1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giáo án dạy học tác phẩm văn chương ở trường THPT hiện nay luận văn tốt nghiệp đại học

93 872 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo Án Dạy Học Tác Phẩm Văn Chương Ở Trường THPT Hiện Nay
Tác giả Mai Thị Lưu
Người hướng dẫn ThS. Lê Sử
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Phương Pháp Dạy Học Văn
Thể loại Khóa luận
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 409,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chẳng hạn, giáo án là một tập hợp các học liệu được tổ chức lại theomột kết cấu sư phạm để có thể cung cấp kiến thức, hình thành kỹ năng chongười học một cách hiệu quả thông qua sự trợ g

Trang 1

bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh

giáo án dạy học tác phẩm văn chơng

ở trờng thpt hiện nay

khóa luận tốt nghiệp đại học

chuyên ngành: phơng pháp dạy học văn

Giáo viên hớng dẫn : ths lê sử Sinh viên thực hiện : mai thị lu

48A - Ngữ Văn

Vinh - 2011

Trang 2

Lời cảm ơn

Trong quá trình học tập ở trường Đại học Vinh, tôi đã tiếp thu được những tri thức quý báu của các thầy cô giáo trong khoa ngữ văn Khóa luận này được hoàn thành ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáo hướng dẫn ThS Lê Sử, những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo trong khoa Ngữ văn và sự động viên của bạn bè Nhân dịp này tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo hướng dẫn, cùng tất cả các thầy cô trong khoa Ngữ văn và bạn bè đã giúp tôi hoàn thành khóa luận này./

Trang 3

BẢNG QUY ƯỚC VIẾT TẮT

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài ……… 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu ……….2

3 Đối tượng nghiên cứu ………3

4 Nhiệm vụ nghiên cứu ………3

5 Phương pháp nghiên cứu ……… 4

6 Cấu trúc của khóa luận ……… 4

Chương 1: GIÁO ÁN DẠY HỌC TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG Ở NHÀ TRƯỜNG THPT ……….5

1.1 Khái niệm giáo án ……… 5

1.2 Vai trò của giáo án dạy học tác phẩm văn chương ……… 6

1.3 Giáo án giảng văn truyền thống và giáo án dạy học tác phẩm văn chương ……… ………… 8

1.3.1 Giáo án giảng văn truyền thống ……… 8

1.3.1.1 Cơ chế dạy học văn cũ ……… 8

1.3.1.2 Giáo án giảng văn truyền thống ……… 11

1.3.2 Giáo án dạy học tác phẩm văn chương hiện nay ……….14

1.3.2.1 Cơ chế dạy học văn mới ……… 14

1.3.2.2 giáo án dạy học tác phẩm văn chương hiện nay ……….18

1.4 Thực trạng thiết kế giáo án ở trường THPT hiện nay ………22

Chương 2: MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG VÀ PHƯƠNG PHÁP VẬN DỤNG ĐỂ THIẾT KẾ GIÁO ÁN DẠY HỌC TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG Ở TRƯỜNG THPT HIỆN NAY ………25

2.1 Đặc trưng của phần đọc hiểu văn bản……….25

Trang 5

2.1.1 Khái quát phần đọc hiểu văn bản trong chương trình Ngữ

văn……… 25

2.1.2 Các văn bản được sắp xếp theo cụm thể loại ……… 25

2.1.3 Cấu trúc đơn vị bài học phần đọc hiểu ………26

2.1.4 Ngoài văn bản văn học chương trình còn đua thêm nhiều kiểu văn bản văn học khác như nhật dụng - thuyết minh- nghị luận ……… 27

2.2 Một số định hướng để chiếm lĩnh một tác phẩm văn chương và thiết kế giáo án ……… 27

2.2.1 Điều kiện để giáo viên thay đổi cách chiếm lĩnh một tác phẩm văn chương và thiết kế giáo án ……… 27

2.2.2 Một số định hướng cơ bản để thiết kế giáo án dạy học tác phẩm văn chương ……… 29

2.2.2.1 Nắm vững đặc trưng từng thể loại và thiết kế giáo án ………29

2.2.2.2 Giáo viên phải tập trung thiết kế các tình huống học tập cho học sinh ………42

2.2.2.3 Bám sát văn bản, SGK để thiết kế giáo án ……… 46

2.3 Một số phương pháp vận dụng thiết kế giáo án dạy học tác phẩm văn chương ……… 48

2.3.1 Phương pháp gợi mở ……… 48

2.3.2 Phương pháp nêu vấn đề ……….53

2.3.3 Phương pháp tổ chức nhóm ………57

Chương 3: THIẾT KẾ GIÁO ÁN THỂ NGHIỆM ………61

Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài ……… 62

Từ ấy ……… 74

KẾT LUẬN ……… 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO ……….86

Trang 6

Bên cạnh phân môn Tiếng Việt, Làm văn thì phần đọc hiểu cũng cómột vị trí quan trọng trong nền văn học Nhìn nhận vấn đề dạy và học phầnđọc hiểu văn bản từ góc độ vai trò của người giáo viên Theo chúng tôi việcthiết kế giáo án là một trong những hướng tiếp cận có thể mang lại nhiều ýnghĩa trong quan niệm về vai trò của người giáo viên và học sinh trong giờgiảng văn Quan niệm đúng đắn về vấn đề này sẽ là một tiền đề quan trọngcho việc đề xuất phương pháp dạy học văn một cách hiệu quả, đáp ứng yêucầu và nhiệm vụ của môn văn trong nhà trường phổ thông hiện nay.

Mặt khác, xuất phát từ vai trò của giáo án Giáo án có vai trò rất quantrọng đối với tiến trình dạy và học văn Nó định hướng cho giờ học Giúp giáoviên có sự chủ động nắm bắt kiến thức, làm chủ tri thức để truyền thụ vàhướng dẫn học sinh tìm hiểu thâm nhập sâu vào tác phẩm Qua đó rèn luyệnnăng lực đọc hiểu văn bản cho học sinh

Hiện nay nhiều giáo viên phổ thông vẫn xem nhẹ việc soạn giáo án,không ý thức được vai trò quan trọng của giáo án nên không có sự chú trọng

và đầu tư vào việc thiết kế giáo án Vì thế dễ làm cho giáo viên hoàn toànkhông có sự chủ động về kiến thức, còn học sinh sẽ chán học văn dẫn tới chấtlượng giờ học sẽ bị kém

Trang 7

Việc nghiên cứu thiết kế giáo án đã được một số nhà nghiên cứu quantâm Tuy nhiên, các công trình vẫn còn ít và mới chỉ là những vấn đề lý thuyếtrất chung chung ở dạng ý tưởng, hoặc các tác giả đưa ra những giáo án mẫu,giáo án cụ thể mà chưa đề xuất được những biện pháp, phương pháp cụ thể đểthiết kế giáo án Vì vậy vô hình trung giáo viên chỉ thụ động bám vào nhữnggiáo án soạn sẵn mà không hề nghiên cứu đào sâu tìm tòi khi thiết kế giáo án.

Với đề tài này, chúng tôi cố gắng làm nổi bật một số định hướng vàmột số phương pháp cụ thể được áp dụng trong thiết kế giáo án theo cơ chếdạy học văn mới, giúp giáo viên có những định hướng và không quá thụ độngvào giáo án mẫu khi thiết kế giáo án Mặt khác, là một giáo viên tương lai, tôi

ý thức được tính chất khó khăn phức tạp của hoạt động giảng dạy bộ môn vănnói chung và việc thiết kế giáo án nói riêng Từ đó chúng tôi cố gắng tìm tòinhững phương pháp thích hợp cho việc thiết kế giáo án mới Đồng thời việclựa chọn đề tài này sẽ giúp tôi có được những kiến thức về phương pháp nóichung và cách thiết kế giáo án nói riêng trong môn Ngữ văn để tổ chức giảngdạy giờ đọc hiểu văn bản được tốt hơn

Hy vọng với đề tài này nó sẽ góp thêm một tiếng nói nhỏ bé trong việcgiúp giáo viên thiết kế giáo án

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Có thể nói việc nghiên cứu thiết kế giáo án vẫn là một vấn đề mới mẻ,

và còn là một bài toán nan giải Tuy nhiên, vấn đề này vẫn dành được sự quantâm nghiên cứu của một số tác giả Trước hết phải kể đến tác giả Phan Trọng

Luận trong công trình Thiết kế bài học tác phẩm văn chương ở nhà trường

THPT (tập 1, 2) Ở chuyên luận này tác giả đã dành cho việc trình bày lý

thuyết về phương pháp dạy học văn trong thời kỳ hiện đại, khảo sát sơ qua về

mô hình thiết kế giáo án kiểu cũ và đặt ra những yêu cầu thiết kế giáo án theo

cơ chế dạy học văn mới Đồng thời ở chuyên luận này tác giả đã dành mộtphần lớn cho việc thiết kế giáo án thể nghiệm Thiết kế những giáo án mẫu cụ

Trang 8

thể Tuy nhiên ở công trình này, ở phần lý thuyết tác giả mới chỉ đưa ra vấn

đề và dừng lại ở những ý tưởng mà chưa có những định hướng cụ thể và chưamang tính chất gợi mở nhiều Còn phần thiết kế giáo án thể nghiệm ông vẫnchưa áp dụng được đa dạng các phương pháp

Tiếp theo Đỗ Ngọc Thống trong chuyên luận Tìm hiểu chương trình và

sách giáo khoa Ngữ văn THPT đã cung cấp cho giáo viên một số định hướng

và đưa ra một số mô hình giáo án thử nghiệm

Ngoài ra trong bộ sách Thiết kế bài giảng (Nguyễn Văn Đường chủ biên), Thiết kế giáo án (Nguyễn Hải Châu chủ biên) cũng đã đề cập tới giáo

án Tuy nhiên các bộ sách này chưa đề xuất những định hướng, nhữngphương pháp chung cho việc thiết kế giáo án dạy học tác phẩm văn chương ởtrường phổ thông mà nó mới chỉ dừng lại hướng dẫn giáo viên các bài thiết kế

cụ thể

Nhìn chung các công trình nghiên cứu nêu trên đã có những đóng gópkhá quan trọng cho giáo viên thiết kế giáo án dạy học tác phẩm văn chương ởtrường phổ thông hiện nay Tuy nhiên các cuốn sách vẫn còn tồn tại nhữnghạn chế nhất định, chưa đưa ra những định hướng chung và các phương phápgiúp giáo viên thiết kế giáo án Vì thế chúng chưa trở thành những tài liệu có

ý nghĩa chỉ đạo chung về mặt nguyên tắc để định hướng cho việc thiết kế giáo

án dạy học tác phẩm văn chương ở trường phổ thông

Như vậy lịch sử nghiên cứu của đề tài giáo án dạy học tác phẩm vănchương ở trường THPT còn khá mới mẻ Chính vì vậy khóa luận của chúngtôi hứa hẹn sẽ cung cấp hướng đi mới trong việc thiết kế giáo án dạy học tácphẩm văn chương ở trường phổ thông hiện nay

3 Đối tượng nghiên cứu

Ở khóa luận này, chúng tôi đi sâu tìm hiểu vấn đề Giáo án dạy học tác

phẩm văn chương ở trường THPT trên một số phương diện định hướng và

phương pháp thiết kế giáo án hiện nay

Trang 9

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Do đề tài này là một đề tài vốn khá mới và có ý nghĩa lớn trong hoạtđộng dạy học văn nói chung và việc thiết kế giáo án cho giáo viên hiện naynói riêng Nên tiến hành đề tài này chúng tôi sẽ thực hiện một số nhiệm vụsau:

- Tìm hiểu cơ chế dạy học văn cũ, cơ chế dạy học văn mới Đặc điểmcủa giáo án giảng văn truyền thống, đặc điểm giáo án theo cơ chế dạy học vănmới

- Chỉ ra những định hướng để thiết kế giáo án mới và một số phươngpháp mới được vận dụng để thiết kế giáo án mới

- Thiết kế giáo án thể nghiệm

5 Phương pháp nghiên cứu

Để tiến hành nghiên cứu đề tài, chúng tôi sử dụng các phương phápnghiên cứu sau:

- Phương pháp phân tích - tổng hợp

- Phương pháp so sánh - đối chiếu

- Phương pháp khảo sát - đánh giá

- Phương pháp thiết kế - thể nghiệm

6 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chínhcủa khóa luận được triển khai trong 3 chương:

Chương 1: Giáo án dạy học tác phẩm văn chương ở nhà trường THPTChương 2: Một số định hướng và phương pháp vận dụng để thiết kếgiáo án dạy học tác phẩm văn chương ở trường THPT hiện nay

Chương 3: Thiết kế giáo án thể nghiệm

Trang 10

Chương 1

GIÁO ÁN DẠY HỌC TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG Ở NHÀ TRƯỜNG THPT

1.1 Khái niệm giáo án

Giáo án là một khái niệm rất phức tạp Tùy theo quan niệm dạy học củathời đại hay sự thay đổi phương pháp dạy học mà cách hiểu về giáo án cũngthay đổi Giáo án trước đây được hiểu như là một bản kế hoạch lên lớp củathầy Nhưng về sau nó càng được mở rộng cho phù hợp với quan niệm dạyhọc mới Chẳng hạn, giáo án là một tập hợp các học liệu được tổ chức lại theomột kết cấu sư phạm để có thể cung cấp kiến thức, hình thành kỹ năng chongười học một cách hiệu quả thông qua sự trợ giúp hướng dẫn của giáo viên.Hay giáo án được hiểu như là một bản thiết kế, trong đó thầy đóng vai tròthiết kế chủ đạo, học sinh đóng vai trò thi công và do đó giáo án là việc thiết

kế một chuỗi hành động việc làm cho học sinh

Từ nhiều cách hiểu trên, chúng tôi đưa ra một cách hiểu chung nhất vềgiáo án Giáo án là một bản kế hoạch trong đó nó xác định về cơ bản nộidung, phương pháp dạy và học của thầy và trò trong tính thống nhất và sự tácđộng qua lại lẫn nhau Trong đó thầy giáo với tư cách là người chủ đạo đểphát huy tính tích cực, tự giác sáng tạo và độc lập của học sinh Mỗi giáo ánphải thể hiện được mục tiêu của bài học trong chương trình Giáo án trình bàyđược những kiến thức cơ bản, cách thức tổ chức hoạt động dạy và hoạt độnghọc Một giáo án muốn đạt chất lượng cao thì đòi hỏi người giáo viên phải có

sự đầu tư đồng thời phải quán triệt tinh thần cơ bản của chương trình

Các bước chung thiết kế một giáo án:

* Xác định mục tiêu của bài học Để xác định mục tiêu cụ thể của mộtbài học giáo viên cần phải:

Trang 11

- Dựa vào nội dung chương trình và thực trạng nhận thức của học sinhnêu những điều kiện có thể thực hiện được Do vậy tùy từng bài học mà mụctiêu có thể đầy đủ các mặt (kiến thức, kỹ năng, thái độ) hay không.

- Nêu mục tiêu phải sát hợp với chương trình và được thể hiện trongnội dung bài học Dựa vào các mục tiêu bài học có thể khảo sát đánh giá bàihọc

* Xác định nội dung bài học Đó là xác định những nội dung cơ bảntrên cơ sở dự kiến các tình huống trả lời của học sinh

* Làm dàn bài tiết học Tức là làm kế hoạch chi tiết của bài học và giáoviên phải vạch ra từng nét đặc thù trong từng khâu của tiết học, những chi tiết

cụ thể Dự kiến phân thời gian cho từng bước, chú ý tới những đối xử có phânhóa tới học sinh

* Viết giáo án bài học Giáo án được viết thành văn là kết quả chuẩn bịcủa tất cả các bước trên

1.2 Vai trò của giáo án dạy học tác phẩm văn chương

Giáo án giờ học tác phẩm văn chương là bản kế hoạch nhằm chươngtrình hóa vật chất hóa hoạt động của thầy và trò trên lớp để chiếm lĩnh một tácphẩm Trong đó hoạt động của giáo viên là thiết kế các tình huống học tập,hướng dẫn học sinh giải quyết các vấn đề liên quan đến văn bản Còn hoạtđộng của trò là dưới sự định hướng của giáo viên tự mình tìm tòi chiếm lĩnhnội dung kiến thức của tác phẩm cũng như những tư tưởng trong tác phẩm

Thiết kế một giáo án dạy học một tác phẩm văn chương là điều không

dễ dàng bởi lý thuyết đã khó và thiết kế vào các bài văn lại khó gấp bội Khithiết kế giáo án của một tác phẩm chúng ta phải đương đầu với những tácphẩm văn chương cụ thể (nhất là những tác phẩm xuất sắc lại đa nghĩa)

Có được kết quả trên trang giáo án để dạy học một tác phẩm vănchương là cả một quá trình lao động, sự nỗ lực cố gắng tìm tòi sáng tạo củagiáo viên cùng những băn khoăn trăn trở Vì thế trong dạy học văn chúng ta

Trang 12

không thể không nhắc tới vai trò to lớn của giáo án mà giáo viên đã dày côngthiết kế.

Về phía giáo viên: Có được giáo án trong tay với đầy đủ kiến thức,những tình huống học tập, những dự kiến về các phương án trả lời của họcsinh Từ đó giáo viên sẽ vững vàng tự tin khi lên bục giảng bởi kiến thức vềmột tác phẩm, một bài học, những tình huống sư phạm đã được trang bị đầy

đủ Vì thế giờ học văn sẽ đạt hiệu quả cao nhất Người giáo viên có thể khẳngđịnh được năng lực, khả năng sư phạm của bản thân trước học trò Ngược lạinếu không có sự chuẩn bị chu đáo về giáo án, hay không chuẩn bị giáo ántrước khi lên lớp thì có thể giáo viên sẽ không tự tin, không khẳng định đượcnăng lực, thậm chí do không có sự tìm tòi chuẩn bị thì chính bản thân giáoviên cũng chưa thông hiểu hết về tác phẩm, và trước những băn khoăn trăn trởthắc mắc của học trò, giáo viên khó mà giải đáp Như vậy nhờ những giáo ánvới sự chuẩn bị, giáo viên có thể trở thành một nhà đạo diễn, nhà soạn kịch tài

ba, người dẫn đường cho học trò Nhưng nếu không chuẩn bị giáo án trước,giáo viên cũng có thể trở thành chú hề tự đánh mất mình trước học trò

Về phía học sinh: Những trang giáo án mà giáo viên đã chuẩn bị vớibiết bao tình huống học tập từ đó đặt học sinh trước những thử thách, buộccác em phải suy nghĩ tư duy và sẽ kích thích được tư duy, rèn luyện kỹ năngđọc văn của người học, đặc biệt là gieo niềm say mê, yêu văn chương trongmỗi học sinh Đồng thời trên cơ sở giải đáp những tình huống học tập, họcsinh sẽ từng bước nắm bắt tác phẩm tiến tới chiếm lĩnh trọn vẹn tác phẩm vàcác em sẽ có cơ hội nói lên được những suy tư rung động của chính trái timmình về “đứa con tinh thần của nhà văn” Thông qua đó, học sinh có thể traođổi trò chuyện với giáo viên, với nhà văn, làm cho tác phẩm văn chương thực

sự trở thành đối tượng “động” chứ không phải “tĩnh”

Như vậy giáo án được xem như là chiếc chìa khóa để nâng cao chấtlượng dạy học văn trong nhà trường phổ thông Đó là cầu nối tạo nên mối

Trang 13

quan hệ đa phương trong dạy học hiện đại đáp ứng yêu cầu của giáo dục hiệnnay.

1.3 Giáo án giảng văn truyền thống và giáo án dạy học tác phẩm văn chương hiện nay

1.3.1 Giáo án giảng văn truyền thống

Giáo án giảng văn truyền thống là sản phẩm của cơ chế dạy học văn cũ

Để tìm hiểu được giáo án giảng văn truyền thống trước hết ta phải tìm hiểu cơchế dạy học văn cũ là cơ chế như thế nào

1.3.1.1 Cơ chế dạy học văn cũ

Cơ chế dạy học văn là quá trình vận hành của ba nhân tố: Giáo viên,học sinh, bài văn trong quá trình dạy học nhằm đạt được mục tiêu đã đượcquy định Từ khi phương pháp dạy học văn manh nha xuất hiện và được ápdụng giảng dạy trong nhà trường phổ thông thì hệ thống phương pháp dạy họcnày được dạy theo một cơ chế mà gọi là cơ chế dạy học văn cũ Vậy cơ chếdạy học văn cũ là khái niệm để chỉ bản chất của quá trình dạy học văn trướcquá trình đổi mới

Khi nói đến cơ chế dạy học văn cũ là nói đến từng nhân tố bao gồmgiáo viên, học sinh, bài văn và mối quan hệ của các nhân tố ấy

* Các nhân tố trong cơ chế dạy học văn cũ

Thứ nhất là nhân tố học sinh, nhân tố học sinh trong cơ chế dạy họcvăn cũ được xem là một khách thể thụ động một đối tượng chịu sự tác động từphía giáo viên bằng hệ thống các biện pháp sư phạm Vì vậy hoạt động chủyếu của học sinh trong giờ học là lắng nghe lời giáo viên, ghi chép bài, lĩnhhội kiến thức sau đó tái hiện lại khi giáo viên yêu cầu Học sinh được xemnhư là một cái bình chứa mà giáo viên là người rót nước vào cái bình ấy Hay

có nhiều hình ảnh ví với hình ảnh người học sinh Học sinh như những cáibóng mờ mờ nhân ảnh hay như những người đi trong đêm tối

Trang 14

Học sinh bị xem là nhân tố thụ động nên hoàn toàn bị áp đặt về kiếnthức ngay cả những tình cảm cảm xúc cũng bị khống chế Do đó học sinhkhông có cơ hội nói lên những tâm tư tình cảm của chính trái tim mình, haykhông thể đi tìm lời giải cho những băn khoăn trăn trở của riêng bản thân.Dẫn đến người học dường như có sự thờ ơ với số phận nhân vật với tiếng nóitâm tình của nhà văn trong tác phẩm.

Mặt khác do không được tự do trình bày những ý kiến, suy nghĩ củamình mà học sinh chỉ tiếp nhận những điều giáo viên mớm sẵn Nên học sinhhoàn toàn không có sự sáng tạo, độc lập suy nghĩ đặc biệt là bị thui chột vềkhả năng tư duy Dẫn đến học sinh hoàn toàn không có những phản ứng hayđối thoại với giáo viên mà chỉ im lặng tiếp nhận

Trong cơ chế cũ, tất cả học sinh đều được cào bằng như nhau bởi chúngcùng lắng nghe và tiếp nhận một nội dung như nhau Những quan niệm nhưtrên về học trò nên dẫn đến ta có thể bắt gặp nhiều học sinh khi tốt nghiệpTHPT mà không biết viết một lá đơn, không soạn thảo nổi một bài báo cáo,không có sự tự tin khi trình bày ý kiến của mình về một vấn đề văn học haycuộc sống

Như vậy, trong cơ chế cũ thì học sinh - đối tượng đáng phải chiếm lĩnhtri thức lại trở thành nô lệ của sách vở…

Thứ hai là nhân tố giáo viên, người giáo viên trong cơ chế dạy học văn

cũ có vai trò độc tôn, quyền uy tuyệt đối Thầy giáo được xem là bộ báchkhoa toàn thư hay cũng như những bà bảo mẫu mớm ăn cho trẻ, là một cáimáy phát Thầy là người mang sẵn chân lý đến cho học sinh và học sinh mặcnhiên thừa nhận Vì vậy trong cơ chế cũ thầy giáo là người cảm thụ tác phẩmthay cho học sinh Giáo viên có sự tìm tòi khám phá phân tích bài văn sau đólên lớp truyền thụ lại cho học sinh Trên bục giảng thầy chỉ làm nhiệm vụthuyết trình, say sưa với sự chuẩn bị sẵn của mình mà không quan tâm tới

Trang 15

việc học sinh có tiếp thu được hay không Thầy chỉ cố gắng thể hiện kiến thứccủa mình và cố bê hết kiến thức đó vào đầu học trò.

Trong cơ chế cũ, người giáo viên cũng có sự nhận thức quá đơn giản vềtác phẩm Hầu như họ có sự đồng nhất giữa văn bản của nhà văn với tác phẩmvăn chương trong nhà trường Họ không hiểu rằng văn bản chỉ trở thành tácphẩm và tác phẩm chị thực sự đi vào cơ chế dạy học văn khi nó trở thành đốitượng lý thú được sự quan tâm của bản thân học sinh, từ chỗ nó là tiếng nóinội tâm của nhà văn phải trở thành tiếng nói nội tâm của học sinh Vì thế giáoviên cố gắng áp đặt tất cả lên học sinh kể cả cách cảm, cách nghĩ của mình

Như vậy, trong cơ chế cũ, giáo viên như một người độc thoại, độc diễntrên bục giảng

Thứ ba là nhân tố bài văn, bài văn trong cơ chế dạy học văn cũ đượcxem như là một hiện tượng tĩnh được nhìn nhận một cách tĩnh tại siêu hìnhnhư một khối kiến thức có thể bê nguyên xi từ SGK vào đầu học sinh màkhông hề thay đổi hình thái Bài văn tách rời đối tượng tiếp nhận kiến thức vàcon đường vận động của bản thân chủ thể chiếm lĩnh khối lượng kiến thức đó

Nó không trở thành đối tượng hấp dẫn sâu sắc đối với học sinh

* Mối quan hệ của ba nhân tố giáo viên – học sinh và bài văn trong cơchế cũ

Những sai lầm cơ bản cùng với những quan niệm phiến diện về cácnhân tố trong cơ chế cũ dẫn tới mối quan hệ của các nhân tố trong cơ chế dạyhọc văn cũ cũng có nhiều bất cập và đó là những mối quan hệ một chiều

Với cơ chế dạy học văn cũ giáo viên sau khi nắm vững nội dung bàivăn thì truyền đạt lại cho học sinh Giáo viên là người cảm thụ thay cho họcsinh nên giáo viên sẽ không thể tạo được sự cộng hưởng cảm xúc, một tâmthế đồng tình với học sinh Vì vậy mối quan hệ giữa giáo viên và bài văn cóthể được xác lập thông qua việc cảm bài văn của giáo viên Nhưng mối quan

hệ giữa giáo viên với học sinh chỉ là mối quan hệ giữa người giảng với người

Trang 16

nghe, người truyền thụ với người tiếp nhận, người trình bày với người ghinhớ Còn mối quan hệ giữa học sinh với bài văn là mối quan hệ gián tiếp vàmối quan hệ này có thể bị phá vỡ bởi học sinh không được tiếp xúc với bàivăn không được đọc, không được độc lập phát hiện ý nghĩa của bài văn màchỉ hời hợt tiếp nhận qua lời giảng của giáo viên Từ đây dẫn tới mối quan hệgiữa học sinh với nhà văn cũng bị xóa bỏ.

Như vậy, cơ chế dạy học văn cũ là một cơ chế dạy học mà tồn tại nhiềubất cập làm suy giảm chất lượng dạy học văn Đồng thời gây nhiều hậu quảnhư làm học sinh chán học văn, ngại học văn, các kỹ năng nghe, nói, đọc, viếtcủa học sinh không được hình thành và rèn luyện Học sinh không có cơ hộitrình bày ý kiến suy nghĩ nên không có thói quen chủ động tìm hiểu tác phẩm,không kích thích được tư duy của học sinh - yêu cầu cao nhất của dạy họchiện đại Còn giáo viên có thể ngày càng xơ cứng trong cách dạy, mất đi sựnhạy cảm trong mối quan hệ với học sinh

1.3.1.2 Giáo án giảng văn truyền thống

Giáo án giảng văn truyền thống là giáo án thuộc về cơ chế dạy học văn

cũ Giáo án là phần soạn bài của giáo viên trước khi lên lớp Mục đích củaphần bài soạn này là làm sao truyền thụ những nội dung, thông tin định sẵntheo ý muốn chủ quan của giáo viên

Nó là sự sắp xếp logic kết cấu sao cho thích hợp với nội dung bài cầntruyền đạt Nội dung cần truyền đạt chỉ căn cứ vào nội dung tác phẩm Nóicách khác giáo án là một hệ thống các ý lớn, ý nhỏ, chỗ nào nêu câu hỏi, sau

đó chép nội dung gì, giá trị nội dung gồm mấy điểm, giá trị nghệ thuật gồmmấy điểm Cố gắng khai thác cho hết không được bỏ sót điểm nào, nếu có chú

ý tới phương pháp thì phần này cũng bị coi nhẹ và hiểu phương pháp như làhoạt động hình thức bề ngoài của thầy, lúc nào phát vấn, lúc nào diễn giảng,lúc nào phân tích, lúc nào liên hệ thực tế, hoàn toàn không phải là phươngpháp giúp học sinh thâm nhập vào tác phẩm để khám phá tác phẩm Như vậy

Trang 17

logic bài soạn giáo án chỉ dựa vào logic bài văn và logic lập luận của ngườitrình bày mà không tính đến logic tiếp nhận của chủ thể học sinh - vốn lànhân vật trung tâm của giờ học.

Giáo án là một bản đề cương, một bản kế hoạch nhằm tổ chức sắp xếpnhững việc làm của giáo viên để truyền thụ một phía đến người học qua lờidiễn giảng của mình Giáo án cũng chưa thể hiện những cố gắng cần thiết củagiáo viên để phát huy vai trò chủ thể học sinh Thời gian lên lớp chỉ dành chogiáo viên thuyết trình, phần lao động của học sinh hầu như không có Nhưvậy giáo án không có sự kết hợp hài hòa giữa hoạt động của giáo viên và hoạtđộng của học sinh

Trong giáo án cũ không xuất hiện những tình huống học tập, nhữnghoạt động chủ đạo của học trò Việc bắt gặp những câu hỏi có vấn đề đòi hỏisuy ngẫm, phân tích đánh giá bàn bạc trong giáo án cũ là rất hiếm hoi và nếu

có thì rất tùy tiện Thay vào đó là những câu hỏi mang tính chất yêu cầu táihiện kiểu như: Theo em câu thơ đầu có nội dung gì? Khổ thơ cuối thể hiệnđiều gì?

Khi thiết kế giáo án, giáo viên chưa thực sự quan tâm đến đặc trưng thểloại của tác phẩm mà dường như có sự cào bằng mọi tác phẩm theo một môhình được rập khuôn máy móc Chẳng hạn dạy học tác phẩm trữ tình màkhông chú ý tới nhân vật trữ tình với những chuyển biến của thế giới nội tâm

mà chỉ lý giải, chú ý tới yếu tố bề nổi của ngôn từ

Xuất phát từ quan niệm như trên nên khi thiết kế giáo án, giáo viên chỉthiết kế thiên về sự cảm thụ cảm tính, thiên về những rung động của bản thân

mà nhẹ về quan niệm tính Nhiều giáo viên còn xem giáo án như một sự phiềntoái, gò bó, giáo viên có cái nhìn đơn giản hóa về nó mà không ý thức đượcrằng nó là cả một quá trình tổng hợp nhiều yếu tố như phải có quá trình hoạtđộng tham gia của cả giáo viên và cả học sinh

Giáo án truyền thống có mô hình cấu tạo như sau:

Trang 18

A Mục đích yêu cầu của giáo án

1 Về kiến thức

2 Về kỹ năng

3 Về thái độ (giáo dục tư tưởng tình cảm cho học sinh)

B Xác định các phương tiện dạy học (dạy học bằng cái gì, sử dụngnhững phương tiện gì?)

C Cách thức tiến hành (dùng những phương pháp gì để dạy học? Vàtiến hành bài học theo kiểu nào (bổ dọc hay bổ ngang)?

D Phần thiết kế nội dung bài học

1 ổn định trật tự lớp

2 Kiểm tra bài cũ

3 Giới thiệu bài học mới

4 Nội dung bài mới

5 Tổng kết, củng cố dặn dò học sinh

Về hình thức, thì cơ bản một giáo án giảng văn truyền thống chia tờgiấy làm hai phần: Phần bên phải nhiều hơn ghi nội dung bài học, phần bêntrái ghi hoạt động của giáo viên (ghi những câu hỏi, những phần cần lưu ý củagiáo viên khi lên lớp)

Từ mô hình ấy mà khi lên lớp giáo viên sẽ trình bày bài học theo mộttrình tự: Ổn định lớp học - kiểm tra bài cũ - giảng nội dung bài mới - cuốicùng là tổng kết dặn dò học sinh Nhiều giáo viên đã tuân thủ theo cấu tạocách dạy đó một cách máy móc suốt năm này qua năm khác cho tất cả mọikiểu bài, và mọi đối tượng học sinh khác nhau

Do giáo án chỉ soạn nội dung thuyết trình của giáo viên trên lớp và vớicách soạn chỉ chú ý đến logic sự trình bày của giáo viên trên lớp Nên giáo ántruyền thống sẽ có những ưu điểm và nhược điểm sau:

* Về ưu điểm: Giáo án có sự hệ thống chặt chẽ logic, sắp xếp trật tự nộidung các phần của bài học theo một trình tự hợp lý, tạo nên sự mạch lạc liên

Trang 19

kết giữa các phần trong bài học làm kiến thức không bị xé lẻ vụn vặt Đồngthời nó cũng tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên khi lên lớp, cho phép giáoviên chủ động nắm bắt kiến thức tiến tới trình bày kiến thức đã chuẩn bị sẵnmột cách hệ thống, rõ ràng mạch lạc, chính xác và nhanh chóng đến ngườihọc Mặt khác, việc soạn giáo án có thể tiết kiệm được thời gian do giáo viênkhông phải thiết kế nhiều hoạt động cho học sinh cũng không phải dự tínhđến các phương án mà học sinh trả lời.

*Nhược điểm: Do soạn phần nội dung thuyết trình là chủ yếu sẽ khiếngiờ học khi lên lớp trở nên đơn điệu nhàm chán, thậm chí bục giảng sẽ trởthành nơi cho giáo viên độc diễn, không gây hứng thú cho học sinh học tập.Học sinh dễ trở thành một đối tượng thụ động với hoạt động chủ yếu là lắngnghe, ghi chép và tái hiện lại khi giáo viên yêu cầu nên sẽ không kích thíchđược khả năng suy nghĩ độc lập sáng tạo của học sinh Đặc biệt với cách soạngiáo án như thế thì giáo viên sẽ áp đặt cho học sinh cách nghĩ, cách cảm củamình gây áp lực căng thẳng cho các em không kích thích đánh động được tưduy của các em, dẫn tới tình trạng học sinh học nhưng không hiểu hay họcmột cách máy móc theo giáo viên Cũng do dành thời gian để thuyết trình nênkhi lên lớp giáo viên phải mải miết trình bày và cố gắng truyền đạt hết nộidung đã chuẩn bị sẵn vì thế giáo viên không chủ động về thời gian khi lênlớp

Như vậy, giáo án giảng văn truyền thống hoàn toàn thoát ly xa rờikhông dựa vào hoạt động bên trong của chủ thể học sinh, quá trình vận động

tự thân của học sinh, nên không thể phát huy vai trò trung tâm của người học

để người học tự mình chiếm lĩnh tác phẩm Vì thế một yêu cầu đặt ra là phảithay đổi cách thiết kế giáo án để tạo ra một giáo án mới mà nó phát huy đượcvai trò chủ thể của học sinh

1.3.2 Giáo án dạy học tác phẩm văn chương hiện nay

1.3.2.1 Cơ chế dạy học văn mới

Trang 20

Sự phát triển mạnh mẽ nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là

sự bùng nổ công nghệ thông tin với vốn kiến thức khoa học, số lượng các tàiliệu khoa học, thông tin khoa học và đội ngũ các nhà khoa học tăng lên gấpbội Trong khi đó những tri thức con người thu nhận trên ghế nhà trườngkhông ngừng bị lạc hậu và tri thức mà học sinh tiếp nhận trên ghế nhà trườngcũng bị lão hóa rất nhanh Đồng thời một thời đại với sự phát triển cao củakhoa học kỹ thuật đòi hỏi con người không chỉ nắm bắt thật nhiều kiến thức

mà phải có sự năng động, khả năng sáng tạo đặc biệt là óc tư duy nhanh nhạytrong việc nắm bắt và xử lý thông tin, cũng như nhạy cảm với cái mới

Từ những yêu cầu của thực tiễn, đặt ra yêu cầu cấp thiết với nền giáodục phải đào tạo ra những con người thực sự có năng lực, để phục vụ chochính cuộc sống của con người đó Vấn đề đặt ra là phải thay đổi cơ chế dạyhọc nói chung, trong đó cơ chế dạy học văn nói riêng Bởi cơ chế dạy học văn

cũ với vai trò độc tôn của người thầy không còn phù hợp nữa và bây giờ giáodục phổ thông phải làm sao “phát huy tính tích cực tự giác chủ động sáng tạocủa học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡngphương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn tác

động đến tình cảm đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh” (Luật

Giáo dục, 2005).

Trên cơ sở đó, cơ chế dạy học văn mới ra đời với mục đích lấy học làmtrung tâm thay vì lấy dạy làm trung tâm Và đã có sự thay đổi trong quanniệm về các nhân tố: Giáo viên - học sinh - bài văn và mối quan hệ của cácnhân tố ấy

*Các nhân tố trong cơ chế dạy học văn mới

Đầu tiên là nhân tố giáo viên, người giáo viên trong cơ chế dạy học vănmới có những thay đổi căn bản về bản chất, chức năng so với người giáo viêntrong cơ chế dạy học văn cũ Nếu người giáo viên trong cơ chế dạy học văn

cũ chỉ nắm thật vững kiến thức sau đó truyền thụ lại cho học sinh thì người

Trang 21

giáo viên trong cơ chế dạy học văn mới đóng vai trò là người tổ chức hướngdẫn việc tìm kiếm chân lý của học sinh Có nhiều cách diễn đạt hình ảnh vềngười giáo viên trong cơ chế mới Chẳng hạn giáo viên là người cố vấn, lànhạc trưởng không đệm đàn như những nhạc công hay học sinh là nhữngngọn nến và giáo viên là người thắp sáng lên ngọn lửa.

Người giáo viên trong cơ chế mới không làm thay công việc cho họcsinh cũng không cảm thụ thay tác phẩm cho học sinh mà họ chỉ như nhữngngười truyền lửa, truyền cảm hứng khơi gợi nhu cầu học tập của học sinh, làmcho động cơ học tập của học sinh được thôi thúc, và sau đó thúc đẩy sự sángtạo của các em

Nội dung công việc của người giáo viên rất đa dạng tùy thuộc vào nộidung từng bài học, vào những tình huống cụ thể khác nhau của mỗi giờ học

Đó có thể là nêu các tình huống học tập, các câu hỏi, nhận xét câu trả lời củangười học, bổ sung nhấn mạnh kiến thức hoặc có sự động viên đúng mức đểphát triển tư duy của người học Đồng thời rất có thể những câu trả lời củahọc sinh không phải là lúc nào cũng theo như giáo án của giáo viên hay giữahọc sinh có những vấn đề tranh cãi thì đây là lúc người giáo viên phải thể hiệntài năng, năng lực sư phạm của mình để dẫn dắt định hướng hướng dẫn họcsinh đi đúng hướng, để chiếm lĩnh trọn vẹn ý nghĩa tác phẩm

Từ vai trò của người giáo viên trong cơ chế mới, ta thấy họ có nhiệm

vụ, công việc khó khăn, phức tạp hơn người giáo viên trong cơ chế cũ Nhiệm

vụ của họ không đơn giản là truyền thụ lại kiến thức mà phải nhào nặn nó, đểlàm sao người học với năng lực của bản thân thì có thể tự mình thông qua nỗlực học tập, để khám phá chiếm lĩnh tri thức, hình thành được kỹ năng Nhưvậy người giáo viên phải cụ thể hóa quá trình học tập thành các tình huốnghọc tập, vật chất nó thành hệ thống các câu hỏi Đây là công việc đòi hỏinhiều công sức và đặt ra những yêu cầu phức tạp cho người giáo viên Đó làphải nắm bắt đặc điểm tâm sinh lý cũng như khả năng, trình độ vốn hiểu biết

Trang 22

của học sinh, mà điều chỉnh giờ học và đặt ra những tình huống, những vấn

đề phù hợp với năng lực của người học

Thứ hai là, nhân tố học sinh, bên cạnh cái nhìn không phiến diện vềngười giáo viên, thì trong cơ chế mới, học sinh đã được nhìn với cái nhìn toàndiện Nếu cơ chế cũ xem học sinh là nhân tố thụ động chỉ biết lắng nghe, ghichép như một cái máy thì cơ chế dạy học văn mới xem học sinh là nhân tốtrung tâm của hoạt động dạy - học Là chủ thể - tích cực - độc lập - sáng tạo.Chủ thể là con người có ý thức ý chí đối lập với khách thể bên ngoài Tíchcực là huy động tối đa mọi khả năng của bản thân trong hoạt động học tập.Độc lập là tự mình phát hiện, tự mình giải quyết vấn đề Sáng tạo là phát hiện

ra những cách giải quyết vấn đề, con đường phương pháp mới nhằm giảiquyết hiệu quả tình huống học tập

Như vậy học trò là đối tượng trung tâm có khả năng tự mình biết suynghĩ một cách độc lập, tự mình đặt ra vấn đề, giải quyết vấn đề và có khảnăng diễn đạt một cách lôgic những vấn đề mình đặt ra Đặc biệt học trò phảibiết biến kiến thức tiếp thu được từ giáo viên thành kiến thức của bản thân

Từ đây giúp học sinh có những phản hồi lại với bài giảng của giáo viên Qua

đó học sinh không chỉ lĩnh hội được kiến thức mà còn phát triển nhiều mặtnhư nhân cách, trau dồi khả năng giao tiếp, hình thành được các kỹ năng…

Như vậy với cơ chế mới, học sinh sẽ trở thành người khám phá tri thức

và có khả năng tự mình cảm thụ tác phẩm một cách trọn vẹn với những giá trịchân thực và sức hấp dẫn nghệ thuật trong văn chương Đồng thời các em biếtrung cảm với nhịp đập trái tim của con người trước cuộc sống muôn màumuôn vẻ, biết mài sắc trí tuệ, biết bồi đắp tình yêu con người, yêu cuộc sống,căm ghét cái xấu xa, hèn hạ… Đặc biệt nhờ những sự thật đời sống được mô

tả trong văn học mà giúp các em tích cực tham gia vào cuộc sống xã hội vàcác hoạt động văn học

Trang 23

Ba là nhân tố bài văn, cơ chế dạy học văn mới quan niệm bài văn có thểthay đổi hình thái qua quá trình chiếm lĩnh của người học, và yêu cầu cao đốivới việc gia công sư phạm để người học dễ dàng chiếm lĩnh nó Dưới sự địnhhướng dẫn dắt của giáo viên, học sinh thực sự được tiếp xúc với bài văn cónhững suy nghĩ cảm nhận riêng vì thế bài văn có thể được cắt nghĩa lý giảiphát hiện nhiều tầng bậc ý nghĩa, thậm chí ý nghĩa của nó còn có thể được mởrộng hơn cả những ý định ban đầu trong sự sáng tạo của tác giả

Như vậy bài văn không còn là một hình thái kiến thức tĩnh mà trở nênsinh động và nó chính là cơ sở để học sinh rút ngắn khoảng cách của mình vớinhà văn

* Mối quan hệ của ba nhân tố giáo viên - học sinh và bài văn

Cơ chế dạy học văn mới tôn trọng mối quan hệ nhiều chiều giữa giáoviên - học sinh và bài văn Mối quan hệ giữa học sinh và bài văn là mối quan

hệ trực tiếp Học sinh tự mình tiếp xúc, khám phá và chiếm lĩnh ý nghĩa bàivăn dưới sự định hướng của giáo viên Đồng thời mối quan hệ giữa giáo viên

và học sinh không còn là mối quan hệ giữa người giảng với người nghe,người trình bày với người ghi chép mà nó hình thành trên cơ sở tinh thần đốithoại sâu sắc giữa thầy và trò Đây là mối quan hệ đa chiều, học trò có thể tròchuyện với tác giả qua yếu tố trung gian là giáo viên và bài văn

Việc tiến hành áp dụng cơ chế mới trong dạy học văn giúp người họcsay mê hứng thú học, phát triển ở các em tư duy độc lập sáng tạo đặc biệt làrèn luyện nhân cách cho các em Vì vậy học văn theo cơ chế này không đơnthuần là học văn nữa mà là học làm người

1.3.2.2 Giáo án dạy học tác phẩm văn chương hiện nay

Trên tinh thần đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới cơ chế dạy họcvăn thì yêu cầu đặt ra là giáo viên phải làm sao tạo ra một giáo án mới phùhợp với quan niệm dạy học hiện đại Có thể nói giáo án dạy học một tác phẩmvăn chương là sản phẩm của cơ chế dạy học văn mới

Trang 24

Giáo án mới không phải là một bản đề cương để truyền thụ những lờidiễn giảng của giáo viên mà là một bản kế hoạch nhằm chương trình hóa, vậtchất hóa hoạt động của thầy và trò trên lớp Hoạt động của thầy là tổ chứchướng dẫn học sinh giải quyết các vấn đề có liên quan đến văn bản mà giáoviên đặt ra Còn hoạt động của trò là dưới sự hướng dẫn của giáo viên tự mìnhphát hiện, giải quyết vấn đề tiến tới chiếm lĩnh tác phẩm Vì vậy nội dung cơbản cốt lõi chính yếu của một thiết kế giờ học tác phẩm văn chương bao gồmhai thành tố hữu cơ: Một là những tình huống học tập được đặt ra từ nội dungkhách quan của tác phẩm, mà phù hợp với trình độ và đặc điểm tiếp nhận tácphẩm văn chương của học sinh Hai là một hệ thống các thao tác được giáoviên sắp xếp hợp lý nhằm hướng dẫn học sinh từng bước xử lý để tiếp cậnchiếm lĩnh tác phẩm một cách sáng tạo Vậy giáo án mới là bản thiết kế giờdạy – học trên tinh thần thầy thiết kế, trò thi công.

Như vậy kết cấu giờ dạy học sẽ là kết cấu của những tình huống họctập và hệ thống các thao tác tương ứng chứ không phải là việc sắp xếp nhữngviệc làm của giáo viên trên lớp để truyền thụ một phía cho học sinh Tiếntrình hoạt động giờ học do vậy là tiến trình hoạt động thực sự của bản thânchủ thể học sinh Và giáo án phải linh hoạt, phù hợp với đặc trưng nội dungtừng tác phẩm, từng đặc điểm học tập của từng học sinh, từng lớp Để đạtnhững mục tiêu trên thì giáo án mới phải đảm bảo các yêu cầu như sau

Trước hết giáo án phải phát huy tối đa tính tích cực chủ động sáng tạocủa học sinh - phát huy tính chủ thể của học sinh Đó là giáo án mà trong đóvận dụng nhiều phương pháp và biện pháp để rèn luyện tư duy cho học sinh.Một giáo án có sự kết hợp hữu cơ giữa ba yếu tố hiểu biết - giáo dục - rènluyện tư duy Học sinh tự phát triển được tư duy khả năng độc lập sáng tạocủa mình Giáo án mới giáo viên phải có sự vận dụng nhuần nhuyễn nhiềuphương pháp tích cực như phương pháp nêu vấn đề, phương pháp gợimở Như vậy hệ thống câu hỏi giáo viên đặt ra cho học sinh phải là hệ thống

Trang 25

các tình huống có vấn đề đòi hỏi sự suy ngẫm, phân tích đánh giá của học trò.Câu hỏi mở ra nhiều hướng giải quyết và có khả năng bao quát rộng khôngphải chỉ một sự kiện mà cả phạm vi tư liệu rộng rãi Tuy nhiên hệ thống câuhỏi và các tình huống học tập giáo viên đặt ra cũng phải phù hợp với trình độcủa học sinh để các em huy động tối đa khả năng của mình.

Giáo án mới còn phải mang tinh thần đối thoại sâu sắc Giáo án phải làmột bản thiết kế thể hiện được tính chất đối thoại thật tự nhiên, bình đẳng làmsao để lôi cuốn và lay động từng học sinh, tạo được sự đồng cảm, sự cộnghưởng cảm xúc của nhà văn - giáo viên - học sinh Thầy giáo như trò chuyệnvới học sinh tạo ra một không khí học thân mật nhưng sôi nổi hào hứng Đểthiết kế một bản giáo án mang tinh thần đối thoại thì người giáo viên phải xử

lý nhuần nhuyễn nhiều quan hệ phức tạp Nếu trong cơ chế cũ khi soạn giáo

án, giáo viên chỉ cần hiểu tác phẩm là đủ thì thiết kế giáo án mới người giáoviên phải có năng lực sư phạm, dự đoán được các tình huống xảy ra trong sựtiếp nhận của học sinh, bởi không phải bao giờ câu trả lời và đáp án của họcsinh cũng nằm trong sự sắp xếp của giáo viên Mặc khác, giáo viên phải làmchủ được tri thức, có sự hiểu biết sâu rộng Có sự mở rộng liên hệ kiến thứcnhưng không quá xa kiến thức bài học để liên kết giờ học làm kiến thứckhông bị phân mạch xé lẻ

Giáo án mới có mô hình như sau:

Trang 26

2 Hỏi bài cũ

3 Giới thiệu bài học mới

4 Tổ chức cho học sinh đọc - hiểu văn bản

E Củng cố

Về hình thức: Ở phần tổ chức cho học sinh đọc - hiểu văn bản, giáoviên có thể có nhiều cách trình bày và cách tổ chức của từng giáo viên Có thểtrình bày theo tuyến tính Giáo viên nêu những câu hỏi những yêu cầu với họcsinh, sau đó sẽ trình bày những yêu cầu cần đạt phần nội dung Ngoài cáchtrình bày tuyến tính thì giáo viên có thể trình bày theo cách chia cột: có thểchia ba cột: Cột một (cột bên trái) là hoạt động của giáo viên và học sinh, cộthai (cột ở giữa) là dự kiến học sinh trả lời, cột ba (cột bên phải) là nội dungcần đạt Giáo viên cũng có thể chia hai cột: Cột một (cột bên trái) là hoạtđộng của giáo viên và học sinh, cột hai (cột bên phải) là nội dung cần đạt.Cũng có thể chia ba cột: Hoạt động của giáo viên và học sinh, dự kiến trả lời,nội dung ghi bảng

Từ mô hình giáo án mới ta thấy vừa nhìn thì nó có vẻ giống với môhình giáo án cũ nhưng trên thực tế không phải như vậy Nếu tiến trình nộidung bài học của một giáo án cũ là: Ổn định lớp - kiểm tra bài cũ - lời vào bài– giảng nội dung bài mới - tổng kết Thì tiến trình bài học của một giáo ánmới là: Ổn định lớp – kiểm tra bài cũ – lời vào bài – tổ chức cho học sinh đọc

- hiểu văn bản – tổng kết Như vậy, nếu ở giáo án cũ là phần giảng nội dungbài mới thì ở giáo án mới sẽ là phần tổ chức cho học sinh đọc - hiểu văn bản.Đây là điểm khác biệt cơ bản, phân biệt mô hình giáo án truyền thống và giáo

án mới Nếu giáo án cũ là sự chuẩn bị sẵn nội dung bài mới của giáo viên khilên lớp và giáo viên sẽ thuyết trình bê nguyên xi vào đầu học sinh Thì ở giáo

án mới đó sẽ là phần mà mọi quá trình, tiến trình giờ học sẽ diễn ra với cảhoạt động của trò và cả hoạt động của thầy Mọi tình huống học tập sẽ nảysinh từ đó để các em tự chiếm lĩnh tác phẩm Ngoài ra trong mô hình giáo án

Trang 27

mới có thể sẽ có cả phần dự kiến học sinh trả lời, phần dự kiến ghi bảng, phầnghi hoạt động của học sinh - điều mà giáo án cũ không hề quan tâm, đề cập.

Từ sự đổi mới ấy mà giáo án mới đã thể hiện những ưu điểm tích cực nhưsau:

Giáo án mới phát huy được vai trò tích cực như chủ động sáng tạo củahọc trò trong quá trình học tập, kích thích đánh động tư duy buộc các em phảisuy nghĩ làm việc, làm cho chất lượng học của học sinh được nâng cao đápứng yêu cầu đào tạo của giáo dục hiện nay

Do có sự chuẩn bị công phu nên giúp giáo viên khi lên lớp sẽ tự tin vàđược trang bị đầy đủ không chỉ kiến thức mà cả các tình huống sư phạm cóthể diễn ra Giúp giáo viên làm chủ, chủ động khi lên lớp

Giáo án mới sẽ giúp tạo ra được không khí dân chủ trong giờ học giữathầy và trò, là cầu nối xích gần thầy giáo với học trò, học trò với bài văn, giữanhà văn với người học, tạo hứng thú kích thích nhu cầu học tập của học trò…Tuy nhiên bên cạnh ưu điểm nó vẫn tồn tại một số hạn chế sau:

Khi lên lớp với giáo án này thì chủ yếu giờ học được tiến hành theo cáccâu hỏi và nếu giáo viên không chủ động thì giờ học sẽ dễ trở thành giờ trả lờicâu hỏi của học sinh và nhiều khi kiến thức bài học bị đi xa, có sự phân mạch

xé lẻ mà không nhấn mạnh vào trọng tâm bài học Nhiều khi học sinh trả lờidài dòng, lạc đề hoặc có phương án trả lời không trùng với việc thiết kế củagiáo viên thì giáo viên khó làm chủ giờ học Vì vậy với hình thức giáo án nàythì cũng đòi hỏi người giáo viên khi lên lớp phải thực sự có năng lực, khảnăng sư phạm để dẫn dắt học sinh đi đúng hướng

1.4.Thực trạng thiết kế giáo án ở trường THPT hiện nay

Việc thiết kế giáo án môn Ngữ Văn nói riêng, đang có nhiều vấn đề cầnquan tâm Chúng tôi đã thực hiện khảo sát thực trạng việc thiết kế giáo ánNgữ Văn hiện nay qua giáo viên của một số trường như: Trường THPTQuảng Xương II (Quảng Xương - Thanh Hóa), Trường THPT Đặng Thai Mai

Trang 28

(Quảng Xương - Thanh Hóa) Kết quả cho thấy chỉ có một số ít giáo viên trảlời là thích soạn giáo án - nhất là giáo án phần đọc hiểu văn bản Bởi họ chorằng đây là phần mà giáo viên được tự do đưa ra cách cảm cách nghĩ Nókhông bị gò bó, ép buộc về kiến thức như phần làm văn và tiếng Việt Mặtkhác họ cho rằng giáo án là cơ sở, là nền tảng định hướng cho người giáo viêngiúp họ chủ động nắm bắt kiến thức tự tin vững vàng đứng lớp, giúp họ khẳngđịnh được năng lực vì thế nó sẽ nâng cao hơn óc sáng tạo, lòng yêu nghề, yêuvăn chương của họ

Nhưng bên cạnh một số giáo viên trả lời thích soạn giáo án và họ luôntìm tòi sáng tạo để thiết kế giáo án thì không ít giáo viên trả lời rằng: Họkhông thích công việc thiết kế giáo án, họ phải thiết kế giáo án vì để nhàtrường kiểm tra và được đứng lớp Nên giáo án mà họ thiết kế rất sơ sài, chủyếu dựa trên các bài thiết kế mẫu Sở dĩ có tình trạng trên bởi giáo viên chorằng: Ngày nay học sinh không yêu thích học văn mà chủ yếu học các môn tựnhiên Vì thế mặc dù người giáo viên cố gắng chuẩn bị thật chu đáo thì họcsinh vẫn không cố gắng, không thấy hứng thú Đồng thời, do yêu cầu đổi mớiphương pháp dạy học, cải tiến SGK của Bộ Giáo dục thì giáo viên phát biểurằng chính bản thân họ cũng không hiểu hết ý nghĩa của một tác phẩm (nhất

là tác phẩm đa nghĩa) Vì thế ở những tác phẩm ấy họ cố gắng tìm kiếm cácsách thiết kế mẫu để thiết kế và chỉ cung cấp những kiến thức cơ bản nhấtđược cho học sinh Ngoài ra đa phần giáo viên khẳng định để có một giáo ánchất lượng thì đòi hỏi người giáo viên phải thực sự đầu tư rất nhiều, dànhnhiều thời gian, công sức…, trong khi cuộc sống của họ thì quá bận rộn…

Chính bởi những điều ấy mà một thực trạng đáng buồn ở các trườngTHPT là: Rất nhiều giáo viên không tự mình thiết kế lấy câu hỏi mà dựa hoàntoàn vào sách thiết kế sẵn Khi thiết kế giáo án giáo viên lệ thuộc vào cáchhiểu của người khác mà không thực sự đọc kỹ, nghiền ngẫm kỹ về tác phẩm

để tự mình thiết kế lấy giáo án Do đó giáo viên không thể linh hoạt chủ động

Trang 29

trong dạy học, bản thân giáo viên không thể nào phát huy được khả năng củamình chứ chưa nói tới việc kích thích tư duy của học trò.

Tiểu kết

Ở chương này, chúng tôi tập trung vào việc giới thuyết về cơ chế dạyhọc văn cũ, cơ chế dạy học văn mới, giáo án dạy học tác phẩm văn chương ởnhà trường THPT theo cơ chế cũ và cơ chế mới Đồng thời khảo sát việc thiết

kế giáo án ở trường phổ thông của giáo viên Đây được coi là điểm tựa về mặt

lý thuyết để công trình của chúng tôi tiếp tục đi vào nghiên cứu một số địnhhướng và phương pháp thiết kế giáo án dạy học tác phẩm văn chương ởtrường THPT hiện nay Vấn đề này sẽ được chúng tôi trình bày ở chương tiếptheo của luận văn này

Trang 30

Chương 2

MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG VÀ PHƯƠNG PHÁP VẬN DỤNG ĐỂ THIẾT

KẾ GIÁO ÁN DẠY HỌC TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG

Ở TRƯỜNG THPT HIỆN NAY

2.1 Đặc trưng của phần đọc - hiểu văn bản

2.1.1 Khái quát phần đọc hiểu văn bản trong chương trình Ngữ văn THPT

Đọc - hiểu văn bản là một trong ba bộ phận cấu thành của môn Ngữvăn, là một hợp phần quan trọng trong chương trình Ngữ văn THPT hiện nay

Do chương trình được biên soạn theo nguyên tắc tích hợp nên cả ba phầnTiếng Việt, Làm văn và đọc văn đều được biên soạn chung vào cuốn sách cótên là Ngữ văn Tuy nhiên trong tương quan với các đơn vị bài làm văn vàtiếng Việt số lượng đơn vị các bài đọc hiểu chiếm tỉ lệ cao nhất, số tiết dànhcho phần đọc hiểu chiếm nhiều nhất chẳng hạn: Ở chương trình Ngữ văn lớp

10 bộ cơ bản có 105 tiết học văn thì có 50 tiết dành cho hợp phần đọc hiểuvăn bản (chiếm tỉ lệ 47, 6%), ở chương trình nâng cao lớp 10 có 140 tiết trong

đó 60 tiết dành cho đọc hiểu văn bản (chiếm tỉ lệ 47.7%), chương trình Ngữvăn 11 bộ cơ bản có 123 tiết trong đó 57 tiết dành cho phần đọc hiểu (chiếm tỉ

lệ 59, 2%), ở chương trình 11 nâng cao tỉ lệ này là 42,1% với 59 tiết trên tổng

số 140 tiết, Ngữ văn 12 bộ cơ bản số tiết dành cho đọc hiểu là 43 trên tổng số

105 chiếm 40,9%, ở chương trình 12 nâng cao tỉ lệ này là 35.7% Từ đây chothấy vị trí quan trọng của phần đọc hiểu trong chương trình Ngữ văn

2.1.2 Các văn bản được sắp xếp theo cụm thể loại

Với chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn mới thì các văn bản sắpxếp theo các cụm thể loại để nhằm hướng đến học sinh đọc hiểu văn bản vănhọc theo đặc trưng thể loại Từ chương trình Ngữ văn lớp 10 đến lớp 12 điềunày được thể hiện rất rõ Các nhà biên soạn thường xếp các văn bản cùng thể

Trang 31

loại gần nhau Chẳng hạn, ở chương trình Ngữ văn lớp 10 bộ cơ bản, các văn

bản thuộc thể loại sử thi được sắp xếp gần nhau Chiến thắng Matao Mơxây (sử thi Tây Nguyên), Uylixơ trở về (trích Ôđixê - sử thi Hi Lạp) và Rama

buộc tội (trích Ramayana - sử thi Ấn Độ), hay ở chương trình lớp 12 bộ cơ

bản các văn bản thuộc loại hình ký được sắp xếp cạnh nhau: Người lái đò

Sông Đà (Nguyễn Tuân), Ai đã đặt tên cho dòng sông (Hoàng Phủ Ngọc

Tường) và bài đọc thêm Những ngày đầu của nước Việt Nam mới (trích

Những năm tháng không thể nào quên của Võ Nguyên Giáp) Chính việc sắp

xếp biên soạn chương trình theo cụm thể loại thế này tạo điều kiện thuận lợicho giáo viên phổ thông trong quá trình dạy đọc hiểu các văn bản văn học, đó

là dạy theo đặc trưng thể loại Giáo viên có thể dạy kỹ một tác phẩm đầu,những tác phẩm còn lại có thể hướng dẫn học sinh để học sinh tự tìm hiểu,hoặc ở mỗi tác phẩm giáo viên có thể khắc sâu cho học sinh một đặc điểm nổibật nào đó về thể loại đó, tuần tự như thế cách dạy này giúp học sinh dần dầnchiếm lĩnh được đặc trưng của một thể loại và có thể tự vận dụng vào việcđọc và rèn luyện kỹ năng đọc hiểu văn bản

2.1.3 Cấu trúc đơn vị bài học phần đọc hiểu

Nếu như học phần giảng văn trong chương trình văn học chỉnh lý hợpnhất có cấu trúc các đơn vị bài học khá đơn giản nó bao gồm: Tên văn bản,tên tác giả, tiểu dẫn, văn bản, chú thích và hướng dẫn học bài Thì cấu trúccác đơn vị bài học theo chương trình mới bao gồm như sau: Ở chương trình

cơ bản bao gồm: Tên văn bản, yêu cầu cần đạt (bao gồm yêu cầu về nội dung

và nghệ thuật), tiểu dẫn (nêu những lưu ý có thể đọc hiểu tốt văn bản Đó làlưu ý về tác giả, hoàn cảnh ra đời của văn bản, đối với những văn bản dài cóthể tách ra nhiều đoạn tiêu biểu, có thể in chữ nhỏ hoặc lược một số đoạn rồinêu tóm tắt nhằm để giáo viên và học sinh học kỹ văn bản đó và chú ý đặttrong tâm nhất), văn bản, phần chú thích từ khó, hướng dẫn học bài (bao gồmmột hệ thống câu hỏi để hướng dẫn học sinh có thể tự mình tìm hiểu văn bản),

Trang 32

phần ghi nhớ (chốt lại nội dung quan trọng mà học sinh không được quên khihọc sinh đã học xong văn bản), cuối cùng là phần luyện tập (hệ thống bài tập

để học sinh thực hành) Ở bộ sách nâng cao bao gồm các phần tương tự như

bộ sách cơ bản là: Tên văn bản, tên tác giả, yêu cầu cần đạt, văn bản, hướngdẫn học bài Nhưng nó không có phần ghi nhớ và phần luyện tập mà đượcthay bằng phần nâng cao và cuối cùng là phần tri thức đọc hiểu

Qua sự so sánh trên ta thấy hợp phần đọc hiểu văn bản trong chươngtrình Ngữ văn được biên soạn theo hướng tích cực nhằm phát huy tính tíchcực -độc lập - chủ động - sáng tạo của học sinh và có những phần để hìnhthành, rèn luyện ở học sinh các năng lực đọc hiểu tác phẩm văn chương

2.1.4 Ngoài văn bản văn học chương trình còn đưa thêm vào nhiều kiểu văn bản khác như nghị luận, nhật dụng, thuyết minh

Việc đưa thêm các kiểu văn bản này giúp chương trình mở rộng kháiniệm văn trong nhà trường Văn không chỉ là văn học mà còn là văn hóa nênkiểu văn bản nào cũng phải học Mặt khác cũng xuất phát từ nhu cầu thực tiễnmôn văn không phải đào tạo ra những nhà văn mà đào tạo ra những công dân.Ngoài ra việc đưa văn bản nhật dụng nghị luận vào còn giúp học sinh quantâm cả những vấn đề của đời sống xã hội

2.2 Một số định hướng để chiếm lĩnh một tác phẩm văn chương và thiết kế giáo án

2.2.1 Điều kiện để giáo viên phải thay đổi cách chiếm lĩnh một tác phẩm văn chương và thiết kế giáo án

Việc chiếm lĩnh một tác phẩm văn chương hay thiết kế một giáo án chogiờ dạy tác phẩm văn chương không phải là một quá trình đơn giản Vì ởkhâu này đòi hỏi người giáo viên phải bộc lộ cụ thể trình độ am hiểu lý thuyết

cơ bản và các quy luật sư phạm tâm lý học cảm thụ và sáng tác văn chương,đồng thời có sự hiểu biết về cơ chế dạy học văn và cấu trúc tiến trình dạy họctrong một tác phẩm văn chương

Trang 33

Một tác phẩm văn chương là một quá trình sáng tạo của nhà văn Vàtrong quá trình sáng tạo tác phẩm văn chương các nhà văn đã huy động sâuthẳm cả cái phần chìm, phần ngầm mà ngay cả ý thức của nhà văn cũng chưathể khảo sát hết được Và tư duy của văn học không phải là tư duy chính xác

mà là tư duy chiều sâu Đây là điểm khác biệt của bộ môn văn với các bộ mônhọc khác Vì vậy muốn chiếm lĩnh chiều sâu của tác phẩm ta không thể áp đặthay gán ghép cho người khác đúng như ông Nguyễn Văn Dân nói: “Muốnkhám phá được chiều sâu của tác phẩm ta không thể áp đặt cho công chúngbất cứ điều gì mà phải chú ý nhu cầu thẩm mĩ của công chúng” …23,116} Vìthế một yêu cầu đặt ra cho giáo viên là không thể áp đặt cách cảm thụ, chiếmlĩnh tác phẩm văn chương của mình cho học trò mà phải để học trò tự cảm thụtrên cơ sở định hướng hướng dẫn của giáo viên Để làm được điều này đòi hỏigiáo viên ngay từ khâu thiết kế giáo án phải làm sao để nó định hướng chohọc trò chứ không phải giáo án là bản kế hoạch chi tiết sắp xếp các công việc

cụ thể của giáo viên để giáo viên để lên lớp thuyết trình

Đồng thời xuất phát từ thực tiễn của việc dạy học văn Dạy văn khôngphải là cung cấp kiến thức cho học sinh mà quan trọng hơn là hướng học sinhquan tâm đến ý vị hơi thở của cuộc sống Mặt khác giờ dạy văn cũng khôngphải là cơ hội để giáo viên truyền đạt hiểu biết của bản thân cho dù đó lànhưng hiểu biết rất mới mẻ Giờ học văn không phải để truyền sáng tạo mà làkhơi dậy sáng tạo của người học Học sinh không phải là cái bình chứa mà làngọn nến cần được thắp sáng Do vậy cấu trúc giờ văn phải thay đổi nó khôngcòn là một kết cấu công thức cứng nhắc những việc làm của giáo viên mà làmột kết cấu uyển chuyển linh hoạt Và thiết kế giáo án không còn là thiết kếhoạt động cho giáo viên mà chính là thiết kế hoạt động học đọc - hiểu cho họcsinh

Từ những lý do trên, ta thấy giáo viên cần phải thay đổi cách thiết kếgiáo án để tiến tới thay đổi cách chiếm lĩnh một tác phẩm văn chương cho bản

Trang 34

thân và cho học sinh, đồng thời phải thay đổi cách dạy cho phù hợp với yêucầu của thời đại xem người học là trung tâm

2.2.2 Một số định hướng cơ bản để thiết kế giáo án dạy học tác phẩm văn chương

2.2.2.1 Nắm vững đặc trưng từng thể loại và thiết kế giáo án

Tác phẩm văn học nào cũng thuộc một thể loại nhất định Vậy thể loạivăn học là gì? Thể loại văn học là “dạng thức của tác phẩm văn học, đượchình thành và tồn tại tương đối ổn định trong quá trình phát triển lịch sử củavăn học Thể loại giống nhau về cách thức tổ chức tác phẩm về đặc điểm cácloại, hiện tượng đời sống được miêu tả và về tính chất của mối quan hệ củanhà văn đối với các hiện tượng đời sống” … 22,245…Qua định nghĩa trên tathấy thể loại văn học thuộc phạm trù hình thức nghệ thuật của tác phẩm vănhọc

Lý luận văn học từ xưa đến nay đã chỉ ra nhiều cách phân chia các thểloại văn học Mỗi cách phân chia dựa vào các tiêu chí khác nhau Chẳng hạn,dựa vào thể tài thì người ta phân chia thành: Thể tài lịch sử dân tộc, thể tài thế

sự và thể tài đời tư Dựa vào phương thức lời văn thì người ta chia thành hailoại đó là văn vần và văn xuôi Tuy nhiên cách phân loại được nhiều ngườichấp nhận hơn cả là cách phân loại dựa vào phương thức tái hiện đời sống vàcấu tạo tác phẩm, cách này người ta chia thể loại văn học thành ba loại chính:

Tự sự, trữ tình và kịch bản văn học

Dạy đọc văn theo đặc trưng thể loại có ý nghĩa rất lớn Việc tiến hànhdạy học theo đặc trưng thể loại giúp giáo viên trong quá trình dạy học vănkhông chỉ cho học sinh thấy được cái hay cái đẹp về nội dung tư tưởng vàhình thức nghệ thuật của tác phẩm mà tạo điều kiện hình thành và rèn luyệncho các em kỹ năng phân tích, tiếp nhận tác phẩm văn học Biết cách thẩmđịnh, đánh giá khám phá các tác phẩm cùng một thể loại, từ đây sẽ tránh đượctình trạng học sinh dù được học nhiều các tác phẩm cùng thể loại nhưng chỉ

Trang 35

biêt phân tích những tác phẩm mà giáo viên truyền thụ Đồng thời giúp họcsinh không phải băn khoăn hay lúng túng khi tiếp nhận một tác phẩm ở phầnđọc thêm hay sách tham khảo Dạy học theo đặc trưng thể loại sẽ giải quyếtmột bài toán nan giải là dạy học luôn đứng trước mâu thuẫn: Một mặt là yêucầu ngày càng cao của tri thức với thời gian học của học sinh ngày càng ít đibởi những yêu cầu khác của đời sống hàng ngày

Với định hướng như vậy đòi hỏi người giáo viên phải nắm bắt được đặctrưng các thể loại của tác phẩm, xây dựng hoạt động học cho học sinh đểhướng dẫn học sinh nắm vững các đặc trưng thể loại của tác phẩm khác nhau.Nói cụ thể hơn đó là việc giáo viên phải hướng vào học sinh trả lời thấu đáocác câu hỏi: Văn bản thuộc thể loại này có đặc điểm gì, có đặc điểm gì nổi bật

về nội dung hình thức? Cách thức tiếp cận văn bản này như thế nào? Trên cơ

sở này chúng tôi đề suất ba định hướng thiết kế giáo án khác nhau ứng vớimỗi thể loại văn học dựa theo đặc trưng của từng loại thể đó

* Tác phẩm tự sự

Tự sự là phương thức tái hiện đời sống bên cạnh hai phương thức khác

là trữ tình và kịch Tác phẩm tự sự tái hiện đời sống trong toàn bộ tính kháchquan của nó (tức là nó phản ánh hiện thực qua bức tranh mở rộng của đờisống trong không gian, thời gian qua các sự kiện biến cố xảy ra trong cuộcđời con người) Loại tự sự bao gồm: Tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện vừa, anhhùng ca, ngụ ngôn… Nhìn chung chúng đều mang dung lượng lớn

Vì vậy tác phẩm tự sự bao giờ cũng có cốt truyện tức là một câuchuyện làm nòng cốt “Cốt truyện là hệ thống sự kiện cụ thể được tổ chứctheo những yêu cầu tư tưởng và nghệ thuật tạo thành bộ phận cơ bản, quantrọng nhất trong hình thức động của tác phẩm”….22,99] Hệ thống sự kiệncủa các cốt truyện dù lớn nhỏ đều phải trải qua một quá trình vận động cóhình thành, phát triển và kết thúc Vì thế mỗi cốt truyện thường gồm nhiềuphần: Phần trình bày, thắt nút, phát triển, cao trào, mở nút Tuy nhiên, ở nhiều

Trang 36

tác phẩm tự sự do ý đồ nghệ thuật của nhà văn nên có thể không đầy đủ cácthành phần trên hoặc bị đảo lộn trật tự các phần

Gắn liền với cốt truyện là một hệ thống các nhân vật được khắc họa đầy

đủ nhiều mặt hơn hẳn các nhân vật trong tác phẩm trữ tình hay nhân vật trongtác phẩm kịch Bởi nó được miêu tả một cách toàn diện nhất từ lai lịch, ngoạihình, ngôn ngữ hành động, nội tâm Tác phẩm tự sự đi vào chiều sâu vô tậncủa tâm trạng con người, cả trạng thái mơ hồ mong manh chôn dấu trong tiềmthức, vô thức Nhà văn khi miêu tả nhân vật là để phản ánh hiện thực, đồngthời nhân vật còn là phương diện để nhà văn thể hiện sự hiểu biết, khát vọngcủa mình về một vấn đề nào đó trong cuộc sống

Ngoài ra điểm phân biệt tác phẩm tự sự với tác phẩm kịch chính là lời

kể chuyện Đây là một yếu tố quan trọng, nó là một phương tiện phản ánh đờisống nhưng cũng là một phương tiện biểu thị thái độ, tư tưởng tình cảm, sựđánh giá của tác giả về đời sống Mặt khác, tác phẩm tự sự luôn có điểm nhìntrần thuật Mọi sự trần thuật trong tác phẩm đều thông qua một điểm nhìn nào

đó, lý luận văn học đã chia ra thành các hình thức điểm nhìn: Điểm nhìn tácgiả, điểm nhìn bên ngoài, điểm nhìn bên trong

Chính vì vậy mà yếu tố làm cơ sở thiết kế giáo án một tác phẩm tự sự làmột cốt truyện hấp dẫn, các chi tiết sự kiện, chi tiết về ngoại hình, nội tâmnhân vật… Trên cơ sở nắm vững đặc điểm của tác phẩm tự sự, giáo viên phảibiết vận dụng vào thiết kế hoạt động học cho học sinh để học sinh nắm vữngcác đặc trưng của thể loại tự sự

Trước hết, giáo viên phải giúp học sinh tìm hiểu nắm vững được cốttruyện trong tác phẩm tự sự Cốt truyện là thành phần cơ bản của thế giới hìnhtượng tạo nên nội dung trực tiếp của tác phẩm, đồng thời nó thể hiện số phận

và tính cách các nhân vật Nhiệm vụ đặt ra cho người giáo viên là phải làmsao để học sinh có thể có những hoạt động học mà các em nhớ được diễn biếncủa truyện theo các biến cố của cuộc đời nhân vật Đầu tiên giáo viên có thể

Trang 37

yêu cầu học sinh nắm vững cốt truyện bằng cách cho các em kể lại cốt truyện.Tuy nhiên không phải cốt truyện nào cũng có đủ cả năm thành phần hoặc theođúng trình tự nhất định, không phải tác phẩm nào cũng thắt nút trước và mởnút sau Vì thế bên cạnh việc yêu cầu học sinh kể lại cốt truyện thì giáo viênphải đặt ra câu hỏi đòi hỏi tư duy của học sinh để các em khắc sâu nhớ đượccốt truyện Đây là điểm thể hiện cái tài thiết kế của một giáo viên có năng lực

sư phạm Chẳng hạn, trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân mở đầu bằng

cuộc trở về lạ lùng của Tràng và người đàn bà xa lạ vào xóm ngụ cư trongmột buổi chiều muộn Từ chi tiết này, giáo viên có thể thiết kế hệ thống câuhỏi như sau: Tại sao lại có cuộc trở về ấy? Tại sao chính Tràng cũng ngạcnhiên về việc mình có vợ? Tại sao tất cả mọi người đều ngạc nhiên khi thấyTràng dẫn một người xa lạ về?

Bên cạnh cốt truyện, giáo viên còn phải thiết kế tình huống học tậpgiúp học sinh khi học một tác phẩm tự sự nắm được nhân vật được miêu tả là

ai, thuộc lớp người nào, nhân vật có đặc điểm ra sao, tính cách như thế nào?Giáo viên phải thiết kế ra những câu hỏi để học sinh tự tìm ra tất cả các chitiết liên quan đến chân dung ngoại hình, hành động lời nói, cử chỉ Từ đó các

em sẽ nhận biết đặc điểm và tính cách nhân vật Chẳng hạn trong đoạn trích

Hồi trống cổ thành để định hướng cho học sinh tìm hiểu nhân vật Trương Phi,

giáo viên có thể đặt các câu hỏi: Trương Phi đã có cách xưng hô như thế nàovới Quan Công? Đồng thời có những hành động như thế nào? Qua những cửchỉ và hành động ấy thì con người Trương Phi hiện lên như thế nào? Ngoài ragiáo viên cần đặt ra các tình huống để học sinh tìm hiểu các chi tiết thể hiệnthế giới nội tâm của nhân vật với những cảm xúc Mặt khác, không chỉ dừnglại ở việc để học sinh tự cảm nhận được tính cách nhân vật mà giáo viên phảikhơi gợi, nêu vấn đề để học sinh có thể nói lên những suy nghĩ, cảm nhận củamình về nhân vật

Trang 38

Ngoài ra giáo viên còn phải làm sao để học sinh cảm và hiểu được cái ý

vị trong lời kể của tác giả hay người kể chuyện Ngôn ngữ nghệ thuật bao giờcũng hướng tới việc tạo sức sống cho hình tượng và truyền đạt cảm xúc vàđặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật thường thể hiện rất rõ trong lời kể chuyện Mộtcâu chuyện hay là một câu chuyện tự nó sống qua lời kể Vì thế giáo viên cầnphải định hướng để học sinh tìm ra sức gợi của ngôn ngữ, chỉ rõ lời kể của tácgiả làm biểu hiện được cảnh, việc, người như thế nào Chẳng hạn, trong

truyện ngắn Vợ chồng A Phủ, Tô Hoài viết: “Ai đi xa về có việc vào nhà

thống lý Pá Tra thường thấy có một cô gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá trướccửa cạnh tàu ngựa, lúc nào cũng vậy cứ quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻcủi hay đi cõng nước dưới khe suối, lần nào cô ấy cũng cúi mặt buồn rườirượi” Ở đoạn này, giáo viên có thể yêu cầu học sinh như: Nhận xét về giọng

kể (có sinh động tự nhiên hay không)? Giọng kể ấy có tác dụng gì? Nó có thểgiới thiệu được cảnh, việc, nhân vật hay không? Từ đây để học sinh khám phá

và hiểu được cái hay của lời văn Tô Hoài không hoa mĩ nhưng hết sức sinhđộng, gợi được cảnh, việc, và giới thiệu được nhân vật Và từ đó giúp họcsinh hiểu hết ý nghĩa việc kể chuyện trong tác phẩm

Tóm lại, khi thiết kế giáo án chuẩn bị hoạt động cho học sinh đối vớicác tác phẩm tự sự, giáo viên phải thiết kế làm sao để học sinh từng bướckhám phá, nắm được cốt truyện, nhân vật, lời kể… Trên cơ sở định hướngcủa giáo viên Những hoạt động ấy của giáo viên sẽ giúp học sinh nhận biếtđặc sắc của tác phẩm tự sự và tự mình phân tích được tác phẩm

* Tác phẩm kịch

Kịch là phương thức sáng tác của văn học (đây là một trong ba loạichính của văn học: Tự sự, trữ tình và kịch bản văn học) Với tư cách là mộttác phẩm nghệ thuật ngôn từ, kịch bản văn học là sản phẩm của sự sáng tạo,chiêm nghiệm của người viết kịch bản văn học Tác giả đã dùng ngôn từ đểphản ánh hiện thực Cũng giống như tác phẩm tự sự hay trữ tình, kịch bản văn

Trang 39

học là đứa con tinh thần của nhà văn cho nên kịch bản văn học được coi làsản phẩm của một quá trình sáng tạo của tác giả Vì vậy khi giảng dạy nó giáoviên phải có sự chuẩn bị kĩ trên trang giáo án nếu không giờ dạy học tác phẩmkịch sẽ trở nên khô cứng, kém hấp dẫn Do đó chúng tôi đề xuất định hướngthiết kế giáo án với tác phẩm kịch trên cơ sở dựa trên đặc trưng của kịch bảnvăn học như sau:

Trước hết, chúng ta cần phân biệt được kịch bản văn học với sân khấukịch Nếu sân khấu kịch bao gồm: Kịch nói, kịch hát, kịch múa, nhạc kịch,mang tính tổng hợp nhiều hoạt động của đạo diễn, diễn viên và cả đạo cụ, hóatrang, ánh sáng, trang trí Tất cả đều được thể hiện, được biểu diễn trên sânkhấu trên một phương án, một chương trình kế hoạch nhất định đã được địnhtrước Thì kịch bản văn học lại là một văn bản được nhà viết kịch “khai sinh”

ra, đang còn nằm ở dạng văn bản - dạng con chữ xuất hiện trên trang giấy,chưa có sự sang chuyển từ văn bản sang những hoạt động cụ thể của đạo diễn,diễn viên trên sân khấu và được gọi là kịch bản Như vậy kịch bản nói chung

và kịch bản văn học nói riêng chỉ là một thành tố của sân khấu kịch Đó cũng

là điểm khác biệt với loại tự sự và trữ tình, nghĩa là tự sự và trữ tình chỉ dùng

để đọc thì tác phẩm kịch (kịch bản văn học còn có một hình thức tái hiện khác

là thông qua sân khấu kịch) Tuy nhiên tự bản thân kịch bản văn học đã là mộttác phẩm độc lập và hoàn chỉnh Vậy đặc trưng của tác phẩm kịch là gì?

Trước hết tác phẩm kịch bao giờ cũng được xây dựng trên những mâuthuẫn lịch sử xã hội, hoặc những mâu thuẫn xung đột muôn thuở mang tínhnhân loại như: Giữa thiện và ác, cao cả và thấp hèn, ước mơ và hiện thực Đó

là những xung đột mang tính kịch tính Theo Bielinxki tính kịch có thể đượchiểu là: “Sự va chạm xô đẩy giữa những tư tưởng có khuynh hướng chống đối

và thù địch nhau” Mỗi tác phẩm kịch đặt ra những vấn đề mà buộc nhiều thế

hệ phải suy ngẫm Chính những xung đột trong kịch tạo nên kịch tính vàmang lại sự hấp dẫn thu hút người đọc Xung đột kịch cũng có thể có nhiều

Trang 40

phạm vi và cấp độ như: Xung đột trong nội tâm, xung đột giữa tính cách hoàncảnh, nhưng tập trung lớn nhất là những xung đột giữa những tính cách mangnhững quan niệm và đại diện cho những lực lượng khác nhau trong cuộcsống Những xung đột ấy được thể hiện bằng một cốt truyện có cấu trúc chặtchẽ qua hành động của các nhân vật và theo những quy tắc nhất định của nghệthuật kịch

Bên cạnh xung đột thì kịch còn có hành động kịch Hành động kịch làphương tiện biểu đạt chủ yếu của kịch trên cơ sở một chuỗi biến cố xung độtphát sinh Hành động kịch gắn với các mâu thuẫn xã hội và tính cách, thể hiệnthành các hành động biến cố của nhân vật tạo thành cơ sở của cốt truyện kịch.Trong một vở kịch có thể có nhiều hành động lớn nhỏ bao gồm những lời nói,

cử chỉ, thái độ, đến những hành vi, hành động của nhân vật

Kịch là loại hình nghệ thuật thể hiện hình tượng con người một cáchsống động nhất Do hạn chế của thời gian, không gian, sân khấu nên cốttruyện trong kịch bản văn học phải tập trung, dẫn tới hệ quả tất yếu là sốlượng nhân vật hạn chế Trong kịch do sự chi phối của đặc trưng thể loại(hướng đến sự biểu diễn) cho nên hình tượng nhân vật đều có những nét đặctrưng riêng Nhân vật kịch thường là nhân vật có tính cách nổi bật, có đam mê

và khát vọng và do tính chất của nó mà nhà văn thường nhấn mạnh một néttính cách nào đó nổi bật nhất của nhân vật Tính cách nhân vật được bộc lộthông qua hành động, đối thoại, giọng điệu… Các nhân vật trong kịch thường

đối lập nhau, ví như trong vở kịch Othello của Shakespeare tính cách các

nhân vật hết sức rõ ràng: Othello (giữ dội quyết liệt), Dexdemona (trong sángngây thơ), Iago (xấu xa tàn ác) Vì thế nhân vật kịch thường được chia làmhai tuyến: Nhân vật chính là những nhân vật tiêu biểu là người tập trung xungđột và xung đột kịch được mở nút nhờ loại nhân vật này, nhân vật phụ là nhânvật có ý nghĩa bổ sung cho hành động của nhân vật chính

Ngày đăng: 18/12/2013, 20:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Duy Bình (1983), Dạy văn dạy cái hay cái đẹp, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Dạy văn dạy cái hay cái đẹp
Tác giả: Nguyễn Duy Bình
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1983
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Ngữ văn 10, tập 1, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 10, tập 1
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Ngữ văn 10, tập 2, Nxb Giáodục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 10, tập 2
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáodục
Năm: 2006
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Ngữ văn 11, tập 1, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 11, tập 1
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Ngữ văn 11, tập 2, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Ngữ văn 11, tập 2
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Ngữ văn 12, tập 2, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 12, tập 2
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Ngữ văn 12, tập 2, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 12, tập 2
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Ngữ văn 10 Nâng cao, tập 1, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 10 Nâng cao, tập 1
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
9. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Ngữ văn 10 Nâng cao, tập 2, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 10 Nâng cao, tập 2
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
10. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Ngữ văn 11 Nâng cao, tập 1, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Ngữ văn 11 Nâng cao, tập 1
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
11. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Ngữ văn 11 Nâng cao, tập 2, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Ngữ văn 11 Nâng cao, tập 2
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
12. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Ngữ văn 12 Nâng cao, tập 1, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 12 Nâng cao, tập 1
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
13. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Ngữ văn 12 Nâng cao, tập 2, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 12 Nâng cao, tập 2
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
14. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2003), Tài liệu về đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn THPT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu về đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn THPT
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2003
15. Nguyễn Viết Chữ (2001), Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo loại thể, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo loại thể
Tác giả: Nguyễn Viết Chữ
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
16. Phan Huy Dũng (2009), Tác phẩm văn chương trong nhà trường phổ thông - Một góc nhìn, một cách đọc, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn chương trong nhà trường phổ thông - Một góc nhìn, một cách đọc
Tác giả: Phan Huy Dũng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
17. Trần Thanh Đạm chủ biên (1976), Vấn đề giảng dạy văn học theo loại thể, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề giảng dạy văn học theo loại thể
Tác giả: Trần Thanh Đạm chủ biên
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1976
18. Hà Minh Đức chủ biên (1995), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức chủ biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1995
19. Nguyễn văn Đường chủ biên (2008), Thiết kế bài giảng Ngữ văn 10, tập 1, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Ngữ văn 10, tập 1
Tác giả: Nguyễn văn Đường chủ biên
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2008
20. Nguyễn Văn Đường chủ biên (2008), Thiết kế bài giảng Ngữ văn 11, tập 1, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Ngữ văn 11, tập 1
Tác giả: Nguyễn Văn Đường chủ biên
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2008

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình   ảnh   nào   để   diễn   tả   sức  mạnh   của   lý   tưởng   Đảng?   Ý  nghĩa của những hình ảnh này? - Giáo án dạy học tác phẩm văn chương ở trường THPT hiện nay luận văn tốt nghiệp đại học
nh ảnh nào để diễn tả sức mạnh của lý tưởng Đảng? Ý nghĩa của những hình ảnh này? (Trang 83)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w