1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua giảng dạy môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông

60 2,7K 24
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua giảng dạy môn giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông
Tác giả Nguyễn Thị Toan
Người hướng dẫn Cô giáo Hoàng Thị Nga
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Giáo dục công dân
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 173 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy, để đào tạo con ngời toàn diện về đức, trí, thể, mĩ thì giáo dụcđạo đức cho học sinh thông qua các môn học trong nhà trờng trung học phổthông nói chung và môn Giáo dục công

Trang 1

Lời cảm ơn

Lời đầu của khoá luận này em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo Hoàng Thị Nga, cán bộ giảng dạy bộ môn phơng pháp giảng dạy Giáo dục công dân, khoa Giáo dục chính trị, trờng đại học Vinh đã hớng dẫn tận tình, chu đáo

và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện khoá luận

Nhân dịp khoá luận hoàn thành, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục chính trị, đặc biệt là các thầy cô giáo trong tổ phơng pháp giảng dạy Giáo dục công dân, cùng gia đình bạn bè nhiệt tình giúp

đỡ và động viên em để em có đợc kết quả nh ngày hôm nay

Mặc dù đã có cố gắng nhiều, song chắc chắn khoá luận không tránh khỏi những thiếu sót Em mong tiếp tục nhận đợc những ý kiến đóng góp quý báu của thầy cô và bạn bè

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Toan Mục lục Phần Mở đầu 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

Trang 2

4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu 4

6 ý nghĩa của luận văn 4

7 Bố cục luận văn 5

Phần nội dung 6

Chơng 1: Công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông 6

1.1 Đạo đức và vai trò của giáo dục đạo đức trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách 6

1.1.1 Đạo đức 6

1.1.2 Vai trò của giáo dục đạo đức trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách 7

1.2 Công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông 9

1.2.1 Nhiệm vụ và nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh 9

1.2.1.1 Nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho học sinh 9

1.2.1.2 Nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh 12

1.2.2 Con đờng và phơng tiện giáo dục đạo đức cho học sinh 18

1.2.2.1 Dạy học vừa là con đờng, vừa là phơng tiện giáo dục đạo đức cho học sinh .18

1.2.2.2 Giáo dục đạo đức thông qua các hoạt động ngoài giờ, ngoại khoá 20

Tiểu kết chơng 1 24

Chơng 2: Giáo dục đạo đức thông qua giảng dạy giáo dục công dân ở trờng trung học phổ thông 25

2.1 Vị trí, vai trò của môn Giáo dục công dân ở trờng trung học phổ thông 25

2.1.1 Môn Giáo dục công dân là một môn khoa học 25

2.1.2 Vị trí, vai trò của môn Giáo dục công dân trong nhà trờng trung học phổ thông 26

2.2 Vị trí, vai trò của phần đạo đức trong chơng trình Giáo dục công dân ở trờng trung học phổ thông 29

2.3 Giáo dục đạo đức thông qua giảng dạy môn Giáo dục công dân lớp 10, 11, 12 và phần đạo đức 31

2.3.1 Nội dung giáo dục đạo đức 31

2.3.1.1 Nội dung giáo dục đạo đức qua giảng dạy môn Giáo dục công dân ở các trơng trung học phổ thông 31

Trang 3

2.3.1.2 Nội dung giáo dục đạo đức qua giảng dạy phần đạo đức trong môn học 33

2.3.2 Phơng pháp giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua giảng dạy môn Giáo dục công dân và phần đạo đức 38

2.3.2.1 Cơ sở của việc xác lập phơng pháp 38

2.3.2.2 Nguyên tắc xác lập phơng pháp 41

2.3.2.3 Phơng pháp giáo dục 43

2.4 Một số ví dụ cụ thể 46

2.4.1 Một số ví dụ trong giảng dạy môn Giáo dục công dân 46

2.4.2 Một số ví dụ trong giảng dạy đạo đức 54

2.5 Một số vấn đề rút ra từ việc nghiên cứu công tác giáo dục đạo đức cho học sinh qua giảng dạy môn Giáo dục công dân ở trờn trung học phổ thông 60

Tiểu kết chơng 2 63

Phần kết luận 64

Phần Mở đầu

1 tính cấp thiết của đề tài

giáo dục công dân là bộ môn thuộc khoa học xã hội đang đợc giảng dạy trong trờng trung học phổ thông Môn học này trang bị cho học sinh trung học phổ thông những kiến thức phổ thông cơ bản, thiết thực về triết học, chủ nghĩa t bản, chủ nghĩa xã hội, về thời đại ngày nay, về đạo đức, đờng lối, chính sách của

Đảng Cộng sản Việt Nam và pháp luật của Nhà nớc Qua đó, bớc đầu hình thành và bồi dỡng cho học sinh thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cộng sản, phơng pháp t duy biện chứng trong việc phân tích, đánh giá hiện thực khách quan, đặc biệt góp phần hình thành con ngời mới xã hội chủ nghĩa, bao gồm phẩm chất và năng lực - hai nhân tố cơ bản tạo nên nhân cách

Nhân cách bao gồm tất cả các nét, các mặt, các phẩm chất có ý nghĩa xã hội trong một con ngời Nhìn chung nhân cách thể hiện ở hai mặt tài năng và

đạo đức, trong đó đạo đức là gốc, là nền tảng trong việc hoàn thiện nhân cách cá nhân

Trang 4

Chính vì vậy, để đào tạo con ngời toàn diện về đức, trí, thể, mĩ thì giáo dục

đạo đức cho học sinh thông qua các môn học trong nhà trờng trung học phổthông nói chung và môn Giáo dục công dân nói riêng cần đặc biệt quan tâm,chú ý

Công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông qua giảng dạymôn Giáo dục công dân trong thời gian vừa qua đã đợc các cấp, các ngành quantâm và đạt đợc nhiều thành tựu Nhng nhìn chung đội ngũ giáo viên, nhất là giáoviên Giáo dục công dân cha có điều kiện đảm bảo cho việc giáo dục đạo đứccho học sinh qua môn học của mình

Bên cạnh đó, một thực tế đáng buồn hiện nay là “học sinh sa sút về đạo

đức ngày càng có chiều hớng gia tăng trong nhà trờng phổ thông” (Diễn đàn

nhân dân cuối tuần - Đỗ Tấn Ngọc) là vấn đề báo động đối với những ngời quản

lý giáo dục và làm công tác giảng dạy

Do đó, việc giáo dục đạo đức cho học sinh qua giảng dạy Giáo dục côngdân ở các trờng trung học phổ thông hiện đang là nhiệm vụ vừa mang tính cấpbách, vừa có ý nghĩa chiến lợc lâu dài đối với sự nghiệp giáo dục đào tạo

Với ý nghĩa đó, tôi đã chọn đề tài: “Giáo dục đạo đức cho học sinh qua

giảng dạy môn Giáo dục công dân ở trờng trung học phổ thông” làm khoá luận

tốt nghiệp

2 tình hình nghiên cứu đề tài

Giáo dục đạo đức cho học sinh là một vấn đề đợc đông đảo các cấp lãnh

đạo, các nhà khoa học, nhà quản lý và những ngời làm công tác giảng dạy; đặcbiệt là giảng dạy bộ môn Giáo dục công dân quan tâm, trăn trở Trên các phơngtiện thông tin đại chúng, trên báo chí đã có rất nhiều bài nói, bài viết về vấn đềgiáo dục đạo đức trong trờng học, cũng nh về vai trò của giáo dục đạo đức chothanh niên, sinh viên, học sinh, về vấn đề giáo dục đạo đức trong nhà tr ờng,chẳng hạn:

- Phạm Tất Dong nghiên cứu về vấn đề “ Cải tiến công tác giáo dục t tởng,

chính trị, đạo đức và lối sống cho học sinh, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân”

Trang 5

- Phạm Minh Hạc đã nghiên cứu đạo đức trong cấu trúc của nhân cách,nhấn mạnh vai trò của giáo dục đạo đức trong quá trình hình thành và phát triểnnhân cách.

- Trong cuốn Giáo dục III của hai tác giả: Chu Trọng Tuấn và Hoàng TrungChiến – giảng viên khoa Giáo dục tiểu học, đã dành trọn một chơng bàn vềgiáo dục đạo đức (Nội dung, nhiệm vụ, phơng pháp )

- Rất nhiều bài nói, viết của Bác Hồ về giáo dục đào tạo thanh niên, về rènluyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên

Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập tới công tác giáo dục đạo đức cảmặt lý luận và thực tiễn Đó là những t liệu tham khảo hết sức bổ ích khi nghiêncứu vấn đề này, nhng đến nay cha có một đề tài nào nghiên cứu một cách có hệ

thống về vấn đề: Giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua giảng dạy môn

Giáo dục công dân ở các trờng trung học phổ thông

3 mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Đề tài làm rõ vai trò, nhiệm vụ của việc giáo dục đạo đức cũng nh nhữngnội dung và những phơng pháp giáo dục đạo đức cho học sinh Trên cơ sở đó,làm rõ công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông qua mônhọc Giáo dục công dân, đặc biệt là thông qua phần đạo đức trong chơng trình

3.2 Nhiệm vụ

Để thực hiện các mục đích trên, đề tài tập trung làm rõ các vấn đề sau đây:

- Công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông

- Giáo dục đạo đức cho học sinh qua môn học Giáo dục công dân ở trờng

4.2 Phạm vi

Trang 6

Đề tài đi sâu vào nghiên cứu việc giáo dục đạo đức cho học sinh qua giảngdạy môn Giáo dục công dân ở trờng trung học phổ thông.

5 cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu

Sử dụng phơng pháp nghiên cứu của phép biện chứng duy vật: logic, lịch

sử, phân tích, tổng hợp, để giải quyết nội dung đề tài

6 ý nghĩa của luận văn

Kết quả nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn củacông tác giáo dục đạo đức cho học sinh thông qua giảng dạy môn Giáo dụccông dân ở trờng trung học phổ thông Qua đó, tác giả muốn đóng góp một phầnnào đó và việc nâng cao chất lợng giảng dạy môn Giáo dục công dân nói chung,môn Giáo dục công dân ở các trờng trung học phổ thông nói riêng Luận văngóp phần định hớng và hoàn thiện nhân cách học sinh, từ đó ngăn chặn, đẩy lùitình trạng vi phạm đạo đức của một bộ phận học sinh hiện nay

1.2 Nội dung và nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho học sinh.

1.3 Con đờng và phơng tiện giáo dục đạo đức cho học sinh.

- Chơng 2: giáo dục đạo đức thông qua giảng dạy

giáo dục công dân ở trờng trung học phổ thông

Trang 7

2.1 Vị trí, vai trò của môn Giáo dục công dân ở trờng trung học phổ thông.

2.2 Vị trí, vai trò của phần đạo đức trong chơng trình Giáo dục công dân ở trờng trung học phổ thông.

2.3 Giáo dục đạo đức thông qua giảng dạy Giáo dục công dân lớp 10,

11, 12 và phần đạo đức

2.4 Một số ví dụ cụ thể.

2.5 Một số vấn đề rút ra từ việc nghiên cứu công tác giáo dục đạo đức cho học sinh qua giảng dạy môn Giáo dục công dân ở trờng trung học phổ thông.

Trang 8

Danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiến Latinh là mos (moris) - lề thói (moralisnghĩa là có liên quan đến lề thói, đạo nghĩa) Còn “luân lý” đợc xem nh đồngnghĩa với “đạo đức” có gốc từ tiếng Hy Lạp là ethicos – lề thói, tập tục Khinói đến đạo đức, tức là nói đến những lề thói và tập tục biểu hiện mối quan hệnhất định giữa ngời với ngời trong sự giao tiếp với nhau hằng ngày Sau này, ng-

ời ta thờng phân biệt hai khái niệm: moral là đạo đức, còn ethicos là đạo đứchọc

ở phơng Đông, các học thuyết về đạo đức của ngời Trung Quốc cổ đạixuất hiện sớm, đợc biểu hiện trong quan niệm về đạo đức của họ Đạo là con đ-ờng, đờng đi, đời sống của con ngời trong xã hội Đức nói đến nhân đức, đứctính Nh vậy, có thể nói đạo đức của ngời Trung Quốc cổ đại chính là những yêucầu, những nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà mỗi ngời phải tuân theo

Theo quan điểm đạo đức học Mácxít:

Đạo đức là một trong những hình thái ý thức xã hội Đạo đức là một phạmtrù phản ánh hệ thống các nguyên tắc, yêu cầu, các chuẩn mực, các quy tắc điềuchỉnh sự ứng xử của con ngời trong tất cả các mối quan hệ, trong tất cả các lĩnhvực đời sống xã hội Các chuẩn mực ứng xử đợc củng cố bởi các khái niệm nh:thiện - ác, chính – tà, vinh – nhục, lơng tâm – trách nhiệm, quyền lợi –nghĩa vụ, hạnh phúc – bất hạnh Hệ thống khái niệm này biểu hiện và phản

ánh bản chất xã hội của con ngời mà chủ yếu là các mối quan hệ giữa cá nhân

Có thể nói, đạo đức là một hình thái ý thức đợc hình thành rất sớm tronglịch sử phát triển nhân loại và đợc mọi xã hội, mọi giai cấp, mọi thời đại quantâm Sự phát triển của đạo đức xã hội từ thấp lên cao nh những nấc thang giá trịcủa văn minh con ngời, trên cơ sở phát triển của sức sản xuất vật chất và thôngqua sự đấu tranh, gạn lọc, kế thừa mà nội dung đạo đức ngày càng phong phú,hoàn thiện hơn

Trang 9

1.1.2 Vai trò của giáo dục đạo đức trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách

Nhân cách của con ngời bao gồm tất cả các nét, các mặt, các phẩm chất có

ý nghĩa xã hội trong một con ngời Những thuộc tính này đợc hình thành trongquá trình tác động qua lại giữa ngời đó với những ngời khác trong xã hội Vìthế, nhân cách đựơc xem là “sản phẩm muộn” trong sự phát triển của con ngời.Khi nói đến nhân cách ngời ta thờng quan niệm đó là sự thống nhất biệnchứng giữa các mặt: phẩm chất và năng lực (còn gọi là đức và tài) của con ng ời.Trong đó đạo đức là nền tảng, là một bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng củanhân cách con ngời nói chung, học sinh nói riêng Bộ phận quan trọng ấy không

tự nhiên mà hình thành một cách trọn vẹn, đòi hỏi phải có một quá trình hớngvào mục đích ấy

Do đó, ta hiểu: “Giáo dục đạo đức là một quá trình s phạm bộ phận trong

đó dới tác động chủ đạo của nhà giáo dục nhằm hình thành và phát triển ở họcsinh ý thức đạo đức, tình cảm đạo đức, hành vi và thói quen đạo đức, nhờ đó màtạo ra các phẩm chất đạo đức ở học sinh, theo những nguyên tắc đạo đức cộngsản chủ nghĩa” [17; 77]

Nh chúng ta biết, con ngời muốn làm đợc điều thiện, tránh đợc điều ác,muốn cho những hành vi của mình đợc mọi ngời chấp nhận, không bị d luận xãhội lên án thì họ phải nắm đợc những quan điểm, những nguyên tắc, quy tắc,chuẩn mực đạo đức cơ bản Từ đó, con ngời có thể tự do lựa chọn những hành viphù hợp với chuẩn mực đạo đức của xã hội, đồng thời mới có khả năng đánh giá

đúng đắn các hiện tợng, hành vi trong quan hệ xã hội theo quan điểm đạo đứctiến bộ, cách mạng Vì vậy, công tác giáo dục đạo đức góp phần quan trọng vàoquá trình hình thành, phát triển nhân cách của con ngời

Giáo dục đạo đức không chỉ là con đờng để con ngời lĩnh hội các tri thức

đạo đức một cách hệ thống, vững chắc mà trên cơ sở đó còn rèn luyện thói quen,hành vi đạo đức, tình cảm đạo đức Nhờ có giáo dục đạo đức mà con ngời họctập đợc ở những tấm gơng đạo đức cao cả, xả thân làm việc, góp phần làm choxã hội ngày càng công bằng, văn minh, tiến bộ Chính vì vậy mà khi xem xétnhân cách, ngời ta coi đạo đức và năng lực (đức – tài) là hai mặt cơ bản hợpthành trong một cá nhân, trong đó đức là gốc của nhân cách Do đó, ngời xa có

Trang 10

câu: “Tiên học lễ, hậu học văn” hoặc nh tục ngữ phơng Tây: “Ngời thành đạt

trong học thức mà không thành đạt trong đạo đức coi nh không thành đạt”.

Nh vậy, giáo dục đạo đức là một bộ phận quan trọng trong giáo dục nhâncách và là một trong những bộ phận nền tảng của giáo dục nhà trờng, Hồ Chí

Minh đã nói: “Dạy cũng nh học phải chú ý cả tài lẫn đức Đức là đạo đức cách

mạng Đó là cái gốc rất quan trọng” (Bài nói chuyện với cán bộ, học sinh trờng

đại học s phạm Hà Nội, ngày 21/10/1964)

1.2 Công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học

1.2.1 Nhiệm vụ và nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh

1.2.1.1 Nhiệm vụ giáo dục đạo đức cho học sinh

Mặc dù, hệ thống giáo dục của chúng ta ngày càng chuyển sang hớng đadạng hoá, hoạt động với nhiều phơng thức linh hoạt và mềm dẻo hơn, nhng cũng

nh kinh nghiệm của thế giới, “có rất nhiều hình thức và phơng thức giáo dục.

Tuy nhiên, giáo dục chính quy thể hiện các kiến thức và kỹ năng có tổ chức, có

hệ thống phải có vị trí trung tâm trong tổ hợp giáo dục” [13; 99] Vì thế, xét đến

cùng muốn tạo nên sự chuyển biến sâu rộng trong hệ thống giáo dục, cần u tiênxác định rõ ràng các nhiệm vụ ở nhà trờng, trong giáo dục đạo đức cũng vậy.Trong cuộc sống hiện thực, đạo đức gồm ý thức đạo đức, tình cảm đạo đức

và hành động thực tiễn Cả ba mặt đó thờng thống nhất với nhau, nói lên nănglực phục vụ một cách tích cực, tự giác của cá nhân trong mối tơng quan vì lợiích của ngời khác và xã hội Chính vì vậy, trên cơ sở lấy chuẩn mực đạo đứccộng sản chủ nghĩa làm nền tảng, kế thừa những nét đẹp trong truyền thống đạo

đức của dân tộc, nhà giáo dục hình thành ở học sinh ý thức, tình cảm đạo đức và

Trang 11

quan trọng là hình thành những hành vi và thói quen đạo đức.Nhiệm vụ giáo dục

đạo đức cho học sinh đợc thể hiện trên những mặt cơ bản sau:

Thứ nhất, giáo dục ý thức đạo đức.

ý thức đạo đức là ý thức về hệ thống những quy tắc, chuẩn mực, hành viphù hợp với những quan hệ đạo đức đã và đang tồn tại Nó là sự thể hiện thái độnhận thức của con ngời trớc hành vi của mình trong sự đối chiếu với hệ thốngchuẩn mực hành vi và những quy tắc, đạo đức xã hội đặt ra Nó giúp con ngời tựgiác điều chỉnh hành vi và hoàn thành một cách tự giác, tự nguyện những nghĩa

vụ đạo đức Trong ý thức đạo đức còn bao hàm cảm xúc, tình cảm đạo đức củacon ngời Tóm lại, ý thức đạo đức (về mặt cấu trúc) gồm tri thức đạo đức, tìnhcảm và ý chí đạo đức

Nhiệm vụ giáo dục đạo đức quy định việc hình thành ở học sinh phổ thôngmột hệ thống các tri thức đạo đức mà các em cần phải có

Để hình thành ý thức đạo đức, nhà giáo dục phải làm cho học sinh nắm ợc:

đ-+ Những nguyên tắc đạo đức xã hội chủ nghĩa trong mối quan hệ vớitruyền thống đạo đức của dân tộc, trên cơ sở cung cấp nội dung các khái niệm,phạm trù đạo đức: Lơng tâm, nghĩa vụ, nhân phẩm, danh dự, hạnh phúc, yêu n-ớc

+ Hệ thống các chuẩn mực đạo đức đợc quy định cho học sinh phổ thông,các cách thức thực hiện chúng

+ Các cách ứng xử trong các tình huống phù hợp với các chuẩn mực đạo

đức đã quy định

Đây là những tri thức cần thiết, cơ bản mà học sinh cần đợc trang bị để đủtrình độ xử sự trong cuộc sống hằng ngày, nhng mới chỉ có ý thức đạo đức thôithì cha đủ, đó mới chỉ là con ngời lý trí, ý thức đó phải trở thành nhân tố bêntrong thôi thúc con ngời thực hiện những hành vi đạo đức một cách tự nguyện,

tự giác

Thứ hai, giáo dục thái độ và tình cảm đạo đức.

Trang 12

ý thức về đạo đức chỉ là điều kiện “cần” chứ cha “đủ” để chủ thể thực hiệnhành vi đạo đức một cách tự nguyện Hành vi đạo đức chỉ có đầy đủ ý nghĩa khi

nó xuất phát từ tình cảm lành mạnh, trong sáng bên trong con ngời Nếu hành vichỉ đúng với chuẩn mực không thôi mà không xuất phát từ tình cảm, từ xúc cảmthực sự thì hành vi ấy sẽ khô khan, cứng nhắc, chỉ mang tính chất hình thức, chứkhông có ý nghĩa nhân văn, nhân ái

Ngợc lại, thái độ và tình cảm đạo đức trong sáng, lành mạnh, cao thợng sẽthôi thúc chủ thể thực hiện hành vi đạo đức một cách tự nguyện Trong cuộcsống, chủ thể sẽ thấy day dứt, băn khoăn khi không thực hiện đợc hành vi đạo

đức

Chỉ khi có tình cảm đạo đức thì ở con ngời mới hình thành động cơ đạo đứccao đẹp sẵn sàng thực hiện những hành vi đạo đức, nhng quan trọng hơn là sẽbiết phê phán, lên án và đấu tranh trớc những hành vi phi đạo đức, phản văn hoá

Do đó, giáo dục thái độ và tình cảm đạo đức là một yếu tố hết sức quantrọng trong quá trình giáo dục đạo đức Không có tình cảm đạo đức thì con ngời

sẽ trở nên vô cảm trớc cái ác, thờ ơ trớc cái thiện, trở thành những kẻ bất lơng,vô đạo Tình cảm đạo đức vừa là động lực vừa là năng lực đạo đức của con ngời,

là yếu tố cơ bản không thể thiếu trong nhân cách

Thứ ba, giáo dục hành vi và thói quen đạo đức.

Từ ý thức và tình cảm đạo đức, con ngời phải thể hiện bằng những hành vi

cụ thể Mục đích cuối cùng của giáo dục đạo đức là tạo ra đợc những hành vi

đạo đức và thói quen thực hiện hành vi đạo đức trong cuộc sống hằng ngày

“Hành vi đạo đức là những hành vi của con ngời có động cơ bên trong phùhợp với các yêu cầu và chuẩn mực đạo đức của xã hội, của nhân dân Những

động cơ cao thợng, vô t xuất phát từ sự cảm thông và tình thơng yêu thật sự đốivới ngời khác” [1; 70]

Từ ý thức và tình cảm đạo đức, con ngời phải thể hiện bằng những hành vi

cụ thể và đây mới chính là hành vi đạo đức đích thực, có tính ổn định, đợc rènluyện nhiều sẽ trở thành thói quen và thuộc tính của nhân cách

Trang 13

Mặt khác, hành vi là biểu hiện cụ thể của đạo đức biến thành thành hành

động Để hành vi đạo đức trở thành thói quen thì cần đợc tập luyện và rèn luyệnthờng xuyên

Do đó, giáo dục hành vi và thói quen đạo đức thông qua tập luyện, rènluyện trong cuộc sống, trong sinh hoạt và trong học tập là một nhiệm vụ củagiáo dục đạo đức

Các nhiệm vụ trên liên quan gắn bó chặt chẽ lẫn nhau và cần phải đợc thựchiện đồng bộ Việc thực hiện đồng bộ chúng sẽ tạo ra đợc ở học sinh nhữnghành vi đạo đức trọn vẹn, chân chính và bền vững

1.2.1.2 Nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh

Đạo đức là một hiện tợng xã hội phản ánh các mối quan hệ hiện thực bắtnguồn từ bản thân cuộc sống con ngời Các quan hệ đó không chỉ là hình thànhnên giữa các cá nhân, mà còn giữa cá nhân với xã hội, với những mặt riêng biệtcủa xã hội (lao động, văn hoá, tinh thần ) Trong chừng mực, những mặt nàyliên quan đến các lợi ích, chứa đựng trong các mối quan hệ này

Quan hệ đạo đức là một dạng quan hệ xã hội, là yếu tố tạo nên tính hiệnthực của bản chất xã hội của con ngời Quan hệ đạo đức đợc hình thành và pháttriển nh những quy luật tất yếu của xã hội, nó xác định những nhu cầu kháchquan của xã hội, nó “tiềm ẩn” trong các quan hệ xã hội

Quan hệ đạo đức tồn tại một cách khách quan và luôn luôn biến đổi quacác thời đại lịch sử và chính nó là một trong những cơ sở để hình thành nên ýthức đạo đức Vì thế, nội dung giáo dục đạo đức cũng chính là giáo dục cácquan hệ xã hội, bao gồm quan hệ cá nhân đối với xã hội, với những ngời xungquanh; quan hệ cá nhân đối với lao động; quan hệ cá nhân với tài sản xã hội chủnghĩa và các di sản văn hoá - xã hội - thiên nhiên; quan hệ giữa cá nhân với bảnthân

Thứ nhất, quan hệ cá nhân đối với xã hội, đối với những ngời xung quanh.

Để tồn tại và phát triển con ngời phải tuân theo quy luật tất yếu là phải cóquan hệ với nhau Từ những quan hệ ban đầu rất đơn giản giữa con ngời với conngời, khi họ phải chật vật lắm mới kiếm nổi thức ăn trong thế giới tự nhiên đểnuôi sống mình, tiến tới xã hội ngày càng phát triển có của cải d thừa, quan hệ

Trang 14

giữa con ngời với con ngời, giữa cá nhân với cộng đồng ngày càng vô cùngphong phú, phức tạp đòi hỏi mỗi cá nhân phải lựa chọn cách giao tiếp, ứng xử,

điều chỉnh thái độ, hành vi của mình sao cho phù hợp với lợi ích chung của mọingời, của cộng đồng, của xã hội

Nh vậy, quan hệ giữa cá nhân với những ngời xung quanh là mối quan hệdiễn ra hàng ngày

- Trớc hết là kính trọng ông bà, cha mẹ, anh chị và những ngời lớn tuổitrong gia đình; thơng yêu, giúp đỡ những ngời nhỏ tuổi

- Kính trọng, lễ phép, biết ơn thầy cô giáo

- Tôn trọng, yêu quý, đoàn kết, giúp đỡ bạn bè

- Tôn trọng phụ nữ, yêu thơng, giúp đỡ em nhỏ

- Đối với những ngời khác phải tự tin, mạnh mẽ, khiêm tốn có ý thức họchỏi

Từ những quan hệ gần gũi, thân thiết trong gia đình, nhà trờng, làng xóm

mở rộng ra thành quan hệ cá nhân với xã hội Trong nhà trờng quan hệ giữa cánhân với xã hội đợc xây dựng theo nguyên tắc đạo đức cộng sản chủ nghĩa Điềunày thể hiện ra ở phẩm chất chủ yếu là lòng yêu nớc, yêu chủ nghĩa xã hội Đólà:

- Tình yêu quê hơng, đất nớc, tinh thần sẵn sàng đem hết khả năng củamình phục vụ lợi ích của Tổ quốc Thống nhất tình yêu Tổ quốc với tình yêu và

sự trung thành tuyệt đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổquốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, tha thiết vì hạnh phúc của mọi ngời, vì sựphồn vinh của nớc nhà

- Lòng tự hào với hàng nghìn năm dựng nớc và giữ nớc của dân tộc: những

chiến công hiển hách, những trang sử hào hùng, những anh hùng “vì nớc quên

thân, vì dân phục vụ”, những truyền thống (đoàn kết, nhân nghĩa, yêu nớc, cần

kiệm, liêm chính, chí công vô t ), ở lòng tự hào và quý trọng những thành tựukinh tế- văn hoá- xã hội của đất nớc

- Lòng yêu chủ nghĩa xã hội gắn liền với tinh thần quốc tế vô sản Đó làtinh thần đoàn kết, hữu nghị và hợp tác giữa tất cả các nớc dân chủ; tình đoànkết với giai cấp vô sản trên toàn thế giới; ủng hộ cuộc đấu thanh của giai cấp vô

Trang 15

sản và các lực lợng yêu chuộng hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩaxã hội trên toàn thế giới…

Thứ hai, quan hệ cá nhân đối với lao động.

Giáo dục quan hệ đúng đắn giữa cá nhân đối với lao động là một nội dungquan trọng của đạo đức xã hội chủ nghĩa

Lao động có giá trị to lớn, nhng không phải lúc nào lao động cũng đợc

đánh giá là vinh quang trong quan niệm của con ngời Trên thực tế, có lúc lao

động bị khinh rẻ, bị ruồng bỏ, bị coi nh một cực hình tủi nhục trong các xã hội

có đối kháng giai cấp

Chỉ có cách mạng xã hội chủ nghĩa mới đa lao động về đúng vị trí của nó:Lao động là thớc đo phẩm giá con ngời Chính vì vậy, giáo dục đạo đức trongmối quan hệ cá nhân đối với lao động có ý nghĩa rất quan trọng, bao gồm:

- Coi lao động là quyền lợi và nghĩa vụ thiêng liêng Lao động cần cù, khoahọc, lao động có năng suất và chất lợng Đây chính là nghĩa vụ đối với xã hộicủa con ngời lao động, là lơng tâm, vinh dự và hạnh phúc của cá nhân ngời lao

động, là sự tôn trọng lợi ích chân chính của ngời khác

- Tôn trọng ngời lao động và các loại hình lao động Ngày nay, loài ngời

đang ở trong thời kỳ khoa học - kỹ thuật phát triển nh vũ bão; năng suất lao

động tăng lên vợt bậc nhờ sự kết hợp chặt chẽ giữa lao động trí óc là lao độngchân tay Vì vậy, thái độ lao động đúng đắn là coi trọng cả lao động trí óc lẫnlao động chân tay, cả ngời lao động trí óc và ngời lao động chân tay

- Chăm chỉ học tập và học tập có hiệu quả, tham gia các hoạt động lao

động sản xuất ở gia đình, xã hội và cộng đồng, có quan hệ hợp tác và tự giáctrong lao động

- Chống lời biếng, dối trá, làm ăn cẩu thả, tuỳ tiện Đây là những thói xấutrong lao động Chúng làm cho lao động mất đi giá trị kinh tế và đạo đức; chúng

là nguồn gốc đẻ ra các hiện tợng xấu xa, tiêu cực xã hội khiến ngời lao động bị

h hỏng, xã hội bị suy thoái, đồi truỵ Những kẻ tham nhũng là những kẻ xấu

xa, là tàn d của chế độ ăn bám, bóc lột, là sâu mọt của dân, cần phải đợc lên án

và trừng trị thích đáng Vì vậy, giáo dục đạo đức phải giáo dục con ngời có thái

độ kiên quyết đấu tranh chống lại những thói xấu xa trong lao động để lành

Trang 16

mạnh hoá môi trờng xã hội, giúp cho ngời lao động và con cái họ phát triểnnhân cách tốt đẹp.

- Chăm lo thực hành tiết kiệm, kiên quyết đấu tranh chống tham ô, lãngphí Không chỉ cần tiết kiệm hàng ngày trong tiêu dùng mà quan trọng hơn làphải tiết kiệm trong sản xuất

Qua trên, ta thấy giáo dục quan hệ đúng đắn giữa cá nhân và lao động có vịtrí đặc biệt trong quá trình giáo dục đạo đức, nhằm hình thành và hoàn thiệnnhân cách cá nhân

Thứ ba, quan hệ giữa cá nhân đối với tài sản xã hội chủ nghĩa và các di sản văn hoá - xã hội - thiên nhiên.

Là một công dân của xã hội thì tuỳ vào sức mình mà góp vào công cuộcxây dựng xã hội ngày càng giàu mạnh, phồn vinh, nhân dân hạnh phúc Xuấtphát từ vấn đề này nội dung giáo dục đạo đức cần xây dựng quan hệ tốt đẹp giữacá nhân và tài sản xã hội chủ nghĩa, các di sản văn hoá - xã hội - thiên nhiên

Trớc hết, giáo dục cho con ngời đức tính luôn giữ gìn, bảo vệ và tiết kiệmcủa công, không xâm phạm tài sản chung và của cải riêng của ngời khác, khôngvì lợi ích cá nhân mà chà đạp lên lợi ích của ngời khác, của xã hội

Dân tộc Việt Nam qua hàng nghìn năm lịch sử đã hun đúc nên kho tàngvăn hoá vật chất - tinh thần phong phú cùng với tài nguyên thiên nhiên đa dạng.Công tác giáo dục đạo đức cũng góp phần không nhỏ vào việc hình thành ở conngời Việt Nam ý thức luôn bảo vệ giữ gìn và phát huy tác dụng các di sản vănhoá - xã hội - thiên nhiên

Bên cạnh việc giữ gìn và phát triển truyền thống dân tộc thì chúng ta cũngcần có ý thức và trách nhiệm xây đắp, làm giàu cho kho tàng vật chất và văn hoácủa nhân loại

Thứ t, quan hệ giữa cá nhân đối với bản thân.

Quan hệ này gắn chặt với sự tự ý thức, với ý chí và hành động, có tác dụng

điều chỉnh bản thân học sinh, bao gồm: Tính kỷ luật, thật thà, khiêm tốn; biếtgiữ gìn phẩm giá và danh dự; trau dồi văn hoá ứng xử; có ý chí, nghị lực, niềmtin và khát vọng vơn lên Bản thân mỗi ngời phải vợt qua mọi khó khăn, trởngại, không ngừng lao động, học tập, tu dỡng, rèn luyện; phát huy u điểm, khắc

Trang 17

phục, sửa chữa khuyết điểm; học hỏi những điểm hay, điểm tốt của ngời khác đểbản thân ngày một tốt hơn, tiến bộ hơn.

Để xây dựng một quan hệ tốt đẹp giữa cá nhân đối với bản thân cần:

- Tự nhận thức đúng những điểm mạnh, điểm yếu của bản thân đối chiếuvới các chuẩn mực đạo đức xã hội

- Lập kế hoạch phấn đấu, rèn luyện bản thân theo từng mốc thời gian cụthể

- Xác định rõ những biện pháp cần thực hiện

- Xác định những thuận lợi đã có, những khó khăn có thể gặp phải và cáchvợt qua khó khăn đó

- Xác định đợc những ngời tin cậy có thể hỗ trợ, giúp đỡ mình

- Có quyết tâm thực hiện và biết tìm kiếm sự giúp đỡ của những ngời tincậy

Ngày nay, do xu thế mới của thời đại: khu vực hoá, toàn cầu hoá nên nộidung giáo dục đạo đức trong nhà trờng còn cần phải tăng cờng thêm các yếu tố:giáo dục tinh thần nhân văn; quan hệ quốc tế làm bạn với tất cả các quốc giatrên tinh thần vừa hợp tác, vừa đấu tranh; bảo vệ môi trờng xanh - sạch - đẹp;tôn trọng nền văn hoá và truyền thống của các dân tộc, các quốc gia , tăng c-ờng học hỏi, nghiên cứu để nâng cao hiểu biết về các tổ chức quốc tế và khuvực

Đảm bảo đầy đủ các quan hệ trên trong quá trình giáo dục đạo đức cho họcsinh là một việc không đơn giản Hơn nữa, các nội dung giáo dục trong nhà tr-ờng phổ thông: trí dục, mỹ dục, đức dục, thể dục không tồn tại đơn lẻ, độc lập,tách rời nhau trái lại nó hoà quyện vào nhau, gắn bó, bổ sung, hoàn chỉnh chonhau Vì thế, nhà giáo dục phải biết và nắm đợc các mối quan hệ ấy để giáo dụchọc sinh một cách linh hoạt, tự nhiên, không cứng nhắc, khô khan Đồng thời,mỗi cá nhân học sinh phải luôn tự ý thức hình thành, củng cố, phát triển và hoànthiện các mối quan hệ đó

Các mối quan hệ trên là cơ sở để công tác giáo dục đạo đức lối sống chú ýgiáo dục Vì thế, công tác giáo dục đạo đức không chỉ là nhiệm vụ bao trùm vàxuyên suốt toàn bộ hoạt động giáo dục của gia đình, nhà trờng mà là của toàn xã

Trang 18

hội để hình thành và phát triển nhân cách Giáo dục đạo đức phải trở thành mốiquan tâm của toàn xã hội, là vấn đề của mọi vấn đề trong chiến lợc giáo dục -

đào tạo vì sự phát triển của con ngời và phát triển của xã hội

Từ những yếu tố trên có thể xác định khái quát nội dung giáo dục đạo đứccho học sinh trung học phổ thông trong giai đoạn mới theo Nghị quyết của Đại

hội Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh toàn quốc lần thứ VIII nh sau:

“Ng-ời thanh niên trong th“Ng-ời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc là ng“Ng-ời có lý tởng và đạo đức cách mạng; có lối sống văn hoá; có ý chí tự tôn, tự cờng dân tộc; có trình độ học vấn, giỏi chuyên môn, nghề nghiệp, có sức khoẻ tốt; có năng lực tiếp cận và sáng tạo công nghệ mới; có ý chí chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu phấn đấu cho dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh [11; 39]

1.2.2 Con đờng và phơng tiện giáo dục đạo đức cho học sinh

1.2.2.1 Dạy học vừa là con đờng, vừa là phơng tiện giáo dục đạo đức cho học sinh

“Dạy học là một bộ phận của quá trình s phạm tổng thể, là quá trình tác

động qua lại giữa giáo viên và học sinh nhằm truyền thụ và lĩnh hội những trithức khoa học, những kỹ năng, kỹ xảo hoạt động nhận thức và thực tiễn, để trêncơ sở đó phát triển năng lực t duy và hình thành thế giới quan khoa học” [15; 1] Dạy học là hoạt động đặc trng nhất, chủ yếu nhất của nhà trờng ở góc độ

là một quá trình s phạm, thì dạy học là con đờng giáo dục nhân cách, trong đó

có yếu tố đạo đức ở góc độ là các hoạt động nhận thức thì dạy học là một

ph-ơng tiện giáo dục đạo đức

Là một con đờng, một phơng thức giáo dục đạo đức, hoạt động dạy họcphải tạo ra các điều kiện, môi trờng thuận lợi, đa dạng, linh hoạt để mỗi họcsinh tự lựa chọn quá trình học tập, lĩnh hội tri thức và rèn luyện đạo đức dới sự

định hớng của các thầy cô giáo Vì thế, dạy học luôn luôn đợc xem là con đờnghợp lý nhất, thuận lợi nhất giúp cho học sinh, với t cách là chủ thể nhận thức, cóthể lĩnh hội đợc một hệ thống tri thức và kỹ năng chuyển thành năng lực trí tuệ

của bản thân đáp ứng các yêu cầu của “ tơng lai đang xuất hiện”; trong hệ thống

tri thức đó có tri thức đạo đức Ngoài ra, thông qua hoạt động nhận thức trongdạy học mà học sinh có điều kiện để thực hiện các quan hệ và hành vi đạo đức

Trang 19

Trong nhà trờng phổ thông, bất kỳ ở bậc học nào, lớp nào cũng có nhữngmôn học có tác dụng trực tiếp để giáo dục đạo đức nh: Đạo đức, Giáo dục côngdân Các môn này có tác dụng trực tiếp trang bị cho các em những tri thức, kỹnăng và chuẩn mực về các hành vi đạo đức.

Ngoài ra, các môn học khác cũng có tác dụng giáo dục đạo đức cho họcsinh Trong đó có những môn học có nhiều thế mạnh, nhất là các môn khoa họcxã hội nh: Văn học, Tiếng Việt, Lịch sử, Địa lý

Mặt khác, dạy học là con đờng thuận lợi nhất giúp học sinh lĩnh hội đợckhối lợng tri thức nhất định; đồng thời học sinh có cơ hội hình thành các nétphẩm chất tích cực nh: cần cù, vợt khó, chăm chỉ, yêu sự thật, yêu sự chính xác,khoa học, cảm phục lao động sáng tạo của các nhà khoa học

Trong quá trình học tập các mối quan hệ liên nhân cách: học sinh - giáoviên, học sinh - học sinh, học sinh – tập thể học sinh cũng có tác dụng pháttriển các phẩm chất nhân cách ở các em, làm cho các em thực hành tốt cácchuẩn mực đạo đức Chẳng hạn nh kính trọng, lễ phép, biết ơn đối với thầy cô;

đoàn kết, yêu thơng, giúp đỡ bạn bè;

Nh vậy, dạy học không chỉ có tác dụng cung cấp các tri thức đạo đức chohọc sinh, mà còn có tác dụng phát triển toàn bộ các phẩm chất đạo đức ở họcsinh Nhà giáo dục phải thấm nhuần sâu sắc câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

“Thông qua dạy chữ để dạy ngời”.

1.2.2.2 Giáo dục đạo đức thông qua các hoạt động ngoài giờ, ngoại

khoá

Các hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trờng phổ thông rất phong phú về nộidung và loại hình Bao gồm các hoạt động sinh hoạt tập thể, vui chơi, lao độngsản xuất, sinh hoạt chủ điểm, văn nghệ, thể dục- thể thao

Tổ chức lao động: Thông qua việc học tập và họat động trong nhà trờng,

học sinh đã làm quen và có kỹ năng trong loại hình lao động có tính đặc trngcho hoạt động ở trờng học.Tuy vậy, để có thể hình thành nhân cách năng động,sáng tạo và thích ứng với mọi biến chuyển của thế giới đang thay đổi, học sinh

Trang 20

còn cần đợc hoạt động, rèn luyện trong nhiều lĩnh vực khác nhau, đặc biệt trongcác loại hình lao động.

Vì vậy, trong nhà trờng, thông qua toàn bộ các hoạt động giáo dục, họcsinh cần đợc thử thách qua các hoạt động lao động, chuẩn bị cho học sinh vềtâm lý, đạo đức và kỹ năng để tham gia vào mọi hoạt động lao động sáng tạo.Thông qua lao động hình thành cho học sinh thái độ lao động đúng đắn,nhận thức đợc quyền lợi, nghĩa vụ đối với lao động Qua lao động mỗi học sinhthấy rõ bằng trí tuệ và sức lực của chính mình, mỗi ngời sáng tạo nên những sảnphẩm, những giá trị và đáp ứng thoả mãn đợc các nhu cầu của bản thân và xãhội, xét về đạo đức lao động là con đờng tạo nên lơng tâm thanh thản trong cuộcsống của mỗi ngời

Sự liên kết giữa giáo dục đạo đức thông qua hoạt động ngoài giờ còn đợc thể hiện trong hoạt động tập thể:

- Tập thể học sinh chính là ngời tác động lên ý thích của trẻ em những trithức, niềm tin, đạo đức, những giá trị xã hội, những phẩm chất nhân cách củahọc sinh Bằng việc tổ chức các hoạt động đa dạng, phong phú và hấp dẫn phùhợp với nhu cầu của thế hệ trẻ, tập thể học sinh lôi cuốn, kích thích các em thamgia một cách tích cực vào các hoạt động của tập thể Từ đó mà động viên, pháthuy đợc tính tích cực hoạt động xã hội của các em

- Tập thể Đoàn, Đội: Trong trờng học thì Đoàn, Đội là một tổ chức giáodục, tổ chức cơ sở Tổ chức Đoàn, Đội có trách nhiệm phối hợp với tập thể lớp

và giáo viên chủ nhiệm giáo dục thanh niên trong phạm vi lớp học của mình,phối hợp với các chi đoàn bạn trong trờng tổ chức các hoạt động nhằm giáo dục

đạo đức cho thanh niên

- Tổ chức câu lạc bộ trong trờng học nh câu lạc bộ chuyên đề Đây là hìnhthức sinh hoạt nhằm đáp ứng với hứng thú, năng lực và năng khiếu của học sinh.Ngày nay trong giai đoạn quá độ,với định hớng chung là mọi hoạt động của

mọi ngời phải nhằm vào việc thực hiện “dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng,

dân chủ, văn minh” và yêu cầu này đợc thể hiện trong các thang giá trị, các

chuẩn mực xã hội, nhng trong thực tế vẫn tồn tại rất nhiều mâu thuẫn trong nhận

Trang 21

thức, trong hành vi, trong đời sống hàng ngày làm cho lợi ích của cá nhân nhất

là lợi ích xã hội bị vi phạm, bị xói mòn

Nếu có sự nhận thức và điều chỉnh hợp lý, phù hợp với môi trờng xã hộimới để cân đối đợc lợi ích cá nhân với lợi ích của tập thể và xã hội thì trên cănbản những lợi ích của hoạt động tập thể, vai trò của tập thể vẫn còn những dấuhiệu hợp lý, có thể phát huy tác dụng của nó trong hoàn cảnh mới

Hoạt động tập thể chỉ phát huy hết tác dụng giáo dục đạo đức của nó khi:+ Tập thể giáo viên phải đoàn kết nhất trí, có tinh thần trách nhiệm cao,liên hệ chặt chẽ với phụ huynh

+ Trong sinh hoạt cần hớng theo các viễn cảnh (gần - xa) xuất phát từ mụctiêu, nhiệm vụ của nhà trờng, Đội, Đoàn, và gắn với các hoạt động chủ yếu củahọc sinh (học tập, giải trí, lao động, tham gia công tác xã hội)

+ Trong tập thể cần xây dựng những lực lợng “hạt nhân” tích cực, thu hút,lôi cuốn số đông học sinh, cần tạo cơ hội và điều kiện giúp các em học sinh rènluyện

+ Phải tổ chức hoạt động trên cơ sở tăng cờng mối liên hệ nội bộ giữa cáctập thể lớp, tập thể lớp với các tổ chức, tập thể khác

+ Tạo đợc d luận nhất trí trong tập thể, thông qua d luận mà điều chỉnhhành vi, hoạt động, uốn nắn các lệch lạc của mỗi cá nhân

+ Tập thể phải có trách nhiệm và thờng xuyên quan tâm đến lợi ích của mỗithành viên và đồng thời mỗi thành viên tôn trọng các giá trị chuẩn mực mà tậpthể hớng tới, noi theo

+ Tập thể hoạt động năng động, sinh động, có tác phong, nếp sống vui tơi Ngoài ra, sinh hoạt chủ điểm, văn nghệ, thể dục - thể thao, cũng là con đ-ờng, là phơng tiện mở rộng sự hiểu biết về đạo đức học, phát triển ở học sinhnhững đức tính cần phải có của một ngời công dân tốt

Tổ chức cho học sinh phổ thông tham gia vào đời sống thực tiễn của xã hội.

Hiện nay, công tác giáo dục đang đợc phát triển theo hớng xã hội hoá.Tham gia vào đời sống thực tiễn của xã hội tạo ra cơ hội và điều kiện cho học

Trang 22

sinh đặt quan hệ với ngời khác, là quá trình nhận thức và chấp nhận nhữngkhuôn mẫu và chuẩn mực xã hội, thích nghi với các chuẩn mực ấy và nhanhchóng chuyển thành những giá trị của bản thân mỗi ngời.

Nhờ hoạt động đời sống thực tiễn, tính tích cực xã hội đợc hình thành vàcủng cố vững chắc Thông qua các dạng hoạt động con ngời phát triển đợc kiếnthức, kĩ năng mà cá nhân cần tới, những ớc vọng, những hệ thống giá trị, những

lý tởng về cuộc sống giúp con ngời củng cố đợc vị thế và vai trò xã hội củachính mình trong hiện tại và tơng lai

Thông qua các hoạt động tiếp xúc, con ngời càng gắn bó với cộng đồng,dân tộc mình hơn Nhờ đó, cùng với sự phát triển trí tuệ, các phẩm chất, nhâncách, đạo đức còn mang đợc bản sắc, tiếp thu và gắn bó với truyền thống vănhoá của dân tộc

Đời sống thực tiễn vô cùng sinh động và đa dạng là môi trờng tốt nhất đểhọc sinh tôi luyện các phẩm chất đạo đức đã đợc hình thành trong nhà trờng.Tuy nhiên, học sinh phổ thông cha thực sự bớc vào cuộc sống thực tiễn nh mộtcông dân thực thụ Vì vậy, việc tổ chức có kế hoạch, có phơng pháp để học sinhtham gia vào đời sống thực tiễn của xã hội là một vấn đề có ý nghĩa rất lớn Vì

đây là bớc chuyển quan trọng, trong đó có cả việc các em thể nghiệm các phẩmchất đạo đức của mình trong xã hội

Tóm lại, thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp giúp cho học sinh thựchành và thể nghiệm các quan hệ đạo đức xã hội chủ nghĩa; tập luyện và rènluyện các hành vi đạo đức phù hợp với các chuẩn mực xã hội Cũng thông quacác hoạt động nói trên, các em có cơ hội để mở rộng các mối quan hệ và giao lucủa mình với những tầng lớp khác nhau trong xã hội nh ngời lao động, nhà khoahọc, văn nghệ sĩ Nhờ thế mà tâm hồn, tình cảm và ớc vọng các em phát triểncao hơn

Nh vậy, con đờng và phơng tiện giáo dục đạo đức cho học sinh là một kháiniệm rộng Nhà giáo dục phải biết phát huy và vận dụng tốt vai trò của chúng đểtạo ra một thế giới đạo đức trong mỗi học sinh một cách trọn vẹn, phong phú vớinhững nét cá tính riêng biệt, độc đáo nhng lành mạnh và phù hợp với nhữngnguyên tắc đạo đức chung

Trang 23

Tiểu kết chơng 1

Đạo đức ra đời và tồn tại cùng với xã hội loài ngời Hệ thống giá trị đạo

đức luôn luôn biến đổi và phát triển cùng với các điều kiện kinh tế - xã hội Sựhình thành, phát triển và hoàn thiện hệ thống giá trị đạo đức không tách rời sựphát triển và hoàn thiện của ý thức đạo đức và sự điều chỉnh đạo đức Nếu hệthống giá trị đạo đức phù hợp với sự phát triển, tiến bộ, thì hệ thống ấy có tínhtích cực, mang tính nhân đạo Ngợc lại, hệ thống ấy mang tính tiêu cực, phản

động, phản nhân đạo khi nó không phù hợp với sự phát triển của xã hội

Đạo đức là một bộ phận quan trọng cấu thành nhân cách, là sản phẩm củaquá trình rèn luyện, tu dỡng suốt đời của mỗi ngời Vì vậy, giáo dục đạo đứckhông chỉ là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng trong quá trình giáo dục ở nhà trờngcác cấp; mà còn là nhiệm vụ thờng xuyên của mọi ngời, mọi ngành trong xã hộinhằm đào tạo ra những con ngời mới xã hội chủ nghĩa

Quá trình giáo dục thấm nhuần tinh thần nhân văn, các phẩm chất nhâncách ngày càng cao của ngời công dân, gắn với sự nâng cao và phát triển vănhoá, đạo đức, thẩm mĩ của con ngời có văn hoá, phù hợp với sự phát triển xãhội, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao, càng sâu rộng của cuộc sống

Công tác giáo dục đạo đức chỉ thực sự thành công khi nhà giáo dục quántriệt đầy đủ, sâu sắc nhiệm vụ, nội dung cũng nh con đờng và phơng tiện giáodục đạo đức

Ngày nay, vấn đề giáo dục nói chung đòi hỏi “có nền tảng rộng , ” “chuyển

từ mặt đơn thuần tri thức sang mặt phát triển toàn diện của ngời học về trí lực, thể lực, tình cảm xã hội và đạo đức” [13; 100].

Trang 24

2.1.1 Môn Giáo dục công dân là một môn khoa học

Mục tiêu đào tạo của nhà trờng phổ thông chúng ta là hình thành và pháttriển toàn diện nhân cách tốt đẹp cho thế hệ trẻ Đó sẽ là những công dân tơnglai, những ngời lao động mới phát triển hài hoà trên tất cả các mặt: Đức dục, trídục, mĩ dục, thể dục, lao động

Để hình thành và phát triển những con ngời nh vậy, nhà trờng phổ thôngphải có chơng trình, nội dung giáo dục, giáo dỡng phù hợp Yêu cầu khách quan

đó đợc quán triệt trong tất cả chơng trình và nội dung học tập của toàn bộ cácmôn học trong nhà trờng nói chung, trong trờng trung học phổ thông nói riêng

Từ năm học 1990 - 1991 chúng ta đã xác định môn Giáo dục công dân là mônkhoa học xã hội trong trờng phổ thông Môn Giáo dục công dân là tên gọi cótính quy ớc Nó khác với giáo dục công dân theo cách hiểu thông thờng

Các tri thức của môn Giáo dục công dân bao gồm phạm vi kiến thức rộnglớn bao quát toàn bộ đời sống xã hội Đó là các tri thức thuộc về triết học, kinh

tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học, đạo đức học, pháp luật của Nhà nớcCộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đờng lối, chính sách của Đảng Cộngsản Việt Nam đã đợc phổ thông hoá

Các kiến thức trên đợc đa vào dạy và học trong nhà trờng phổ thông đợcsắp xếp, bố trí hợp lý, kết cấu chặt chẽ, logic, vừa bảo đảm tính s phạm, tínhthực tiễn, vừa đảm bảo tính hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, t tởng

Hồ Chí Minh; đồng thời phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý cũng nh trình độ,năng lực nhận thức của học sinh phổ thông

Giáo dục công dân là một trong những bộ môn khoa học đợc đa vào dạy vàhọc từ trung học cơ sở đến trung học phổ thông, là bộ môn khoa học thực thụ

Trang 25

xét cả về nội dung lẫn hình thức, cả về đối tợng và chức năng môn học, cả vềmặt giáo dỡng lẫn giáo dục Bởi vậy sẽ là sai lầm nếu quan niệm môn Giáo dụccông dân chỉ là môn chính trị, thời sự chung chung Việc thay tên gọi mônchính trị trớc đây bằng tên gọi môn Giáo dục công dân nh hiện nay đó là một b-

ớc tiến mới Nó đánh dấu sự phát triển mới trong nhận thức đồng thời góp phần

đa môn học về ở vị trí đúng với chức năng giáo dục của nó

2.1.2 Vị trí, vai trò của môn Giáo dục công dân trong nhà trờng trung học phổ thông

Mỗi môn học trong trờng trung học phổ thông đều có một vị trí nhất địnhcủa nó

Môn Giáo dục công dân vừa có vị trí thông thờng của một môn học, vừa có

vị trí đặc biệt của nó ở vị trí thông thờng, môn Giáo dục công dân đợc xếpcùng loại, ngang hàng với các môn học khác trong hệ thống các môn học nó cónhững nhiệm vụ nh các môn học khác: trang bị tri thức, giáo dục t tởng, tìnhcảm, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, phát triển trí tuệ học sinh ở vị trí đặc biệt của

nó, môn Giáo dục công dân có những đặc điểm riêng, những nhiệm vụ riêng,khác biệt so với các môn học khác Có thể nêu lên mấy đặc điểm sau đây:

Một là, môn Giáo dục công dân ở trờng trung học phổ thông đề cập và giải

quyết một cách toàn diện hệ thống tri thức cơ bản, cần thiết của một công dânViệt Nam trong thời đại mới Chủ đề mà môn Giáo dục công dân đề cập baohàm từ những cái gần gũi, thiết thực trong đời thờng cá nhân, công dân, gia

đình, xã hội đến những vấn đề lớn hơn nh quốc gia, nhân loại; từ những vấn đềthờng nhật đến những vấn đề mang tính lý luận, trừu tợng khái quát nh triết học,logic học, từ những hiểu biết cần thiết về cuộc sống đến thế giới quan, nhân sinhquan, lý tởng xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa

Hai là, môn Giáo dục công dân mang tính định hớng chính trị sâu sắc vì nó

trực tiếp đề cập, trực tiếp giải quyết những vấn đề chính trị, t tởng của giai cấpcông nhân, của Đảng ta, trực tiếp xác nhận, củng cố định hớng chính trị xã hộichủ nghĩa cho học sinh

Môn Giáo dục công dân trong toàn bộ nội dung của nó từ lớp 10 đến lớp 12trớc hết tập trung vào việc xây dựng cho học sinh phổ thông thế giới quan khoahọc, nhân sinh quan cộng sản và phơng pháp luận đúng đắn bằng nhiều biện

Trang 26

pháp, hình thức khác nhau Tất cả đều nhằm làm cho học sinh có những quanniệm, niềm tin triết học làm nền tảng cho hệ thống thế giới quan Từ đó, họcsinh có đợc định hớng đúng đắn trong hoạt động thực tiễn, giải quyết đúng đắncác mối quan hệ của bản thân với các cộng đồng trên các lĩnh vực, các phạm vikhác nhau.

Cùng với việc hình thành thế giới quan một cách trực tiếp, môn Giáo dụccông dân giúp học sinh trả lời một cách khoa học đúng đắn câu hỏi: Sống đểlàm gì? Sống nh thế nào cho xứng đáng với vai trò, vị trí của ngời công dân củanớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Tính định hớng chính trị còn thể hiện ở chỗ, môn Giáo dục công dân trựctiếp đề cập đến những vấn đề có tính đờng lối chính sách của Đảng Cộng sảnViệt Nam Đó là những vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội nóng bỏng của đất nớc

và thế giới Với những phơng pháp luận đã đợc trang bị, học sinh bớc đầu tiênhiểu, phân tích, đánh giá và tự rút ra kết luận cần thiết đúng đắn

Mỗi môn học trong nhà trờng đều có nhiệm vụ xây dựng thế giới quan,nhân sinh quan, phơng pháp luận khoa học, giáo dục t tởng, chính trị, đạo đứccho học sinh Lợi thế hơn các môn học khác, môn Giáo dục công dân thực hiệnnhiệm vụ này một cách trực tiếp Đặc điểm này mở ra khả năng to lớn và tráchnhiệm nặng nề đối với môn Giáo dục công dân

Ba là, hệ thống tri thức của môn Giáo dục công dân mang tính tích hợp.

Phân tích chơng trình của môn Giáo dục công dân ta thấy nó tập trung khánhiều phân môn, chứa đựng nhiều loại kiến thức của các môn khoa học khácnhau: triết học, kinh tế, chủ nghĩa xã hội khoa học, đạo đức, pháp luật, và ởmột mức độ nhất định còn chứa đựng cả kiến thức một số môn khoa học tựnhiên

Tính tích hợp đòi hỏi môn Giáo dục công dân không chỉ xác lập phơngpháp chung đặc thù cho cả bộ môn mà còn phải có phơng pháp riêng cho từngphân môn Mỗi phân môn là một bộ môn khoa học độc lập nên cần có phơngpháp dạy học phù hợp: Dạy triết học phải khác với dạy kinh tế, đạo đức, phápluật

Bốn là, môn Giáo dục công dân đòi hỏi chặt chẽ việc dạy và học phải gắn

liền một cách trực tiếp, cụ thể với đời sống, với việc rèn luyện, tu dỡng của mỗi

Trang 27

học sinh Dạy và học Giáo dục công dân là dạy và học để trở thành công dâncủa nớc Việt Nam Bởi vậy, nếu tách khỏi thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốcViệt Nam xã hội chủ nghĩa thì việc dạy và học sẽ mất hết ý nghĩa và tác dụng.Bốn đặc điểm trên kết hợp chặt chẽ với nhau trong một hệ thống nhất quy

định nội dung và phơng pháp dạy học bộ môn Vị trí, vai trò, đặc điểm nh trêncủa bộ môn Giáo dục công dân nói rõ nó vừa là một hệ thống tri thức khoa học,vừa là một hệ thống các yêu cầu về hành vi chính trị, đạo đức Trong đó, quátrình dạy học bộ môn Giáo dục công dân chúng ta cần phải:

+ Luôn luôn đảm bảo tính khoa học cho bộ môn Giáo dục công dân, triệt

để khắc phục những nhợc điểm về hô hào chung chung, động viên t tởng chungchung Khắc phục quan niệm coi môn học này là môn chính trị thuần tuý, chỉ làmôn học phụ Mỗi bài giảng Giáo dục công dân phải là hệ thống những tri thứckhoa học, chính xác, chặt chẽ Chỉ trên cơ sở đó, môn Giáo dục công dân mới cóích về mặt giáo dục t tởng, chính trị, đạo đức

+ Luôn luôn gắn bài giảng với thực tế đời sống, đặc biệt là t tởng nhận thứccủa học sinh, mỗi giờ học mang lại cho ngời học những hiểu biết mới, kíchthích học sinh suy nghĩ, xem xét những nhận thức của bản thân Đó là nhữngnhiệm vụ chính trị của một giờ học hấp dẫn, sinh động, có hiệu quả

Cũng xuất phát từ vị trí, vai trò trên, nên trong nhà trờng môn Giáo dụccông dân là môn học không thể thay thế đợc bằng bất cứ môn học nào khác

Đó cũng là một tất yếu khách quan buộc chúng ta phải nhận thức đúng đắn

và đầy đủ vị trí của môn học này Nhận thức đúng đắn và đầy đủ vị trí của mônGiáo dục công dân, chúng ta mới có cơ sở đảm bảo thực hiện đợc mục tiêu vànhiệm vụ quan trọng của nó trong sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo củanớc nhà

2.2 Vị trí, vai trò của phần đạo đức trong chơng trình Giáo dục công dân ở trờng trung học phổ thông

Nhiệm vụ của các trờng trung học phổ thông là trang bị học vấn, bồi dỡngphẩm chất chính trị và năng lực hoạt động thực tiễn cho học sinh Tất cả cácmôn học ở trờng trung học phổ thông đều thể chế hoá nhiệm vụ trên bằng việc

Trang 28

vừa cung cấp kiến thức, vừa hình thành kỹ năng, bồi dỡng tình cảm, lý tởng chocác thế hệ học sinh.

Môn Giáo dục công dân đợc xác định có vị trí quan trọng trong việc hìnhthành thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng, phơng pháp t duykhoa học cho thế hệ trẻ Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng nhấn mạnh:

“Phải tăng cờng giáo dục công dân, giáo dục thế giới quan khoa học, lòng yêu

nớc, ý chí vơn lên vì tơng lai của bản thân và tiền đồ của đất nớc [9; 28].”Trong đó, phần đạo đức góp phần không nhỏ vào việc hoàn thành mục tiêu củachơng trình Giáo dục công dân nói riêng và của trờng trung học phổ thông nóichung

Theo chơng trình lớp 11 hiện hành, đạo đức học nằm ở phần II: “Một số

vấn đề về đạo đức xã hội chủ nghĩa” Phần này bao gồm 2 chơng: Chơng 1:

“Một số phạm trù đạo đức cơ bản”, chơng 2: “Một số vấn đề về đạo đức và

truyền thống đạo đức của dân tộc”.

Theo chơng trình mới của lớp 10 năm học 2006-2007 thì phần đạo đức lại

thuộc phần II: “Công dân với đạo đức”.

Cùng nằm ở hai khối lớp khác nhau nhng nội dung chơng trình đạo đức đã

có sự thay đổi nhất định Tuy nhiên, cả hai đều giới thiệu cho chúng ta nhữngphạm trù đạo đức cơ bản, những nguyên tắc đạo đức xã hội chủ nghĩa và một sốvấn đề về đạo đức liên quan đến đời sống thờng nhật của học sinh cùng một sốtruyền thống đạo đức của dân tộc

Qua tìm hiểu phần đạo đức, ta thấy nội dung chơng trình đợc xây dựng trêncơ sở kế thừa, phát triển kết quả giáo dục, dạy học của môn Đạo đức ở tiểu học

và môn Giáo dục công dân ở trung học cơ sở Mục tiêu, nội dung chơng trìnhgóp phần củng cố, phát triển hệ thống giá trị đạo đức, lối sống mà học sinh hìnhthành ở tiểu học và trung học cơ sở Đồng thời, giúp học sinh nhận thức về tráchnhiệm của mình đối với mọi ngời xung quanh và đối với sự nghiệp xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc; xây dựng cho học sinh phơng pháp luận đúng đắn để họ nhậnthức, có đủ bản lĩnh, đủ năng lực chủ động và tự giác xác định phơng hớng pháttriển của bản thân sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông

Những phẩm chất đạo đức, lối sống phải là những giá trị của con ngời ViệtNam thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá thể hiện ở nhận thức, hành vi và tình

Trang 29

cảm, niềm tin với t cách là một chủ thể của sự phát triển nhân cách, phát triển xãhội.

Phần đạo đức góp phần phát triển cân đối, hài hoà giữa các giá trị, giữakiến thức, kỹ năng và thái độ; giữa nhận thức và hành động của học sinh để hìnhthành ở họ tình cảm, niềm tin và ý thức trách nhiệm của tuổi trẻ trớc sự pháttriển của đất nớc

Cùng với những tri thức về triết học, chủ nghĩa xã hội khoa học, đờng lốichính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam, pháp luật của Nhà nớc Cộng hoà xãhội chủ nghĩa Việt Nam, những tri thức đạo đức đã làm hoàn thiện hệ thống trithức môn Giáo dục công dân trong nhà trờng trung học phổ thông Đồng thời,hoàn thiện những phẩm chất cần phải có của một công dân thật sự, góp phầnxây dựng đất nớc “công bằng, dân chủ, văn minh.”

Nh vậy, chỉ là một phần nhỏ nhng phần đạo đức có giá trị, vị trí và vai tròrất quan trọng trong chơng trình Giáo dục công dân ở trờng trung học phổthông

2.3 Giáo dục đạo đức thông qua giảng dạy môn Giáo dục công dân lớp 10, 11,12 và phần đạo đức

2.3.1 Nội dung giáo dục đạo đức

2.3.1.1 Nội dung giáo dục đạo đức qua giảng dạy môn Giáo dục công dân ở các trờng trung học phổ thông

Là môn học thuộc khoa học xã hội, Giáo dục công dân góp phần đào tạonên những ngời lao động mới, hình thành ở họ phẩm chất và năng lực của ngờicông dân Đó là phẩm chất về t tởng, chính trị, đạo đức và năng lực hoạt độngthực tiễn Để đạt đợc những nhiệm vụ này, môn Giáo dục công dân ở trờngtrung học phổ thông đã xây dựng cho mình một hệ thống tri thức khá đầy đủ vàlogic với những vai trò tơng ứng:

- Hệ thống tri thức triết học góp phần hình thành thế giới quan khoa học,nhân sinh quan cách mạng, phơng pháp t duy biện chứng

- Hệ thống tri thức kinh tế chính trị hình thành t duy, khoa học về các quan

điểm kinh tế của chủ nghĩa Mác- Lênin và sự vận dụng của Đảng ta trong côngcuộc xây dựng đất nớc hiện nay

Trang 30

- Hệ thống tri thức đạo đức trực tiếp hình thành những suy nghĩ, tình cảm,phẩm chất, hành động đúng đắn, phù hợp với chuẩn mực xã hội.

- Hệ thống tri thức pháp luật nhằm xây dựng ý thức chấp hành pháp luật

- Hệ thống tri thức về đờng lối của Đảng góp phần giúp học sinh nắm vững

đờng lối của Đảng, tin tởng vào sự lãnh đạo đúng đắn và vị trí không thể thaythế của Đảng trong đời sống xã hội

Nh vậy, việc giáo dục đạo đức cho học sinh qua môn Giáo dục công dân

đ-ợc tiến hành trên cơ sở nội dung khoa học của nó

Môn Giáo dục công dân có nhiều khả năng giáo dục đạo đức cho học sinh,bằng nhiều phơng diện khác nhau

- Đa vào chơng trình các bài học đạo đức và các vấn đề đạo đức vào các bài

Thông qua các bài học của mình, môn Giáo dục công dân có tác dụng giáodục đạo đức cho học sinh một cách sâu sắc

- Trong quá trình giảng dạy giáo viên không chỉ giúp học sinh hiểu sâu sắcnhững tri thức khoa học, mà cần thờng xuyên nhắc nhở cho học sinh rằng: mônGiáo dục công dân không phải là môn học không cần thiết, môn chính trị thời

sự chung chung, mà trái lại nó có vai trò to lớn, trực tiếp trong việc giáo dục đạo

đức cho học sinh Vì vậy, các em phải có niềm tin vào tri thức, phải có ý thứcvận dụng bài học để tu dỡng đạo đức trong cuộc sống

Ngày đăng: 18/12/2013, 20:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Chí Bảo , Tài liệu Giáo dục công dân 11, Nhà xuất bản giáo dục , 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Giáo dục công dân 11
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
2. Nguyễn Đăng Bằng, Góp phần dạy tốt, học tốt Giáo dục công dân ở trờng trung học phổ thông, Nhà xuất bản giáo dục, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần dạy tốt, học tốt Giáo dục công dân ở trờng trung học phổ thông
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
4. Phùng Văn Bộ, Lý luận dạy học môn giáo dục công dân, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học môn giáo dục công dân
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội
5. Mai Văn Bính, Giáo dục công dân 10, Nhà xuất bản giáo dục, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục công dân 10
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
6. Mai Văn Bính, Sách giáo viên Giáo dục công dân 10, Nhà xuất bản giáo dôc, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên Giáo dục công dân 10
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dôc
7. Nguyễn Tiến Cờng, Tài liệu Giáo dục công dân 12, Nhà xuất bản giáo dục, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Giáo dục công dân 12
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
8. Hồ Thanh Diện, Câu hỏi luyện tập Giáo dục công dân lớp 10, Nhà xuất bản giáo dục, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu hỏi luyện tập Giáo dục công dân lớp 10
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
9. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần VIII, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần VIII
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị Quốc gia
10. Vơng Tất Đạt, Phơng pháp giảng dạy Giáo dục công dân, Đại học S phạm Hà Nội I, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phơng pháp giảng dạy Giáo dục công dân
11. Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Văn kiện Đại hội Đoàn toàn quốc lần VIII, Nhà xuất bản Thanh niên Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đoàn toàn quốc lần VIII
Nhà XB: Nhà xuất bản Thanh niên Hà Nội
12. Phạm Minh Hùng, Giáo dục học I , Trờng đại học Vinh, Nghệ An, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học I
13. Nguyễn Sinh Huy, Giáo dục học đại cơng I , Nhà xuất bản giáo dục, 1993 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học đại cơng I
Nhà XB: Nhà xuất bản giáo dục
14. Nguyễn Ngọc Long, Giáo trình Đạo đức học, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Đạo đức học
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị Quốc gia Hà Nội
15. Thái Văn Thành, Giáo dục học II, Trờng đại học Vinh, Nghệ An, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học II
16. Vũ Hồng Tiến, Bồi dỡng nội dung và phơng pháp giảng dạy Giáo dục công dân 12, Nhà xuất bản đại học Quốc gia Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi dỡng nội dung và phơng pháp giảng dạy Giáo dục công dân 12
Nhà XB: Nhà xuất bản đại học Quốc gia Hà Nội
17. Chu Trọng Tuấn, Giáo dục học III, Trờng đại học Vinh, Nghệ An 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học III
3. Bộ giáo dục và đào tạo, Chỉ thị số 30/ 1998 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w