hạn chế việc khắc tên những ngời đỗ đạt và đặt ra lệ “Tứ bất” mà trớc đó không có triều đại nào đề ra đó là không phong Vơng cho ngời ngoại tộc, không lập Tể tớng, không lập Hoàng hậu và không lấy đỗ Trạng nguyên

Về thi cử cũng có sự thay đổi, trong các khoa thi có khi chỉ thi 3 kỳ, có khi thi 4 kỳ Thực tế cho thấy nhà Nguyễn rất quan tâm đến giáo dục khoa cử, kế thừa kinh nghiệm trong các triều đại trớc đó Nho giáo đợc xem là Quốc giáo và lấy Nho học làm đạo trị nớc an dân Chế độ và nội dung thi cử chủ yếu là theo Tống Nho Chính sách thi cử nhà Nguyễn có khuynh hớng “hạn chế trên” (không lấy Trạng nguyên, không khắc tên Tiến sĩ vào bia), “nới rộng dới” (lấy thêm Phó bảng), mở nhiều khoa: Chế khoa, Bác học hoành từ để tận dụng hiền tài

Khi tiếng súng xâm lợc của thực dân pháp nổ ra trên đất nớc Đại Nam thì bắt

đầu từ 1858 trở đi giáo dục nhà Nguyễn bắt đầu xuống dốc, nhất là sau khi Nguyễn để mất lục tỉnh Nam kỳ Nho giáo dần dần bộc lộ sự hạn chế, bất lực của

nó trớc hoàn cảnh lịch sử mới của dân tộc Chế độ khoa cử mặc dầu vẫn tồn tại

đến tận năm 1919, song lối học và thi cử đó đã quá lỗi thời Chính vì có duy trì thể chế quân chủ trên toàn bộ lãnh thổ và phát triển nền giáo dục đã từng có ở nớc ta trên gần 10 thế kỷ mà không mấy thay đổi trong nội dung học và thi, nhà Nguyễn

Trang 17

đã bỏ mất cơ hội hoà nhập vào nền văn minh thế giới Cùng với sự xâm lợc của thực dân Pháp thì văn minh Nho học dần dần nhờng chỗ cho văn minh phơng Tây

“Tiếng Pháp đã len vào chơng trình thi cử để rồi cùng với Nam triều, cùng với các hiệp ớc họ đánh tiếng trống kết thúc nền khoa cử truyền thống đã tồn tại với một

bề dày lịch sử hơn một nghìn năm”[2,28] và khoa thi Giáp Dần Khải Định 4 (1919) đã chấm dứt nền giáo dục khoa cử ở Việt Nam

Tuy nhiên, có thể thấy rằng với việc xác lập của vơng triều Nguyễn cùng với quá trình phát triển của chế độ giáo dục khoa cử đã tác động mạnh mẽ đến tình hình giáo dục khoa cử ở Nghệ An nói chung và Nam Đàn nói riêng Gia Long lên ngôi vua, kinh đô Đại Việt đợc chuyển từ Thăng Long (Hà Nội) vào Phú Xuân (Huế) - Quốc Tử Giám cũng đợc dời vào Huế năm 1803 Từ đây, vùng đất xứ Nghệ không còn là vùng "phiên trấn", "phên dậu" của triều đình mà đã có điều kiện để học hành thi cử hơn Trờng thi Hơng Nghệ An cũng đã đợc củng cố để phục vụ cho việc thi cử Từ những điều kiện đó, đã thúc đẩy tinh thần học tập của nhân dân Nam Đàn và tình hình giáo dục khoa cử ở Nam Đàn dới triều Nguyễn có những biến chuyển mới

2 2 Thi cử và hệ thống trờng học ở Nam Đàn.

Nam Đàn là đất văn vật có truyền thống hiếu học và khổ học, chính vì vậy có rất nhiều ngời đỗ đạt Từ xa các sỹ tử Nam Đàn đã ngày đêm học hành, nấu sử sôi kinh quyết tâm đi thi đậu làm rạng danh cho nớc nhà

Dới thời Nguyễn, ở Nghệ An có một trờng thi Hơng (các sỹ tử Thanh Hoá cùng thi) Trờng đợc xây dựng trong thời Lê Thái Tông (1434-1442) ở phía Nam núi Thành (xã Nghĩa Liệt huyện Hng Nguyên ) nay còn lại dấu vết là Chợ Tràng

Đến thời Nguyễn năm 1807, Gia Long cho dời trờng thi Hơng từ Lam Thành về Vịnh Doanh (Vinh) ở phía Đông Bắc của Văn Miếu Năm Thiệu Trị thứ 7 (1947),

Trang 18

trờng dời đến địa điểm thôn Thợng, xã Yên Dũng huyện Chân Lộc (Trờng Thi - Thành phố Vinh nay) “Trờng xây bằng đá ong, chu vi 193 thớc, cao 4 thớc 5 tấc, các viện ở trờng đều lợp ngói, dựng từ năm Thiệu Trị thứ 3” [27,149].

Theo "Những ông Nghè ông cống triều Nguyễn ", thì trờng thi Hơng Nghệ

An thời Nguyễn là một trong 7 trờng thi Hơng của cả nớc : Gia Định, Bình Định, Thừa Thiên, Thanh Hoá, Nam Định, Hà Nội, Nghệ An Trờng thi Hơng Nghệ An thời Minh Mệnh năm 1821 đợc quy định về thời gian tổ chức thi vào Tháng 7 Ngày 1 thi vào trờng thứ nhất; ngày 12 thi vào trờng thứ 2; ngày 19 thi vào trờng thứ 3; ngày 29 xớng danh và phúc hạch, treo bảng

Đến năm Tự Đức 4 (1851) đổi lịch thi Hơng thành 4 kỳ, trờng thi Nghệ An vẫn thi vào tháng 7 mở đầu vào mùng 1 tháng 7; đến mùng 1 tháng 8 thì xớng danh, phúc hạch và treo bảng Lệ thi Hơng thì cứ 3 năm mở một khoa Cùng với trờng thi cả nớc, trờng thi Nghệ An tham gia vào các kỳ thi để tuyển chọn nhân tài cho đất nớc Đến ngày thi thì sỹ tử các nơi kéo về trờng rất đông Tính từ năm Gia Long thứ 6 (1807) là khoa thi đầu tiên cho đến năm 1918 là khoa thi cuối cùng, nhà Nguyễn đã tổ chức đợc 47 khoa thi Hơng lấy đậu 5232 cử nhân Riêng trờng Nghệ An tổ chức 42 khoa thi lấy đỗ 882 cử nhân trong đó Nam Đàn có 129

cử nhân chiếm 1/6 %

Số ngời Nam Đàn đậu Cử nhân ở trờng Nghệ An nh sau:

1 Đinh Mão - Gia Long 6 (1807) 0 Hoàng Trọng Toản

2 Quý Dậu - Gia Long 12 (1813) 3 Trần Hựu

3 Kỷ Mão - Gia Long 18 (1819) 2 Nguyễn Chân Ngôn

Trang 19

4 T©n Tþ - Minh M¹ng 2 (1821) 2 TrÇn Lîi Trinh

5 Êt DËu - Minh M¹ng 6 ( 1825) 3 NguyÔn MÇu B¸ch

6 MËu Tý - Minh M¹ng 9 (1828) 4 TrÇn B¸ Kiªn

7 T©n M·o - Minh M¹ng 12 ( 1831) 1 NguyÔn §¨ng Giai

8 Gi¸p Ngä - Minh M¹ng 15 (1834) 2 NguyÔn Tó

9 §inh DËu - Minh M¹ng18 ( 1837) 2 Vò §øc Khuª

10 Canh Tý - Minh M¹ng 21 ( 1840) 2 §Æng V¨n Hoµ

11 T©n Söu - ThiÖu TrÞ 1 ( 1841) 1 Do·n UÈn

12 Nh©m DÇn - ThiÖu TrÞ 2 (1842) 1 NguyÔn Tù

13 Quý M·o - ThiÖu TrÞ 3 ( 1843) 1 Lý V¨n Phøc

14 BÝnh Ngä - ThiÖu TrÞ 6 (1846) 1 Ph¹m ThÕ Trung

15 §inh Mïi - ThiÖu TrÞ 7 (1847) 4 T« Tr©n

16 MËu Th©n - Tù §øc 1 (1848) 1 Ninh Phan Trø

17 Canh TuÊt - Tù §øc 3 (1850) 2 Ng« §øc Hoan

18 Nh©m Tý- Tù §øc 5 (1852) 3 NguyÔn Nguyªn Chung

19 Êt M·o - Tù §øc 8 (1853) 1 NguyÔn Quèc Hoan

20 MËu Ngä - Tù §øc 11 (185 8) 1 NguyÔn V¨n ChÊn

21 T©n DËu - Tù §øc 14 (1861) 2 NguyÔn Vinh

22 Gi¸p Tý - Tù §øc 17 ( 1864) 2 D¬ng VÜnh

23 §inh M·o - Tù §øc 20 (1867) 3 NguyÔn Huy

24 MËu Th×n - Tù §øc 21 (1868) 1 Ph¹m Ngäc Huy

Trang 20

25 Canh Ngọ - Tự Đức 23 (1870) 3 Đỗ Phát

26 Quý Dần - Tự Đức 26 (1873) 4 Nguyễn Trọng Hợp

27 Bính Tý - Tự Đức 29 ( 1876) 5 Nguyễn Trâm

28 Mậu Dần - Tự Đức 31 (1878) 4 Vũ Túc

29 Kỷ Mão - Tự Đức 32 (1879) 4 Nguyễn Văn Thuận

30 Nhâm Ngọ - Tự Đức 35 (1882) 3 Nguyễn Huy Quỳnh

31 Giáp Thân - Kiến Phúc 1 (1884) 7 Bùi Văn Dị

32 Mậu Tý - Đồng Khánh1 (1888) 5 Phạm Huy Dung

33 Tân Mão Thành Thái 3 (1891) 6 Phạm Hữu Xứng

34 Giáp Ngọ - Thành Thái 6 (1894) 8 Nguyễn Đình Nhuận

35 Đinh Dậu - Thành Thái 9 (1897) 0 Nguyễn Hàm Quang

36 Canh Tý - Thành Thái 12 (1900) 9 Khiêu Năng Tĩnh

37 Quý Mão - Thành Thái 15 (1903) 3 Trần Đạo Tiềm

38 Bính Ngọ - Thành Thái 18 (1906) 7 Bùi Xuân Huyền

39 Kỷ Dậu - Duy Tân 3 (1909) 7 Trần Trạm

40 Nhâm Tý - Duy Tân 6 (1912) 1 Nguyễn Văn Mai

41 ất Mão - Duy Tân 9 (1915) 3 Trần Trạm

42 Mậu Ngọ - Khải Định 3 (1918) 3 Phạm Liễu

Có nhiều khoa thi Hơng, sỹ tử Nam Đàn đã chiếm bảng với tỷ lệ khá vẻ vang: Khoa Quý Dậu- Gia Long 12 (1813) Nam Đàn có 3 ngời trong số 12 ngời chiếm

Trang 21

bảng; Khoa Mậu Tý - Minh Mạng 9 (1828), Nam Đàn có 4 trong số 23 ngời đỗ; khoa Bính Tý - Tự Đức 29 ( 1876), Nam Đàn có 4 trong số 22 ngời đỗ; khoa Giáp Thân - Kiến Phúc 1 (1884), Nam Đàn có 7 trong số 22 ngời đỗ; khoa Canh Tý - Thành Thái 12 (1900), Nam Đàn có 9 trong số 30 ngời đỗ; khoa Kỷ Dậu - Duy Tân 3 ( 1909), Nam Đàn có 7 trong số 22 ngời đỗ Hầu nh khoa thi Hơng nào Nam

Đàn cũng có ngời đỗ đạt

Về thi Hội, Nam Đàn có 25 ngời thi đỗ Đại khoa ( trong đó 11 Tiến sĩ và 14 Phó bảng) cũng chiếm tỷ lệ 1/6 % trong cả tỉnh dới thời Nguyễn Có khoa thi nh Khoa Quý Sửu năm Tự Đức 6 (1853), ở Nam Đàn có 2 ngời đỗ Thám Hoa đó là Nguyễn Đức Đạt ở Hoành Sơn và Nguyễn Văn Giao ở Trung Cần Khoa Tân Sửu - Thành Thái 13 (1901), có 3 ngời đỗ Đại khoa đó là Nguyễn Đình Điển (Tiến sĩ), Nguyễn Xuân Thởng (Phó bảng) và Nguyễn Sinh Sắc (Phó bảng) Khoa Đinh Tỵ - Thành Thái 19 (1907), cũng có 3 ngời đỗ đó là Nguyễn Thúc Dinh (Phó bảng), Nguyễn Hạnh Tín (Phó bảng) và Trần Đình Tuấn (Tiến sĩ) Khoa Canh Tuất - Duy Tân 4 (1910), có 4 ngời đỗ đó là Vơng Đình Thụy (Tiến sĩ), Bùi Hữu Tụy (Tiến sĩ), Lê Trọng Phiên (Phó bảng), Nguyễn Cừ (Phó bảng)

Giáo dục khoa cử Nam Đàn đã cung cấp cho đất nớc rất nhiều nhân tài, nhiều nhà khoa bảng Nam Đàn đã có công lao với dân với nớc nh Nguyễn Đức Đạt, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Sinh Sắc, Phan Bội Châu, …

Về hệ thống trờng học, ngày xa việc học hành của con em nhân dân Nam

Đàn trong các trờng học đợc gọi là của nhà nớc thờng rất thô sơ và đơn giản về tổ chức lẫn chơng trình giáo dục Hầu hết trong các làng xã một ông đồ, ông kép hay

ông cống nào đó mở trờng “trong nhà” dạy học trò thì nhân dân trong vùng gửi con em tới học hoặc những nhà khá giả thì mời thầy về dạy học ở nhà

Trang 22

Nam Đàn có một trờng quốc lập dạy chữ Hán đợc đặt ở xã Thịnh Lạc sau sát nhập với trờng huyện Thanh Chơng Trờng học do một Huấn đạo phụ trách và do một giáo thụ (ở phủ Anh Đô) điều khiển Nhiệm vụ của 2 vị học quan này là trông coi việc học ở các tổng, xã đồng thời trực tiếp giảng dạy tại trờng huyện, trờng phủ Khoảng một hoặc hai năm huyện tổ chức sát hạch học sinh của các “trờng làng” một lần Qua sát hạch học sinh đạt đợc một trình độ nào đó gọi là “tuyển sinh” và đợc nhận vào học trờng huyện hay trờng phủ Rồi huyện hoặc phủ lại tổ chức sát hạch cho “khoá sinh” để đa lên học trờng tỉnh do quan Đốc học trực tiếp giảng dạy theo chơng trình cao hơn Nhng thờng thì học trò ít ra tỉnh học mà họ thờng chọn những thầy nổi tiếng hay chữ để theo đuổi việc học hành.

ở Nam Đàn thời Nguyễn, hệ thống trờng t khá phát triển do các nhà nho mở

và giảng dạy Chơng trình dạy và học ở trờng t cũng giống nh trờng công: “từ 8 tuổi trở lên thì vào tiểu học rồi đến học sách Hiếu kinh, Trung kinh; 12 tuổi trở lên trớc học Luận Ngữ, Mạnh Tử rồi Trung Dung, Đại học; 15 tuổi trở lên trớc học Thi, Th sau học Dịch, Lễ, Xuân Thu, học kèm Ch Tử và Sử" [25,149]

Trong hệ thống trờng t ở Nam Đàn có nhiều ngời dạy học, hầu nh ở làng nào xã nào cũng có ngời dạy học và ngời học cũng rất đông bởi họ đều nhận thức rằng

" Nhân bất học bất tri lý" (ngời không học không biết lẽ sống làm ngời) Học còn thi đỗ làm quan, để cống hiến tài năng đức độ cho đất nớc hoặc để vinh hoa phú quý, nếu không thành đạt thì về làm thầy Có ngời chỉ là những anh khoá, anh đồ hoặc ở dới mức tú tài vẫn mở trờng dạy học Có ngời vừa mở trờng vừa dùi mài kinh sử để tiếp tục đi thi

ở Trung Cần - quê hơng của ba vị Tiến sỹ thời Hậu Lê cũng là nơi có "trờng

t thục dạy chữ Hán đầu tiên, là nền móng vững chắc xây nên truyền

Trang 23

thống dạy và học đạt nhiều thành tựu vẻ vang" [11,121] Trờng t đợc tự do mở nhiều nơi, số học trò đến học ngày một đông và gần nh phổ biến khắp làng xã.Hơng ớc làng Vân Nam có những điều ớc nói về việc mở trờng cho dân làng

để mở mang dân trí " Khoản thứ 11 có 2 điều:

Điều 1 Lập trờng học là cần thiết cho trẻ già trai gái đều học chữ, kẻ giàu ngời nghèo…

Điều 2 Lệ phụ nạp lơng các thấy giáo: bất kể con nhà nghèo, nhà giàu đều phải đóng Nhà giàu mỗi vụ đóng 15 nồi lúa, còn nhà nghèo thời mỗi vụ đóng 10 nồi lúa Số tiền mua sách, mua giấy và mực cho thầy thì ớc định lấy một số lúa tuần sơng của làng Phải làm cho việc học liên tục phát triển từ đời này qua đời khác " [17, 49].…

Nam Đàn có những ngời nổi tiếng dạy giỏi, những ngời đỗ đạt thành danh học trò theo học rất đông nh trờng thầy Võ Duy Dơng ở Thanh Tuyền, ông đỗ Tiến sĩ khoa ất Sửu (1885), làm quan đến Giám Sát Đô Ngự Sử, nhng đau yếu luôn nên ông xin nghỉ hu về mở trờng dạy học tại Thanh Tuyền Học trò theo học khá đông nhng dạy học đợc hai năm ông qua đời để lại nỗi tiếc thơng cho bao sỹ

tử

Trờng thầy Vơng Danh Thân ở làng Vân Sơn xã Vân Diên cũng có nhiều sỹ

tử trong vùng đến học Gia phả họ Vơng [16] chép “Hiền khảo Ngự sử Tĩnh Trai công là bậc bạch mi trong Ngũ Thờng, lúc nhỏ chịu khó học tập, tuy đỗ Hơng giải nhng chí cha toại, làm quan trong ngoài vẫn giữ liêm chính, chỉ nghĩ sự thanh bạch

lu lại cho cháu con, cố xin về quê vì nghĩ đến việc hiếu dỡng, mở trờng dạy học nghĩ đến việc bồi dỡng nhân tài ”…

Trờng thầy Vơng Thúc Quý ở làng Kim Liên Vơng Thúc Quý là con trai của tú tài Vơng Thúc Mậu Vốn là ngời học giỏi thông minh, ông đỗ Cử nhân

Trang 24

khoa Tân Mão- Thành Thái 3 (1891), nhng ông không thi Hội và cũng không ra làm quan mà ở nhà vừa dạy học vừa hoạt động cứu nớc.

Vơng Thúc Quý dùng nhà thờ Tú tài Vơng Thúc Mậu để làm trờng dạy học Tại đây, ông dạy chữ Nho cho học trò nhng đồmg thời cũng là nơi tập hợp các bạn

bè, đồng chí Khác với cách dạy học của các nhà Nho đơng thời, Vơng Thúc Quý thờng khai thác, truyền thụ những nội dung tích cực trong sách vở để giảng dạy cho học trò về đạo lý làm ngời, về cách sống, về những điều ích quốc lợi dân " Bằng lối diễn giải hấp dẫn, bằng những mẫu truyện lịch sử sinh động, thầy hớng mọi suy nghĩ của học trò vào những vấn đề nóng hổi của thời cuộc" [14,272]

Rồi Nguyễn Đình Bá, Nguyễn Đức Quý, Nguyễn Quý Song, Nguyễn Sinh Huy, Hoàng Xuân Hành, Trần Văn Lơng, Vơng Thúc Lơng đều mở tr… ờng dạy học và là những thầy giáo giỏi có uy tín, có tài năng, học sinh đến học rất đông, họ chỉ nghĩ đến việc bồi dỡng nhân tài…

Nam Đàn có trờng học nổi tiếng nhất trong cả nớc, có hàng ngàn sỹ tử đến học đó là trờng Nam Sơn của thầy Nguyễn Đức Đạt ở làng Hoành Sơn xã Nam Hoa Thợng, Tổng Trung Cần Thầy Nguyễn Đức Đạt là thầy giáo giỏi có uy tín Trờng Nam Sơn do thầy mở có rất nhiều sỹ tử xa gần tìm đến học rất đông Các buổi bình văn bên bờ sông Đại Lạn có khi đến hàng trăm ngời tham dự, vì vậy ng-

ời dân trong tỉnh gọi nơi ấy là dòng sông “ Tử” có ý ví với Khổng Tử dạy học trò ở nớc Lỗ thời Trung Quốc cổ đại

Vì họ trò theo học quá đông nên phải mở trờng ở núi Nam Sơn Đây là nơi vừa dạy, học đọc sách của Nguyễn Đức Đạt nên học trò thờng gọi nơi này là

"Nam Sơn khả am” Trờng sử dụng các bậc đá thiên nhiên trên núi là giảng đờng cho hàng ngàn sỹ tử nên đợc gọi là “ trờng Nam Sơn”, thầy Nguyễn Đức Đạt đợc gọi là “ Nam Sơn chủ nhân”

Trang 25

Những giáo trình do thầy soạn ra để dạy học sinh, làm mẫu cho học trò làm văn khi sắp ứng thí cũng đặt là giáo trình của trờng Nam Sơn nh "Nam Sơn song khoá phú tuyển", "Nam Sơn song khoá chế nghĩa", "Nam Sơn Tùng thoại"…

Trờng Nam Sơn và thầy Nguyễn Đức Đạt đã có công đào tạo ra nhiều nhà khoa bảng có tên tuổi nh: Đình Nguyên - Hoàng Giáp Đặng Văn Thụy, Tiến sĩ Hoàng Kiêm, Nguyễn Mai, Trần Quý Cáp Giải nguyên Phan Bội Châu, các Cử…nhân Cao Xuân Dục, Thúc Kiều Khi Nguyễn Đức Đạt qua đời học trò của ông…

đã mai táng ông trên núi Nam Sơn, dựng bia ghi công đức ông ở đỉnh núi nơi thầy thờng giảng bài khi còn sống

Có thể nói Nguyễn Đức Đạt là con ngời tài cao học rộng nhng không muốn hởng vinh hoa phú quý quyền cao chức trọng, ông đã khớc từ những chức vụ có thể đa ông đến địa vị cao nhất trong hệ thống quan lại triều đình để đổi lấy việc tìm nơi thanh vắng dạy dỗ cho bao nhiêu ngời Ông là một nhà giáo mẫu mực xứng đáng là niềm tự hào của quê hơng Nam Đàn

Nhờ có nhiều thầy mở nhiều trờng, rất thuận tiện trong học tập nên đội ngũ học trò học ngày càng đông, gần nh phổ biến khắp nơi trong từng thôn xóm Trờng dạy học rất đơn giản, theo nhà ở của thầy, học trò đến học không đòi hỏi bàn ghế, phòng lớp ngăn nắp mà trong mọi góc nhà, sân phơi hay các bậc đá thiên nhiên

đều là nơi học tập đợc Vậy mà học trò theo học ngày càng đông, điều này tạo nên truyền thống cần cù chịu khó trong học tập của nhân dân Nam Đàn

2.3 Truyền thống hiếu học của nhân dân Nam Đàn

Nam Đàn là đất văn vật có nhiều nhà khoa bảng Nhân dân Nam Đàn có truyền thống hiếu học và khổ học Từ lúc sinh ra con ngời Nam Đàn đã phải sống trong điều kiện thiên nhiên khác nghiệt, phải vật lộn với cuộc sống hàng ngày để kiếm miếng cơm manh áo Họ thấy rằng để thoát cảnh nghèo đói không còn con

Trang 26

đờng nào khác bằng con đờng học hành thi cử Bởi vậy, dẫu trong hoàn cảnh nào các gia đình cũng muốn cho con em mình học hành lấy dăm ba chữ Thánh hiền Ngay từ lúc còn nằm trong nôi, lời ru của mẹ đã khuyên răn con cái chăm lo đèn sách, tu luyện tài năng để lập công danh:

Con ơi mẹ dặn lời này

Chăm lo đèn sách cho tày áo cơm

Làm ngời đói sạch rách thơm

Công danh là nợ nớc non phải đền

hay: Dùi mài kinh sử để chờ kịp khoa

Mai sau nối nghiệp nớc nhà

Trớc là đẹp mặt sau là ấm thânTrong điều kiện khó khăn về kinh tế, nhiều gia đình đã tiết kiệm chắt chiu từng hạt gạo củ khoai để cho con ăn học Hiếu học, khổ học là đức tính không chỉ của sỹ tử Nam Đàn mà cùng là chung cho nhân dân Nam Đàn, nhân dân xứ Nghệ Vợt qua bao khó khăn khắc nghiệt của cuộc sống, các sỹ tử ngày đêm dùi mài kinh sử “kiếm dăm ba chữ để làm ngời” và mong có ngày “vinh quy” Trong một gia đình có khi không chỉ một ngời đậu mà đôi khi cả nhà đậu Con ngời Nam Đàn

đã tiếp thu truyền thống hiếu học của dân tộc của tổ tiên, học hành thi cử gần nh

là lẽ sống của họ Cảnh ông Nghè vinh quy bái tổ “võng anh đi trớc võng nàng theo sau” là niềm mơ ớc của bao ngời đã ăn sâu vào tiềm thức của mọi ngời dân trong cộng động làng xã dù họ phải khổ học hàng chục năm trời

Truyền thống hiếu học ở Nam Đàn không chỉ là vai trò của chính các cá nhân gia đình dòng họ mà làng xã cũng đóng vai trò không nhỏ ở Nam Đàn hầu nh làng nào, xã nào cũng dành u ái cho ngời học mặc dù làng xã không đứng ra để

mở trờng mời thầy và dạy cho con em học tập Những làng xã đã khuyến khích

Trang 27

những thầy giáo mở lớp học, có những chính sách u đãi cho những ngời đang đi học nh làng xã giành một phần ruộng đất công để làm ruộng “học điền” (là ruộng dành để cung cấp cho những ngời đang đi học), “biếu điền” (là phần thởng cho những ngời đỗ đạt) Làng An Lạc đã dành những chính sách u đãi cho những ngời

đi học, "trong xã, những ai còn theo đờng nghiên bút một cách nghiêm túc thì đợc miễn phu phen, binh lính để tiện cho việc học tập" [17,162] Miễn mọi phu đài tạp dịch cho những ngời theo học là nói chung của mọi làng xã ở Nam Đàn khi chế độ khoa cử còn thịnh hành

ở một số dòng họ nh dòng họ Nguyễn Hữu, Nguyễn Trọng, Họ Lê ở Trung Cần, họ Vơng ở Vân Sơn đã có những chính sách u đãi trọng hậu đối với con em mình Nh họ Nguyễn Hữu đã trích ra một phần ruộng gọi là ruộng “độc th điền”, ruộng này giao cho một số ngời cày cấy và đến mùa thu hoạch thì phân cho ngời cày cấy một nửa, nửa còn lại giao cho dòng họ đến ngày giỗ họ thì đem số thu hoạch đợc chia cho những ngời trong họ đang theo học

Làng xã rất quan tâm đến các kỳ thi có sĩ tử của làng tham dự ở làng Trung Cần đã tổ chức lễ “cầu khoa” cho các sỹ tử trớc khi lên đờng đi thi, cầu xin thần linh phù hộ cho con em của làng thi đỗ Lễ "cầu khoa" ở nhiều làng về hình thức

có khác nhau song hầu nh là rộng khắp làng xã trong huyện Nam Đàn

Khi trong làng có ngời đỗ đạt thì làng đón rớc long trọng, đỗ càng cao thì

đón rớc càng lớn Làng Trung Cần định lễ rớc Tiến sĩ và toàn bộ dân làng ra đón rớc, còn rớc Cử nhân thì chỉ lý dịch, các quan viên chức sắc trong làng và những ngời dân trong xóm với bà con trong dòng họ ở làng Hoành Sơn cũng tổ chức lễ rớc Tiến sĩ tơng tự nh vậy ngoài ra còn có thêm cờ, lọng, võng kiệu rất long…trọng Điều ớc làng An Lạc, xã Xuân Hồ ghi : " Trong xã những ngời thi đậu về làng phải đợc đón tiếp đúng nghi thức: đậu Đại khoa đợc đón tại tỉnh, đậu Cử

Trang 28

nhân đợc đón tại cầu Hữu Biệt Đậu Tú tài đợc đón tại chợ Hữu Biệt Võ giai thụ sắc hạng u, hạng thứ đều đợc đón tại chợ núi Hoạch" [11,161].

Làng xã còn có phần thởng cho những ngời đỗ đạt nh khoán ớc của làng Hoành Sơn có ghi: đậu Tiến sĩ bản thôn mừng thởng một trâu giá tiền 10 quan, H-

ơng thí nếu trúng tứ trờng thôn thởng 5 quan (nếu thủ khoa có thêm 3 quan nữa)

ở Nam Đàn các làng xã có nhiều ngời đỗ đạt đều xây dựng văn từ, dựng bia để thờ

đạo thánh hiền, thờ ngời có công đức và khai hoa cho làng, tự hào truyền thống hiếu học và khích lệ ngời dân ăn học

Sự đón tiếp long trọng của triều đình cho đến mọi làng xã là niềm mơ ớc của mọi sỹ tử Đối với con ngời Nam Đàn, vấn đề học hành thi cử đã trở thành truyền thống hiếu học, khổ học và nó ăn sâu vào máu thịt của các gia đình, dòng họ Thực

tế cho thấy dới triều Nguyễn, Nam Đàn có số ngời đỗ đạt khá đông: 25 ngời đỗ

đại khoa và 104 ngời đỗ Cử nhân

Trong các gơng mặt đỗ đạt, nổi lên nhiều tấm gơng vợt khó nh Nguyễn Thái

ở Thịnh Lạc, nhà nghèo phải cắt cỏ chăn trâu song rất chăm học và ông học rất giỏi, có trí nhớ tuyệt vời Khoa thi Đinh Mùi - Thiệu Trị 7 (1847), ông đỗ Cử nhân sau đó ông đỗ Phó bảng khoa Tân Hợi - Tự Đức 4 (1851), cũng năm đó triều đình

mở chế khoa Cát sỹ Ông đỗ Hoàng Giáp

Cụ Nguyễn Sinh Sắc thân sinh Chủ Tịch Hồ Chí Mình lúc nhỏ mồ côi cả cha lẫn mẹ, phải lao động vất vả không có điều kiện để đi học Vốn là ngời thông minh, hiếu học và khát học nên Nguyễn Sinh Sắc đã học lỏm đợc bạn bè ít chữ nghĩa Mỗi buổi sáng khi dắt trâu ra đồng, Nguyễn Sinh Sắc thờng cột trâu dới gốc cây và đứng nghe thầy đồ giảng bài, có khi vừa ngồi trên lng trâu vừa đọc sách Tiếng tăm học giỏi của Nguyễn Sinh Sắc đồn đại khắp vùng ở làng Sen có

Ngày đăng: 18/12/2013, 20:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1].Ban Nghiên cứu lịch sử Tỉnh Nghệ An, (1998), "Danh nhân Nghệ An" tập I . NXB Nghệ Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh nhân Nghệ An
Tác giả: Ban Nghiên cứu lịch sử Tỉnh Nghệ An
Nhà XB: NXB Nghệ Tĩnh
Năm: 1998
[2] Bùi Hạnh Cẩn, (1995), "Những ông Nghè, ông cống triều Nguyễn ", NXB Văn hoá- Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những ông Nghè, ông cống triều Nguyễn
Tác giả: Bùi Hạnh Cẩn
Nhà XB: NXB Văn hoá- Hà Nội
Năm: 1995
[3] Bùi Huy Giáp, "Nghệ An chí", Tài liệu địa chí, Th viện tỉnh Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ An chí
[4] Nguyễn Sỹ Cẩn, (1996)" Nhà giáo danh tiếng đất Lam Hồng", NXB Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà giáo danh tiếng đất Lam Hồng
Nhà XB: NXB Nghệ An
[6] Phan Bội Châu, (1996) " Phan Bội Châu niên biểu", NXB Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Bội Châu niên biểu
Nhà XB: NXB Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh
[7] Phan Huy Chú, (1961), "Lịch triều hiến chơng loại chí", NXB Sử học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch triều hiến chơng loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: NXB Sử học Hà Nội
Năm: 1961
[8] Cao Xuân Dục, "Hơng khoa lục Nghệ Tĩnh". Tài liệu Th viện Tỉnh Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hơng khoa lục Nghệ Tĩnh
[13] Nguyễn Trọng Đệ (chủ biên), (1997), "Truyền thống hiếu học và Tôn s trọng đạo", Hội tâm lý giáo dục học Vịêt Nam - Tỉnh hội Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thống hiếu học và Tôn s trọng đạo
Tác giả: Nguyễn Trọng Đệ (chủ biên)
Năm: 1997
[14] "Đồng Khánh ngự lãm địa d chí lợc", Tài liệu tham khảo địa phơng, Th viện tỉnh Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng Khánh ngự lãm địa d chí lợc
[15] " Gia phả họ Bùi Danh" ở xã Nam Thanh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia phả họ Bùi Danh
[17] Ninh Viết Giao, (1998)," Hơng ớc Nghệ An", NXB Chính Trị Quốc Gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hơng ớc Nghệ An
Tác giả: Ninh Viết Giao
Nhà XB: NXB Chính Trị Quốc Gia
Năm: 1998
[18] Ninh Viết Giao - Trần Thanh Tâm, (1989), "Nam Đàn - quê hơng chủ tịch Hồ Chí Minh", NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam Đàn - quê hơng chủ tịch Hồ Chí Minh
Tác giả: Ninh Viết Giao - Trần Thanh Tâm
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1989
[25] Nguyễn Đăng Tiến, (1996), "Lịch sử giáo dục Việt Nam trớc cách mạng Tháng 8/1945", NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử giáo dục Việt Nam trớc cách mạng Tháng 8/1945
Tác giả: Nguyễn Đăng Tiến
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 1996
[26] Đào Tam Tỉnh, (2000), "Khoa bảng Nghệ An (1075-1919)", Sở Văn Hoá Thông Tin Nghệ An - Th viện tỉnh Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa bảng Nghệ An (1075-1919)
Tác giả: Đào Tam Tỉnh
Năm: 2000
[27] Quốc sử quán triều Nguyễn (1997), "Đại Nam nhất thống chí" tập 2, NXB Thuận Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam nhất thống chí
Tác giả: Quốc sử quán triều Nguyễn
Nhà XB: NXB Thuận Hoá
Năm: 1997

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Có nhiều khoa thi Hơng, sỹ tử NamĐàn đã chiếm bảng với tỷ lệ khá vẻ vang: Khoa Quý Dậu- Gia Long 12 (1813) Nam Đàn có 3 ngời trong số 12 ngời chiếm  - Giáo dục khoa cử huyện nam đàn dưới thời nguyễn (1802   1919)
nhi ều khoa thi Hơng, sỹ tử NamĐàn đã chiếm bảng với tỷ lệ khá vẻ vang: Khoa Quý Dậu- Gia Long 12 (1813) Nam Đàn có 3 ngời trong số 12 ngời chiếm (Trang 20)
25 Canh Ngọ- Tự Đức 23 (1870) 3 Đỗ Phát - Giáo dục khoa cử huyện nam đàn dưới thời nguyễn (1802   1919)
25 Canh Ngọ- Tự Đức 23 (1870) 3 Đỗ Phát (Trang 20)
3.2. Các nhà khoa bảng Nam Đàn. - Giáo dục khoa cử huyện nam đàn dưới thời nguyễn (1802   1919)
3.2. Các nhà khoa bảng Nam Đàn (Trang 38)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w