1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo dục đạo đức giá trị truyền thống cho sinh viên trường cao đẳng kinh tế tài chính vĩnh long trong giai đoạn hiện nay luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục

117 861 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên trường cao đẳng kinh tế - tài chính vĩnh long trong giai đoạn hiện nay
Tác giả Phan Thị Hà
Người hướng dẫn TS. Đinh Thế Định
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lý luận và PPDH
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 665,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Trong suốt bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, đã hìnhthành nên các chuẩn mực, giá trị đạo đức tốt đẹp của con người Việt Nam trongquan hệ gia đ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

_

Phan Thị Hà

GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG

CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - TÀI CHÍNH VĨNH LONG

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

TP Hồ Chí Minh, 7/2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

_

Phan Thị Hà

GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG

CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - TÀI CHÍNH VĨNH LONG

TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Chuyên ngành: Lý luận và PPDH Bộ môn chính trị

Mã số: 60.14.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS Đinh Thế Định

TP Hồ Chí Minh, 8/2012

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi chân thành cảm ơn Trường Đại học Vinh và Trường Đại học Sài Gòn

đã liên kết đào tạo Thạc sĩ Khoa học giáo dục, chuyên ngành lý luận và phương pháp giáo dục chính trị khóa 18 (2010 - 2012) tổ chức tại Đại học Sài Gòn

Tôi chân thành cảm ơn Trường Cao đẳng Kinh tế-Tài chính Vĩnh Long

đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để bản thân tham gia tốt khóa học

Thực hiện đề tài:“Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên trường Cao đẳng Kinh tế - Tài chính Vĩnh Long trong giai đoạn hiện nay”, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến quý thầy cô giáo Khoa giáo dục Chính trị, Trường Đại học Vinh; Trường cao đẳng Kinh tế-Tài chính Vĩnh Long và đặc biệt là sự giúp đỡ tận tậm của thầy giáo - Tiến sĩ Đinh Thế Định - Người đã hướng dẫn tôi thực hiện đề tài khoa học này

Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài khoa học này nhưng không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Tác giả rất mong muốn được sự nhận xét, góp ý của quý thầy cô và các bạn!

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 8 năm 2012

Tác giả

Phan Thị Hà

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

A MỞ ĐẦU 1

B NỘI DUNG Chương 1: Cở sở lý luận của việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên trong giai đoạn hiện nay 9

1.1 Truyền thống và giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên 9

1.2 Tính tất yếu, sự cần thiết phải giáo dục đạo đức cho sinh viên trong giai đọan hiện nay 38

Chương 2: Thực trạng giáo dục giá trị truyền thống cho sinh viên trường CĐ KT-TC VL trong giai đoạn hiện nay 47

2.1 Khái quát về Vĩnh Long và trường CĐ KT-TC VL 47

2.2 Công tác giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên trường CĐ KT-TC VL hiện nay 62

Chương 3: Những phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên trường CĐ KT-TC VL trong giai đoạn hiện nay 82

3.1 Phương hướng giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên trường CĐ KT-TC VL 82

3.2 Những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên trường CĐ KT-TC VL trong giai đoạn hiện nay 91

C KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 109

D TÀI LIỆU THAM KHẢO 111

E CÁC BÀI BÁO ĐÃ ĐĂNG 114

Trang 6

A MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong suốt bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, đã hìnhthành nên các chuẩn mực, giá trị đạo đức tốt đẹp của con người Việt Nam trongquan hệ gia đình, cộng đồng và xã hội, phù hợp với yêu cầu tồn tại, phát triểncủa cộng đồng dân tộc Việt Nam

Ngay từ thời xa xưa, ông cha ta luôn coi trọng đạo đức, gìn giữ và pháthuy các giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc Đó là truyền thống yêu quê hươngđất nước, gắn bó với thiên nhiên, với cộng đồng, đoàn kết thủy chung, quý trọngnghĩa tình; cần cù, yêu lao động; hiếu học, sáng tạo, dũng cảm, kiên cường Đó

là lòng yêu nước thương nòi, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì sự nghiệp độc lập tự

do của tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, sống có tình, có nghĩa, có đạo đức, có lýtưởng, vì nước, vì dân; có ý chí tự lực, tự cường, tinh thần đoàn kết nhân ái

Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Muốn xây dựng chủ nghĩa

xã hội trước hết cần có con người xã hội chủ nghĩa” Tổ quốc và nhân dân tamong muốn xây dựng đó là con người: “phát triển toàn diện về chính trị, tưtưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực, sáng tạo, có ý thức cộng đồng, cólòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hoá, quan hệ hàihoà trong gia đình, cộng đồng và xã hội”

Nền kinh tế thị trường đã đem lại những điều "kỳ diệu" trong sự phát triểnkinh tế - xã hội, tuy nhiên nó cũng là mảnh đất màu mỡ nảy sinh lối sống ích kỷ,

vụ lợi, những thói hư tật xấu, những tệ nạn xã hội đã và đang từng ngày, từnggiờ làm băng hoại những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, phá vỡ nhiềunét đẹp của văn hóa truyền thống Việt Nam đang bước vào thời kỳ hội nhập,dưới sự tác động mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường nhiều giá trị đạo đứctruyền thống ngày càng bị mai một đi Đặc biệt dưới sự tác động của quá trình

đô thị hoá, bên cạnh một số sinh viên sống có hoài bão, có ý thức trách nhiệmcông dân, có trí tuệ, tài năng, dám nghĩ dám làm Còn một bộ phận không nhỏ

Trang 7

sinh viên suy thoái về đạo đức, sống buông thả, thiếu trách nhiệm với bản thân,gia đình và xã hội Với lối sống vụ lợi, thực dụng, cá nhân, vị kỷ, thiếu văn hoálàm xói mòn những giá trị đạo đức truyền thống của con người Việt Nam Đặcbiệt tình trạng sống thử trong sinh viên hiện nay diễn ra phổ biến ở các trườngĐại học, Cao đẳng đã làm mất đi giá trị truyền thống, nét thuần phong mỹ tụccủa con người Việt nam Trong bối cảnh đó vấn đề giáo dục giá trị đạo đứctruyền thống dân tộc cho sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng hiện nay trởnên hết sức bức thiết

Từ thực tế đó, Đảng ta đặt ra yêu cầu phải gắn tăng trưởng kinh tế với tiến

bộ đạo đức và công bằng xã hội, vừa phát triển kinh tế thị trường, đồng thời phảibảo tồn và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc ViệtNam Văn kiện đại hội Đảng lần thứ XI nhấn mạnh: “Cần tập trung giải quyếtmột số vấn đề xã hội bức xúc (suy thoái đạo đức, lối sống, tệ nạn xã hội, trật tự,

kỷ cương xã hội)” [14; 266] Thực tiễn chứng tỏ rằng, tương lai của mỗi dân tộcphụ thuộc một phần rất lớn vào thế hệ trẻ nói chung, sinh viên nói riêng Liệuchúng ta có thể giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa khi một bộ phận sinh viênhiện nay bị phai nhạt lý tưởng, thiếu ý thức giữ gìn những giá trị truyền thốngdân tộc

Để nền kinh tế của đất nước ngày càng một phát triển hơn, mở rộng giaolưu văn hoá với các nước bên ngoài mà chúng ta không đánh mất đi những nétvăn hoá truyền thống đáng tự hào của lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữnước của cha ông ta, để làm sao chúng ta "hội nhập" mà không bị "hòa tan", mỗimột thanh niên Việt Nam nói chung - sinh viên Việt Nam nói riêng cần nâng caohơn nữa bản lĩnh của mình, đứng vững trước mọi thử thách khắc nghiệt của cuộcsống hiện đại

Trong những năm qua, công tác giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dântộc cho sinh viên tại Vĩnh Long nói chung và trường Cao đẳng Kinh tế -Tàichính Vĩnh Long nói riêng đã có sự chuyển biến tích cực với nhiều hình thức đa

Trang 8

dạng và phong phú phù hợp với sinh viên Tuy nhiên, những thay đổi về kinh tế,chính trị, văn hóa, xã hội ở Vĩnh Long trong những năm qua, nhất là quá trìnhchuyển sang nền kinh tế thị trường mở cửa hội nhập quốc tế, đã tạo nên nhữngbiến động mạnh mẽ trong đời sống tinh thần của thế hệ trẻ Những mặt trái củanền kinh tế thị trường đã có ảnh hưởng tiêu cực và làm thay đổi các quan điểm

về giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, ảnh hưởng không tốt đến lối sốngcủa một bộ phận sinh viên Để nâng cao chất lượng và góp phần tạo ra nhữngchuyển biến tích cực trong công tác giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dântộc cho sinh viên trường Cao đẳng Kinh tế - Tài chính Vĩnh Long, chúng tôi

chọn đề tài: “Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên trường Cao đẳng Kinh tế - Tài chính Vĩnh Long trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài cho

luận văn thạc sỹ của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Xung quanh vấn đề đạo đức truyền thống những năm gần đây đã có nhiềucông trình nghiên cứu ở dưới các góc độ khác nhau, một số bài viết đã đề cậpđến khía cạnh này hay khía cạnh khác của vấn đề, nhiều công trình nghiên cứu

về truyền thống và giá trị đạo đức truyền thống thu hút sự quan tâm của nhiều

người Tiêu biểu là các công trình: GS Trần Văn Giàu (1989), Giá trị tinh thần

truyền thống Việt Nam, Nxb TP Hồ Chí Minh; Tạp chí Cộng sản, số 3-1981;

"Về truyền thống dân tộc" của Trần Quốc Vượng, Tạp chí Cộng sản, số 3-1981;

"Cái truyền thống và cái hiện đại trong sự nghiệp xây dựng con người mới ở

nước ta" của Đỗ Huy, Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội, số 5-1986; "Giữ gìn

và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, một nhu cầu phát triển của xã hội hiện đại" của Lương Quỳnh Khuê, Tạp chí Triết học, số 4-1992; GS.Trần Đình Hượu (1994), Đến hiện đại từ truyền thống Nxb Khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội; GS Phan Huy Lê (1995), Truyền thống dân tộc trong công cuộc đổi mới và hiện đại hóa Đất nước, Nxb Hà Nội; Luận án tiến sĩ Triết học của Nguyễn Văn

Lý, 2000; "Giá trị đạo đức và sự biểu hiện của nó trong đời sống xã hội" của Mai

Trang 9

Xuân Lợi, Tạp chí Triết học, số 3, 2001; "Lý tưởng đạo đức và việc giáo dục lý

tưởng đạo đức cho thanh niên trong điều kiện hiện nay" của Đoàn Văn Khiêm,

Tạp chí Triết học, số 2, 2001; GS.TS Nguyễn Trọng Chuẩn, PGS.TS Nguyễn Văn

Huyên (đồng chủ biên) (2002), Giá trị truyền thống trước những thách thức toàn cầu hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Tạp chí Triết học, số 8, 2002; "Quan hệ biện chứng giữa truyền thống và hiện đại trong giáo dục đạo đức cho thanh niên Việt Nam hiện nay" Các công trình đã đi sâu phân tích, làm rõ khái niệm truyền

thống, giá trị của truyền thống và giá trị đạo đức truyền thống của Việt Nam trongtrong giai đoạn hiện nay, phân tích những thách thức và cơ hội của toàn cầu hóa đốivới việc giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống Đồng thời nhiều công trình đã

đề cập đến các giải pháp giữ gìn, phát huy các giá trị truyền thống trước thử tháchtoàn cầu hóa

Một số công trình nghiên cứu và đưa ra những giải pháp giáo dục truyền

thống cho thanh thiếu niên Tiêu biểu: Lương Ngọc (1992), Giáo dục truyền thống

cho thanh niên, Nxb Thanh niên, Hà Nội; TS Nguyễn Lương Bằng (2001), Kết hợp truyền thống và hiện đại trong quá trình đổi mới giáo dục và đào tạo ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ; TS Đoàn Minh Duệ (chủ biên) (2004), Những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục truyền thống cho thanh thiếu niên tỉnh Nghệ An, Nxb Nghệ An; TS Đinh Thế Định (2005), Những giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục truyền thống cho sinh viên đại học Vinh, Đề tài khoa học cấp bộ… các công trình nghiên cứu, bài viết trên đều có ý nghĩa to lớn đối với việc kế

thừa và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống hiện nay ở nước ta Tuy nhiên,đến nay chưa có công trình nào đề cập một cách trực tiếp đến việc giáo dục giá trịđạo đức truyền thống cho sinh viên trường cao đẳng Kinh tế - Tài chính Vĩnh Longtrong giai đọan hiện nay Do đó, việc thực hiện đề tài này là sự kế thừa và phát triểntrong nghiên cứu những giá trị đạo đức truyền thống hiện nay

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

3.1 Mục đích

Trang 10

Nâng cao chất lượng giảng dạy lý luận chính trị nói chung và chất lượnggiáo dục giá trị đạo đức truyền thống nói riêng cho sinh viên, nhằm nâng caochất lượng giáo dục toàn diện, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH,HĐH và hội nhập của trường Cao đẳng Kinh tế - Tài chính Vĩnh Long trong giaiđoạn hiện nay.

tế - Tài chính Vĩnh Long trong giai đoạn hiện nay.

4 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Công tác giáo dục truyền thống nói chung và giáo dục giá trị truyền thốngcho sinh viên rất đa dạng và phong phú Song trong giới hạn một luận văn thạc

sĩ, đề tài chỉ tập trung đi sâu nghiên cứu và đề xuất các phương hướng và giảipháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinhviên trường Cao đẳng Kinh tế - Tài chính Vĩnh Long trong giai đoạn hiện nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, trong quá trình nghiên cứu chúng tôi sử dụng cácphương pháp sau đây:

- Nghiên cứu lý luận: Trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm củaĐảng Cộng sản Việt Nam về đạo đức và giá trị đạo đức truyền thống

Ngoài ra, tác giả luận văn có tham khảo, kế thừa các thành tựu của cáccông trình nghiên cứu đã được công bố có liên quan đến đề tài

Trang 11

- Nghiên cứu thực tế: Điều tra thực trạng: điều tra bằng bảng hỏi đượcthiết kế sẵn, điều tra bằng phỏng vấn, điều tra bằng nghiên cứu tài liệu, hồ sơ lưutrữ.

- Sử dụng các phương pháp: thống kê xã hội học, phân tích, so sánh để

xử lý kết quả điều tra, khảo sát

6 Giả thuyết nghiên cứu

Nếu các giải pháp về giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viêntrường cao đẳng Kinh tế - Tài chính Vĩnh Long trong giai đoạn hiện nay được

áp dụng vào thực tiễn thì công tác giáo dục đạo đức nói chung và công tác giá trịđạo đức truyền thống nói riêng sẽ góp phần quan trọng trong việc nâng cao chấtlượng giáo dục đạo đức truyền thống cho sinh viên nhà trường, hạn chế nhữngmặt tiêu cực, phát huy các yếu tố tích cực

7 Đóng góp của đề tài

Ở một mức độ nhất định, đề tài góp phần làm rõ hơn các vấn đề lý luận vềgiáo dục truyền thống nói chung và giáo dục giá trị đạo đức truyền thống chosinh viên trường Cao đẳng Kinh tế - Tài chính Vĩnh Long nói riêng Với hệthống phương hướng và giải pháp được đưa ra sẽ góp phần nâng cao chất lượnggiáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên trường Cao đẳng Kinh tế -Tài chính Vĩnh Long Đặc biệt, kết quả nghiên cứu có thể áp dụng cho cáctrường Đại học, Cao đẳng trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long và một số trường Đạihọc, Cao đẳng trong nước

8 Kết cấu đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luậnvăn được kết cấu gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận của việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống

cho sinh viên trong giai đoạn hiện nay

Chương 2: Thực trạng giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh

viên trường Cao đẳng Kinh tế - Tài chính Vĩnh Long trong giai đoạn hiện nay

Trang 12

Chương 3: Những phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao

chất lượng giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên trường Cao đẳngKinh tế - Tài chính Vĩnh Long trong giai đoạn hiện nay

Trang 13

B NỘI DUNG Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN

THỐNG CHO SINH VIÊN TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

1.1 Truyền thống và giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên

1.1.1 Khái niệm “Truyền thống”

Về khái niệm truyền thống, trong lịch sử đã từng tồn tại nhiều quan điểm

khác nhau về vấn đề "truyền thống" Theo Từ điển Bách khoa Triết học của Liên

Xô, "truyền thống" có nguồn gốc từ tiếng Latinh là traditio - sự chuyển giao, lưutruyền lại - đó là các giá trị tinh hoa văn hóa được lưu truyền từ những thế hệtrước và nó được gìn giữ ở các xã hội, giai cấp hay nhóm xã hội nhất định

Trong cuốn Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hóa, Giáo

sư Tiến sĩ Trần Văn Đoàn viết: "Từ đây, cái được gọi là truyền thống chỉ khi nào

nó trở thành một bộ phận thiết yếu của cuộc sống chúng ta và chỉ khi nào nó bảotồn cuộc sống chúng ta và chỉ khi nào nó có khả năng phát triển cuộc sống củachúng ta"[5; 23]

Khi đề cập đến vấn đề truyền thống, GS TS Nguyễn Trọng Chuẩn đã córất nhiều bài viết về vấn đề này Ông cho rằng: “Nói đến truyền thống là nói đếnphức hợp những tư tưởng, tình cảm, những tập quán, thói quen, những phongtục, lối sống, cách ứng xử, ý chí của một cộng đồng người đã hình thành tronglịch sử, đã trở nên ổn định và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác” [6;17]

Giáo sư Vũ Khiêu, tác giả của cuốn “Đạo đức mới”, đưa ra định nghĩa:

“Truyền thống là những thói quen lâu đời đã được hình thành trong nếp sống,nếp suy nghĩ và hành động của một dân tộc, một gia đình, một dòng họ, mộtlàng xã, một tập đoàn lịch sử” [26; 536]

Trang 14

Truyền thống là một điều kiện cần thiết của quá trình duy trì và phát triểnđời sống xã hội Con người ta ngay từ buổi sơ khai trong quan hệ với thiên nhiên

và xã hội đã dần dần tích luỹ được những kinh nghiệm trong sản xuất, chiến đấu

và sinh hoạt hằng ngày nhằm phục vụ đời sống của mình Những kinh nghiệmquý báu được giữ lại và đã dần dần ăn sâu vào tâm lý của con người và truyền từđời này qua đời khác, trở thành truyền thống Với truyền thống, con người xãhội tiếp thu được những giá trị, kinh nghiệm sống của thế hệ trước, rút ngắnđược thời gian

Khi nghiên cứu "về truyền thống dân tộc", GS Trần Quốc Vượng viết:

“Truyền thống như là một hệ thống các tính cách, các thế ứng xử của mộttập thể (một cộng đồng) được hình thành trong lịch sử, trong một môi trường tựnhiên và nhân văn nhất định, trở nên ổn định, có thể được định chế hóa bằngluật hay bằng lệ, và được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, để đảm bảotính đồng nhất của một cộng đồng” [52; 28-29]

Trong Luận án Tiến sĩ “Kết hợp truyền thống và hiện đại trong quá trình

đổi mới giáo dục - đào tạo ở Việt Nam hiện nay" tác giả Nguyễn Lương Bằng

cho rằng: “truyền thống là một khái niệm, dùng để chỉ những hiện tượng nhưtính cách, phẩm chất, tư tưởng, tình cảm, thói quen trong tư duy, tâm lý, lối ứngxử được hình thành trên cơ sở những điều kiện tự nhiên - địa lý, kinh tế - xãhội cũng như hoạt động của con người trong quá trình lịch sử và được lưu truyền

từ thế hệ này đến thế hệ khác trong một cộng đồng người nhất định” [3; 19]

Truyền thống của một cộng đồng dân tộc bao gồm những đức tính, thóiquen, những phong tục tập quán xã hội của các thế hệ nối tiếp nhau, nó mang cácđặc trưng: cộng đồng, bình ổn, lưu truyền "Truyền thống đó là những yếu tố ditruyền văn hoá, xã hội thể hiện trong chuẩn mực hành vi, tư tưởng, phong tục, tậpquán, thói quen, lối sống và cách ứng xử của một cộng đồng người được hình thànhtrong lịch sử và đã trở nên ổn định, được truyền từ đời này sang đời khác và đượclưu giữ lâu dài" [5; 9].Trong bài viết “Các giá trị truyền thống trước sự thẩm định

Trang 15

và thách thức của thời đại trong bối cảnh toàn cầu hoá” của GS, TS Nguyễn

Trọng Chuẩn, truyền thống được diễn giải theo hai nghĩa: Nghĩa thứ nhất, truyền

thống đó là những giá trị tốt đẹp, được lưu truyền từ đời này qua đời khác, nóđứng vững được trong thời gian và có thể đương đầu với những biến động củalịch sử Hơn nữa, những giá trị ấy có khả năng tạo ra sức mạnh, sản sinh ra cácgiá trị mới, đem lại lợi ích cho con người “Truyền thống góp phần suy tôn, giữgìn những cái gì là quý giá, là cốt cách, là nền tảng cho sự phát triển, cho sự đilên của một cộng đồng, của dân tộc” [5; 9]

Tuy nhiên, trong đó cũng có những cái mà chúng ta vẫn gọi là "truyềnthống" nhưng không đem lại lợi ích cho con người, nhiều khi nó kìm hãm sự

phát triển đây là nghĩa thứ hai, nghĩa tiêu cực của phạm trù này “Truyền thống

cũng còn là mảnh đất hết sức thuận lợi cho sự du dưỡng, duy trì và làm sống lạimặt bảo thủ, lạc hậu, lỗi thời khi mà điều kiện và hoàn cảnh lịch sử đã thay đổi”

[5; 9-10] Trong cuốn Ngày mười tám tháng Sương mù của Louis Bonaparte,

C.Mác viết rằng: Truyền thống của tất cả các thế hệ đã chết đè nặng như quả núilên đầu óc những người đang sống Còn Hồ Chí Minh, trong bài "Đạo đức cáchmạng" (tháng 12-1958) cũng đã viết: Thói quen và truyền thống lạc hậu cũng là

kẻ địch to; nó ngấm ngầm ngăn trở cách mạng tiến bộ Chúng ta lại không thểtrấn áp nó, mà phải cải tạo nó rất cẩn thận, rất chịu khó, rất lâu dài

Tác giả Nguyễn Lương Bằng trong Luận án Tiến sĩ “Kết hợp truyền thống

và hiện đại trong quá trình đổi mới giáo dục - đào tạo ở Việt Nam hiện nay” rút

ra được những đặc trưng cơ bản của truyền thống là:

1- Truyền thống có tính cộng đồng, tính ổn định và tính lưu truyền Tuynhiên những đặc trưng đó của truyền thống có tính độc lập tương đối, khi những

cơ sở, điều kiện hình thành nên truyền thống đã thay đổi thì sớm muộn nhữngnội dung của truyền thống cũng dần dần biến đổi theo cho phù hợp với điều kiệnhoàn cảnh mới hoặc những truyền thống mới được hình thành, phát triển Chonên truyền thống sẽ có tính hai mặt đối lập nhau đó là truyền thống tốt và truyền

Trang 16

thống xấu Truyền thống tốt có tác dụng hình thành nên những phẩm chất tốt ởcon người và hành động của con người góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, vàngược lại truyền thống xấu sẽ kìm hãm sự phát triển của xã hội Hai mặt này củatruyền thống luôn luôn tồn tại, mâu thuẫn biện chứng với nhau trong quá trìnhlịch sử

2- Truyền thống là kết quả hoạt động vật chất và tinh thần của con ngườitrong quá khứ biểu hiện ở tính cách, phẩm chất, tư tưởng, tình cảm, tập quán,thói quen trong tư duy, lối ứng xử, tâm lý

3- Truyền thống bao giờ cũng là truyền thống của một cộng đồng người(thị tộc, bộ lạc, bộ tộc, dân tộc, dòng họ, gia đình, làng xã ), là bản sắc của cáccộng đồng người

4- Truyền thống được hình thành trong lịch sử do tác động của môitrường tự nhiên và điều kiện địa lý, do tác động của quá trình lao động sản xuất

và kết cấu kinh tế xã hội, tác động thường xuyên của lịch sử, tác động của môitrường văn hóa khu vực và trên thế giới

5- Truyền thống có tính kế tục từ lớp người trước sang lớp người sau, nó

ăn sâu vào tâm lý, vào phong tục tập quán, nếp nghĩ của con người Tuy nhiên,trước và sau không hoàn toàn giống nhau, đồng nhất với nhau nhưng về căn bảnthì không khác biệt [3; 19]

Như vậy, truyền thống có tính cộng đồng, tính ổn định và tính lưu truyền.Những đặc trưng đó của truyền thống có tính độc lập tương đối, khi những cơ

sở, điều kiện hình thành nên truyền thống đã thay đổi thì sớm muộn những nộidung của truyền thống cũng dần dần biến đổi theo cho phù hợp với điều kiệnhoàn cảnh mới hoặc những truyền thống mới được hình thành, phát triển Chonên truyền thống sẽ có tính hai mặt đối lập nhau đó là mặt tích cực và tiêu cực.Mặt tích cực của truyền thống có tác dụng hình thành nên những phẩm chất tốt ởcon người và hành động của con người góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, gópphần tạo nên sức mạnh, là chỗ dựa không thể thiếu của dân tộc trên đường đi tới

Trang 17

tương lai, và ngược lại mặt tiêu cực của truyền thống sẽ kìm hãm sự phát triểncủa xã hội, “kìm hãm, níu kéo, làm chậm sự phát triển của một quốc gia, dân tộcnào đó, nhất là khi quốc gia, dân tộc này hạn chế giao lưu hoặc thi hành chínhsách đóng cửa với thế giới bên ngoài vì các lý do khác nhau” [3; 10] Hai mặtnày của truyền thống luôn luôn tồn tại, mâu thuẫn biện chứng với nhau trongquá trình lịch sử Mỗi dân tộc có một truyền thống của mình, có truyền thốngtốt, có truyền thống xấu Đó là những phong tục, tập quán, thói quen, những đứctính, lối ứng xử tồn tại lâu dài, được truyền từ thế hệ trước cho thế hệ sau và có tácdụng tích cực hoặc tiêu cực Truyền thống biểu hiện bản sắc của mỗi dân tộc nhưtruyền thống tín ngưỡng tôn giáo ở Ấn Độ, truyền thống nghệ thuật kiến trúc ở Ý,truyền thống trồng lúa nước ở Việt Nam, truyền thống du canh du cư của đồngbào dân tộc thiểu số v.v Cũng có truyền thống tốt như yêu nước, hiếu học cũng

có truyền thống xấu như mê tín dị đoan, học để làm quan

Truyền thống là sức mạnh của tập quán xã hội được lưu truyền lại từ lịch

sử Nó tồn tại ở các lĩnh vực chế định xã hội, phong tục, chuẩn mực hành vi, tưtưởng, văn hóa, đạo đức, tập quán và lối sống Truyền thống là mối liên hệ lịch

sử giữa quá khứ và hiện tại của các hiện tượng trong đời sống xã hội như tínhcách, phẩm chất, tâm lý, phong cách suy nghĩ và hoạt động, lối ứng xử, phong tụctập quán , mối liên hệ này mang tính chất ổn định trường tồn trong sự thay đổi,được số đông thừa nhận và tuân theo, được truyền lại từ đời này qua đời khác.Như vậy, truyền thống là yếu tố có mặt trong đời sống của tất cả các dân tộc trênthế giới, trong nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, không có một hiệntượng, quá trình nào ra đời từ hư vô, mà nó phải được kế thừa từ những kết quảtrước đó

Còn khi đề cập đến giá trị truyền thống là nói đến những truyền thống nào

đã có sự đánh giá, đã được thẩm định nghiêm ngặt của thời gian, đã có sự chọnlọc, sự phân định và khẳng định ý nghĩa tích cực của chúng đối với cộng đồngtrong những giai đoạn lịch sử nhất định Điều đó có nghĩa rằng, hoàn toàn không

Trang 18

nên đồng nhất truyền thống và giá trị truyền thống Đồng thời, khi chúng ta xemxét, đánh giá truyền thống và các giá trị truyền thống cũng không thể thiếu quanđiểm biện chứng, không thể thiếu cách tiếp cận lịch sử - cụ thể, nghĩa là phải đặtchúng trong những điều kiện và hoàn cảnh lịch sử nhất định của quá khứ lẫnhiện tại” [5; 10].

Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tài Thư trong bài “Khả năng phát triển các giá

trị truyền thống Việt Nam” đã viết: “giá trị truyền thống là cùng một loại với giá

trị nhân loại Giá trị nhân loại khi vào nước ta sẽ cùng với giá trị truyền thốnglàm nên giá trị mới của dân tộc Giá trị nhân loại có thể là một nhân tố nâng caogiá trị truyền thống, làm cho giá trị truyền thống mang bộ mặt hiện đại, đáp ứngyêu cầu của con người hiện đại nhiều hơn” [5; 181-182]

1.1.2 Giá trị đạo đức truyền thống

Giá trị đạo đức truyền thống là một thành tố cấu thành của hệ giá trị tinh

thần của dân tộc Việt Nam, nó là nhân lõi, là sức sống bên trong của dân tộc.Giá trị đạo đức truyền thống dân tộc là sự kết tinh toàn bộ tinh hoa của dân tộcđược xác định là những chuẩn mực, những khuôn mẫu lý tưởng, những quy tắcứng xử giữa con người với con người, giữa con người với tự nhiên (mà ngày nay

ta gọi là giá trị đạo đức sinh thái) Đặc điểm cơ bản của truyền thống nói chung,giá trị đạo đức truyền thống nói riêng là sự kế thừa Trải qua hàng ngàn nămdựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã rèn luyện và tạo nên những thế hệngười Việt Nam giàu lòng yêu nước, yêu thương con người, cần cù, thông minh,sáng tạo, chịu thương, chịu khó Những đức tính đó đã trở thành những giá trịđạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, mà hàng ngàn đời nay chúng ta vẫn nângniu quý trọng Theo Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tài Thư “những giá trị truyềnthống như: tinh thần yêu nước, tính cộng đồng, lòng nhân ái, lối sống thanhbạch, cần cù, giản dị,…đã trở thành những giá trị trường tồn, tồn tại qua nhiềuthời đại cho đến tận ngày nay, không thể vì những giá trị mới vào mà mất đi.Trái lại, nó có sức mạnh hòa tan và uốn nắn các giá trị từ bên ngoài vào” [5;

Trang 19

181] Nói đến giá trị truyền thống của một cộng đồng dân tộc, chính là nói đếntruyền thống tốt đẹp của cộng đồng dân tộc đó Nó chính là những giá trị bình

ổn, tốt đẹp, có thể lưu truyền từ đời này qua đời khác, là những cái cần được giữgìn phát huy phát triển cho phù hợp với xã hội hiện tại

Trong hệ giá trị tinh thần của dân tộc Việt Nam, giá trị đạo đức truyềnthống là một bộ phận thiết yếu, nổi lên hàng đầu, tạo nên cốt lõi của hệ giá trịtinh thần đó Chính vì vậy, khi nói đến những giá trị đạo đức truyền thống dântộc ta, là nói đến những phẩm chất tốt đẹp, quý báu đã được hình thành và bảolưu trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Việt Nam Giá trị đạo đức truyềnthống của dân tộc ta được cô đúc, được thử thách và tái tạo qua nhiều thế hệkhác nhau, theo những bước thăng trầm của lịch sử, nó chứa đựng một tiềmnăng hết sức to lớn và bền vững, nó chính là sức mạnh vốn có của dân tộc ViệtNam, giúp cho dân tộc Việt Nam tồn tại và phát triển Giá trị đạo đức truyềnthống của dân tộc ta do chính cộng đồng người Việt Nam tạo lập trong quá trìnhdựng nước và giữ nước, với tất cả những điều kiện lịch sử đặc thù riêng vốn có,

đã tạo nên một bản sắc hết sức độc đáo

1.1.3 Nội dung cơ bản của các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cần giáo dục cho sinh viên hiện nay

Những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam được hìnhthành, lắng đọng và phát triển qua hàng mấy nghìn năm lao động sáng tạo, chiếnđấu kiên cường của cả dân tộc Là kết quả của sự thống nhất biện chứng giữanhân tố chủ quan và yếu tố khách quan Trong suốt bốn nghìn năm dựng nước

và giữ nước của dân tộc ta, đã hình thành nên các chuẩn mực, giá trị đạo đức tốtđẹp của con người Việt Nam trong quan hệ gia đình, cộng đồng và xã hội, phùhợp với yêu cầu tồn tại, phát triển của cộng đồng dân tộc Việt Nam

Ngay từ thời xa xưa, ông cha ta luôn coi trọng đạo đức, gìn giữ và pháthuy các gía trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc Đó là truyền thống yêu quê hươngđất nước, gắn bó với thiên nhiên, với cộng đồng, đoàn kết thủy chung, quý trọng

Trang 20

nghĩa tình; cần cù, yêu lao động; dũng cảm, kiên cường, hiếu học, sáng tạo Đó

là lòng yêu nước thương nòi, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì sự nghiệp độc lập tự

do của tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, sống có tình, có nghĩa, có đạo đức, có lýtưởng, vì nước, vì dân; có ý chí tự lực, tự cường, tinh thần đoàn kết nhân ái

Việt Nam là một quốc gia nằm giữa Đông Nam Á, với địa hình chạy dàitheo bờ biển và tiếp nối giữa ba vùng: miền núi, đồng bằng, bờ biển Khí hậunhiệt đới gió mùa nóng ẩm và mưa nhiều, giàu tài nguyên thiên nhiên, tạo điềukiện thuận lợi và cũng không ít khó khăn cho nghề trồng lúa nước Từ khi lậpnước đến nay, Việt Nam chủ yếu vẫn là một nước nông nghiệp Nghề nông làmột nghề lao động vất vả, không chỉ đòi hỏi nhiều sức lao động, mà còn phụthuộc rất nhiều vào tự nhiên Trong khi đó, điều kiện tự nhiên của Việt Nam lạimưa nắng thất thường do nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng củagió mùa đông bắc và đông nam, gây ra nhiều thiên tai, hạn hán, mất mùa Chínhnhững đặc điểm này đã ảnh hưởng tới sự hình thành hệ giá trị của dân tộc ViệtNam, tạo nên sự gắn bó cộng đồng bền chặt, sự thương yêu đùm bọc lẫn nhau,đặt nền móng cho tinh thần lao động cần cù, tiết kiệm

Về mặt lịch sử, Việt Nam là một quốc gia nhỏ hẹp lại phải trải qua rấtnhiều cuộc đấu tranh chống ách đô hộ, chống kẻ thù từ bên ngoài mà thường lànhững kẻ thù hùng mạnh hơn ta gấp bội phần Vì lẽ đó người dân Việt Nam luônluôn tập hợp lại thành một khối đại đoàn kết, đấu tranh chống giặc ngoại xâm và

mở mang bờ cõi Bên cạnh đó, do có nhiều tài nguyên thiên nhiên và là đầu mốigiao thông quốc tế quan trọng, nên Việt Nam luôn là mục tiêu xâm lược củanhiều quốc gia Bởi vậy, muốn bảo vệ đất nước, người Việt Nam phải hy sinhnhiều lợi ích riêng của mình, cùng nhau đoàn kết bảo vệ những lợi ích chung

Với những đặc điểm tự nhiên, sự khó khăn của cư dân vùng lúa nước, sự

đe doạ liên tục của nạn ngoại xâm như vậy, muốn tồn tại và phát triển, conngười Việt Nam phải cùng nhau chung sức trong lao động sản xuất và trong cácquan hệ xã hội khác Việc gắn đời sống của mình với cộng đồng cũng là để bảo

Trang 21

vệ cuộc sống của mình Do đó, trong nấc thang giá trị xã hội, việc ưu tiên cácgiá trị cộng đồng, hay nói cách khác, việc đề cao các giá trị đạo đức là đặc điểmnổi bật trong đời sống của dân tộc Việt Nam

Chính trong quá trình ấy, văn hóa Việt Nam đã có dịp giao lưu với vănhóa bên ngoài, trong đó văn hóa phương Đông đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến nềnvăn hóa tín ngưỡng và tôn giáo của dân tộc Việt Nam Đặc biệt là tư tưởng Phậtgiáo, Nho giáo, Đạo giáo xâm nhập vào Việt Nam từ rất lâu và đã đi sâu vào đờisống tín ngưỡng người dân Việt Nam

Phật giáo truyền bá tư tưởng từ bi hỷ xả, cứu khổ cứu nạn, yêu thươngchúng sinh Phật giáo cho rằng, có một thế giới vĩnh hằng, tồn tại tích cực siêuviệt, đó là cõi "niết bàn", nhưng muốn đến được nơi cực lạc đó thì con ngườiphải sống từ bi, ăn hiền, ở lành, xa lánh mọi ham muốn vật chất, mọi thú vuihưởng lạc, sống không tranh giành, yêu thương nhau Đương nhiên, tư tưởngnày vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, nhưng ít nhiều nó cũng ảnh hưởngđến những truyền thống vốn có của ta, làm sâu đậm thêm truyền thống nhân áiyêu thương con người của dân tộc Việt Nam

Đạo Nho là một hệ thống quan điểm về thế giới, về xã hội và về conngười, là một học thuyết chính trị - đạo đức - xã hội (mà Khổng Tử là ngườikhởi xướng) đã ảnh hưởng mạnh mẽ tới đời sống đạo đức của xã hội Việt Nam.Những nội dung tư tưởng của Nho giáo như: Nhân; lễ; chính danh; tam cương;ngũ thường cũng dần thấm sâu vào đời sống, trở thành lối sống, cách ứng xử ởđời của người Việt Nam và được Việt hóa

Đạo gia của Lão Tử cũng góp phần làm phong phú thêm cho truyền thốngvốn có của dân tộc ta, nó góp phần làm mạnh mẽ thêm tinh thần đoàn kết thân

ái, gắn bó và tinh thần chống áp bức, đô hộ khi có thời cơ

Văn hóa Việt Nam không chỉ giao lưu với văn hóa phương Đông mà còn

có sự giao lưu với văn hóa phương Tây, đặc biệt là văn hóa Pháp Tuy nhiên, khicác trào lưu văn hóa, tôn giáo đó du nhập vào Việt Nam đã được nhân dân Việt

Trang 22

Nam kế thừa có chọn lọc để hình thành nên những nét riêng đặc trưng cho mình,nhưng cái riêng đó nó vẫn luôn ẩn chứa cái chung tạo nên sự tương đồng trongviệc hình thành nên các giá trị đạo đức của các dân tộc khác trên thế giới.

Cho đến nay, văn hóa Việt Nam tuy có nhiều thay đổi trên nhiều phươngdiện nhưng vẫn giữ được cốt cách, bản sắc văn hóa riêng của mình, hội nhập màkhông hòa tan, không đánh mất mình và vẫn giữ được những giá trị đạo đứctruyền thống tốt đẹp quý báu của dân tộc Nghị quyết Hội nghị lần thứ Năm Ban

chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) "Về xây dựng và phát triển nền văn

hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc", đã khẳng định: “Bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa được

vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó làlòng yêu nước nồng nàn; lòng tự tôn, tự cường dân tộc; tinh thần cộng đồng gắnkết cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc; lòng nhân ái khoan dung, trọng nghĩatình đạo lý; đức tính cần cù sáng tạo trong lao động; là đức hy sinh cao thượngtất cả vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân; là sự tế nhị trong cư xử, tínhgiản dị trong lối sống” [9; 10-11]

Xung quanh việc xác định các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc ViệtNam, đã có rất nhiều quan điểm của các học giả, các nhà khoa học bàn về vấn đềnày

Giáo sư Vũ Khiêu cho rằng: “những giá trị đạo đức truyền thống của dântộc Việt Nam bao gồm: lòng yêu nước, truyền thống đoàn kết, lao động cần cù

và sáng tạo; trong đó yêu nước là bậc thang cao nhất trong hệ thống giá trị đạođức của dân tộc” [26; 74-86]

Giáo sư Trần Văn Giàu nói về giá trị đạo đức truyền thống dân tộc ta vớibảy nội dung như sau: "Yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thươngngười, vì nghĩa" [18; 108]

Tuy còn có sự khác biệt nào đó trong việc sắp xếp thang giá trị đạo đức.Nhưng nhìn chung, các quan điểm các ý kiến đều thống nhất cao độ ở một điểm

Trang 23

coi chủ nghĩa yêu nước là bậc thang cao nhất trong hệ thống giá trị đạo đức

truyền thống của dân tộc Việt Nam Nó là "sợi chỉ đỏ xuyên qua toàn bộ lịch sửViệt Nam từ cổ đại đến hiện đại" [17; 100], là "tiêu điểm của các tiêu điểm, giátrị của các giá trị" [19; 94], là "động lực tình cảm lớn nhất của đời sống dân tộc,đồng thời là bậc thang cao nhất trong hệ thống giá trị đạo đức của dân tộc ta"[43; 74]

1.1.3.1 Truyền thống yêu quê hương, đất nước

Yêu nước là một tình cảm, một trạng thái tâm lý tự nhiên của con ngườinhư tình yêu quê hương, xứ sở, sự gắn bó với ngôn ngữ và niềm tự hào vềtruyền thống Lòng yêu nước của con người đã được hình thành rất sớm từ thời

cổ đại Con nguời cổ đại đã rất yêu mến, gắn bó với mảnh đất nơi mình sinhsống Đối với họ những điều ấy đó trở nên thiêng liêng và bất khả xâm phạm

Tất cả mọi dân tộc trên thế giới đều có tình cảm yêu quê hương đất nướcmình Nhưng đối với dân tộc Việt Nam, tình yêu quê hương đất nước là mộtthứ tình cảm hết sức thiêng liêng, nó xuất phát từ ý thức cộng đồng gắn bó keosơn Mỗi người dân Việt Nam, đều đặt lợi ích của Tổ quốc lên trên hết, khi cógiặc ngoại xâm, sẵn sàng hy sinh thân mình, lúc hòa bình biết chăm lo xâydựng và bảo vệ quê hương đất nước Lòng yêu nước của dân tộc ta đã trở thànhtriết lý sống, triết lý nhân sinh, trở thành chủ nghĩa yêu nước GS Trần VănGiàu có viết: "Chủ nghĩa yêu nước là sản phẩm của bản thân lịch sử Việt Namđược bắt đầu từ tình cảm tự nhiên của mỗi người đối với quê hương mình tiếnlên thành lý tưởng và hệ thống tư tưởng làm chủ của nhận thức đúng sai, tốtxấu, nên chăng và chỉ đạo rất nhiều phương lược xây dựng và bảo vệ nướcnhà" [18; 7]

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam ngay từ đầu đã gắn

bó con người với thiên nhiên, với quê hương xứ sở của mình Chính vì vậytruyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam bắt nguồn từ tình yêu đối với quêhương làng xóm, yêu cây đa, bến nước, sân đình, nơi có ông bà, cha mẹ, vợ

Trang 24

chồng, anh chị em, con cái, bạn bè, bà con hàng xóm, nơi có mồ mả tổ tiên, nơicon người hàng ngày vất vả chiến đấu với thiên nhiên để duy trì và xây dựngcuộc sống.

Lòng yêu nước đó được lưu truyền từ Thời kỳ Văn Lang – Âu Lạc, thời

kỳ đó không để lại một nền văn học chữ viết, nhưng bằng những trang truyềnthuyết gửi gắm lại đời sau, biết bao những tấm gương anh hùng trẻ tuổi thắmđượm tinh thần yêu nước, Điều đó được thể hiện trong kho tàng truyện thầnthoại Việt Nam về lòng yêu nước như: truyện Hồng Bàng, truyện Sơn Tinh,truyện Thánh Gióng, truyện Thần Rựa Vàng… Truyện Hồng Bàng nói đến ýnghĩa đồng bào, toàn dân trong nước đều cùng một bọc sinh ra, đều là con cháucủa Lạc Long Quân và Âu Cơ, đều là “con rồng cháu tiên” Truyện là lời tâmhuyết của tổ tiên nhắn nhủ muôn đời con cháu phải thương yêu nhau, đùm bọcnhau Truyện Sơn Tinh là truyện nhân dân ta đoàn kết chống thủy tai lũ lụt đểsản xuất Truyện Thánh Gióng là truyện nhân dân cả nước vươn lên ngang tầmvới nhiệm vụ chống giặc ngoại xâm, truyện tượng trưng của tấm lòng yêu nướcnồng nhiệt, của tinh thần phục vụ Tổ quốc mà không đòi hỏi gì cho cá nhân.Truyện Thần Rựa Vàng nói đến xây thành đắp lũy, chế tạo vũ khí để bảo vệ đấtnước cũng là chuyện cảnh giác sau khi đã chiến thắng giặc ngoại xâm

Nghiên cứu các truyền thuyết đó ta thấy nổi bật là tinh thần dũng cảm, bấtkhuất chống ngoại xâm, chống lũ lụt thiên tai, tinh thần đoàn kết giữa những conngười trong cộng đồng Đó là cốt lõi của tinh thần yêu nước được phát triểnthành chủ nghĩa yêu nước trong những thời kỳ sau

Lịch sử của dân tộc Việt Nam gắn liền với lịch sử chống giặc ngoại xâm

Vì vậy, yêu nước trước hết là tinh thần chiến đấu chống giặc ngoại xâm của dântộc Cho dù ở hoàn cảnh nào, nhân dân Việt Nam vẫn luôn kiên cường bấtkhuất, "thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định khôngchịu làm nô lệ", già trẻ gái trai nhất tề đứng lên đánh giặc, và như Chị Út Tịchnói: "còn cái lai quần cũng đánh" Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhân

Trang 25

dân Củ Chi (Thành phố Hồ Chí Minh) bỏ công sức đào địa đạo hàng trăm kmdưới lòng đất để chống giặc Chính vì vậy mà trải qua hơn một ngàn năm Bắcthuộc, ông cha ta vẫn bám trụ đến cùng, giữ đất, giữ làng, gắn bó với mồ mả tổtiên, giữ vững nơi chôn rau, cắt rốn của mình Kiên quyết chống lại chính sách

đô hộ của ngoại bang, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Trong bất kỳ hoàn cảnhnào tinh thần yêu nước của dân tộc Việt Nam không hề giảm sút mà nó luônluôn được hun đúc, âm ỉ cháy trong lòng mỗi người dân nước Việt

Tinh thần yêu nước của dân tộc Việt Nam thể hiện ngay từ thuở vua Hùngdựng nên nước Văn Lang cho đến thời đại Hồ Chí Minh Với hơn 1000 năm đấutranh giành độc lập từ 197 (TCN) đến 938 (SCN), đầu tiên là cuộc khởi nghĩa Hai

Bà Trưng, cho đến cuộc khởi nghĩa của Ngô Quyền đánh quân Nam Hán với chiếnthắng giòn giã, đã mở ra một thời kỳ mới cho lịch sử dân tộc Từ 938 - 1789 dântộc ta liên tiếp đánh tan quân xâm lược Tống, Nguyên, Minh, Thanh Đến thời kỳchiến tranh giải phóng dân tộc: từ giữa thế kỷ XIX đến năm 1975, chúng ta đãđánh thắng cả hai tên đế quốc to: Pháp, Mỹ Với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử,chúng ta đã giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, giang sơn thu vềmột mối, nước nhà hoàn toàn độc lập Tại Đại hội lần thứ II của Đảng Lao động

Việt Nam (11-2-1951), Bác Hồ nói: Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là

một truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thìtinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nólướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướpnước

Mỗi lần Tổ quốc bị xâm lăng thì luôn đặt lợi ích Tổ quốc lên trên hết, sẵnsàng gạt bỏ lợi ích riêng chấp nhận mọi gian lao, thử thách, hy sinh vì độc lậpdân tộc Nước ta tuy nhỏ, có lúc bị mất nước hàng trăm năm nhưng với lòng yêunước, trách nhiệm bảo vệ lãnh thổ quốc gia “một thước núi, một tấc non sôngcủa ta lẽ nào tự tiện vất bỏ đi được… Kẻ nào dám đem một thước núi, một tấcnon sông của vua Lý Thái Tổ để lại làm mồi cho giặc, thì kẻ đó bị trừng trị

Trang 26

nặng” [25; 353] Bác Hồ nhắc nhở thế hệ thanh niên: Các Vua Hùng đã có côngdựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước.

Vào năm 1076 quân Tống lại xâm lược nước ta bị danh tướng Lý ThườngKiệt và quân sĩ đánh tan trên sông Như Nguyệt Lý Thường Kiệt đã đọc bốn câuthơ thể hiện khí phách và ý chí kiên cường của dân tộc, được xem là bản Tuyênngôn độc lập đầu tiên của Việt Nam:

Sông núi nước Nam Vua Nam ởRành rành định phận ở sách trời

Cớ sao lũ giặc sang xâm phạmChúng bay sẽ bị đánh tơi bờiLịch sử của dân tộc là thành quả của bao thế hệ người Việt Nam xây dựngnên Nội dung chủ yếu của chủ nghĩa yêu nước là sẵn sàng xả thân giữ nước, kếtiếp cha ông viết tiếp những trang sử oai hùng, để không thẹn với núi sông.Nguyễn Trãi xác định sự tồn vong của đất nước trên cơ sở:

Như nước Đại Việt ta từ trước,Vốn xưng nền văn hiến đã lâuNúi bờ sông núi đã chia,Phong tục Bắc Nam cũng khác

Trãi, Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời dựng nước,Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên đều xưng đế một phương,

Mạnh yếu tuy có khác nhau,

Mà hào kiệt không bao giờ thiếu

Chủ nghĩa yêu nước của dân tộc Việt Nam được hình thành, được thửthách và được khẳng định qua bao thăng trầm của lịch sử, nó đã được bổ sung

và phát triển qua từng thời kỳ, nó là một trong những giá trị truyền thống caoquý và bền vững nhất của dân tộc ta Lòng yêu nước là giá trị thiêng liêng chungcủa toàn dân tộc Việt Nam, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử Việt Nam từthời cổ đại đến hiện đại Tình yêu quê hương, đất nước giữ vị trí chuẩn mực cao

Trang 27

nhất của đạo lý và đứng đầu trong bậc thang giá trị văn hóa tinh thần của dân tộcViệt Nam, là động lực nội sinh to lớn của cả cộng đồng dân tộc, tạo nên sứcmạnh vô địch trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm và xây dựng đấtnước.

Ngày nay, truyền thống yêu nước của nhân dân Việt Nam thể hiện trongxây dựng đất nước, trước hết là chăm lo xây dựng đất nước về mọi mặt kinh tế,chính trị, văn hóa Thể hiện ở sự nhất trí, tin tưởng vào đường lối đổi mới củaĐảng, vào khả năng, sức mạnh tự lực tự cường của mình trong sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Có thểnói rằng, dưới thời đại Hồ Chí Minh, truyền thống yêu nước được phát huy lêntầm cao mới thành lý tưởng: sống, chiến đấu, lao động, học tập vì độc lập dântộc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân Yêu nước không phải làmột khái niệm chung chung mà đó là tình yêu quê hương, đất nước, đoàn kết, làTrung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vìchủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua,

1.1.3.2 Truyền thống lòng nhân ái, nhân nghĩa, yêu thương con người

Truyền thống nhân ái - yêu thương con người là một trong những giá trịđạo đức truyền thống của dân tộc ta, được Hồ Chí Minh khẳng định đó là mộttrong những phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất Truyền thống ấy có nguồn gốc sâu

xa từ trong sinh hoạt công xã nông thôn, được củng cố và phát triển qua quá

Trang 28

trình chung lưng, đấu cật khai phá giang sơn, giữ gìn đất nước Tấm lòng nhânnghĩa, nhân ái đó chính là cơ sở cho cách xử thế ở đời của người Việt Nam, làtriết lý sống của dân tộc Việt Nam Hết lòng vì nghĩa cả, giúp đỡ nhau tronghoạn nạn, khó khăn mà không hề tính toán, lên án mạnh mẽ những kẻ tàn ác

"táng tận lương tâm", "phụ tình bạc nghĩa"

Từ trong sâu lắng của lịch sử, dân tộc Việt Nam luôn luôn gắn tình yêuquê hương đất nước với lòng nhân ái - yêu thương con người Do vậy, ngườiViệt Nam luôn xả thân vì đất nước, con người yêu nước và con người yêu dângắn bó chặt chẽ với nhau Trong suốt trường kỳ lịch sử, dân tộc ta luôn luônđứng trước nguy cơ bị xâm lược và bị đồng hóa, hơn ai hết, chúng ta hiểu rất rõquyền sống của mình gắn với vận mệnh của Tổ quốc và dân tộc

Lòng nhân ái nhân nghĩa của người Việt Nam còn thể hiện ở lòng vị thacao thượng, không cố chấp đối với những người lầm đường lạc lối nhưng biếtlập công chuộc tội, trở về với chính nghĩa Chính tư tưởng "lấy nhân nghĩa đểthắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo" trong Bình Ngô đại cáo củaNguyễn Trãi là sự thể hiện đỉnh cao của lòng nhân ái đó Người Việt Nam lấytình yêu thương làm cách xử thế ở đời, đối với kẻ thù thậm chí còn mở đườnghiếu sinh khi thua trận, Vua Quang Trung sau khi đánh bại quân Thanh còn cấplương thảo và phương tiện cho đám tàn quân về nước

Giáo dục lòng nhân ái cho sinh viên vì lòng thương người là đạo lý của

cuộc sống, là đạo lý làm người "Thương người như thể thương thân" là nét đẹptruyền thống của dân tộc Lòng nhân ái theo quan điểm Hồ Chí Minh đó là tìnhthương giai cấp đối với công dân, tình thương yêu vô cùng rộng lớn đối vớinhân dân lao động, đối với người cùng khổ

Ngày nay, nền kinh tế thị trường đang nuôi dưỡng chủ nghĩa cá nhân vàlối sống thực dụng, lấy đồng tiền làm giá trị cao nhất; quan hệ giữa người vớingười theo lối "trả tiền ngay không cần tình nghĩa" đang gặm nhấm dần nhữnggiá trị tốt đẹp của dân tộc, làm khô héo lòng nhân ái trong con người Trong tình

Trang 29

hình ấy thì việc khơi dậy tình người, lòng yêu thương và giúp đỡ lẫn nhau rõràng là có ý nghĩa nhất định góp phần đẩy lùi những ô nhiễm của xã hội, làmcân bằng trạng thái tinh thần của môi trường sống.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân của lòng nhân ái, nhân nghĩa Xuấtphát từ lòng thương yêu con người - người lao động, yêu quê hương đất nước,Bác đã bôn ba tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc Cả cuộc đời mình, Bác

hy sinh cho độc lập dân tộc và hạnh phúc của nhân dân Đúng như nhà thơ TốHữu viết: "Bác ơi tim Bác mênh mông thế, ôm cả non sông mọi kiếp người" TốHữu còn viết:

Vì sao trái đất nặng ân tình,Nhắc mãi tên người Hồ Chí MinhNhư một niềm tin như dũng khíNhư lòng nhân nghĩa đức hy sinhLòng nhân ái của Người đã trở thành sức mạnh, nó đã thấm sâu vào chủtrương đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta, có tác dụng cảm hóahàng vạn con người lầm đường lạc lối, theo kẻ thù chống lại nhân dân Bác xem

họ như là những đứa con "lạc bầy" cần được cưu mang Bác nói: Giống như bàntay cũng có ngón dài ngón ngắn, nhưng ngắn dài đều hợp lại nơi bàn tay Tìnhyêu thương con người của Bác còn thể hiện ở chỗ: “Tôi chỉ có một ham muốn,ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được tự

do, đồng bào ta ai cũng có cơm no áo ấm, ai cũng được học hành, còn phần tôithì chỉ làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc để câu cá trồng hoa,sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em nhỏ chăn trâu không màng đếnvòng danh lợi” Trong mấy chục triệu người, có người thế này, người thế khác,nhưng tất cả đều là dòng dõi tổ tiên ta, đều là người Việt Nam, nên cần phải khoandung độ lượng Hàng năm, Đảng và Nhà nước thường có những đợt giảm án chocác phạm nhân cải tạo tốt, điều đó thể hiện lòng nhân ái của Đảng và Nhà nước ta

Trang 30

Trong đường lối đối nội, Đảng ta đã khơi dậy các phong trào "uống nướcnhớ nguồn", "đền ơn đáp nghĩa", chăm sóc bà mẹ Việt Nam anh hùng, các giađình thương binh liệt sĩ, giúp đỡ những người già cả neo đơn không nơi nươngtựa Phát động phong trào xóa đói giảm nghèo, trợ giúp các dân tộc vùng sâuvùng xa, rút ngắn khoảng cách thành thị - nông thôn miền xuôi - miền ngược Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V Đảng ta đã khẳng định: Người Việt Namvốn có lòng yêu nước thiết tha, có tinh thần dân chủ, bình đẳng trong quan hệgiữa người với người Thương nước - thương nhà, thương người - thương mình

là truyền thống đậm đà của nhân dân ta Nhờ có tinh thần yêu nước và dân chủ

ấy mà trong suốt quá trình lịch sử bốn ngàn năm, dân tộc ta đã làm nên nhữngchiến công oanh liệt Từ ngày có Đảng, dưới ngọn cờ độc lập dân tộc và chủnghĩa xã hội, truyền thống yêu nước và dân chủ của nhân dân ta được nâng lênmột trình độ mới và phát huy mạnh mẽ hơn bao giờ hết

Truyền thống nhân nghĩa nhân ái là một trong những truyền thống tốt đẹpcủa dân tộc ta Nó là cái gốc của đạo đức, truyền thống này chính là nguồn gốcsâu xa nhất, bền chặt nhất của chủ nghĩa nhân đạo cộng sản, chủ nghĩa nhân đạohiện thực chứ không phải chủ nghĩa nhân đạo chung chung trừu tượng phi hiệnthực, phi lịch sử, phi giai cấp của các giáo lý tôn giáo hay theo cách hiểu củaPhoiơbắc Tình yêu thương con người theo Hồ Chí Minh còn được thể hiệntrong mối quan hệ bạn bè, đồng chí, với mọi người bình thường trong quan hệhằng ngày Nó đòi hỏi mọi người phải luôn luôn chặt chẽ, nghiêm khắc vớimình, rộng rãi, độ lượng với người khác Nó đòi hỏi thái độ tôn trọng con người,biết tha thứ cho những người lầm đường lạc lối biết hối cải

Ngày nay, truyền thống đó được thể hiện trong đường lối đối ngoại củaĐảng: "Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới,phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển" Lòng nhân ái của người Việt Namcũng là lòng yêu chuộng hòa bình và tình hữu nghị giữa các dân tộc Trong quan

Trang 31

hệ với các nước láng giềng, nhân dân ta bao giờ cũng trọng tình hòa hiếu, cốgắng tránh xảy ra những xung đột.

1.1.3.3 Truyền thống lao động cần cù, tiết kiệm, thông minh, sáng tạo

Truyền thống cần cù, tiết kiệm, thông minh, sáng tạo là một giá trị đạođức có từ bao đời của dân tộc Việt Nam Nó được hình thành và phát triển trongđiều kiện, hoàn cảnh tự nhiên xã hội không ít những khó khăn khắc nghiệt ngay

từ những buổi đầu dựng nước và giữ nước

Việt Nam về mặt tự nhiên: là quốc gia có nhiều thiên tai, đặc biệt là bãolụt và hạn hán, áp thấp nhiệt đới và gió mùa đông bắc, gây không ít khó khăncho sản xuất nông nghiệp về xã hội: liên tục chiến tranh chống giặc ngoại xâm.Nhưng, trong suốt tiến trình lịch sử của dân tộc, người dân Việt Nam vẫn kiêntrì bám đất, bám làng, vừa sản xuất vừa đánh giặc để tồn tại và bảo vệ đất nước.Sống trong hoàn cảnh khó khăn gian khổ như vậy, nhưng nhờ có đức tính cần cù

và tiết kiệm, mà nhân dân ta đã vượt qua, để từng bước tự khẳng định mình trêncon đường phát triển của dân tộc

Để có bát cơm thơm dẻo, người nông dân đã phải một nắng hai sương

"bán mặt cho đất bán lưng cho trời", hình ảnh người nông dân trong những câu

ca dao dân ca Việt Nam còn đó: Trên đồng cạn dưới đồng sâu, chồng cày vợ cấycon trâu đi bừa Ông cha ta thường dạy con cháu phải biết quý trọng thành quảlao động của con người: “Ai ơi bưng bát cơm đầy, dẻo thơm một hạt đắng caymuôn phần”

Đức tính cần cù, chịu khó, chịu khổ trong lao động và ý thức tiết kiệmtrong cuộc sống thường ngày Đối với mỗi người, lao động là điều phải làm vì

có lao động mới có lúa, ngô, khoai và tất cả mọi thứ cần thiết cho cuộc sống.Không thể ở không bởi “nhàn cư vi bất thiện” Vì thế, người xưa nhắc nhở “Cólàm thì mới có ăn, Không dưng ai dễ đem phần đến cho” hoặc “Thế gian chuộngcủa, chuộng công, Nào ai có chuộng người không bao giờ”

Trang 32

Đức tính cần cù được đúc kết bằng câu tục ngữ ngắn gọn, trải mấy ngànnăm vẫn còn giá trị với thời gian “Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” ! Bốnyếu tố này luôn đi liền với nhau thì mùa màng sẽ bội thu, no ấm… “Ai ơi chớ bỏruộng hoang, Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu” Bên cạnh đó là đức tính tiếtkiệm của người lao động ngày xưa Bởi làm ra hạt gạo không phải là một điềuđơn giản mà trong từng hạt gạo luôn thấm đẫm những giọt mồ hôi “Cày đồngđang buổi ban trưa, Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày” Vì thế, người xưaquan niệm sống phải tiết kiệm, phòng khi mùa màng thất bát, bão lụt, thiên tai

“Trong cuộc sống hàng ngày, họ không bao giờ “ăn xổi ở thì” hoặc” vung tayquá trán” mà luôn tâm niệm phải cẩn thận “Liệu cơm gắp mắm” Trong sinhhoạt hàng ngày, họ dè xẻn không có nghĩa là hà tiện mà là tiêu xài vừa đủ đểđược bền lâu “Buôn tàu buôn bè không bằng ăn dè hà tiện” Ngày nay, tinh thầntiết kiệm đó cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị Đó là hình ảnh “ kiến tha lâucũng đầy tổ” Mặt khác, người xưa cũng phê phán những kẻ chỉ biết hưởng thụthành quả do người khác tạo ra “Của đời ông, ăn không cũng hết” hoặc “Miệng

ăn núi lở” Học tập đức tính cần cù, tiết kiệm là học cách sống của cha ông taxưa Những phẩm chất đó đã tạo nên hình ảnh con người Việt Nam cần cù, yêulao động và sống tiết kiệm trong khả năng, điều kiện của mình

Lối sống thực dụng, sống xa hoa, lãng phí hoàn toàn xa lạ với cách sốnggiản dị của con người Việt Nam Đọc những dòng tục ngữ, ca dao của ngườixưa; chúng ta càng trân trọng cha ông xưa đã để lại cho đời sau nhiều bài họcquý giá Sống giản dị, tiết kiệm; sống lao động cần cù; sống bằng sức lao độngcủa chính bản thân là cách sống đẹp, sống có nhân cách cao cả

Truyền thống cần cù của người Việt Nam luôn gắn với tiết kiệm, vì vậycần mà không kiệm thì khác nào: "Tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống".Nên ông cha ta thường nhắc nhở con cháu rằng: "Được mùa chớ phụ ngô khoai.Đến khi thất bát lấy ai bạn cùng" Hồ Chủ tịch đã nêu rõ: con người phải có bốn

Trang 33

đức tính: Cần, kiệm, liêm, chính, so sánh với bốn mùa của trời, bốn phương củađất, nếu thiếu một đức thì không thành người:

“Trời có bốn mùa: Xuân - hạ - thu - đông;

Đất có bốn phương: Đông - Tây - Nam - Bắc;

Người có bốn đức: Cần - kiệm - liêm - chính

Thiếu một mùa thì không thành trời;

Thiếu một hướng thì không thành đất;

Thiếu một đức thì không thành người”[44; 631]

Người cho rằng, cần, kiệm, liêm, chính là thước đo văn minh của một dântộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ, cần,kiệm, liêm, chính là nền tảng, là cốt lõi của đạo đức xã hội mới Trước lúc đi xa,trong Di chúc, Người vẫn còn căn dặn: Đảng ta là một đảng cầm quyền Mỗiđảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần,kiệm, liêm, chính, chí công vô tư Phải giữ gìn Đảng ta thật sự trong sạch, phảixứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân HồChí Minh là tấm gương sáng về thực hành tiết kiệm và trở thành phong cáchriêng của người ở mọi lúc, mọi nơi

Ngày nay, cần cù sáng tạo được biểu hiện càng rõ nét trong lao động sảnxuất, trong khoa học- kỹ thuật, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Các phongtrào thi đua rộng rãi và thường xuyên trên mọi lĩnh vực: ở biên cương, nơi đồngruộng, trong nhà máy xí nghiệp, trong nhà trường Tại Đại hội Thi đua yêunước lần thứ VIII và tổng kết phong trào thi đua “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”lần thứ IV do Tổng LĐLĐVN tổ chức, Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan đãphát biểu: toàn thể nhân dân hăng hái thi đua lao động cần cù, sáng tạo và tiếtkiệm, tích cực ủng hộ và tham gia vào việc sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước,tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp, cải cách thủ tục hành chính, khai thác caonội lực, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, có nhiều mô hình, điển hình làm ăn

Trang 34

giỏi, nhiều sản phẩm có sức cạnh tranh để chiếm lĩnh thị trường trong nước vàxuất khẩu.

Đặc biệt trong quá trình đổi mới đất nước, với mục tiêu "dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh", hơn bao giờ hết truyền thống cần

cù sáng tạo càng được phát huy cao độ

1.1.3.4 Truyền thống đoàn kết, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam cũng hòa vào dòng chảy của

chủ nghĩa yêu nước và trở thành biểu tượng của chủ nghĩa yêu nước Đây lànhân tố tinh thần hợp thành động lực thúc đẩy quá trình phát triển của lịch sửdân tộc Dân tộc Việt Nam đã trải qua thời kỳ dựng nước và giữ nước với rấtnhiều khó khăn thử thách Truyền thống đoàn kết, yêu thương giúp đỡ lẫn nhau

đã trở thành sức mạnh kiên cường trong cuộc đấu tranh cải tạo thiên nhiên, đánhđuổi giặc ngoại xâm, xây dựng đời sống cộng đồng đoàn kết đã làm nên sứcmạnh để dân tộc ta đánh thắng mọi kẻ thù, bảo vệ non sông, bờ cõi, thống nhấtgiang sơn Tinh thần đoàn kết ấy đã trở thành lẽ sống, trở thành ngọn lửa bất diệtcủa dân tộc ta suốt đời này sang đời khác

Đoàn kết là sức mạnh tổng hợp của cả cộng đồng dân tộc trong việc xâydựng và bảo vệ tổ quốc, đoàn kết là điều kiện tất yếu để bảo tồn dân tộc, nhất làkhi đất nước có giặc ngoại xâm Từ cách lý giải sự ra đời của dân tộc Việt Namtrong truyền thuyết "Trăm trứng nở trăm con" Đây chính là sự khẳng địnhtruyền thống đoàn kết anh em giữa các dân tộc Ngay từ thế kỷ thứ III trướcCông nguyên, dưới sự lãnh đạo của Thục Phán (An Dương Vương), hai dân tộcLạc Việt và Âu Việt đã liên minh với nhau chống quân xâm lược nhà Tần Cuộcđấu tranh này được coi là sự kiện mở đầu cho truyền thống đoàn kết chống giặcngoại xâm của đồng bào các dân tộc ở nước ta

Từ thời bà Trưng, bà Triệu với tiếng hô cứu nước vang lên là được muôndân đồng lòng nổi dậy chống giặc ngoại xâm Thời Trần với Hội nghị Bô lão

Trang 35

Diên Hồng đã khơi dậy lòng tự tôn dân tộc mà tập hợp mọi tầng lớp đồng bàosẵn sàng hy sinh vì nghĩa nước.

Thời Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung và các triều đại kế tiếp nhaumỗi khi đất nước có hoạ xâm lăng là cả dân tộc vùng lên như triều dâng, thác đổđánh bại mọi kẻ thù để bảo vệ chủ quyền non sông đất nước Tinh thần đoàn kếtdân tộc được bồi đắp qua các thời kỳ, được nâng lên thành phép trị nước vàđánh giặc; "Khoan thứ sức dân làm kế sâu rễ, bền gốc"

"Trên dưới một lòng cả nước gắng sức" "Tướng sỹ một lòng phụ tử, hoànước sông chén rượu ngọt ngào" Hai tiếng "đồng bào" xuất phát từ truyềnthuyết "cùng một bọc do mẹ Âu Cơ sinh ra", rồi hình tượng: "con Rồng cháuLạc", "con Rồng cháu Tiên".v.v Và đặc biệt dân tộc ta đều thờ chung ông tổVua Hùng - một hiện tượng văn hoá đặc sắc của thế giới đã vun đắp nên truyềnthống đoàn kết vững bền trong tiến trình phát triển của đất nước Ðặc biệt trongthời đại Hồ Chí Minh, Người luôn quan tâm khơi dậy truyền thống đoàn kết dântộc, tình nghĩa đồng bào, phát huy những truyền thống đó vào thời kỳ cách mạngmới, chú trọng xây dựng khối đoàn kết trong giai cấp, các tầng lớp nhân dânViệt Nam, các tôn giáo, các đảng phái, đoàn kết quốc tế

Thấy rõ vai trò của yếu tố đoàn kết, cha ông ta luôn có ý thức chống chínhsách chia rẽ của các thế lực ngoại bang và xu hướng cát cứ của các thế lựcphong kiến Từ chính sách "dùng người Việt đánh người Việt" của bọn phongkiến phương Bắc đến chính sách "chia để trị" của thực dân Pháp, của đế quốc

Mỹ đều lần lượt bị thất bại trước tinh thần đoàn kết của nhân dân ta

Ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết đã trở thành điểm tựa tinh thần vữngchắc, một động lực mạnh mẽ trong sự nghiệp giải phóng dân tộc cũng như trong

sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta

Xưa Nguyễn Trãi nói: "Chèo thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân" để chỉsức mạnh đoàn kết của nhân dân Dân là gốc, là nền tảng của sự tồn tại và pháttriển Lúc sinh thời Bác Hồ từng nói: Dễ mười lần không dân cũng chịu, khó

Trang 36

trăm lần dân liệu cũng xong Và: "Việc gì khó cho mấy, quyết tâm làm thì làmchắc được, ít người làm không nổi, nhiều người đồng tâm hiệp lực mà làm thìphải nổi" [41; 258] Người còn khẳng định: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết;thành công, thành công, đại thành công Trước lúc đi xa, Người còn căn dặn cáccán bộ, đảng viên: Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng vàcủa dân ta Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoànkết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.

Trong lời kêu gọi toàn kháng chiến Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát độngcuộc kháng chiến toàn dân để bảo vệ nền độc lập vừa giành được: bất kỳ đànông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc

Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc Ai

có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc,thuổng, gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước Tinh thầnđoàn kết còn được thể hiện qua câu ca dao nói lên quan niệm triết lý của ngườiViệt Nam và thể hiện tinh thần đoàn kết, gắn bó với nhau, thể hiện sức mạnh củatập thể

Một cây làm chẳng nên non

Ba cây chụm lại thành hòn núi caoĐảng ta và Bác Hồ đã huy động sức mạnh của cả dân tộc và thời đại làmnên chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, giải phóng hoàn toàn miềnBắc tiếp sức mạnh để làm nên chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giải phóng miềnNam, thống nhất Tổ quốc, đã và đang huy động từ nội lực và tranh thủ sự giúp

đỡ của quốc tế trong quá trình hội nhập và phát triển để thực hiện sự nghiệpcông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hộicông bằng, dân chủ, văn minh Và Người còn mong muốn: “Toàn Đảng, toàndân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất,độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xúng đáng vào sự nghiệp cách mạngthế giới” [47; 512]

Trang 37

Tiếp tục kế thừa và phát huy truyền thống của Mặt trận Việt Minh trong

sự nghiệp đổi mới Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiện nay, huy động tinh thầntương thân, tương ái, phát động nhiều cuộc vận động "lá lành đùm lá rách",

"ngày vì người nghèo", "xây dựng ngôi nhà tình nghĩa", đền ơn đáp nghĩa nhữngngười có công với cách mạng", "trái tim cho em", "giúp đỡ đồng bào bị hoạnnạn do thiên tai gây ra " làm ấm lòng tình nghĩa đồng bào, quê hương, gópphần đưa đất nước ta vượt qua mọi khó khăn thử thách do cuộc khủng hoảngkinh tế toàn cầu và những tổn thất nặng nề do thiên tai liên tiếp xảy ra, đưa đấtnước ta vững vàng bước tiếp dành những thành tựu to lớn trong quá trình hộinhập và phát triển

Đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta Nhân dân ta dưới

sự lãnh đạo của Đảng, đã phát huy mạnh mẽ truyền thống đó và đã hoàn thànhmục tiêu giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và thực hiện công cuộc xâydựng Chủ nghĩa Xã hội Cũng chính với sức mạnh đoàn kết, đất nước ta đãgiành được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử trong hơn 20 năm đổimới vừa qua Công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước trong hoàn cảnh hiện nayđòi hỏi phải có sự đồng thuận xã hội, sự đoàn kết nhất trí cao hơn nữa trong toànĐảng, toàn dân và toàn quân Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI tiếp tục khẳngđịnh: “Đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết quốc tế Đó là truyềnthống quý báu và là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng nước ta” [14; 65].Tinh thần của Ngày hội đại đoàn kết dân tộc phải trở thành nếp nghĩ, nếp sốnghàng ngày của mỗi người dân Việt Nam "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết,Thành công, thành công, đại thành công" theo tư tưởng của Bác Hồ nhất định sẽđưa đất nước ta phát triển trên con đường giàu mạnh

1.1.3.5 Truyền thống giáo dục, hiếu học, tôn sư trọng đạo, trọng hiền tài

Truyền thống giáo dục - hiếu học của người Việt Nam được hình thành từnhiều thế hệ Là người Việt Nam ngay từ thuở ấu thơ đã được sống trong lời rucủa mẹ:

Trang 38

Qua sông phải bắc cầu Kiều,Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầyCâu hát ru đó đã thể hiện truyền thống "Tôn sư trọng giáo" của người ViệtNam Truyền thống "Tôn sư trọng giáo" là một nội dung trong học thuyết củaKhổng Tử, khi vào Việt Nam đã trở thành một nội dung đạo lý của người ViệtNam Học trò Việt Nam luôn ghi nhớ: "Cơm cha, áo mẹ, nghĩa thầy", "Mồngmột tết cha, mồng hai tết mẹ, mồng ba tết thầy".

"Không thầy đố mày làm nên", đó là một triết lý sống của người ViệtNam Là cây phải có gốc, là sông phải có nguồn, để trở thành một con ngườiđúng nghĩa phải có thầy Nhớ công ơn thầy vừa là đạo lý, vừa là nét đẹp truyềnthống uống nước nhớ nguồn, tôn sư trọng đạo của người Việt Nam

Hiếu học là một truyền thống trong giáo dục của người Việt Nam từ xưađến nay Có thể nói, ngay từ xa xưa con người đã sớm nhận thức được học hànhkhông chỉ là quyền lợi mà còn là nghĩa vụ của mỗi cá nhân Chính vì vậy, ngườixưa thường nói: "Ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học bất tri đạo" (Viênngọc không mài dũa thì không thành đồ dùng được, con người không học thìkhông biết đạo) và: "Hiếu nhân, bất hiếu học kỳ tế dã ngu" (Kể cả những ngườimong muốn làm điều nhân đức chí thiện nhưng không học thì cũng bị sự ngudốt che lấp đi)

Nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục, với truyền thống hiếuhọc, tôn trọng hiền tài, nên ngay từ xưa, ông cha ta đã biết chăm sóc, bồi dưỡngnhân tài cho đất nước Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội) là kiểu trường đạihọc quốc lập đầu tiên ở Việt Nam được thành lập, để đào tạo nhân tài Trong biatiến sĩ khoa Nhâm Tuất, hiệu Đại Bảo thứ ba năm 1442 ở Văn Miếu (Hà Nội)còn ghi: Hiền tài là nguyên khí của Nhà nước, nguyên khí vững thì thế nướcmạnh và thịnh, nguyên khí kém thì thế nước yếu và suy, cho nên các đấng thánh

đế minh vương không ai không chăm lo việc gây dựng nhân tài, bồi đắp nguyênkhí

Trang 39

Chủ tịch Hồ Chí Minh - anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóathế giới - luôn luôn quan tâm và coi trọng giáo dục Cả cuộc đời và sự nghiệpcủa Người cũng chỉ phấn đấu cho một mục đích tối cao là làm sao để "ai cũng

có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành" Bác đã đặt hy vọng vào lớp trẻ maisau, trong thư gửi học sinh cả nước, tháng 9/1945 Bác nói: Non sông ta có trởnên tươi đẹp hay không, dân tộc ta có bước tới đài vinh quang để sánh vai vớicác cường quốc, năm châu được hay không chính là nhờ một phần lớn ở cônghọc tập của các em

Cách mạng tháng Tám thành công, dân tộc ta bước sang một kỷ nguyênmới, kỷ nguyên độc lập tự do Mọi công dân đều có điều kiện bình đẳng để thựchiện quyền lợi và nghĩa vụ học tập Mọi tầng lớp người Việt Nam đã hăng háitham gia chiến đấu và học tập theo lời kêu gọi của Đảng của Bác Hồ Tháng 10-

1945, Chính phủ thành lập "Hội đồng cố vấn học chính" để nghiên cứu chươngtrình cải cách giáo dục Từ đó, ngành giáo dục nói chung, giáo dục đào tạo đạihọc, cao đẳng nói riêng, của đất nước ta ngày càng phát triển

Trong văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương khóaVIII đã nhấn mạnh: “Khâu then chốt để thực hiện chiến lược phát triển giáo dục

là phải đặc biệt chăm lo đào tạo, bồi dưỡng và tiêu chuẩn hóa đội ngũ giáo viên,cũng như cán bộ quản lý giáo dục cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức và năng lựcchuyên môn, nghiệp vụ Ưu tiên xây dựng các trường sư phạm Phát huy truyềnthống "Tôn sư trọng đạo", sử dụng giáo viên đúng năng lực, đãi ngộ theo tài năng

và cống hiến với tinh thần ưu đãi và tôn vinh nghề dạy học” [8; 13]

Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng ta ý thức một cách đầy đủ chủtrương "giáo dục là quốc sách hàng đầu", là một trong những động lực quantrọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là điều kiện đểphát huy nguồn lực con người Việc phát huy truyền thống hiếu học, tôn trọngngười hiền tài càng trở nên có ý nghĩa, tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài, tôntrọng sáng tạo trên cơ sở, nền tảng đạo đức trong sáng Trong những giải pháp

Trang 40

lớn xây dựng và phát triển văn hóa Đảng ta nêu rõ: "Quan tâm giáo dục lýtưởng, đạo đức và lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ Có chính sách trọng dụngngười tài" [9; 81-82].

Trong những năm qua, chúng ta đã xây dựng được đội ngũ giáo viên và cáccán bộ quản lý giáo dục ngày càng đông đảo, phần lớn có phẩm chất đạo đức và ýthức chính trị tốt, trình độ chuyên môn nghiệp vụ ngày càng cao Đội ngũ này về cơbản đã đáp ứng được yêu cầu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực bồi dưỡng nhântài, góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng của đất nước

1.1.3.6 Truyền thống lạc quan, yêu đời, giữ gìn phẩm giá và tâm hồn của người Việt Nam

Truyền thống lạc quan, yêu đời được kết tinh qua hàng ngàn năm nhândân ta vượt qua muôn ngàn khó khăn, lạc quan tin tưởng vào tiền đồ của dân tộc,tin tưởng vào chính mình Chủ Tịch Hồ Chí Minh là điểm kết tinh rực rỡ củatruyền thống lạc quan yêu đời của dân tộc, đã tạo cho mình một sức mạnh phithường vượt qua mọi khó khăn thử thách đi đến chiến thắng

Dân tộc ta có tinh thần lạc quan, yêu đời, có hoài bão lớn Chúng ta có thểchứng minh điều đó qua lịch sử chiến đấu gần như liên tục chống những thế lựcxâm lược lớn mạnh hơn mình gấp nhiều lần Không có tinh thần lạc quan, yêuđời và hoài bão lớn thì sẽ không có sức sống mãnh liệt, ý chí trong dựng nước

và giữ nước của bao thế hệ Việt Không phải ngẫu nhiên mà dân tộc ta mãi lưutruyền các truyền thuyết về anh hùng Thánh Gióng, về Lạc Long Quân - Âu Cơ,

về Sơn Tinh Thủy Tinh mà vì các truyền thuyết đều ca ngợi tinh thần lạc quanđặc sắc, những con người có hoài bão lớn là biểu tượng tuyệt đẹp mà tuổi trẻViệt Nam nhận thấy ở đó hình bóng của mình Hình ảnh Thánh Gióng vươn vaicao lớn lên ngựa đánh tan giặc Ân rồi lên núi Sóc Sơn bay lên trời, không ở lại

để đòi hỏi một đặc ân ban thưởng nào của vua, không màng công danh phú quý,

đó là nét đẹp của tâm hồn Việt Nam mà đời sau cần học tập Hình ảnh nhữngngười con của Lạc Long Quân - Âu Cơ lên rừng xuống biển để mở mang bờ cõi

Ngày đăng: 18/12/2013, 20:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban tư tưởng văn hóa Trung ương (2004), Giáo dục đạo đức cho cán bộ Đảng viên trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục đạo đức cho cán bộĐảng viên trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Ban tư tưởng văn hóa Trung ương
Nhà XB: NxbChính trị quốc gia
Năm: 2004
2. Ban tư tưởng văn hóa Trung ương (2011), Tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu các văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tham khảo phục vụnghiên cứu các văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng
Tác giả: Ban tư tưởng văn hóa Trung ương
Nhà XB: NxbChính trị quốc gia
Năm: 2011
3. Nguyễn Lương Bằng (2001), Kết hợp truyền thống và hiện đại trong quá trình đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ triết học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết hợp truyền thống và hiện đại trong quátrình đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Lương Bằng
Năm: 2001
4. Trần Thái Bình (2009), Hồ Chí Minh sự hình thành một nhân cách lớn, Nhà xuất bản trẻ, TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh sự hình thành một nhân cách lớn
Tác giả: Trần Thái Bình
Nhà XB: Nhàxuất bản trẻ
Năm: 2009
5. Nguyễn Trọng Chuẩn - Nguyễn Văn Huyên (2002), Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị truyền thốngtrước những thách thức của toàn cầu hóa
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn - Nguyễn Văn Huyên
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
6. GS.TS. Nguyễn Trọng Chuẩn, PGS.TS Nguyễn Văn Phúc, đồng chủ biên (2003), Mấy vấn đề đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiệnnay
Tác giả: GS.TS. Nguyễn Trọng Chuẩn, PGS.TS Nguyễn Văn Phúc, đồng chủ biên
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấphành Trung ương Khoá VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1997
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Trung ương khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấphành Trung ương Trung ương khoá VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Hội nghị Trung ương năm Ban Chấp hành Trung ương khoá X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị Trung ương năm Ban Chấphành Trung ương khoá X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2007
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Hội nghị Trung ương bảy Ban Chấp hành Trung ương khoá X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị Trung ương bảy Ban Chấphành Trung ương khoá X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2008
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2009), Văn kiện Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị Ban Chấp hànhTrung ương Đảng khoá X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
15. Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh Vĩnh Long (2007), Văn kiện đại hội lần thứ VIII, Vĩnh Long Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vănkiện đại hội lần thứ VIII
Tác giả: Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh Vĩnh Long
Năm: 2007
16. Phạm Văn Đồng (1989), Hồ Chủ tịch tinh hoa của dân tộc, lương tâm của thời đại, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chủ tịch tinh hoa của dân tộc, lương tâm củathời đại
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1989
17. Trần Văn Giàu (1980), Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1980
18. Trần Văn Giàu (1983), Trong dòng chủ lưu của văn hóa Việt Nam: tư tưởng yêu nước, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trong dòng chủ lưu của văn hóa Việt Nam: tưtưởng yêu nước
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1983
19. Trần Văn Giàu (1993), Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1993
20. GS, NGND Trần Văn Giàu (2011), Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị tinh thần truyền thống của dântộc Việt Nam
Tác giả: GS, NGND Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
21. Phạm Minh Hạc (Chủ biên) (1996), Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Hà Nội, tr. 10-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề con người trong sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Phạm Minh Hạc (Chủ biên)
Năm: 1996
22. Phạm Minh Hạc (1996), Phát triển giáo dục con người phục vụ phát triển xã hội - kinh tế, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 8; 305-306 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển giáo dục con người phục vụ phát triểnxã hội - kinh tế
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1996

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Tổng hợp số liệu các hoạt động giáo dục đạo đức truyền thống cho HSSV nhà trường trong hai năm học 2010-2012 - Giáo dục đạo đức giá trị truyền thống cho sinh viên trường cao đẳng kinh tế   tài chính vĩnh long trong giai đoạn hiện nay luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 2 Tổng hợp số liệu các hoạt động giáo dục đạo đức truyền thống cho HSSV nhà trường trong hai năm học 2010-2012 (Trang 62)
Bảng 3: Đánh giá về nội dung công tác giáo dục đạo đức truyền thống. - Giáo dục đạo đức giá trị truyền thống cho sinh viên trường cao đẳng kinh tế   tài chính vĩnh long trong giai đoạn hiện nay luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục
Bảng 3 Đánh giá về nội dung công tác giáo dục đạo đức truyền thống (Trang 69)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w